Khóa luận: Thực trạng pháp luật sáp nhập mua bán doanh nghiệp

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng pháp luật sáp nhập mua bán doanh nghiệp hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng pháp luật về sáp nhập và mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1 Hoạt động M&A Việt Nam trong những năm gần đây:

Tổng quan M&A thế giới trong những năm 2015, 2016: Nếu như năm 2015 được thúc đẩy bởi những điều kiện kinh tế vĩ mô thuận lợi, mức tiền mặt cao cùng mức lãi suất thấp, thị trường mua bán và sáp nhập M&A đã ghi nhận nhiều thương vụ ở hầu hết các khu vực địa lý và trải dài khắp các lĩnh vực thì bước vào năm 2016, thị trường M&A phải đón nhận vài tác động xấu có thể cản trở dòng chảy giao dịch và định giá.

Số lượng các giao dịch và giá trị thương vụ M&A được ghi nhận trên toàn thế giới đạt mức kỷ lục trong năm 2015. Khối lượng các thương vụ M&A trên toàn thế giới đã tăng 4% từ con số 31.963 trong năm 2014 tăng lên mức 33.365 thương vụ vào năm 2015 và làm lu mờ đi con số 32.856 giao dịch vào thời kỳ đỉnh cao của thị trường trong năm 2005. Nối tiếp thị trường M&A tăng trưởng mạnh mẽ năm 2014, giá trị của các thương vụ M&A trên toàn cầu đã tăng thêm 29% từ 3.890 tỷ USD trong năm 2014 lên mức 3.890 tỷ USD vào năm 2015, tăng gấp đôi giá trị so với mức trung bình ba năm trước năm 2014 là 1.930 tỷ USD. Trên toàn thế giới, số lượng các giao dịch có giá trị hàng tỷ USD đã tăng 10% từ con số 489 năm 2014  lên 536 giao dịch trong năm 2015. Tổng giá trị các thương vụ tỷ USD trên toàn cầu đã tăng 45% từ 2.020 tỷ USD đến 2.940 tỷ USD.[18]

Cùng với sự sôi động của thị trường M&A khu vực và thế giới, thị trường Việt Nam cũng có những ảnh hưởng tích cực. Tại Việt Nam, hoạt động M&A năm 2015 đã trở lại mốc kỷ lục 5,2 tỷ USD được thiết lập từ năm 2012. Trong năm 2016 cũng đã diễn ra nhiều thương vụ quy mô và có giá trị kinh tế cao. Khóa luận: Thực trạng pháp luật sáp nhập mua bán doanh nghiệp.

Ngoài ảnh hưởng của xu hướng M&A thế giới và khi vực, các yếu tố chính thúc đẩy hoạt dộng M&A tại Việt Nam trong những năm qua là làn sóng tiếp cận thị trương của các nước trong khi vực mà điển hình là Thái Lan, Singapore, Nhật Bản.  Ngoài ra, sự phục hồi của thị trường bất động sản và sự kỳ vọng vào việc Việt Nam gia nhập vào Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và thành viên của Cộng đồng chung kinh tế ASEAN (AEC) cũng là những yếu tố quan trọng.

Bên cạnh đó, cuối năm 2015 và đầu năm 2016 là khởi đầu của một nhiệm kỳ mới cùng với những động thái mạnh mẽ của Chính phủ về quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, thúc đẩy kinh tế tư nhân, cải cách một số luật lệ liên quan đến doanh nghiệp và đầu tư, môi trường vĩ mô ổn định cũng sẽ là yếu tố thúc đẩy các doanh nghiệp trong và ngoài nước mạnh dạn hơn trong hoạt động M&A.  Xét về số lượng thương vụ, các thương vụ giữa các doanh nghiệp nội chiếm đã số vơi trên 60%. Tuy nhiên, giá trị các thương vụ này chủ yếu ở quy mô nhỏ và vừa, quanh ức 5 triệu USD. Nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục đóng vai trò quan tọng với các thương vụ quy mô lớn từ 30 đến trên 100 triệu USD. Đáng chú ý, đã xuất hiện những thương vụ chuyển nhượng những công ty hoặc hệ thống có tài sản lớn, quy mô trên 1 tỷ USD tại thị trường Việt Nam.[12]

Thái Lan, Singapore, Nhât Bản vẫn là những người mua chủ yêu tại thị trường Việt nam. Trong khi Nhật Bản tham gia đầu tư chiến lược vào các công ty hàng không, xăng dầu, dược phẩm, thì Singapore nổi lên với những thương vụ bất động sản thương mại và Thái Lan tiếp tục tập trung vào mảng bán lẻ với mục tiêu mở rộng thị trường.

Các ngành bán lẻ, công nghệ, tiêu dùng, bất động sản tiếp tục chiếm tủ trọng lớn trong giá trị các thương vụ M&A tại Việt Nam. Đây cũng là những lĩnh vực thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài cũng như các nhà đầu tư có tiềm lực trong nước. Ngành ngân hàng đã bước vào ổn định dần sau các thương vụ tái cấu trúc và sắp xếp của ngân hàng nhà nước và phát triển thêm xu hướng đầu tư vào các dịch vụ ngân hàng bán lẻ, tài chính tiêu dùng.

Qua đó ta có cái nhìn chung về xu hướng chính củ thị trường M&A Việt Nam trong những năm gần đây:

Thứ nhất, lĩnh vực bán lẻ và hàng tiêu dùng: những thương vụ tiếp cận thị trường hơn 93 triệu dân. Đi đầu các thương vụ M&A trong năm qua là ngành bán lẻ và hàng tiêu dùng, chiếm tới 38,46% tổng giá trị. Trong đó quy mô của 2 thương vụ M&A từ Thái Lan đã chiếm 24,8% giá trị M&A năm 2015 nửa đầu năm 2016. Tuy không có nhiều thương vụ diễn ra, nhưng nhàng sản xuất thực phẩm và bán lẻ lại có những thương vụ tỷ đô với sự tha gia của của các doanh nghiệp ngoại. Trong ngành bán lẻ, thương vụ đáng chú ý nhất đó là Central Group mua lại BigC Việt Nam với giá 1.140 tỷ USD với tham vọng chi phối ngành bán lẻ Việt. Cũng trong ngành bán lẻ, thương vụ Vingroup mua lại hệ thống siêu thị Maximark tuy không được tiết lộ giá trị nhưng theo giới chuyên môn, đây cũng là một thương vụ có giá trị lớn. Bên cạnh đó thương vụ tỷ đô khác là Singha trở thành đối tác chiến lược của Masan với giá trị 1,1 tỷ USD thông qua việc nắm giữa 25% cổ phần của Masan Consumer Holding và 33% cổ phần Masan Brewery. Khóa luận: Thực trạng pháp luật sáp nhập mua bán doanh nghiệp.

Lĩnh vực thương mại điện tử trong khu vực Đông Nam Á đã trở thành trọng tâm cho các công ty hàng tiêu dùng. Trước đó, công ty thương mại điện tử lớn nhất Trung Quốc Alibaba Group Holding đã chi 1 tỷ USD mua cổ hần kiểm soát tại khi vực Đông Nam A của Lazada, trang bán lẻ trực tuyến đang giữ ngôi vương tại Việt nam. Tại thị trường Việt Nam, theo thống kê của Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM) lĩnh vực thương mại điện tử được dự đoán sẽ tăng trưởng hơn 30% mỗi năm từ năm 2016 đến 2020, với quy mô giá trị vào năm 2020 ước tính đạt 10 tỷ USD, chiếm khoản 5% thị trường bán lẻ. [12]

Thứ hai, khối ngoại chiếm ưu thế, với các nhà đầu tư Thái lan, Nhật Bản và Singapore.

Thứ ba, Bất động sản tiếp tục đón đầu TPP. Đã phục hồi từ cuối năm 2014 kéo thị trường bất động sản 2015 tiếp tục khởi sắc với những tín hiệu tích cực của thị trường và theo nhận định là đang bước vào thời kỳ phát triển mới. Bất động sản tiếp tục nhận được sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài Hàn Quốc, Nhật Bản, và Singapore. Giao địch đáng chú ý nhất là thương vụ giữa Keppel Land và chủ đầu tư dự án Empire City tại quận 2, TP HCM, trong đó Keppel đã nhận chuyển nhượng 40% cổ phần, tương đương với 93,9 triệu USD. Ở trong nước, các nhà phát triển dự án nội địa cũng không ngừng mở rộng và tìm mua các dự án tốt. Ví dụ như Bitexco có những động thái mở rộng vào bất động sản du lịch, với thương vụ mua cổ phần Công ty Du lịch Hương Giang (Huế).

Diễn biến của thị trường đã cho thấy doanh nghiệp nào sớm xác định M&A là hướng đi chiến lược đang thu hoạch được nhiều thành công lớn. Nhìn lại quá trình M&A của một số doanh nghiệp được đánh giá nổi trội trong lĩnh vực BĐS có thể khẳng định đây là một trong những yếu tố để nắm được cơ hội kinh doanh ở thời điểm thị trường tốt nhất. Thông qua M&A, một loạt doanh nghiệp BĐS đã “lột xác” hoàn toàn.

Chẳng hạn như Novaland, với 4 dự án ở năm 2013, đến nay đã phát triển trên 40 dự án ở phân khúc trung và cao cấp. Trong năm 2016, số lượng dự án đã hoàn thành và bàn giao là 7 dự án, và 21 dự án mới đã và đang được phát triển. Một tên tuổi khác đáng chú ý về lĩnh vực M&A trong năm qua là Công ty CP Địa ốc Đất Xanh, với 7 dự án đã M&A, nâng tổng số dự án đang triển khai lên 20 dự án. Dự án M&A quy mô lớn trong năm 2016 của doanh nghiệp này là tại khu trung tâm Nam Rạch Chiếc (Phường An Phú, Quận 2) – Zem Riverside với tổng vốn 1.071 tỷ đồng, quy mô 6,7ha.

Những ngày cuối cùng của năm 2016, Đất Xanh cũng đã chính thức công bố hợp tác đầu tư với Công ty Địa ốc Sài gòn để cùng phát triển dự án SaigonRes Riverside (P.Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, Tp.HCM) với quy mô đất 67.221 m2, tổng vốn là 950 tỷ đồng, trong đó Đất Xanh góp 75%, tương đương 712,5 tỷ đồng. Trước đó, Đất Xanh cũng đã thỏa thuận xong thương vụ chuyển nhượng cổ phần từ Công ty CP Đầu tư hạ tầng và đô thị Dầu Khí (Dầu khí Thăng Long – Petrol Land) trị giá 564 tỷ đồng để nhận quyền phát triển dự án khu nhà ở chung cư cao tầng (P.Phước Long B, Quận 9, Tp.HCM) với diện tích 8,57ha, được UBND Thành phố chấp thuận đầu tư vào năm 2014.[12]

Với Vingroup, năm qua, nhờ đẩy mạnh chiến lược đầu tư vào các dự án bất động sản thông qua các thương vụ mua lại nhiều công ty địa ốc những năm trước đó, doanh nghiệp này liên tục bung nguồn hàng ra thị trường ở khắp các tỉnh thành, nhất là Tp.HCM, Hà Nội. Vào thời điểm thị trường khó khăn, M&A thể hiện mình là công cụ giảm hàng tồn kho và giải thoát cho những doanh nghiệp sa lầy. Doanh nghiệp ngày càng chuộng việc mua lại các dự án để rút ngắn tối đa thời gian đưa sản phẩm ra thị trường. Bởi vậy, hợp tác giữa các doanh nghiệp sẽ là yếu tố tất yếu.

Theo các chuyên gia dự đoán trong năm 2017 hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp, chuyển nhượng dự án sẽ phát triển mạnh hơn trước đây. Trong đó, bất động sản là một trong hai lĩnh vực có mức độ M&A sôi động nhất hiện nay bên cạnh ngành bán lẻ. Khóa luận: Thực trạng pháp luật sáp nhập mua bán doanh nghiệp.

Năm 2017, mua bán sáp nhập doanh nghiệp sẽ mạnh hơn, bởi cơ hội và điều kiện cho các thương vụ M&A rất lớn. Tp.HCM đang có 500 dự án tạm ngưng triển khai”, theo ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch hiệp hội Bất động sản Tp.HCM cho biết. Cũng theo ông Châu, doanh nghiệp nội với kinh nghiệm và sự am hiểu thị trường sẽ tiếp tục dẫn dắt thị trường trong thời gian tới: “Dù rằng, dòng vốn ngoại rót vào thị trường bất động sản vẫn lớn, thị trường bất động sản Tp.HCM chiếm đến 40,9% (326,8 triệu USD) vốn FDI của thành phố, nhưng doanh nghiệp nội đang dẫn dắt thị trường bán hàng lẫn M&A chứ không phải doanh nghiệp ngoại”.[15]

Thứ tư, Ngân hàng, tài chính – các thương vụ liên quan đến tài chính tiêu dùng. Xu hướng mua lại các công ty tài chính cũng được thể hiện rõ với sự tham gia của các ngân hàng trong nước cũng như các đối tác nước ngoài. Các ngân hàng SHB, VPBank, MB đều tham gia mua lại công ty tài chính từ các tập đoàn tổng công ty nhà nước và tái cơ cấu thành các công ty cung cấp tài chính tiêu dùng.

Thương vụ đáng chú ý trong năm là Credit Saigon Nhật Bản đầu tư vào HDBank Finance và thương vụ Công ty TNHH Bảo hiểm Dongbu – một công ty bảo hiểm đến từ Hàn Quốc đầu tư vào Công ty Bảo hiểm Bưu điện PTI.

Trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ có hai thương vụ chuyển đổi đáng chú ý. Tháng 10/2015, ACE – một trong những tập đoàn bảo hiểm tài sản và Tập đoàn bảo hiểm Chubb – một “thương hiệu Mỹ” nổi tiếng với lịch sử hoạt động trên 130 năm, đã đi đến thỏa thuận sáp nhạp thành một tập đoàn bảo hiểm lớn thứ 4 toàn cầu mang tên Chubb. Tháng 4/2016, ACE Life đã chính thức đổi tên thành Chubb Life tại thị trường Việt Nam.

Thứ năm, Xu hướng khởi nghiệp – nguồn tiềm năng cho các thương vụ M&A.  Chưa năm nào, khởi nghiệp và start-up được nhắc nhiều đến như thời điểm những năm gần đây. Số lượng các doanh nghiệp start-up đầu tư cũng tăng 2,4 lần, từ 28 doanh nghiệp năm 2014 lên đến 67 doanh nghiệp năm 2015, 50 doanh nghiệp năm 2016.[12]

4 lĩnh vực được đầu tư mạnh trong là thương mại điện tử, truyền thông, tài chính trên nền tảng công nghệ (fintech), giáo dục trên nền tảng công nghệ (edtech). Trong đó, gần nửa số đầu tư ban đầu (angel/seed) cho các doanh nghiệp Việt đến từ các nhà đầu tư nước ngoài.

Một số thương vụ mua lại điển hình như: Vietnamm mua lại Foodpanda, Weeby.co mua lại Tappy, Yellow Mobile mua lại Clever Ads Corp và Websosanh. Khóa luận: Thực trạng pháp luật sáp nhập mua bán doanh nghiệp.

Một trong những thương vụ ấn tượng và tạo khích lệ nhất cho cộng đồng Startup người Việt Nam cả trong nước và nước ngoài, đó là tập đoàn quốc tế Fossil mua lại Misfit – một doanh nghiệp đặt tại Việt nam với trị giá 260 triệu USD.

Và có thể nói rẳng, trong không gian kinh tế mở này, một cuộc đua mới đã thực sự bắt đầu:

Với AEC được hình thành, khu vực ASEAN trở thành một khu vực kinh tế quan trọng và trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư quốc tế. Tổng giá trị vốn FDI đầu tư vào ASEAN năm 2014 đã đạt mốc 136,2 tỷ USD, đưa ASEAN thành khu vực tiếp nhận đầu tư lớn nhất trong các quốc gia đang phát triển. Ở phạm vi quốc gia và khu vực, các quốc gia sẽ phải cạnh tranh để thu hút dòng vốn FDI và M&A vào quốc gia mình. [15]

Các nhà đầu tư cũng đang nằm trong cuộc đua tìm cơ hội đầu tư tốt nhất trong giai đoạn này. Cuộc đua tim cơ hội mới trong các lĩnh vực bán lẻ, tiêu dùng, công nghiệp , bất động sản, nông nghiệp sẽ diễn ra mạnh mẽ. Cơ hội cho thoái vốn cho các doanh nghiệp nhà nước lớn tại Việt Nam vẫn còn rộng mở cho các nhà đầu tư nước ngoài và cả các nhà đầu tư trong nước có tiềm lực.

Ở phạm vi doanh nghiệp, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đang trong cuộc đua để cạnh tranh thu hút các dòng vốn ngoại cũng như cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài trong việc tiếp cận thị trường Việt Nam và khu vực. Các thương vụ M&A tiếp tục tập trung nhiều vào lĩnh vực bán lẻ, hàng tiêu dùng, bất động sản. Ngoài ra các lĩnh vực viễn thông, năng lượng, hạ tầng bao gồm hạ tầng cảng biển và hàng không, vật liệu có thể sẽ xuất hiện những thương vụ lớn, đóng góp giá trị đáng kể cho hoạt động M&A tại Việt Nam trong giai đoạn tới.

Những thương vụ lớn sẽ tiếp tục lộ diện dần trong những năm tới. Thị trường có thể trông đợi các thương vụ phát hành riêng lẻ để chọn đối tác chiến lược của doanh nghiệp nhà nước lớn cổ phần hóa và sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài. Mặt khác, những thương vụ chuyển nhượng liên quan đến các dự án đầu tư nước ngoài có thể sẽ đóng góp nhiều hơn vào bức tranh M&A Việt Nam.

2.2 Một số thương vụ M&A điển hình tại Việt Nam: Khóa luận: Thực trạng pháp luật sáp nhập mua bán doanh nghiệp.

Dưới đây là bảng tổng hợp những thương vụ M&A nổi bật trong năm 2015, 2016 theo báo cáo phân tích của KPMG; Capital IQ, trích ngày 22/07/2016:

Bên mua   Bên bán   Doanh nghiệp mục tiêu (hoạt động tại Việt Nam % Triệu USD
         Năm 2016
1 Tập đoàn Central Group Thái Lan Tập đoàn Casino Guichard-Perrachon Pháp Big C Việt Nam 100% 1,145
2 Công ty Singha Asia Holding Singapore Tập đoàn Thực phẩm Masan 25%;

33%

1,100
3 Tập đoàn TCC Holding Thái Lan Tập đoàn Metro Cash&Carry International Đức Metro Cash&Carry Việt Nam 100% 695
4 Công ty Mapletree Investments Singapore Công ty Kumho Industrial; Asiana Arilines Hàn Quốc Kumho Asiana Plaza Sài Gòn 100% 215
5 Công ty Far Eastern Investment Đài Loan Far Eastern Polytex 210
6 Tập đoàn ANA Holdings Nhật Bản Việt Nam Airlines Việt Nam Việt Nam Airlines 8% 109
7 Công ty Taisho Pharmaceutical Nhật Bản Công ty dược Hậu Giang(DHG) Việt Nam Công ty dược Hậu Giang (DHG) 25% 98
8 Ngân hàng Public Bank Berhad Malaysia Ngân hàng BIDV Việt Nam Public Bank Việt Nam 50% 77
9 Công ty BĐS Khải Hưng Việt Nam Công ty VinaLand; VinaCapital Việt Nam Công ty Phát triển Quốc tế Thể kỷ 21 100% 74
10 Công ty kinh doanh địa ốc New Life Việt Nam Công ty Dalton Investment Singapore Công ty Vinametric 100% 49
         Năm 2015    Khóa luận: Thực trạng pháp luật sáp nhập mua bán doanh nghiệp.
1 Tập đoàn Modelez International Hoa Kỳ Tập đoàn KIDO Việt Nam Công ty Kinh Do Binh Duong 80% 597
2 Tập đoàn CREED Corporation Nhật Bản Công ty bất động sản AnGia 20% 200
3 Power Buy Thái Lan Công ty NKT New Solution technology Tập đoàn thương mại Nguyễn Kim 49% 200
4 Công ty CP Đầu tư Quốc tế Viettel Investment Việt Nam Ngân hàng Quân đội MBB 10% 191
5 Tập đoàn JX Nippon Oil Energy Nhật Bản Tập đoàn Petrolimex Việt Nam Tập đoàn Petrolimex 8% 184
6 Công ty Chứng khoán BIDV Việt Nam Ngân hàng TMCP Phát triển Nhà Đồng bằng sông Cửu Long MHB 100% 164
7 Nord Anglia Education Hồng Kong British International School 90% 155
8 Tập đoàn TNR Holdings Việt Nam Việt Nam Vingroup Việt Nam Tháp TNR tại Hà Nội 100% 110
9 Công ty Gaw Capital; Gaw NP Capital Hồng Kong Công ty Indochina Land; Indochina Land 2 Việt Nam Dự án BĐS Vinaland Việt Nam 100% 106
10 Tập đoàn Warburg Pincus Hoa Kỳ Vingroup Việt Nam Trung tâm thương mại Vincom 100

Bảng 2.1: tổng hợp những thương vụ M&A nổi bật trong năm 2015, 2016

2.3 Nội dung pháp luật về sáp nhập và mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam Khóa luận: Thực trạng pháp luật sáp nhập mua bán doanh nghiệp.

Để thực hiện giao dịch M&A, nhà đầu tư phải tuân thủ nhiều quy định pháp luật điều chỉnh cụ thể từng khía cạnh của hoạt động này, như Luật Cạnh tranh, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán, Bộ luật Lao động…

Xét ở góc độ quyền của doanh nghiệp, các quy định pháp luật của Việt Nam đã công nhận quyền thực hiện giao dịch M&A của nhà đầu tư, như Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán, Bộ luật Dân sự, Luật Các tổ chức tín dụng… Quyền này được thể hiện thông qua một số quyền như: quyền được chào bán cổ phần, hoặc giá trị phần góp vốn của người chủ sở hữu vốn, hoặc giá trị phần vốn được quyền chào bán của doanh nghiệp, quyền bán doanh nghiệp (bao gồm bán tài sản của doanh nghiệp, chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp đang sở hữu, hoặc bán toàn bộ doanh nghiệp nhà nước), quyền mua lại doanh nghiệp của các tổ chức kinh tế Việt Nam.

Đánh giá chung thì có thể thấy rằng, Việt Nam không có một khung pháp lý thống nhất cho M&A. Thay vào đó, các quy định pháp luật về M&A nẳm rải rác ở nhiều luật khác nhau. Một số luật quan trọng mà một người giao dịch M&A ở Việt Nam cần lưu ý khi xem xét một thương vụ M&A bao gồm: Bộ luật Dân sự, Luật Doanh Nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Cạnh tranh và Luật Chứng khoán. Khóa luận: Thực trạng pháp luật sáp nhập mua bán doanh nghiệp.

Đối với việc mua lại một công ty mục tiêu hoạt động trong các lĩnh vực có điều kiện nhất đinh, luật quản lý các lĩnh vực cụ thể được áp dụng. Ví dụ, việc mua lại một ngân hàng đồng thời được điều chỉnh bởi Luật các tổ chức tín dụng và các quy định hướng dẫn có liên quan (các nghị định và thông tư). Các quy định này, cùng với các nghị định và thông tư hướng dẫn điều chỉnh và ảnh hưởng đến cấu trúc giao dịch và thủ tục của mỗi vụ M&A.

Nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư vào một công ty bằng cách góp thêm vốn hoặc mua lại cổ phần hiện hữu trong công ty mục tiêu. Nếu công ty mục tiêu có một hoặc nhiều ngành nghề kinh doanh có quy định về điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài, các nhà đầu tư nước ngoài phải đáp ứng các điều kiện đó để tiến hành việc mua lại.

Có hai nguồn để tìm các điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài đó là các hiệp định thương mại/đầu tư mà Việt Nam đã tham gia và pháp luật Việt Nam.

Các hiệp định thương mại/đầu tư, tùy thuộc vào quốc tịch của nhà đầu tư, điều ước chung để tìm kiếm là các cam kết của Việt Nam trong các hiệp định thương mại khác nhau (Biểu cam kết dịch vụ số WT/ACC/VNM/48/Add.2 của Việt Nam khi gia nhập WTO, Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN – ACIA, Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ – AFAS, Hiệp định thương mại tự do giữa ASEAN và các nước khác gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Australia/New Zealand, Nhật Bản và Ấn Độ và Hiệp định đầu tư/đối tác/thương mại song phương giữa Việt Nam và các quốc gia khác như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc…)

Về pháp luật của Việt Nam, một số điều kiện đầu tư được quy định tại pháp luật luật của Việt Nam. Ví dụ đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực bất động sản phải đáp ứng điều kiện quy định trong Luật Kinh doanh Bất động sản của Việt Nam. Chính phủ Việt Nam đang hoàn thiện Cổng thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài FIA để cung cấp cho chúng các thông tin về điều kiện đầu tư và cũng là nơi tiện lợi cho việc tra cứu các văn bản pháp lý, thủ tục liên quan

Và dưới đây là tổng hợp một số các quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp (M&A):

2.3.1 Một số quy định của Luật Doanh Nghiệp hiện hành đối với hoạt động mua bán sáp nhập doanh nghiệp tại Việt Nam Khóa luận: Thực trạng pháp luật sáp nhập mua bán doanh nghiệp.

2.3.1.1 Các hình thức, trình tự thủ tục hoạt động M&A:

Dựa trên các quy định trong Luật Doanh Nghiệp hiện hành 2014, các hình thức, trình tự thủ tục M&A được quy định cụ thể như sau:

Hình thức thứ nhất: Nhận chuyển nhượng cổ phần hoặc phần vốn góp của các cổ đông, thành viên: Đây là trường hợp tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ cổ phần, phần vốn góp của các cổ đông, thành viên của doanh nghiệp để chi phối việc ra quyết định của doanh nghiệp hoặc thâu tóm.

Tuy nhiên, phương thức chuyển nhượng cổ phần hoặc phần vốn góp có những phạm vi nhất định, đòi hỏi các bên tham gia cần nắm chắc luật: Hạn chế về mặt thủ tục, theo quy định của pháp luật và điều lệ. Ví dụ, thành viên Công ty TNHH phải ưu tiên chuyển nhượng cho các thành viên khác trong Công ty TNHH trước khi có quyền chào bán cho bên thứ ba (cụ thể tại Khoản 1 – Điều 53 Luật Doanh Nghiệp 2014) . Đối với công ty cổ phần, hạn chế chuyển nhượng cổ phần chủ yếu áp dụng đối với cổ đông sáng lập và cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi biểu quyết. Cổ đông sáng  lập không được phép chuyển nhượng cổ phần phổ thông cho người không phải là cổ đông sáng lập trong vòng 3 năm đầu kể từ ngày CTCP được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trừ khi được sự đồng ý của Đại hội đồng cổ đông (cụ thể tại Khoản 3 – Điều 119 Luật Doanh Nghiệp 2014). Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được phép chuyển nhượng cổ phần ưu đãi biểu quyết cho người khác (cụ thể tại Khoản 3 – Điều 116 Luật Doanh Nghiệp 2014). Ngoài ra điều lệ công ty cổ phần có thể quy định các hạn chế khác áp dụng cho việc chuyển nhượng cổ phần (cụ thể tại Khoản 1 – Điều 126 Luật Doanh Nghiệp 2014).

Việc chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên công ty TNHH sẽ dẫn đến thay đổi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và cần phải được cơ quan cấp phép chấp thuận thông qua việc sửa đổi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Đối với công ty cổ phần, việc thay đổi cổ đông sáng lập không dẫn đến việc sửa đổi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nhưng công ty cổ phần vẫn phải gửi thông báo đến cơ quan đăng ký kinh doanh. Khóa luận: Thực trạng pháp luật sáp nhập mua bán doanh nghiệp.

Về phương thức chuyển nhượng cổ phần được quy định tại Điều 126 Luật Doanh Nghiệp hiện hành 2014: “2. Việc chuyển nhượng được thực hiện bằng hợp đồng theo cách thông thường hoặc thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán. Trường hợp chuyển nhượng bằng hợp đồng thì giấy tờ chuyển nhượng phải được bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng hoặc đại diện ủy quyền của họ ký. Trường hợp chuyển nhượng thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán, trình tự, thủ tục và việc ghi nhận sở hữu thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán.[…] 6. Trường hợp cổ đông chuyển nhượng một số cổ phần thì cổ phiếu cũ bị hủy bỏ và công ty phát hành cổ phiếu mới ghi nhận số cổ phần đã chuyển nhượng và số cổ phần còn lại. 7. Người nhận cổ phần trong các trường hợp quy định tại Điều này chỉ trở thành cổ đông công ty từ thời điểm các thông tin của họ quy định tại khoản 2 Điều 121 của Luật này được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký cổ đông.”

Hình thức thứ hai: Mua cổ phần, góp vốn vào doanh nghiệp trong trường hợp doanh nghiệp tăng vốn điều lệ: Đây là trường hợp tổ chức, cá nhân(không phải là thành viên, cổ đông) mua cổ phần phát hành thêm, góp thêm vốn vào doanh nghiệp khi tăng vốn điều lệ dẫn tới tổ chức, cá nhân này chi phối việc ra quyết định của doanh nghiệp. Hay ta có thể hiểu đây là trường hợp tiếp nhận

Hình thứ thứ ba: Mua hoặc bán doanh nghiệp tư nhân: Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền bán doanh nghiệp của mình cho người khác. Người mua doanh nghiệp tư nhân đăng ký thay đổi chủ doanh nghiệp để trở thành chủ doanh nghiệp tư nhân.

Trường hợp này được quy định tại Điều 187 Luật Doanh Nghiệp 2014:

“Điều 187. Bán doanh nghiệp 

  1. Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền bán doanh nghiệp của mình cho người khác. 2. Sau khi bán doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp phát sinh trong thời gian trước ngày chuyển giao doanh nghiệp, trừ trường hợp người mua, người bán và chủ nợ của doanh nghiệp có thỏa thuận khác.
  2. Người bán, người mua doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định của pháp luật về lao động.
  3. Người mua doanh nghiệp phải đăng ký thay đổi chủ doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật này.”

Chú thích: Doanh nghiệp A sau khi được mua lại, người mua doanh nghiệp trở thành chủ sở hữu mới của doanh nghiệp A

Về trình tự, thủ tục thì theo Khoản 4 Điều 187 Luật Doanh Nghiệp 2014: Sau khi ký kết xong hợp đồng mua bán doanh nghiệp và hoàn tất việc chuyển nhượng, người mua doanh nghiệp tư nhân phải đăng ký thay đổi chủ doanh nghiệp tư nhân. Người mua gửi Hồ sơ đăng ký thay đổi đến Phòng Đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp đã đăng ký. Các căn cứ pháp lý: Nghị định 78/2015 NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp và Thông tư 20/2015 TT-BKHĐT hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp.

Hình thức thứ tư: Sáp nhập doanh nghiệp: Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp sáp nhập vào một doanh nghiệp khác bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp sang cho doanh nghiệp nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập. Cụ thể các quy định của sáp nhập doanh nghiệp được quy định tại Điều 195 Luật Doanh Nghiệp hiện hành 2014. Khóa luận: Thực trạng pháp luật sáp nhập mua bán doanh nghiệp.

Chú thích: Doanh nghiệp A sáp nhập vào doanh nghiệp B.

Quy mô kinh doanh của doanh nghiệp B được mở rộng.

Thủ tục sáp nhập doanh nghiệp được quy định cụ thể tại khoản 2, hồ sơ và trình tự đăng ký doanh nghiệp được quy định rất cụ thể, chi tiết tại các Khoản 3, 4, 5 Điều 195 Luật Doanh Nghiệp hiện hành 2014.

Hình thức thứ năm: Hợp nhất doanh nghiệp: Hợp nhất là việc hai hoặc một số doanh nghiệp hợp nhất thành một doanh nghiệp mới bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang doanh nghiệp được hợp nhất, đồng thời chấm dứt tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất. Cụ thể các quy định về hợp nhất doanh nghiệp được quy định tại Điều 194 Luật Doanh Nghiệp hiện hành 2014.

Chú thích: Doanh nghiệp A và doanh nghiệp B hợp nhất tạo ra doanh nghiệp C

Thủ tục hợp nhất doanh nghiệp được quy định cụ thể tại khoản 2, hồ sơ và trình tự đăng ký doanh nghiệp được quy định rất cụ thể, chi tiết tại các Khoản 4, 5, 6 Điều 194 Luật Doanh Nghiệp hiện hành 2014.

Hình thức thứ sáu: Chia doanh nghiệp: Doanh nghiệp có thể được chia thành một số doanh nghiệp khác và doanh nghiệp bị chia chấm dứt tồn tại. Cụ thể các trường hợp chia doanh nghiệp được quy định tại Khoản 1 – Điều 192 Luật Doanh Nghiệp 2014:

“1. Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần có thể chia các cổ đông, thành viên và tài sản công ty để thành lập hai hoặc nhiều công ty mới trong một trong các trường hợp sau đây: 

  1. Một phần phần vốn góp, cổ phần của các thành viên, cổ đông cùng với tài sản tương ứng với giá trị phần vốn góp, cổ phần được chia sang cho các công ty mới theo tỷ lệ sở hữu trong công ty bị chia và tương ứng giá trị tài sản được chuyển cho công ty mới;
  2. Toàn bộ phần vốn góp, cổ phần của một hoặc một số thành viên, cổ đông cùng với tài sản tương ứng với giá trị cổ phần, phần vốn góp họ được chuyển sang cho các công ty mới;
  3. Kết hợp cả hai trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này.”

Chú thích: Doanh nghiệp A được chia thành doanh nghiệp B và doanh nghiệp C và chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp A

Thủ tục chia doanh nghiệp được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 192 Luật Doanh Nghiệp hiện hành 2014.

(7) Hình thức thứ bảy: Tách doanh nghiệp: Doanh nghiệp có thể tách bằng cách chuyển một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp hiện có để thành lập một hoặc một số doanh nghiệp mới mà không chấm dứt tồn tại của doanh nghiệp bị tách. Cụ thể các phương thức tách công ty được quy định tại Khoản 2 Điều 193 Luật Doanh Nghiệp hiện hành 2014. Khóa luận: Thực trạng pháp luật sáp nhập mua bán doanh nghiệp.

“2. Tách công ty có thể thực hiện theo một trong các phương thức sau đây: 

  1. Một phần phần vốn góp, cổ phần của các thành viên, cổ đông cùng với tài sản tương ứng với giá trị phần vốn góp, cổ phần được chuyển sang cho các công ty mới theo tỷ lệ sở hữu trong công ty bị tách và tương ứng giá trị tài sản được chuyển cho công ty mới;
  2. Toàn bộ phần vốn góp, cổ phần của một hoặc một số thành viên, cổ đông cùng với tài sản tương ứng với giá trị cổ phần, phần vốn góp của họ được chuyển sang cho các công ty mới;
  3. Kết hợp cả hai trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này.
  4. Công ty bị tách phải đăng ký thay đổi vốn điều lệ và số lượng thành viên tương ứng với phần vốn góp, cổ phần và số lượng thành viên giảm xuống đồng thời với đăng ký doanh nghiệp các công ty mới.”

Chú thích: Doanh nghiệp A tách một phần quyền, nghĩa vụ, tài sản và lợi ích hợp pháp để thành lập doanh nghiệp mới B nhưng không chấm dứt sự tồn tại của mình

Cụ thể trong trường hợp quy định tại Khoản 2a Điều 193 Luật Doanh Nghiệp đã được trích ở trên diễn ra khi công ty muốn tái cấu trúc ngành nghề kinh doanh, tài sản, nhân sự và hoạt động quản trị công ty. Trong trường hợp này, công ty mục tiêu sẽ được tách thành các công ty hoạt động độc lập với nhau, nhưng thường sẽ có chung và cùng cổ đông.

Trường hợp diễn ra tại Khoản 2b Điều 193 Luật Doanh nghiệp hiện hành thường diễn ra khi trong công ty phát sinh những nhóm cổ đông lớn xung đột về lợi ích và đường lối phát triển kinh doanh công ty với nhóm cổ đông nhỏ hoặc/và trong công ty xuất hiện các nhà đầu tư mới muốn thâu tóm ngành nghề hoặc mạng lưới kinh doanh của công ty mục tiêu. Do vậy, nhóm cổ đông này muốn loại bỏ nhóm cổ đông nhỏ để thâu tóm công ty.

Nếu như trước đây, theo Luật Doanh nghiệp 2005, các cổ đông lớn không có quyền loại bỏ cổ đông nhỏ hay không có cơ sở pháp lý để có thể thực hiện, thì nay Luật Doanh nghiệp 2014 đã quy định cụ thể tại Khoản 2b Điều 193 Luật Doanh nghiệp hiện hành. Áp dụng quy định này của luật, nhóm cổ đông lớn, nếu chiếm cổ phần chi phối tối thiểu từ 65% cổ phần đang lưu hành có quyển biểu quyết trong công ty đã có thể dùng quyền biểu quyết của mình để tổ chức lại công ty, thông qua quy định về tách công ty, họ hoàn toàn có thể loại bỏ nhóm cổ đông nhỏ ra khỏi công ty. Quy định này là điểm mới mà các nhà đầu tư nước ngoài hoàn toàn có thể thâu tóm các công ty đã nới room 100% (Cụ thể tại Nghị định 60/2015/NĐ-CP: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 7 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán).

Trường hợp thứ ba có thể diễn ra và áp dụng một hoặc cả hai phương thức tách công ty tại Khoản 2a và Khoản 2b Điều 193 Luật Doanh nghiệp hiện hành khi có nhà đầu tư nước ngoài chỉ muốn mua một mảng kinh doanh, phân phối hoặc các giấy phép con có giá trị bào đó có của công ty, mà không muốn mua hết các mảng kinh doanh khác, cũng như không muốn nhận nhân sự, tài sản của cả công ty. Khóa luận: Thực trạng pháp luật sáp nhập mua bán doanh nghiệp.

Thủ tục tách doanh nghiệp được quy định cụ thể tại khoản 4 Điều 193 Luật Doanh Nghiệp hiện hành 2014.

  • Nhận xét chung:

Đánh giá chung, so với trước đây, Luật Doanh Nghiệp 2014 đã bãi bỏ yêu cầu chỉ được sáp nhập, chia, tách, hợp nhất các doanh nghiệp cùng loại để cho phép các doanh nghiệp khác loại hình được hợp nhất, sáp nhâp, tách, chia thành các loại hình doanh nghiệp khác nhau. Quy định mới này giúp cho doanh nghiệp không còn phải thực hiện thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp khi thực hiện sáp nhập, hợp nhất, giữa các doanh nghiệp khác loại.

Ví dụ: Trước đây công ty TNHH muốn sáp nhập vào công ty cổ phần thì công ty TNHH phải chuyển đồi thành công ty cổ phần sau đó mới thực hiện sáp nhập hai công ty cổ phần với nhau. Nhưng theo quy định hiện nay, công ty TNHH được trực tiếp sáp nhập vào công ty cổ phần.

Bên cạnh đó Luật cũng bổ dung các quy định về hạn chế sở hữu chéo để tạo cơ sở pháp lý làm lãnh mạnh quá trình M&A doanh nghiệp; bao gồm: (i)Công ty con không được đầu tư góp vốn vào công ty mẹ. Các công ty con của cùng một công ty mẹ không được cung nhau góp vốn, mua cổ phần để sở hữu chéo lẫn nhau. (ii) Các công ty con có cùng một công ty mẹ là doanh nghiệp có sở hữu ít hơn 65% vốn nhà nước không được cùng nhau góp vốn thành lập doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh Nghiệp hiện hành.

2.3.2 Một số quy định của Luật Đầu tư hiện hành đối với hoạt động mua bán sáp nhập doanh nghiệp tại Việt Nam

Nếu như Luật Doanh Nghiệp quy định về một số hình thức cụ thể của hoạt động M&A và quy định trình tự, thủ tục đăng ký lại các doanh nghiệp(nếu cần), sau khi kết thúc quá trình M&A thì Luật Đầu tư quy định về thủ tục và điều kiện sáp nhập và thây tóm doanh nghiệp(M&A) khi có nhà đầu tư nước ngoài chuyển nhượng dự án đầu tư. Luật Đầu tư tiếp cận M&A theo hướng quy định về việc nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp Việt Nam và việc chuyển nhượng dự án đầu tư của các nhà đầu tư. Khóa luận: Thực trạng pháp luật sáp nhập mua bán doanh nghiệp.

Về vấn đề chủ thể: Theo quy định của Luật Đầu tư năm 2014, chủ thể thực hiện đầu tư kinh doanh góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế là nhà đầu tư. Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, gồm nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Nhà đầu tư trong nước là cá nhân có quốc tịch Việt Nam, tổ chức kinh tế không có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông.

Nhà đầu tư nước ngoài hiện nay được xác định theo tiêu chí chính là quốc tịch, ai không có quốc tịch Việt Nam thì đó là nhà đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, có tiêu chí khác xác định nhà đầu tư nước ngoài theo vốn, tức là chỉ cần doanh nghiệp tại Việt Nam có vốn đầu tư từ nước ngoài thì doanh nghiệp đó cũng được xem là nhà đầu tư nước ngoài. Luật Đầu tư năm 2014 chọn phương án dung hòa cả hai tiêu chí, chia nhà đầu tư thành ba nhóm: (i) nhà đầu tư có quốc tịch nước ngoài (Khoản 1 – Điều 3 Luật Đầu tư 2014); (ii) doanh nghiệp Việt Nam có từ 51% vốn nước ngoài trở lên; và (iii) doanh nghiệp Việt Nam có dưới 51% vốn nước ngoài(Điều 23 Luật Đầu tư 2014). Nhóm (i) và (ii) bị áp dụng các điều kiện như nhà đầu tư nước ngoài (từ ngành nghề đầu tư đến thủ tục đầu tư…) còn nhóm (iii) được áp dụng các thủ tục và điều kiện như doanh nghiệp trong nước.

Như vậy, nhìn chung, Luật Đầu tư 2014 đã quy định tương đối minh bạch về chủ thể thực hiện mua bán và sáp nhập doanh nghiệp như nhà đầu tư, trong đó đưa ra quy định rõ ràng về các chủ thể phải thực hiện các thủ tục đầu tư như nhà đầu tư nước ngoài.

Về vấn đề hình thức, điều kiện góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp Việt Nam: Luật Đầu tư năm 2014 quy định minh bạch về hình thức và điều kiện góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế:

  • Nhà đầu tư nước ngoài được góp vốn vào tổ chức kinh tế theo các hình thức sau đây: a) Mua cổ phần phát hành lần đầu hoặc cổ phần phát hành thêm của công ty cổ phần; b) Góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; c) Góp vốn vào tổ chức kinh tế khác không thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b nêu trên.
  • Nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế theo các hình thức sau đây: a) Mua cổ phần của công ty cổ phần từ công ty hoặc cổ đông; b) Mua phần vốn góp của các thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn để trở thành thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn; c) Mua phần vốn góp của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh để trở thành thành viên góp vốn của công ty hợp danh; d) Mua phần vốn góp của thành viên tổ chức kinh tế khác không thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, b và c khoản này.(Cụ thể tại Điều 25 Luật Đầu tư 2014)

Việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài  nêu trên phải đáp ứng điều kiện về tỷ lệ sở hữu vốn; hình thức đầu tư, phạm vi hoạt động, đối tác Việt Nam tham gia thực hiện hoạt động đầu tư và điều kiện khác quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 22 của Luật Đầu tư hiện hành. Khóa luận: Thực trạng pháp luật sáp nhập mua bán doanh nghiệp.

Về tỷ lệ sở hữu vốn, nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu vốn điều lệ không hạn chế trong tổ chức kinh tế (nới room), trừ các trường hợp sau đây: a) Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại công ty niêm yết, công ty đại chúng, tổ chức kinh doanh chứng khoán và các quỹ đầu tư chứng khoán theo quy định của pháp luật về chứng khoán; b) Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa hoặc chuyển đổi sở hữu theo hình thức khác thực hiện theo quy định của pháp luật về cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước; c) Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không thuộc quy định tại điểm a và điểm b khoản này thực hiện theo quy định khác của pháp luật có liên quan và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. (Khoản 3 Điều 22 Luật Đầu tư 2014)

Luật Đầu tư năm 2014 đã kế thừa, phát triển và hoàn thiện các chính sách đầu tư theo hướng khẳng định nguyên tắc nhà đầu tư được đầu tư trong tất cả các lĩnh vực và ngành, nghề mà pháp luật không cấm; được quyền tự chủ quyết định hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và pháp luật liên quan; được Nhà nước đối xử bình đẳng trước pháp luật phù hợp với pháp luật và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; hoạt động đầu tư phải phù hợp quy hoạch. Các quy định về hoạt động góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp Việt Nam từng gặp nhiều vướng mắc do pháp luật đầu tư không xác định rõ tỷ lệ sở hữu nước ngoài trong doanh nghiệp và không quy định cụ thể về điều kiện, thủ tục thực hiện hoạt động này.

Nhằm hạn chế việc ban hành tùy tiện các lĩnh vực cấm đầu tư và đầu tư có điều kiện, Điều 25 Luật Đầu tư năm 2014 khẳng định nguyên tắc: Các lĩnh vực đầu tư có điều kiện chỉ được quy định trong các luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân các cấp không được ban hành danh mục lĩnh vực cấm đầu tư và lĩnh vực đầu tư có điều kiện. Điều 21 Luật Đầu tư năm 2014 sửa đổi, bổ sung quy định về đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần theo hướng khẳng định quyền của nhà đầu tư trong việc thực hiện hoạt động đầu tư theo hình thức góp vốn, mua lại phần vốn góp, mua cổ phần phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 và trên cơ sở đáp ứng các điều kiện, thủ tục được quy định cụ thể tại Luật này.

Luật Đầu tư năm 2014 cũng sửa đổi quy định về điều kiện thực hiện hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài theo hình thức góp vốn, mua lại phần vốn góp, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài. Theo đó, ngoài việc đáp ứng điều kiện về tỷ lệ sở hữu và các điều kiện đầu tư khác, nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hoạt động này theo thủ tục quy định thống nhất tại Luật Doanh nghiệp.

Điều 6 Luật Đầu tư năm 2014 đã vạch rõ giới hạn của các ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh, thay vì việc cấm nhưng không rõ ràng theo lĩnh vực như Điều 30 Luật Đầu tư năm 2005. Quy định này có thể coi là một bước tiến quan trọng trong tư duy để thể chế hóa Điều 33 Hiến pháp hiện hành: Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm. Luật Đầu tư năm 2014 dành riêng một phụ lục (Phụ lục 4) liệt kê 267 ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Nếu căn theo con số, số lượng 267 ngành nghề kinh doanh có điều kiện có thể khiến nhiều người cho rằng Luật Đầu tư năm 2014 mở rộng phạm vi ngành nghề kinh doanh có điều kiện, so với chín lĩnh vực đầu tư có điều kiện hiện nay. Tuy nhiên, thật ra Luật Đầu tư 2005 chỉ liệt kê chung chung các ngành nghề có điều kiện. Đồng thời, Luật Đầu tư 2014 chỉ tổng hợp và làm rõ hơn danh mục những ngành nghề kinh doanh có điều kiện vốn đã được liệt kê trong vô số các văn bản chuyên ngành khác. Theo cách tiếp cận này, từ nay các cơ quan nhà nước không còn quyền tự đặt ra các nghề kinh doanh có điều kiện, trừ khi được Quốc hội chấp thuận bằng việc sửa đổi Luật Đầu tư. Chắc chắn việc sửa luật sẽ không dễ dàng như sửa một nghị định cấp Chính phủ hoặc một thông tư cấp bộ. Do vậy, nhà đầu tư có thể yên tâm rằng danh sách này sẽ không dài ra một cách nhanh chóng. [11]

Về vấn đề chuyển nhượng dự án đầu tư: Luật Đầu tư quy định các nhà đầu tư có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án đầu tư cho nhà đầu tư khác nếu đáp ứng các điều kiện: (Cụ thể tại Điều 45 Luật Đầu tư 2014)

  • Dự án chưa chấm dứt hoạt động; Khóa luận: Thực trạng pháp luật sáp nhập mua bán doanh nghiệp.
  • Đáp ứng các điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài nhận chuyển nhượng thuộc ngành, nghề có điều kiện áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài.
  • Đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về kinh doanh bất động sản trong trường hợp chuyển nhượng dự án gắn với chuyển nhượng quyền sử dụng đất;
  • Đáp ứng điều kiện quy định tại giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc theo quy định khác của pháp luật có liên quan(nếu có).

Nhà đầu tư trong nước thực hiện thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư để thay đổi nhà đầu tư trong trường hợp dự án đầu tư thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư, đồng thời nhà đầu tư chưa hoàn thành việc góp vốn, huy động vốn và đưa dự án vào khai thác, vận hành. Các trường hợp còn lại, nhà đầu tư trong nước thực hiện thủ tục thay đổi sở hữu theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan khác khi chuyển nhượng dự án đầu tư mà không phải thực hiện thủ tục đầu tư theo Luật đầu tư. Nhà đầu tư nước ngoài thực hiện thủ tục điều chỉnh nhà đầu tư tại giấy chứng nhận đăng ký đầu tư khi chuyển nhượng dự án đầu tư.

2.3.3 Một số quy định của Luật Cạnh tranh hiện hành đối với hoạt động mua bán sáp nhập doanh nghiệp tại Việt Nam

Luật Cạnh Tranh nhìn nhận hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp (M&A) dưới góc độ hành vi tập trung kinh tế bao gồm sáp nhập doanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp và liên doanh doanh nghiệp. Đưa ra các quy định hạn chế các giao dịch M&A dựa trên thị phần kết hợp của các bên tham gia giao dịch.

Theo luật Cạnh tranh 2010 : “Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập”,  “Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại”. Luật Cạnh tranh cũng đề cập đến hợp nhất doanh nghiệp – là việc “hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất”. (Cụ thể Điều 17)

Theo quy định của Luật Cạnh tranh, việc sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp và mua lại doanh nghiệp là hành vi tập trung kinh tế. Do đó, việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại doanh nghiệp bị cấm trong trường hợp việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại doanh nghiệp tạo ra thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan. Cụ thể tại các Điều 18, 20 Luật Cạnh tranh 2004: Khóa luận: Thực trạng pháp luật sáp nhập mua bán doanh nghiệp.

“Điều 18. Trường hợp tập trung kinh tế bị cấm Cấm tập trung kinh tế nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan, trừ trường hợp quy định tại Điều 19 của Luật này hoặc trường hợp doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật. 

Điều 20. Thông báo việc tập trung kinh tế 1. Các doanh nghiệp tập trung kinh tế có thị phần kết hợp từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại diện hợp pháp của các doanh nghiệp đó phải thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành tập trung kinh tế. Trường hợp thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế thấp hơn 30% trên thị trường liên quan hoặc trường hợp doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật thì không phải thông báo. […]”

Theo đó, nếu thị phần kết hợp của các bên trong M&A từ 30 đến 50% đối với thi trường liên quan, thì giao dịch M&A đó phải được thông báo cho Cục Quản lý cạnh tranh Việt Nam (VCA) và các giao dịch tạ ra thị phần kết hợp trên 50% đều không được phép ( trừ một vài trường hợp ngoại lệ).

2.3.4 Một số quy định của Luật các tổ chức tín dụng hiện hành đối với hoạt động mua bán sáp nhập ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Điểm cần lưu ý là theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng hiện hành 2010 thì việc chia, tách, sáp nhập các tổ chức tín dụng phải được sự chấp thuận từ Ngân hàng Nhà nước. Cụ thể được quy định tại Khoản 5 Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng 2010: 5. Việc thành lập, mua lại công ty con, công ty liên kết theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này và việc góp vốn, mua cổ phần của ngân hàng thương mại theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều này phải được sự chấp thuận trước bằng văn bản của Ngân hàng Nhà nước. Ngân hàng Nhà nước quy định cụ thể điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận. Điều kiện, thủ tục và trình tự thành lập công ty con, công ty liên kết của ngân hàng thương mại thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan.”

Một số văn bản dưới luật cần đáng lưu ý như Nghị định 01/2014/NĐ-CP ngày 03/01/2014 của Chính phủ về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam đã quy định theo hướng ưu đãi hơn đối với nhà đầu tư nước ngoài trong việc mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam. Theo đó, một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài được sở hữu tối đa 20% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng(TCTD) Việt Nam (Điều 7 Nghị định 01/2014/NĐ-CP), trong khi đó, một nhà đầu tư là tổ chức trong nước chỉ được sở hữu tối đa là 15% vốn điều lệ của một TCTD Việt Nam (Điều 55 Luật tổ chức tín dụng 2010) trừ một số trường hợp luật định. Ngoài ra, nghị định 01 cũng cho phép nhà đầu tư nước ngoài được mua cổ phần vượt quá giới hạn quy định trong từng trường hợp cụ thể đối với TCTD yếu kém được cơ cấu lại.

Ngân hàng Nhà nước cũng ban hành Thông tư số 04/2010/TT-NHNN quy định về việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại TCTD. Thông tư số 04/2010/TT-NHNN đã: (i) kế thừa và loại bỏ những hạn chế của Quy chế về sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng cổ phần Việt Nam  được ban hành theo Quyết định số 241/1998/QÐ-NHNN5 ngày 15/07/1998 của NHNN, theo đó phạm vi các đối tượng được/thuộc diện sáp nhập, hợp nhất được mở rộng; (ii) kế thừa tinh thần của Luật Doanh nghiệp về hợp nhất, sáp nhập, Luật Cạnh tranh về tập trung kinh tế, đồng thời đảm bảo tuân thủ các cam kết của Việt Nam đối với WTO trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, cụ thể: Khóa luận: Thực trạng pháp luật sáp nhập mua bán doanh nghiệp.

Về hình thức M&A, Thông tư quy định việc sáp nhập, hợp nhất, và mua lại giữa các tổ chức tín dụng chỉ được tiến hành dưới một số hình thức nhất định. Ngân hàng được nhận hợp nhất, sáp nhập hay mua lại các tổ chức tín dụng khác, nhưng công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính chỉ được nhận hợp nhất, sáp nhập từ các công ty cùng loại. Riêng hoạt động mua lại chỉ có các hình thức sau: ngân hàng mua lại công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính hoặc công ty tài chính mua lại công ty cho thuê tài chính. (Cụ thể tại Điều 6 Thông tu 04/2010/TT-NHNN)

Về điều kiện tiến hành M&A, Thông tư cũng quy định điều kiện để tiến hành hợp nhất, sáp nhập hay mua lại các tổ chức tín dụng, theo đó việc hợp nhất, sáp nhập hay mua lại không được thuộc trường hợp tập trung kinh tế bị cấm theo quy định của Luật Cạnh tranh. Các tổ chức tín dụng tham gia các hoạt động này phải phối hợp xây dựng một đề án thực hiện hợp nhất, sáp nhập, hoặc mua lại không trái với nội dung của hợp đồng đã ký. Ngoài ra, tổ chức tín dụng còn lại sau khi tiến hành hợp nhất, sáp nhập, hoặc mua lại phải đảm bảo đáp ứng điều kiện về vốn pháp định theo quy định của pháp luật. (Cụ thể tại Điều 9 Thông tu 04/2010/TT-NHNN)

Về mặt thủ tục, NHNN sẽ lấy ý kiến tham gia của chi nhánh NHNN tại địa phương, UBND địa phương và các cơ quan chuyên môn của NHNN về hồ sơ xin chấp thuận nguyên tắc để ra quyết định chấp thuận hoặc từ chối chấp thuận. Nếu được chấp thuận nguyên tắc, các tổ chức tín dụng tham gia phải thông qua lại các nội dung thay đổi tại đề án trước khi lập hồ sơ chính thức gửi lại cho NHNN để được chấp thuận chính thức. Sau đó, các tổ chức chấm dứt hoạt động cần phải hoàn tất thủ tục rút giấy phép kinh doanh, tổ chức mới phải hoàn thành thủ tục đăng ký kinh doanh, đăng bố cáo hợp nhất, tổ chức khai trương… Thông tư nghiêm cấm việc phân tán tài sản của tổ chức tín dụng dưới mọi hình thức trong quá trình xin chấp thuận. (Cụ thể tại Điều 21 Thông tu 04/2010/TT-NHNN)

Bên cạnh hệ thống quy định của pháp luật Việt Nam, hoạt động M&A ngân hàng còn phải tuân theo các thoả thuận, Hiệp ước song phương và đa phương (TPP, FTA Việt Nam –EU, FTA Việt Nam – Hàn Quốc…) trong đó các nước đối tác đều chấp nhận cam kết của Việt Nam về giới hạn tối đa mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại một NHTM Việt Nam là 30% vốn điều lệ. Quy định như vậy đảm bảo yêu cầu về mở thị trường và phù hợp với tình hình phát triển thị trường tài chính, ngân hàng Việt Nam.

2.3.5 Một số quy định của Luật Kinh doanh bất động sản hiện hành 2014 đối với hoạt động mua bán sáp nhập doanh nghiệp tại Việt Nam Khóa luận: Thực trạng pháp luật sáp nhập mua bán doanh nghiệp.

Trước khi có Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, đã có hành lang pháp lý cho việc mua bán, chuyển nhượng dự án bất động sản, nhưng còn nhiều vướng mắc dẫn đến giao dịch thực tế rất khó khăn, vòng vèo. Chẳng hạn, quy định pháp luật trước đó (Luật Kinh doanh bất động sản 2006) chỉ quy định cho phép mua bán toàn bộ dự án. Tức là không có cơ chế để chủ đầu tư bán từng phần dự án. Điều nay dẫn đến nguy cơ là dự án được chuyển giao từ chủ đầu tư thiếu năng lực này sang chủ đầu tư thiếu năng lực khác, bởi dự án lớn, không dễ gì tìm được chủ đầu tư đủ tiềm lực. Quy định này hạn chế khả năng gặp nhau giữa cung – cầu. Đôi khi bên mua chỉ muốn mua một cấu phần của dự án, nhưng bên bán do ràng buộc pháp luật, buộc phải bán cả dự án.

Luật Kinh doanh bất động sản 2014 đã khắc phục bất cập này, cho phép chủ đầu tư bán một phần dự án. (Quy định tại Mục 6:Chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án bất động sản – Luật Kinh doanh bất động sản 2014). Đồng thời, Nghị định số 76/2015/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 dành riêng Mục 5 quy định chi tiết trình tự, thủ tục chuyển giao toàn bộ hoặc một phần dự án bất động sản.

  • Ngoài ra, hoạt động M&A còn được điều chỉnh ít nhiều bởi các văn bản pháp luật khác

Luật Thương mại và Bộ Luật Dân sự: chủ yếu điều chỉnh hoạt động M&A dưới khía cạnh hợp đồng giữa các bên. Các loại hợp đồng này có thể là hợp đồng mua bán cổ phần, hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp, hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng liên doanh…

Luật Thuế: Khi thực hiện M&A thông thường sẽ thay đổi lớn về tài chính, các loại thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế gia trị gia tăng….sẽ phát sinh vì vậy các bên tham gia phải hoàn thành tất các nghĩa vụ thuế đối với nhà nước Việt Nam.

Luật Kế toán: Quy định về việc hợp nhất báo cáo tài chính. Ngoài ra còn được quy định cụ thể tại các văn bản Thông tư số 21/2006/TT-BTC, Thông tư số 161/2007/TT-BTC, Chuẩn mực kế toán số 11 – Hợp nhất kinh doanh, Chuẩn mực kế toán số 25 – Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán khoản đầu tư vào công ty con.

Luật Kiểm toán: kiểm tra các hoạt động về tài chính của doanh nghiệp để xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp.

Luật Sở hữu trí tuệ: Điều chỉnh khía cạnh chuyển giao quyền tác giả, công nghệ, bí mật kinh doanh giữa các bên.

Luật Lao động: yêu cầu các bên tham gia M&A phải thực hiện đúng nghĩa vụ đối với người lao động, tức là các phương án sử dụng lao động khi thương vụ thành công. Ngoài ra, các quy định khác cũng tham gia điều chỉnh hợp hoạt động này như định giá tài sản, hải quan, bất động sản…

2.4 Một số những bất cập trong pháp luật về sáp nhập và mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam Khóa luận: Thực trạng pháp luật sáp nhập mua bán doanh nghiệp.

Dù đã có nhiều tín hiệu đáng mừng trong thời gian gần đây, nhưng quy mô thị trường mua bán, sáp nhập (M&A) tại Việt Nam vẫn còn tương đối khiêm tốn so với các nước khác trong khu vực. Bên cạnh những vấn đề như sự ổn định của nên kinh tế, nguồn nhân lực sẵn có và các yếu tố môi trường, một trong những lý do quan trọng kìm hãm sự phát triển của thị trường M&A tại Việt Nam chính là việc thiếu một hệ thống pháp luật toàn diện và thống nhất điều chỉnh các giao dịch này.

Thứ nhất, một số điểm bất cập trong quy định về hoạt động M&A của Luật Doanh Nghiệp hiện hành 2014:

Một trong những vấn đề được các nhà hành luật quan tâm là quy định về vấn đề tách công ty. Như đã trình bày ở trên, hoạt động tách công ty được quy định tại Điều 193 Luật Doanh nghiệp hiện hành. Nếu như khoản 2b là điểm tiến bộ, điểm mới thì Khoản 3 Điều 193 lại là một quy định bất cập, khi tiếp tục quy định về vốn điều lệ của công ty bị tách. Cụ thể “Công ty bị tách phải đăng ký thay đổi vốn điều lệ và số lượng thành viên tương ứng với phần vốn góp, cổ phần và số lượng thành viên giảm xuống đồng thời với đăng ký doanh nghiệp các công ty mới”.

Vấn đề vốn điều lệ của công ty bị tách và được tách, Luật Doanh nghiệp 2005 đã không đề cập và đây là điểm hay của luật cũ. Vì nếu luật không quy định cụ thể, thì trên thực tế sẽ dễ dàng thực hiện hơn. Thực tiễn thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh tại các sở kế hoạch đầu tư, vì luật không quy định cụ thể, nên tùy theo quan điểm của từng sở và phụ thuộc vào việc giải trình trong hồ sơ của công ty, mà sở nơi nhận hồ sơ sẽ đồng ý công ty bị tách giảm vốn điều lệ tương ứng hay giữ nguyên vốn điều lê của công ty bị tách. Khóa luận: Thực trạng pháp luật sáp nhập mua bán doanh nghiệp.

Thuật ngữ và khái niệm vốn điều lệ vốn đã chưa đựng nhiều bất cập với giới chuyên gia pháp luật và tài chính, đã nhiều lần phân tích và yêu vầu nhà làm luật xem xét để bãi bỏ theo thông lệ quốc tế. Tuy nhiên nhà soạn luật có lý do của họ, nên vẫn giữ khái niệm này trong Luật Doanh nghiệp hiện hành. Luật quy định vốn điều lệ là số vốn của cổ đông đã góp hay đã mua của công ty. Vốn này sử dụng trong hoạt động kinh doanh và vận hành công ty. Chính vì vậy, vốn điều lệ có thể biến động trong quá trình kinh doanh, có thể tăng hoặc giảm. Sổ sách kế toán sẽ ghi nhận vốn tăng lên hoặc giảm xuống như là vốn chủ sở hữu của công ty.

Trong trường hợp vốn điều lệ bằng vốn chủ sở hữu, thị khi tách một phần cổ phần cùng vơi tài sản tương ứng cổ phần đó sang công ty được tách, việc giảm vốn điều lệ của công ty bị tách là hợp lý. Nếu công ty kinh doanh hiệu quả, vốn chủ sở hữu của công ty sẽ tăng lên rất nhiều lần so với vốn điều lệ, như vậy có nghĩa là tài sản của doanh nghiệp dư ra só với vốn điều lệ đã góp và họ có thể mang phần dư này để phân chia và tách riêng thành tài sản của công ty được tách, điều này hoàn toàn hợp lý và thực hiện được.

Tuy nhiên, luật lại đánh đồng các trường hợp như nhau và buộc phải giảm vốn điều lệ tương ứng khi tách công ty. Do vậy, công ty bị tách mà giảm vốn điều lệ, nghĩa là cổ phần được chia đều từ vốn điều lệ sẽ bị điều chỉnh giảm xuống tương ứng cho cổ đông. Điều này ảnh hưởng đến hình ảnh của công ty, đến quyền lợi của các cổ đông khi làm cho họ bị giảm số lượng cổ phần đang nắm giữ và đôi khi sẽ làm giảm giá cổ phiếu đang giảo dịch. Thêm vào đó, việc giảm vốn điều lệ nhiều khi ảnh hưởng đến hạn mức tín dụng tại ngân hàng của công ty bị tách, vì thực tế các ngân hàng thường đánh gía khả năng tín dụng thông qua số vốn điều lệ đăng ký trên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.[8]

Do vậy, trên thực tế, nhằm đáp ứng nhu cầu của mình, doanh nghiệp có thể vận dụng nhiều quy định khác của pháp luật để đạt được mục đích mà mình đề ra. Tuy nhiên, việc thực hiện nhiều thủ tục lòng vòng sẽ làm phát sinh nhiều chi phí và rủi ro không đáng có, thay vì phải thực hiện trực diện vấn đề và áp dụng hay vận dụng trực tiếp các quy định pháp luật quy định về vấn đề đó.

Bên cạnh đó, theo báo cáo Bảng đóng góp ý kiến về Luật Doanh Nghiệp 2014 tại Diễn đàn kinh doanh Việt Nam (VBF) 2016 vừa qua có đặt vấn đề thiếu quy định cụ thể về việc tổ chức lại doanh nghiệp, bao gồm sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp Luật Doanh nghiệp và Nghị định 78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp cần quy định rõ những nội dung để hướng dẫn cho các (Sở kế hoạch đầu tư)SKHĐT và cho các doanh nghiệp. Theo đó, hiện tại chưa có quy định cụ thể về các vấn đề sau đây:

  • định giá doanh nghiệp khi tổ chức lại;
  • việc thanh toán trong tổ chức lại DN như thế nào;
  • vốn điều lệ của (các) doanh nghiệp tổ chức lại ra sao; – thủ tục thực hiện thế nào?

Ví dụ, 2 doanh nghiệp đều có vốn 1 triệu USD quyết định sáp nhập. Doanh nghiệp A kinh doanh hiệu quả, được định giá là 10 triệu USD. Doanh nghiệp B kinh doanh lỗ lã liên tục, được định giá là 0 USD. Như vậy khi sáp nhập, hai bên quyết định vốn điều lệ mới của doanh nghiệp sáp nhập là 10 triệu USD, hai chủ sở hữu sẽ đồng sở hữu 50-50 vốn điều lệ, và chủ sở hữu của Doanh Nghiệp B sẽ phải thanh toán cho chủ sở hữu DN A là 5 triệu USD. Trên thực tế, giao dịch được thể hiện như vậy là rất hợp lý nhưng có thể không thực hiện được, vì những lý do sau: Khóa luận: Thực trạng pháp luật sáp nhập mua bán doanh nghiệp.

  • SKHĐT xem việc sáp nhập là việc cộng dồn vốn điều lệ của 2 doanh nghiệp hiện đăng ký trên Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư của 2 doanh nghiệp;
  • không có cơ chế cho chủ sở hữu DN B thanh toán lại phần giá trị được hưởng chênh lệch cho chủ sở hữu DN A;
  • SKHĐT không biết thực hiện thủ tục nào trước, thủ tục nào sau nếu doanh nghiệp đồng thời có Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Thứ hai, một số điểm bất cập trong quy định về hoạt động M&A của Luật Đầu tư hiện hành 2014:

Một trong những vấn đề tồn đọng trong Luật Đầu tư là mâu thuẫn giữa luật và cách áp dụng pháp luật của các cơ quan Nhà nước.

Một mâu thuẫn giữa việc Luật Đầu tư và các quy định hiện hành về việc mở và sử dụng tài khoản đầu tư đã gây nhiều khó khăn trong chuyển nhượng vốn và thanh toán. Các quy định về ngân hàng hiện nay vẫn áp dụng cách phân loại đầu tư theo hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp, trong khi Luật Đầu tư mới không còn sử dụng sự phân loai này nữa. Điều này gây khó khăn trong việc xác định loại tài khoản cần được mở và sử dụng cho mục đích đầu tư.

Mặc dù các quy định của luật hướng tới việc cắt giảm thủ tục hành chính cho các nhà đầu tư nước ngoài trong các giao dịch M&A, nhưng trên thực tế, một số quy định mới theo hướng tạo ra nhiều thủ tục hành chính hơn. Chẳng hạn, trong khi thủ tục đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp theo quy định của Điều 26 – Luật Đầu tư hiện hành 2014 chỉ áp dụng đối với trường hợp nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào công ty lần đầu hoặc dẫn tới thay đổi tỷ lệ sở hữu, thì trên thực tế, một số cơ quan cấp phép địa phương yêu cầu vẫn phải có phê duyệt trong trường hợp tăng vốn điều lệ của công ty có vốn đầu tư nước ngoài, ngay cả khi việc tăng vốn này không dẫn đến bất kỳ thay đổi nào về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư.[13]

Thứ ba, một số điểm bất cập trong quy định về hoạt động M&A của Luật Cạnh tranh hiện hành: Các giao dịch M&A ngày càng được kiểm soát gắt gao để bảo đảm tuân thủ Luật Cạnh Tranh của Việt Nam. Theo đó, nếu thị phần kết hợp của các bên trong M&A từ 30 đến 50% đối với thi trường liên quan, thì giao dịch M&A đó phải được thông báo cho Cục Quản lý cạnh tranh Việt Nam (VCA) và các giao dịch tạ ra thị phần kết hợp trên 50% đều không được phép ( trừ một vài trường hợp ngoại lệ).

Trên thực tế, cả doanh nghiệp cũng như các cơ quan chức năng đều nhận ra những khó khăn khi thi hành những quy định này. Chẳng hạn, hiện vẫn có nhiều luồng ý kiến liên quan đến việc liệu Luật Cạnh tranh có được áp dụng với giao dịch giữa các bên ở nước ngoài , mà bên mua không có hiện diện thương mại tại Việt Nam hay không. Hơn nữa, rất khó để các bên có thể xác định thế nào là “thị trường liên quan” theo Luật Cạnh Tranh để theo đó tiến hành phân tích dữ liệu về thị phần của mình.

Thị trường sản phẩm liên quan là thị trường bao gồm những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả. Thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể, trong đó có những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận. Việc phân chia thị trường liên quan thành thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan không có nghĩa là có hai thị trường riêng biệt. Ngược lại, đây là hai khía cạnh của một thị trường liên quan: khía cạnh sản phẩm và khía cạnh địa lý. Chẳng hạn, đối với một số ngành nghề công nghiệp, tập trung kinh tế cần được đánh giá ở thị trường địa lý liên quan. Ví dụ, trong lĩnh vực bán lẻ, việc đánh giá tập trung kinh tế thực hiện ở cấp quốc gia là không hợp lý, bởi vì khách hàng lựa chọn giữa các cửa hàng bán lẻ gần nhà hoặc nơi làm việc. Khóa luận: Thực trạng pháp luật sáp nhập mua bán doanh nghiệp.

  • Vậy câu hỏi đặt ra là nên xác định khoảng cách địa lý như thế nào?

Ông Antoine Logeay – Phó chủ tịch Tiểu ban Pháp luật Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) chia sẻ, ở châu Âu, cơ quan chống độc quyền sử dụng các tiêu chí về thời gian vận chuyển. Ví dụ, các cửa hàng bán lẻ trong cùng một thị trường liên quan nếu khách hàng có thể đến cửa hàng trong vòng 30 phút. Tại Việt Nam chưa có những tiêu chí như vậy. “Cục Quản lý cạnh tranh Việt Nam có thể có những quy tắc riêng để xác định trong thực tế, nhưng các quyết định về việc áp dụng lại không được công khai, (thực tế, Cục Quản lý cạnh tranh chỉ xuất bản một báo cáo thường niên về hoạt động của mình), vì vậy mà các nhà đầu tư không biết cơ sở để xác định thị trường liên quan. Theo đó, Cục Quản lý cạnh tranh nên công bố các quyết định của mình theo tiêu chuẩn quốc tế đã được áp dụng ở nhiều nước khác. Điều này sẽ tạo ra những thay đổi tích cực”, ông Antoine Logeay nói.[7]

Thứ tư, một số điểm bất cập trong quy định về hoạt động M&A bất động sản hiện hành: Ta có thể tạm hiểu hoạt động M&A các dự án bất động sản là việc chuyển giao về hình thức khi tư cách chủ đầu tư này sang chủ đầu tư khác; hoặc cũng có thể là việc chuyển giao về bản chất khi giữ nguyên tư cách chủ đầu tư nhưng tỷ lệ sở hữu chi phối doanh nghiệp chủ đầu tư đã có thay đổi.

Thường có hai cách thức cơ bản để các bên chuyển giao dự án bất động sản cho nhau: Thứ nhất là cách chuyển giao thẳng, được pháp luật quy định là giao dịch chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ dự án bất động sản từ chủ đầu tư này sang chủ đầu tư khác. Thứ hai là cách chuyển gián tiếp, vẫn giữ tư cách chủ đầu tư hiện hại của dự án nhưng các bên thực hiện một giao dịch chuyển nhượng vốn/cổ phần để chuyển giao dự án cho nhau.[9]

Trong cách thức thứ nhất – trường hợp nhà đầu tư nước ngoài nhận chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ một dự án, thì họ lại phải đối mặt với quy định khá “ngặt nghèo” như dự án phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, đã có quy hoạch chi tiết 1/500 được phê duyệt; phải hoàn thành xong các nghĩa vụ về tài chính, về thuế, về giải phóng mặt bằng. Với trường hợp chuyển nhượng toàn bộ dự án đầu tư xây dựng kết cấu ha tầng, thì phải hoàn thành các công trình hạ tầng kỹ thuật tương ứng theo đúng tiến độ ghi trong dự án đã được phép duyệt. Ngoài ra, dự án cũng phải đảm bảo không có tranh chấp, không bị kê biên, không có quyết định thu hồi đất thu hồi dự án của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền… Việc chuyển nhượng chỉ hoàn thành khi được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.

  • (Cụ thể tại Điều 49 Luật kinh doanh bất động sản 2014).

Tuy nhiên, trên thực tế, khi các doanh nghiệp đã quyết định bán đi dự án của mình thì đa phần đều là những doanh nghiệp thiếu vốn, không có tiền giải phóng mặt bằng, không có tiền làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ). Do đó, yêu cầu trên đã phần nào làm cản trở hoạt động chuyển nhượng. Để mua được dự án như thế này, các nhà đầu tư nước ngoài lại phải cho doanh nghiệp Việt Nam vay vốn hoặc ký kết Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) để chủ đầu tư tiếp tục hoàn thiện các thủ tục nêu trên. Nhà đầu tư nước ngoài đôi khi không dám mạo hiểm vung tiền đi trước, vì phương án này cũng chứa quá nhiều rủi ro.

Ngoài ra, với quy định cho bên nhận chuyển nhượng phải là doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, thì nhà đầu tư nước ngoài lại phải lập doanh nghiệp kinh doanh bất động sản trước khi mua lại dự án. Phải bỏ ra vốn pháp định tối thiểu là 20 tỷ đồng (Cụ thể tại Điều 10 Luật kinh doanh bất động sản 2014) trước khi thực hiện việc mua lại dự án trong khi mục tiêu chính của họ chỉ là dự án. Khóa luận: Thực trạng pháp luật sáp nhập mua bán doanh nghiệp.

Trong cách thức thứ hai – vẫn giữ nguyên tư cách chủ đầu tư hiện tại của dự án, thực hiện giao dịch chuyển nhượng vốn/cổ phần thường được sử dụng để né tránh thủ tục hành chính, thủ tục chấp thuận của cách thức thứ nhất. Tuy nhiên, trên thực tế, các nhà đầu tư cũng gặp phải không ít rào cản khi thực hiện phương án này: thông thường, các doanh nghiệp Việt Nam có nhiều dự án khác nhau, tình hình tài chính doanh nghiệp không minh bạch, rõ ràng, trong khi nhà đầu tư nước ngoài lại chỉ quan tấm đến một sự án thực sự tiềm năng của doanh nghiệp ấy. Nhiều trường hợp, các nhà đầu tư rất thích dự án, những cũng không đủ kiên nhẫn để “dọn dẹp” hết những bùng nhùng của doanh nghiệp, trong khi doanh nghiệp không muốn bán đứt dự án tốt của mình, nên sau khi xem báo cáo thẩm tra pháp lý, thương vụ đã không thể tiến hành.

Vì đơn giản ta có thể hiểu rằng, ngoài quyền đầu tư, khai thác dự án, chủ sở hữu mới(bên nhận chuyển nhượng cổ phần) sẽ phải “gánh” luôn những nghĩa vụ cũ của doanh nghiệp của chủ đầu tư. Mà những nghĩa vụ ấy nhiều khi không được thông báo công khai tại thời điểm chuyển nhượng cổ phần dù có thể đã có cam kết về việc công khai thông tin về hiện trạng doanh nghiệp. Các nghĩa vụ này có thể là nghĩa vụ với các đối tác giao dịch thương mại hoặc thậm chí là cả các cơ quan nhà nước, điển hình là nghĩa vụ thuế. Đương nhiên, khi phát sinh những nghĩa vụ mới, quyền lợi của bên mua chắc chắn bị ảnh hưởng.

  • Thứ năm, một số điểm bất cập trong quy định văn bản dưới luật khác:

Một trong các vấn đề gây nhức nhối là hoạt động M&A đối với công ty đại chúng. Năm 2015, Chính phủ ban hành Nghị định 60/2015/NĐ-CP cho phép các công ty niêm yết (và các công ty đại chúng khác) hoạt động trong các ngành kinh doanh không bị hạn chế đầu tư nước ngoài nâng tỷ lệ sở hữu của của nhà đầu tư nước ngoài trong công ty lên đến 100% (so với tỷ lệ tối đa trước đây là 49%).(Cụ thể tại Điều 21). Quy định này tạo ra cơ hội cho các nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần để nắm quyền chi phối hoạt động các công ty đại chúng.

Mặc dù vậy, sau hơn một năm kể từ khi Nghị định 60 được ban hành, quy định này vẫn không tạo được lực đẩy đáng kể cho thị trường M&A. Cho đến nay, mới chỉ có một số ít công ty đại chúng được phép nâng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và phản ứng của thị trường vẫn còn dè dặt với những dự định nâng tỷ lệ sở hữu nước ngoài của các công ty trên thị trường chứng khoán. Nguyên nhân của hiện tượng trên bao gồm:[13]

  • Thứ nhất, các quy định hướng dẫn Nghị định 60/2015/NĐ-CP còn chưa đầy đủ và toàn diện.
  • Thứ hai, chưa có danh mục hoàn chỉnh của ngành nghề kinh doanh không có điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài tại các công ty đại chúng. Khóa luận: Thực trạng pháp luật sáp nhập mua bán doanh nghiệp.

Điều này đã ít nhiều gây khó khăn cho các công ty đại chúng khi xác định liệu họ có được phép nâng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong công ty mình hay không, nhất là với các công ty hoạt động đa ngành nghề, đa lĩnh vực. Tương tự, khi xét đề nghị nâng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong một công ty đại chúng, Ủy ban Chứng khoán

Nhà nước hiện không có căn cứ cụ thể để xác minh liệu công ty đó có hoạt động trong ngành nghề kinh doanh có điều kiện đối với các nhà đầu tư nước ngoài hay không. Do đó, trên thực tế với mỗi trường hợp, ủy ban phải tiến hành lấy ý kiến của các bộ, ngành có liên quan. Chính vì thế, quá trình xin nâng tỷ lệ sở hữu nước ngoài của các công ty đại chúng thường mất rất nhiều thời gian để chấp thuận.

Thứ ba, chưa có quy định rõ ràng về tình trạng pháp lý của một công ty niêm yết sau khi nâng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong công ty. Quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong công ty có thể thay đổi hằng ngày và nằm ngoài tầm kiểm soát cuẩ công ty Biến động sở hữu nước ngoài của một công ty từ 49% lên 51% có thể diễn ra nhanh chóng, tùy thuộc vào diễn biến của thị trường. Do đó, từ một nhà đầu tư trong nước theo Luật Đầu Tư (với 49% sở hữu nước ngoài), một công ty niệm yết có thể trở thành nhà đầu tư nước ngoài (với 51%) chỉ trong một vài ngày, thậm chí là một vài giờ. Hiện nay, không có quy định nào hướng dẫn về tác động của vấn đề này tới các khoản đầu tư của một công ty niêm yết.

Điều này góp phần dẫn đến sự do dự của các công ty niêm yết khi tiến hành nâng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong công ty, hạn chế các cơ hội đầu tư nước ngoài dưới hình thành M&A trong công ty đại chúng.

Bên cạnh đó, vấn đề về M&A bởi các quỹ đầu tư  cũng cần đưa ra đánh giá, xem xét. Những năm gần đây, một trong những phát triển đáng chú ý của thị trường M&A là sự tham gia của các quỹ đầu tư tìm kiếm cơ hội đầu tư vào Việt Nam. Đến cùng với các quỹ đầu tư này là nguồn vốn, kinh nghiệm quản trị doanh nghiệp và cơ hội tiếp cận các thông lệ kinh doanh quốc tế. Tuy nhiên, cùng với đó, các quỹ đầu tư này cũng đòi hỏi khắt khe hơn về cơ cấu các khoản đầu tư qua hình thức M&A. Phần lớn các khoản đầu tư bởi các quỹ đầu tư đều bao gồm các điều kiện về cổ phần ưu đãi (preference share), cổ phiếu chuyển đổi (convertible share), quyền chọn bán (put option), quyền chọn mua (call option), cũng như quyền yêu cầu cùng bán cổ phần và quyền bán cổ phần theo cùng điều kiện (tag-along/drag-along).

Tuy nhiên hành lang pháp lý cho hoạt động M&A tại Việt nam vẫn còn thiếu các quy định đối với các cấu trúc phức tạp trong hoạt động M&A quốc tế nói trên. Khóa luận: Thực trạng pháp luật sáp nhập mua bán doanh nghiệp.

Điều này đã gây ra không ít lo ngại đối với các nhà đầu tư về tính ổn định, về pháp lý các khoản đầu tư ở Việt Nam. Thiếu quy định cụ thể, thiếu cơ chế công bố phán quyết của tòa án và cả việc các bên không sẵn sàng đưa tranh chấp tòa đã khiến việc áp dụng và thi hành những cấu trúc đầu tư này khó khăn hơn, mặc dù chúng được phổ biến ở một số quốc gia khác.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật sáp nhập mua bán doanh nghiệp

One thought on “Khóa luận: Thực trạng pháp luật sáp nhập mua bán doanh nghiệp

  1. Pingback: Khóa luận: Pháp luật về mua bán và sáp nhập doanh nghiệp

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464