Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng PL về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay trong hợp đồng tín dụng và giải pháp hoàn thiện dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
Trong xã hội hiện đại, việc vay tiền qua hợp đồng tín dụng đang trở thành một phương thức hữu ích giúp cá nhân và tổ chức cải thiện đời sống và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, để đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong giao dịch vay nợ, pháp luật đã ban hành các quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan, đặc biệt là của chủ thể đi vay. Việc thực hiện đúng các điều khoản này không chỉ là nghĩa vụ pháp lý mà còn là cơ sở để xây dựng một hệ thống tài chính ổn định và bền vững trong cộng đồng.
Với các nội dung về mặt lý luận đã được phân tích ở Chương 1, tại Chương 2 tác giả tập trung vào những vấn đề: (i) Phân tích thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay trong quan hệ HĐTD; (ii) Phân tích và bình luận thực tiễn thực hiện quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay trong HĐTD; (iii) Phân tích sự cần thiết phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay trong HĐTD; iv) Làm rõ những định hướng nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay trong HĐTD; v) Đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay trong HĐTD.
2.1. Thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay trong hợp đồng tín dụng
2.1.1 Quy định pháp luật về quyền của chủ thể đi vay trong hợp đồng tín dụng
Xuyên suốt nội dung Luật các TCTD năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017; Luật các TCTD năm 2024 (có hiệu lực từ 01/07/2024), cũng như các văn bản dưới luật như Thông tư số 39/2016/TT-NHNN đã không dành một điều cụ thể quy định quyền của chủ thể đi vay mà nội dung này nằm rải rác trong các quy định có liên quan nhằm đảm bảo quyền tối thiểu đối với chủ thể cho vay, cụ thể:
- Một là, quyền yêu cầu tổ chức tín dụng thực hiện nghĩa vụ giải ngân
Quyền yêu cầu TCTD thực hiện nghĩa vụ giải ngân là một trong những quyền cơ bản của chủ thể đi vay khi ký kết hợp đồng tín dụng. Thông qua việc giải ngân, TCTD cho vay giao cho khách hàng một khoản tiền thông qua việc sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, bằng tiền mặt để thanh toán, chi trả cho bên thụ hưởng theo mục đích vay vốn ghi trong thỏa thuận cho vay. Nghĩa vụ chuyển giao tiền vay của chủ thể cho vay được thực hiện trước, từ đó làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả gốc và lãi của chủ thể đi vay. TCTD cũng phải chấp hành các thỏa thuận về giải ngân và không được tự ý ngừng việc cung cấp khoản vay khi chủ thể đi vay không phát sinh bất kỳ sai phạm nào.24 Với chức năng “đi vay để cho vay”, TCTD có trách nhiệm chuẩn bị nguồn tiền vay, dự phòng tín dụng theo quy định để duy trì hoạt động của mình và không được từ chối giải ngân với lý do không có tiền. Việc phạm nghĩa vụ giải ngân sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 360 BLDS năm 2015, theo đó TCTD phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do không thực hiện đúng nghĩa vụ giải ngân, trừ trường hợp hành vi không thực hiện giải ngân xuất phát từ yêu cầu quản lý kiểm soát của Nhà nước.
Trong quá trình thực hiện HĐTD, việc chủ thể cho vay không thực hiện đúng theo cam kết về giải ngân sẽ phát sinh sự thiếu hụt vốn trong việc tài trợ theo phương án kinh doanh hoặc tiêu dùng, từ đó phát sinh nghĩa vụ chậm thanh toán của chủ thể đi vay cho phía đối tác. Do đó, quyền yêu cầu TCTD thực hiện nghĩa vụ giải ngân được ghi nhận cụ thể trong Thông tư số 39/2016/TT-NHNN nhằm ràng buộc trách nhiệm của TCTD và hạn chế việc TCTD viện dẫn các lý do chưa hợp lý để không giải ngân kịp thời nguồn vốn vay. Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 26 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định TCTD sử dụng phương tiện thanh toán để giải ngân vốn vay theo quy định của NHNNVN về phương thức giải ngân vốn vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (chi tiết quy định tại Thông tư số 21/2017/TT- NHNN). Luận văn: Thực trạng PL về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay.
- Hai là, quyền được tổ chức tín dụng cung cấp thông tin hợp đồng
Chủ thể đi vay có quyền yêu cầu TCTD cung cấp đầy đủ các thông tin trước khi xác lập thỏa thuận cho vay bao gồm: “Lãi suất cho vay; nguyên tắc và các yếu tố xác định, thời điểm xác định lãi suất cho vay đối với trường hợp áp dụng lãi suất cho vay có điều chỉnh; lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn; lãi suất áp dụng đối với lãi chậm trả; phương pháp tính lãi tiền vay; loại phí và mức phí áp dụng đối với khoản vay; các tiêu chí xác định khách hàng vay vốn theo lãi suất cho vay đối với các đối tượng được NHNN ưu đãi lãi suất”. Ngoài ra, Khoản 1 Điều 387 BLDS năm 2015 còn quy định các thông tin cần được cung cấp là những thông tin ảnh hưởng đến việc giao kết hợp đồng; trong hoạt động tín dụng tại Khoản 4 Điều 24 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định trường hợp sử dụng hợp đồng mẫu hoặc điều kiện giao dịch chung trong giao kết thỏa thuận cho vay thì TCTD phải thực hiện niêm yết công khai, cung cấp đầy đủ thông tin, điều kiện giao dịch chung về hợp đồng mẫu.
Mục đích việc quy định nghĩa vụ của các TCTD phải cung cấp thông tin nhằm giúp chủ thể đi vay có thể so sánh về mặt kinh tế (lãi suất, phí), nội dung ràng buộc về cam kết và kiểm tra vốn vay, tiêu chí xác định nhóm đối tượng để được áp dụng ưu đãi theo sản phẩm,… giữa các TCTD, từ đó lựa chọn TCTD phù hợp. Quy định cũng ràng buộc các TCTD thực hiện việc minh bạch hóa thông tin nhằm tiếp cận với các quy định quốc tế. Trên thế giới, tại Nghị định số 2008/48/RC của Nghị viện châu Âu và Hồi đồng Liên minh châu Âu cũng đề cập đến nghĩa vụ giải thích cho khách hàng về các thông tin được cung cấp, các đặc điểm của sản phẩm vay, hệ quả khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ nhằm bảo vệ quyền lợi chủ thể đi vay và dự kiến các nhu cầu, tình hình tài chính.
Để thủ tục vay vốn được tiến hành một cách thuận tiện và nhanh chóng, phần lớn các NHTM hiện nay đều sử dụng HĐTD mẫu được soạn sẵn trong hầu hết các giao dịch với khách hàng với các điều khoản được quy định giống nhau, chỉ thay đổi một số nội dung mang tính chất đặc thù như số tiền vay, tài sản bảo đảm, mục đích vay, thời hạn vay vốn, thông tin bên cấp tín dụng,…. Khách hàng chỉ cần điền thông tin, ký kết HĐTD mà ít có sự đàm phán lại. Việc sử dụng hợp đồng mẫu mang lại những lợi ích nhất định, tuy nhiên chủ thể đi vay trên thực tế thường ỷ lại, không đọc hợp đồng, không hiểu thuật ngữ chuyên ngành hoặc trong hợp đồng có những điều khoản “xấu” như: nghĩa vụ của chủ thể đi vay bị điều chỉnh ở nhiều điều khoản các nhau, điều khoản điều kiện riêng, phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại, chủ thể cho vay được quyền điều chỉnh lãi suất theo thỏa thuận tại HĐTD,….làm ảnh hưởng đến vị thế và gây bất lợi cho chủ thể đi vay. Do đó trong một số trường hợp, cơ quan nhà nước cần có quy định nhằm hỗ trợ, đảm bảo sự cân bằng cần thiết về vị thế của chủ thể đi vay và gia tăng trách nhiệm của TCTD trong việc cung cấp và giải thích rõ các thông tin, điều khoản trong hợp đồng.
Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định đảm bảo quyền lợi của chủ thể đi vay trong các giao dịch điện tử hiện nay. Theo đó, chủ thể đi vay có quyền yêu cầu TCTD cung cấp thông tin về quy trình và giải thích thủ tục phê duyệt tín dụng trực tuyến, cơ sở xét duyệt, hiệu lực chữ ký điện tử, mật mã bảo mật sử dụng một lần (OTP) hoặc các giao dịch điện tử có thể phát sinh tự động. Các thông tin do TCTD cung cấp phải đảm bảo phù hợp pháp luật dân sự, pháp luật về giao dịch điện tử, pháp luật về cho vay và phù hợp quy trình xét duyệt tín dụng nội bộ.
Có thể nhận thấy, việc ghi nhận về quyền được yêu cầu TCTD cung cấp thông tin có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo chủ thể đi vay có thể hiểu các thông tin trọng yếu về quyền và nghĩa vụ của các bên trước khi tham gia vào quan hệ tín dụng. Từ việc hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình, chủ thể đi vay cũng có thể hạn chế rủi ro về pháp lý và thiệt hại do vi phạm các điều khoản được quy định trong HĐTD. Luận văn: Thực trạng PL về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay.
- Ba là, quyền được bảo đảm bí mật thông tin
Quyền được bảo đảm bí mật thông tin của chủ thể đi vay được quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 14 Luật các TCTD năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017, theo đó, “TCTD, CNNHNNg phải bảo đảm bí mật thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi và các giao dịch của khách hàng tại TCTD, CNNHNNg. TCTD, CNNHNNg không được cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi, các giao dịch của khách hàng tại TCTD, CNNHNNg cho tổ chức, cá nhân khác, trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc được sự chấp thuận của khách hàng”.
Nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật các TCTD về nghĩa vụ bảo mật và cung cấp thông tin khách hàng, khoản 1 Điều 4 Nghị định số 117/2018/NĐ-CP cũng đã quy định: “Thông tin khách hàng của TCTD, CNNHNNg phải được giữ bí mật và chỉ được cung cấp theo quy định của Luật các TCTD năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Nghị định này và pháp luật có liên quan”. Cũng theo điểm a khoản 1 Điều 11 Nghị định số 117/2018/NĐ-CP: “TCTD, CNNHNNg chỉ được cung cấp thông tin khách hàng cho tổ chức khác, cá nhân thuộc trường hợp có quy định cụ thể tại bộ luật, luật, nghị quyết của Quốc hội”. Như vậy, Luật các TCTD năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã quy định rõ TCTD có nghĩa vụ bảo mật thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi, các giao dịch của khách hàng tại TCTD.
Hiện nay, Luật các TCTD năm 2024, cũng đã xác định cụ thể hơn các chủ thể có nghĩa vụ bảo mật thông tin của chủ thể đi vay khi giao dịch với các TCTD, cụ thể tại Khoản 1 Điều 13 Luật các TCTD năm 2024 quy định: “Người quản lý, người điều hành, nhân viên của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được tiết lộ thông tin khách hàng, bí mật kinh doanh của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”.
Mục đích việc quy định quyền được bảo mật thông tin của các chủ thể đi vay là vì nhằm đảm bảo cho quá trình thẩm định cho vay của các TCTD và tăng khả năng tiếp cận vốn của các cá nhân, pháp nhân. Chủ thể đi vay phải cung cấp cho TCTD nhiều các hồ sơ liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của mình cho các TCTD để thẩm định; bao gồm các thông tin: hồ sơ pháp lý, hồ sơ tài chính, hồ sơ liên quan đến mục đích sử dụng vốn, các hợp đồng kinh doanh và các thông tin riêng tư khác. Các thông tin này có thể được xem là bí mật trong kinh doanh, có tác động quan trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống bình thường của chủ thể đi vay. Ví dụ như đối với các thông tin về hợp đồng kinh tế được ký kết với các đối tác của chủ thể đi vay khi cung cấp cho các TCTD, nắm được các thông tin này có thể biết được thông tin các đối tác, giá cả đầu vào và đầu ra của khách hàng, phương thức bán hàng, chính sách ưu đãi,… từ đó các đối thủ cạnh tranh của khách hàng có thể tác động bên mua và bên bán hàng để gây thiệt cho hoạt động kinh doanh của chủ thể đi vay. Trường hợp đối với thông tin từ báo cáo tài chính năm/quý gần nhất, đối thủ cạnh tranh có thể nắm bắt tình hình tài chính hiện tại của chủ thể đi vay và sử dụng thông tin đó để phân tích, tìm ra những điểm yếu trong tình hình tài chính của chủ thể đi vay và có những biện pháp cạnh tranh không lành mạnh. Thậm chí khi các đối thủ nắm bắt thông tin về thành phần cổ đông và tỷ lệ góp vốn, có thể xảy ra tình trạng thâu tóm doanh nghiệp,… Như vậy có thể thấy, những thông tin chủ thể đi vay cung cấp cho các TCTD trong quá trình thẩm định cho vay có ý nghĩa hết sức quan trong trong hoạt động kinh doanh đối với chủ thể đi vay, do đó TCTD cũng cần phải có nghĩa vụ bảo mật thông tin của chủ thể này. Luận văn: Thực trạng PL về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Thoa: “Bảo mật thông tin chủ thể đi vay là một loại nghĩa vụ hợp đồng được xác định mặc nhiên. TCTD với tư cách là môt bên phải tận tâm với khách hàng trên cơ sở thiện chí và trung thực. Do đó, họ không được phép tiết lộ thông tin tài khoản cho bên thứ ba. Nghĩa vụ này không chỉ dựa trên sự tôn trọng quyền riêng tư, quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân của khách hàng và các hoat động nghiệp vụ chuyên môn mà còn dựa trên cả nguyên tắc thiện chí trong việc thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam vẫn đặt ra một số ngoại lệ của việc bảo mật thông tin. Thông tin của chủ thể đi vay có thể được cung cấp thông tin khi có yêu cầu cung cấp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong 05 mục đích: (i) Thanh tra, (ii) Điều tra; (iii) Truy tố; (iv) Xét xử và (v) Thi hành án. Tuy nhiên, pháp luật chưa liệt kê và hướng dẫn chủ thể nào sẽ có quyền yêu cầu TCTD cung cấp thông tin khách hàng của mình, phạm vi cung cấp và nghĩa vụ bảo mật của bên thứ ba.
Bên cạnh đó, theo xu hướng số hóa hiện nay, khi TCTD sử dụng dịch vụ CNTT của bên thứ ba phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình thì trách nhiệm của TCTD trong việc bảo đảm an toàn thông tin không thay đổi.
Do đó, việc bảo mật thông tin phải được lập thành các quy định nội bộ làm căn cứ để áp dụng thống nhất trong hệ thống ngân hàng. Quyền này có ý nghĩa đối với chủ thể đi vay khi các chủ thể này thiết lập cơ chế bảo vệ quyền nhân thân, quyền sở hữu thông tin của mình; đồng thời, nâng cao trách nhiệm của TCTD khi tiếp nhận và lưu trữ thông tin tín dụng khách hàng của mình.
- Bốn là, quyền được yêu cầu cơ cấu lại thời hạn trả nợ
Ở phương diện hợp đồng, cơ cấu lại thời hạn trả nợ được xem như một thỏa thuận bổ sung của HĐTD nhằm hỗ trợ chủ thể đi vay có thể khắc phục những khó khăn, tiếp tục duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh để trả nợ vay. Quyền được yêu cầu cơ cấu lại thời hạn trả nợ của chủ thể đi vay được quy định tại Điều 19 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN là cơ sở để TCTD xem xét quyết định cơ cấu lại thời hạn trả nợ. Theo đó, TCTD sẽ đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng, khả năng tài chính của TCTD, từ đó làm cơ sở xem xét: (i) Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ gốc, lãi phù hợp với nguồn trả nợ của khách hàng; (ii) Gia hạn nợ với thời hạn phù hợp với nguồn trả nợ của khách hàng. Các biện pháp cơ cấu nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn và linh động nguồn vốn cho chủ thể đi vay.
Đối với các hoạt động cho vay trung và dài hạn, các rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay về mặt chính sách, kinh tế, xã hội, dịch bệnh thường xuyên tác động đến khả năng tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh của chủ thể đi vay. Hiệu lực hợp đồng không phải là hoàn toàn bất biến, việc thực hiện hợp đồng ngày càng mang tính chất của một quá trình và hàm chứa nhiều loại rủi ro. Do đó, để tránh việc không thực hiện được hợp đồng, đồng thời có cơ chế giải quyết các khó khăn trong quá trình tiếp tục thực hiện hợp đồng, vừa bảo vệ hiệu lực hợp đồng, vừa đảm bảo quyền lợi các bên, việc vận dụng các điều khoản sự thay đổi hoàn cảnh cơ bản (hardship clause) trong HĐTD giúp bên vay có thể đưa ra yêu cầu đàm phán lại hợp đồng nhằm mục đích cân đối rủi ro và tái lập sự cân bằng của hợp đồng. Trên cơ sở đó, chủ thể đi vay phát sinh các quyền yêu cầu cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho vay dựa trên các tác động khách quan làm thay đổi về hoàn cảnh và môi trường kinh tế tới mức ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc thực hiện nghĩa vụ hoàn trả cả gốc lẫn lãi vay của bên vay trở nên khó khăn hoặc tốn kém khi tìm các khoản tài chính bù đắp. Cơ cấu lại thời hạn trả nợ của HĐTD được xem như một thỏa thuận mới, hỗ trợ chủ thể đi vay lúc khó khăn có thể tiếp tục duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh để trả nợ, hạn chế khả năng không thể thu hồi được vốn vay do tình hình tài chính suy giảm của chủ thể đi vay. Luận văn: Thực trạng PL về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay.
Bên cạnh đó, việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho chủ thể đi vay cũng làm thay đổi nhóm nợ tại các TCTD, các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn, trích lập dự phòng,… do đó ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính cũng như các chỉ số an toàn của chính TCTD. Cụ thể, TCTD phải phân loại các khoản nợ ở nhóm cao hơn bao gồm: (i) Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu còn trong hạn được phân loại nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý); (ii) Khoản nợ gia hạn nợ lần đầu còn trong hạn được phân loại nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn). Tuy nhiên tại một số thời điểm nền kinh tế có những biến động nhất định, NHNN cho phép các TCTD áp dụng ngoại lệ trong việc cơ cấu lại khoản vay và chuyển nhóm nợ đó là được giữ nguyên nhóm nợ, ví dụ trong giai đoạn ứng phó dịch bệnh Covid-19 hoặc giai đoạn nền kinh tế toàn cầu có nhiều biến động ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình sản xuất kinh doanh và tiêu dùng trong nước. Tuy nhiên, TCTD cũng sẽ bị ảnh hưởng đến các chỉ số tài chính khi áp dụng biện pháp cơ cấu lại nợ cho khách hàng như: (i) Không hạch toán dự thu (thu nhập) đối với các khoản phải thu của khoản nợ được cơ cấu lại mà phải thực hiện theo dõi ngoại bảng để đôn đốc thu, (ii) Đưa ra thời hạn để hoàn tất trích lập dự phòng cụ thể đối với các khoản nợ được cơ cấu giữ nguyên nhóm nợ. Các quy định này một mặt giúp các TCTD giảm bớt áp lực nợ xấu trong giai đoạn nền kinh tế khó khăn, tuy nhiên cũng có thể làm cho các TCTD không đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn an toàn rủi ro mà Basel II đặt ra, bao gồm: khả năng trích lập dự phòng rủi ro, số lượng khoản vay dưới chuẩn và nợ xấu gia tăng. Việc này đặt ra nhiệm vụ cho các TCTD phải xem xét kỹ phương án trả nợ và hiệu quả sau khi cơ cấu khi áp dụng biện pháp cơ cấu lại nợ vay, qua đó ràng buộc trách nhiệm của TCTD về mặt tài chính, tránh việc lợi dụng các chính sách gia hạn và cơ cấu nợ để hạ chuẩn các khoản vay cũng như thúc đẩy quá trình thu hồi nợ bằng các biện pháp khác của các TCTD. Đối với chủ thể đi vay, quyền này giúp họ hạn chế áp lực trả nợ khi nền kinh tế diễn biến xấu, đồng thời có thêm nguồn vốn để duy trì hoạt động kinh doanh, từ đó nuôi dưỡng nguồn thu để thực hiện phương án sản xuất kinh doanh sau cơ cấu. Về mặt tổng quan nền kinh tế, các chính sách gia hạn và cơ cấu nợ của NHNN đã hỗ trợ kịp thời các chủ thể trong giai đoạn dịch bệnh Covid-19 cũng như giai đoạn khó khăn chung của nền kinh tế hiện nay, tạo cơ hội cho các chủ thể trong quan hệ cho vay tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
- Năm là, quyền chấm dứt hợp đồng tín dụng
Về nguyên tắc, kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên không được từ chối thực hiện nghĩa vụ hoặc không có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng, nếu điều đó không được quy định bởi pháp luật hoặc không được các bên dự liệu trong hợp đồng. Khi HĐTD được xác lập giữa hai bên, TCTD sẽ phát sinh nghĩa vụ bàn giao số tiền đã cam kết cho chủ thể đi vay cũng như nghĩa vụ phải đảm bảo bí mật thông tin đã được chủ thể đi vay cung cấp trong quá trình thẩm định. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu TCTD có vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu những hình thức chế tài như: (i) Buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng do đối tượng là công việc, Chấm dứt hợp đồng do bị đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng hoặc bị hủy bỏ. Đây là những cơ sở pháp lý hình thành quyền chấm dứt hợp đồng của chủ thể đi vay.
Để có cơ sở thực hiện quyền chấm dứt hợp đồng, chủ thể đi vay cần chứng minh trong quá trình thực hiện hợp đồng TCTD đã có những hành vi: (i) Vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên thỏa thuận; (ii) Vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng. Trên lý thuyết, chủ thể đi vay có thể áp dụng biện pháp này khi TCTD đưa ra những cam kết sai về sản phẩm vay, lãi suất cho vay, thời điểm giải ngân và điều kiện giải ngân dẫn đến quá trình thực hiện hợp đồng khác so với những gì TCTD đã cam kết. Ngoài ra, các vi phạm của TCTD có thể ảnh hưởng đến quyền bảo mật thông tin như: làm tiết lộ các thông tin định danh, thông tin giao dịch chuyển tiền, hợp đồng thương mại, tài liệu khác gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh bình thường của một pháp nhân hay cuộc sống của một cá nhân.
Song song đó, khi chấm dứt HĐTD cũng đồng nghĩa chủ thể đi vay phải hoàn trả khoản vay ngay lập tức, do đó tác động xấu đến cơ cấu nguồn vốn, khả năng xoay vòng vốn của chính chủ thể đi vay. Vì vậy trên thực tế, chủ thể đi vay thường thế bất lợi hơn khi thực hiện quyền chấm dứt hợp đồng. Từ nguyên nhân trên, tác giả nhận thấy pháp luật cần nghiên cứu xây dựng các quyền có chức năng tạo điều kiện cho chủ thể đi vay có thể chấm dứt hợp đồng khi phát hiện TCTD có hành vi vi phạm các nghĩa vụ đã cam kết trước đó cũng như tạo vị thế cân bằng trong việc ràng buộc trách nhiệm của các TCTD. Các quyền này có thể là: (i) Buộc TCTD phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh; (ii) Phạt vi phạm, tạm ngừng hoặc đình chỉ thực hiện hợp đồng; (iii) Hủy bỏ hợp đồng nếu cơ quan có thẩm quyền xác định TCTD vi phạm các nghĩa vụ đã cam kết.
2.1.2. Quy định pháp luật về nghĩa vụ của chủ thể đi vay trong HĐTD Luận văn: Thực trạng PL về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay.
Song hành với quyền là nghĩa vụ của chủ thể đi vay trong HĐTD, chủ thể đi vay có những nghĩa vụ cụ thể sau đây:
- Một là, nghĩa vụ sử dụng vốn vay đúng mục đích
Nghĩa vụ sử dụng vốn vay đúng mục đích nhằm xác định ý chí của bên vay sử dụng nguồn vốn vay vào kế hoạch, mục tiêu đã được lên kế hoạch từ trước theo phương án vay vốn đã đề xuất. Việc tuân thủ cam kết về nghĩa vụ sử dụng vốn vay đúng mục đích của chủ thể đi vay có ý nghĩa quan trọng trong việc tuân thủ các nội dung đã cam kết, đảm bảo nguồn vốn được tài trợ sử dụng tiết kiệm, hợp lý. Việc tuân thủ nghĩa vụ sử dụng vốn còn có ý nghĩa trong việc chủ thể đi vay đảm bảo quá trình hình thành nguồn thu từ nguồn vốn tài trợ, từ đó tuân thủ cam kết trả nợ cho các TCTD. Ngoài ra, nghĩa vụ sử dụng vốn vay đúng mục đích của chủ thể đi vay còn là cơ sở để các TCTD thực hiện việc kiểm soát quá trình sử dụng vốn, đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh định kỳ, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn có đạt được hiệu quả theo cam kết hay không, từ đó dự liệu các rủi ro có thể phát sinh trong quá trình cấp tín dụng.
Ở góc độ quản lý nhà nước, quy định về mục đích sử dụng vốn được đặt ra còn nhằm điều tiết nguồn vốn cho vay từ các TCTD theo mục tiêu, định hướng phát triển của Nhà nước theo từng thời kỳ, đảm bảo nguồn vốn xã hội được sử dụng một cách hiệu quả. Thông qua việc ban hành các chính sách khuyến khích hoặc hạn chế cho vay, Nhà nước định hướng các chủ thể trong nền kinh tế kinh doanh trọng tâm vào một số lĩnh vực ưu tiên phát triển, tăng cường kiểm soát nguồn vốn tín dụng tài trợ cho các mục đích cấm cho vay, hạn chế nguồn vốn đi vào những lĩnh vực mang tính rủi ro, đảm bảo an toàn hệ thống tín dụng,…
Pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động cho vay tại các NHTM quy định về sử dụng vốn vay đúng mục đích là một trong những điều khoản chủ yếu của HĐTD. Nghĩa vụ sử dụng vốn được đề cập cụ thể tại Thông tư số 39/2016/TT-NHNN khi quy định: “Khách hàng vay vốn tổ chức tín dụng phải đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích”40. Ngoài ra, quy định pháp luật cũng như trong quản lý rủi ro nội bộ tại các TCTD cũng quy định việc sử dụng vốn trong HĐTD phải hợp pháp, tránh việc khách hàng sử dụng vốn vay vào mục đích bất hợp pháp. Điều này đảm bảo khả năng thu hồi vốn của TCTD, tránh trường hợp chủ thể đi vay đầu tư kinh doanh vào các lĩnh vực ngành nghề mà pháp luật cấm từ đó làm phát sinh khả năng bị cơ quan nhà nước áp dụng các chế tài như tịch thu tài sản hoặc bồi thường thiệt hại (nếu có). Song song đó, TCTD cũng có các phương thức kiểm soát nội bộ riêng đối với các lĩnh vực hạn chế kinh doanh hoặc tiềm ẩn rủi ro như cho vay kinh doanh bất động sản; cho vay mua, kinh doanh đầu tư chứng khoán; cho vay các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư; cho vay các nhu cầu vốn phục vụ đời sống có giá trị lớn;… Việc sử dụng vốn vay sai mục đích để thực hiện đầu tư vào các lĩnh vực mang tính rủi ro cao có thể tác động trực tiếp đến tính đúng đắn của quá trình kiểm soát rủi ro dòng vốn của TCTD, do đó TCTD cần thẩm định kỹ và đánh giá mục đích sử dụng vốn vay để đảm bảo hồ sơ vay vốn của chủ thể đi vay cung cấp là phù hợp, có cơ sở thu hồi nợ đúng hạn.
Pháp luật Việt Nam quy định về mục đích sử dụng vốn tương đối rõ ràng cụ thể, tuy nhiên trên thực tế, việc vi phạm về mục đích sử dụng vốn của chủ thể đi vay không đúng như cam kết khá phổ biến. Trong nhiều trường hợp, chủ thể cho vay cũng không thực hiện tốt chức năng kiểm tra, giám sát sau khi cho vay dẫn đến nhiều sai phạm khó khắc phục, gây hậu quả nghiêm trọng. Do đó, pháp luật cũng quy định rõ các chế tài để xử lý vi phạm quy định về sử dung vốn vay không đúng mục đích như: (i) Chấm dứt cho vay, thu hồi tiền vay trước hạn; (ii) Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại nếu khoản tiền thiệt hại được chứng minh do hậu quả trực tiếp từ việc sử dụng vốn vay không đúng mục đích. Bên cạnh các trách nhiệm dân sự do vi phạm việc sử dụng vốn vay không đúng mục đích, hành vi này còn là biểu hiện của hành vi chiếm đoạt tiền vay thông qua việc chủ thể đi vay tạo lập chứng từ giả mạo, cung cấp thông tin không đúng sự thật để sử dụng vốn vay vào mục đích riêng trong đó có việc sử dụng vốn vào mục đích trái pháp luật. Nếu không hoàn trả tiền vay, đây là những biểu hiện của ý thức (chủ quan), sai phạm về những gian dối của chủ thể đi vay, căn cứ xác định hành vi chiếm đoạt tài sản đã hoàn thành để các cơ quan tố tụng tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở các dấu hiệu tội phạm được đề cập, hành vi này có thể bị cấu thành tội phạm: (i) Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; (ii) Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Về mặt chủ quan của hai loại tội phạm này thể hiện ở ý thức chiếm đoạt tiền vay trước (đối với hành vi lừa đảo) và sau (đối với hành vi lạm dụng tín nhiệm) khi ký hợp đồng vay. Đối với mặt khách quan của tội phạm đó là hành vi sử dụng vốn vay không đúng mục đích, cung cấp thông tin gian dối hồ sơ vay, giả mạo tài liệu chứng từ để giải ngân, bỏ trốn sau khi nhận tiền vay,… Luận văn: Thực trạng PL về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay.
Như vậy, pháp luật Việt Nam quy định về nghĩa vụ sử dụng vốn vay đúng mục đích và các chế tài trong việc vi phạm là khá rõ ràng với mục đích căn bản là kiểm soát, bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn vay như phương án ban đầu đề ra. Từ đó, năng lực tài chính của chủ thể đi vay được tăng cường, đảm bảo việc thu hồi nợ của TCTD cũng như công tác quản lý của Nhà nước được hiệu quả, dòng vốn đi vào những lĩnh vực ưu tiên, hạn chế rủi ro cho nền kinh tế.
- Hai là, nghĩa vụ cung cấp thông tin tín dụng
Nghĩa vụ cung cấp thông tin là một trong những nghĩa vụ quan trọng trong quan hệ HĐTD xuất phát từ nguyên tắc bảo đảm tính minh bạch, trung thực trong quan hệ dân sự. Đối với TCTD, việc nắm bắt thông tin tín dụng đầy đủ và kịp thời làm gia tăng khả năng đánh giá tính hiệu quả, dự đoán rủi ro có thể xảy ra. Để khoản vay được chủ thể cho vay chấp thuận, chủ thể đi vay phải cung cấp những thông tin đầy đủ và kịp thời về chủ thể vay vốn, báo cáo tài chính, thông tin về dự án đầu tư, phương án vay vốn, thông tin pháp lý về tài sản bảo đảm,… Ngoài ra, nghĩa vụ này duy trì trong suốt thời gian thực hiện HĐTD như một điều kiện để giám sát, quản lý khoản vay.
Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định cụ thể về trách nhiệm của khách hàng trong việc cung cấp thông tin: “Trách nhiệm của khách hàng trong việc phối hợp với tổ chức tín dụng và cung cấp các tài liệu liên quan đến khoản vay để tổ chức tín dụng thực hiện thẩm định và quyết định cho vay, kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng”. Ngoài ra, Thông tư số 39/2016/TT- NHNN cũng quy định các chế tài khi chủ thể đi vay không tuân thủ việc cung cấp thông tin: “TCTD có quyền chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn theo nội dung đã thỏa thuận khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật”46. Như vậy, hậu quả pháp lý có thể dẫn đến việc chấm dứt cho vay và thu hồi nợ trước hạn. Việc này có thể dẫn đến những khó khăn tài chính nhất định cho chủ thể đi vay khi TCTD thu hồi nợ trước hạn gây thiếu hụt nguồn vốn kinh doanh. Trường hợp chủ thể đi vay không hoàn trả được nợ vay trong thời hạn thu hồi đã được thông báo, khoản vay có thể chuyển nợ quá hạn và TCTD có quyền áp dụng các biện pháp xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
- Ba là, nghĩa vụ tuân thủ sự kiểm tra, giám sát của chủ thể cho vay
Tại Việt Nam, các quy định về nghĩa vụ tuân thủ sự kiểm tra, giám sát của chủ thể cho vay đã được pháp luật đề cập ngay trong những giai đoạn đầu xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Quyết định số 49-QĐ Ban hành thể lệ cho vay ngắn hạn đối với các công ty vật tư nông nghiệp ngày 16 tháng 10 năm 1969 của Ngân hàng Nhà nước được xem là một trong những quy định đầu tiên đã quy định các nội dung về hoạt động kiểm tra vốn vay và kỷ luật tín dụng đối với chủ thể đi vay. Cụ thể tại Điều 40 của Quy định này: “Hàng tháng ngân hàng căn cứ vào bảng cân đối tài khoản hoặc số liệu trên các tài khoản chủ yếu của công ty vật tư nông nghiệp tiến hành kiểm tra số tiền cho vay, thu nợ trong tháng và dư nợ cuối tháng; xem xét việc luân chuyển vật tư, dự trữ hàng hóa, việc sử dụng vốn vay và trả nợ nhằm giúp công ty thực hiện tốt kế hoạch”. Song song đó, tại Điều 44 cũng cho phép ngân hàng hạn chế việc cho vay, đình chỉ hoạt động cho vay nếu đơn vị vay vốn hoạt động kém, vi phạm chế độ, nguyên tắc tín dụng, thanh toán, quản lý tiền mặt nhiều lần. Luận văn: Thực trạng PL về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay.
Xuất phát từ những rủi ro, tính phức tạp trong quan hệ cho vay, các nhà làm luật đã ý thức và quy định các nội dung về hoạt động kiểm tra, giám sát ngay từ trước khi giao kết hợp đồng. Theo các quy định hiện nay, nghĩa vụ tuân thủ sự kiểm tra, giám sát của chủ thể cho vay được quy định tại khoản 3 Điều 94 Luật các TCTD năm 2010; tại Khoản 5 Điều 102 Luật các TCTD năm 2024; khoản 1,2 Điều Thông tư số 39/2016/TT-NHNN. Pháp luật cũng quy định chế tài hành chính có mức phạt lên đến 20.000.000 đồng đối với TCTD nếu vi phạm. Với các quy định nêu trên, pháp luật trong lĩnh vực cho vay tại các TCTD đã khẳng định việc kiểm tra, giám sát không chỉ là nghĩa vụ của chủ thể đi vay mà còn là nghĩa vụ bắt buộc của chủ thể cho vay phải thực hiện nhằm đảm bảo lợi ích chung trong hoạt động ngân hàng. Thông qua việc kiểm tra và giám sát sử dụng vốn vay, TCTD có thể kịp thời phát hiện việc sử dụng vốn sai mục đích hoặc các rủi ro phát sinh, từ đó có những biện pháp kịp thời, giảm thiểu khả năng mất vốn.
- Bốn là, nghĩa vụ hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay
Nghĩa vụ hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay là một trong những nội dung cơ bản trong HĐTD. Xuất phát từ nguyên tắc cho vay, khách hàng vay vốn tổ chức tín dụng phải đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích, hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng thời hạn đã thỏa thuận với tổ chức tín dụng. Quy định nghĩa vụ hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay nhằm mục đích bảo đảm chủ thể đi vay có ý thức, trách nhiệm trả nợ đối với khoản nợ đã được TCTD cấp từng thời điểm. Đây còn là cơ sở để xác định hành vi tuân thủ hay vi phạm nghĩa vụ trả nợ, từ đó xác định các chế tài hợp đồng phù hợp.
Căn cứ vào nghĩa vụ hoàn trả nợ gốc và lãi suất, HĐTD quy định các nội dung phát sinh từ nghĩa vụ trên, cụ thể gồm cách thức hoàn trả, thời hạn hoàn trả, phương thức hoàn trả, mức lãi suất. Chủ thể đi vay phải trả mức lãi suất do các bên thỏa thuận căn cứ theo quy luật thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của chủ thể đi vay. Lịch sử trả nợ đúng hạn cũng là một trong những căn cứ để TCTD tiếp tục đánh giá uy tín, hiệu quả hoạt động của chủ thể đi vay trong tương lai.
Nghĩa vụ thanh toán trong HĐTD có tính chất tuyệt đối và không thể giải trừ vì lý do khó khăn tài chính đến từ chủ thể đi vay. Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định trường hợp chủ thể đi vay không trả được nợ thì tùy thuộc vào điều kiện và năng lực tài chính của mình mà chủ thể cho vay có thể chủ động điều chỉnh kỳ hạn trả nợ. Để tránh việc lợi dụng quy định điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, pháp luật cũng quy định nghiêm cấm những trường hợp che giấu nợ, đảo nợ, tạo nguy cơ rủi ro cho chính TCTD và hệ thống ngân hàng. Trong một số giai đoạn khó khăn chung của nền kinh tế, NHNN ban hành những quy định riêng về việc cơ cấu nợ, tuy nhiên chủ thể đi vay vẫn phải được tổ chức tín dụng đánh giá có khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại. Dựa vào quy định này, các bên có thể tự thỏa thuận phương thức thanh toán phù hợp tình hình tài chính và hoàn cảnh cụ thể nhưng vẫn phải đảm bảo nghĩa vụ thanh toán gốc và lãi trong HĐTD.
Với việc quy định cụ thể nghĩa vụ hoàn trả nợ gốc và lãi vay, pháp luật cũng quy định các chế tài cụ thể khi vi phạm nghĩa vụ. Các chế tài này bao gồm: (i) Đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc: Pháp luật cho phép các TCTD được chuyển nợ quá hạn thông qua việc ấn định một mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cho vay trong hạn nhưng lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; (ii) Đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ thanh toán lãi thì mức phạt sẽ do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm. Tỷ lệ này được tính trên số dư chậm trả, tương ứng với thời gian chậm trả. Luận văn: Thực trạng PL về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay.
Tóm lại, có thể nhận thấy, Luật các TCTD năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các văn bản hướng dẫn liên quan cũng đã có những quy định khá rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay trong HĐTD. Tuy nhiên, các quy định hiện hành cũng phát sinh một số vướng mắc, cụ thể:
Một là, chưa xác định rõ thời hạn mà TCTD phải hoàn thành việc giải ngân sau khi nhận được yêu cầu từ chủ thể đi vay, kèm theo các điều kiện cụ thể đã được thỏa thuận trong HĐTD; đồng thời pháp luật cũng chưa quy định cụ thể trách nhiệm và chế tài xử lý khi TCTD không thực hiện nghĩa vụ giải ngân.
Hai là, pháp luật ngân hàng hiện hành cũng chưa quy định rõ cơ chế xác định nghĩa vụ của TCTD khi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin hợp đồng.
Ba là, dù pháp luật về ngân hàng đã quy định rõ về quyền được bảo mật thông tin của chủ thể đi vay. TCTD chỉ được cung cấp thông tin của chủ thể đi vay trong một số trường hợp luật định. Tuy nhiên, việc cung cấp thông tin cho các CQNN có thẩm quyền theo luật định chưa được hướng dẫn cụ thể. Đồng thời pháp luật cũng chưa quy định một cách rõ ràng trách nhiệm giải quyết khiếu nại của khách hàng trong việc cung cấp thông tin khách hàng theo quy định của pháp luật; việc quy định xử phạt và bồi thường thiệt hại của chủ thể đi vay, bên thứ ba (liên quan thông tin bị tiết lộ) chưa được xác định cụ thể.
Bốn là, pháp luật ngân hàng hiện hành cũng chưa quy định các trường hợp cụ thể để chủ thể đi vay có thể thực hiện quyền chấm dứt hợp đồng khi TCTD vi phạm cam kết.
2.2. Thực tiễn thực hiện quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay trong hợp đồng tín dụng Luận văn: Thực trạng PL về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay.
2.2.1. Thực tiễn thực hiện quy định pháp luật về quyền của chủ thể đi vay trong hợp đồng tín dụng
- Thứ nhất, liên quan đến quyền yêu cầu tổ chức tín dụng thực hiện nghĩa vụ giải ngân
Quyền yêu cầu TCTD thực hiện nghĩa vụ giải ngân tuy là một trong những quyền cơ bản của chủ thể đi vay, nhưng trên thực tiễn, TCTD thường quy định một số điều khoản nghĩa vụ bắt buộc chủ thể đi vay phải thực hiện để được giải ngân như: (i) Bên vay đề nghị giải ngân trong thời hạn giải ngân; (ii) Các biện pháp bảo đảm theo yêu cầu của chủ thể cho vay trước ngày giải ngân đã được đáp ứng đầy đủ; (iii) Bên vay đã xuất trình đầy đủ các tài liệu chứng minh và giải trình nhu cầu sử dụng vốn vay phù hợp với mục đích sử dụng tiền vay; (iv) Bên vay phải tuân thủ các điều kiện giải ngân chung quy định tại điều kiện, điều khoản riêng của Hợp đồng này và điều kiện giải ngân cụ thể mà các bên đã thống nhất phù hợp với quy định của pháp luật. Nghĩa vụ này chỉ đặt ra khi HĐTD đã được hai bên ký kết hoặc chủ thể cho vay đã phát hành thông báo cấp tín dụng đến bên vay. Các điều kiện giải ngân thường liên quan đến thời hạn giải ngân, mục đích sử dụng vốn vay, các căn cứ cho cam kết không thực hiện bất kỳ hành vi vi phạm tại HĐTD hoặc điều kiện khác trong quá trình kiểm tra tư cách chủ thể đi vay cũng như khả năng trả nợ. Ở một số trường hợp, HĐTD không quy định cụ thể điều kiện mà chủ thể đi vay phải hoàn thành theo yêu cầu của chủ thể cho vay, do đó làm ảnh hưởng đến quyền rút vốn đã chấp thuận giải ngân của chủ thể đi vay khi họ phải phụ thuộc vào ý chí và đánh giá chủ quan của TCTD. Như vậy, thay vì phải thực hiện nghĩa vụ giải ngân của mình, TCTD trên thực tế ràng buộc những điều khoản tiên quyết, bắt buộc chủ thể đi vay phải thực hiện để thực hiện quyền yêu cầu giải ngân vốn theo HĐTD đã ký.
Ở khía cạnh khác, các quy định về điều kiện giải ngân tuy có tính bao quát giúp các TCTD giảm thiểu tác động của các thay đổi bất lợi từ chủ thể đi vay, nhưng nó lại gây nên khó khăn cho chủ thể đi vay khi phải rà soát hồ sơ theo các yêu cầu bất thường của TCTD nhằm tránh nguy cơ bị hủy bỏ phát hành thư thông báo cấp tín dụng hoặc thu hồi trước hạn các khoản tiền đã giải ngân trước đó. Ví dụ, TCTD có thể quy định trong HĐTD yêu cầu chủ thể đi vay phải mua bảo hiểm đối với các loại hàng hóa hình thành từ vốn vay mặc dù khoản vay đã được đảm bảo bằng tài sản khác. Về mặt lý luận, TCTD chỉ nên yêu cầu khách hàng mua bảo hiểm đối với hàng hóa hình thành từ vốn vay khi TCTD nhận chính hàng hóa này làm tài sản bảo đảm, tài sản bảo đảm có rủi ro cháy nổ cao, khoản vay dựa trên thu nhập của khách hàng và không có biện pháp bảo đảm nghĩa vụ. Do đó bản thân HĐTD phải có điều khoản quy định trường hợp cụ thể nào phải tiến hành việc mua bảo hiểm bắt buộc như một biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng. Luận văn: Thực trạng PL về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay.
Thực tế hiện nay, khó có thể tìm thấy phán quyết nào của tòa án, trọng tài tuyên buộc một ngân hàng phải bồi thường hoặc phạt do vi phạm nghĩa vụ giải ngân đúng hạn dù hồ sơ khách hàng đã cung cấp là phù hợp. Điều này dẫn đến thiệt hại của chủ thể đi vay do phát sinh việc trễ hạn trong việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng với bên thứ ba của chủ thể đi vay. Một số trường hợp, cán bộ của chính TCTD lợi dụng việc chậm trễ giải ngân để sách nhiễu và gây phát sinh tiêu cực trong quá trình cho vay. Để tránh trường hợp chậm trễ nguồn vốn phục vụ những nhu cầu bức thiết, chủ thể đi vay phải tiến hành giao dịch với nhiều TCTD nhằm mục đích ổn định nguồn vốn. Việc này có thể gây tốn kém chi phí và thời gian cho chủ thể đi vay nói riêng và toàn xã hội nói chung. Do đó, quyền được giải ngân của chủ thể đi vay có ý nghĩa như quyền yêu cầu TCTD tiếp tục thực hiện hợp đồng. Trong trường hợp TCTD không tiếp tục thực hiện đúng cam kết giải ngân đã làm phát sinh trách nhiệm dân sự của chính TCTD như một hành vi vi phạm HĐTD đã ký, từ đó có những biện pháp khắc phục như bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm hợp đồng đối với chủ thể đi vay. Để làm cơ sở cấu thành hành vi vi phạm, pháp luật cũng cần bổ sung các nội dung khung trong HĐTD về thời hạn giải ngân của TCTD từ khi tiếp nhận yêu cầu giải ngân, xác định mức độ vi phạm, mức phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại,… nhằm mục đích gia tăng trách nhiệm của TCTD trong việc đưa ra quyết định duyệt vay hồ sơ của khách hàng và các cam kết cấp tín dụng.
- Thứ hai, liên quan đến quyền được tổ chức tín dụng cung cấp thông tin hợp đồng
TCTD với tư cách là chủ thể cho vay trước khi ký kết HĐTD phải thông tin đầy đủ về điều kiện, sản phẩm và các chính sách tín dụng do mình cung cấp để chủ thể đi vay có thể lựa chọn, so sánh sản phẩm phù hợp trên thị trường. Tuy nhiên thực tiễn khi ký kết HĐTD, nghĩa vụ cung cấp thông tin đối với TCTD không được đặt ra. Nguyên nhân là do các TCTD với tư cách là bên ưu thế và trực tiếp soạn thảo HĐTD, TCTD thường loại bỏ nghĩa vụ cung cấp thông tin vào điều khoản HĐTD nhằm tránh các nghĩa vụ có thể phát sinh. Bên cạnh đó, chủ thể đi vay cũng chưa ý thức đầy đủ quyền lợi của mình khi vận dụng quyền này trong thực tiễn.
Để loại trừ trách nhiệm về nghĩa vụ cung cấp thông tin của chủ thể cho vay, HĐTD thường đưa vào nội dung cam kết của chủ thể đi vay đã đọc hiểu hoặc đã được chủ thể cho vay cung cấp thông tin và ký nháy từng trang nội dung hợp đồng. Đơn cử tại Mục 6.6 Điều 6 Hợp đồng cho vay số 98/2019-HĐCV-NHCT948 (Phụ lục 01) quy định: “Bên vay cam kết đã đọc và hiểu rõ cách thức tính lãi, mức lãi cũng như số tiền gốc, lãi phải trả của mỗi kỳ trả nợ, phí và cách tính phí theo quy định tại Hợp đồng cho vay”. Như vậy, nội dung Hợp đồng vay này đã cố tình đẩy trách nhiệm đọc hiểu hợp đồng cho chủ thể đi vay, trong khi một số nội dung tại hợp đồng này còn chưa rõ thông tin. Đơn cử, tại nội dung lãi suất cho vay trong hạn quy định: (i) Lãi suất cho vay trong hạn của khoản nợ là lãi suất ghi trên từng giấy nhận nợ; (ii) Lãi suất cho vay được điều chỉnh 01 tháng 01 lần và bên vay đồng ý rằng định kỳ hàng tháng vào ngày làm việc liền kề sau ngày 01 hàng tháng sẽ đến trụ sở của chủ thể cho vay để nhận thông báo lãi suất, trường hợp bên vay không đến trụ sở của chủ thể cho vay để nhận thông báo lãi suất thì bên vay từ bỏ mọi quyền khiếu nại, khiếu kiện liên quan đến việc điều chỉnh lãi suất và áp dụng lãi suất cho kỳ tính lãi tương ứng; (iii) Trường hợp lãi suất cho vay xác định theo quy định nêu trên thấp hơn mức sàn lãi suất cho vay kỳ hạn tương ứng của NHCTVN thì lãi suất cho vay được xác định bằng mức sàn lãi suất cho vay kỳ hạn tương ứng của NHCTVN tại ngày xác định lãi suất được ghi trong thông báo điều chỉnh; (iv) lãi suất 11%/năm chỉ có giá trị cho kỳ tính lãi đầu tiên cho những khoản giải ngân phát sinh tại ngày ký hợp đồng. Có thể thấy rõ trong trường hợp này, TCTD đã cố tình né tránh trách nhiệm giải thích những thông tin cơ bản cần thiết trong hợp đồng, thậm chí đưa ra tiêu chí “không thấp hơn lãi suất sàn” trong khi không công khai mức lãi suất sàn cụ thể hoặc “bên vay không đến trụ sở của chủ thể cho vay để nhận thông báo lãi suất thì bên vay từ bỏ mọi quyền khiếu nại, khiếu kiện” để đẩy trách nhiệm sai sót (nếu có) về việc điều chỉnh lãi suất cho phía chủ thể đi vay.
Có thể thấy, khi ký kết HĐTD đặc biệt trong việc cho vay tiêu dùng, TCTD thường áp dụng HĐTD theo mẫu. Với mong muốn tối đa hóa lợi ích của mình khi thực hiện HĐTD, TCTD thường đưa ra các điều khoản nhằm gia tăng lợi ích và giảm nghĩa vụ cho mình, tăng trách nhiệm và giảm đi quyền lợi của chủ thể đi vay. Luận văn: Thực trạng PL về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay.
Ngoài ra, đa phần các hợp đồng tín dụng theo mẫu, khả năng tiếp cận để hiểu thấu đáo tất cả các điều khoản của hợp đồng tín dụng theo mẫu của bên vay còn hạn chế bởi ngôn ngữ sử dụng, từ ngữ chuyên ngành, số trang hợp đồng khá nhiều, cỡ chữ của các hợp đồng tín dụng đa phần khá nhỏ,…. Ở vị thế chủ thể đi vay, nhiều trường hợp do nhu cầu cấp bách và tin tưởng vào vị thế của TCTD nên tin tưởng ký HĐTD mà thực chất không hiểu rõ nghĩa vụ bản thân bị ràng buộc đến đâu với các điều khoản của HĐTD theo mẫu đó. Bên cạnh đó, một bộ phận nhân viên tín dụng do áp lực doanh số nên cố tình cung cấp những thông tin chưa cụ thể và gây nhầm lẫn về các loại phí, lãi suất mà chủ thể đi vay phải chịu. Điều này đòi hỏi chủ thể đi vay phải chủ động rà soát các thông tin do nhân viên TCTD đưa ra cũng như kịp thời thực hiện quyền khiếu nại nếu nhận thấy nội dung tư vấn được cung cấp chưa chính xác nhằm hạn chế phát sinh các trách nhiệm trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Ngoài ra, sự phát triển của công nghệ thông tin tác động mạnh mẽ đến hoạt động cho vay qua phương thức điện tử đặt ra yêu cầu cần pháp luật điều chỉnh để tạo hành lang pháp lý phù hợp. Ngoài hoàn thiện quy trình xét duyệt cho vay, TCTD cũng phải cung cấp thông tin về hình thức xét duyệt mới, hồ sơ cần có, phương thức giao kết hợp đồng và sự ràng buộc pháp lý phát sinh. Bên cạnh đó, TCTD cũng cần phải chứng minh cho khách hàng quá trình thẩm định trên cơ sở minh bạch, an toàn và kịp thời giải ngân vốn cho chủ thể đi vay. Trong quá trình vận hành khoản vay, TCTD cũng có trách nhiệm giải thích, đối chiếu các thông tin và dữ liệu về sinh trắc học khi chủ thể đi vay có yêu cầu.
- Thứ ba, liên quan đến quyền được bảo đảm bí mật thông tin
Trong quá trình xét duyệt cấp tín dụng, chủ thể đi vay đã cung cấp cho TCTD hồ sơ vay vốn để chứng minh khả năng hoàn trả vốn vay như thông tin tài khoản, thông tin tài chính, dữ liệu khách hàng, hợp đồng kinh tế, tài sản bảo đảm. Do đó, nhân viên của TCTD, TCTD phải bảo mật thông tin của khách hàng, không tiết lộ thông tin tài khoản, tiền gửi và các giao dịch khác của khách hàng cho bên thứ ba ngoại trừ một số giới hạn theo luật định; TCTD cũng phải bảo vệ thông tin của khách hàng khỏi bị bên thứ ba truy cập trái phép. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có trường hợp nhân viên TCTD vì những lý do khác nhau đã không thực hiện đúng nghĩa vụ BMTT khách hàng mà pháp luật đã quy định. Chẳng hạn, thông báo số dư tài khoản của khách hàng mặc dù khách hàng không thực hiện thủ tục yêu cầu ngân hàng kiểm tra số dư tài khoản; hoặc cung cấp thông tin tài khoản của khách hàng (qua tổng đài chăm sóc khách hàng) khi chưa xác thực cẩn thận khách hàng, từ đó dẫn đến việc nhiều khách hàng bị mất tiền trong tài khoản. Chưa dừng lại ở đó, một số trường hợp các nhân viên ngân hàng đã không tuân thủ quy định nội bộ của các ngân hàng, truy cập vào mạng lưu trữ dữ liệu nội bộ, sao chép thông tin khách hàng để “dự phòng” cho bản thân (ví dụ dự phòng cho một công việc mới khi cần đến dữ liệu của khách hàng). Hoặc vụ vi phạm của nhân viên TCTD thông qua bản án số: 09/2021/HS-ST Ngày 21-01-202 của tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử bị cáo Lê Thái N và Nguyễn Thái T về tội “mua bán trái phép thông tin tài khoản ngân hàng”. Nhận định của Tòa: Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 291 Bộ luật hình sự năm 2015. Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Thái N và Nguyễn Thái T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền được bảo vệ về bí mật thông tin của cá nhân, xâm phạm trật tự, an toàn trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng và tạo điều kiện cho việc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác. Tòa án đã xử phạt bị cáo Lê Thái N 100.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Thái T 20.000.000 đồng”.
Ngoài ra, cũng có những trường hợp nhân viên TCTD lợi dụng vị trí công việc được giao đã sử dụng các thông tin của khách hàng và thực hiện giao dịch rút tiền từ tài khoản tiết kiệm của họ, từ đó làm thiệt hại đến lợi ích của khách hàng, gây ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin của họ với các TCTD. Chẳng hạn, đầu năm 2017, khách hàng Nguyễn Bạch Mai (Hà Nội) khiếu nại tới một ngân hàng cổ phần tại Hà Nội về khoản tiền gần 9 tỷ đồng gửi (từ 2015) tại phòng giao dịch số 14 của ngân hàng đã bị rút toàn bộ trong khi chủ tài khoản không thực hiện giao dịch. Vụ việc sau đó được chuyển tới Phòng PA 84, công an thành phố Hà Nội. Qua xác minh ban đầu cho thấy, nguyên trưởng phòng giao dịch số 14 có dấu hiệu làm giả một số giấy tờ rút, gửi tiền không đúng mẫu ngân hàng quy định… Luận văn: Thực trạng PL về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay.
Hoặc vụ ông Đặng Nghĩa Toàn mất 122 tỷ đồng khi mở 4 sổ tiết kiệm tại NCB hay vụ việc nhiều cán bộ ngân hàng vi phạm nghiêm trọng trong vụ án Nguyễn Thị Hà Thành bị tòa án thành phố Hà Nội tuyên án chung thân chiếm đoạt tiền trăm tỷ của ba ngân hàng NCB, Việt Á và PVComBank. Các nguyên nhân này đều xuất phát từ phía cán bộ nhân viên của TCTD, tuy nhiên trong nhiều trường hợp, trách nhiệm của chính TCTD trong việc bảo mật thông tin của khách hàng chưa được xác định.
- Thứ tư, đối với quyền được yêu cầu cơ cấu lại thời hạn trả nợ
Chủ thể đi vay thực hiện quyền này khi gặp những khó khăn tạm thời trong việc điều phối dòng tiền để trả nợ. Trong những giai đoạn khó khăn chung của nền kinh tế, quyền được yêu cầu cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ được cụ thể hóa bằng những Thông tư riêng của NHNN, ví dụ như trong giai đoạn dịch bệnh Covid-19 hoặc trong giai đoạn hậu đại dịch. Việc áp dụng và quy định cụ thể quyền này trong một số các Thông tư đã ban hành đã phần nào hỗ trợ các chủ thể đi vay là pháp nhân và cá nhân, tạo điều kiện để chủ thể đi vay có thể tiếp tục thực hiện HĐTD, giảm áp lực nợ xấu đối với TCTD, tránh những rủi ro có thể phát sinh cho nền kinh tế. Các nội dụng quy định về cơ cấu nợ lại thời hạn trả nợ, mức trích lập dự phòng được NHNN quy định cụ thể tại các Thông tư số 39/2016/TT-NHNN; Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (được thay thế bởi Thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30/07/2021 có hiệu lực từ ngày 01/10/2021). Bên cạnh đó từ năm 2020 đến nay, để hỗ trợ các chủ thể trong nền kinh tế bị tác động bởi đại dịch Covid-19 và các khó khăn của nền kinh tế toàn cầu, NHNN đã kịp thời ban hành các quy định cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khách hàng:
Thông tư số 01/2020/TT-NHNN được sửa đổi bổ sung bởi Thông tư số 03/2021/TT-NHNN và Thông tư số 14/2021/TT-NHNN với thời gian cơ cấu nợ đến 30/06/2022; (ii) Thông tư số 02/2023/TT-NHNN về cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn có hiệu lực từ ngày 24/04/2023 đến 30/06/2024. Trên tinh thần của quy định, TCTD có xu hướng xem xét và đánh giá dễ dàng hơn đối với các yêu cầu cơ cấu lại, phương án trả nợ sau khi cơ cấu lại của chủ thể đi vay nhằm giảm tải các áp lực về số lượng nợ xấu.
Trong thực tiễn, việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong HĐTD được xem là quyền (không phải là nghĩa vụ) của TCTD. Tại HĐTD số 6220-LAV-20230064, việc cơ cấu, chuyển nợ quá hạn ghi nhận: (i) Trường hợp khách hàng không có khả năng trả nợ đúng kỳ hạn nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay và có nhu cầu cơ cấu lại thời hạn trả nợ, theo đề nghị của khách hàng tại phương án cơ cấu nợ, Ngân hàng đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng và quyết định cơ cấu lại thời hạn trả nợ theo quy định của Ngân hàng và quy định của pháp luật; (ii) Nếu khách hàng không trả nợ và không được Ngân hàng chấp thuận cơ cấu lại thời hạn trả nợ thì Ngân hàng chuyển nợ quá hạn đối với số dư nợ gốc mà khách hàng không trả được nợ đúng hạn. Như vậy, khách hàng có thể thực hiện quyền yêu cầu TCTD cơ cấu nợ vay kèm theo phương án trả nợ để thuyết phục ngân hàng thực hiện đánh giá nhằm mục đích cơ cấu lại khoản nợ, tuy nhiên việc quyết định khoản vay có được thực hiện cơ cấu hay không là quyết định của TCTD dựa trên cơ sở đánh giá khả năng trả nợ theo phương án kinh doanh do khách hàng cung cấp cũng như những quy định nội bộ, khả năng xử lý nợ xấu, trích lập dự phòng rủi ro của chính TCTD.
Trong thực tiễn xét xử tại tòa án giải quyết tranh chấp về HĐTD trước đây, chủ thể đi vay vẫn thường xin gia hạn nợ để khắc phục những khó khăn, tiếp tục duy trì khả năng thực hiện hợp đồng tuy nhiên thường bị Tòa án bác bỏ. Ví dụ tại Bản án số 61/2012/KDTM-PT ngày 28/12/2012 của Tòa án đã tuyên xử nội dung: “Việc Ngân hàng thương mại cổ phần SGCT không xem xét đề nghị của công ty về việc giãn nợ, khoanh lãi, giãn thời gian thanh toán… Hội đồng xét xử xét thấy vấn đề này thuộc quyền hạn của ngân hàng khi xem xét doanh nghiệp có đủ điều kiện hay không để thực hiện theo quy chế, nên không thể cho rằng ngân hàng có lỗi…”. Điều này làm cho hoạt động cơ cấu lại thời hạn trả nợ không đơn thuần là một quyền của chủ thể đi vay mà được xem là một thỏa thuận bổ sung của HĐTD khi cả hai bên đạt được sự thống nhất khi cơ cấu lại thời hạn trả nợ.
- Thứ năm, về quyền chấm dứt hợp đồng tín dụng Luận văn: Thực trạng PL về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay.
HĐTD thường do các TCTD soạn thảo, do đó trên thực tiễn chưa phát sinh các trường hợp vi phạm của chính TCTD theo nội dung trong HĐTD, từ đó làm căn cứ để chủ thể đi vay được thực hiện quyền chấm dứt và rút khỏi hợp đồng trước hạn do TCTD vi phạm mà không phát sinh bất kỳ khoản phạt hoặc lãi phạt nào. Trên thực tế chủ thể đi vay vẫn có quyền chấm dứt HĐTD khi hoàn tất thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc được hai bên thỏa thuận trả toàn bộ nợ trước hạn. Nội dung tại HĐTD số 6220-LAV-202300 ghi nhận: “Khách hàng chỉ được trả một phần hoặc toàn bộ khoản nợ trước hạn nếu được Ngân hàng đồng ý và phải trả phí trả nợ trước hạn”. Việc thực hiện quyền chấm dứt HĐTD chỉ có thể thực hiện khi chủ thể đi vay hoàn tất các nghĩa vụ thực hiện hợp đồng.
Khi hợp đồng được xác lập giữa hai bên, TCTD đã phải phát sinh nghĩa vụ bàn giao số tiền đã cam kết cho chủ thể đi vay và nghĩa vụ phải đảm bảo bí mật thông tin trong quá trình thẩm định. Vì một số nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan, TCTD làm tiết lộ các thông tin định danh, giao dịch chuyển tiền, hợp đồng thương mại hoặc bất kỳ tài liệu nào gây ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh bình thường của một pháp nhân hoặc cuộc sống của một cá nhân. Do đó, khi phát sinh sai phạm từ TCTD thì họ phải chịu hình thức chế tài bao gồm: (i) Buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng do đối tượng là công việc (Khoản 1 Điều 358 và Điều 359 BLDS năm 2015); (ii) Chấm dứt hợp đồng do hợp đồng bị hủy hoặc bị đơn phương chấm dứt thực hiện. Đây là căn cứ hình thành quyền chấm dứt hợp đồng của chủ thể đi vay.
Việc chấm dứt HĐTD tất yếu sẽ kéo theo việc hoàn trả ngay lập tức khoản vay đã được TCTD cấp, gây khó khăn đến nguồn tiền và cơ cấu vốn của chủ thể đi vay. Do đó theo tác giả cần thiết nghiên cứu xây dựng các quyền có thể tạo điều kiện để chủ thể đi vay có thể chấm dứt hợp đồng khi nhận thấy TCTD đang có các hành vi phạm các nghĩa vụ đã cam kết trước đó, qua đó tạo thế cân bằng trong việc ràng buộc trách nhiệm của TCTD trong quá trình thực hiện hợp đồng. Các quyền này có thể là gia hạn thời hạn nhất định để trả nợ cho chủ thể đi vay, không tính lãi suất quá hạn trong giai đoạn chấm dứt do vi phạm của chủ thể cho vay hoặc buộc TCTD thực hiện bồi thường nếu có thiệt hại phát sinh.
2.2.2. Thực tiễn thực hiện quy định pháp luật về nghĩa vụ của chủ thể đi vay trong hợp đồng tín dụng Luận văn: Thực trạng PL về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay.
Thứ nhất, nghĩa vụ sử dụng vốn vay đúng mục đích được đề cập tại Khoản 2 Điều 4 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN, cụ thể: “Khách hàng vay vốn tổ chức tín dụng phải đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích”. Ngoài ra, quy định của pháp luật cũng như các văn bản quản lý rủi ro nội bộ của TCTD thì mục đích vay vốn ghi nhận tại HĐTD phải hợp pháp. Nghĩa vụ sử dụng vốn vay đúng mục đích là một trong các nghĩa vụ cơ bản của chủ thể đi vay, đồng thời cũng là trách nhiệm của TCTD khi đánh giá và giải ngân vốn. Tuy quy định của pháp luật về mục đích sử dụng vốn tín dụng tương đối rõ ràng, nhưng trên thực tế không ít các trường hợp chủ thể đi vay sử dụng vốn vay không đúng mục đích như cam kết. Trong một số trường hợp, các cán bộ của TCTD cũng lơ là công tác kiểm tra do đó phát sinh sai phạm kéo dài và gây hậu quả nghiêm trọng.
Trong trường hợp chủ thể đi vay sử dụng vốn sai mục đích, các chế tài cũng được pháp luật đặt ra bao gồm:
- Chế tài vi phạm hợp đồng đối với chủ thể đi vay
Khi chủ thể đi vay vi phạm việc sử dụng vốn sai mục đích, TCTD có quyền chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn. Chủ thể đi vay còn có thể bị áp dụng các hình thức phạt hợp đồng trong trường hợp nội dung HĐTD có quy định cụ thể hoặc buộc bồi thường thiệt hại nếu TCTD chứng minh được các tổn thất do hành vi vi phạm mục đích sử dụng vốn vay của chủ thể đi vay gây ra. Trong HĐTD số 6220-LAV-202300 quy định những nội dung về trách nhiệm sử dụng vốn của chủ thể đi vay: (i) Sử dụng vốn vay đúng mục đích; (ii) TCTD có quyền chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn, xử lý nợ nếu khách hàng sử dụng vốn sai mục đích; (iii)
Khách hàng phải chịu phạt vi phạm hợp đồng và/hoặc bồi thường thiệt hại nếu phát sinh hành vi vi phạm theo quy định của Ngân hàng tại thời điểm xảy ra hành vi vi phạm. Như vậy trong thực tiễn áp dụng, HĐTD thường quy định khá cụ thể về trách nhiệm dân sự của chủ thể đi vay trong trường hợp vi phạm việc sử dụng vốn sai mục đích.
- Chế tài bằng biện pháp xử lý, truy cứu trách nhiệm hình sự
Bên cạnh các chế tài dân sự, việc sử dụng vốn sai mục đích còn là dấu hiệu dẫn đến hành vi chiếm đoạt tiền vay. Các biểu hiện của hành vi này được biểu hiện qua việc chủ thể đi vay tạo lập chứng từ sử dụng vốn giả mạo, cung cấp thông tin sử dụng vốn không đúng sự thật nhằm giải quyết các nhu cầu tài chính riêng của mình, thậm chí sử dụng vào những mục đích trái pháp luật. Nếu chủ thể đi vay không hoàn trả lại tiền vay (biểu hiện ý thức chủ quan) cùng với hành vi gian dối của chủ thể đi vay trong việc giả mạo chứng từ sử dụng vốn, cơ quan tố tụng có thể truy cứu trách nhiệm hình sự của chủ thể đi vay căn cứ trên hành vi chiếm đoạt tài sản đã hình thành. Hành vi này là dấu hiệu để cấu thành “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” hoặc “Tội vi phạm quy định trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài” khi cơ quan tố tụng xác định cụ thể các cấu thành của hành vi phạm tội cụ thể.
Trong thực tế, không ít các trường hợp chủ thể đi vay lập khống các hồ sơ vay vốn, sử dụng vốn không đúng mục đích nhằm chiếm đoạt tiền vay. Đơn cử vụ án Công ty cổ phần chăn nuôi Bình Hà vay vốn tại BIDV xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, ban lãnh đạo Công ty đã kê khai khống vốn tự có, lập khống hồ sơ xây lắp nhằm chiếm đoạt tiền của BIDV. Một vụ đại án khác liên quan lĩnh vực ngân hàng là việc BIDV cho vay nhóm công ty của Phạm Công Danh. Trong vụ án này, Phạm Công Danh đã tạo lập hồ sơ vay vốn 12 công ty với mục đích kinh doanh vật liệu xây dựng nhưng thực tế sử dụng tiền vào việc cá nhân, qua đó gây thiệt hại cho bên thứ ba là Ngân hàng xây dựng với số tiền 2.500 tỷ đồng. Trong một số trường hợp, chủ thể đi vay còn câu kết với các cán bộ tại TCTD lợi dụng chính sách ưu đãi lãi suất của nhà nước, lập khống hồ sơ vay và nâng giá trị tài sản bảo đảm để đầu tư vào bất động sản và sử dụng trả nợ các khoản vay khác. Tuy các dấu hiệu tội phạm trong một số trường hợp còn khó xác định và gây nhiều tranh cãi do việc xác lập hành vi sử dụng vốn vay không đúng mục đích phải gắn liền với ý thức chiếm đoạt tài sản và hậu quả của hành vi chiếm đoạt đó gây ra. Không hiếm trường hợp cơ quan tố tụng nhầm lẫn, đánh giá sai hành vi phạm tội đã dẫn đến hình sự hóa trong quan hệ cho vay. Các trường hợp sai phạm trên thực tiễn cho thấy đều xuất phát từ cả ý chí chủ quan của chủ thể cho vay và chủ thể đi vay: (i) Không tuân thủ các quy tắc trung thực, thiện chí trong quá trình thực hiện các cam kết trong HĐTD; Luận văn: Thực trạng PL về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay.
Cán bộ tín dụng tại TCTD vì một số lý do về đạo đức và trình độ nghiệp vụ tín dụng đã không thực hiện hoặc thực hiện sai các quy định nội bộ, thẩm định, kiểm tra giám sát sau khi thực hiện giải ngân.
Có thể thấy, quy định sử dụng vốn vay đúng mục đích theo pháp luật Việt Nam hiện nay khá rõ ràng và cụ thể, đáp ứng các chức năng quản lý thị trường và quản lý rủi ro hệ thống tài chính của NHNN. Các TCTD cũng đã từng bước nâng cao các quy trình nghiệp vụ, tích cực đào tạo nghiệp vụ cán bộ để đáp ứng việc thẩm định, chuyển đổi mô hình quản lý rủi ro tín dụng tập trung, kiểm tra giám sát sau cho vay một cách chặt chẽ, giảm thiểu rủi ro do việc sử dụng vốn sai mục đích mang lại.
Hai là, nghĩa vụ cung cấp thông tin tín dụng trên thực tế là một trong các cơ chế do pháp luật quy định nhằm kiểm soát rủi ro trong quá trình thẩm định và vận hành tín dụng. Trách nhiệm pháp lý cũng được các nhà làm luật đặt ra, bắt buộc bên vay phải tuân thủ bằng các biện pháp chế tài khi vi phạm HĐTD như chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn. Tại HĐTD mẫu của Ngân hàng VIB, nghĩa vụ cung cấp thông tin đặt ra xuyên suốt quá trình vay vốn, bao gồm: (i) Cung cấp đầy đủ hồ sơ pháp lý, chứng từ, tài liệu hợp pháp liên quan mà VIB yêu cầu; (ii) Cung cấp thông tin về việc thay đổi/chuyển đổi/chấm dứt địa chỉ cư trú, các thông tin cá nhân, việc làm, tình trạng bệnh trầm trọng,… ảnh hưởng đến cuộc sống và khả năng trả nợ; (iii) Bất kỳ một thay đổi bất lợi đáng kể ảnh hưởng đến công việc kinh doanh, hoạt động, tài sản, tài sản bảo đảm, tình trạng tài chính, hiệu lực tài liệu vay vốn; (iv) Cung cấp đầy đủ các tài liệu/thông tin liên quan đến việc chứng minh sử dụng vốn vay đúng mục đích ghi trong HĐTD, tài sản bảo đảm, hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của bên được cấp tín dụng; (v) Chủ thể đi vay chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của các thông tin, tài liệu cung cấp cho VIB; (vi) Trong vòng 3 ngày sau khi phát sinh sự kiện ảnh hưởng đến khả năng trả nợ, sự cố môi trường, bên được cấp tín dụng phải thông báo cho VIB các biện pháp đang được thực hiện hoặc kế hoạch hành động khắc phục để giảm thiểu rủi ro. Việc quy định cụ thể này giúp bảo đảm tính đúng đắn của bên vay khi thực hiện nghĩa vụ, tránh trường hợp chủ thể đi vay bị cho là vi phạm nghĩa vụ dẫn đến bị thu hồi vốn trước hạn của chủ thể cho vay. Thông qua việc sử dụng các thông tin về lịch sử hình thành, quá trình cấp tín dụng, tình hình nhân sự, tài chính, hoạt động sản xuất và thị trường là những cơ sở để TCTD thực hiện việc xếp hạng tín dụng nội bộ, đánh giá thẩm định việc đáp ứng điều kiện vay vốn và điều kiện ưu đãi (nếu có). Do đó, nội dung HĐTD trên thực tế đều đặt ra các cam kết của khách hàng về tính chính xác của thông tin cung cấp, buộc chủ thể đi vay chịu trách nhiệm về tính đúng đắn kịp thời khi thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin. Trường hợp vi phạm, chủ thể đi vay buộc phải chịu trách nhiệm bằng các biện pháp thu hồi nợ trước hạn và bồi thường nếu xảy ra vi phạm. Ngoài ra, chủ thể đi vay còn có thể chịu trách nhiệm về mặt hình sự nếu cố tình che giấu địa chỉ, giả mạo giấy tờ (Tội lừa đảo hoặc lợi dụng tín nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản tại Điều 174 và Điều 175 BLHS năm 2015) theo Hướng dẫn số 25/HD-VKSND.
Ba là, nghĩa vụ tuân thủ sự kiểm tra, giám sát của chủ thể cho vay nhằm đảm bảo sự minh bạch, hiệu quả và chất lượng hồ sơ vay vốn. TCTD phải thường xuyên thực hiện các nghiệp vụ giám sát, kiểm tra, thực hiện công tác nghiệp vụ chuyên môn, do đó cần sự hợp tác và tuân thủ của chủ thể đi vay trong suốt quá trình vay vốn. Thực tiễn cho thấy, trong các HĐTD được ký kết hầu hết đều ghi nhận cụ thể quyền kiểm tra, giám sát của TCTD. Khoản 8.2 Điều 8 của HĐTD số 98/2019- HĐCV/NHCT948 ký ngày 09/04/2019 giữa Ngân hàng TMCP CT với Ông Đ ghi nhận: “Chấp thuận và tạo điều kiện thuận lợi để Chủ thể cho vay theo dõi, kiểm tra việc sử dụng vốn vay, quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của bên vay”. Việc quy định trách nhiệm tuân thủ sự kiểm tra, giám sát trong HĐTD là cần thiết, bởi khi phát sinh vi phạm, chủ thể đi vay thường có ý thức che giấu thông tin sai phạm, không tích cực hợp tác với cán bộ TCTD trong công tác kiểm tra, giám sát tín dụng, sử dụng nhiều biện pháp tránh né, cung cấp thông tin không đúng sự thật. Luận văn: Thực trạng PL về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay.
Rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng không chỉ tác động đến các chủ thể tham gia HĐTD mà còn có thể ảnh hưởng về mặt quản lý nhà nước và an toàn của hệ thống ngân hàng. Do đó, nghĩa vụ tuân thủ việc kiểm tra giám sát sử dụng vốn không chỉ là nghĩa vụ của chủ thể đi vay mà còn là quyền và nghĩa vụ của chủ thể cho vay là các TCTD. Thực tế việc TCTD sai phạm trong công tác kiểm tra sau cho vay còn khá phổ biến, chỉ được phát hiện khi cơ quan thanh tra nhà nước vào cuộc. Không ít các TCTD vẫn còn xem nhẹ, chưa thiết lập quy trình công tác kiểm tra, giám sát sau cho vay, kiểm soát dòng tiền một cách chặt chẽ từ đó phát sinh nguy cơ mất vốn. Bên cạnh đó, các yếu tố rủi ro về con người, sự biến động của môi trường kinh tế và pháp lý trong quá trình cấp tín dụng cũng là những yếu tố đặt ra trong việc tuân thủ việc kiểm tra giám sát sử dụng vốn.
Bốn là, nghĩa vụ hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay là nghĩa vụ cơ bản và cốt lõi của chủ thể đi vay trong quan hệ HĐTD. Nội dung HĐTD luôn ghi nhận các thông tin như: (i) Số tiền cần trả; (ii) Thời hạn vay; (iii) Lãi suất và phương thức tính lãi;
Số tiền vay và thời hạn trả nợ cụ thể. Chủ thể đi vay phải thực hiện nghĩa vụ này cho đến khi trả hết nợ, không phụ thuộc vào phía ngân hàng có xúc tiến đòi nợ hay bị phụ thuộc thời gian hoạt động tố tụng tại tòa án hoặc trọng tài. Nguyên tắc tính lãi suất phải tuân thủ theo nội dung hợp đồng kể cả lãi suất quá hạn và lãi phạt.
Thực tiễn xét xử tại tòa án, TCTD ở vị trí nguyên đơn thường phát sinh tranh chấp nhằm thu hồi khoản vay, trong đó các nội dung xoay quanh vấn đề về cách tính lãi suất, xử lý tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ tài chính thường là những nguyên nhân gây kéo dài thời gian xét xử qua nhiều cấp. Chẳng hạn, tại Bản án số 08/2023/DS-PT của Toàn án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xác định việc TCTD tính toán số tiền lãi chậm trả chưa phù hợp, xác định nghĩa vụ trả nợ chưa đầy đủ trong bản án sơ thẩm đã được Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh kháng nghị lên cấp phúc thẩm. Như vậy có thể thấy, dù đã có Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, trên thực tế các cấp tòa án vẫn chưa áp dụng thống nhất, do đó gây kéo dài thời gian xét xử tại tòa án.
Ngoài ra, việc không giới hạn về thời hiệu trong việc yêu cầu hoàn trả nợ gốc và lãi của TCTD trong thực tiễn xét xử là phù hợp theo quy định tại Khoản 2 Điều 155 BLDS năm 2015. Thực tiễn xét xử tại tòa án, yêu cầu chỉ trả lại khoản nợ gốc và từ chối trả lãi vay do thời hiệu khởi kiện đã hết của chủ thể đi vay bị cơ quan xét xử không chấp nhận. Như vậy, Tòa án đã xác định quyền sở hữu tài sản của chủ thể đi vay tại thời điểm HĐTD đã chấm dứt và chủ thể đi vay phải có trách nhiệm hoàn trả lại quyền sở hữu tài sản bao gồm toàn bộ gốc và lãi suất phát sinh; thời hiệu khởi kiện do đó không được áp dụng trong trường hợp này.
Tóm lại, thông qua phân tích thực tiễn thực hiện quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay trong HĐTD, tác giả đã chỉ ra một số tồn tại trên thực tế như sau:
Về thực hiện quyền yêu cầu giải ngân: ngoài việc TCTD đưa vào nội dung HĐTD các điều kiện cần thiết để bảo đảm đúng quy định của pháp luật, HĐTD trên thực tế còn ghi nhận những nội dung tiên quyết khác chưa phù hợp mà chủ thể đi vay phải thực hiện để được giải ngân vốn. Ngoài ra, việc thực hiện nghĩa vụ giải ngân của TCTD trong nhiều trường hợp còn dựa trên ý thức của cán bộ, do đó các quy định pháp luật cần làm rõ quyền yêu cầu giải ngân của chủ thể đi vay một cách rõ ràng và cụ thể nhằm xác định trách nhiệm của TCTD trong việc thực hiện HĐTD. Luận văn: Thực trạng PL về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay.
Về thực hiện quyền được TCTD cung cấp thông tin hợp đồng: với tư cách là bên soạn thảo hợp đồng, TCTD thường có các điều khoản loại trừ trách nhiệm về nghĩa vụ cung cấp thông tin và khiếu nại của chủ thể đi vay. Trong một số trường hợp, các điều khoản về thương mại như lãi suất, điều khoản vi phạm hợp đồng, phí phạt, bồi thường thiệt hại,… còn quy định chưa rõ ràng, sử dụng thuật ngữ chuyên ngành gây khó hiểu cho chủ thể đi vay trong quá trình tìm hiểu trước khi ký kết, cán bộ ngân hàng vì chỉ tiêu kinh doanh nên cung cấp thông tin sai,…. Do đó, các nhà làm luật cần thiết xây dựng bổ sung những quy định cụ thể để bảo đảm quyền được TCTD cung cấp thông tin hợp đồng được thực thi trên thực tế.
Về quyền được bảo đảm bí mật thông tin: Bảo mật thông tin là nghĩa vụ của TCTD nhằm đảm bảo cho quyền được bảo mật thông tin của chủ thể đi vay, tuy nhiên thời gian qua, nhân viên ngân hàng đã không “ý thức được đặc thù nghề nghiệp, sự khắt khe của ngành”, không tuân thủ các quy định nội bộ của ngân hàng, quy trình làm việc của các ngân hàng còn nhiều sơ hở, chưa đảm bảo an toàn tuyệt đối cho khách hàng. Ngoài những thách thức liên quan đến yếu tố chủ quan thì sự phát triển của khoa học CNTT và số hóa cũng tác động/ảnh hưởng rất nhiều đến việc tuân thủ pháp luật về BMTT khách hàng của các TCTD.
Về thực hiện quyền chấm dứt HĐTD: đây là một trong những quyền cơ bản trong hợp đồng dân sự, tuy nhiên việc thực hiện quyền chấm dứt HĐTD tất yếu sẽ kéo theo việc hoàn trả ngay lập tức khoản vay đã được TCTD cấp, gây khó khăn đến nguồn tiền và cơ cấu vốn của chủ thể đi vay. Do đó, pháp luật cần thiết có những quy định cụ thể bảo đảm cho chủ thể đi vay thực hiện quyền này khi TCTD phạm các nội dung đã ký kết trong HĐTD.
2.3. Hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay trong hợp đồng tín dụng
2.3.1. Sự cần thiết phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay trong hợp đồng tín dụng
Trong bối cảnh nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, HĐTD ngày càng trở nên quan trọng đối với các doanh nghiệp và cá nhân có nhu cầu tài chính. Với vai trò là một công cụ pháp lý thiết yếu để TCTD và chủ thể đi vay có thể thực hiện hoạt động cho vay một cách hợp pháp và an toàn, việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các bên, trong đó cần nghiên cứu thiết lập các cơ chế bảo vệ quyền lợi chủ thể đi vay nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng, tránh các hành vi lạm dụng từ phía TCTD khi đưa vào những điều khoản bất lợi cho chủ thể đi vay.
Quan hệ tín dụng chịu sự điều chỉnh của nhiều ngành luật do đó tạo nên nhiều “sự rắc rối, khó hiểu”, nhiều trường hợp áp dụng luật chưa phù hợp gây kéo dài trong việc xử lý tranh chấp tại tòa án. Bên cạnh đó, do tính linh hoạt, chủ động trong quan hệ hợp đồng nên tình trạng TCTD còn đặt ra nhiều điều khoản có lợi cho mình, kể cả những điều khoản không đúng pháp luật như tác giả đã đề cập, đẩy chủ thể đi vay vào thế yếu trong quá trình thực hiện HĐTD và rủi ro pháp lý khi phát sinh tranh chấp. Từ những lý do này, pháp luật về HĐTD cần được hoàn thiện nhằm mục đích: (i) Tạo sự bình đẳng, công bằng của các chủ thể trong việc đàm phán, giao kết HĐTD; (ii) Giải quyết những mâu thuẫn về lợi ích, củng cố và tạo niềm tin giữa các bên trong quan hệ hợp đồng; (iii) Thống nhất cách áp dụng pháp luật trong xử lý tranh chấp về hợp đồng tín dụng tại tòa án.
2.3.2. Định hướng hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay trong hợp đồng tín dụng Luận văn: Thực trạng PL về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay.
- Thứ nhất, hướng đến mục tiêu công bằng, bình đẳng giữa các chủ thể trong quan hệ HĐTD
Mục tiêu công bằng, bình đẳng vốn dĩ là bản chất cơ bản giữa các chủ thể trong quan hệ hợp đồng. Song song với mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia HĐTD, quan hệ tín dụng còn bị tác động bởi những mục tiêu điều hành thị trường tiền tệ của các cơ quan nhà nước, mà phần nhiều tạo vị thế cho các TCTD trong quá trình xét duyệt cho vay, soạn thảo ký kết hợp đồng, quản lý và thu hồi nợ,…Do đó việc can thiệp bằng các quy định pháp luật sao cho phù hợp, bảo đảm bình đẳng giữa các bên là một đòi hỏi không dễ dàng đối với các nhà làm luật.
Với đặc điểm địa vị không đồng đều khi giao kết HĐTD, trong đó TCTD có lợi thế với các mẫu hợp đồng được ấn định sẵn cùng những điều khoản khung có thể gây bất lợi cho chủ thể đi vay khi thực hiện hợp đồng, do đó cần thiết phải nhận diện và loại bỏ các điều khoản khung gây bất lợi cho bên vay cũng như bổ sung các quy định phù hợp để đảm bảo các quyền của chủ thể đi vay được hiện thực hóa. Mặt khác, tùy thuộc vào chủ thể đi vay và mục đích sử dụng vốn, năng lực từng chủ thể đi vay có những khác biệt, do đó việc trao quyền cho các bên tự thỏa thuận, quyết định những quyền lợi cơ bản sẽ không thể bảo đảm quyền và lợi ích của chủ thể đi vay trong giao kết hợp đồng.
Đối với TCTD khi tham gia vào quan hệ cho vay không nên chỉ nghĩ đến lợi ích của riêng mình mà cần hướng đến lợi ích của khách hàng cũng như lợi ích cộng đồng nhận được, từ đó đồng hành, chia sẻ quyền lợi hợp đồng khi chủ thể đi vay gặp khó khăn thông qua việc gia hạn nợ, giảm lãi suất, cơ cấu nợ cũng như tránh soạn thảo những quy định không rõ ràng, gây bất lợi và thiệt hại cho chủ thể đi vay trong quá trình thực hiện hợp đồng.
- Thứ hai, thiết lập các quy định cụ thể hóa trách nhiệm của TCTD nhằm bảo đảm việc thực thi các quyền của chủ thể đi vay khi giao kết HĐTD
Để thiết lập các quy định cụ thể hóa trách nhiệm của TCTD nhằm bảo đảm việc thực thi các quyền của chủ thể đi vay khi giao kết HĐTD, tác giả cho rằng cần phải tập trung vào việc xác định rõ vai trò, trách nhiệm và quyền lợi của cả hai bên trong quá trình đi vay và cho vay, trong đó: (i) TCTD cần phải cung cấp đầy đủ thông tin và hướng dẫn cho chủ thể đi vay về các điều khoản, điều kiện, và rủi ro liên quan đến HĐTD, đảm bảo rằng chủ thể đi vay hiểu rõ các nghĩa vụ của mình trước khi ký kết HĐTD; (ii) TCTD cần thiết lập quy trình xác minh thông tin đáng tin cậy về chủ thể đi vay, bao gồm thông tin tài chính, năng lực trả nợ, và mục đích sử dụng vốn. Điều này giúp giảm thiểu rủi ro tín dụng và đảm bảo việc cho vay được thực hiện một cách bền vững, dễ hiểu, dễ tuân thủ cho chủ thể đi vay; (iii) Trong trường hợp có tranh chấp phát sinh liên quan đến việc thực thi HĐTD, cần có các quy định cụ thể về cách thức giải quyết tranh chấp, bao gồm quy trình đàm phán, trọng tài, hoặc đưa ra tòa án nếu cần thiết. Điều này giúp đảm bảo công bằng và minh bạch trong việc xử lý sự không đồng ý giữa hai bên; (iv) TCTD cần thiết lập các biện pháp quản lý rủi ro hiệu quả đối với các khoản vay, bao gồm việc đánh giá, theo dõi, và ứng phó với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, và các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến việc thực thi HĐTD; (v) TCTD cần đảm bảo rằng các cam kết trong HĐTD như lãi suất, thời hạn vay, và các điều kiện khác được thực hiện đúng hẹn và không gây bất kỳ bất cứ phiền toái nào cho chủ thể đi vay. Điều này giúp duy trì mối quan hệ đối tác tích cực giữa hai bên. Luận văn: Thực trạng PL về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay.
Việc thiết lập các quy định cụ thể như trên không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của chủ thể đi vay mà còn giúp tăng cường sự minh bạch và đáng tin cậy trong các giao dịch tín dụng giữa TCTD và khách hàng. Đồng thời, việc thúc đẩy tuân thủ các quy định này cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển bền vững của hệ thống tín dụng và nền kinh tế nói chung.
- Thứ ba, bảo vệ quyền lợi của chủ thể đi vay khi vay vốn phục vụ nhu cầu tiêu dùng
Thực trạng về những quy định trong HĐTD cho mục đích vay tiêu dùng tại Việt Nam tuy đã có những cải thiện so với trước, tuy nhiên sự thiếu bình đẳng giữa bên thế mạnh là TCTD và bên thế yếu là chủ thể đi vay vẫn còn nhiều tồn tại như đã đề cập như trên. Từ những nghiên cứu từ pháp luật một số nước, cụ thể pháp luật tại Anh: Các quy định về cho vay tiêu dùng đều hướng vào sự can thiệp của tòa án nếu thỏa thuận giữa các bên không công bằng, đồng thời ghi nhận quyền được hủy bỏ những thỏa thuận đã ký kết không công bằng đó. Hay tại Nghị định số 2008/48/EC ngày 23/04/2008 của Liên minh châu Âu quy định về HĐTD tiêu dùng đề ra nghĩa vụ của chủ thể cho vay trong việc đánh giá mức độ tín nhiệm của chủ thể đi vay trước khi ký kết HĐTD. Như vậy, khi chủ thể đi vay không có khả năng trả nợ, chủ thể cho vay cũng phải chịu trách nhiệm liên đới do không đánh giá đúng khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ thanh toán trước khi cho vay.
Tại Việt Nam, pháp luật hiện hành chưa đề cập trách nhiệm của TCTD về việc đánh giá khả năng tài chính và trả nợ trước khi cấp tín dụng phục vụ mục đích tiêu dùng. Song song đó, pháp luật cũng chưa quy định cơ quan nhà nước nào được phép can thiệp khi HĐTD có nội dung bất lợi cho chủ thể đi vay (ví dụ như các cam kết vi phạm hợp đồng và áp dụng phí phạt, bồi thường), tức chủ thể đi vay phải chịu trách nhiệm về quyết định giao kết hợp đồng của mình. Ngoài ra, với đặc điểm của hình thức vay tiêu dùng, chủ thể đi vay thường chỉ giới hạn ở một số nguồn thu nhất định, các quy định lãi suất và phí phạt thường không rõ ràng và sử dụng thuật ngữ chuyên ngành gây khó hiểu, mức lãi suất vay tiêu dùng thường cao hơn lãi suất vay kinh doanh, việc áp dụng lãi suất nợ quá hạn cố định bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn cũng là một hạn chế trong việc đảm bảo chủ thể đi vay có thể thực hiện nghĩa vụ hoàn trả gốc và lãi cho TCTD.
2.3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay trong hợp đồng tín dụng
- Thứ nhất, xây dựng các quy định nhằm ràng buộc trách nhiệm của TCTD trong việc thực hiện quyền giải ngân của chủ thể đi vay khi đã ký kết HĐTD.
Một trong những mục tiêu chính của việc xây dựng các quy định này là đảm bảo rằng TCTD không trì hoãn hoặc từ chối giải ngân một cách vô lý. Chủ thể đi vay, sau khi đã ký kết HĐTD, có quyền mong đợi rằng khoản vay sẽ được giải ngân đúng hạn để phục vụ cho các nhu cầu tài chính của mình. Việc trì hoãn giải ngân không chỉ gây thiệt hại tài chính cho chủ thể đi vay mà còn làm giảm lòng tin vào hệ thống tín dụng. Do đó, theo tác giả, để xây dựng một khung pháp lý vững chắc, các quy định pháp luật cần bao gồm những nội dung sau: (i) Các quy định cần xác định rõ thời hạn mà TCTD phải hoàn thành việc giải ngân sau khi nhận được yêu cầu từ chủ thể đi vay, kèm theo các điều kiện cụ thể đã được thỏa thuận trong HĐTD; (ii) TCTD cần có trách nhiệm xử lý hồ sơ và thực hiện các thủ tục giải ngân một cách nhanh chóng và hiệu quả. Quy định nên bao gồm cả các biện pháp chế tài đối với TCTD nếu vi phạm các cam kết này; (iii) Các điều kiện để giải ngân cần được nêu rõ trong HĐTD, tránh những điều kiện mơ hồ hoặc không cụ thể, dẫn đến việc TCTD có thể lạm dụng để trì hoãn giải ngân; (iv) Cần có cơ chế giải quyết tranh chấp rõ ràng và hiệu quả giữa TCTD và chủ thể đi vay trong trường hợp có tranh cãi về việc giải ngân. Điều này giúp bảo vệ quyền lợi của chủ thể đi vay và duy trì sự công bằng trong quan hệ tín dụng. Luận văn: Thực trạng PL về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay.
- Thứ hai, xác định nghĩa vụ của TCTD trong việc cung cấp giải thích thông tin trong hợp đồng tín dụng
Trong quan hệ cho vay, TCTD thường là bên soạn thảo nội dung hợp đồng, trong đó có thể phát sinh những điều khoản quy định về lãi suất, phí phạt, các nội dung cam kết, nội dung tuân thủ hợp đồng,…và thường sử dụng các thuật ngữ chuyên ngành. Do đó để đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong việc cung cấp thông tin, tác giả cho rằng cần thiết ban hành các quy định pháp lý cụ thể, rõ ràng về trách nhiệm của TCTD trong việc cung cấp và giải thích thông tin cho khách hàng, cụ thể: (i) Các quy định phải yêu cầu TCTD cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết về điều khoản, điều kiện vay, lãi suất, phí dịch vụ, và các rủi ro liên quan. Mọi thông tin cần được trình bày một cách dễ hiểu và minh bạch để bên vay có thể nắm bắt đầy đủ; (ii) TCTD cần phải có trách nhiệm giải thích rõ ràng các điều khoản trong HĐTD, đặc biệt là những điều khoản phức tạp và dễ gây hiểu lầm. Quy định này cũng nên bao gồm việc TCTD phải dành thời gian để trả lời các câu hỏi và giải đáp thắc mắc của khách hàng; (iii) Cần có cơ chế giám sát chặt chẽ và quy định xử phạt nghiêm khắc đối với những TCTD vi phạm các quy định về cung cấp và giải thích thông tin. Điều này sẽ tạo ra sự răn đe và đảm bảo rằng các TCTD tuân thủ nghiêm túc các quy định pháp lý. Bên cạnh việc đào tạo nhân viên của TCTD đáp ứng tốt các yêu cầu về chuyên môn, kỹ năng tư vấn, TCTD cần có các cơ chế chính sách nhằm đánh giá và khuyến khích nhân viên trong việc tuân thủ cung cấp thông tin. Bên cạnh đó, với sự phát triển của công nghệ thông tin, TCTD cũng cần xem xét các hình thức trả lời thắc mắc qua mạng xã hội, tra cứu thông tin qua app điện tử, chat box AI,…để kịp thời giải đáp các vấn đề phát sinh trong nội dung HĐTD. Việc xác định trách nhiệm của TCTD trong việc cung cấp và giải thích thông tin trong HĐTD đòi hỏi một cách tiếp cận toàn diện, kết hợp giữa quy định pháp lý, ứng dụng công nghệ, đào tạo nhân viên và tăng cường tương tác với khách hàng. Chỉ khi các giải pháp này được thực hiện đồng bộ và hiệu quả, quyền lợi của bên vay mới được bảo vệ một cách tối đa, đồng thời tạo ra một môi trường tín dụng minh bạch, công bằng và phát triển bền vững.
- Thứ ba, tiếp tục xây dựng các quy định pháp luật nhằm xác định và ràng buộc TCTD trong việc bảo mật thông tin do chủ thể đi vay cung cấp
Một là, tiếp tục rà soát những quy định pháp luật hiện hành về việc bảo mật thông tin khách hàng, từ đó sửa đổi những quy định không phù hợp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng, đảm bảo tính đồng bộ, nhất quán với các văn bản pháp luật có liên quan khác.
Hai là, Luật các TCTD năm 2024 quy định việc TCTD phải bảo mật thông tin của khách hàng theo quy định của Chính phủ. Do đó, NHNN cần phối hợp với các bộ ngành liên quan nhằm rà soát, cụ thể hóa các trường hợp cấm, hạn chế hoặc được phép cung cấp thông tin của khách hàng nhằm bảo đảm thuận lợi cho việc thực thi pháp luật tại các TCTD.
Ba là, cần có những quy định cụ thể về nghĩa vụ bảo mật thông tin liên quan đến các chủ thể là đối tác của khách hàng bởi đây là nhóm những chủ thể không phát sinh giao dịch với ngân hàng, do đó nằm ngoài quy định tại Luật các TCTD năm 2024. Song, pháp luật cũng cần thiết ghi nhận quyền được bảo mật thông tin của những chủ thể này nhằm đảm bảo quyền lợi của họ, cũng như ràng buộc chặt chẽ trách nhiệm của TCTD hơn nữa trong việc bảo mật tất cả các thông tin giao dịch của khách hàng.
Bốn là, việc hoàn thiện pháp luật về bảo mật thông tin của chủ thể đi vay trong hoạt động của TCTD cần giải quyết hài hòa giữa lợi ích của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật về bảo mật thông tin. Chính sách pháp luật được xây dựng cần bảo đảm: (i) Xác định giới hạn cụ thể của nghĩa vụ bảo mật, hoặc những quy phạm có tính cấm đoán nêu rõ nội dung mà TCTD phải thực hiện hoặc không được thực hiện; (ii) Tăng cường các biện pháp thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật về bảo đảm bí mật thông tin của khách hàng. Song song đó, cơ quan quản lý nhà nước cần có những quy định yêu cầu TCTD báo cáo các quy định nội bộ, các quy chuẩn đạo đức, nội quy lao động liên quan đến các vấn đề về bảo mật thông tin khách hàng.
Năm là, cần xây dựng cơ chế bảo vệ quyền lợi của chủ thể đi vay khi thông tin của họ bị cung cấp không đúng quy định của pháp luật. Nếu chủ thể đi vay nhận thấy quyền được bảo mật thông tin của mình bị vi phạm nhưng chưa xác định cụ thể chủ thể xâm phạm là ai (trong những đối tượng mà TCTD được quyền cung cấp thông tin), thì phải áp dụng các biện pháp khiếu nại khởi kiện bằng cách nào, hoặc có được gửi yêu cầu bồi thường cho TCTD đã cung cấp thông tin hay không. Việc chứng minh chứng cứ trong trường hợp này cũng gặp nhiều khó khăn, do đó cần thiết phải: (i) TCTD phải ban hành quy trình giải quyết khiếu nại và công bố công khai; (ii) Có quy định cụ thể trong HĐTD về các nguyên tắc giải quyết khiếu nại tuân theo quy trình giải quyết khiếu nại đã được công bố; (iii) Trường hợp việc giải quyết khiếu nại không đạt được kết quả, cần thiết quy định một cơ quan thanh tra NHNN chịu trách nhiệm giải quyết, giám sát việc xử lý khiếu nại. Việc theo dõi và tăng cường giám sát của cơ quan thanh tra cũng sẽ tạo tác động hiệu quả hơn trong việc thực thi nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng tại các TCTD.
- Thứ tư, thiết lập các quy định pháp luật nhằm hiện thực hóa quyền chấm dứt hợp đồng của chủ thể đi vay Luận văn: Thực trạng PL về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay.
Việc thiết lập các quy định pháp luật nhằm hiện thực hóa quyền chấm dứt hợp đồng của chủ thể đi vay là một phần quan trọng trong hệ thống pháp luật dân sự và thương mại. Các quy định này không chỉ bảo vệ quyền lợi của chủ thể đi vay mà còn đảm bảo sự công bằng, minh bạch trong quan hệ hợp đồng giữa các bên, từ đó góp phần ổn định và phát triển kinh tế – xã hội. Do đó theo tác giả, các nhà lập pháp nên thiết lập các quy định cụ thể cho phép chủ thể đi vay thực hiện quyền chấm dứt HĐTD khi: (i) Trong trường hợp chủ thể cho vay vi phạm nghiêm trọng các nghĩa vụ trong hợp đồng, chủ thể đi vay có quyền chấm dứt hợp đồng mà không phải chịu trách nhiệm pháp lý về việc chấm dứt này. Ví dụ, nếu chủ thể cho vay không thực hiện đúng cam kết về việc giải ngân vốn vay, chủ thể đi vay có thể chấm dứt hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại; (ii) Chủ thể đi vay có quyền chấm dứt hợp đồng mà không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng như thiên tai, dịch bệnh, hoặc các sự kiện ngoài tầm kiểm soát của các bên có thể dẫn đến việc hợp đồng không thể tiếp tục thực hiện. Việc hiện thực hóa quyền chấm dứt hợp đồng của chủ thể đi vay là rất cần thiết trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Những quy định này không chỉ bảo vệ quyền lợi của chủ thể đi vay mà còn đảm bảo sự công bằng, minh bạch và hiệu quả trong các giao dịch dân sự và thương mại, góp phần vào sự ổn định và phát triển của nền kinh tế.
- Thứ năm, bổ sung một số quy định bảo vệ quyền lợi của chủ thể đi vay khi vay vốn phục vụ nhu cầu tiêu dùng
Từ những thực trạng nêu trên, tác giả cho rằng cần thiết bổ sung những quy định: (i) Nâng cao trách nhiệm của TCTD trong quá trình thẩm định và đánh giá tín nhiệm của chủ thể đi vay; (ii) Không công nhận các nội dung về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại nếu chủ thể đi vay đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ cơ bản trong HĐTD; (iii) Ban hành quy định điều chỉnh mức lãi suất nợ quá hạn trong hoạt động cho vay tiêu dùng không vượt quá 120% lãi suất trong hạn. Việc áp quy định rõ ràng và cụ thể các nhóm quy định trên cũng nhằm mục đích minh bạch hóa thị trường trong hoạt động cho vay tiêu dùng, giảm thiểu tình trạng “tín dụng đen” gây nhiều hệ lụy cho xã hội.
- Thứ sáu, sửa đổi quy định thỏa thuận chế tài phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại do vi phạm HĐTD
Quy định hiện hành cho phép các bên thỏa thuận những điều khoản phạt và bồi thường thiệt hại, cụ thể: “Bên đi vi phạm nghĩa vụ chỉ bị phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiết hại”. Từ những thực tế đã nêu trên, việc vận dụng cơ chế tự thỏa thuận trong HĐTD là chưa hiệu quả trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của chủ thể đi vay. Theo tác giả, cần bổ sung một số quy định như sau:
Cụ thể hóa những quy định thỏa thuận phạt vi phạm trong pháp luật ngân hàng: (i) Chỉ được thỏa thuận các trường hợp phạt vi phạm HĐTD đối với chủ thể đi vay không được trái quy định pháp luật; (ii) Bổ sung các quy định vi phạm của TCTD như vi phạm nghĩa vụ giải ngân, thu hồi nợ trước hạn không có căn cứ, cung cấp các thông tin không chính xác. Mức phạt có thể tương đương với mức lãi suất mà TCTD được hưởng lợi. Ngoài ra, TCTD còn phải chịu trách nhiệm phạt hành chính đối với các hành vi vi phạm.
Cụ thể hóa đối với thỏa thuận bồi thường thiệt hại: (i) Quy định mức bồi thường thiệt hại tối đa do việc chậm hoặc không thực hiện nghĩa vụ giải ngân theo tiến độ HĐTD; (ii) Quy định cụ thể các trường hợp bồi thường thiệt hại cụ thể áp dụng đối với Chủ thể đi vay. Việc quy định cụ thể các trường hợp bồi thường thiệt hại cũng đảm bảo tính công bằng của pháp luật, tránh trường hợp TCTD cố tình đưa vào hoặc bỏ bớt những quy định bồi thường để tối ưu hóa quyền lợi của mình.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực trạng PL về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay.
Quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay trong HĐTD thời gian qua đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền của chủ thể đi vay trong HĐTD. Tuy nhiên, các quy định hiện hành cũng phát sinh một số vướng mắc như:
Chưa xác định rõ thời hạn mà TCTD phải hoàn thành việc giải ngân sau khi nhận được yêu cầu từ chủ thể đi vay; (ii) Pháp luật ngân hàng hiện hành cũng chưa quy định rõ cơ chế xác định nghĩa vụ của TCTD khi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin hợp đồng; (iii) Việc quy định xử phạt và bồi thường thiệt hại của chủ thể đi vay, bên thứ ba (liên quan thông tin bị tiết lộ) chưa được xác định cụ thể; (iv) Chưa quy định các trường hợp cụ thể để chủ thể đi vay có thể thực hiện quyền chấm dứt hợp đồng khi TCTD vi phạm cam kết.
Trong chương này, ngoài việc phân tích thực trạng, thực tiễn thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay, tác giả còn đưa ra những định hướng và đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay trong HĐTD. Cụ thể:
Một là, qua nội dung thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay trong HĐTD trong Chương 2, tác giả đã cho thấy sự cần thiết phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay trong hợp đồng tín dụng, qua đó đưa ra các định hướng hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay trong hợp đồng tín dụng bao gồm: (i) Hướng đến mục tiêu công bằng, bình đẳng giữa các chủ thể trong quan hệ HĐTD; (ii) Thiết lập các quy định cụ thể hóa trách nhiệm của TCTD nhằm bảo đảm việc thực thi các quyền của chủ thể đi vay khi giao kết HĐTD; (iii) Chỉ ra nguyên nhân cần có những quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ thể đi vay khi vay vốn phục vụ nhu cầu tiêu dùng.
Hai là, với những định hướng hoàn thiện pháp luật và những quy định hiện hành điều chỉnh trong quan hệ cho vay, tác giả đã đưa ra các luận điểm và những nội dung cần bổ sung để quyền và lợi ích của chủ thể đi vay được bảo đảm trong thực tiễn, bao gồm: (i) Xây dựng các quy định nhằm ràng buộc trách nhiệm của TCTD trong việc thực hiện quyền giải ngân của chủ thể đi vay khi đã ký kết HĐTD; (ii) Xác định trách nhiệm của TCTD trong việc cung cấp giải thích thông tin trong hợp đồng tín dụng; (iii) Hoàn thiện quy định pháp luật để xác định và ràng buộc TCTD trong việc bảo mật thông tin do chủ thể đi vay cung cấp; (iv) Thiết lập các quy định pháp luật cụ thể nhằm hiện thực hóa quyền chấm dứt hợp đồng của chủ thể đi vay; (v) Bổ sung một số quy định bảo vệ quyền lợi của chủ thể đi vay khi vay vốn phục vụ nhu cầu tiêu dùng; (vi) Sửa đổi quy định thỏa thuận chế tài phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại do vi phạm HĐTD. Các nội dung đề xuất không chỉ hoàn thiện các bất cập về quyền lợi của chủ thể đi vay trong HĐTD trong thực tế mà còn nhằm tạo ra hành lang pháp lý an toàn, minh bạch, hiệu quả, qua đó tạo tiền đề để quan hệ cho vay phát triển một cách công bằng, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên.
KẾT LUẬN Luận văn: Thực trạng PL về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay.
Với những nội dung đã trình bày tại Luận văn với đề tài “Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay trong hợp đồng tín dụng”, tác giả đã tìm hiểu, đánh giá, phân tích không chỉ đối với quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay mà còn đánh giá ở khía cạnh tương ứng đối với TCTD dưới góc độ lý luận và thực tiễn áp dụng. Với nội dung 02 chương bao gồm: (i) Lý luận về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay trong hợp đồng tín dụng; (ii) Thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay trong hợp đồng tín dụng và giải pháp hoàn thiện, trên cơ sở tham khảo các tài liệu, luận án, luận văn liên quan cùng với những đánh giá, so sánh với các quy định cho vay hiện tại, tác giả đã tiếp thu và nhận diện các bất cập trong những quy định cho vay hiện tại trong việc bảo đảm tính công bằng trong quan hệ HĐTD. Chính những quy định này trên thực tiễn đã làm hạn chế vị thế của chủ thể đi vay, từ đó có những tác động tiêu cực lên quan hệ giữa các bên trong HĐTD. Từ những quy định hiện hành và những bất cập hạn chế thực tiễn, tác giả đã đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện, khắc phục hạn chế của các quy định hiện hành, đóng góp khoa học và có một số giá trị ứng dụng nhất định:
Thứ nhất, luận văn đã khái quát và tiếp thu các nghiên cứu trước đó, bổ sung một số quy định hiện hành nhằm hoàn thiện cơ sở lý luận về khái niệm về HĐTD, chủ thể đi vay cũng như cơ sở phát sinh quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay. Các nhóm quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay cũng được tác giả làm rõ để cho thấy những quy định chặt chẽ trong hoạt động cho vay không chỉ nhằm mục đích điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia HĐTD mà còn phải đảm bảo sự an toàn, ổn định của thị trường tài chính thông qua sự điều tiết của Nhà nước. Tuy vậy, những quy định trong hoạt động tín dụng cũng phải hướng đến mục tiêu cân bằng quyền và lợi ích của các bên tham gia, nhất là bảo vệ các quyền chính đáng của chủ thể đi vay nhằm đối trọng với bên soạn thảo hợp đồng là các TCTD.
Thứ hai, luận văn cũng đã chỉ ra một số tình huống thực tế trong việc soạn thảo hợp đồng, một số tranh chấp phát sinh qua nhiều cấp xét xử tại tòa án để hạn chế thấp nhất khả năng phải gánh chịu các chế tài, trong đó có chế tài hình sự trong việc giải quyết tranh chấp HĐTD. Luận văn: Thực trạng PL về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay.
Thứ ba, luận văn cũng tạo cơ sở để tham khảo và phát triển các nghiên cứu về HĐTD, rủi ro cho hoạt động cho vay hoặc là cơ sở để TCTD ban hành những quy trình, quy định cho vay phù hợp nhằm đảm bảo hơn lợi ích của các bên.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay trong hợp đồng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Luận văn: Thực trạng PL về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay
Luận văn: Thực trạng PL về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay
Luận văn: Thực trạng PL về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đi vay