Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, nhu cầu nhận nuôi con nuôi ngày càng tăng cao tại Việt Nam và từ trước tới nay, nuôi con nuôi luôn là một vấn đề luôn được Nhà nước quan tâm và theo dõi sát sao. Trong tình hình kinh tế ngày càng phát triển, khoa học và lĩnh vực y tế ngày càng hoàn thiện, giới trẻ dễ dàng xa ngã và từ đó là biết bao nhiêu trẻ em ra đời không có được vòng tay của bố mẹ. Việc nuôi con nuôi là một việc vừa giúp các cặp đôi hiếm muộn có thể có những đứa con vừa là thể hiện sự nhân đạo của con người.
Pháp luật về nhận nuôi con nuôi không chỉ là cơ sở cho những mảnh đời không may mắn tìm thấy nhau, chắp cánh cho những tương lai tốt đẹp, còn là cơ sở ngăn chặn những nguy cơ mua bán, xâm hại trẻ em của những hành vi lợi dụng việc nhận nuôi. Em thấy đây là một việc hết sức ý nghĩa giúp chính các cặp cha mẹ có đứa con của mình cũng như giúp chính những em bé bất hạnh có được hơi ấm từ vòng tay người thân. Đó là lí do em lựa chọn đề tài:” Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay” làm đề tài cho bài khoá luận tốt nghiệp của em.
Pháp luật về nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam đã có những thay đổi mới trong những năm gần đây. Đề tài có ý nghĩa thực tiễn cao, giúp sinh viên hiểu rõ hơn về quy trình và thủ tục nhận nuôi con nuôi, đồng thời góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về vấn đề này.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
“Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay” là một đề tài rất rộng và trong những năm gần đây, đề tài này đang nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu.
Do tính chuyên sâu và phức tạp của vấn đề và mà đề tài này thường được nhắc đến thông qua các bài báo bên cạnh đó cũng đã đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu rất ấn tượng trên các diễn đàn pháp lý hay các bài khoá luận tốt nghiệp, báo cáo thực tập,… các công trình nghiên cứu đó có thể kể đến như:
Luận văn thạc sĩ “Đăng ký việc nuôi con nuôi và thực tiễn thực hiện trên địa bàn tỉnh Hoà Bình” (2020) của tác giả Quách Minh An, trường Đại học Luật Hà Nội. Chuyên đề có nội dung chủ yếu tìm hiểu về các quy định trong pháp luật nhận nuôi con nuôi theo đó là thực tiễn tại thực hiện pháp luật về nuôi con nuôi tại một địa phương cụ thể là trên địa bàn tỉnh Hoà Bình. Trong luận văn, tác giả đã đưa ra được những kết quả đã đạt được và những bất cập để rút ra được những giải pháp hoàn thiện pháp luật về nhận nuôi con nuôi tại địa phương và trên cả nước.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp ngành Luật Kinh tế “Nuôi con nuôi trong nước theo pháp luật Việt Nam”(2017) của tác giả Trần Ngọc Thuỳ Trang, khoa Luật trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh. Nội dung bài chuyên đề thực tập tốt nghiệp xoay quanh các vấn đề liên quan đến pháp luật về nhận nuôi con nuôi trong nước ở nước ta từ khái niệm, quy định của pháp luật về nhận nuôi con nuôi đến thực tiễn áp dụng tại địa phương nơi tác giả thực tập và đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về nhận nuôi con nuôi trong nước. Khóa luận: Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay.
Các công trình nghiên cứu đều đưa ra được các khía cạnh về nhận nuôi con nuôi, đẩy mạnh nghiên cứu về mặt lý luận chung của vấn đề nhận nuôi con nuôi. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu còn chưa đi vào nghiên cứu sâu trên các phương diện, chỉ tập trung trên một vấn đề nhận nuôi con nuôi trong nước hoặc nhận nuôi con nuôi nước ngoài. Theo đó, bài khoá luận tốt nghiệp “Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay” là một nội dung nghiên cứu tổng thể các vấn đề chung một cách toàn diện. Đặc biệt bài khoá luận là việc trình bày thực tiễn pháp luật về nhận nuôi con nuôi trên địa bàn cả nước chứ không riêng tại từng địa phương, vừa phù hợp với đề tài của bài khoá luận, vừa giúp ta hiểu rõ vấn đề về pháp luật nhận nuôi con nuôi trên địa bàn cả nước hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ thực trạng việc Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay, hiểu được quá trình nhận nuôi con nuôi cần những thủ tục gì, và cần có những giải pháp nào để giảm bớt thực trạng hiện nay.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nhằm thực hiện các mục đích nêu trên, khoá luận đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến pháp luật về nhận nuôi con nuôi: khái niệm về nuôi con nuôi và các khái niệm liên quan, tầm quan trọng của việc nhận nuôi con nuôi
Nghiên cứu pháp luật về Nhận nuôi con nuôi từ quy định, điều kiện đến trình tự thủ tục nhận nuôi con nuôi,… thông qua tìm hiểu Luật Nhận nuôi con nuôi 2010 và các Nghị định, Thông tư có liên quan, các luận văn nghiên cứu,…
Phân tích thực trạng thực hiện pháp luật về nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay thông qua các số liệu, văn bản cụ thể,…
Đưa ra định hướng của nhà nước về việc nhận nuôi con nuôi và giải pháp cụ thể để hoàn thiện pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Khóa luận: Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay.
Khoá luận nghiên cứu về những vấn đề lý luận và thực tiễn xoay quanh vấn đề pháp luật về Nhận nuôi con nuôi trong gia đoạn hiện nay tại Việt Nam.
Thực tiễn áp dụng pháp luật về nuôi con nuôi: Bao gồm thủ tục nhận nuôi con nuôi, điều kiện nhận nuôi con nuôi, quyền và nghĩa vụ của người nhận nuôi và trẻ em được nhận làm con nuôi,…
Giải pháp hoàn thiện pháp lý liên quan đến nuôi con nuôi: Bao gồm vấn đề về quốc tịch, hộ tịch, tài sản của trẻ em được nhận làm con nuôi,…
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: Dưới góc độ tiếp cận Luật Nuôi con nuôi 2010, bài khoá luận tập trung đi nghiên cứu, khai thác sâu vào các vấn đề quan trọng của pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay. Sau đó, đưa ra thực tiễn về tình hình thực thi pháp luật nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay và đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật về nhận nuôi con nuôi
Về không gian: trong phạm vi toàn quốc
Về thời gian: tìm hiểu khái quát về lịch sử phát triển của pháp luật về nhận nuôi qua các giai đoạn phong kiến, trước cách mạng tháng 8, và từ sau cách mạng tháng 8 đến nay, nhưng tập trung chủ yếu vào pháp luật về nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam giai đoạn hiện nay. Các số liệu, thống kê và bản án cụ thể trong giai đoạn từ 2020 đến 2023.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu mà đề tài đặt ra, những phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm:
- Phương pháp nghiên cứu, rà soát tài liệu:
Phân tích các tài liệu liên quan như: Luật Nuôi con nuôi, văn bản quy định chi tiết thi hành Luật Nuôi con nuôi, các bài báo cáo, bài báo,… Phỏng vấn người nhận con nuôi, trẻ em được nhận làm con nuôi, cán bộ cơ quan chức năng,…
- Phương pháp thu thập, rà soát số liệu:
Thu thập số liệu thống kê về việc nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam nói chung và cụ thể tại một số nơi tại Việt Nam nói riêng. Phân tích số liệu thống kê để đưa ra kết luận.
6. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
6.1. Ý nghĩa về mặt thực tiễn:
Giúp bảo vệ quyền trẻ em, nghiên cứu giúp đánh giá hiệu quả thực thi pháp luật về nhận nuôi con nuôi, từ đó góp phần bảo vệ quyền lợi và sự phát triển toàn diện của trẻ em.
Giảm thiểu tình trạng trẻ em mồ côi bằng cách nghiên cứu có thể đề xuất giải pháp thúc đẩy việc nhận nuôi con nuôi hợp pháp, góp phần giảm thiểu tình trạng trẻ em mồ côi.
Hỗ trợ các cặp vợ chồng hiếm muộn sử dụng phương pháp cung cấp thông tin và kiến thức về quy trình, thủ tục nhận nuôi con nuôi, giúp các cặp vợ chồng hiếm muộn có thêm cơ hội được làm cha mẹ.
Góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, xác định những bất cập, thiếu sót trong quy định pháp luật về nhận nuôi con nuôi, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật. Khóa luận: Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay.
6.2. Ý nghĩa về mặt khoa học:
Bổ sung kiến thức mới, nghiên cứu cung cấp những thông tin, số liệu và kiến thức mới về thực trạng nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam.
Đóng góp cho lý luận pháp luật, làm rõ các vấn đề lý luận pháp luật liên quan đến nhận nuôi con nuôi, từ đó thúc đẩy sự phát triển của ngành khoa học pháp luật.
6.3. Ý nghĩa về mặt xã hội:
Nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của việc nhận nuôi con nuôi, góp phần xóa bỏ những định kiến và rào cản xã hội. Thúc đẩy, khuyến khích lòng nhân ái, sự chung tay góp sức của cộng đồng trong việc bảo vệ trẻ em, tạo môi trường sống tốt đẹp cho trẻ em.
Giúp sinh viên nâng cao kỹ năng nghiên cứu khoa học, tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề, cung cấp cho sinh viên cơ hội thực hành pháp luật và hiểu biết thực tế về lĩnh vực nhận nuôi con nuôi, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực pháp luật.
Nhìn chung, nghiên cứu đề tài khóa luận tốt nghiệp pháp luật về nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay có ý nghĩa quan trọng cả về mặt thực tiễn, khoa học và xã hội. Do đó, việc nghiên cứu đề tài này là cần thiết và có ý nghĩa thiết thực cho xã hội.
7. Kết cấu của bài khoá luận tốt nghiệp
Bài khoá luận tốt nghiệp gồm có: Lời mở đầu, hai chương, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, cụ thể các chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp luật về nhận nuôi con nuôi
- Chương 2: Tình hình thực hiện pháp luật và giải pháp hoàn thiện pháp luật về nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay.
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ NHẬN NUÔI CON NUÔI
Nhận nuôi con nuôi là một quá trình đặc biệt trong đời sống gia đình, trong đó một người hoặc một cặp vợ chồng chấp nhận chăm sóc và nuôi dưỡng một trẻ em mà không phải là con ruột của mình. Hành động nhận nuôi con nuôi mang lại sự tình yêu, sự chăm sóc và một môi trường gia đình ổn định cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn hoặc không có gia đình ruột thịt để chăm sóc.
Nhận nuôi con nuôi mang lại nhiều lợi ích cho cả trẻ em và người nhận nuôi. Đối với trẻ em, nhận nuôi con nuôi cung cấp một môi trường gia đình ổn định, tình yêu thương và chăm sóc tận tâm. Nó giúp trẻ em phát triển về mặt vật chất, tinh thần và xã hội. Đồng thời, nhận nuôi cũng mang lại niềm hy vọng và cơ hội tốt hơn cho tương lai của trẻ.
Với người nhận nuôi, quá trình nhận nuôi con nuôi mang lại niềm vui, sự trọn vẹn và ý nghĩa gia đình. Nó cho phép họ chia sẻ tình yêu và sẻ chia trách nhiệm với trẻ em, và mang lại sự hài lòng và đáng tự hào. Nhận nuôi con nuôi cũng có thể giúp người nhận nuôi trải nghiệm sự phát triển và trưởng thành từ quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em.
1.1. Cơ sở lý luận Khóa luận: Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay.
1.1.1. Khái niệm về nuôi con nuôi và các khái niệm có liên quan
Nhận nuôi con nuôi đã xuất hiện và phổ biến tại nước ta từ khá lâu trước đây, theo thời gian, nhận thức và suy nghĩ của người dân ngày càng tiến bộ, những phong tục cổ hủ cho rằng: “Con cái phải chính do bản thân sinh ra” dường như đã không còn. Ngày nay, vì những lí do ngoại lực tác động như: môi trường, thức ăn, đất, nước, ô nhiễm,… hoặc do nhận thức của người trẻ hay do tâm sinh lý cơ thể của mỗi người mà cơ thể không tự sinh đẻ thì việc lựa chọn nhận nuôi con nuôi là một việc hoàn toàn đúng đắn, vừa giúp họ có được những đứa con của bản thân, vừa là hành động nhân đạo giúp những đứa trẻ không nơi nương tựa có được mái ấm của riêng mình.
Những đứa trẻ bị bỏ rơi ngay từ khi lọt lòng hay vì những lí do khác nhau mà cha mẹ chúng phải từ bỏ, gửi chúng tại những nơi như cô nhi viện, hay thậm chí là ngoài đường đã không còn xa lạ tại Việt Nam hiện nay. Hiện nay, các trang mạng thông tin xã hội, Internet ngày càng phát triển cho ta thấy được những trường hợp em bé bị bỏ rơi ngày càng xuất hiện nhiều.
Trường hợp thực tế: Hai em bé sơ sinh bị bỏ rơi trong Chùa Chông ở tỉnh Hải Dương vào đúng hôm mồng 6 tết, khi các sư thầy trong chùa bắt gặp, hai em vẫn đang trong tình trạng rây rốn còn đỏ hỏn, cả 2 em bé đều rất kháu khỉnh.
Đó là hai trong số rất nhiều các trường hợp trẻ em bị bỏ rơi từ khi vừa lọt lòng, chưa kể là các trường hợp trẻ em bị bố mẹ bỏ rơi vì các lí do khác nhau khác.
Trước khi đi vào nghiên cứu sâu về đề tài nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay thì chúng ta cùng đi tìm hiểu một số khái niệm cơ bản về nuôi con nuôi. Khóa luận: Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay.
Căn cứ theo khoản 1 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010: “Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ, con giữa những người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi”
Theo khoản 2 và khoản 3 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010: “Cha mẹ nuôi là người nhận con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký.”
“Con nuôi là người được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký.” Hai khoản đã quy định về hai chủ thể quan trọng nhất trong quan hệ nuôi con nuôi. Người nhận nuôi con nuôi có thể là những cặp vợ chồng có mối quan hệ hôn nhân hợp pháp cũng có thể là những người nam hoặc nữ độc thân có đầy đủ những quy định mà pháp luật Việt Nam đặt ra, đủ điều kiện cho việc nhận nuôi con nuôi, có thể có quốc tịch Việt Nam hoặc không có quốc tịch Việt Nam.
“Nuôi con nuôi trong nước là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau thường trú ở Việt Nam.” ( Theo Khoản 4 Điều 3 Luật NCN 2010). Việc nhận nuôi con nuôi trong nước chỉ được thực hiện giữa các công dân có chung quốc tịch Việt Nam, giữa người nhận nuôi mang quốc tịch Việt Nam và thường trú trong nước nhận trẻ em thường trú trong nước hoặc có quốc tịch Việt Nam.
Theo Khoản 5 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi 2010: “Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài.” Điều khoản này nói lên việc nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được thực hiện giữa người nhận nuôi và trẻ em được nhận nuôi khi một trong hai là công dân mang quốc tịch nước khác, hoặc hai bên đều là người nước ngoài nhưng đàn thường trú tại Việt Nam, hoặc cả hai bên đều mang quốc tịch Việt Nam nhưng một bên lại đang thường trú tại nước ngoài.
Từ những khái niệm trên, có thể nhận định rằng nuôi con nuôi là quá trình chấp nhận và chịu trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, và giáo dục một đứa trẻ không phải là con ruột của mình nhưng được coi là con của mình từ góc độ tình cảm và trách nhiệm phụ huynh, đây là việc xác lập mối quan hệ cha, mẹ con lâu dài, bền vững giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi thông qua việc đăng ký nhận con nuôi tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi các bên có đủ điều kiện để thực hiện việc xác lập nhận cha, mẹ con nuôi theo quy định hiện hành của pháp luật. Việc xác lập mối quan hệ cha, mẹ con căn cứ vào sự kiện nuôi dưỡng này sẽ hình thành, làm phát sinh nên các quyền và nghĩa vụ giữa hai bên cha, mẹ nuôi và người được nhận làm con nuôi kể cả đối với nhận nuôi con nuôi trong nước hay nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
1.1.2. Tầm quan trọng của việc nhận nuôi con nuôi
Hiện nay, tầm quan trọng của việc nhận nuôi con nuôi ngày càng được thể hiện rõ. Nuôi con nuôi là một hành động mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện sự quan tâm, yêu thương và trách nhiệm của cộng đồng đối với trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa. Việc nhận nuôi con nuôi mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho cả trẻ em, gia đình và xã hội.
Đối với trẻ em: Trẻ em được sống trong gia đình mới, được cha mẹ nuôi chăm sóc, yêu thương, tạo điều kiện cho trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội. Trẻ em được học tập, rèn luyện theo chương trình giáo dục phổ thông, được trang bị kiến thức, kỹ năng sống cần thiết để hòa nhập cộng đồng. Trẻ em được hưởng đầy đủ các quyền lợi về y tế, bảo hiểm xã hội, tài sản,… Như con đẻ của người nhận nuôi.
Nuôi con nuôi giúp trẻ em có cơ hội phát triển tốt đẹp hơn, trở thành những công dân có ích cho xã hội.
Đối với gia đình: Nuôi con nuôi giúp các cặp vợ chồng hiếm muộn có được con, có được niềm vui làm cha mẹ và xây dựng tổ ấm hạnh phúc. Nuôi con nuôi giúp gắn kết các thành viên trong gia đình, tạo bầu không khí ấm áp, yêu thương và hạnh phúc.
Nuôi con nuôi còn giúp truyền tải giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, như lòng nhân ái, sự quan tâm, yêu thương đối với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Khóa luận: Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay.
Đối với xã hội: Việc nhận nuôi con nuôi góp phần giảm bớt gánh nặng cho các cơ sở bảo trợ xã hội, tạo điều kiện cho trẻ em có môi trường sống tốt đẹp hơn, được hưởng sự chăm sóc, giáo dục đầy đủ và phát triển toàn diện. Nuôi con nuôi giúp giảm thiểu các tệ nạn xã hội, tăng cường sự gắn kết cộng đồng, tạo sự đồng lòng, chung tay góp sức của mọi người trong việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em.
Nuôi con nuôi còn là một nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam, thể hiện lòng nhân ái, sự quan tâm, yêu thương đối với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn.
Tuy nhiên, việc nuôi con nuôi cũng cần được thực hiện một cách cẩn trọng, có trách nhiệm:
Người nhận nuôi cần có điều kiện về kinh tế, sức khỏe, đạo đức, nhà ở để nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi. Việc nhận nuôi con nuôi phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp, phù hợp với đạo đức xã hội và lợi ích tốt nhất của trẻ em. Cần đảm bảo quyền lợi của con nuôi, không phân biệt đối xử với con nuôi và con đẻ.
Nuôi con nuôi là một hành động cao đẹp, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Cần có sự chung tay góp sức của cộng đồng để tạo điều kiện cho việc nuôi con nuôi được thực hiện một cách hiệu quả, góp phần bảo vệ quyền trẻ em và xây dựng xã hội văn minh.
1.1.3. Mục đích và nguyên tắc trong việc nhận nuôi con nuôi Khóa luận: Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay.
1.1.3.1. Mục đích của việc nhận nuôi con nuôi
Xuất phát từ chính tầm quan trọng của việc nhận nuôi con nuôi mà ta có thể hiểu được mục đích của việc nhận nuôi con nuôi ra sao. Căn cứ vào Khoản 2 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định: “Việc nuôi con nuôi nhằm xác lập mối quan hệ cha, mẹ con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, đảm bảo cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình.”.
Việc nuôi con nuôi có thể hướng tới những mục đích khác nhau trong từng thời kì, từng giai đoạn lịch sử và được điều chỉnh bằng pháp luật theo ý chí của giai cấp thống trị. Trong thời kì phong kiến, việc nhận nuôi con nuôi là nhằm mục đích đảm bảo sự kế tục trong việc thờ cúng tổ tiên, củng cố lợi ích của gia đình gia trưởng, nhằm có thêm người làm mà không phải trả tiền công, hoặc để khuếch trương quyền thế của gia đình phong kiến. Khi những giá trị tiến bộ của nhân loại ngày càng trở thành giá trị phổ biến, được các quốc gia thừa nhận, thì mục đích của việc nuôi con nuôi là vì lợi ích tốt nhất của trẻ em được pháp luật của nhiều quốc gia ghi nhận. Mục đích của việc nuôi con nuôi từ chỗ “tìm một đứa trẻ cho gia đình” đã chuyển thành “tìm một gia đình cho đứa trẻ” và điều đó đã được ghi nhận trong các văn bản pháp lí quốc tế về nuôi con nuôi, tạo thành khung pháp lí chung điều chỉnh việc nuôi con nuôi trong phạm vi quốc tế và quốc gia.
Tất cả các điều luật về nuôi con nuôi được đưa ra nhằm mục đích cao cả đó là tạo điều kiện thuận lợi, nâng cao giá trị quan trọng về lợi ích của trẻ em được nhận nuôi. Đặt mục đích là có lợi ích tốt nhất, cơ hội được nuôi dưỡng trong môi trường lành mạnh, được chăm sóc, giáo dục và không chịu sự phân biệt cho trẻ em được nhận nuôi lên hàng đầu.
1.1.3.2. Nguyên tắc trong việc nhận nuôi con nuôi
Việc nhận nuôi con nuôi cũng phải dựa trên những nguyên tắc chung được quy định của pháp luật đảm bảo phù hợp với các chính sách mà Nhà nước đề ra và đảm bảo lợi ích, quyền lợi tốt nhất cho trẻ em được nhận nuôi.
Căn cứ pháp lý theo Điều 4 Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định về nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi:
Thứ nhất, tại Khoản 1 có nêu rõ: “Khi giải quyết việc nuôi con nuôi, cần tôn trọng quyền của trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc.” Nghĩa là, thực chất việc nuôi con nuôi là tìm cho trẻ em một gia đình mới thay thế để trẻ có thể tiếp tục được chăm sóc, việc tôn trọng quyền của trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc được coi là nguyên tắc quan trọng nhất có thể giúp đứa trẻ đỡ bỡ ngỡ khi bước vào cuộc sống với một gia đình mới, giúp trẻ dần dần thích nghi và cảm nhận được tình thương từ gia đình mới mà không khiến đứa trẻ bị đột ngột thay đổi môi trường gia đình mới mà tự cách biệt. Bên cạnh đó, tại Khoản 1 Điều 5 Luật này có nêu lên thứ tự đối tượng được ưu tiên lựa chọn gia đình thay thế được thực hiện theo quy định.
Thứ tự như sau: Khóa luận: Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay.
- Cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi;
- Công dân Việt Nam thường trú trong nước;
- Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài;
- Người nước ngoài thường trú ở nước ngoài.
Trên đây là những đối tượng cơ bản chịu tác động của hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về dân sự, hôn nhân và gia đình nói riêng trong có có pháp luật về nhận nuôi con nuôi. Họ chịu sự chi phối bởi pháp luật Việt Nam, và theo thứ tự ta có thể thấy rằng, sự ưu tiên về mối quan hệ, môi trường gia đình gốc được đặt lên hàng đầu. Hàng đầu tiên là dành cho những người có mỗi quan hệ gần gũi, thân thiết nhất với trẻ em được nhận nuôi (khi không có cha, mẹ bên cạnh) có thể thấy rằng, pháp luật Việt Nam ưu tiên môi trường sống gần gũi cho trẻ em là trước tiên.
“Trường hợp có nhiều người cùng hàng ưu tiên xin nhận một người làm con nuôi thì xem xét, giải quyết cho người có điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con tốt nhất.” (Theo Khoản 2 Điều 5 Luật Nuôi con nuôi 2010). Sau khi xét về môi trường gia đình gốc, pháp luật Việt Nam xét tiếp đến điều kiện nuôi dưỡng, khả năng chăm sóc giáo dục con cái để có thể quyết định người nuôi dưỡng đứa trẻ, thể hiện việc đặt lợi ích của người được nhận làm con nuôi luôn là mối quan tâm hàng đầu của pháp luật Việt Nam.
Thứ hai, “Việc nuôi con nuôi phải đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người được nhận làm con nuôi và người nhận con nuôi, tự nguyện, bình đẳng, không phân biệt nam nữ, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.” (Theo Khoản 2 Điều 4 Luật NCN 2010). Khi có sự việc nhận nuôi con nuôi xảy ra, người nhận nuôi con nuôi phải đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người con nuôi, không phân biệt con ruột con nuôi, tạo môi trường giáo dục, chăm sóc và yêu thương con nuôi như con đẻ, và ngược lại, người được nhận làm con nuôi cũng phải biết ơn, chăm sóc bố mẹ nuôi như bố mẹ đẻ và nhận được sự yêu thương từ gia đình mới. Và việc nhận nuôi con nuôi phải hoàn toàn dựa trên tinh thần tự nguyện, không phân biệt giới tính, cha, mẹ nuôi phải đảm bảo rằng thật sự bản thân muốn nuôi dạy đứa trẻ, chăm sóc và yêu thương như con ruột và trẻ em được nhận nuôi cũng phải yêu thương cha mẹ nuôi như cha mẹ ruột của mình và phải phụng dưỡng cha mẹ.
Thứ ba, “Chỉ làm con nuôi người ở nước ngoài khi không tìm được gia đình thay thế ở trong nước.” (Theo khoản 3 Điều 4 Luật NCN 2010). Khoản 3 cho chúng ta thấy rõ hơn về việc môi trường gia đình gốc là quan trọng như thế nào với trẻ em và cũng cho ta thấy mối quan tâm của Nhà nước ta về vấn đề này. Pháp luật nước ta ưu tiên việc trẻ em được nhận làm con nuôi trong nước, và làm con nuôi ở nước ngoài như là biện pháp cuối cùng được đưa ra. Nhà nước đưa ra nguyên tắc này vì lợi ích tốt nhất cho đứa trẻ. Mỗi đứa trẻ được sinh ra mang một nguồn gốc dân tộc nhất định và khi nhận làm con nuôi nước ngoài sẽ làm thay đổi dân tộc ấy. Khi đó, sẽ vi phạm nguyên tắc môi trường gia đình gốc của đứa trẻ.
1.2. Pháp luật về nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay Khóa luận: Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay.
1.2.1. Lịch sử phát triển của pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam
Nhìn chung, pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam đã có nhiều sự thay đổi theo thời gian, sự thay đổi ấy để phù hợp với thực tiễn của xã hội, đảm bảo mục đích theo từng thời kỳ và hướng đến mục tiêu bảo vệ quyền, lợi ích của trẻ em, đảm bảo việc nhận nuôi con nuôi một cách có hiệu quả, hợp pháp và nhân đạo. Có thể chia lịch sử phát triển của pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam thành các giai đoạn như sau:
Trong thời kỳ phong kiến: Việc nhận nuôi con nuôi dựa trên phong tục tập quán và quy tắc đạo đức hơn là luật pháp và thường ít có trường hợp nhận nuôi con nuôi kể cả trong nước hay nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài do điều kiện lúc bấy giờ và thường nhận nuôi con nuôi trong nước chỉ diễn ra ở một số gia đình có điều kiện hơn.
Hai hình thức nhận nuôi con nuôi phổ biến là: Nhận con nuôi để truyền nối hương hỏa, phục vụ việc các gia đình không có con nối dõi và thường là nhận con nuôi là trẻ em trai và nhận con nuôi để giúp đỡ trẻ em mồ côi.
Trong thời kỳ Pháp thuộc: Các quy định liên quan đến pháp luật về nhận nuôi con nuôi chủ yếu là về điều kiện rằng người nhận nuôi phải đủ năng lực hành vi dân sự, có điều kiện về kinh tế, đạo đức để nuôi dưỡng con nuôi, con nuôi có quyền và nghĩa vụ như con đẻ của người nhận nuôi. Thủ tục nhận nuôi con nuôi phải được thực hiện thông qua tòa án.
Giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám đến nay: Năm 1957, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 128/TTg quy định về việc nhận nuôi con nuôi. Khóa luận: Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay.
Năm 1986, Luật Hôn nhân và Gia đình 1986 có quy định về việc nhận nuôi con nuôi. Tại Bộ luật này đã mở rộng hơn đối tượng được nhận làm con nuôi, đó là người từ 15 tuổi trở xuống mới được nhận làm con nuôi. Trong trường hợp con nuôi là thương binh, người tàn tật hoặc làm con nuôi người già yếu cô đơn thì con nuôi có thể trên 15 tuổi. Luật đã quy định rõ ràng hơn về điều kiện, thủ tục của người nhận nuôi và con nuôi và quy định rõ ràng việc chấm dứt nhận nuôi con nuôi.
Năm 1991, Quyết định số 12/1991/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định về việc nhận nuôi trẻ em không cha mẹ hoặc cha mẹ không xác định được tại Việt Nam. Quyết định này đã tạo cơ sở pháp lý chính thức cho hoạt động nhận nuôi trẻ em.
Năm 2000, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã đưa ra quy định về nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam. Theo đó, nhận nuôi con nuôi được công nhận là một hình thức hợp pháp để xây dựng gia đình.
Năm 2004, Luật Nuôi dưỡng và Chăm sóc trẻ em năm 2004 đã được ban hành, tạo ra cơ sở pháp lý chi tiết và cụ thể hơn về việc nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam. Luật này quy định về quy trình, các điều kiện và quyền lợi của người nhận nuôi và trẻ em được nhận nuôi.
Năm 2010, Luật số 52/2010/QH12 do Quốc hội ban hành ngày 17/06/2010 quy định chi tiết về nhận nuôi con nuôi. Luật này tập trung vào việc quy định cơ bản những điều khoản liên quan đến nhận nuôi con nuôi, đảm bảo quyền lợi và an toàn cho trẻ em. Luật Nuôi con nuôi 2010 đã phù hợp với thực tiễn xã hội hiện nay, đảm bảo quyền lợi của trẻ em và tại Luật Nuôi con nuôi 2010 có nhiều quy định mới như:
- Khuyến khích việc nhận nuôi con nuôi là trẻ em mồ côi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
- Thủ tục được đơn giản hóa: Việc nhận nuôi con nuôi có thể được thực hiện qua công chứng viên hoặc tòa án.
- Bảo vệ quyền lợi của con nuôi: Con nuôi được hưởng đầy đủ các quyền lợi về giáo dục, y tế, bảo hiểm xã hội,… Như con đẻ của người nhận nuôi.
Năm 2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 114/2016/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Nuôi con nuôi 2010 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã được Quốc hội thông qua, điều chỉnh và cải tiến các quy định liên quan đến nhận nuôi con nuôi. Luật này tăng cường việc bảo vệ quyền lợi và lợi ích của trẻ em và người nhận nuôi.
Nhìn chung, luật nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam đã có nhiều thay đổi theo thời gian, phù hợp với thực tiễn xã hội và đảm bảo quyền lợi của trẻ em.
1.2.2. Các quy định chính trong pháp luật về nhận nuôi con nuôi Khóa luận: Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay.
1.2.2.1. Điều kiện, quyền và nghĩa vụ của người nhận nuôi con nuôi
- Điều kiện của người nhận nuôi con nuôi:
Đối với nhận nuôi con nuôi trong nước, điều kiện của người nhận nuôi con nuôi được thể hiện rõ tại Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010, cụ thể như sau:
Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ: người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là người thành niên (người từ đủ 18 tuổi trở lên) và không phải là người bị Toà án tuyên bố là đã mất năng lực hành vi dân sự, không thể làm chủ hành vi, có khó khăn trong nhận thức hoặc là người bị hạn chế về năng lực hành vi dân sự theo các quy định tại Điều 22, 23, 24 BLDS năm 2015.
Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên: Đây là điều kiện về độ tuổi để một người có thể nhận nuôi con nuôi. Pháp luật nước ta không quy định cụ thể về độ tuổi nhận nuôi con nuôi mà lại quy định về sự chênh lệch tối thiểu giữa người nhận nuôi và người con nuôi. Điều này có thể thấy rằng, đây là sự chênh lệch cơ bản giúp người nhận nuôi con nuôi có thể vững vàng về tâm lí, đủ khả năng nhận thức và hành vi dân sự, đủ các điều kiện và tài chính để nhận nuôi một đứa trẻ. Ngoài ra, việc quy định chênh lệch này còn thể hiện được mối quan tâm tới truyền thống gia đình Việt Nam, giúp làm giảm các nguy cơ về việc cư xử không đúng mực giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi.
Có điều kiện về sức khoẻ, kinh tế, chỗ ở đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi: Một môi trường tốt sẽ giúp cha mẹ nuôi và con nuôi thêm gắn bó. Người nhận con nuôi phải đáp ứng đủ những điều kiện trên để có một môi trường và tâm lý vững vàng nhất cho việc nhận nuôi con nuôi. Khi đáp ứng được những nhu cầu cần thiết trong cuộc sống, cha mẹ nuôi sẽ có quỹ thời gian riêng để dạy dỗ và tiếp xúc với con nuôi từ đó gắn kết được mối quan hệ cha mẹ, con hơn cũng như tạo môi trường sống tốt nhất cho con cái.
Có tư cách đạo đức tốt: Ông cha ta đã có câu: “ Cha, mẹ là tấm gương phản chiếu lại tính cách và nhân cách của mỗi đứa trẻ.” Cha, mẹ có nhân cách đạo đức tốt thì những đứa con của họ sẽ noi gương theo bố mẹ, và được đảm bảo dạy dỗ theo một cách tốt nhất và ngược lại. Đồng thời, theo quy định này sẽ hạn chế việc lợi dụng con cái của những cha mẹ không có đạo đức tốt vào việc có hại cho chính trẻ em đó. Vì vậy, đây là một yếu tố vô cùng cần thiết để người được nhận làm con nuôi được sống trong môi trường lành mạnh.
Tuy nhiên, trong các trường hợp như cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng, cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu mình làm con nuôi thì sẽ không áp dụng một số quy định như độ tuổi, điều kiện kinh tế, sức khoẻ, chỗ ở như các trường hợp khác.
Ngoài những điều kiện để một người được nhận con nuôi như trên, thì những người sau đây không được nhận con nuôi (quy định tại khoản 2 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010): Khóa luận: Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay.
Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên: có thể kể đến như cha mẹ đang bị kết án về một trong các tội có liên quan đến xâm phạm sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con, phát tán tài sản của con, có lối sống đồi truỵ, hay ép buộc, xúi giục con của mình đi theo con đường phạm pháp.
Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại các cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh như: tại trại cai nghiên, trại cải tạo, cơ sở phục hồi nhân phẩm,…
Đang chấp hành hình phạt tù (kể cả được hưởng án treo)
Chưa được xoá án tích về một trong số các tội cố ý gây xâm phạm, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.
Đối với các trường hợp nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, quy định về người nhận nuôi con nuôi được thể hiện tại Điều 29 Luật Nuôi con nuôi 2010, cụ thể như sau:
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật nước nơi người đó thường trú và quy định tại Điều 14 của Luật này: Nghĩa là những người đang thường trú tại nước ngoài muốn nhận nuôi con nuôi là người Việt Nam phải bắt buộc tuân thủ theo quy định về luật nuôi con nuôi tại đất nước họ đang thường trú, ngoài ra phải tuân theo các quy định, đảm bảo các điều kiện tại Điều 14 như việc nhận nuôi con nuôi trong nước quy định tại Luật Nuôi con nuôi 2010.
Công dân Việt Nam nhận người nước ngoài làm con nuôi cũng phải có đủ điều kiện trước hết theo quy định tại Điều 14 Luật NCN 2010 bên cạnh đó là pháp luật của nước nơi người con nuôi đang thường trú.
- Quyền và nghĩa vụ của người nhận nuôi con nuôi:
Quyền và nghĩa vụ của người nhận nuôi con nuôi đối với người con nuôi giống như quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đẻ với con ruột của mình. Căn cứ theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, ta có các quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ nuôi đối với con nuôi như sau:
Quyền của người nhận nuôi con nuôi: Người nhận nuôi có quyền được nhận làm con nuôi trẻ em đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. Người nhận nuôi con nuôi được hưởng các ưu đãi về thuế, nhà ở, giáo dục, y tế,… theo quy định của pháp luật và người nhận nuôi con nuôi được bảo vệ pháp luật về quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Cha, mẹ có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc nuôi dạy con cái, bảo vệ quyền và lợi ích của con cái
Nghĩa vụ của người nhận nuôi con nuôi: Người nhận nuôi có nghĩa vụ nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội. Người nhận nuôi có nghĩa vụ bảo vệ quyền lợi của con nuôi như con đẻ của mình. Cha mẹ nuôi có nghĩa vụ tạo điều kiện cho con nuôi phát triển về tài năng, trí tuệ, đạo đức và kỹ năng sống.
Ngoài ra, người nhận nuôi con nuôi còn có một số quyền và nghĩa vụ cụ thể khác như: Quyền được thừa kế tài sản của con nuôi nghĩa là người nhận nuôi con nuôi có quyền được thừa kế tài sản của con nuôi như cha mẹ đẻ của con nuôi; người nhận nuôi có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con nuôi nếu con nuôi không có khả năng tự nuôi sống bản thân. Cha mẹ nuôi có nghĩa vụ chu cấp tài chính cho con nuôi theo quy định của pháp luật. Khóa luận: Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay.
Quyền và nghĩa vụ của người nhận nuôi con nuôi được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp, phù hợp với đạo đức xã hội và lợi ích tốt nhất của trẻ em và việc nhận nuôi con nuôi phải được thực hiện theo quy định của pháp luật.
1.2.2.2. Điều kiện, quyền và nghĩa vụ của người được nhận làm con nuôi
- Điều kiện của người được nhận làm con nuôi:
Đối với người con nuôi cũng giống như người nhận con nuôi cũng có những quy định, điều kiện riêng để trở thành con nuôi. Theo quy định tại Điều 8 Luật Nuôi con nuôi 2010 có nêu rõ các điều kiện để trở thành người được nhận làm con nuôi:
Trẻ em dưới 16 tuổi: Đây được coi là lứa tuổi chưa thành niên được quy định tại Điều 21 BLDS năm 2015. Độ tuổi này chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và chưa thể độc lập tham gia vào các giao dịch dân sự nếu chưa có sự đồng ý của người giám hộ. Vậy nên, pháp luật Việt Nam quy định độ tuổi dưới 16 tuổi làm độ tuổi để được nhận làm con nuôi.
Người từ đủ 16 tuổi đến 18 tuổi nếu được cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi: Đây là độ tuổi đã có thể tự xác lập các giao dịch dân sự lớn, thế nhưng mới bước qua tuổi chưa thành niên, nên độ tuổi này vẫn còn suy nghĩ chưa chín chắn và cần được những người tin tưởng hỗ trợ. Các trường hợp nhận nuôi lại là những người thân thiết từ nhỏ nên họ có thể tin tưởng vào. Những người đã là họ hàng thân thích với nhau thông thường sẽ tin tưởng nhau hơn, giúp đỡ và tránh những trường hợp lợi dụng vào mục đích xấu hơn.
Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai vợ chồng. Nhà nước khuyến khích nhận nuôi trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi. Đây đều là những điều kiện có lợi cho trẻ em và thể hiện rõ rằng mối quan tâm tới lợi ích của trẻ em được nhận nuôi và sự quan tâm đặc biệt tới trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của pháp luật Việt Nam.
- Quyền và nghĩa vụ của người được nhận làm con nuôi:
Con nuôi có quyền và nghĩa vụ đối với cha, mẹ nuôi của mình. Căn cứ theo Điều 70 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, ta có thể đưa ra như sau:
- Quyền của người được nhận làm con nuôi:
Quyền được nhận làm con nuôi: Trẻ em đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật có quyền được nhận làm con nuôi.
Quyền hưởng các quyền lợi ích hợp pháp: Người được nhận làm con nuôi được hưởng đầy đủ các quyền lợi về nhân thân, tài sản, giáo dục, y tế,… như con đẻ của người nhận nuôi.
Quyền được bảo vệ pháp luật: Người được nhận làm con nuôi được bảo vệ pháp luật về quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
- Nghĩa vụ của người được nhận làm con nuôi: Khóa luận: Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay.
Nghĩa vụ tôn trọng, yêu thương, phụng dưỡng cha mẹ nuôi: Người được nhận làm con nuôi có nghĩa vụ tôn trọng, yêu thương, phụng dưỡng cha mẹ nuôi như cha mẹ đẻ của mình.
Nghĩa vụ chấp hành nội quy, quy định của gia đình: Người được nhận làm con nuôi có nghĩa vụ chấp hành nội quy, quy định của gia đình người nhận nuôi.
Nghĩa vụ học tập, rèn luyện đạo đức: Người được nhận làm con nuôi có nghĩa vụ học tập, rèn luyện đạo đức, rèn luyện thân thể để trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Ngoài ra, người được nhận làm con nuôi còn có một số quyền và nghĩa vụ cụ thể khác như:
Quyền được thừa kế tài sản của cha mẹ nuôi: Người được nhận làm con nuôi có quyền được thừa kế tài sản của cha mẹ nuôi như con đẻ của cha mẹ nuôi.
Nghĩa vụ giữ gìn truyền thống gia đình: Người được nhận làm con nuôi có nghĩa vụ giữ gìn truyền thống gia đình người nhận nuôi.
Nghĩa vụ hỗ trợ cha mẹ nuôi khi già yếu, ốm đau: Người được nhận làm con nuôi có nghĩa vụ hỗ trợ cha mẹ nuôi khi già yếu, ốm đau.
1.2.3. Thẩm quyền đăng ký nhận nuôi con nuôi Khóa luận: Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay.
Việc đăng ký nhận nuôi con nuôi là việc vô cùng quan trọng và là điều kiện cần thiết để xác lập mối quan hệ cha, mẹ nuôi với con nuôi được pháp luật công nhận. Đây cũng là thủ tục bắt buộc nhằm bảo vệ quyền lợi của cả hai bên người nhận nuôi con nuôi và người nuôi con nuôi. Việc đăng ký nhận nuôi con nuôi được quy định rõ ràng tại Điều 9 luật Nuôi con nuôi 2010:
Đối với trường hợp nhận nuôi con nuôi trong nước thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký là Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp xã) (UBND cấp xã) nơi thường trú của người được giới thiệu làm con nuôi hoặc của người nhận con nuôi đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước.
Đối với việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thì Uỷ ban nhân dân tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) nơi thường trú của người được giới thiệu làm con nuôi quyết định việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; Sở Tư pháp tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương đăng ký việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Đối với việc nhận nuôi con nuôi giữa hai công dân Việt Nam ở nước ngoài với nhau, thì Cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nơi tạm trú của người được nhận làm con nuôi hoặc người nhận con nuôi đăng ký việc nuôi con nuôi; trường hợp cả hai bên tạm trú pử nước không có Cơ quan đại diện, thì người nhận nuôi con nuôi nộp hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi tại cơ quan đại diện nào thuận tiện nhất với họ.
1.2.4. Thủ tục đăng ký nhận nuôi con nuôi
Những cặp vợ chồng hoặc những người độc thân có nhu cầu muốn được nhận nuôi con nuôi, đáp ứng đủ điều kiện xin nhận nuôi con nuôi nhưng vẫn chưa tìm được trẻ em thích hợp thì có thể đăng ký nhu cầu nhận nuôi con nuôi của mình tới Sở Tư pháp nơi người độc thân hoặc cặp vợ chồng đó thường trú. Nếu có trẻ em thích hợp để giới thiệu, Sở Tư pháp sẽ hướng dẫn để tới UBND cấp xã nơi có trẻ em đó thường trú và làm các thủ tục theo quy định của pháp luật hiện hành để nhận nuôi.
1.2.4.1. Lập và nộp hồ sơ nuôi con nuôi:
Hồ sơ của người nhận nuôi con nuôi trong nước lập thành 01 bộ hồ sơ (được quy định tại Điều 17 Luật NCN 2010) bao gồm:
- Đơn xin nhận con nuôi;
- Bản sao hộ chiếu, Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế
- Phiếu lý lịch tư pháp;
- Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân;
- Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp; văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú cấp, trừ trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng, cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi.
Ngoài ra, khi không thuộc các trường hợp như cha dượng, mẹ kế nhận con riêng của vợ, chồng làm con nuôi, cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi mà không cùng thường trú tại một xã thì người nhận nuôi con nuôi cần xác nhận về tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế, hoàn cảnh gia đình như sau: Khóa luận: Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay.
Trong trường hợp đăng ký việc nhận nuôi con nuôi tại UBND cấp xã nơi người được nhận nuôi con nuôi thường trú, thì việc xác nhận tình trạng chỗ ở, hoàn cảnh gia đình, điều kiện kinh tế sẽ do UBND cấp xã nơi người nhận nuôi thường trú xác nhận.
Trường hợp đăng ký việc nhận nuôi con nuôi tại UBND cấp xã nơi người nhận nuôi thường trú, thì việc xác nhận tình trạng chỗ ở, hoàn cảnh gia đình, điều kiện kinh tế sẽ do công chức tư pháp – hộ tịch xác minh.
Hồ sơ của người nhận con nuôi trong việc nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài (được quy định tại Điều 31 Luật Nuôi con nuôi 2010), bao gồm:
Hồ sơ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có các giấy tờ, tài liệu sau đây:
- Đơn xin nhận con nuôi;
- Bản sao Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;
- Văn bản cho phép được nhận con nuôi ở Việt Nam;
- Bản điều tra về tâm lý, gia đình;
- Văn bản xác nhận tình trạng sức khỏe;
- Văn bản xác nhận thu nhập và tài sản;
- Phiếu lý lịch tư pháp;
- Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân;
Tài liệu chứng minh thuộc trường hợp được xin đích danh như: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài được nhận con nuôi đích danh trong các trường hợp: Là cha dượng, mẹ kế của người được nhận làm con nuôi; Là cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi; Có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được nhận làm con nuôi; Nhận trẻ em khuyết tật, nhiễm HIV/AIDS hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khác làm con nuôi; Là người nước ngoài đang làm việc, học tập ở Việt Nam trong thời gian ít nhất là 01 năm.
Các giấy tờ, tài liệu quy định tại điểm b, c, d, đ, e, g và h khoản 1 Điều 31 Luật Nuôi con nuôi 2010 do cơ quan có thẩm quyền của nước nơi người nhận con nuôi thường trú lập, cấp hoặc xác nhận.
Hồ sơ của người nhận con nuôi được lập thành 02 bộ và nộp cho Bộ Tư pháp thông qua cơ quan trung ương về nuôi con nuôi của nước nơi người nhận con nuôi thường trú; trường hợp nhận con nuôi đích danh quy định tại khoản 2 Điều 28 của Luật Nuôi con nuôi 2010 thì người nhận con nuôi có thể trực tiếp nộp hồ sơ cho Bộ Tư pháp.
Hồ sơ của người được nhận làm con nuôi (Điều 18 Luật Nuôi con nuôi 2010)
Hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi sẽ do cha, mẹ đẻ hoặc người giám hộ lập, trường hợp trẻ em được giới thiệu làm con nuôi sống tại cơ sở nuôi dưỡng thì hồ sơ sẽ do cơ sở nuôi dưỡng lập, đối với vụ việc nhận nuôi con nuôi trong nước sẽ bao gồm:
- Giấy khai sinh
- Giấy khám sức khoẻ do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp;
- Hai ảnh toàn thân, nhìn thẳng chụp không quá 06 tháng;
- Biên bản xác nhận do Uỷ ban nhân dân hoặc Công an cấp xã nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi lập đối với trẻ em bị bỏ rơi; Giấy chứng tử của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em là đã chết đối với trẻ em mồ côi; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất tích đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ đẻ mất tích; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất năng lực hành vi dân sự đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ để mất năng lực hành vi dân sự; Khóa luận: Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay.
- Quyết định tiếp nhận đối với trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng.
Hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi nước ngoài (căn cứ theo quy định tại Điều 32 Luật Nuôi con nuôi 2010), bao gồm:
- Giấy khai sinh
- Giấy khám sức khoẻ do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp;
- Hai ảnh toàn thân, nhìn thẳng chụp không quá 06 tháng;
- Biên bản xác nhận do Uỷ ban nhân dân hoặc Công an cấp xã nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi lập đối với trẻ em bị bỏ rơi; Giấy chứng tử của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em là đã chết đối với trẻ em mồ côi; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất tích đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ đẻ mất tích; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất năng lực hành vi dân sự đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ để mất năng lực hành vi dân sự;
- Quyết định tiếp nhận đối với trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng.
- Văn bản về đặc điểm, sở thích, thói quen đáng lưu ý của trẻ em;
Tài liệu chứng minh đã thực hiện việc tìm gia đình thay thế trong nước cho trẻ em theo quy định tại khoản 2 điều 15 của Luật Nuôi con nuôi 2010 nhưng không thành:
Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phát hiện trẻ em bị bỏ rơi có trách nhiệm tìm người hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ em; nếu có người nhận trẻ em làm con nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phát hiện trẻ em bị bỏ rơi xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật; nếu không có người nhận trẻ em làm con nuôi thì lập hồ sơ đưa trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng;
Trường hợp trẻ em mồ côi không có người nuôi dưỡng hoặc trẻ em có cha mẹ đẻ, người thân thích nhưng không có khả năng nuôi dưỡng thì người giám hộ, cha mẹ đẻ, người thân thích có trách nhiệm báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ em thường trú tìm gia đình thay thế cho trẻ em. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm hỗ trợ nuôi dưỡng trẻ em và thông báo, niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân trong thời hạn 60 ngày để tìm người nhận trẻ em làm con nuôi; nếu có người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, giải quyết. Hết thời hạn thông báo, niêm yết, nếu không có người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập hồ sơ đưa trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng;
Trường hợp trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng cần có gia đình thay thế, cơ sở nuôi dưỡng lập danh sách gửi Sở Tư pháp. Sở Tư pháp có trách nhiệm thông báo 03 lần liên tiếp trên báo viết hoặc phương tiện thông tin đại chúng khác của tỉnh.
Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày thông báo, nếu có người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì người đó liên hệ với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ em thường trú để xem xét, giải quyết; nếu việc nhận con nuôi đã hoàn thành thì Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo Sở Tư pháp để xóa tên trẻ em đó trong danh sách trẻ em cần tìm gia đình thay thế.
Hết thời hạn 60 ngày, kể từ ngày thông báo, nếu không có người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì Sở Tư pháp gửi danh sách trẻ em cần tìm gia đình thay thế cho Bộ Tư pháp; Khóa luận: Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay.
Bộ Tư pháp có trách nhiệm thông báo tìm người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi trên trang thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.
Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày thông báo, nếu có người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì người đó liên hệ với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ em thường trú để xem xét, giải quyết; nếu việc nhận con nuôi đã hoàn thành thì Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo Bộ Tư pháp để xóa tên trẻ em đó trong danh sách trẻ em cần tìm gia đình thay thế. Hết thời hạn 60 ngày, kể từ ngày thông báo, nếu không có người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì Bộ Tư pháp thông báo cho Sở Tư pháp.
- Giải quyết hồ sơ nuôi con nuôi :
Sau khi hồ sơ của người nhận nuôi con nuôi và người được giới thiệu làm con nuôi hoàn thành, người nhận con nuôi phải nộp hồ sơ tại UBND cấp xã tại nơi người nhận nuôi con nuôi hoặc người được giới thiệu làm con nuôi thường trú đối với với trường hợp nhận nuôi con nuôi trong nước và thời hạn giải quyết việc nuôi con nuôi là 30 ngày kể từ ngày UBND cấp xã nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Đối với trường hợp nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thì Uỷ ban nhân dân tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) nơi thường trú của người được giới thiệu làm con nuôi quyết định việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; Sở Tư pháp tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương đăng ký việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Đối với việc nhận nuôi con nuôi giữa hai công dân Việt Nam ở nước ngoài với nhau, thì Cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nơi tạm trú của người được nhận làm con nuôi hoặc người nhận con nuôi đăng ký việc nuôi con nuôi; trường hợp cả hai bên tạm trú ở nước không có Cơ quan đại diện, thì người nhận nuôi con nuôi nộp hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi tại cơ quan đại diện nào thuận tiện nhất với họ.
Khi đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiếp nhận hồ sơ sau đó tiến hành kiểm tra hồ sơ, sau đó sẽ nghiên cứu, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng và hoàn cảnh của những người liên quan. Trường hợp người được nhận làm con nuôi vẫn còn cha, mẹ đẻ thì phải kiểm tra xem cha mẹ đẻ có thoả thuận với cha, mẹ nuôi để giữ lại quyền và nghĩa vụ đối với con và cách thức thực hiện các nghĩa vụ đó sau khi đã cho làm con nuôi.
Về việc lấy ý kiến những người liên quan và lấy ý kiến về việc nhận con nuôi phải có được sự đồng ý của cha, mẹ đẻ của người được nhận làm con nuôi. Nếu cha hoặc mẹ đẻ đã mất, mất năng lực hành vi dân sự hoặc mất tích hoặc không xác định được thì phải hỏi ý kiến người còn lại. Trong trường hợp cha, mẹ đẻ không sống chung với nhau mà một trong hai người không đồng ý thì không được diễn ra vụ việc nhận nuôi con nuôi. Nếu cả cha, mẹ đẻ đều mất, mất tích hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì sẽ hỏi ý kiến của người dám hộ. Trẻ em trên 09 tuổi sẽ được hỏi sự đồng ý nếu trẻ em đó là người được nhận làm con nuôi. Sự đồng ý đó sẽ hoàn toàn là tự nguyện, không bị ép buộc, mua chuộc hay là bị đe doạ và được lập thành văn bản có chữ ký và điểm chỉ của chính trẻ em được nhận làm con nuôi.
Cha, mẹ đẻ chỉ được đồng ý cho con làm con nuôi sau khi con đã được sinh ra ít nhất 15 ngày (khoản 4 Điều 21 Luật Nuôi con nuôi 2010).
1.2.4.2. Thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi :
Sau khi chuẩn bị kĩ càng hồ sơ nhận nuôi con nuôi, người nhận nuôi con nuôi sẽ chuyển hồ sơ để tiếp tục hoàn thiện làm thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi.
- Thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước :
Căn cứ theo Điều 22 Luật Nuôi con nuôi 2010, thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước thực hiện như sau:
Khi xét thấy người nhận con nuôi và người được giới thiệu làm con nuôi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật thì Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức đăng ký nuôi con nuôi. Khi đăng ký việc nuôi con nuôi, thì cha, mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng phải có mặt. Khi đó, Công chức Tư pháp – Hộ tịch sẽ ghi vào sổ đăng ký nhận nuôi con nuôi và trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi cho cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng, tổ chức giao nhận con nuôi và ghi vào sổ hộ tịch trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày có ý kiến đồng ý của những người có liên quan.
Nếu nhận xét thấy người nhận nuôi con nuôi không có đủ điều kiện thực hiện nuôi con nuôi theo pháp luật quy định thì UBND cấp xã sẽ từ chối việc đăng ký và phải trả lời bằng văn bản cho người nhận con nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng và nêu rõ lý do trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có ý kiến của những người có liên quan. Giấy chứng nhận nuôi con nuôi sẽ được gửi tới UBND cấp xã nơi thường trú của người nhận nuôi con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi. Khóa luận: Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay.
Sau khi được công nhận việc nuôi con nuôi kể từ ngày nhận nuôi con nuôi, cha mẹ nuôi phải có trách nhiệm báo cáo tới UBND cấp xã nơi họ thường trú về tình trạng sức khoẻ, tinh thần và sự hoà nhập giữa cha mẹ nuôi và con nuôi cứ 06 tháng một lần trong vòng 03 năm và theo đó UBND cấp xã nơi cha, mẹ nuôi thường trú cũng có trách nhiệm kiểm tra và theo dõi tình hình nuôi con nuôi.
- Thủ tục đăng ký nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài :
Đối với trường hợp nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, thì quy trình, thủ tục đăng ký nhận nuôi con nuôi có sự phức tạp hơn, căn cứ từ Điều 33 đến Điều 38 Luật Nuôi con nuôi 2010
Trước tiên, Sở Tư pháp sẽ có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, tiến hành lấy ý kiến của những người liên quan trong vòng 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ và phải có văn bản kèm theo chữ ký hoặc điểm chỉ của người được lấy ý kiến.
Trong trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, cần được xác minh thì Sở Tư pháp đề nghị Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xác minh; cơ quan công an có trách nhiệm xác minh và trả lời bằng văn bản trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp.
Sau khi xác minh, kiểm tra theo quy định, nếu thấy trẻ em có đủ điều kiện để cho làm con nuôi nước ngoài thì Sở Tư pháp sẽ xác nhận và gửi lên Bộ Tư pháp.
Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra và xử lý hồ sơ của người nhận con nuôi theo quy định của pháp luật trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Trong trường hợp người nhận con nuôi đích danh được quy định theo pháp luật về nuôi con nuôi, Bộ Tư pháp chuyển hồ sơ cho Sở Tư pháp nơi người được giới thiệu làm con nuôi thường trú để trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định.
Sau khi kết thúc thời hạn thông báo tìm gia đình thay thế cho trẻ, nếu trẻ em không được người trong nước nhận làm con nuôi thì Bộ Tư pháp chuyển hồ sơ của người nhận con nuôi cho Sở Tư pháp nơi trẻ em được giới thiệu làm con nuôi thường trú để xem xét, giới thiệu trẻ em làm con nuôi theo trình tự quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định về người nhận con nuôi đích danh.
Việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi nước ngoài thì phải đặt quyền lợi của trẻ em lên hàng đầu, có tính đến lợi ích của người nhận con nuôi theo quy định của pháp luật.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ của người nhận con nuôi, Sở Tư pháp xem xét, giới thiệu trẻ em làm con nuôi trên cơ sở bảo đảm các căn cứ quy định của pháp luật và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ do Sở Tư pháp trình, nếu Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đồng ý thì thông báo cho Sở Tư pháp để làm thủ tục chuyển hồ sơ cho Bộ Tư pháp; trường hợp không đồng ý thì trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Trước khi Sở Tư pháp xem xét, giới thiệu trẻ em làm con nuôi nước ngoài, nếu có người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì người đó liên hệ với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ em thường trú để xem xét, giải quyết; nếu việc nhận con nuôi đã hoàn thành thì Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo Sở Tư pháp để chấm dứt việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi nước ngoài.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả giới thiệu trẻ em làm con nuôi, Bộ Tư pháp kiểm tra việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi, nếu hợp lệ thì lập bản đánh giá việc trẻ em Việt Nam đủ điều kiện được làm con nuôi nước ngoài và thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước nơi người nhận con nuôi thường trú.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước nơi người nhận con nuôi thường trú thông báo về sự đồng ý của người nhận con nuôi đối với trẻ em được giới thiệu, xác nhận trẻ em sẽ được nhập cảnh và thường trú tại nước mà trẻ em được nhận làm con nuôi, Bộ Tư pháp thông báo cho Sở Tư pháp.
Người nhận con nuôi không được có bất kỳ sự tiếp xúc nào với cha mẹ, người giám hộ hoặc cơ sở nuôi dưỡng trẻ em trước khi nhận được thông báo giới thiệu trẻ em làm con nuôi, trừ trường hợp quy định về người nhận con nuôi đích danh.
Trường hợp người nhận con nuôi từ chối nhận trẻ em được giới thiệu làm con nuôi mà không có lý do chính đáng thì việc giải quyết hồ sơ xin nhận con nuôi của người đó chấm dứt. Khóa luận: Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay.
Sau khi nhận được thông báo của Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ do Sở Tư pháp trình, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài.
Ngay sau khi có quyết định cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Tư pháp thông báo cho người nhận con nuôi đến Việt Nam để nhận con nuôi. Người nhận con nuôi phải có mặt ở Việt Nam để trực tiếp nhận con nuôi trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Sở Tư pháp; trường hợp vợ chồng xin nhận con nuôi mà một trong hai người vì lý do khách quan không thể có mặt tại lễ giao nhận con nuôi thì phải có ủy quyền cho người kia; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn trên có thể kéo dài, nhưng không quá 90 ngày. Hết thời hạn nêu trên, nếu người nhận con nuôi không đến nhận con nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hủy quyết định cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài.
Sở Tư pháp đăng ký việc nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch và tổ chức lễ giao nhận con nuôi tại trụ sở Sở Tư pháp, với sự có mặt của đại diện Sở Tư pháp, trẻ em được nhận làm con nuôi, cha mẹ nuôi, đại diện cơ sở nuôi dưỡng đối với trẻ em được xin nhận làm con nuôi từ cơ sở nuôi dưỡng hoặc cha mẹ đẻ, người giám hộ của trẻ em đối với trẻ em được xin nhận làm con nuôi từ gia đình. Việc giao nhận con nuôi phải được lập thành biên bản, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên và đại diện Sở Tư pháp.
Sau khi giao nhận con nuôi, Sở Tư pháp có trách nhiệm gửi Bộ Tư pháp quyết định cho trẻ em là con nuôi nước ngoài của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, biên bản giao nhận con nuôi, đồng thời gửi Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của trẻ em được cho làm con nuôi nước ngoài.
Bộ Tư pháp gửi quyết định cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài cho Bộ Ngoại giao để thông báo cho Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài về việc trẻ em được nhận làm con nuôi để thực hiện biện pháp bảo hộ trẻ em trong trường hợp cần thiết.
Bộ Tư pháp chứng nhận việc nuôi con nuôi đã được giải quyết theo đúng quy định của Luật Nuôi con nuôi và điều ước quốc tế về nuôi con nuôi mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để gửi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài, nếu có yêu cầu.
Sau khi được công nhận việc nuôi con nuôi kể từ ngày nhận nuôi con nuôi, sáu tháng một lần trong thời hạn 03 năm, cha mẹ nuôi có trách nhiệm thông báo cho Bộ Tư pháp và Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước nơi con nuôi thường trú về tình trạng sức khỏe, thể chất, tinh thần, sự hòa nhập của con nuôi với cha mẹ nuôi, gia đình, cộng đồng.
Trường hợp công dân Việt Nam ở trong nước nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi
Căn cứ theo Điều 40 Luật Nuôi con nuôi 2010: “Công dân Việt Nam nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi phải lập hồ sơ theo quy định tại Điều 17 của Luật này gửi Bộ Tư pháp. Bộ Tư pháp xem xét, cấp giấy xác nhận người nhận con nuôi có đủ điều kiện nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật Việt Nam trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trường hợp cần thiết, Bộ Tư pháp yêu cầu Sở Tư pháp nơi người đó thường trú xác minh thì thời hạn có thể kéo dài, nhưng không quá 60 ngày.
Sau khi hoàn tất các thủ tục nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi, công dân Việt Nam có trách nhiệm làm thủ tục ghi chú việc nuôi con nuôi tại Sở Tư pháp và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó thường trú.”
Trường hợp người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận con nuôi
Căn cứ theo Điều 41 Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định rõ về trường hợp người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận nuôi con nuôi:
“Hồ sơ của người nhận con nuôi và người được giới thiệu làm con nuôi được nộp cho Sở Tư pháp nơi người được giới thiệu làm con nuôi thường trú. Sở Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, lấy ý kiến của những người có liên quan.
Khi xét thấy người nhận con nuôi và người được giới thiệu làm con nuôi có đủ điều kiện theo quy định của Luật này thì Sở Tư pháp trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ do Sở Tư pháp trình, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận con nuôi; trường hợp từ chối thì phải trả lời cho người nhận con nuôi bằng văn bản và nêu rõ lý do. Khóa luận: Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay.
Ngay sau khi có quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Tư pháp đăng ký việc nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch, tổ chức lễ giao nhận con nuôi tại trụ sở Sở Tư pháp với sự có mặt của đại diện Sở Tư pháp, người được nhận làm con nuôi, cha mẹ nuôi, đại diện cơ sở nuôi dưỡng đối với trẻ em được xin nhận làm con nuôi từ cơ sở nuôi dưỡng hoặc cha mẹ đẻ, người giám hộ đối với người được xin nhận làm con nuôi từ gia đình và gửi quyết định cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người nhận con nuôi. Trường hợp người nhận con nuôi không đến nhận con nuôi mà không có lý do chính đáng thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hủy quyết định cho người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận con nuôi.
Việc giao nhận con nuôi phải được lập thành biên bản, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên và đại diện Sở Tư pháp.”
Trường hợp nuôi con nuôi ở khu vực biên giới
Căn cứ theo Điều 42 Luật Nuôi con nuôi 2010 thì: “ Chính phủ quy định thủ tục giải quyết nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với công dân ở nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới.”
1.2.5. Chấm dứt nuôi con nuôi
Chấm dứt việc nuôi con nuôi là một quyết định quan trọng và đòi hỏi sự cân nhắc kỹ lưỡng từ tất cả các bên liên quan. Dù là cho có sự thay đổi trong hoàn cảnh gia đình, do mâu thuẫn hay do những lý do khác thì việc chấm dứt nuôi con nuôi cũng sẽ mang lại những hệ quả lớn trong cuộc sống của tất cả mọi người có liên quan đến quan hệ nuôi dưỡng.
Trong quá trình này, sự quan tâm đến lợi ích và sự phát triển của trẻ em luôn được đặt lên hàng đầu. Các quyền lợi và trách nhiệm của tất cả các bên liên quan cũng phải được xem xét cẩn thận, kỹ lưỡng, nhằm đảm rằng quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi được đưa ra một cách công bằng và hợp lý.
1.2.5.1. Căn cứ để chấm dứt quan hệ nuôi dưỡng giữa cha mẹ nuôi và con nuôi
Quan hệ nuôi dưỡng giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chỉ chấm dứt khi có quyết định của Toà án dựa trên các căn cứ theo Điều 25 Luật Nuôi con nuôi 2010 như sau:
Con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt: Con nuôi đã thành niên là một trong những căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi vì để đảm bảo rằng, người con nuôi đã có khả năng tự nuôi sống chính bản thân mình, có đủ khả năng nhận thức và có thể sống tự lập mà không cần sự chăm sóc của cha mẹ nuôi. Tự nguyện chấm dứt của các bên là yếu tố quan trọng nhằm tránh sự ép buộc trong việc chấm dứt nuôi con nuôi.
Con nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của cha mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha mẹ nuôi hoặc con nuôi có hành vi phá tán tài sản của cha mẹ nuôi: Việc nuôi con nuôi được thể hiện thông qua sự yêu thương đùm bọc, thấu hiểu nhau giữa cha mẹ nuôi và con nuôi. Nếu như con nuôi có các hành vi như xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ, tinh thần và kinh tế, nhân phẩm danh dự của cha mẹ nuôi và bị kết án thì sẽ chấm dứt mối quan hệ nuôi dưỡng giữa cha mẹ nuôi và con nuôi để bảo đảm quyền lợi của cha, mẹ nuôi.
Cha, mẹ nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý gây xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con nuôi; ngược đãi, hành hạ con nuôi: Giống như trường hợp con nuôi đã nêu ở trên, nếu cha mẹ nuôi có các hành vi xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ, tinh thần, danh dự; ngược đãi, hành hạ con nuôi và bị kết án thì cần chấm dứt ngay quan hệ nuôi dưỡng để bảo đảm quyền và lợi ích của người con nuôi. Khóa luận: Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay.
Vi phạm một trong các hành vi bị cấm được quy định tại Điều 13 Luật Nuôi con nuôi 2010 như sau:
- Lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi, bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục; bắt cóc, mua bán trẻ em.
- Giả mạo giấy tờ để giải quyết việc nuôi con nuôi.
- Phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi.
- Lợi dụng việc cho con nuôi để vi phạm pháp luật về dân số: nước ta có chính sách về dân số quy định rằng: “ mỗi gia đình chỉ được có hai người con” Thế nhưng một số gia đình vì muốn sinh thêm con, có thể là muốn sinh thêm con trai trong khi có hai con gái rồi mà sợ vi phạm pháp luật, họ sẽ cho một bé đi làm con nuôi để có thể tiếp tục sinh tiếp. Vì vậy, nhà nước đã cấm hành vi trên để tránh vi phạm pháp luật về dân số.
- Lợi dụng việc làm con nuôi của thương binh, người có công với cách mạng, người thuộc dân tộc thiểu số để hưởng chế độ, chính sách ưu đãi của Nhà nước.
- Ông, bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh, chị nhận em làm con nuôi.
- Lợi dụng việc nuôi con nuôi để vi phạm pháp luật, phong tục tập quán, đạo đức, truyền thống, văn hoá tốt đẹp của dân tộc.
1.2.5.2. Các tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi
Các tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Toà án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi được quy định tại Điều 26 Luật Nuôi con nuôi 2010:
Cha mẹ nuôi, con nuôi đã thành niên, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của con nuôi.
Cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi trừ trường hợp cha, mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên tự nguyện chấm dứt là:
- Cơ quan lao động, thương binh và xã hội.
- Hội liên hiệp phụ nữ.
1.2.5.3. Hệ quả phát sinh khi chấm dứt việc nuôi con nuôi
Khi chấm dứt việc mối quan hệ nuôi dưỡng giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi sẽ làm phát sinh những hệ quả theo sau và đã được quy định rõ tại Điều 27 Luật Nuôi con nuôi 2010:
Quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của toà án có hiệu lực pháp luật. Khi chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quyết định của Toà án thì các quyền và nghĩa vụ giữa cha nuôi, mẹ nuôi và con nuôi cũng chấm dứt.
Nếu là con nuôi đã thành niên thì có thể tự mình đưa ra mọi quyết định liên quan đến cuộc sống của bản thân mà không phụ thuộc vào bất kỳ ai, thế nhưng với trường hợp con nuôi chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động thì Toà án quyết định giao cho cha, mẹ đẻ người giám hộ, tổ chức, cá nhân chăm sóc, nuôi dưỡng để bảo vệ lợi ích tốt nhất của người đó. Người con nuôi có quyền lấy lại họ, tên của mình như trước khi được cho làm con nuôi. Nếu như sau khi được nhận làm con nuôi, cha mẹ nuôi có quyền thay đổi họ tên của con nuôi, thì sau khi chấm dứt quyền nuôi con nuôi, người con nuôi đã thành niên hoặc cha mẹ đẻ của con nuôi chưa thành niên có thể giữ lại tên cha mẹ nuôi đặt cho mình hoặc đổi lại về tên cũ mà cha mẹ ruột đã đặt trước khi được nhận nuôi.
Trường hợp con nuôi được giao lại cho cha mẹ đẻ thì các quyền, nghĩa vụ chăm sóc, đại diện về mặt pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, cấp dưỡng, định đoạt tài sản riêng đối với con đã làm con nuôi của cha mẹ đẻ đã chấm dứt theo quy định sẽ được khôi phục. Khóa luận: Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay.
Trường hợp con nuôi có tài sản riêng thì được nhận lại tài sản đó; nếu con nuôi có công lao lớn đóng góp vào khối tài sản chung của cha mẹ nuôi thì được hưởng phần tài sản tương xứng với công lao đóng góp theo thoả thuận với cha mẹ nuôi , nếu không thoả thuận được thì sẽ yêu cầu Toà án giải quyết theo pháp luật dân sự.
Tiểu kết chương 1
Chương 1 là một chương thể hiện toàn diện về các quy định có liên quan đến pháp luật nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam từ khái niệm, tầm quan trọng của việc nhận nuôi con nuôi, lịch sử phát triển của pháp luật về nhận nuôi con nuôi đến các quy định chính trong pháp luật về nhận nuôi con nuôi, điều kiện, quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong vụ việc nhận nuôi con nuôi, thẩm quyền đăng ký nhận nuôi con nuôi, thủ tục đăng ký nuôi con nuôi và việc chấm dứt cùng với hệ quả của nó trong việc nuôi con nuôi. Khóa luận: Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay.
Các quy định được thể hiện rõ ràng trong Luật Nuôi con nuôi 2010 cùng với các văn bản quy phạm pháp luật đi kèm. Các quy định đó đều hướng đến mục đích chung nhất đó là bảo đảm quyền và lợi ích của trẻ em được nhận làm con nuôi cũng như quy định rõ ràng giúp người nhận con nuôi biết cách chuẩn bị hồ sơ cho việc nhận nuôi một cách dễ dàng, thuận tiện nhất.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực hiện Pháp luật về nhận con nuôi tại Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Giải pháp Pháp luật về nhận con nuôi tại Việt Nam