Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Tiêu đề: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.

Tóm tắt: Hiện nay, hoạt động thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng đang là vấn đề hết sức nóng bỏng và nhận được nhiều sự quan tâm từ người dân. Vì đây là hoạt động có sự ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của người sử dụng đất, dễ gây ra những bức xúc trong nhân dân, làm xuất hiện nhiều trường hợp khiếu nại, tố cáo và khởi kiện kéo dài. Chính vì vậy, pháp luật Việt Nam đã có nhiều điều chỉnh, bổ sung để khắc phục các quy định pháp luật còn bất cập, nhằm bảo vệ quyền và lợi chính đáng của các chủ thể bị thu hồi đất.

Theo quy định của pháp luật về đất đai, doanh nghiệp cũng là một trong các “chủ thể bị thu hồi đất”, nhưng so với các chủ thể khác, doanh nghiệp chưa được pháp luật quan tâm một cách đúng mực. Các vấn đề xoay quanh việc bồi thường, hỗ trợ cho doanh nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng còn tồn tại nhiều vướng mắc, bất cập. Các quy định pháp luật điều chỉnh còn lỏng lẻo, chồng chéo, gây ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp. Luận văn được triển khai với mục tiêu phân tích, đánh giá, làm sáng tỏ các quy định pháp luật hiện hành về hoạt động thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Đồng thời, kết hợp với việc liên hệ thực tế trên địa bàn tỉnh Long An, để đưa ra những khó khăn, bất cập trong áp dụng pháp luật về thu hồi đất đối với chủ thể sử dụng đất là doanh nghiệp. Từ đó, đề xuất những giải pháp, nhằm hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.

Trong luận văn, tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử, phương pháp đối chiếu để nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp để nghiên cứu, đánh giá thực tiễn, và phương pháp bình luận, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch để đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật.

Luận văn đã trình bày và phân tích những nội dung lý luận cơ bản về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, bao gồm khái niệm và đặc điểm về người sử dụng đất là doanh nghiệp; khái niệm và đặc điểm của việc Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội; khái niệm và đặc điểm pháp luật thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, kết hợp với phân tích vai trò của pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Bên cạnh đó, luận văn còn có những phân tích và đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.

Qua nghiên cứu thực tiễn tại tỉnh Long An, luận văn đã chỉ ra những điểm bất cập còn tồn tại, như xác định giá bồi thường về đất, thẩm quyền thu hồi đất của doanh nghiệp và các bất cập về hỗ trợ doanh nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Dựa trên những bất cập đó, tác giả đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý đối với hoạt động thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng nói chung và hoạt động thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng nói riêng.

Thesis Summary Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

Title: Legal Regulations on Land Requisition by Enterprises for Socio-Economic Development in the Interest of the Nation and the Public.

Summary: Currently, the issue of land requisition for socio-economic development in the interest of the nation and the public is a highly sensitive topic that receives significant attention from the public. This activity directly affects the rights and interests of land users and can lead to discontent among the people, resulting in numerous complaints and prolonged legal disputes. Consequently, Vietnamese laws have undergone various adjustments and amendments to address the existing legal loopholes and protect the legitimate rights of entities whose land is being requisitioned.

According to land legislation, enterprises are one of the entities subject to land requisition. However, compared to other stakeholders, enterprises have not received sufficient attention from the law. There are still many obstacles and deficiencies surrounding compensation and support for enterprises when the government requisitions land for socio-economic development in the interest of the nation and the public. The current legal provisions are vague and overlapping, directly impacting the business operations and production activities of enterprises.

This thesis aims to analyze and evaluate the existing legal provisions regarding land requisition by enterprises for socio-economic development in the interest of the nation and the public. Additionally, it combines practical observations in Long An province to identify the existing shortcomings, difficulties, and obstacles in the application of land requisition laws concerning business entities. Based on these findings, the thesis proposes solutions to improve the legal framework for land requisition by enterprises for socio-economic development in the interest of the nation and the public.

The thesis employs analytical, historical, comparative, and synthesis methods to study theoretical issues, as well as evaluation, comparison, and interpretation methods to examine practical aspects and propose solutions to enhance the legal framework.

The thesis presents and analyzes fundamental theoretical aspects of land requisition by enterprises for socio-economic development in the interest of the nation and the public. This includes the concept and characteristics of enterprises as land users, the concept and characteristics of state land requisition for socio-economic development, and the concept and characteristics of the legal framework for land requisition by enterprises for socio-economic development in the interest of the nation and the public. Moreover, it elucidates the role of the legal framework for land requisition by enterprises for socio-economic development in the interest of the nation and the public. The thesis also outlines the formation and development of the legal framework for land requisition by enterprises for socio-economic development in the interest of the nation and the public. Furthermore, it provides an analysis and evaluation of the current legal provisions regarding land requisition by enterprises for socio-economic development in the interest of the nation and the public.

Through practical research conducted in Long An province, the thesis identifies existing deficiencies, such as valuation of compensation, the authority responsible for land requisition by enterprises, and issues related to support for enterprises when the government requisitions land for socio-economic development in the interest of the nation and the public. Based on these deficiencies, the author proposes recommendations and solutions to improve the legal framework for land requisition activities for socio-economic development in the interest of the nation and the public in general, and specifically for land requisition by enterprises for socio-economic development in the interest of the nation and the public.

PHẦN MỞ ĐẦU Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

1. Đặt vấn đề

Cả nước đang bước vào giai đoạn tập trung đẩy mạnh phát triển KT – XH và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế, bản thân đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng có liên quan hầu hết đến các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Do đó, để có thể thực hiện tốt sứ mệnh nêu trên, cần phải khẳng định hoạt động thu hồi đất là nền tảng, giữ vai trò và tầm quan trọng to lớn đối với sự nghiệp CNH – HĐH của đất nước. Hiện nay, thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng là vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp, chủ thể bị thu hồi đất được đa dạng hóa, ngoài hộ gia đình, cá nhân, doanh nghiệp cũng là một trong những chủ thể bị thu hồi đất. Vì thế, đòi hỏi Nhà nước cần có sự quan tâm đúng mực và cẩn trọng trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động thu hồi đất. Nếu có bất kỳ sự sai lầm nào xảy ra, cũng có thể gây bức xúc và phản đối từ người dân, gây mất an ninh, trật tự xã hội.

Việt Nam, việc phát triển KT – XH của quốc gia gắn liền với vấn đề quy hoạch và kế hoạch SDĐ của từng địa phương trên cả nước. Theo quy định của pháp luật đất đai, quyền định đoạt về đất đai trong giới hạn sở hữu đất đai thì Nhà nước có quyền tuyệt đối đó là quyền thu hồi đất. Khi triển khai các dự án vì mục đích phát triển KT – XH, Nhà nước là chủ thể trực tiếp thực hiện hoạt động thu hồi đất, đồng thời có nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người SDĐ bị ảnh hưởng dự án. Việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người bị thu hồi đất phải đảm bảo đúng quy định của pháp luật, trên cơ sở hài hòa về lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người SDĐ. Đây là một nhiệm vụ hết sức khó khăn và phức tạp, mà vai trò của Nhà nước đối với nhiệm vụ này là vô cùng quan trọng. Bởi, hoạt động thu hồi đất có tác động trực tiếp đến đời sống ổn định của người SDĐ, quyền lợi của nhà đầu tư và quá trình CNH – HĐH đất nước.

Sau một khoảng thời gian áp dụng, LĐĐ 2013 cũng đã bộc lộ những bất cập, hạn chế nhất định. Tại địa bàn tỉnh Long An, có nhiều nội dung của pháp luật về thu hồi đất chưa phù hợp với thực tiễn áp dụng như: Quy trình kiểm đếm; giá bồi thường, hỗ trợ; phương án tái định cư khi người dân bị thu hồi đất, gây bức xúc cho người bị thu hồi đất, dẫn đến số trường hợp khiếu nại, khởi kiện về quy trình thu hồi đất ngày càng gia tăng.

Bên cạnh hộ gia đình, cá nhân thì doanh nghiệp cũng là một chủ thể bị thu hồi đất cần được quan tâm. Trong hoạt động thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng, LĐĐ 2013 chưa phát huy hết vai trò của mình trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của các doanh nghiệp bị thu hồi đất. Trên thực tiễn áp dụng pháp luật, còn xảy ra những bất cập, khó khăn về xác định giá đất bồi thường cho doanh nghiệp và các hỗ trợ cho doanh nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất, hay sự lỏng lẻo, chồng chéo trong thẩm quyền thu hồi đất của doanh nghiệp.

Vì vậy, việc nghiên cứu, phân tích và đánh giá chuyên sâu các quy định pháp luật, cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật đối với hoạt động thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng là vô cùng cấp bách và thiết thực.

2. Mục tiêu của đề tài Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

2.1 Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu, phân tích cơ sở lý luận pháp luật hiện hành về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Long An; Đánh giá thực trạng pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp vì mục đích phát triển KT – XH nhằm phát hiện những khó khăn, vướng mắc và bất cập đang tồn tại, từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất vì mục đích phát triển KT – XH, nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

2.2. Mục tiêu cụ thể

Làm rõ những khái luận, đặc điểm và nội dung quy định của LĐĐ và pháp luật khác có liên quan đến hoạt động thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng.

Phân tích những thiếu sót, bất cập đang tồn tại trong việc áp dụng quy định pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng trên địa bàn tỉnh Long an từ năm 2015 đến nay.

Kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành để phù hợp với thực tiễn và hoàn thiện các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Những quy định pháp luật liên quan đến thu hồi đất của chủ thể SDĐ là doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng. Trong đó, tập trung nghiên cứu các quy định của Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 và các văn bản hướng dẫn có liên quan đến hoạt động thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng.

Thực trạng ban hành các quyết định, văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, cũng như thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hiện hành trong hoạt động thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng trên địa bàn tỉnh Long An từ năm 2015 đến nay. Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Nghiên cứu các quy định pháp luật về đất đai liên quan đến hoạt động thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng. Luận văn tập trung nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ của người SDĐ là doanh nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất, không nghiên cứu trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

Về không gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng trong phạm vi tỉnh Long An.

Về thời gian: Luận văn giới hạn nghiên cứu pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng từ năm 2015 đến nay.

4. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn: “Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Thực tiễn trên địa bàn tỉnh Long An”, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

Phương pháp so sánh, phương pháp đánh giá: Được sử dụng khi nghiên cứu tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận của luận văn.

Phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử, phương pháp đối chiếu: Được sử dụng khi nghiên cứu các vấn đề lý luận về thu hồi đất vì mục đích phát triển KT – XH.

Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp: Được sử dụng khi nghiên cứu thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng trên địa bàn tỉnh Long An.

Phương pháp bình luận, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch: Được sử dụng khi nghiên cứu định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng và nâng cao hiệu quả áp dụng tại tỉnh Long An. Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

5. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Đề tài sẽ hệ thống hóa cơ sở lý luận từ những quy định pháp luật về thu hồi đất, đối với người SDĐ là doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng.

Chỉ ra các hệ quả về kinh tế và pháp lý khi Nhà nước thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng cụ thể trên địa bàn tỉnh Long An, từ đó có cái nhìn bao quát về hoạt động thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng ở các địa phương khác trên lãnh thổ Việt Nam.

Xác định được vai trò và nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước khi thực hiện hoạt động thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng.

Bên cạnh đó, luận văn cũng phát hiện những hạn chế, khó khăn, bất cập của quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng tại địa bàn tỉnh Long An. Từ đó, đưa ra những kiến nghị và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng.

6. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu

Nhà nước thu hồi đất để tạo điều kiện cho sự phát triển KT – XH, đáp ứng kịp xu hướng CNH – HĐH đất nước hiện nay là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Quá trình thu hồi đất trải qua nhiều giai đoạn với trình tự, thủ tục phức tạp như công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch, thông báo thu hồi đất, kiểm đếm đất và tài sản trên đất, lập phương án bồi thường, hỗ trợ, quyết định thu hồi đất, cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất… Trong quá trình thực hiện, không tránh khỏi những sai sót, do quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động này còn chồng chéo, bất cập, dẫn đến nhiều trường hợp khiếu nại, tố cáo, khởi kiện gây mất trật tự an ninh xã hội. Xuất phát từ những thực trạng nêu trên, đã có nhiều công trình nghiên cứu với nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau liên quan đến hoạt động thu hồi đất của Nhà nước. Những công trình khoa học có liên quan mang ý nghĩa rất quan trọng đối với luận văn, ảnh hưởng đến phương pháp phân tích, đánh giá cơ sở lý luận và thực tiễn, định hướng những vấn đề cần được nghiên cứu bổ sung, giải quyết những vấn đề còn đang bỏ ngỏ.

Qua tổng hợp, tác giả nhận thấy, có một vài công trình nghiên cứu có liên quan mật thiết đến đề tài “Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng”, có giá trị quan trọng trong quá trình thực hiện luận văn của tác giả.

6.1. Luận án Tiến sĩ Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

Luận án Tiến sĩ luật học, “Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam”, năm 2014 của nghiên cứu sinh Phạm Thu Thủy. Trong luận án, tác giả đưa ra cơ sở lý luận liên quan đến “bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp” và các quy định của LĐĐ 2003, đồng thời tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện như: Bổ sung cơ chế tham vấn cộng đồng ngay từ khi lập phương án bồi thường; hoàn thiện quy định của pháp luật về cơ chế xác định giá đất; hoàn thiện pháp luật về cơ chế chuyển dịch đất đai tự nguyện và bắt buộc; bổ sung quy định xây dựng cơ chế đồng bộ trong đào tạo và chuyển đổi nghề nghiệp cho người nông dân bị thu hồi đất.

Luận án Tiến sĩ kinh tế, “Chính sách an sinh xã hội đối với người nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các cụm công nghiệp (nghiên cứu tại Bắc Ninh)”, năm 2010 của nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Nhường. Trong luận án, tác giả đi sâu vào phân tích những nội dung lý luận về “chính sách an sinh xã hội, thực trạng đời sống người dân bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp tại Bắc Ninh.” Đồng thời, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân dẫn đến các hạn chế và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện “chính sách về an sinh xã hội đối với người nông dân bị thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp.”

Luận án Tiến sĩ kinh tế, “Việc làm cho nông dân bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở thành phố Đà Nẵng”, năm 2014 của nghiên cứu sinh Nguyễn Dũng Anh. Trong luận án, tác giả chỉ ra thực trạng còn nhiều hạn chế trong việc tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Từ những hạn chế này, tác giả đưa ra các giải pháp để giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

6.2. Luận văn Thạc sĩ

Luận văn Thạc sĩ luật học, “Pháp luật về bảo đảm quyền lợi của người nông dân khi nhà nước thu hồi đất để phục vụ cho các dự án phát triển kinh tế ở Việt Nam”, năm 2014 của Nguyễn Thị Lan Hương. Trong luận văn, tác giả đã hệ thống hóa và góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng các quy định “pháp luật về bảo đảm quyền lợi của người nông dân khi Nhà nước thu hồi đất để phục vụ cho các dự án phát triển kinh tế.” Phân tích, đánh giá thực trạng “pháp luật về bảo đảm quyền lợi của người nông dân khi Nhà nước thu hồi đất để phục vụ cho các dự án phát triển kinh tế.” Luận văn còn chỉ ra tồn tại, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế này trong các quy định hiện hành. Đồng thời, đưa ra định hướng và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện “pháp luật về bảo đảm quyền lợi của người nông dân khi Nhà nước thu hồi đất để phục vụ cho các dự án phát triển kinh tế. Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

Luận văn Thạc sĩ luật học, “Xác định giá trị quyền SDĐ để thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất – thực tiễn tại Ninh Thuận”, năm 2020 của Trần Ngọc Nam. Luận văn làm sáng tỏ những điểm chưa hoàn thiện của pháp luật trong việc xác định giá trị quyền SDĐ để bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, từ đó kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về xác định giá trị quyền SDĐ để thực hiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trong thời gian tới.

Luận văn Thạc sĩ luật học, “Xác định giá đất ở để bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo pháp luật Việt Nam hiện nay”, năm 2018 của Phạm Trọng Nghĩa. Luận văn đã đưa ra cách hiểu đúng đắn về xác định giá đất ở, mục đích, vai trò và ý nghĩa của giá đất ở trong hoạt động “bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất”, góp phần làm cơ sở để hiểu và vận dụng trong thực tiễn, Đánh giá thực trạng về xác định giá đất để “bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất” tại một số địa phương, từ đó rút ra các bất cập trong thực tế hiện nay; Đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xác định giá đất ở để bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo pháp luật Việt Nam hiện nay.

Luận văn Thạc sĩ luật học, “Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang”, năm 2018 của Nguyễn Minh Chiến. Luận văn nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về “bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất” hiện nay, cũng như nêu ra những vướng mắc trong việc áp dụng từ thực tiễn tại huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang; Đề xuất các định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về “bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất” ở nước ta hiện nay.

6.3. Các đề tài nghiên cứu khoa học và bài báo khoa học liên quan

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường – Đại học Luật Hà Nội của TS. Nguyễn Thị Nga, “Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất – Thực trạng và hướng hoàn thiện”, năm 2013. Trong đề tài này, tác giả minh chứng bằng những vụ việc có thật, chỉ ra những tồn tại, bất cập, những bài học kinh nghiệm trong quá trình thực thi “pháp luật về bồi thường và bố trí tái định cư khi thu hồi đất. Qua đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện “pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.

Đề tài khoa học cấp bộ: “Thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về thu hồi đất ở Việt Nam hiện nay – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, năm 2016 của Viện Khoa học Thanh tra (Thanh tra Chính phủ), do tác giả Đinh Văn Minh làm chủ nhiệm. Trong đề tài này, tác giả chỉ ra một số nguyên nhân dẫn đến khiếu nại khi thu hồi đất như: “(i) Do quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ làm cho nhu cầu về đất tăng lên thúc đẩy giá đất tăng cao dẫn đến lợi ích liên quan đến đất lớn; (ii) Chính sách liên quan đến lợi ích người SDĐ còn nhiều bất cập, nhất là giá đất chưa phù hợp và thường xuyên thay đổi; (iii) Thu hồi đất nhưng không ưu tiên trả bằng đất mà trả bằng tiền, điều kiện tại khu tái định cư không bằng khu dân cư có đất bị thu hồi; (iv) Ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận người dân còn hạn chế nên đòi hỏi quyền lợi vượt quá quy định; (v) Công tác thanh tra, kiểm tra chưa được chú trọng đúng mức và việc giải quyết khiếu nại từ cơ sở đến các cấp chưa kịp thời, có trường hợp giải quyết không đúng hoặc không giải quyết. Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

Bài viết của Nguyễn Đức Biền, “Thực trạng, những vướng mắc trong quá trình nhà nước thu hồi đất để giao, cho thuê và tự thỏa thuận để có đất thực hiện dự án”, tháng 7/2011, tại Hội thảo Tài chính: Đất đai, giá đất và cơ chế, chính sách trong bồi thường, hỗ trợ, tái định cư do Viện nghiên cứu chiến lược, chính sách TN&MT, thuộc Bộ TN&MT tổ chức.

Bài viết của PGS.TS Nguyễn Thị Nhung, “Pháp luật Singapore về thu hồi đất và kinh nghiệm cho Việt Nam trong tiến trình hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất”, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, Bộ Tư pháp, 2022, Số 3 (360) – 2022. Trong bài viết này, tác giả đã nghiên cứu pháp luật của Singapore về thu hồi đất, từ đó, đề xuất một số kinh nghiệm cho Việt Nam trong tiến trình hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất trong thời gian tới.

Bài viết của TS. Nguyễn Quang Tuyến, “Công khai minh bạch bảo vệ quyền lợi của người bị thu hồi đất”, Tạp chí luật học số 03/2012. Trong bài viết này tác giả phân tích, so sánh những tồn tại bất cập trong quá trình thu hồi đất, một số vấn đề tiêu cực có thể nảy sinh trong quá trình thu hồi đất và những thuận lợi và khó khăn của người bị thu hồi đất. Qua đó đề xuất một số giải pháp để bảo vệ người bị thu hồi đất cũng như kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về đất đai.

Bài viết của TS. Nguyễn Quang Tuyến và ThS. Nguyễn Ngọc Minh, “Pháp luật về bồi thường, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của Singapore và Trung Quốc.

Những gợi mở cho Việt Nam trong hoàn thiện pháp luật về bồi thường, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất”, Tạp chí Luật học, số 10/2010. Trong bài viết này, các tác giả phân tích chế độ sở hữu đất đai, công tác thu hồi, đền bù, bố trí tái định cư và cung cấp nhà ở công ở Singapore và Trung Quốc. Đồng thời, các tác giả đề xuất một số gợi mở cho việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam.

Bài viết của tác giả Lê Ngọc Thạnh “Bảo đảm tài sản là quyền SDĐ của người có đất bị thu hồi – nhìn từ quy định trong các bản hiến pháp và pháp luật đất đai”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3/2013.

Bài viết của PGS.TS Doãn Hồng Nhung, “Kiểm soát quyền lực trong thu hồi đất ở Việt Nam”, Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 311/2022. Bài viết đã tập trung phân tích về kiểm soát quyền lực khi Nhà nước thu hồi đất, trách nhiệm của chính quyền các cấp, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể về xây dựng kế hoạch, phân công, phân nhiệm cụ thể trong việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất. Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

Bài viết của tác giả Trần Hữu Quân, “Một số bất cập về đối tượng, hỗ trợ ổn định đời sống, chuyển đổi nghề khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 6 (kỳ II tháng 3/2020). Bài viết đề cập tình huống từ đó đề cập đến từng quan điểm giải quyết liên quan đến việc bồi thường, hỗ trợ ổn định đời sống, chuyển đổi nghề khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp.

Bài viết của tác giả Nguyễn Thành Phương, “Hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ, đạo tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 7/2020. Bài viết đã tập trung phân tích những nội dung chưa thống nhất trong các quy định hiện hành về cơ chế “hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp” và những vấn đề liên quan phát sinh từ LĐĐ 2013 cần sửa đổi, bổ sung.

Bài viết của Lưu Quốc Thái, “Bản chất, vai trò của hoạt động thu hồi đất trong điều kiện kinh tế thị trường”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 15/2015. Trong bài viết này, tác giả khẳng định: Thu hồi đất là một quan hệ của thị trường bất động sản, tuy nhiên nội dung này chưa được pháp luật đất đai giải quyết thỏa đáng bởi các lý do: (i) Cơ chế xác định giá đất tính tiền bồi thường chưa phù hợp; (ii) Trách nhiệm bồi thường chưa được quy định hợp lý; (iii) Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển KT – XH chưa có cơ chế bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư.

Bài viết của tác giả Phan Trung Hiền – Huỳnh Thanh Toàn, “Các nguyên tắc cưỡng chế thu hồi đất ở Việt Nam”, Tạp chí luật học, trường Đại học Luật Hà Nội, số 05/2018. Bài viết phân tích khái niệm, sự cần thiết phải xây dựng và hoàn thiện nguyên tắc cưỡng chế trong trường hợp thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Thông qua việc làm rõ nội dung, các yếu tố bảo đảm nguyên tắc cưỡng chế, tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm thực thi có hiệu quả các nguyên tắc “cưỡng chế thu hồi đất ở Việt Nam.

Bài viết của tác giả Phạm Thu Thủy, “Về giá đất làm căn cứ tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất”, Tạp chí Luật học, số 9/2012. Bài viết chỉ ra những hạn chế, bất cập của pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định về giá đất làm căn cứ tính bồi thường.

Cuốn sách “Pháp luật về định giá đất trong bồi thường, giải phóng mặt bằng ở Việt Nam”, do tác giả Doãn Hồng Nhung chủ biên, NXB Tư pháp năm 2014. Trên cơ sở phân tích LĐĐ năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành, cuốn sách phân tích một số vấn đề về giá đất, như khái niệm giá đất, bản chất của giá đất, các yếu tố ảnh hưởng đến giá đất; phân tích các quy định và thực trạng định giá đất nói chung, định giá đất trong bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nói riêng.

Cuốn sách của TS. Doãn Hồng Nhung – Nguyễn Ngọc Hà, “Pháp luật về định giá đất trong bồi thường, GPMB ở Việt Nam”, NXB Tư pháp năm 2013. Trong cuốn sách này tác giả phân tích bình luận một cách có hệ thống các quy định của LĐĐ 2003 và các văn bản có liên quan về “xác định giá đất để bồi thường khi nhà nước thu hồi đất”, đồng thời tác giả cũng minh chứng bằng những vụ việc cụ thể. Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

Cuốn sách của Luật sư Trần Thanh Tiến, “Quy trình pháp lý thu hồi đất, trưng dụng đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải quyết khiếu nại, tố cáo, khởi kiện của người có đất thu hồi, trưng dụng”, NXB Xây dựng năm 2021. Cuốn sách này đã mang đến một cách nhìn tổng quan dưới góc nhìn pháp lý về công tác “thu hồi đất, trưng dụng đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư”, giải quyết hệ quả khiếu nại, khiếu kiện vượt cấp, kéo dài, nhằm hướng một nhận thức chung về pháp luật, góp phần tạo nên sự đồng đều, thống nhất cao trong cách hiểu và đồng thuận cao trong hành động thông qua các quy trình pháp lý được thiết lập sau đây: “Quy trình thu hồi đất, trưng dụng đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; Quy trình phát triển dự án nhà ở để bố trí tái định cư; Quy trình giải quyết khiếu nại; Quy trình giải quyết tố cáo; Quy trình khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền.

Các công trình nghiên cứu nêu trên, chủ yếu tập trung phân tích, đánh giá các quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đối với chủ thể SDĐ là hộ gia đình, cá nhân nhưng chưa thực hiện việc nghiên cứu với mức độ chuyên sâu đối với mục đích phát triển KT – XH của hoạt động thu hồi đất và cơ chế xác định giá đất để bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển KT – XH; chưa làm rõ được bản chất cốt lõi để hoạt động thu hồi đất của Nhà nước được diễn ra thuận lợi, hạn chế được các vướng mắc đó chính là việc đảm bảo sự hài hòa giữa quyền và lợi ích của Nhà nước, người có đất bị thu hồi và chủ đầu tư.

Luận văn sẽ tiếp tục nghiên cứu và kế thừa thành quả của các công trình nghiên cứu trước nhưng sẽ tập trung vào những quy định pháp luật về thu hồi đất vì mục đích phát triển KT – XH một cách chuyên sâu hơn đối với chủ thể SDĐ là doanh nghiệp, qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh Long An. Đồng thời, sẽ có những đánh giá, phân tích đối với những khía cạnh mà những công trình trước chưa đề cập hoặc đề cập còn mang tính khái quát chưa cụ thể. Hi vọng tạo nên một công trình nghiên cứu mang tính toàn diện về những quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động thu hồi đất vì mục đích phát triển KT – XH.

7. Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu bằng 02 chương, với các nội dung chính sau đây:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo pháp luật đất đai. Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.
  • Chương 2: Thực trạng áp dụng quy định pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trên địa bàn tỉnh Long An từ năm 2015 đến nay và những kiến nghị hoàn thiện.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HỒI ĐẤT CỦA DOANH NGHIỆP ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÌ LỢI ÍCH QUỐC GIA, CÔNG CỘNG THEO PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI

1.1. Cơ sở lý luận về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của người sử dụng đất là doanh nghiệp

1.1.1.1. Khái niệm người sử dụng đất là doanh nghiệp

Người SDĐ là một thuật ngữ pháp lý không xa lạ, xuất hiện thường xuyên trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam về đất đai. Việc lựa chọn sử dụng thuật ngữ “người sử dụng đất” trong pháp luật Việt Nam, chính là hệ quả của nguyên tắc “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” được quy định tại Điều 4, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018. Đây là nguyên tắc chủ đạo, giữ vai trò vô cùng quan trọng trong chính sách thực thi chế độ sở hữu đất đai toàn dân tại Việt nam, đồng thời mang ý nghĩa quyết định việc quản lý đất đai của Nhà nước và sử dụng đất đai của các chủ thể.

Theo nguyên tắc nêu trên, chỉ có Nhà nước được đại diện chủ sở hữu, thay mặt chủ sở hữu thực hiện các quyền sở hữu về đất đai, còn các chủ thể khác chỉ có quyền SDĐ. Chủ thể có quyền SDĐ được gọi là người SDĐ, người SDĐ được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền SDĐ để sử dụng ổn định lâu dài hoặc có thời hạn. Mặc dù, chỉ nắm giữ quyền SDĐ, nhưng người SDĐ vẫn có quyền thực hiện các giao dịch liên quan đến quyền SDĐ thông qua các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền SDĐ và được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, tuỳ từng loại đất và nguồn gốc SDĐ theo quy định của pháp luật. Như vậy, muốn trở thành người SDĐ, “xét về hình thức, phải có một hoặc nhiều thửa đất thuộc quyền sử dụng đất của mình, xét về nội dung, chủ thể đó phải có những quyền và nghĩa vụ của một chủ thể SDĐ trong mối quan hệ trực tiếp với Nhà nước theo quy định của pháp luật.

Khái niệm về người SDĐ đã được một số nghiên cứu khoa học về pháp lý đề cập tới, với các quan điểm cơ bản.

Quan điểm thứ nhất, “Người sử dụng đất là tổ chức (tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội), hộ gia đình và cá nhân được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất để sử dụng.

Quan điểm thứ hai, “Người sử dụng đất là người được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất, là người trực tiếp thực hiện ý đồ sử dụng đất của Nhà nước nhằm khai thác các thuộc tính có ích của đất phục vụ cho việc phát triển kinh tế. Người sử dụng đất có thể là tổ chức, hộ gia đình hoặc cá nhân. Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

Các khái niệm trên mặc dù có cách biểu đạt khác nhau, nhưng chung quy, các khái niệm này đều thống nhất với nhau về cơ sở để xác định một chủ thể là người SDĐ, dựa vào việc Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất, hay công nhận quyền SDĐ, cho phép nhận chuyển quyền SDĐ, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của chủ thể SDĐ trong mối quan hệ với Nhà nước theo quy định của pháp luật.

Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 không đưa ra khái niệm cụ thể về người SDĐ mà thông qua hình thức liệt kê các chủ thể được xem là người SDĐ khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền SDĐ, nhận chuyển quyền SDĐ. Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 đã phân loại các chủ thể SDĐ bao gồm 07 nhóm đối tượng sau: “Tổ chức trong nước; Hộ gia đình, cá nhân trong nước; Cộng đồng dân cư; Cơ sở tôn giáo; Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; Người Việt Nam định cư ở nước ngoài; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Dựa vào các quan điểm về người SDĐ và quy định của Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 về người SDĐ, có thể đưa ra khái niệm về người SDĐ như sau: “Người sử dụng đất là Tổ chức trong nước; Hộ gia đình, cá nhân trong nước; Cộng đồng dân cư; Cơ sở tôn giáo; Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; Người Việt Nam định cư ở nước ngoài; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền người sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền người sử dụng đất.”

Doanh nghiệp là một trong các chủ thể SDĐ, được chia thành hai nhóm đối tượng SDĐ là “tổ chức trong nước” và “doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được xác định là một trong các chủ thể SDĐ thông qua quy định khá rõ ràng tại Khoản 7, Điều 5, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018.

Theo đó, chủ thể SDĐ là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, bao gồm: “Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp Việt Nam mà nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại theo quy định của pháp luật về đầu tư.”5 Việc pháp luật Việt Nam ghi nhận đối tượng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là người SDĐ mang ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đẩy mạnh sự nghiệp CNH – HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.

Trái ngược với đó, doanh nghiệp trong nước không được liệt kê cụ thể như doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, mà phải thông qua chủ thể “tổ chức trong nước” và chủ thể “tổ chức kinh tế”. Căn cứ Khoản 1, Điều 5, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018, tổ chức trong nước bao gồm: “Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp công lập và tổ chức khác theo quy định của pháp luật về dân sự.”6 Trong đó, tổ chức kinh tế bao gồm “doanh nghiệp, hợp tác xã và tổ chức kinh tế khác theo quy định của pháp luật về dân sự, trừ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.”7 Như vậy, thông qua quy định pháp luật về hai chủ thể nêu trên, có thể khẳng định rằng, doanh nghiệp trong nước là người SDĐ theo quy định tại Khoản 1, Điều 5, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018. Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

Với mục đích sử dụng đất đai phục vụ cho hoạt động kinh doanh, sản xuất, thương mại, dịch vụ để thu lợi nhuận, pháp luật Việt Nam đã ghi nhận doanh nghiệp là một chủ thể SDĐ quan trọng. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam không thống nhất một loại chủ thể SDĐ là doanh nghiệp mà chia ra thành hai loại hình, đó là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước. Việc phân chia người SDĐ là doanh nghiệp thành hai loại như trên, cho thấy việc tiếp cận quyền SDĐ giữa các loại hình doanh nghiệp là khác nhau.

Tương tự như khái niệm người SDĐ, khái niệm người SDĐ là doanh nghiệp được xây dựng thông qua các tiêu chí về căn cứ pháp lý làm phát sinh quyền SDĐ của chủ thể là doanh nghiệp. Tác giả xin đưa ra khái niệm về người SDĐ là doanh nghiệp như sau: Người sử dụng đất là doanh nghiệp là các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước trao quyền sử dụng đất thông qua các hình thức như Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất, hay cho phép nhận chuyển quyền sử dụng đất, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định trong thời hạn sử dụng đất.

1.1.1.2. Đặc điểm người sử dụng đất là doanh nghiệp

Người SDĐ là doanh nghiệp được chia thành hai thành phần cơ bản, đó chính là doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, phạm vi về hình thức SDĐ của mỗi thành phần là khác nhau. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ bị pháp luật hạn chế về hình thức SDĐ so với các doanh nghiệp trong nước, nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước phát triển. Do đó, doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ có những đặc điểm khác nhau cơ bản về quyền và nghĩa vụ trong quá trình SDĐ.

Bên cạnh những quyền và nghĩa vụ chung quy định tại Điều 166 và Điều 170, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018, doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn được Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ của mình.

Đối với doanh nghiệp trong nước bao gồm các quyền và nghĩa vụ sau:

  • Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong nước được Nhà nước giao đất có thu tiền SDĐ, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê.
  • Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong nước SDĐ thuê trả tiền hàng năm.
  • Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong nước nhận chuyển nhượng quyền SDĐ, chuyển mục đích quyền SDĐ.
  • Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong nước nhận góp vốn bằng quyền SDĐ; quyền SDĐ của doanh nghiệp trong nước khi giải thể, phá sản. Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.
  • Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong nước được thuê đất để xây dựng công trình ngầm.

Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm các quyền và nghĩa vụ sau:

  • Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài SDĐ để thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam.
  • Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp liên doanh SDĐ do nhận góp vốn bằng quyền SDĐ; doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được chuyển đổi từ doanh nghiệp liên doanh.
  • Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm.
  • Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê hoặc được Nhà nước Việt Nam giao đất có thu tiền SDĐ để thực hiện dự án.
  • Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có quyền SDĐ được hình thành do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam.
  • Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài SDĐ để thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam được Nhà nước giao đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn, giảm tiền SDĐ, tiền thuê đất.
  • Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài SDĐ trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế.
  • Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thuê đất để xây dựng công trình ngầm.

Hiện nay, pháp luật về đất đai ngày càng mở rộng về quyền và nghĩa vụ của người SDĐ là doanh nghiệp và phát triển theo hướng bình đẳng trước pháp luật. Doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là chủ thể SDĐ, được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, được chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng quyền SDĐ theo quy định. Tuy nhiên, pháp luật đất đai hiện hành quy định về quyền tiếp cận đất đai của doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có nhiều điểm khác biệt. Cụ thể:

Thứ nhất, đối với quyền tiếp cận đất đai từ Nhà nước. Doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền SDĐ. Theo Khoản 2, Khoản 3, Điều 55, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018, doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều được Nhà nước “giao đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê”8. Tuy nhiên, doanh nghiệp trong nước được “giao đất thực hiện dự án đầu tư hạ tầng nghĩa trang, nghĩa địa để chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với hạ tầng”9. So với doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được nhà nước giao đất có thu tiền SDĐ để thực hiện dự án đầu tư hạ tầng nghĩa trang, nghĩa địa để chuyển nhượng quyền SDĐ gắn với hạ tầng. Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

Thứ hai, đối với quyền tiếp cận đất đai từ thị trường. So với doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được nhận chuyển nhượng quyền SDĐ từ các tổ chức, cá nhân khác mà chỉ được nhận quyền SDĐ thông qua các hình thức quy định tại Điều 169, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018. Theo đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được nhận quyền SDĐ thông qua các hình thức, cụ thể như sau:

Một là, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được nhận chuyển nhượng vốn đầu tư là giá trị quyền SDĐ theo quy định của Chính phủ. Theo Điều 39, Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định về chuyển nhượng vốn đầu tư là giá trị quyền SDĐ như sau:

“1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được nhận chuyển nhượng vốn đầu tư là giá trị quyền SDĐ của doanh nghiệp đang SDĐ có nguồn gốc được Nhà nước giao đất có thu tiền SDĐ, cho thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê mà giá trị quyền SDĐ đã được vốn hóa vào vốn của doanh nghiệp, trừ trường hợp chuyển nhượng vốn đầu tư là giá trị quyền SDĐ sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp.

2. Doanh nghiệp, các thành viên là chủ sở hữu doanh nghiệp khi chuyển nhượng vốn đầu tư phải xác định phần vốn là giá trị quyền SDĐ trong tổng giá trị vốn chuyển nhượng và phải thực hiện nghĩa vụ thuế, phí, lệ phí theo quy định của pháp luật.”10

  • Hai là, tổ chức kinh tế và doanh nghiệp liên doanh nhận chuyển quyền SDĐ thông qua hình thức nhận góp vốn bằng quyền SDĐ.
  • Ba là, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhận quyền SDĐ thông qua Nhà nước giao đất để thực hiện những dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc có thể để bán kết hợp cho thuê.
  • Bốn là, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được nhận quyền SDĐ thông qua việc Nhà nước cho thuê đất.
  • Năm là, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được nhận quyền SDĐ theo kết quả hòa giải thành về tranh chấp đất đai được Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền công nhận; thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp để xử lý nợ; quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai, khiếu nại, tố cáo về đất đai, quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án đã được thi hành; văn bản công nhận kết quả đấu giá quyền SDĐ phù hợp với pháp luật; văn bản về việc chia tách quyền SDĐ phù hợp với pháp luật đối với hộ gia đình hoặc nhóm người có quyền SDĐ chung.

Qua phân tích những đặc điểm về quyền và nghĩa vụ của người SDĐ là doanh nghiệp, có thể thấy doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có những đặc điểm về quyền và nghĩa vụ khác nhau. Nhưng nhìn chung, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khá khó khăn trong việc tiếp cận đất đai so với doanh nghiệp trong nước.

1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của việc Nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

1.1.2.1. Khái niệm Nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội

Thực hiện hóa mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh”, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xem việc phát triển KT – XH là nhiệm vụ trọng tâm, sử dụng sự tiến bộ của nền kinh tế làm công cụ để cải thiện, nâng cao đời sống xã hội. Tuy nhiên, để đạt những kết quả cao trong việc thúc đẩy phát triển KT – XH, cần có những giải pháp hữu hiệu và hợp lý.

Thu hồi đất là một cơ chế quan trọng, tạo nguồn động lực to lớn, thúc đẩy sự phát triển KT – XH, là nền móng vững chắc cho việc đầu tư, xây dựng các cụm công nghiệp, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; các dự án xây dựng khu đô thị mới, khu dân cư nông thôn; các công trình công cộng như bệnh viện, trường học, trụ sở, đường giao thông, thủy lợi, điện lực…Khi thực hiện các dự án, công trình nêu trên, yếu tố tiên quyết và sơ khai mà các nhà đầu tư cần phải có đó chính là đất đai, hay cụ thể hơn là quỹ đất sạch.

Tổng hợp các quy định của Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018, tác giả nhận thấy nhà đầu tư muốn có mặt bằng để triển khai thực hiện dự án phải thông qua một trong hai hình thức sau:

Thứ nhất, thông qua hoạt động thu hồi đất của Nhà nước để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng, được quy định tại Điều 62, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018;

Thứ hai, SDĐ thông qua hình thức nhận chuyển nhượng, thuê quyền SDĐ, nhận góp vốn bằng quyền SDĐ để sản xuất, kinh doanh, được quy định tại Điều 73, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018.

Tuy nhiên, việc tạo mặt bằng sạch thông qua hình thức nhận chuyển nhượng, thuê quyền SDĐ, nhận góp vốn bằng quyền SDĐ còn nhiều hạn chế, phải phụ thuộc vào ý chí của bên chuyển nhượng quyền SDĐ hoặc bên góp vốn quyền SDĐ, nên các nhà đầu tư không chủ động được diện tích đất để thực hiện dự án theo quy mô mà mình mong muốn. Vì vậy, hình thức Nhà nước thu hồi đất của người SDĐ và giao lại cho nhà đầu tư để thực hiện dự án là một giải pháp tối ưu và cần thiết trong thu hút đầu tư, tạo nguồn lực thúc đẩy sự phát triển KT – XH đất nước.

Nhà nước thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng không còn là một khái niệm mới. Tuy nhiên, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 chỉ đưa ra khái niệm Nhà nước thu hồi đất, mà chưa ghi nhận khái niệm Nhà nước thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng. Mặc dù vậy, dựa trên bản chất của khái niệm Nhà nước thu hồi đất, có thể đưa ra khái niệm Nhà nước thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng. Nói cách khác, để làm rõ khái niệm Nhà nước thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng, cần phải nghiên cứu và phân tích thấu đáo khái niệm Nhà nước thu hồi đất. Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

Theo Khoản 11, Điều 3, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 quy định “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai.

Ngoài khái niệm Nhà nước thu hồi đất được nêu trong luật, các công trình nghiên cứu khoa học cũng rất quan tâm đối với khái niệm này, cụ thể: “Thu hồi đất được hiểu là văn bản hành chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm chấm dứt một quan hệ pháp luật đất đai để phục vụ lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc xử lý hành chính hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng đất.

Bên cạnh đó, còn có ý kiến cho rằng: “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại đất và quyền sử dụng đất để giao cho các chủ thể sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai.

Qua những khái niệm nêu trên cho thấy, bản chất của hoạt động thu hồi đất được thực hiện thông qua quyết định hành chính của cơ quan có thẩm quyền, làm chấm dứt quyền SDĐ của người SDĐ, nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu của Nhà nước, của xã hội hoặc để xử lý các hành vi vi phạm các quy định về SDĐ mà pháp luật đất đai quy định.

So với khái niệm Nhà nước thu hồi đất, khái niệm Nhà nước thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng mang tính cụ thể hóa hơn về mục đích thu hồi đất. Theo đó, chủ thể thu hồi đất là Nhà nước, chủ thể bị thu hồi đất là người SDĐ và mục đích thu hồi đất là để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng, đây là mục đích quan trọng và khá phổ biến khi Nhà nước tiến hành hoạt động thu hồi đất.

Từ những phân tích nêu trên, tác giả rút ra khái niệm thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng như sau: Thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng là việc Nhà nước quyết định thu hồi lại quyền SDĐ của người được nhà nước trao quyền SDĐ hoặc thu lại đất của người SDĐ vi phạm pháp luật về đất đai để phục vu cho nhu cầu phát triển KT – XH trên cơ sở giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho mọi người trong xã hội đều được hưởng những giá trị đất đai mang lại sau khi bị thu hồi.

Khái niệm trên mang tính khái quát, là nền tảng giúp chúng ta hiểu rõ hơn về bản chất của việc Nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển KT – XH, từ đó rút ra những đặc điểm nổi bật của hoạt động này.

1.1.2.2. Đặc điểm của việc Nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội

Nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển KT – XH là hoạt động hành chính được áp dụng trên toàn lãnh thổ Việt Nam và tác động đến nhiều chủ thể SDĐ. Ở mỗi địa phương, việc thu hồi đất vì mục đích phát triển KT – XH có những đặc điểm và tính chất riêng biệt. Tuy nhiên, xét về bản chất, tác giả xin đưa ra một số đặc điểm chính của việc Nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển KT – XH như sau: Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

Thứ nhất, Nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển KT – XH mang tính quyền lực Nhà nước. Nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển KT – XH được thực hiện bằng việc ban hành quyết định hành chính của cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật, nhằm chấm dứt quyền SDĐ của các chủ thể bị thu hồi đất. Đây là hoạt động hành chính, mang tính chất quyền uy của Nhà nước, đòi hỏi các chủ thể bị thu hồi đất có nghĩa vụ chấp hành. Trong trường hợp, sau khi đã được đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp khi Nhà nước thu hồi đất, các chủ thể bị thu hồi đất không chấp hành theo quyết định thu hồi đất, cơ quan có thẩm quyền có quyền áp dụng biện pháp chế tài thông qua hình thức cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất được quy định tại Điều 71, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018.

Thứ hai, hoạt động thu hồi đất nói chung và thu hồi đất vì mục đích phát triển KT – XH nói riêng, được pháp luật quy định về trình tự, thủ tục khá chặt chẽ, công khai và minh bạch. Do đó, bắt buộc các cá nhân, tổ chức được giao nhiệm vụ trực tiếp thực hiện hoạt động thu hồi đất phải đảm bảo việc tuân thủ theo đúng trình tự, thủ tục đã được pháp luật quy định, tránh các tiêu cực như lợi ích nhóm, tham nhũng… đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị thu hồi đất.

Thứ ba, việc Nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển KT – XH thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong công cuộc CNH – HĐH đất nước, thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển.

1.1.3. Khái niệm và đặc điểm pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

1.1.3.1. Khái niệm pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

Hầu hết, tất cả các lĩnh vực trong xã hội đều được điều chỉnh bằng pháp luật. Pháp luật được xem là một trong những công cụ hiệu quả nhất để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý xã hội của mình. Theo GS.TSKH Đào Trí Úc “Điều chỉnh pháp luật là quá trình Nhà nước dùng pháp luật (với tư cách là công cụ điều chỉnh) tác động lên hành vi của các thành viên trong xã hội nhằm đạt được mục đích đề ra.”15 Tuỳ thuộc vào tính chất, đặc điểm của từng quan hệ xã hội phát sinh trong thực tế mà Nhà nước có cách thức điều chỉnh pháp luật phù hợp. Đối với quan điểm trên, PGS.TS Phạm Hữu Nghị cũng đã nhận định rằng: “Điều chỉnh pháp luật được hiểu là việc Nhà nước dựa vào pháp luật, sử dụng một loạt các phương tiện pháp lý đặc thù (quy phạm pháp luật, văn bản áp dụng pháp luật, quan hệ pháp luật, hành vi thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý) để điều chỉnh các quan hệ xã hội, tác động đến các quan hệ xã hội theo phương hướng nhất định.”16 Từ hai nhận định nêu trên, cho thấy pháp luật có vai trò vô cùng quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Trong đó, mối quan hệ xã hội giữa Nhà nước và người SDĐ trong hoạt động thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng cũng không ngoại lệ.

Trên cơ sở hiến định về thu hồi đất của Hiến pháp năm 2013, “Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng,”17 Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 được xem là văn bản quy phạm pháp luật đã thể chế hoá nội dung trên và giữ vai trò chủ đạo trong việc điều chỉnh hoạt động thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng. Ngoài ra, pháp luật thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng còn có các văn bản hướng dẫn thi hành Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018, đảm bảo phù hợp với Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018, cũng như Hiến pháp 2013.

Thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng có liên quan đến nhiều chế định pháp luật quy định về cơ sở pháp lý để thu hồi đất của doanh nghiệp, chủ yếu xoay quanh các nội dung: (i) Nhóm quy định pháp luật về căn cứ pháp lý để thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng; (ii) Nhóm quy định pháp luật về thẩm quyền thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng; (iii) Nhóm quy định pháp luật quy định về nội dung, hình thức thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng; (iii) Nhóm quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng.

Thứ nhất, quy định pháp luật về căn cứ pháp lý để thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng. Văn bản hợp nhất LĐĐ

2018 quy định về căn cứ thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng tại Điều 63, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018. Quy định này nhằm làm rõ phạm vi và giới hạn của việc thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng, đảm bảo tuân theo một trật tự nhất định, trên cơ sở kế hoạch cụ thể đã được xây dựng. Bên cạnh đó, pháp luật quy định về căn cứ thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng để làm cơ sở pháp lý, hạn chế tình trạng tuỳ tiện và lạm dụng khi Nhà nước thu hồi đất, ảnh hưởng đến quyền lợi của doanh nghiệp bị thu hồi đất. Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

Thứ hai, quy định pháp luật về thẩm quyền thu hồi đất của doanh nghiệp. Đây là nhóm quy định pháp luật quan trọng, nhằm xác định cụ thể vai trò, trách nhiệm của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng. Ở một góc độ khác, quy định pháp luật về thẩm quyền thu hồi đất của doanh nghiệp còn giúp xác định rõ giới hạn về thẩm quyền của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất, kiểm soát tình trạng lạm quyền, tuỳ tiện khi thu hồi đất của doanh nghiệp.

Thứ ba, quy định pháp luật về nội dung, hình thức thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng. Về nội dung, các trường hợp thu hồi đất của doanh nghiệp phải xuất phát từ mục đích phát triển KT – XH và mục đích phát triển KT – XH đó phải gắng liền với lợi ích của quốc gia, lợi ích của công cộng. Về hình thức, là những trình tự, thủ tục được pháp luật quy định trong thực hiện hoạt động thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng. Các cá nhân, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và doanh nghiệp bị thu hồi đất phải tuân theo trình tự, thủ tục đã được pháp luật quy định.

Thứ tư, quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng. Bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất của doanh nghiệp là một trong những nội dung hết sức quan trọng, liên quan trực tiếp đến hoạt động thu hồi đất của doanh nghiệp. Trên thực tế, thu hồi đất nói chung và thu hồi đất của doanh nghiệp nói riêng, diễn ra nhanh hay chậm, thuận lợi hay vướng mắc, đồng thuận hay không đồng thuận xuất phát từ vấn đề bồi thường và hỗ trợ. Vì vậy, việc xây dựng các quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng cần hướng đến lợi ích giữa các bên trong hoạt động thu hồi đất.

Như vậy, trên cơ sở quy định của Hiến pháp 2013 và tổng hợp tất cả các quy định pháp luật thuộc các nhóm nêu trên sẽ hình thành nên pháp luật điều chỉnh hoạt động thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng.

Có thể thấy, pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng là một phần trong pháp luật về thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng. Do đó, khái niệm về pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng có nội hàm hẹp hơn so với khái niệm pháp luật về thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng. Đối tượng bị thu hồi đất trong khái niệm về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng được giới hạn trong phạm vi các doanh nghiệp. Cụ thể, theo Luật Doanh nghiệp 2020, có 05 loại hình doanh nghiệp với các đặc trưng pháp lý, hình thức tổ chức và khả năng huy động vốn khác nhau, bao gồm: Doanh nghiệp tư nhân; Công ty TNHH một thành viên; Công ty TNHH hai thành viên trở lên; Công ty cổ phần; Công ty hợp danh. Bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào cũng có thể bị Nhà nước thu hồi đất khi cần thiết, đặc biệt là các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Bởi lẽ, các doanh nghiệp có quy mô lớn, thông thường đã xây dựng, đặt trụ sở và cơ sở sản xuất tại các khu công nghiệp, khu chế xuất… được hình thành từ hoạt động thu hồi đất của Nhà nước, đảm bảo phù hợp với quy hoạch và mục đích SDĐ kinh doanh sản xuất, ít có sự thay đổi. Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 hoàn toàn không đưa ra khái niệm về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng. Do đó, khái niệm về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng được phân tích, tổng hợp từ những quy định có liên quan đến hoạt động thu hồi đất của Nhà nước đối với đối tượng bị thu hồi đất là doanh nghiệp. Đồng thời, xác định rõ mục tiêu việc Nhà nước thu hồi đất của doanh nghiệp là vì sự phát triển KT – XH nhưng sự phát triển đó phải gắn liền với lợi ích công cộng, lợi ích của quốc gia.

Từ những phân tích trên, có thể hiểu một cách khái quát về khái niệm pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng như sau: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, điều chỉnh hoạt động thu hồi đất của Nhà nước đối với chủ thể bị thu hồi đất là doanh nghiệp phục vụ cho mục đích phát triển KT – XH gắn liền với lợi ích quốc gia, công cộng.

1.1.3.2. Đặc điểm pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

Bên cạnh, những đặc điểm cơ bản của pháp luật về thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng, pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng còn có một vài đặc điểm nổi bật, mang tính chất riêng biệt.

Thứ nhất, doanh nghiệp là chủ thể SDĐ bị thu hồi đất. Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia công cộng đã xác định cụ thể chủ thể bị thu hồi đất là doanh nghiệp. Đây là chủ thể bị thu hồi đất chiếm tỷ lệ khá thấp trong hoạt động thu hồi đất của Nhà nước. Tuy nhiên, chủ thể này đang ngày càng được quan tâm một cách sâu sắc, do quy trình, thủ tục thu hồi đất và hậu quả pháp lý sau khi thu hồi đất đối với doanh nghiệp phức tạp hơn so với các đối tượng khác như cá nhân, hộ gia đình… Bên cạnh đó, doanh nghiệp là đối tượng SDĐ với diện tích lớn, giá trị kinh tế cao nên khi Nhà nước thực hiện hoạt động thu hồi đất của doanh nghiệp đòi hỏi cần có sự chặt chẽ, đồng bộ và đảm bảo về lợi ích cho doanh nghiệp.

Thứ hai, quan hệ pháp luật về bồi thường, hỗ trợ được phát sinh giữa Nhà nước và doanh nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia công cộng. Đây là một sự kiện pháp lý quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của doanh nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất. Quan hệ pháp luật này chấm dứt khi Nhà nước đã hoàn tất việc bồi thường, hỗ trợ cho doanh nghiệp theo đúng quy định của pháp luật.

Thứ ba, pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng luôn đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đều phải được bảo đảm, qua đó đáp ứng được yêu cầu phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng. Để thực hiện được điều đó, “việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cần được nhìn nhận từ phía Nhà nước – người đại diện cho chủ sở hữu đất đai và phía tổ chức, hộ gia đình, cá nhân – người bị thu hồi đất. Việc xử lý mối quan hệ đất đai thiên về phía bên nào đều không đảm bảo yêu cầu pháp chế xã hội chủ nghĩa.”18 Việc Nhà nước thu hồi đất của doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp như phải di chuyển và ổn định trụ sở kinh doanh, cơ sở sản xuất sau khi bị Nhà nước thu hồi đất; thay đổi nguồn nhân lực khi phải thay đổi trụ sở, cơ sở; thay đổi kế hoạch, chiến lược kinh doanh… Hơn nữa, việc Nhà nước thu hồi đất của doanh nghiệp nếu rơi vào những trường hợp quyền SDĐ bị thu hồi đang được dùng làm tài sản thế chấp hoặc tài sản góp vốn, dẫn đến các hậu quả pháp lý phức tạp. Nếu giá bồi thường, hỗ trợ không phù hợp với giá thị trường chuyển nhượng quyền SDĐ, sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị phần vốn góp. Do đó, bên cạnh việc bồi thường, hỗ trợ những thiệt hại về vật chất, Nhà nước còn bồi thường, hỗ trợ những thiệt hại phi vật chất mà doanh nghiệp phải đối mặt sau khi bị Nhà nước thu hồi đất.

Mặc dù, gặp rất nhiều khó khăn, nhưng trách nhiệm của doanh nghiệp phải cố gắng phối hợp cùng Nhà nước trong hoạt động thu hồi đất để thực hiện mục tiêu phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng. Về phía Nhà nước, phải đảm bảo việc bồi thường, hỗ trợ cho doanh nghiệp một cách thỏa đáng, phù hợp với những thiệt hại, tổn thất mà doanh nghiệp phải chịu khi bị Nhà nước thu hồi đất. Đồng thời, phải đảm bảo việc sử dụng quỹ đất sau khi thu hồi đúng với mục đích phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng. Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

1.1.4. Vai trò của pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trong nền kinh tế thị trường hiện nay

Đối với doanh nghiệp, đất đai giữ vai trò vô cùng quan trọng, là điều kiện tiên quyết, khởi phát cho quá trình xây dựng, đầu tư và phát triển của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, đất đai còn là loại tài sản phổ biến được các doanh nghiệp sử dụng trong việc thực hiện các hoạt động như thế chấp với các tổ chức tín dụng, nhằm tạo nguồn vốn đầu tư và duy trì hoạt động của doanh nghiệp; SDĐ để thực hiện dự án đầu tư; Nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn bằng quyền SDĐ;… Có thể thấy, doanh nghiệp sử dụng đất đai vào nhiều mục đích đa dạng, có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến việc duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh, sản xuất. Do đó, vấn đề thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng cần phải được quan tâm một cách đúng mực. Quy trình, thủ tục thu hồi đất của doanh nghiệp cần chặt chẽ, đảm bảo quyền và lợi ích của doanh nghiệp, tránh các khó khăn, phiền phức cho doanh nghiệp khi bị thu hồi đất.

Trên thực tế, mặc dù số lượng doanh nghiệp bị thu hồi đất để phục vụ cho mục đích phát triển KT – XH chiếm tỷ lệ khá thấp so với các chủ thể bị thu hồi đất khác, nhưng đây là đối tượng cần được quan tâm. Bởi lẽ, về góc độ kinh tế, khi thu hồi đất, các doanh nghiệp bị thiệt hại đáng kể về lợi ích kinh tế khi phải tìm kiếm địa điểm sản xuất kinh doanh mới phù hợp với nhu cầu và tài chính; di chuyển các thiết bị, máy móc, vật tư gây tốn kém nhiều chi phí và thời gian; phải tạm dừng thời gian hoạt động kinh doanh, sản xuất để di chuyển đến địa điểm mới, làm mất tính ổn định trong hoạt động kinh doanh, sản xuất. Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng giữ vai trò khá quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp của doanh nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất, giúp doanh nghiệp nhanh chóng ổn định hoạt động kinh doanh sản xuất, tạo niềm tin của doanh nghiệp vào đường lối, chủ trưởng của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Đối với Nhà nước, pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng góp phần xây dựng cơ chế đặc thù để quản lý và tạo tính hài hòa trong hoạt động thu hồi đất đối với từng chủ thể khác nhau. Từ đó, công tác GPMB, bồi thường, hỗ trợ để thực hiện các dự án đầu tư, xây dựng được diễn ra thuận lợi thông qua việc đồng thuận, thống nhất cao từ người bị thu hồi đất. Đồng thời, Nhà nước sẽ có những lợi ích về KT – XH nhất định từ hoạt động thu hồi đất như tăng nguồn thu ngân sách, cơ sở hạ tầng ở địa phương được nâng cao, đáp ứng nhu cầu dân sinh, phát triển KT – XH.

1.2. Quy định của pháp luật hiện hành về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

1.2.1. Chủ thể sử dụng đất là doanh nghiệp khi bị Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

Chủ thể SDĐ hay người SDĐ là chủ thể được Nhà nước trao quyền SDĐ, trực tiếp tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai, có quyền và nghĩa vụ nhất định. Chủ thể SDĐ được phân loại thành 08 nhóm đối tượng sau: Tổ chức trong nước; Hộ gia đình, cá nhân trong nước; Cộng đồng dân cư; Cơ sở tôn giáo; Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; Người Việt Nam định cư ở nước ngoài; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.19 Như đã phân tích, doanh nghiệp thuộc vào nhóm đối tượng “Tổ chức trong nước” và “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”. Do đó, chủ thể SDĐ là doanh nghiệp được phân ra thành hai loại, chủ thể SDĐ là doanh nghiệp trong nước và chủ thể SDĐ là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đây là một trong những chủ thể SDĐ khá phổ biến trong thời đại CNH – HĐH ở nước ta hiện nay.

Để tạo quỹ đất sạch phục vụ cho các dự án đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để hoạt động phân bổ đất đai của Nhà nước theo đúng quy hoạch, kế hoạch SDĐ, vì mục đích phát triển KT – XH, Nhà nước bắt buộc phải tiến hành thu hồi đất của các chủ thể SDĐ nằm trong phạm vi GPMB theo quy hoạch của dự án. Quyền thu hồi đất là quyền cơ bản của Nhà nước hay nói cách khác là quyền cơ bản của đại diện chủ sở hữu về đất đai được ghi nhận cụ thể tại Khoản 4, Điều 143, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018.

Theo đó, Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền SDĐ của người được Nhà nước trao quyền SDĐ hoặc thu lại đất của người SDĐ vi phạm pháp luật về đất đai.20 Do doanh nghiệp là chủ thể SDĐ nên được xem là một trong các chủ thể bị Nhà nước thu hồi đất để phục vụ cho các mục đích theo quy định của pháp luật, trong đó có phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng. Bên cạnh đó, cơ sở để xác định doanh nghiệp là chủ thể bị thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng thông qua việc Nhà nước trao quyền SDĐ cho doanh nghiệp. Nhà nước trao quyền SDĐ cho doanh nghiệp bằng các hình thức như giao đất có thu tiền SDĐ và cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm hoặc thu tiền một lần cho cả thời gian thuê. Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

Đối với doanh nghiệp trong nước, Nhà nước giao đất có thu tiền SDĐ trong trường hợp SDĐ được giao để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê; SDĐ được giao để thực hiện dự án đầu tư hạ tầng nghĩa trang, nghĩa địa để chuyển nhượng quyền SDĐ gắn với hạ tầng.21 Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm hoặc thu tiền một lần cho cả thời gian thuê trong trường hợp SDĐ để thực hiện dự án đầu tư sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp; đất xây dựng công trình công cộng có mục đích kinh doanh; đất để thực hiện dự án đầu tư nhà ở để cho thuê; SDĐ xây dựng công trình sự nghiệp.

Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Nhà nước giao đất có thu tiền SDĐ trong trường hợp thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp với cho thuê. Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm hoặc thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê trong trường hợp doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài SDĐ để thực hiện dự án đầu tư sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp; đất xây dựng công trình công cộng có mục đích kinh doanh; đất để thực hiện dự án đầu tư nhà ở để cho thuê.

Nhà nước giao đất có thu tiền SDĐ và Nhà nước cho thuê đất có thu tiền là hai phương thức tiếp cận đất đai của doanh nghiệp từ Nhà nước. Đây là hoạt động chuyển giao đất từ Nhà nước sang người SDĐ là doanh nghiệp và doanh nghiệp thuê đất, được giao đất có nghĩa vụ phải trả tiền cho Nhà nước. Do đó, với tư cách là đại diện chủ sở hữu, việc Nhà nước thu hồi lại đất trên cơ sở đã cho thuê hoặc giao đất cho doanh nghiệp để phục vụ cho mục đích phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng là hoàn toàn phù hợp. Hay nói cách khác, cơ sở để doanh nghiệp trở thành chủ thể bị thu hồi đất dựa trên việc trước đó Nhà nước đã cho thuê đất hoặc giao đất cho doanh nghiệp.

Khi Nhà nước tiến hành thu hồi đất, doanh nghiệp có nghĩa vụ chấp hành nghiêm túc, bàn giao lại đất khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất. Điều này đồng nghĩa với việc, doanh nghiệp sẽ bị chấm dứt quyền SDĐ của mình. Song song với nghĩa vụ bàn giao đất lại cho Nhà nước của doanh nghiệp, Nhà nước có trách nhiệm bồi thường, hỗ trợ cho doanh nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất theo đúng quy định của pháp luật.

Như vậy, doanh nghiệp được xem là chủ thể bị Nhà nước thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng khi Nhà nước ban hành quyết định thu hồi đất đối với chủ thể SDĐ là doanh nghiệp đã được Nhà nước trao quyền SDĐ. Qua đó, làm chấm dứt quyền SDĐ của doanh nghiệp và dùng đất đã thu hồi của doanh nghiệp phục vụ vào mục đích phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng. Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu đối với đất đai nên có quyền phân bổ và điều chỉnh đất đai vì mục đích phát triển kinh tế, xã hội. Nhà nước có thể thu hồi đất của người SDĐ này để trao cho người SDĐ khác. Do đó, bất kỳ người SDĐ nào cũng có thể trở thành chủ thể bị thu hồi đất, nhưng tùy vào từng chủ thể bị thu hồi đất mà pháp luật về đất đai có quy định về căn cứ thu hồi đất, nguyên tắc, điều kiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, trình tự thủ tục, chế tài… phù hợp. Chính vì vậy, đối với chủ thể bị thu hồi đất là doanh nghiệp, pháp luật sẽ có những điều chỉnh riêng rẻ, khác biệt so với các chủ thể bị thu hồi đất khác.

So với cá nhân, hộ gia đình, việc bồi thường, hỗ trợ cho doanh nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất phức tạp hơn, do việc tiếp cận đất đai của doanh nghiệp thông qua nhiều hình thức khác nhau (Ví dụ: Doanh nghiệp liên doanh SDĐ phi nông nghiệp không phải là đất ở do nhận góp vốn bằng quyền SDĐ chỉ được bồi thường về đất khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 2, Điều 8, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP…). Hoặc là, trình tự, thủ tục thu hồi đất của chủ thể bị thu hồi đất là doanh nghiệp cũng có đôi chút khác biệt so với hộ gia đình, cá nhân. Cụ thể, căn cứ Điều 66, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018, thẩm quyền quyết định thu hồi đất đối với cá nhân, hộ gia đình thuộc về UBND cấp huyện nhưng thẩm quyền quyết định thu hồi đất đối với doanh nghiệp thuộc về UBND cấp tỉnh.

Từ những phân tích trên cho thấy, chủ thể SDĐ là doanh nghiệp là một trong các chủ thể bị thu hồi đất theo quy định của pháp luật về đất đai. Tuy nhiên, do có những đặc điểm khác biệt so với các chủ thể SDĐ khác nên pháp luật có những điều chỉnh cụ thể và riêng biệt hơn, nhằm đáp ứng được quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể SDĐ là doanh nghiệp khi bị Nhà nước thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng.

1.2.2. Những trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

Nhà nước thu hồi đất của người SDĐ để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng là một hoạt động cơ bản trong chế độ quản lý đất đai của Nhà nước. Hoạt động này được áp dụng nhằm phục vụ cho mục đích phát huy toàn bộ sức mạnh của nền kinh tế, gắn liền với nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn và từng địa phương, vì lợi ích chung của quốc gia và toàn dân tộc. Hiện nay, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 quy định bốn mục đích thu hồi đất bao gồm: “Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; Thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai; Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người. Mục đích thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng mang tính chất phổ biến hơn so với các mục đích thu hồi đất khác. Các trường hợp thu hồi đất để phát triển KT – XH chiếm tỷ lệ khá cao trong hoạt động thu hồi đất của Nhà nước. Khác với một số nước trên thế giới, “việc thu hồi đất là để phục vụ cho mục đích quốc phòng an ninh và cho mục đích công cộng. Còn tại nước ta, thu hồi đất xảy ra 4 trường hợp, đó là: phục vụ cho mục đích quốc phòng an ninh; phục vụ cho lợi ích phát triển xã hội; vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và thu hồi theo quy định của pháp luật vì đe dọa tính mạng của con người.

Trong LĐĐ 2003, việc thu hồi đất chỉ dừng lại ở mục đích đơn thuần là phát triển kinh tế, bỏ qua lợi ích của quốc gia, lợi ích của người dân. Theo nhận định của GS. Đặng Hùng Võ, mục đích phát triển kinh tế khi Nhà nước thu hồi đất trong LĐĐ 2003 đã bị biến tướng “Vì mục đích kinh tế, Nhà nước chỉ thu hồi đất khi thực hiện các dự án đầu tư có 100% vốn nước ngoài; các dự án xây dựng hạ tầng chung. Thế nhưng trên thực tế, mục đích “phát triển kinh tế” đã biến tướng đến mức gần như dự án nào cũng đều do Nhà nước thu hồi đất, vừa tạo ra tiêu cực trong đất đai vừa gây nên lãng phí. Bên cạnh đó, hiện nay cơ chế của chúng ta nhẹ nhàng quá, người ta không trân trọng đất đai vì chỉ cần có dự án là Nhà nước sẽ thu hồi đất. Điều này ngoài hệ quả về kinh tế là nông dân không có việc làm, còn dẫn đến hệ quả xã hội nghiêm trọng hơn: người nông dân không đứng về phía chính quyền.”28 Thực tiễn đã chứng minh, khi Nhà nước thu hồi đất mà chỉ tập trung vào mục đích phát triển kinh tế là một thiếu sót khá nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, ẩn chứa nhiều nguy cơ xung đột, nhiều nguy cơ lạm quyền gây bức xúc trong nhân dân. Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

Trên cơ sở đó, LĐĐ 2013 đã kịp thời bổ sung và khẳng định rõ tiêu chí thu hồi đất để phát triển KT – XH phải gắn liền với lợi ích của quốc gia và lợi ích công cộng.

Hay nói cách khác, cả hai mục đích này không thể tách rời nhau, phải lồng ghép, đan xen vào nhau nhằm bảo vệ quyền lợi của người bị thu hồi đất khi thực hiện các dự án phát triển kinh tế, tạo sự hài hòa về lợi ích của người bị thu hồi đất, doanh nghiệp thực hiện dự án và lợi ích của Nhà nước.

Với quỹ đất có hạn như hiện nay thì việc sử dụng đất đai phục vụ cho sự phát triển kinh tế được cân nhắc một cách kỹ lưỡng nhất, với những căn cứ chặt chẽ, tránh sự tuỳ tiện, mất cân đối. Bằng phương pháp liệt kê, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 quy định các trường hợp Nhà nước thu hồi đất sau đây thì được xem là phục vụ cho mục đích phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng:

  • Thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư mà phải thu hồi đất;
  • Thực hiện các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư mà phải thu hồi đất, bao gồm:

Dự án xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; khu đô thị mới, dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA);

Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương; trụ sở của tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; công trình di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp quốc gia;

Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật cấp quốc gia gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc; hệ thống dẫn, chứa xăng dầu, khí đốt; kho dự trữ quốc gia; công trình thu gom, xử lý chất thải;

  • Thực hiện các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận mà phải thu hồi đất bao gồm:

Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội; công trình di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp địa phương;

Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật của địa phương gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc, chiếu sáng đô thị; công trình thu gom, xử lý chất thải;

Dự án xây dựng công trình phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng dân cư; dự án tái định cư, nhà ở cho sinh viên, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ; xây dựng công trình của cơ sở tôn giáo; khu văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí phục vụ công cộng; chợ; nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng; Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

Dự án xây dựng khu đô thị mới, khu dân cư nông thôn mới; chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn; cụm công nghiệp; khu sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung; dự án phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng;

Dự án khai thác khoáng sản được cơ quan có thẩm quyền cấp phép, trừ trường hợp khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, than bùn, khoáng sản tại các khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ và khai thác tận thu khoáng sản.

Các dự án nêu trên là các dự án mang tính chất phát huy nguồn lực đất đai, nâng cao hiệu quả SDĐ, thực hiện chính sách về phát triển hạ tầng, đô thị, nông nghiệp, nông thôn; giải quyết các vấn đề chính sách xã hội, bảo vệ môi trường, bảo tồn di sản văn hóa, phân bổ công bằng, hài hòa giá trị tăng thêm từ đất, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, nhằm phát triển kinh tế của đất nước, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Nhà nước chỉ thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng nếu dự án thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 62, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018. Hay nói cách khác, Nhà nước chỉ thu hồi đất đối với các dự án phát triển kinh tế, xã hội quan trọng nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và được Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương hoặc các dự án phát triển kinh tế, xã hội quan trọng của địa phương được HĐND cấp tỉnh thông qua.

Đối với dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư phải thu hồi đất, tại Điều 7, Luật Đầu tư công 2019 đã đưa ra những tiêu chí phân loại, cụ thể như:

  • Sử dụng vốn đầu tư công từ 10.000 tỷ đổng trở lên;
  • Ảnh hưởng lớn đến môi trường hoặc tiềm ăn khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, bao gồm:
  • Nhà máy điện hạt nhân;

Sử dụng đất có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo vệ cảnh quan, khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học từ 50 ha trở lên; rừng phòng hộ đầu nguồn từ 50 ha trở lên; rừng phòng hộ chăn gió, chăn cát bay, chắn sóng, lấn biển, bảo vệ môi trường từ 500 ha trở lên; rừng sản xuất từ 1.000 ha trở lên;

  • Sử dụng đất có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa nước từ hai vụ trở lên với quy mô từ 500 ha trở lên;
  • Di dân tái định cư từ 20.000 người trở lên ở miền núi, từ 50.000 người trở lên các vùng khác;
  • Dự án đòi hỏi phải áp dụng cơ chế, chỉnh sách đặc biệt cần được Quốc hội quyết định.

Các dự án được quy định tại Điều 7, Luật Đầu tư công 2019 được xem là các dự án quan trọng quốc gia, khi triển khai thực hiện sẽ gây tác động lớn đến sự phát triển KT – XH mang tầm quốc gia. Do đó, pháp luật về đất đai đã trao thẩm quyền cho Quốc hội về việc quyết định chủ trương đầu tư khi triển khai thực hiện các dự án quan trọng này mà cần phải thu hồi đất. Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 cùng Luật Đầu tư công 2019 đã phân định, cũng như đưa ra các tiêu chí nhằm xác định các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư phải thu hồi đất. Điều này giúp việc áp dụng pháp luật một cách thống nhất, đồng thời cũng là cơ sở xác định các dự án thuộc phạm vi thu hồi đất vì mục đích phát triển KT – XH.

Đối với các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư mà phải thu hồi đất và các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận mà phải thu hồi đất đã được Điều 62, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 liệt kê từng trường hợp cụ thể, phân chia theo thẩm quyền rõ ràng, chỉ rõ các đối tượng cần đầu tư. Đây là một quy định pháp luật khá tiến bộ về thu hồi đất bởi đã tách riêng một điều luật thu hồi đất cho mục đích phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng, mà không gộp chung với quy định thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; đồng thời, phân ra ba nhóm trường hợp thu hồi đất tùy theo quy mô, tính chất dự án, nhằm kiểm soát chặt chẽ các trường hợp thu hồi đất.

Như vậy, theo quy định hiện nay, việc thu hồi đất vì mục đích phát triển KT – XH được chia thành ba cấp quyết định là Quốc hội, Thủ tướng chính phủ và HĐND cấp tỉnh. Với quy định như vậy, sẽ giúp cân bằng lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người dân, không đặt nặng mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà quên đi tăng trưởng xã hội, phúc lợi xã hội, đảm bảo phát triển kinh tế phải phục vụ được lợi ích chung cho toàn xã hội.

1.2.3. Thẩm quyền thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

Trên lãnh thổ Việt Nam, không có chủ thể nào khác ngoài Nhà nước có thẩm quyền thực hiện hoạt động thu hồi đất. Hay nói cách khác, hoạt động thu hồi đất chỉ được thực hiện bởi duy nhất một chủ thể, đó chính là Nhà nước. Nhà nước thu hồi đất thông qua việc ban hành quyết định hành chính của cơ quan có thẩm quyền nhằm chấm dứt quyền SDĐ của các đối tượng bị thu hồi đất. Nhà nước giữ vai trò chính, chủ đạo và xuyên suốt trong hoạt động thu hồi đất. Tuy nhiên, Nhà nước không thể trực tiếp tham gia vào hoạt động thu hồi đất, mà phải thông qua các cơ quan thuộc bộ máy Nhà nước.

Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 quy định cụ thể về các cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất và thẩm quyền của từng cơ quan trong thực hiện hoạt động thu hồi đất. Cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất cũng được pháp luật về đất đai giới hạn và không phải cơ quan nào thuộc bộ máy Nhà nước cũng có thẩm quyền thu hồi đất. Căn cứ vào Điều 66, Văn bản hợp nhất LĐĐ năm 2018, chỉ có hai cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất bao gồm: UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện, hai cơ quan này được Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 quy định rõ về thẩm quyền thu hồi đất đối với từng trường hợp cụ thể. Theo đó:

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

  • Thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại điểm b, Khoản 2, Điều này;
  • Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.
  • Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:
  • Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;
  • Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

Theo quy định trên, có thể thấy thẩm quyền thu hồi đất không phụ thuộc vào các yếu tố như số lượng người bị thu hồi đất, số lượng nhà cửa phải di dời, diện tích đất thu hồi… mà thẩm quyền thu hồi đất được phân định dựa vào yếu tố “chủ thể sử dụng đất”. Nhìn chung, thẩm quyền thu hồi đất khá đồng nhất với thẩm quyền giao đất, cho thuê đất. Đối với doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các chủ thể khác như “cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài… thẩm quyền thu hồi đất thuộc về UBND tỉnh. Các trường hợp còn lại như “hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam” thuộc thẩm quyền của UBND huyện. Tuy nhiên, nhằm tạo tính linh hoạt, giảm thiểu các thủ tục rườm rà về thẩm quyền thu hồi đất, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 đã đưa ra một quy định mở, cho phép “trường hợp trong khu vực thu hồi đất có cả đối tượng thuộc thẩm quyền thu hồi đất của UBND cấp tỉnh và đối tượng thuộc thẩm quyền thu hồi đất của UBND cấp huyện thì UBND cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho UBND cấp huyện quyết định thu hồi đất. Theo đó, đối với chủ thể SDĐ là doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thẩm quyền thu hồi đất thuộc về UBND cấp tỉnh, UBND cấp tỉnh là cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định thu hồi đất đối với chủ thể bị thu hồi đất là doanh nghiệp. Đồng thời, UBND cấp huyện cũng có thể ban hành quyết định thu hồi đất đối với doanh nghiệp, trong trường hợp khu vực thu hồi đất có đối tượng SDĐ là doanh nghiệp và các đối tượng SDĐ thuộc thẩm quyền thu hồi đất của UBND cấp huyện thì UBND cấp tỉnh được phép ủy quyền cho UBND cấp huyện quyết định thu hồi đất của doanh nghiệp.

Khác với trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ, UBND cấp tỉnh có thể uỷ quyền cho Sở TN&MT cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ theo thẩm quyền của UBND cấp tỉnh. Đối với quyết định thu hồi đất, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 không cho phép UBND cấp có thẩm quyền uỷ quyền cho cơ quan chuyên môn của mình. Quy định này là phù hợp, vì hệ quả pháp lý của việc thu hồi đất là sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người SDĐ, mà cụ thể hơn là quyền tài sản. Điều này dẫn đến việc khiếu nại quyết định hành chính của các chủ thể có liên quan, và tất nhiên trách nhiệm giải quyết thuộc về thẩm quyền người ban hành quyết định. Lúc này, nếu cơ quan TN&MT được ủy quyền ban hành quyết định thu hồi đất, sẽ không đủ thẩm quyền để giải quyết theo yêu cầu của người SDĐ. Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

Quy định thẩm quyền thu hồi đất nói chung và thẩm quyền thu hồi đất của doanh nghiệp nói riêng được Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 xây dựng dựa trên tiêu chí chủ thể SDĐ có đất bị thu hồi, tuỳ vào chủ thể SDĐ để xác định thẩm quyền thu hồi đất đối với chủ thể SDĐ đó. Qua đó, tạo cơ chế kiểm soát quyền lực lẫn nhau, phù hợp với thực tiễn đang đặt ra, có ý nghĩa trong việc giải quyết mối quan hệ hài hòa giữa Nhà nước và người có đất bị thu hồi trong việc đảm bảo lợi ích của các bên.

1.2.4. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

Công tác GPMB trên cả nước hiện nay còn chậm, nguyên nhân lớn xuất phát từ việc Nhà nước chưa đảm bảo được quyền lợi chính đáng, hợp pháp cho người bị thu hồi đất, dẫn đến nhiều trường hợp khiếu nại, khởi kiện kéo dài. Việc đảm bảo quyền và nghĩa vụ của người SDĐ khi Nhà nước thu hồi đất là vấn đề cốt lõi và được đặt lên hàng đầu. Nhà nước cần đáp ứng và đảm bảo mọi quyền lợi của người bị thu hồi đất theo quy định của pháp luật, trước khi yêu cầu người bị thu hồi đất thực hiện các nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước.

Đối với doanh nghiệp, khi bị thu hồi đất, hậu quả pháp lý thường rất phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Do đó, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất phải được đảm bảo tối đa. Nhà nước cần đặt mình trong tâm thế chia sẻ lợi ích với doanh nghiệp, tạo tính công bằng trong hoạt động thu hồi đất của doanh nghiệp.

Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 không quy định về quyền và nghĩa vụ của người SDĐ khi Nhà nước thu hồi đất. Tuy nhiên, quyền và nghĩa vụ của người SDĐ khi Nhà nước thu hồi đất được lồng ghép trong quy định về quyền chung của người SDĐ và nghĩa vụ chung của người SDĐ, tại Điều 166 và Điều 170, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018.

1.2.4.1. Quyền của doanh nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

Người SDĐ khi bị Nhà nước thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng có hai quyền cơ bản đó chính là quyền “được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất” và quyền “được khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền SDĐ hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai.

  • Thứ nhất, quyền được bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất.

Đối với quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mặc dù được quy định trong nhóm quyền chung của người SDĐ, nhưng không phải bất cứ chủ thể SDĐ nào cũng sẽ được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Theo đó, để được hưởng quyền này thì người SDĐ phải đáp ứng được các điều kiện được quy định cụ thể tại Chương VI của Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 về mục đích thu hồi đất, chủ thể SDĐ, nguồn gốc của đất có được từ hình thức nào, điều kiện về giấy chứng nhận quyền SDĐ…

Theo Khoản 12, Điều 3, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018, “bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền SDĐ đất đối với diện tích đất thu hồi cho người SDĐ. Như vậy, khi Nhà nước thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng, người SDĐ được quyền nhận các khoản bồi thường theo quy định của pháp luật. Hay nói cách khác, Nhà nước có nghĩa vụ bồi thường cho người bị thu hồi đất giá trị quyền SDĐ, những thiệt hại về đất mà người SDĐ đã đầu tư vào đất và giá trị những tài sản mà người SDĐ đã tạo dựng trên đất. Không ngoại lệ, khi Nhà nước thu hồi đất, doanh nghiệp sẽ được bồi thường thông qua các hình thức sau: Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

  • Bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp:

Đối với tổ chức kinh tế đang SDĐ nông nghiệp được Nhà nước giao đất có thu tiền SDĐ, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, nhận chuyển nhượng quyền SDĐ khi Nhà nước thu hồi đất: Nếu có đủ điều kiện được bồi thường theo quy định của pháp luật về đất đai thì được bồi thường về đất; mức bồi thường về đất được xác định theo thời hạn SDĐ còn lại.

Đối với tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính đang SDĐ nông nghiệp được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm khi Nhà nước thu hồi đất thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại nếu chi phí này không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.

  • Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở:

Trong trường hợp Nhà nước thu hồi một phần diện tích đất của dự án mà phần còn lại vẫn đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện dự án thì được bồi thường bằng tiền đối với phần diện tích đất thu hồi. Trong trường hợp thu hồi toàn bộ diện tích đất hoặc thu hồi một phần diện tích đất của dự án mà phần còn lại không đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện dự án thì được bồi thường bằng đất để thực hiện dự án hoặc bồi thường bằng tiền. Ngoài ra, đối với dự án đã đưa vào kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường bằng tiền.

  • Bồi thường về đất, chi chí đầu tư vào đất khi Nhà nước thu hồi đất phi nông nghiệp (không phải đất ở):

Trong trường hợp tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang SDĐ phi nông nghiệp không phải là đất ở, đất nghĩa trang, nghĩa địa, khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường theo quy định thì được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng; trường hợp không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo thời hạn SDĐ còn lại.

Trong trường hợp tổ chức kinh tế đang SDĐ được Nhà nước giao đất để làm nghĩa trang, nghĩa địa; doanh nghiệp liên doanh SDĐ phi nông nghiệp không phải là đất ở do nhận góp vốn bằng quyền SDĐ thì khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường về đất.

Đối với tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang SDĐ phi nông nghiệp được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, khi Nhà nước thu hồi đất nếu đủ điều kiện được bồi thường theo quy định thì được bồi thường về đất theo thời hạn SDĐ còn lại. Trong trường hợp được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm thì được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.

Bồi thường về tài sản: Tương tự các đối tượng khác, doanh nghiệp khi bị Nhà nước thu hồi đất cũng được bồi thường về phần tài sản trên đất như bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng trên đất; bồi thường đối với cây trồng vật nuôi; Bồi thường chi phí di chuyển khi Nhà nước thu hồi đất. Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

Khác với việc chuyển quyền SDĐ giữa các chủ thể, sau khi các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ theo nội dung đã cam kết theo quy định pháp luật thì đương nhiên chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự; còn trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp, ngoài việc bồi thường giá trị thiệt hại, Nhà nước còn có trách nhiệm trong việc hỗ trợ, đảm bảo ổn định đời sống, sản xuất của người SDĐ. Bên cạnh các hình thức bồi thường nêu trên, doanh nghiệp còn có quyền được hưởng các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất như:

Hỗ trợ ổn định sản xuất với hình thức bằng tiền “mức cao nhất bằng 30% một năm thu nhập sau thuế, theo mức thu nhập bình quân của 03 năm liền kề trước đó.

Hỗ trợ ổn định đời sống của người lao động, “người lao động do tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà bị ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thuê lao động theo hợp đồng lao động thì được áp dụng hỗ trợ chế độ trợ cấp ngừng việc theo quy định của pháp luật về lao động nhưng thời gian trợ cấp không quá 06 tháng.

Để khẳng định tính nghiêm túc trong thực thi pháp luật, việc bồi thường, hỗ trợ cho doanh nghiệp phải đảm bảo dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, minh bạch, kịp thời và đúng quy định của pháp luật. Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 đã xây dựng một cơ chế đảm bảo quyền về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất của doanh nghiệp bao gồm các nội dung cơ bản.

Nguyên tắc bồi thường về đất: Người SDĐ khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường thì được bồi thường; việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể do UBND cấp tỉnh quyết định tại thời điểm thu hồi đất.

Điều kiện được bồi thường về đất: Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 đã quy định điều kiện được bồi thường về đất theo từng loại đất và từng loại đối tượng. Người SDĐ không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận (trừ trường hợp người trực tiếp sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất nông nghiệp quy định tại khoản 2, Điều 77, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018) thì đủ điều kiện được bồi thường về đất.

Về giá đất tính bồi thường: Giá đất để tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do UBND cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất. Việc định giá đất cụ thể để tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được thực hiện theo nguyên tắc phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường và cơ quan quản lý đất đai được thuê tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất để thực hiện. Căn cứ các phương pháp định giá đất và kết quả tổng hợp, phân tích thông tin về thửa đất, giá đất thị trường, UBND cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể.

Bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại: Khi Nhà nước thu hồi đất mà người SDĐ không được bồi thường về đất thì tùy từng trường hợp cụ thể được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại. Đây là các khoản chi phí mà người SDĐ đã đầu tư vào đất phù hợp với mục đích SDĐ nhưng đến thời điểm thu hồi đất còn chưa thu hồi hết. Người có đất thu hồi phải có hồ sơ, chứng từ chứng minh đã đầu tư vào đất; đối với trường hợp chi phí đầu tư vào đất còn lại không có hồ sơ, chứng từ chứng minh thì UBND cấp tỉnh căn cứ tình hình thực tế tại địa phương quy định việc xác định chi phí đầu tư vào đất còn lại.

Nguyên tắc bồi thường tài sản: Để giải quyết những trường hợp tạo lập tài sản không đúng pháp luật nhằm hưởng lợi, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 quy định tài sản gắn liền với đất, khi Nhà nước thu hồi đất mà chủ sở hữu tài sản hợp pháp gắn liền với đất bị thiệt hại về tài sản thì được bồi thường; tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải ngừng sản xuất, kinh doanh mà có thiệt hại thì được bồi thường thiệt hại.

Về bồi thường thiệt hại tài sản: Nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt gắn liền với đất phải tháo dỡ toàn bộ hoặc một phần mà phần còn lại không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì chủ sở hữu nhà ở, công trình đó được bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của nhà ở, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương.

  • Thứ hai, quyền được khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền SDĐ hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai. Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

Điều 30, Hiến pháp năm 2013 quy định, mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân; cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật. Như vậy, khiếu nại là quyền hiến định. Khi doanh nghiệp cho rằng, quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị tác động bởi các quyết định hành chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, hoặc người được trao quyền có liên quan đến việc thu hồi đất, xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, thì doanh nghiệp được thực hiện quyền khiếu nại. Việc giải quyết khiếu nại phải đảm bảo nội dung, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định; xác định việc khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của người SDĐ, tổ chức bị xâm hại, sẽ góp phần vào việc củng cố niềm tin của nhân dân đối với chính quyền. Đồng thời, cũng thông qua hoạt động này, Nhà nước phát hiện những hành vi vi phạm của các chủ thể đặc biệt để xử lý theo quy định pháp luật.

1.2.4.2. Nghĩa vụ của doanh nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

Bên cạnh các quyền được pháp luật quy định, doanh nghiệp phải thực hiện các nghĩa vụ của mình khi Nhà nước thu hồi đất như phối hợp cùng cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc thực hiện các trình tự, thủ tục thu hồi đất theo quy định pháp luật; chấp hành quyết định thu hồi đất của Nhà nước thông qua việc “giao lại đất khi Nhà nước có quyết định thu hồi.” Trong đó, nghĩa vụ “giao lại đất khi Nhà nước có quyết định thu hồi” là nghĩa vụ hết sức quan trọng, được quy định cụ thể tại Khoản 7, Điều 170, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018. Đây là nghĩa vụ mang tính chất bắt buộc các chủ thể bị thu hồi đất phải thực hiện khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất và được áp dụng chung cho mọi chủ thể SDĐ, không phân biệt hình thức SDĐ hay mục đích SDĐ. Mục đích của quy định này nhằm đảm bảo sự đúng đắn trong mối quan hệ giữa Nhà nước và chủ thể bị thu hồi đất, là cơ sở xác định trách nhiệm của chủ thể bị thu hồi đất trong việc thực hiện pháp luật đất đai khi Nhà nước thu hồi đất, không làm tổn hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và các chủ thể khác.

Đất đai với tư cách là nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước, sẽ không phát huy được hiệu quả nếu sự chấp hành pháp luật của người SDĐ chưa đảm bảo các quy định pháp luật, trong đó có việc chấp hành thực hiện nghĩa vụ của người SDĐ khi Nhà nước thu hồi đất. Hoạt động thu hồi đất của Nhà nước để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng muốn có hiệu quả, cần thoả mãn hai điều kiện chủ yếu đó là trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc đảm bảo quyền cho chủ thể bị thu hồi đất và việc chấp hành nghĩa vụ của chủ thể bị thu hồi đất khi Nhà nước quyết định thu hồi đất. Từ những vụ việc cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất trong thời gian gần đây tại các địa phương, cho thấy việc chấp hành tốt nghĩa vụ bàn giao đất của chủ thể bị thu hồi đất sau khi đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đảm bảo tất cả các quyền lợi theo quy định pháp luật là vô cùng quan trọng, góp phần tránh sự xung đột giữa chủ thể bị thu hồi đất và chính quyền, làm cho tình hình an ninh trật tự mất ổn định.

Kết luận chương 1 Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

Hoạt động thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng là một biện pháp hiệu quả để thúc đẩy sự phát triển KT – XH của quốc gia. Tuy nhiên, để thực hiện tốt được điều đó, cần phải đảm bảo hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước, chủ đầu tư và người bị thu hồi đất. Doanh nghiệp cũng là một trong các chủ thể bị thu hồi đất đáng được quan tâm do những tổn thất của doanh nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất là khá lớn, ảnh hưởng đến sự sống còn của doanh nghiệp.

Trong chương 1, tác giả đã làm rõ được nội hàm về những khái niệm và đặc điểm cơ bản như: Người SDĐ là doanh nghiệp; Nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển KT – XH; Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng. Đồng thời, phân tích được vai trò của pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Bên cạnh đó, tác giả đã đi sâu vào phân tích để làm rõ các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng xoay quanh các nội dung cốt lõi như: Chủ thể SDĐ là doanh nghiệp khi bị Nhà nước thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng; Những trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng; Thẩm quyền thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng; Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng. Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp

One thought on “Luận văn: Pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp

  1. Pingback: Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464