Khóa luận: Pháp luật về quản lý danh mục hoạt động tôn giáo

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Pháp luật về quản lý danh mục hoạt động tôn giáo hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Hoàn thiện quy định pháp luật về quản lý danh mục thông báo hoạt động tôn giáo dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Theo nghiên cứu từ các nhà sử học, người Việt Nam từ thời cổ xưa đã thực hiện các hình thức lễ nghi đối với các hiện tượng tự nhiên (gió, mưa, sấm, chớp) và đây được coi là những hình thức tôn giáo từ thuở sơ khai. Theo tiến trình lịch sử, các tôn giáo khác nhau lần lượt du nhập vào Việt Nam và phát triển dưới nhiều hình thức. Điển hình có một số tôn giáo lớn như: Phật giáo – du nhập vào Việt Nam từ các năm 168-189 Sau Công nguyên và phát triển mạnh mẽ vào thời Nhà Lý và Nhà Trần, Công giáo – được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ XVI và phát triển mạnh vào thế kỷ XVII, Đạo Tin Lành – xuất hiện tại Việt Nam từ năm 1911, được cấp phép và hoạt động từ năm 1920, Đạo Cao Đài – được thành lập năm 1926. Các tôn giáo đã xuất hiện ở nước ta cả hàng ngàn năm, vì vậy không thể phủ nhận rằng, tín ngưỡng và tôn giáo có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tinh thần của người dân Việt Nam. Hiểu được vấn đề này, Đảng và Nhà nước ta luôn bày tỏ quan điểm tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, cho phép nhân dân được quyền lựa chọn tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với nhu cầu của bản thân đồng thời tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ấy, điều này được ghi nhận tại Điều 24 Hiến pháp 2013. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xu thế công nghệ và thời đại hiện nay, các vấn đề về tôn giáo đang trở nên khó kiểm soát hơn và có nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh quốc gia về văn hóa. Dễ thấy rằng, số lượng tín đồ, người theo đạo, người truyền giáo, các chức sắc, chức việc và người tu hành đang có xu hướng tăng lên và chiếm một tỷ lệ nhất định trong nhân dân, đồng thời có sự xuất hiện của một số tôn giáo mới. Sự phát triển của các tôn giáo mang đến những giá trị tích cực về mặt đạo đức xã hội nhưng cùng với đó là sự xuất hiện của một số vấn đề tiêu cực là một điều tất yếu. Các vấn đề tiêu cực ấy không chỉ đến từ các “tôn giáo mới” mà còn có thể đến từ các tôn giáo truyền thống đã có từ lâu. Điều này cho thấy rằng, Nhà nước phải có các biện pháp kiểm soát, quản lý chặt chẽ trên cơ sở bảo đảm bình đẳng và tự do về tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân để tránh những ảnh hưởng tiêu cực có thể xảy ra. Trong đó, phương pháp quản lý hiệu quả nhất là thông qua pháp luật. Nói về pháp luật tôn giáo, lịch sử lập pháp về tín ngưỡng tôn giáo ở nước ta bắt đầu từ năm 1955 với Sắc lệnh 234 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành, quy định bảo đảm về quyền tự do tín ngưỡng và cho tới hiện nay có Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016 là quy định hiện hành, kế thừa tinh hoa từ những văn bản quy phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trước đó đồng thời mở rộng và bổ sung thêm rất nhiều quy định mới nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với vấn đề tôn giáo. Tuy nhiên, nhằm phòng tránh các vụ việc kẻ xấu lợi dụng tôn giáo gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, pháp luật về tôn giáo cần có các quy định nhằm quản lý việc thành lập, tổ chức và hoạt động tôn giáo. Theo đó, hoạt động của các tổ chức tôn giáo được Nhà nước quản lý bằng rất nhiều phương pháp khác nhau, điển hình là thông qua việc quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo, đây được coi là một biện pháp quản lý đóng vai trò quan trọng giúp cơ quan Nhà nước có thể kiểm soát được hoạt động của các tổ chức tôn giáo. Khóa luận: Pháp luật về quản lý danh mục hoạt động tôn giáo.

Đối với thủ tục thông báo danh mục hoạt động tôn giáo, tuy pháp luật hiện hành đã có các quy định của pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo đã quy định rõ về chủ thể quản lý, chủ thể thực hiện, trình tự thủ tục, mẫu văn bản đối với việc thông báo danh mục hoạt động tôn giáo, song, pháp luật chưa có quy định cụ thể các hoạt động phải thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chưa có quy định nội dung thanh tra việc thực hiện thông báo danh mục hoạt động tôn giáo, chưa có chế tài xử phạt đối với tổ chức, cá nhân vi phạm quy định về thông báo danh mục danh mục hoạt động tôn giáo. Điều này dẫn đến việc rất nhiều cơ sở tôn giáo không tuân thủ đúng quy định pháp luật về thông báo danh mục hoạt động tôn giáo, nhiều hành vi vi phạm pháp luật về tôn giáo không có chế tài xử lý. Những năm gần đây, đã xảy ra rất nhiều vụ việc, một số “tôn giáo lạ” tiến hành truyền đạo, sinh hoạt tôn giáo nhằm lôi kéo tín đồ với mục tiêu chống phá Đảng và Nhà nước, một số tổ chức lợi dụng hoạt động tôn giáo nhằm trục lợi cá nhân. Tất cả những hành vi sai trái đó, phải đến khi cơ quan điều tra vào cuộc xác minh thì sự việc mới được phanh phui, trong khi cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo không kịp thời nắm bắt được ngay do các tổ chức thường không thực hiện thông báo danh mục hoạt động tôn giáo, và hiện cũng không có quy định xử lý hành chính đối với hành vi vi phạm việc thông báo này. Không chỉ vậy, một số cơ sở tôn giáo thuộc các tổ chức tôn giáo đã được công nhận cũng vi phạm quy định về thông báo danh mục hoạt động tôn giáo, nhưng chính quyền địa phương không thể xử phạt do hiện không có quy định cho phép xử phạt hành chính đối với vi phạm này. Vì những lý do trên, em quyết định lựa chọn đề tài “Hoàn thiện quy định pháp luật về quản lý danh mục thông báo hoạt động tôn giáo” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình với mục tiêu nghiên cứu kĩ hơn các quy định về quản lý danh mục thông báo hoạt động tôn giáo, thực trạng thực hiện các quy định đó và những vấn đề còn tồn tại trong quy định của pháp luật, từ đó đưa ra phương hướng, kiến nghị giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại này.

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Theo khảo sát của tác giả, đã từng có rất nhiều tài liệu nghiên cứu chung về tôn giáo, quản lý nhà nước về tôn giáo cũng như một số đề tài nghiên cứu các quy định pháp luật về quản lý hoạt động tôn giáo

Dưới góc độ quản lý nhà nước và pháp luật về tôn giáo, chúng ta có một số đề tài khoa học, luận án, luận văn như sau:

Đề tài luận văn “Đổi mới quản lý Nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động của các tôn giáo ở Việt Nam” của tác giả Trần Minh Thư [23].Tuy nhiên đề tài này chỉ đi sâu nghiên cứu về quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với các vấn đề tôn giáo, lý luận các phương thức quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, bày tỏ quan điểm về phương hướng đổi mới trong cách thức quản lý mà chưa đi sâu vào nghiên cứu cụ thể các quy định của pháp luật.

Đề tài luận văn thạc sĩ “Quản lý nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Cao Đại Đoàn [11]. Đề tài này tuy có nghiên cứu về lịch sử lập pháp và các văn bản pháp luật quy định về tín ngưỡng tôn giáo nhưng về phần hoạt động tôn giáo chỉ nghiên cứu ở cấp độ khái quát.

Dưới góc độ nghiên cứu về thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở địa phương, chúng ta có một số công trình nghiên cứu sau: Khóa luận: Pháp luật về quản lý danh mục hoạt động tôn giáo.

Đề tài khóa luận tốt nghiệp “Quản lý Hoạt động tôn giáo của UBND quận Kiến An, thành phố Hải Phòng – Thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Thị Phương Anh [18]. Đề tài này tuy có nghiên cứu các thủ tục đăng ký hoạt động tôn giáo, thông báo danh mục hoạt động tôn giáo, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử nhưng chỉ dừng lại nghiên cứu thực trạng ở phạm vi địa phương, không đi sâu vào nghiên cứu quy định áp dụng cho toàn lãnh thổ Việt Nam.

Đề tài luận văn “Quản lý Nhà nước về hoạt động tôn giáo trên địa bàn huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội” của tác giả Lưu Huy [15]. Trong đề tài này, tác giả có đề cập đến các khái niệm cơ bản về hoạt động tôn giáo, những nội dung cơ bản của hoạt động tôn giáo ở cấp độ lý luận. Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra được các vấn đề phát sinh trong hoạt động tôn giáo và nêu quan điểm về giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trên địa bàn huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội.

Về tài liệu tham khảo, có một số tác phẩm, công trình nghiên cứu khoa học về chủ đề tôn giáo và hoạt động tôn giáo như sau:

Cuốn tài liệu “Tìm hiểu quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Tất Đạt [16]. Tài liệu này tập trung nghiên cứu một cách tổng quan các cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Việt Nam.

Cuốn tài liệu “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thanh Xuân thuộc Ban Tôn giáo Chính phủ [17]. Trong tài liệu này, tác giả có nêu lên một số lý luận khái quát về tín ngưỡng, tôn giáo theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Le-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, tác giả cũng đã đi sâu nghiên cứu một số nội dung về quản lý hoạt động tôn giáo, các chính sách tôn giáo ở Việt Nam, đời sống tôn giáo thời kỳ đổi mới và những sự thành tựu trong hoạt động quản lý trong thời kỳ đổi mới. Tuy nhiên, ấn phẩm này cũng chưa đi sâu vào nghiên cứu quy định pháp luật về thông báo hoạt động của các tổ chức tôn giáo.

Như vậy, có thể nói rằng, hiện nay chưa có đề tài nghiên cứu nào trực tiếp về “thông báo danh mục hoạt động tôn giáo” được công bố rộng rãi, các đề tài đã nghiên cứu phần lớn tập trung vào các chủ đề liên quan đến “quản lý hoạt động tôn giáo”.

3. Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu làm rõ những khái niệm lý luận cơ bản, thực trạng thực hiện pháp luật và các quy định pháp luật hiện hành về quản lý danh mục thông báo danh mục hoạt động tôn giáo. Thông qua đó nhằm tìm ra những hạn chế, những điểm chưa phù hợp với thực tế để đưa ra biện pháp khắc phục nhằm sửa đổi quy định theo hướng hoàn thiện hơn.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu quy định của pháp luật Việt Nam về thông báo danh mục hoạt động tôn giáo và thực trạng thực hiện các quy định này.

  • Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận: Pháp luật về quản lý danh mục hoạt động tôn giáo.

Về không gian: Đề tài nghiên cứu các quy định pháp luật liên quan đến quản lý danh mục thông báo hoạt động tôn giáo áp dụng trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Trong đó, tên đề tài được hiểu là quản lý về thông báo danh mục hoạt động tôn giáo.

Về thời gian: Đề tài nghiên cứu các quy định hiện hành đang áp dụng đối với thông báo danh mục hoạt động tôn giáo trong giai đoạn 2020-2023.

5. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được tác giả nghiên cứu bằng việc áp dụng các phương pháp như sau:

Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: đề tài sử dụng những lý thuyết, nghiên cứu, cơ sở lý luận có trong các tài liệu, giáo trình liên quan đến vấn đề tôn giáo, hoạt động tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo từ đó tổng hợp các thông tin thành một hệ thống lý thuyết có tính mới, đầy đủ hơn về thông báo hoạt động tôn giáo, thông báo danh mục hoạt động tôn giáo, quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo.

Phương pháp thu thập số liệu: nhằm đánh giá thực trạng thực hiện quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo, đề tài nghiên cứu và phân tích dựa trên việc thu thập các tài liệu, báo cáo thống kê, báo cáo kết quả thực hiện, số liệu được công bố từ ba nguồn chính là: các cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở trung ương và một số địa phương; các tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc; bài báo trên các trang mạng Internet chính thống, sách, báo, tài liệu, tạp chí chính thống.

Phương pháp phân tích: Dựa trên các số liệu thu thập được, tác giả tiến hành phân tích một cách khách quan, đưa ra các quan điểm so sánh và đánh giá những vấn đề liên quan đến nội dung thực hiện pháp luật về quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo, từ thực tiễn thực hiện tìm ra những vấn đề hạn chế, kiến nghị giải pháp khắc phục hạn chế.

6. Bố cục tổng quát của khóa luận Khóa luận: Pháp luật về quản lý danh mục hoạt động tôn giáo.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, bố cục của đề tài khóa luận tốt nghiệp gồm 3 chương, trong đó:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo.
  • Chương 2: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo.

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ THÔNG BÁO DANH MỤC HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO

1.1. Các khái niệm liên quan

1.1.1. Khái niệm tôn giáo, hoạt động tôn giáo

1.1.1.1 Tôn giáo

Có thể đưa ra khái niệm chung về tôn giáo, cũng là khái niệm theo quy định tại khoản 5 Điều 2 Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016 [22] như sau: “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức”. Về cơ bản, tôn giáo được hình thành khi có đầy đủ các các yếu tố: giáo lý, giáo luật, lễ nghi. Giáo lý và giáo luật là tất cả những lời nói, lời dạy của người sáng tạo ra tôn giáo được ghi chép và truyền đạt lại để tín đồ của tôn giáo thực hành. Lễ nghi là các hình thức cầu, cúng khác nhau được đề cập trong giáo lý của các tôn giáo. Ngoài ra, một tôn giáo cần có hệ thống tổ chức thống nhất, phải có người đứng đầu (thường gọi là giáo chủ) và những tín đồ sống tách biệt khỏi gia đình, thường xuyên thực hiện các hoạt động theo các giáo lý, giáo luật, quy định riêng của tôn giáo ấy (gọi chung là nhà tu hành).

1.1.1.2 Hoạt động tôn giáo.

Theo khoản 11 Điều 2 Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016 [22]: “Hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo.” Như vậy, pháp luật đã phân hoạt động tôn giáo thành ba loại như sau: sinh hoạt tôn giáo, truyền bá tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo.

 “Sinh hoạt tôn giáo” được định nghĩa tại khoản 10 Điều 2 Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016 [22] như sau: “Sinh hoạt tôn giáo là việc bày tỏ niềm tin tôn giáo, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi tôn giáo”. Hiểu một cách đầy đủ hơn, khi các tín đồ, người theo tôn giáo thực hiện những điều được đề cập trong giáo lý, giáo luật, thực hiện các cuộc lễ nghi riêng của tôn giáo mình một cách thường xuyên, các hoạt động này được gọi là “sinh hoạt tôn giáo”.

“Truyền bá tôn giáo” là những hoạt động của các nhà tu hành, tín đồ, người theo tôn giáo thực hiện truyền bá, phổ biến về giáo lý, giáo luật, lễ nghi, tư tưởng của tôn giáo mình cho mọi người với mục tiêu phát triển và mở rộng tôn giáo ấy.

“Quản lý tổ chức của tôn giáo” là việc làm của những người được chọn ra để đứng đầu tôn giáo với vai trò thống nhất quản lý. Quản lý tổ chức của tôn giáo bao gồm quản lý về các mặt: nhân sự, hoạt động của tôn giáo, các vấn đề khác tùy vào quy mô của tổ chức tôn giáo. Một tôn giáo với số lượng nhà tu hành nhất định cần phải có sự quản lý một cách thống nhất, việc quản lý đó thuộc về trách nhiệm của những người đứng đầu tôn giáo, phải đảm bảo những nhà tu hành hoặc tín đồ của tôn giáo đó thực hiện đúng các giáo lý, giáo điều, lễ nghi và không vi phạm pháp luật, không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người khác.

Dựa trên quy định tại Điều 7, khoản 1 Điều 20 Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016 [22], có thể tổng hợp một số hoạt động tôn giáo chủ yếu của các tổ chức gồm:  – Hoạt động tôn giáo theo hiến chương, điều lệ và văn bản có nội dung tương tự của tổ chức tôn giáo. Khóa luận: Pháp luật về quản lý danh mục hoạt động tôn giáo.

  • Hoạt động bổ nhiệm, bầu cử, suy cử chức việc.
  • Tổ chức đại hội thông qua hiến chương.
  • Tổ chức các cuộc lễ tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo, giảng đạo, bồi dưỡng giáo lý.
  • Xuất bản kinh sách và xuất bản các ấn phẩm khác về tôn giáo.
  • Sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm tôn giáo, đồ dùng tôn giáo.
  • Cải tạo, nâng cấp, sửa chữa, xây dựng mới trụ sở tôn giáo.
  • Nhận tài sản hợp pháp do tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài tự nguyện tặng cho.
  • Tham gia hoạt động từ thiện, nhân đạo.
  • Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Các hoạt động trên có thể được coi là những hoạt động tôn giáo cơ bản của một tổ chức tôn giáo nói chung. Tuy nhiên, ngoài các hoạt động được liệt kê trên, các tổ chức tôn giáo còn có rất nhiều hoạt động khác nhau mà hiện nay pháp luật chưa thể cụ thể hóa được, sự khác nhau này xuất phát từ nội dung giáo lý của mỗi tôn giáo. Vì vậy, để xác định được “hoạt động tôn giáo”, cần xác định hoạt động ấy có thuộc một trong ba loại là sinh hoạt tôn giáo, truyền bá tôn giáo và quản lý tổ chức tôn giáo hay không.

1.1.2. Khái niệm thông báo hoạt động tôn giáo Khóa luận: Pháp luật về quản lý danh mục hoạt động tôn giáo.

Từ khái niệm về hoạt động tôn giáo, có thể định nghĩa thông báo hoạt động tôn giáo như sau: Xét trên phương diện tục pháp lý, thông báo hoạt động tôn giáo cụm từ nói chung dùng để chỉ các thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật. Theo đó, pháp luật quy định về các hoạt động mà tổ chức phải có văn bản thông báo tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thông báo về hoạt động tôn giáo của tổ chức mình.

Về hình thức, thông báo hoạt động tôn giáo được thực hiện dưới hình thức văn bản, gồm có tên tổ chức, địa điểm, thời gian diễn ra hoạt động, tên các hoạt động, người đại diện thực hiện và một số nội dung khác. Tùy vào mỗi loại hoạt động sẽ có các quy định về hình thức và mẫu văn bản thông báo hoạt động tôn giáo khác nhau Các cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở các cấp theo thẩm quyền của mình có trách nhiệm tiếp nhận mà không cần phản hồi lại về thông báo danh mục hoạt động tôn giáo, đồng thời lưu trữ và quản lý văn bản nhằm nắm bắt thông tin về hoạt động của các tổ chức tôn giáo.

1.1.3. Khái niệm thông báo danh mục hoạt động tôn giáo

Để làm rõ hơn các vấn đề liên quan đến thông báo danh mục hoạt động tôn giáo, trước hết, xin được nêu khái niệm thông báo danh mục hoạt động tôn giáo. Cụm từ “thông báo danh mục hoạt động tôn giáo” có thể được hiểu theo nhiều nghĩa như sau:

Dưới góc độ thủ tục pháp lý, thông báo danh mục hoạt động tôn giáo là một thủ tục hành chính trong lĩnh vực tôn giáo được quy định riêng trong Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016. Thủ tục này được thể hiện dưới hình thức văn bản và được thực hiện bởi các tổ chức tôn giáo, tổ chức trực thuộc tôn giáo, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, được quản lý bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền tiếp nhận, nội dung, hình thức thực hiện thông báo danh mục hoạt động tôn giáo được thực hiện theo quy định tại Điều 43 Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

Dưới góc độ một loại văn bản hành chính, thông báo danh mục hoạt động tôn giáo là một loại “văn bản đến”, do các tổ chức tôn giáo, tổ chức trực thuộc tôn giáo, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo gửi đến cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật.

Tùy thuộc vào quy định nội bộ của từng cơ quan, đơn vị quản lý nhà nước về tôn giáo nên có sự khác khác nhau về cách phân loại, sắp xếp các văn bản thông báo danh mục hoạt động tôn giáo. Tuy nhiên, chủ yếu có thể phân loại sắp xếp theo các cách sau:

  • Phân loại theo tôn giáo: gồm 16 tôn giáo được Nhà nước công nhận theo Công văn số 6955/BNV-TGCP của Bộ Nội vụ [2].
  • Phân loại theo nội dung thông báo gồm: văn bản thông báo danh mục hoạt động tôn giáo hằng năm và văn bản thông báo danh mục hoạt động tôn giáo bổ sung.

Theo đó, có thể phân biệt cơ bản đối với hai khái niệm “thông báo danh mục hoạt động tôn giáo” và “thông báo hoạt động tôn giáo” như sau: Khóa luận: Pháp luật về quản lý danh mục hoạt động tôn giáo.

Tiêu chí so sánh Thông báo danh mục hoạt động tôn giáo Thông báo hoạt động tôn giáo
Cơ sở pháp lý Điều 43 Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016 – Điều 31, 33, 34, 35, 36, 39, 42, 43, 44, 53 Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016.

– Điều 25, 26 Nghị định 95/2023/NĐ-CP

Chủ thể thực hiện Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo
Chủ thể tiếp nhận và quản lý Cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Thời gian thực hiện – 30 ngày đối với thông báo danh mục hoạt động tôn giáo hằng năm

– 20 ngày đối với thông báo danh mục hoạt động tôn giáo bổ sung

Tùy vào từng thủ tục thời hạn khác nhau
Mẫu văn bản Quy định tại Phụ lục danh mục các biểu mẫu kèm theo Nghị định số 95/2023/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Chính phủ

Bảng 1.1 So sánh “thông báo danh mục hoạt động tôn giáo” và “thông báo hoạt động tôn giáo

1.1.4. Khái niệm quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo

Quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện các công việc chỉ đạo tổ chức, thực hiện và kiểm tra việc tiếp nhận, lưu trữ sau khi nhận được văn bản thông báo danh mục hoạt động tôn giáo của các tổ chức theo trình tự, thủ tục được pháp luật quy định.

Do vậy, việc thực hiện pháp luật về quản lý thông báo danh mục hoạt đông tôn giáo bao gồm các hoạt động: xây dựng kế hoạch, ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện pháp luật về thông báo danh mục hoạt động tôn giáo

Quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo bao gồm các nội dung sau đây:

  • Quản lý thủ tục thông báo danh mục hoạt động tôn giáo.
  • Quản lý thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ thông báo danh mục hoạt động tôn giáo.
  • Quản lý sử dụng mẫu thông báo danh mục hoạt động tôn giáo.

1.2. Chủ thể, đối tượng, nội dung và vai trò của quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo Khóa luận: Pháp luật về quản lý danh mục hoạt động tôn giáo.

1.2.1. Chủ thể của quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo

Thông báo danh mục hoạt động tôn giáo là một quy định nằm trong Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016, vì vậy chủ thể quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo cũng là chủ thể quản lý hoạt động tôn giáo, là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý về tôn giáo. Cụ thể, bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở hai cấp trung ương và ở địa phương. Trong đó:

  • Cơ quan quản lý cấp trung ương

Căn cứ khoản 2 Điều 17 Luật Tổ chức Chính phủ 2015 [20] về nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ đối với công tác tín ngưỡng, tôn giáo, theo đó Chính phủ có nhiệm vụ: “Quản lý và tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào của công dân.”. Như vậy, ở cấp trung ương, Chính phủ là cơ quan quản lý chung về tôn giáo, Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu có vai trò đưa ra các chỉ thị, chỉ đạo điều hành về công tác tôn giáo.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 31 Nghị định 95/2023/NĐ-CP [13]: “Bộ Nội vụ là cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ương, chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc quản lý nhà nước về tôn giáo”. Ngoài ra, căn cứ khoản 14 Điều 2 Nghị định 63/2022/NĐ-CP [12] quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ, về mặt tín ngưỡng, tôn giáo, Bộ Nội vụ thực hiện các nhiệm vụ và có quyền hạn như sau:

  • Giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật.
  • Làm đầu mối liên hệ với các tổ chức tôn giáo trong nước và quốc tế, đối ngoại tôn giáo và đấu tranh nhân quyền.
  • Thực hiện và hướng dẫn các cộng đồng tín ngưỡng, tổ chức, cá nhân tôn giáo hoạt động theo quy định của pháp luật.
  • Quản lý thống nhất về xuất bản các ấn phẩm, sách kinh, tác phẩm, giáo trình giảng dạy, văn hóa phẩm thuần túy tín ngưỡng, tôn giáo của các cộng đồng tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động.
  • Khen thưởng hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền khen thưởng và áp dụng chế độ, chính sách đối với các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.

Chịu trách nhiệm tham mưu cho Bộ Nội vụ là Ban Tôn giáo Chính phủ, đơn vị hành chính trực thuộc Bộ Nội vụ, được quy định tại khoản 1 Điều 1 Quyết định số 32/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành [24] như sau: “Ban Tôn giáo Chính phủ là cơ quan tương đương Tổng cục trực thuộc Bộ Nội vụ, có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Nội vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trong phạm vi cả nước; thực hiện các dịch vụ công thuộc lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật”. Ngoài ra, căn cứ danh mục thủ tục hành chính ban hành kèm theo Quyết định số 199/QĐ-BNV ngày 31/01/2018 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ [5], Ban Tôn giáo Chính phủ thực hiện thủ tục: Khóa luận: Pháp luật về quản lý danh mục hoạt động tôn giáo.

  • Thủ tục thông báo danh mục hoạt động tôn giáo đối với tổ chức có địa bàn hoạt động tôn giáo ở nhiều tỉnh.
  • Thủ tục thông báo danh mục hoạt động tôn giáo bổ sung đối với tổ chức có địa bàn hoạt động tôn giáo ở nhiều tỉnh.

Như vậy, có thể thấy rằng, việc thông báo danh mục hoạt động tôn giáo ở cấp trung ương do Ban Tôn giáo Chính phủ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện, hướng dẫn, tiếp nhận văn bản thông báo của các tổ chức có địa bàn hoạt động tôn giáo ở nhiều tỉnh.

  • Cơ quan quản lý cấp tỉnh

Đối với các vấn đề tôn giáo nói chung ở cấp tỉnh, căn cứ quy định tại khoản 6 Điều 19, khoản 1, khoản 6 Điều 21 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 [21], nhiệm vụ và quyền hạn của UBND cấp tỉnh đối với các vấn đề tôn giáo chung như sau:

  • Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định đối với nội dung biện pháp thực hiện chính sách tôn giáo trong phạm vi được phân quyền
  • Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định đối với nội dung biện pháp bảo đảm quyền bình đẳng giữa các tôn giáo, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh.
  • Thực hiện các nhiệm vụ về tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật liên quan đến tôn giáo theo quy định của pháp luật.

Đứng đầu UBND cấp tỉnh là Chủ tịch UBND tỉnh chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý chung về công tác tôn giáo. Bên cạnh đó, có Sở Nội vụ là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tôn giáo, tham mưu cho Sở Nội vụ là Ban Tôn giáo cấp tỉnh. Căn cứ quy định tại khoản 15 Điều 2 Thông tư 05/2021/TT-BNV [4] hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của sở nội vụ thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh và phòng nội vụ thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện, về mặt tôn giáo nói chúng, Sở Nội vụ có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:

  • Giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh làm đầu mối liên hệ với các tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc và cơ sở tín ngưỡng thuộc thẩm quyền quản lý trên địa bàn.
  • Tổ chức tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đối với cán bộ, công chức, viên chức và tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của các tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng trong phạm vi quản lý.
  • Giải quyết theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền giải quyết những vấn đề cụ thể về tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật. Chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành trong việc tham mưu, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết những vấn đề phát sinh trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo thuộc thẩm quyền quản lý.
  • Hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết những vấn đề cụ thể về tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật.

Chịu trách nhiệm tham mưu, giải quyết các vấn đề về tôn giáo, giải quyết việc thông báo danh mục hoạt động tôn giáo ở cấp tỉnh là Ban Tôn giáo trực thuộc Sở Nội vụ. Tuy nhiên, không phải tỉnh thành nào cũng thành lập Ban Tôn giáo trực thuộc Sở Nội vụ. Theo khảo sát trên tổng số 63 tỉnh thành của Việt Nam, hiện có hai tỉnh là Bạc Liêu và Hà Giang không tổ chức Ban Tôn giáo thuộc Sở Nội vụ mà việc thực hiện chính sách pháp luật về tôn giáo, thực hiện thông báo danh mục hoạt động tôn giáo do Ban Dân tộc – Tôn giáo, là cơ quan chuyên môn ngang sở. Như vậy, ở cấp tỉnh, ngoài hai tỉnh nói trên, Ban Tôn giáo cấp tỉnh quản lý trực tiếp và báo cáo cấp trên đối với thông báo danh mục hoạt động tôn giáo. Về việc thực hiện thông báo danh mục hoạt động tôn giáo, các cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo cấp tỉnh chỉ tiếp nhận đối với thông báo của tổ chức có địa bàn hoạt động tôn giáo ở nhiều huyện thuộc một tỉnh.

  • Cơ quan quản lý cấp huyện Khóa luận: Pháp luật về quản lý danh mục hoạt động tôn giáo.

Đối với các vấn đề tôn giáo nói chung ở cấp huyện, căn cứ theo khoản 3 Điều 26, khoản 1, khoản 4 Điều 28 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 [21], nhiệm vụ và quyền hạn của UBND cấp huyện đối với các vấn đề tôn giáo chung như sau:

  • Xây dựng và trình Hội đồng nhân dân huyện quyết định nội dung biện pháp việc thực hiện chính sách tôn giáo trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật.
  • Thực hiện các nhiệm vụ về tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật về tôn giáo theo quy định của pháp luật.

Người đứng đầu có nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý chung về công tác tôn giáo ở cấp này là Chủ tịch UBND huyện. Chịu sự chỉ đạo và được UBND huyện giao nhiệm vụ thực hiện pháp luật về tôn giáo là Phòng Nội vụ cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tôn giáo. Căn cứ khoản 14 Điều 5 Thông tư 05/2021/TT-BNV [4], Phòng Nội vụ cấp huyện đối với lĩnh vực tôn giáo có nhiệm vụ: “Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết những vấn đề cụ thể về tôn giáo theo quy định của pháp luật, phân cấp quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và hướng dẫn của Sở Nội vụ.” Trong đó, Phòng Nội vụ thường phân công một hoặc hai công chức thực hiện tham mưu cho Trưởng phòng đối với lĩnh vực tôn giáo. Đây là những công chức quản lý chuyên môn về vấn đề tôn giáo, có nhiệm vụ việc tiếp nhận và xử lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo của tổ chức có địa bàn hoạt động tôn giáo ở nhiều xã thuộc một huyện.

  • Cơ quan quản lý cấp xã

Đối với các vấn đề tôn giáo ở cấp xã, UBND cấp xã chịu trách nhiệm quản lý chung về công tác tôn giáo do Chủ tịch UBND cấp xã thực hiện chỉ đạo, điều hành. Về công tác chuyên môn, quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo đối với tổ chức có địa bàn hoạt động tôn giáo ở một xã do cán bộ chuyên trách về văn hóa – xã hội thuộc UBND cấp xã thực hiện và báo cáo với Chủ tịch UBND cấp xã.

1.2.2. Đối tượng của quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo Khóa luận: Pháp luật về quản lý danh mục hoạt động tôn giáo.

Căn cứ khoản 1 Điều 43 Luật Tín ngưỡng tôn giáo [22], việc thực hiện thông báo danh mục hoạt động tôn giáo như sau: “Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về danh mục hoạt động tôn giáo diễn ra hằng năm chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày được công nhận, chấp thuận hoặc được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo”. Như vậy, có thể thấy rằng, đối tượng quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo theo quy định của Luật này gồm các đối tượng sau đây:

  • Tổ chức tôn giáo được công nhận
  • Tổ chức tôn giáo trực thuộc được công nhận
  • Tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo
  • Nhóm người được chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung

Trên thực tế, theo Công văn số 6955/BNV-TGCP của Bộ Nội vụ ban hành ngày 28/12/2020 [2], tình hình các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam tính đến tháng 12/2020 như sau:

  • Việt Nam hiện có 36 tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận.
  • Có 04 tổ chức và 01 pháp môn được Nhà nước cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo:
  • 01 tôn giáo tên gọi Bửu Sơn Kỳ Hương có một số chùa tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo. Đồng thời, Ban Trị sự và Ban Quản trị chùa cũng được công nhận.
  • 01 Thánh đường của Hồi giáo (địa chỉ tại số 12 Hàng Lược) được công nhận Ban Quản trị thánh đường.

Theo đó, cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo có trách nhiệm kiểm tra, phổ biến và tuyên truyền cho các chủ thể này về trách nhiệm lập thông báo danh mục hoạt động tôn giáo hằng năm và thông báo danh mục hoạt động tôn giáo bổ sung.

Đối tượng của quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo ngoài các tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo còn có những tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, người có niềm tin với tôn giáo thực hiện hoạt động tôn giáo đã nêu trong văn bản thông báo danh mục hoạt động tôn giáo. Bởi về cơ bản, nội dung của văn bản thông báo danh mục hoạt động tôn giáo gồm có các hoạt động tôn giáo được tổ chức thường niên hoặc các hoạt động tôn giáo sắp diễn ra, vì vậy các tín đồ, người có niềm tin với tôn giáo tham gia vào các hoạt động tôn giáo nằm trong danh mục này cũng được coi là đối tượng thực hiện thông báo danh mục hoạt động tôn giáo.

1.2.3. Nội dung của quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo

1.2.3.1. Quản lý thủ tục thông báo danh mục hoạt động tôn giáo

Về trình tự, thủ tục thực hiện thông báo danh mục hoạt động tôn giáo được quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 43 Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016 [22].

Trong đó, thời hạn nộp hồ sơ và trình tự thực hiện như sau:

Thời hạn nộp hồ sơ thông báo danh mục hoạt động tôn giáo hằng năm

  • Chậm nhất 30 ngày kể từ khi tổ chức được chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung.
  • Chậm nhất 30 ngày kể từ khi tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo.
  • Chậm nhất 30 ngày kể từ khi tổ chức tôn giáo được công nhận.

Như vậy, có thể thấy rằng với một nhóm gồm nhiều người có cùng niềm tin tôn giáo và mong muốn tập hợp lại thành một tổ chức, tính từ khi đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung đến khi được công nhận là một tổ chức tôn giáo cần phải có 03 lần thực hiện thông báo danh mục hoạt động tôn giáo hằng năm. Sau những lần thông báo trên, tổ chức không cần thực hiện thủ tục thông báo danh mục hoạt động tôn giáo hằng năm nữa, thay vào đó họ thực hiện thông báo danh mục hoạt động tôn giáo bổ sung đối với những hoạt động phát sinh trong năm theo quy định tại khoản 3 Điều 43 Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016 [22] như sau: Khóa luận: Pháp luật về quản lý danh mục hoạt động tôn giáo.

Thời hạn nộp hồ sơ thông báo danh mục hoạt động tôn giáo bổ sung

  • Chậm nhất là 20 ngày trước khi diễn ra hoạt động tôn giáo của tổ chức được chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung.
  • Chậm nhất là 20 ngày trước khi diễn ra hoạt động tôn giáo của tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo.
  • Chậm nhất là 20 ngày trước khi diễn ra hoạt động tôn giáo của tổ chức tôn giáo được công nhận.

Trình tự thực hiện thông báo danh mục hoạt động tôn giáo

Bước 1. Chuẩn bị hồ sơ

Hồ sơ thực hiện thủ tục thông báo danh mục hoạt động tôn giáo gồm:

  • Mẫu B30 áp dụng cho thủ tục “Thông báo danh mục hoạt động tôn giáo hằng năm hoặc danh mục hoạt động tôn giáo bổ sung” thuộc phụ lục Danh mục các biểu mẫu ban hành kèm theo Nghị định số 95/2023/NĐ-CP[13].
  • Các văn bản kèm theo (nếu có).

Bước 2. Nộp hồ sơ

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định 95/2023/NĐ-CP [13], khi thực hiện thủ tục thông báo danh mục hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật, các chủ thể có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác nộp theo ba phương thức như sau:

  • Nộp hồ sơ trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
  • Nộp hồ sơ trực tiếp tại Bộ phận một cửa của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
  • Nộp hồ sơ qua dịch vụ bưu chính công ích, qua thuê dịch vụ của doanh nghiệp, cá nhân hoặc ủy quyền theo quy định của pháp luật.

Đối với thủ tục thông báo danh mục hoạt động tôn giáo bổ sung, các tổ chức không cần thông báo lại các hoạt động đã đề cập tại văn bản thông báo danh mục hoạt động tôn giáo hằng năm, chỉ cần thông báo với các hoạt động sẽ diễn ra ít nhất từ 20 ngày sắp tới.

Bước 3. Nhận văn bản tiếp nhận Khóa luận: Pháp luật về quản lý danh mục hoạt động tôn giáo.

Sau khi nhận được hồ sơ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần ra văn bản tiếp nhận căn cứ theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 28 Nghị định 95/2023/NĐ-CP [13] như sau:

  • Đối với trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp tại Bộ phận một cửa của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, công chức tiếp nhận phải giao trực tiếp 01 bản Phiếu tiếp nhận giải quyết thủ tục hành chính về tín ngưỡng, tôn giáo cho người đến nộp hồ sơ và lưu 01 bản.
  • Đối với trường hợp nộp hồ sơ trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, công chức tiếp nhận gửi thông báo qua thư điện tử, tin nhắn điện thoại về việc tiếp nhận hoặc hướng dẫn bổ sung đến tổ chức, cá nhân đã nộp hồ sơ.
  • Đối với trường hợp nộp hồ sơ qua dịch vụ bưu chính công ích, qua thuê dịch vụ của doanh nghiệp, cá nhân hoặc ủy quyền theo quy định của pháp luật, công chức tiếp nhận phải gửi 01 bản Phiếu tiếp nhận giải quyết thủ tục hành chính về tín ngưỡng, tôn giáo cho tổ chức, cá nhân đã nộp hồ sơ và lưu 01 bản.
  • Đối với người được cơ quan, tổ chức, cá nhân cử đến liên hệ nộp hồ sơ phải có Giấy giới thiệu hoặc ủy quyền, xuất trình thẻ Căn cước công dân, Chứng minh thư nhân dân hoặc Hộ chiếu còn giá trị sử dụng.

Như vậy, thủ tục “thông báo danh mục hoạt động tôn giáo” được thực hiện một cách nhanh chóng, đơn giản. Trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm hướng dẫn cho tổ chức, cá nhân bổ sung hồ sơ theo đúng quy định của pháp luật. Thời gian hoàn thiện hồ sơ không tính vào thời hạn trả lời.

1.2.3.2. Quản lý thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ thông báo danh mục hoạt động tôn giáo

Việc quản lý thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ đối với thủ tục “thông báo danh mục hoạt động tôn giáo” nằm trong nội dung quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định tại khoản 3, khoản 6 Điều 60 Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016 như sau:

  • Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
  • Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.

Như vậy, quản lý thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ đối với thủ tục nói trên là việc các chủ thể có thẩm quyền tiến hành chỉ đạo tổ chức thực hiện chính sách đồng thời kiểm tra việc thực hiện các quy định về thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ thông báo danh mục hoạt động tôn giáo.

Thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ thông báo danh mục hoạt động tôn giáo được phân chia theo phạm vi lãnh thổ nơi có địa bàn hoạt động của tổ chức đó, cụ thể được quy định tại khoản 1 Điều 43 Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016 [22] như sau:

  • Tổ chức có địa bàn hoạt động tôn giáo ở một xã gửi thông báo đến Ủy ban nhân dân cấp xã.
  • Tổ chức có địa bàn hoạt động tôn giáo ở nhiều xã thuộc một huyện gửi thông báo đến Ủy ban nhân dân cấp huyện.
  • Tổ chức có địa bàn hoạt động tôn giáo ở nhiều huyện thuộc một tỉnh gửi thông báo đến cơ quan chuyên môn về tín ngưỡng, tôn giáo cấp tỉnh.
  • Tổ chức có địa bàn hoạt động tôn giáo ở nhiều tỉnh gửi thông báo đến cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ương. Khóa luận: Pháp luật về quản lý danh mục hoạt động tôn giáo.

Với quy định trên, để xác định thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ thông báo danh mục hoạt động tôn giáo, chúng ta cần hiểu rằng: “địa bàn hoạt động” là phạm vi lãnh thổ nơi đặt trụ sở và là nơi thường xuyên thực hiện các hoạt động tôn giáo của tổ chức đó. Trong trường hợp tổ chức tôn giáo thực hiện các hoạt động từ thiện, các cuộc lễ, giảng đạo ngoài cơ sở tôn giáo, địa điểm hợp pháp thì những địa điểm đó không được coi là địa bàn hoạt động thường xuyên của tổ chức tôn giáo và thẩm quyền cho phép tiến hành các hoạt động này thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 46 Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016 [22] đối với các cuộc lễ, giảng đạo ngoài cơ sở tôn giáo, địa điểm hợp pháp và Điều 25 Nghị định 95/2023/NĐ-CP [13] đối với hoạt động quyên góp, từ thiện. Trong trường hợp trụ sở của tổ chức tôn giáo được xây dựng trên nền đất thuộc quản lý của nhiều xã (từ 02 xã trở lên) thì được coi là có địa bàn hoạt động ở nhiều xã thuộc một huyện; tương tự nếu trụ sở của tổ chức tôn giáo được xây dựng trên nền đất thuộc quản lý của nhiều huyện (từ 02 huyện trở lên) thì được coi là có địa bàn hoạt động ở nhiều huyện thuộc một tỉnh; tổ chức tôn giáo có trụ sở được xây dựng trên nền đất thuộc quản lý của nhiều tỉnh (từ 02 tỉnh trở lên) thì được coi là có địa bàn hoạt động ở nhiều tỉnh. Trên cơ sở xác định địa bàn hoạt động, các tổ chức có thể dựa vào đó để xác định cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận văn bản thông báo danh mục hoạt động tôn giáo của tổ chức mình.

1.2.3.3. Quản lý sử dụng mẫu thông báo danh mục hoạt động tôn giáo theo pháp luật hiện hành

Hình thức văn bản thông báo danh mục hoạt động tôn giáo được quy định tại khoản 2 Điều 43 Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016 [22] và được cụ thể hóa tại Mẫu B30 thuộc phụ lục Danh mục các biểu mẫu ban hành kèm theo Nghị định số 95/2023/NĐ-CP ban hành ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Chính phủ, trong đó gồm những nội dung như sau:

  • Tên của tổ chức

Tên tổ chức là tên của các tổ chức tôn giáo hoặc tổ chức tôn giáo trực thuộc được Nhà nước công nhận hoặc tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo.

  • Tên các hoạt động tôn giáo

Hiện nay chưa có quy định cụ thể về hoạt động thông báo phải thông báo hoạt động, trên thực tế các tổ chức thường chỉ thông báo các hoạt động có quy mô tổ chức lớn, với số lượng đông người tham gia, như: các Lễ hội, các cuộc hành hương, hành đạo, các cuộc giảng đạo, cuộc lễ nghi khác của tổ chức tôn giáo.

  • Thời gian diễn ra hoạt động tôn giáo

Là khoảng thời gian được tính từ thời điểm hoạt động tôn giáo đó bắt đầu diễn ra đến khi kết thúc hoặc bế mạc hoặc người chủ trì không còn thực hiện những việc liên quan đến hoạt động tôn giáo đó nữa, không kể thời gian làm công tác lên kế hoạch, chuẩn bị. Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016 không giới hạn về thời gian tổ chức hoạt động tôn giáo, tuy nhiên các tổ chức tôn giáo cần tuân thủ và thông báo chính xác để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nắm bắt được thông tin.

  • Địa điểm diễn ra hoạt động

Địa điểm diễn ra hoạt động tôn giáo là các địa điểm hợp pháp được quy định tại khoản 15 Điều 2 Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016 [22] như sau: “Địa điểm hợp pháp là đất, nhà ở, công trình mà tổ chức hoặc cá nhân có quyền sử dụng hợp pháp theo quy định của pháp luật.” Theo đó, “địa điểm diễn ra hoạt động” được quy định ở đây là địa điểm mà tổ chức tôn giáo đã ghi trong hồ sơ đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung hoặc trong hồ sơ đăng ký hoạt động tôn giáo. Trong trường hợp địa điểm diễn ra hoạt động tôn giáo nằm ngoài cơ sở tôn giáo, địa điểm hợp pháp đã đăng ký, tổ chức tôn giáo không phải thực hiện thủ tục lập “thông báo danh mục hoạt động tôn giáo” mà thực hiện theo thủ tục “Đề nghị giảng đạo ngoài địa bàn phụ trách, cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp đã đăng ký”.

1.2.4 Vai trò của quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo Khóa luận: Pháp luật về quản lý danh mục hoạt động tôn giáo.

Thông báo danh mục hoạt động tôn giáo hằng năm hoặc danh mục hoạt động tôn giáo bổ sung là một trong các thủ tục hành chính về tôn giáo theo quy định của Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016, việc quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo là vô cùng cần thiết, đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, với những lý do cụ thể như sau:

  • Nhằm bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự xã hội

Những năm gần đây, qua phản ánh của các cơ quan báo chí có thể thấy rằng các thế lực thù địch thường nhân danh hoạt động tôn giáo để lôi kéo, dụ dỗ, truyền bá cho người dân các tư tưởng sai lệch, đi ngược với quan điểm của Đảng, trái pháp luật của Nhà nước. Những hành vi vi phạm đó phải đến khi cơ quan công an vào cuộc điều tra mới được làm sáng tỏ. Điển hình có thể kể đến một số hiện tượng xảy ra tại Điện Biên năm 2017, các thế lực thù địch muốn chống phá Đảng và Nhà nước đã âm mưu lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc để thúc đẩy tư tưởng ly khai cho người dân tộc Mông. Không những vậy, còn có hàng trăm đồng bào dân tộc thiểu số bị dẫn dụ bởi đạo Bà cô Dợ, chúng lôi kéo, dụ dỗ, tuyên truyền tới đồng bào dân tộc thiểu số là những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn rằng chỉ cần đọc kinh cầu nguyện sẽ có cuộc sống tốt đẹp hơn, thế giới sẽ công bằng hơn, mình không làm gì cũng có ăn, không nhận sự giúp đỡ của Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương và các cơ quan đoàn thể. Điều nguy hiểm hơn chính là những người đứng đầu đạo này còn kích động người dân đả kích các tôn giáo khác, truyền bá tư tưởng thành lập “Nhà nước Mông”. Ngoài ra, một số đồng bào dân tộc thiểu số sống ở khu vực miền núi phía Bắc cũng bị các đối tượng lợi dụng đạo Tin lành cũng nhằm kích động tư tưởng ly khai, thành lập “Nhà nước Mông”. Theo thông tin được đăng tải trên trang web báo Dân Trí ngày 03/01/2024 [19], một số cử tri thuộc Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lai Châu có kiến nghị rằng: “Hiện nay một số đối tượng lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và nhận thức hạn chế của một bộ phận người dân đã lôi kéo, dụ dỗ người dân tham gia một số “đạo lạ” hoạt động trái với chuẩn mực đạo đức xã hội và truyền thống văn hóa, chia rẽ đoàn kết dân tộc. Việc đó không chỉ vi phạm Luật tín ngưỡng, tôn giáo, mà còn tiềm ẩn gây mất an ninh, trật tự xã hội. Các lực lượng chức năng tại cơ sở chưa có chế tài xử lý những hành vi này, chỉ dừng lại ở việc tuyên truyền, vận động”. Ở khu vực Tây Nguyên, không thể không nhắc tới các vụ việc xảy ra năm 2001 và 2004. Khi đó, xuất hiện các đối tượng cực đoan là những người dân tộc thiểu số trên địa bàn đã thành lập hội “Tin lành Đề ga” và đòi tách ra không thuộc Hội Thánh Tin lành Việt Nam để ủng hộ cho việc xây dựng “Nhà nước Đề ga tự trị”. Chúng thực hiện tuyên truyền sai lệch về chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với tôn giáo và đấu tranh đòi thành lập “Nhà nước Đê ga tự trị”. Tuy mượn tôn giáo để làm chính trị nhưng bên cạnh đó, “Tin lành Đê ga” vẫn thực hiện các hoạt động tôn giáo. Theo phản ánh từ một bài viết được đăng tải trên trang thông tin điện tử của Công an Tỉnh Sơn La [10]: “Các tín đồ “Tin lành Đê ga” cũng thường xuyên sinh hoạt tôn giáo, tổ chức tụ tập nhóm họp, tổ chức cầu nguyện và có Ban Chấp sự hướng dẫn. Bởi những người theo “Tin lành Đê ga” thực chất là tín đồ đạo Tin lành cũ nên họ có các nhu cầu về tôn giáo, thực hiện các giáo lý, giáo điều và lễ nghi. Vì vậy, những kẻ cầm đầu “Tin lành Đê ga” muốn lôi kéo tín đồ theo đạo và duy trì “Tin lành Đê ga” để ủng hộ cho “Nhà nước Đê ga tự trị” vẫn thường tổ chức cho tín đồ thực hiện các cuộc sinh hoạt, lễ nghi tôn giáo. Cách làm này vừa giúp tập hợp quần chúng, gia tăng số lượng người ủng hộ chúng ở cả trong và ngoài nước, vừa là để tuyên truyền chống phá Đảng thông qua những buổi tụ tập truyền đạo”. Tuy nhiên, vì những hoạt động đó có thể coi là vi phạm pháp luật về tôn giáo nên chúng đều không thực hiện thông báo danh mục hoạt động tôn giáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tương tự ở Tây Nam Bộ, các phần tử phản động cũng lợi dụng việc kém hiểu biết của đồng bào dân tộc Khmer để truyền bá tư tưởng thành lập “Nhà nước Khmer Krôm”. Chúng thường xuyên tổ chức các buổi truyền đạo, sinh hoạt tôn giáo. Tuy nhiên, vì nội dung của các hoạt động này nhằm vu khống và tuyên truyền sai lệch về Đảng và Nhà nước Việt Nam nên chúng thường lén lút thực hiện và không thông báo danh mục hoạt động tôn giáo cho các cơ quan nhà nước. Khóa luận: Pháp luật về quản lý danh mục hoạt động tôn giáo.

Trong các vụ việc xâm phạm an ninh tôn giáo, an ninh chính trị được nêu trên, khi các hành vi vi phạm pháp luật được thực hiện thì cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở địa phương rất khó trong việc nắm tình hình, vì các tổ chức đó đều không thực hiện thông báo danh mục hoạt động tôn giáo. Qua đó, chúng ta có thể thấy tầm quan trọng của việc quản lý hoạt động tôn giáo thông qua việc thực hiện thông báo danh mục hoạt động tôn giáo. Việc thông báo này giúp các cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở các cấp có thể thuận lợi quản lý được các hoạt động sinh hoạt tôn giáo, các lễ nghi tôn giáo, các buổi truyền đạo và các hiện tượng “tôn giáo lạ” từ đó phát hiện, phòng ngừa và xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật. Khi các tổ chức đều chấp hành nghiêm chỉnh quy định về thông báo danh mục hoạt động tôn giáo, tên các hoạt động tôn giáo cùng địa điểm và thời gian diễn ra các hoạt động đó đều được thể hiện rõ ràng trong văn bản thông báo. Từ đây, cán bộ, công chức, người làm công tác tôn giáo ngoài khi kiểm tra về hình thức và ra văn bản tiếp nhận thông báo danh mục hoạt động tôn giáo, có thể theo thẩm quyền của mình nghiên cứu, rà soát, theo dõi và kiểm tra việc các tổ chức thực hiện các hoạt động đã nêu trong thông báo danh mục hoạt động tôn giáo có đảm bảo về thời gian, địa điểm đã thông báo hay không, hoạt động tôn giáo có vi phạm các điều cấm của Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016 hay không. Ngược lại, trong trường hợp các tổ chức tôn giáo không tuân thủ quy định về thông báo danh mục hoạt động tôn giáo trong khi vẫn thực hiện các sinh hoạt, lễ nghi hoặc các hoạt động tôn giáo khác, điều này khiến cho việc kiểm soát tình hình hoạt động tôn giáo của các tổ chức trở nên khó khăn hơn bởi lẽ cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở địa phương không thể thường xuyên tổ chức kiểm tra đối với hoạt động tôn giáo do không đủ nhân lực và thời gian để làm việc đó. Vì thế, tình trạng các nhóm “tôn giáo lạ” lợi dụng hoạt động tôn giáo để làm những điều vi phạm đạo đức xã hội, trái quy định pháp luật có thể xảy ra mà cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo không nắm được vì họ không thực hiện thông báo danh mục hoạt động tôn giáo. Như vậy, có thể thấy rằng việc quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo là cần thiết đối với vấn đề bảo đảm an ninh quốc gia, an ninh tôn giáo, trật tự xã hội.

  • Phòng chống lợi dụng hoạt động tôn giáo để trục lợi

Trong bản hướng dẫn chi tiết chuyên đề “Vấn đề về tôn giáo và chính sách tôn giáo” ban hành kèm theo Hướng dẫn số 43-HD/BTGTW ngày 01/09/2017 của Ban Tuyên giáo Trung ương [6] đã chỉ ra những vai trò vốn có của tôn giáo như sau:

  • Tôn giáo đóng vai trò trong việc liên kết, tập hợp cộng đồng.
  • Tôn giáo đã đóng góp khá lớn đối với việc gìn giữ các giá trị di sản văn hóa của nhân loại và góp phần truyền tải các giá trị văn hóa, văn minh trong quá trình giao lưu văn hóa giữa các nước trên thế giới.
  • Vào buổi bình minh của lịch sử, tôn giáo hình thành như là một nhu cầu khách quan của con người, đáp ứng được những nhu cầu đó và bù đắp những bất lực hiện thực của họ.
  • Tôn giáo làm tăng sự liên kết xã hội, hướng con người về những giá trị cao cả, đạo đức, hướng thiện, gợi lên cho con người những suy tư, tìm tòi, hướng tới xã hội cao đẹp, dù là ở trên trời.
  • Tôn giáo cũng góp phần tạo dựng, tham gia vào việc phát triển các giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc, phát triển lòng yêu thương, đoàn kết, hỗ trợ lẫn nhau.

Với những vai trò to lớn như vậy, ta có thể khẳng định chung rằng tôn giáo đồng hành cùng với sự phát triển về đạo đức, văn hóa của người dân Việt Nam ta. Tuy nhiên, nếu không quản lý tốt các hoạt động tôn giáo, dễ dẫn đến việc những người trong tôn giáo, những nhà tu hành hoặc người theo các tôn giáo chính thống cũng có thể lợi dụng tôn giáo để phục vụ cho các mục đích kinh tế, thu lợi cá nhân, làm mất đi các giá trị vốn có của tôn giáo, có thể coi đó là lợi dụng tôn giáo nhằm trục lợi. Trên thực tế, một bộ phận không nhỏ nhân dân ta có niềm tin rất lớn vào tôn giáo, họ sẵn sàng dùng của cải vật chất để đổi lấy những giá trị về tinh thần, đây là có thể coi là một điều kiện thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức biến tướng tôn giáo thành một hình thức kinh doanh bất hợp pháp nhằm thu lợi bất chính. Nếu để xảy ra tình trạng trên trong thời gian dài, sẽ dẫn đến việc các giá trị về văn hóa, đạo đức vốn có của tôn giáo dần mất đi, thay vào đó người ta chỉ lợi dụng tôn giáo để đạt được các giá trị kinh tế. Từ đây khiến cho những người theo tôn giáo, người có niềm tin vào tôn giáo hoặc rộng hơn là toàn thể nhân dân có cái hiểu sai lệch về tôn giáo, làm ảnh hưởng đến đạo đức xã hội, ảnh hưởng đến các giá trị văn hóa truyền thống. Bằng việc định hướng các tổ chức thực hiện thông báo danh mục hoạt động tôn giáo một cách đầy đủ, cơ quan nhà nước hoàn toàn có thể kiểm soát đối với các hành vi lợi dụng tôn giáo để kinh doanh bất hợp pháp, bởi văn bản thông báo danh mục hoạt động tôn giáo thể hiện rõ thời gian, địa điểm, tên các hoạt động tôn giáo.

Bên cạnh việc lợi dụng tôn giáo để kinh doanh thương mại bất hợp pháp, phải kể đến các hành vi lợi dụng hoạt động tôn giáo như một hình thức lừa đảo với cùng mục đích nhằm thu lợi bất chính. Vào năm 2022, một vụ việc được phản ảnh bởi trang web của báo Pháp luật [14]: “Ngày 05-11-2022, Cơ quan điều tra Công an Tỉnh Long An đã ra quyết định khởi tố vụ án liên quan đến Tịnh thất Bồng Lai cùng khởi tố bắt tạm giam ông Lê Tùng Vân để điều tra về tội danh Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Năm 2015, ông Lê Tùng Vân nhận con nuôi với danh nghĩa làm từ thiện và tự thành lập Tịnh thất Bồng Lai, sau này đổi tên là “Thiền am bên bờ vũ trụ”. Địa điểm này có 18 người cư trú, bao gồm 6 trẻ em và đều có mẹ ruột nuôi dưỡng, không phải trẻ mồ côi. Qua giám định, đa số trẻ em sinh sống tại đây đều có huyết thống với ông Lê Tùng Vân. Mặc dù vậy, Tịnh thất Bồng Lai do ông Vân đứng đầu vẫn lợi dụng danh nghĩa nuôi dưỡng trẻ mồ côi để kêu gọi sự giúp đỡ của nhiều cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước nhằm trục lợi cá nhân”. Bên cạnh đó, ông Lê tùng Vân còn tự ý tổ chức các buổi giảng pháp, sinh hoạt tôn giáo mà không thực thông báo danh mục hoạt động tôn giáo với cơ quan nhà nước thẩm quyền. Vì vậy, chính quyền địa phương không thể nắm rõ được tình hình hoạt động của cơ sở “giả danh tôn giáo này”.

Nhận thức được rằng nhà nước có các chính sách đảm bảo quyền tự do tôn giáo, đồng thời nắm bắt được một số kẽ hở của Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016, các đối tượng xấu thường lợi dụng để trục lợi cá nhân, điều này gây ra sự phẫn nộ trong dư luận xã hội, làm giảm uy tín của cơ quan Nhà nước đối với người dân cũng như làm ảnh hưởng đến hình ảnh của các tôn giáo chính thống. Những việc này, một lần nữa cho chúng ta thấy tầm quan trọng của việc quản lý hoạt động tôn giáo mà cụ thể là quản lý thông qua việc thực hiện thông báo danh mục hoạt động tôn giáo, một trong những công cụ giúp Nhà nước giám sát các hoạt động tôn giáo, không để xảy ra tình trạng lợi dụng tôn giáo trục lợi.

1.3. Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo Khóa luận: Pháp luật về quản lý danh mục hoạt động tôn giáo.

1.3.1 Chính sách pháp luật

Pháp luật được coi là công cụ giúp nhà nước thực hiện quản lý các hoạt động tôn giáo nói chung, vì vậy các quy định về thông báo danh mục hoạt động tôn giáo đóng vai trò là một phương pháp để quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo. Việc quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo trở nên hiệu quả hơn nếu các quy định của pháp luật chi tiết và đầy đủ, quy định rõ các điều khoản về: trình tự, thủ tục, thời gian, thẩm quyền, nội dung thông báo, hình thức văn bản. Đồng thời, công tác quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo cũng đạt hiệu quả tối ưu hơn nếu các quy định của pháp luật được hoàn thiện, đảm bảo không tạo ra kẽ hở nào để các cá nhân, tổ chức có thể lợi dụng cho các mục đích xấu. Các quy định của pháp luật cho thấy cách nhà nước điều chỉnh về hoạt động tôn giáo. Nếu Nhà nước kiểm soát quá chặt, có thể ảnh hưởng đến quyền tự do tôn giáo của công dân, nếu Nhà nước buông lỏng quản lý, có thể sẽ tạo ra kẽ hở cho các cá nhân, tổ chức lợi dụng thực hiện các mục đích trái pháp luật.

1.3.2 Đội ngũ cán bộ, công chức

Cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo thuộc các cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo có trách nhiệm tổ chức thực hiện, tiếp nhận và quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo, đồng thời phải hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến cho các tổ chức tôn giáo thực hiện thủ tục hành chính này. Để thực hiện tốt trách nhiệm ấy, trước hết, đòi hỏi đội ngũ làm công tác tôn giáo phải có đầy đủ năng lực chuyên môn, kiến thức pháp luật về tôn giáo, có nghiệp vụ về xử lý đối với các văn bản thông báo danh mục hoạt động tôn giáo mà mình tiếp nhận. Bởi trên thực tế, không phải tổ chức tôn giáo cũng đủ hiểu biết về pháp luật để phân biệt được thủ tục thông báo danh mục hoạt động tôn giáo với các thủ tục hành chính khác. Khi đó, công chức làm công tác tôn giáo cần có nghiệp vụ để xử lý, hướng dẫn hoặc tham mưu cho các cấp có thẩm quyền để xử lý. Ngược lại, khi các tổ chức tôn giáo, nhóm sinh hoạt tôn giáo nếu được sự hướng dẫn, tuyên truyền từ các cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo thì có thể nắm rõ hơn về quy định của pháp luật về thủ tục thông báo danh mục hoạt động tôn giáo, từ đó họ sẽ tuân thủ và thực hiện thông báo khi được Nhà nước công nhận hoặc chấp thuận hoặc cấp chứng nhận đăng ký, hoặc chủ động thông báo khi sắp tổ chức một hoạt động tôn giáo nào đó. Nếu vậy, các cơ quan quản lý nhà nước cũng thuận lợi hơn trong việc quản lý hoạt động tôn giáo.

1.3.3 Ý thức chấp hành pháp luật của các chủ thể thực hiện

Ý thức chấp hành cũng được coi là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo. Tuy rằng trách nhiệm hướng dẫn, phổ biến, tuyên truyền pháp luật thuộc về các cơ quan quản lý nhà nước, nhưng nếu các tổ chức tôn giáo có ý thức chấp hành pháp luật cao, chủ động trong việc tiến hành thông báo danh mục hoạt động tôn giáo sẽ giúp giảm gánh nặng cho các cơ quan quản lý nhà nước trong việc đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về tôn giáo. Hơn nữa, nếu một tổ chức có ý thức chấp hành pháp luật về thông báo danh mục hoạt động tôn giáo và điều đó ngày càng được lan rộng, sẽ có rất nhiều tổ chức tôn giáo khác học hỏi theo, giúp cho công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo được thuận lợi hơn, vì các tổ chức đã chủ động thông báo danh mục hoạt động tôn giáo của tổ chức mình trong thời gian sắp tới, cơ quan nhà nước có thể nắm bắt được tình hình hoạt động của các tổ chức ấy nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật tôn giáo. Khóa luận: Pháp luật về quản lý danh mục hoạt động tôn giáo.

Kết luận chương 1

Tôn giáo từ xưa đến nay luôn được coi là “món ăn tinh thần” của rất nhiều người dân Việt Nam, tôn giáo cũng góp phần vào việc xây dựng các nếp sống văn hóa, các giá trị đạo đức cho mỗi người dân. Mỗi tôn giáo đều có những tư tưởng, giáo lý, nghi lễ khác nhau, vì vậy mà hoạt động của các tôn giáo cũng khác nhau. Nhằm bảo đảm an ninh quốc gia, an ninh tôn giáo, nhà nước cần có sự các biện pháp quản lý hiệu quả đối với hoạt động tôn giáo, trong đó thủ tục “thông báo danh mục hoạt động tôn giáo” là một trong những biện pháp để quản lý hoạt động tôn giáo. Nội dung chương này đề cập những khái niệm chung về: tôn giáo, hoạt động tôn giáo, thông báo hoạt động tôn giáo, thông báo danh mục hoạt động tôn giáo, quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo. Trên cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý, nội dung chương này đã phân tích các chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, nội dung quản lý và vai trò của việc của quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo. Bên cạnh đó, nội dung chương có đưa ra các yếu tố có tác động đến thực hiện hiện pháp luật về quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo. Các nội dung của chương 1 nhằm mang đến cái nhìn tổng quát nhất đối với các vấn đề về quản lý thông báo danh mục hoạt động tôn giáo và làm tiền đề để phân tích thực trạng thực hiện pháp luật và đưa ra giải pháp hoàn thiện đối với nội dung này ở chương 2. Khóa luận: Pháp luật về quản lý danh mục hoạt động tôn giáo.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thực trạng PL về quản lý danh mục hoạt động tôn giáo

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464