Khóa luận: Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội qua thực tiễn tại phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và khu vực, bên cạnh “cơ hội”, “thách thức” và “rủi ro” gần nhau khi xét về cơ hội, lợi ích mà hội nhập quốc tế mang lại thường là cơ hội phát triển kinh tế, ngược lại là thách thức. Ngược lại, rủi ro là các vấn đề xã hội như bất bình đẳng gia tăng, phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội, nghèo đói, bần cùng hóa và ô nhiễm môi trường. Vì vậy, kinh tế thị trường càng phát triển thì vai trò của an sinh xã hội, đặc biệt là nhóm những “người yếu thế” trong xã hội cần được quan tâm hơn nữa sẽ càng trở nên quan trọng.

Các quy định về an sinh xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội trong quá trình thực hiện đã bộc lộ một số hạn chế như sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản; các biện pháp đảm bảo quy định chưa đầy đủ, rõ ràng khiến cho việc thực thi quyền của đối tượng bảo trợ xã hội chưa đạt hiệu quả cao.

Thực tế nhiều địa phương vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập khi thực hiện pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội. Điển hình là việc thực hiện pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội qua thực tiễn tại Phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tuy đã đạt được kết quả nhất định nhưng vẫn còn tồn tại hạn chế, bất cập trong việc xác định, rà soát các đối tượng hưởng chính sách, việc đảm bảo thực hiện, quản lý công tác an sinh xã hội.

Việc nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Bởi từ xưa đến nay, nhóm những người thuộc đối tượng bảo trợ được coi là đặc thù trong các mối quan hệ xã hội, thậm chí còn được gọi là “người yếu thế” hay “người dễ bị tổn thương”. Việc nghiên cứu pháp luật an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội không chỉ có ý nghĩa trong thời điểm hiện tại mà còn cả trong tương lai.

Do vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội qua thực tiễn tại phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh” làm bài khóa luận tốt nghiệp của mình với mong muốn nghiên cứu sâu sắc hơn các vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội tại phường Phương Đông, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội tại  phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

2. Các công trình nghiên cứu

Vấn đề an sinh xã hội luôn thay đổi cùng với sự phát triển của xã hội trong các giai đoạn nhất định, và pháp luật an sinh xã hội cũng cần có những thay đổi khi chúng không còn phù hợp. Nghiên cứu về an sinh xã hội không chỉ là vấn đề cần thiết trong giai đoạn hiện nay mà trong bất kỳ giai đoạn này, hoàn cảnh nào của xã hội. Vì vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này ở các khía cạnh tiếp cận khác nhau. Có thể kể đến như:

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Hồng Nhung (2023) với đề tài: “An sinh xã hội trên vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ” tại Viện Chiến lược phát triển [11]. Đề tài đã nêu rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, phân tích thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến an sinh xã hội vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, cũng như mối quan hệ giữa an sinh xã hội và tăng trưởng kinh tế, luận án đề xuất một số quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả an sinh xã hội tại các vùng kinh tế trọng điểm giai đoạn 2023 – 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Khóa luận: Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

Luận án tiến sĩ Xã hội học của nghiên cứu sinh Hồ Ngọc Châm (2020) với đề tài: “An sinh xã hội của lao động trong khu vực phi chính thức: Nghiên cứu bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội tại thành phố Hà Nội” tại Học viện Khoa học xã hội [12]. Luận án tập trung tìm hiểu thực trạng tham gia bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội của người lao động khu vực phi chính thức; Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia bảo hiểm của người lao động; đưa ra một số kiến nghị nhằm giúp mở rộng diện bao phủ an sinh xã hội cho nhóm lao động này. Luận án đưa ra những phát hiện mới về chủ động tự phát triển của người lao động. Luận án áp dụng các luận cứ chủ yếu từ lý thuyết lựa chọn hợp lý, lý thuyết mạng lưới xã hội và cách tiếp cận vòng đời đối với an sinh xã hội để giải thích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động.

Luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Thị Thu Hường (2022) với đề tài: “Quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam” tại Trường Đại học Luật Hà Nội [13]. Luận án góp phần đào sâu, hoàn thiện những vấn đề lý luận về quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội với những nội dung khái niệm, đặc điểm của người khuyết tật; Quan niệm về quyền của người khuyết tật trong luật an sinh xã hội; Nội dung quyền và biện pháp bảo đảm quyền lợi của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội. Đánh giá toàn diện, đưa ra kết luận mới về thực trạng quyền của người khuyết tật được thừa nhận, bảo đảm và thực thi trong Luật An sinh xã hội Việt Nam. Cuối cùng, đưa ra những kiến nghị, đề xuất những giải pháp mới, khả thi nhằm nâng cao việc ghi nhận quyền, bảo đảm quyền và nâng cao hiệu quả thực hiện quyền của người khuyết tật trong pháp luật ASXH ở Việt Nam thời gian tới.

Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Trần Thị Ngọc Lan (2017) với tiêu đề: “Quản lý nhà nước về an sinh xã hội từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn” thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam – Học viện khoa học xã hội [14]. Trong đề tài này, tác giả trình bày những vấn đề lý luận, pháp lý liên quan đến quản lý nhà nước về an sinh xã hội. Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về an sinh xã hội trên địa bàn Quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng và đề xuất các phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an sinh xã hội thông qua thực tiễn triển khai.

Các công trình khoa học trên đều nghiên cứu về an sinh xã hội, mỗi công trình đều phân tích thực trạng, đề xuất giải pháp về lĩnh vực quản lý nhà nước đối với an sinh xã hội tại địa phương cụ thể, an sinh xã hội đối với kinh tế của khu vực, nghiên cứu bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, quyền của người khuyết tật trong luật pháp an sinh xã hội ở Việt Nam. Tuy nhiên trong bài khóa luận này tác giả nghiên cứu về an sinh xã hội ở khía cạnh pháp luật an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội, phân tích thực trạng tại Phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Khóa luận mang tính cập nhật dữ liệu mới và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội tại phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

3. Đối tượng và phạm vi của đề tài Khóa luận: Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

Đối tượng: đề tài làm rõ các vấn đề lý luận và pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội và thực tiễn thực hiện pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội tại phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. – Phạm vi:

Không gian: Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội và thực tiễn thực hiện pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn quản lý của phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

Nội dung: Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội bao gồm các nội dung: Pháp luật về bảo hiểm xã hội; ưu đãi xã hội; dịch vụ xã hội cơ bản và an sinh xã hội cho dối tượng bảo trợ xã hội. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu nội dung: pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội. Trên cơ sở đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội tại phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

Thời gian: Các bản báo cáo về việc thực hiện chính sách an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội qua năm 2022 và năm 2023.

4. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài

Mục tiêu: Mục tiêu của đề tài nhằm làm rõ một số vấn đề lý luận và pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội, trên cơ sở đó phân tích thực tiễn thực hiện pháp luật và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội tại Phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

  • Để thực hiện mục tiêu trên, đề tài có nhiệm vụ:

Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và pháp luật an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội;

Phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội tại phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh;

Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội tại Phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

5. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập thông tin

Đề tài có sử dụng các phương pháp thu thập thông tin sau:

Phương pháp thống kê: Tổng hợp, thống kê số liệu về cơ chế, chính sách cũng như các số liệu liên quan đến thực hiện pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội. Khóa luận: Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

Phương pháp phân tích: Thông qua việc thu thập số liệu các báo cáo hàng năm tại địa phương từ đó phân tích những mặt đạt được, hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội tại Phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

Phương pháp so sánh, đánh giá: So sánh các số liệu liên quan qua các năm để thấy rõ hiệu quả của thực tiễn thực hiện pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội tại Phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

Phương pháp xử lý số liệu: Dựa trên thông tin đã thu thập được từ các nguồn tài liệu, sử dụng bảng biểu, mô hình để so sánh và phân tích số liệu. Ngoài ra, Microsoft Office Excel cũng được sử dụng để xử lý số liệu.

6. Đóng góp của đề tài

Đề tài là nguồn tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên cứu, giảng dạy của giảng viên, nhà khoa học và hoạt động học tập của sinh viên/học viên.

Đề tài cũng góp phần bổ sung cơ sở lý luận, pháp luật trong quá trình các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý … hoạch định chính sách pháp luật và tìm kiếm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội ở địa phương.

7. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu gồm 3 chương:

  • Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội;
  • Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội tại phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; 
  • Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội tại phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ AN SINH Xà HỘI CHO ĐỐI TƯỢNG BẢO TRỢ Xà HỘI

1.1. Một số vấn đề cơ bản về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm 

  • Khái niệm an sinh xã hội

Theo khái niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): “An sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời, đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con” [8].

Trong Điều 22 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân Quyền năm 1948 có nhắc đến về an sinh xã hội như sau:

“Với tư cách là một thành viên của xã hội, ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội, cũng như có quyền đòi được hưởng những quyền kinh tế, xã hội và văn hoá cần thiết cho nhân phẩm và sự tự do phát huy cá tính của mình, nhờ những nỗ lực quốc gia, sự hợp tác quốc tế, và theo cách tổ chức cùng tài nguyên của quốc gia” [6].

Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau, trong từng giai đoạn phát triển lịch sử, kinh tế, xã hội khác nhau. Dựa trên đặc điểm riêng biệt ở Việt Nam, an sinh xã hội được hiểu là sự bảo vệ của Nhà nước và xã hội đối với các thành viên trước những rủi ro, biến động về kinh tế, xã hội và tự nhiên làm cho họ bị giảm hoặc mất thu nhập, sức khỏe và các điều kiện sinh sống khác, đồng thời thực hiện ưu đãi đối với người có công và tiếp cận các dịch vụ xã hội cho mọi người dân [9]. Theo khái niệm này, nội dung của an sinh xã hội là phù hợp với quan điểm của ILO và điều kiện ở Việt Nam. An sinh xã hội Việt Nam bao gồm các chế độ Bảo hiểm xã hội nhằm bảo vệ thu nhập Khóa luận: Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

trong các trường hợp rủi ro ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tuổi già,…; Bảo hiểm y tế nhằm bảo vệ sức khỏe cho người dân khi gặp rủi ro, ốm đau cần sử dụng các dịch vụ y tế; an sinh xã hội dưới các hình thức khác nhau nhằm hỗ trợ điều kiện sinh sống cho các đối tượng yếu thế; ưu đãi xã hội đối với người có công trên các lĩnh vực của đời sống và đảm bảo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở,… cho mọi người dân. Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế – xã hội và định hướng phát triển an sinh xã hội quốc gia.

  • Khái niệm pháp luật an sinh xã hội

Pháp luật an sinh xã hội là bộ phận rất quan trọng nằm trong hệ thống pháp luật của nước ta.

Có quan điểm cho rằng pháp luật an sinh xã hội là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết các vấn đề xã hội, xác định quyền và nghĩa vụ của nhà nước, cá nhân trong việc hỗ trợ về vật chất, tinh thần cho các thành viên xã hội gặp khó khăn trong cuộc sống, hòa nhập với cộng đồng, đền đáp công lao với người có công với đất nước.

Ở nước ta, phạm vi điều chỉnh của Luật an sinh xã hội được mở rộng, đó chính là các quy phạm pháp luật an sinh xã hội, mà từ đó nó trở thành các quan hệ pháp luật an sinh xã hội. Quan hệ an sinh xã hội là những quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực nhà nước tổ chức, thực hiện các hình thức bảo vệ, an sinh cho các thành viên xã hội trong những trường hợp cần thiết nhằm mục đích an sinh xã hội, được các quy phạm an sinh xã hội điều chỉnh. Các quan hệ mà Luật an sinh xã hội Việt Nam điều chỉnh bao gồm các nhóm quan hệ xã hội sau: Nhóm quan hệ Bảo hiểm xã hội, nhóm quan hệ Bảo hiểm y tế, nhóm quan hệ bảo hiểm thất nghiệp, nhóm quan hệ an sinh xã hội, nhóm quan hệ ưu đãi người có công với cách mạng, nhóm quan hệ về các dịch vụ xã hội cơ bản. Từ đó, pháp luật an sinh xã hội cũng được hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong các lĩnh vực bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội [9].

  • Khái niệm bảo trợ xã hội

Thuật ngữ “bảo trợ xã hội” còn khá mới mẻ và chỉ xuất hiện gần đây qua các tài liệu nghiên cứu và các thảo luận chính sách trên thế giới. Đặc biệt với các nước đang phát triển thuật ngữ này mới chỉ được nhắc đến rộng rãi gần đây. Khái niệm này vẫn còn khá mơ hồ, chủ yếu là do có nhiều cách định nghĩa và cách giải thích khác nhau.

Theo tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) “BTXH là quyền tiếp nhận lợi ích từ chính phủ của cá nhân, hộ gia đình nhằm bảo vệ họ trước tình trạng mức sống thấp hay đang bị suy giảm, đặc biệt khi phải hứng chịu những rủi ro, nhờ đó đáp ứng được các nhu cầu cơ bản”[8]. Tổ chức này muốn nhấn mạnh về khịa cạnh bảo hiểm và mở rộng tạo việc làm cho những đối tượng ở khu vực kinh tế không chính thức. Định nghĩa này có xu hướng nghiêng về mức sống và quyền con người.

Theo Quỹ nhi đồng của Liên hợp quốc (UNICEF) định nghĩa “BTXH là một tập hợp các hành động và chính sách nhằm giúp đỡ các cá nhân hay hộ gia đình giảm bớt tác động của rủi ro hay các cú sốc, đặc biệt là để bảo vệ quyền của những đối tượng dễ gặp rủi ro, dễ bị tổn thương và nghèo đói kinh niên nhất”[18]. Cách hiểu này thể hiện hành động che chở, bảo vệ quyền của những người nghèo đói, dễ bị tổn thương, họ cần được giúp đỡ để giảm bớt các tác động của rủi ro.

Đối với Ngân hàng thế giới (WB) “BTXH là một tập hợp các biện pháp nhằm cải thiện và bảo vệ vốn con người, bao gồm sự can thiệp vào thị trường lao động, chương trình bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc. Sự can thiệp của bảo vệ xã hội giúp các cá nhân, hộ gia đình, hay cộng đồng quản lý một cách tốt hơn những rủi ro thu nhập khiến những đối tượng này bị tổn thương”[18]. Định nghĩa này nhấn mạnh sự kiềm chế nguy cơ là cơ sở của Bảo trợ xã hội; Bảo trợ xã hội vừa là mạng lưới an toàn, vừa là bàn đạp thông qua sự phát triển của nguồn vốn con người. Tính dễ bị tổn thương được nhìn nhận theo những nguy cơ liên quan đến sự mất ổn định thu nhập và tiêu dùng. Khóa luận: Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) “BTXH là tập hợp các chính sách và các chương trình được thiết kế để giảm nghèo và sự tổn thương bằng cách thúc đẩy thị trường lao động hiệu quả, giảm sự phơi nhiễm của người dân trước các rủi ro và nâng cao năng lực để họ có thể chống lại các mối nguy hiểm và sự gián đoạn/mất thu nhập”[10]. Định nghĩa này nhấn mạnh tính dễ tổn thương nếu người dân không có Bảo trợ xã hội và tác hại của thiếu Bảo trợ xã hội đối với người khác, tập trung vào khịa cạnh cải thiện thu nhập; hoàn thiện thể chế thị trường lao động và nâng cao năng lực của người dân.

Ở Việt Nam, thuật ngữ này cũng chỉ mới được dùng trong những năm gần đây, đất nước ta vừa thoát ra khỏi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang một nền kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập với thế giới. Viện nghiên cứu phát triển xã hội định nghĩa Bảo trợ xã hội là sự hỗ trợ trực tiếp cho các hộ gia đình nghèo và dễ tổn thương, bảo hiểm xã hội và các hoạt động khác nhằm giảm tính dễ tổn thương gây ra bởi những nguy cơ như thất nghiệp tuổi già và khuyết tật. Định nghĩa trên chú trọng vào các cá nhân, nhóm người và bị đẩy ra ngoài lề của xã hội, ủng hộ sự định hướng như một hình thức Bảo trợ xã hội thích hợp và không bao gồm những nhóm khá giả trong dân chúng. Định nghĩa này cần thiết cho việc đẩy mạnh hỗ trợ xã hội cho các cải cách kinh tế hiện nay, mục tiêu hướng dẫn là đảm bảo cuộc sống công bằng trong xã hội đối với mọi đối tượng Bảo trợ xã hội.

Theo nghĩa hẹp, Bảo trợ xã hội là một chính sách xã hội của nhà nước nhằm cung cấp tài chính cho cuộc sống và sinh hoạt của những người hưu trí, mất sức lao động, ốm đau và những người không có khả năng lao động, thất nghiệp, cơ nhỡ và những người và hộ gia đình có công đặc biệt đối với đất nước. Bảo trợ xã hội bao gồm bảo hiểm xã hội (hưu trí, mất sức, tai nạn lao động, thất nghiệp), trợ cấp xã hội (thương binh, gia đình thương binh liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng) và cứu trợ xã hội (cơ nhỡ, thiên tai, tệ nạn xã hội) trong đó bảo hiểm xã hội là bộ phận quan trọng nhất. Khái niệm trên chỉ nêu khịa cạnh cung cấp tài chính cho một số đối tượng, nó thiên về bảo hiểm xã hội, đóng góp để được hưởng trợ cấp lúc khó khăn.

Xét về một khịa cạnh nào đó, Bảo trợ xã hội tương đồng với an sinh xã hội hay cứu trợ xã hội, là một bộ phận của an sinh xã hội; Một số tài liệu nghiên cứu cũng cho rằng các thuật ngữ này tương tự nhau. Thực chất, nếu hiểu theo cách đơn giản Bảo trợ xã hội được ghép từ bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội. Do đề tài chỉ giới hạn ở những người yếu thế thuộc đối tượng trong Nghị định 20/2021/NĐ-CP quy định chính sách an sinh xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội và các văn bản pháp luật có liên quan nên khóa luận chỉ đề cập đến vấn đề an sinh mà không có bảo hiểm xã hội.

Qua nghiên cứu có thể đưa ra khái niệm về Bảo trợ xã hội như sau: “BTXH là hệ thống các chính sách, chế độ, những hành động chủ yếu của Nhà nước và cộng đồng xã hội bằng các hình thức khác nhau nhằm giúp các đối tượng yếu thế giảm nhẹ và kiềm chế nguy cơ dễ bị tổn thương, bần cùng hóa, hòa nhập với cộng đồng, có điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội, thúc đẩy công bằng và góp phần thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển”[15].

  • Đặc điểm bảo trợ xã hội

Từ những quan niệm về Bảo trợ xã hội có thể rút ra một số đặc điểm sau:

Về đối tượng: Tham gia vào quan hệ Bảo trợ xã hội bao gồm Nhà nước, các đối tượng bảo trợ và các chủ thể khác như tổ chức, cá nhân khác trong hoạt động chung mang tính nhân đạo này. Trong đó:

Thứ nhất, đối tượng bảo trợ là mọi người dân trong xã hội không phân biệt vị thế và thành phần xã hội khi gặp phải khó khăn, thiếu thốn, lâm nạn, cơ nhớ,… hoặc vì nguyên nhân khác nhau dẫn đến cuộc sống thường ngày hoặc lâu dài của họ bị đe dọa. Dưới góc độ kinh tế thì đó là những thành viên có mức sống thấp hơn mức tối thiểu của xã hội hoặc gặp khó khăn, rủi ro cần có sự nâng đỡ về vật chất. Dưới góc độ xã hội thì họ thuộc nhóm người “yếu thế” trong xã hội, với những nguyên nhân khác nhau mà rơi vào vị thế bất lợi, thiệt thòi, có ít cơ may trong cuộc sống như người bình thường và không có khả năng tự lo liệu, đảm bảo cho cuộc sống của gia đình và bản thân. Ngoài ra, dưới góc độ nhân đạo, đó có thể là những đối tượng nghiện hút, lang thang, xin ăn… Khóa luận: Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

Thứ hai, nhà nước với tư cách là một chủ thể trong quan hệ Bảo trợ xã hội, đã xác định được nghĩa vụ của mình và mối quan hệ hợp tác giữa các cơ quan tổ chức, các nhân trong hoạt động Bảo trợ xã hội. Hoạt động Bảo trợ xã hội, ngoài trách nhiệm của Bộ LĐTBXH còn là trách nhiệm của các bộ, ban ngành khác như Bộ y tế, Bộ giáo dục,… và toàn thể các thành viên trong xã hội.

Về nội dung: Chế độ Bảo trợ xã hội được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau. Nếu căn cứ vào phạm vi đối tượng sẽ có chế độ đối với từng nhóm cụ thể như người già cô đơn, không nơi nương tựa, người tàn tật, trẻ em mồ côi,… Nếu căn cứ vào tính ổn định hay nhất thời của trợ cấp thì sẽ có chế độ trợ cấp thường xuyên và chế độ trợ cấp đột xuất. Trong đó, chế độ trợ cấp thường xuyên có tính ổn định, lâu dài hơn, còn chế độ trợ cấp đột xuất thì có tính nhất thời, được thực hiện một lần với các hình thức đa dạng và linh hoạt. Còn nếu căn cứ vào hình thức của chế độ bảo trợ sẽ có Bảo trợ xã hội về vật chất với các khoản tiền trợ cấp, phương tiện sinh sống,… và Bảo trợ xã hội về tinh thần bằng các hoạt động tư vấn sức khỏe, tâm lý, giáo dục,…

Theo quy định cảu pháp luật hiện hành, chế độ Bảo trợ xã hội bao gồm hai nội dung chính là chế độ bảo trợ thường xuyên và chế độ bảo trợ đột xuất. Việc phân loại này chỉ có ý nghĩa đưa ra mức hưởng và hình thức bảo trợ cho phù hợp với từng nhóm đối tượng [15].

Về mục đích của Bảo trợ xã hội không nhằm bù đắp thu nhập thường xuyên bị giảm hoặc mất hay đảm bảo ổn định cuộc sống, suy tôn công trạng, đền ơn đáp nghĩa những người có công,… mà chỉ hỗ trợ, giúp đỡ cho những người lâm vào tình trạng thực sự khó khăn, túng quẫn, cần có sự giúp đỡ về vật chất mới có thể vượt qua được hoàn cảnh hiện tại. Do đó, mức hưởng thường là thấp và linh hoạt, phụ thuộc vào khả năng tài chính của Nhà nước, khả năng huy động nguồn lực và tình trạng thực tế của đối tượng… Ngoài hai chế độ bảo trợ thường xuyên và đột xuất, ở phạm vi rộng, hoạt động Bảo trợ xã hội còn được thực hiện với các chương trình xóa đói giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe toàn dân, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, những người lầm lỡ mắc tệ nạn xã hội,…

1.1.2. Nguyên tắc cơ bản của an sinh xã hội Khóa luận: Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

Nguyên tắc an sinh xã hội là tổng hợp những quan điểm, tư tưởng chủ đạo xuyên suốt và chi phối toàn bộ quá trình xây dựng và thực hiện an sinh xã hội, nhằm bảo vệ các thành viên trong xã hội đảm bảo mức sống tối thiểu, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.

  • Nguyên tắc mọi thành viên trong xã hội đều được hưởng an sinh xã hội

Trong lịch sử nhân loại đã ghi nhận quyền con người được hưởng an sinh xã hội. Điều 3 Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền năm 1948 ghi rõ: “Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân” [6] Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966) cũng ghi nhận: “Các quốc gia thành viên của Công ước công nhận quyền của mọi người được hưởng an sinh xã hội” [7]. Điều đó cho thấy sự khẳng định của nhân loại về quyền an sinh xã hội đều thuộc về mọi thành viên trong xã hội.

Việt Nam cũng nhận thức rõ và ghi nhận quyền hưởng an sinh xã hội của công dân, tại Điều 34 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền được đảm bảo an sinh xã hội” [1]. Như vậy, nội dung của nguyên tắc này thể hiện ở việc quy định phạm vi, đối tượng áp dụng của an sinh xã hội. Mọi thành viên trong xã hội khi gặp phải rủi ro, biến cố đều được trợ giúp, bảo vệ bởi các chế độ an sinh xã hội mà không bị phân biệt giới tính, tôn giáo, địa vị kinh tế – xã hội. Quyền hưởng an sinh xã hội không phải là đặc quyền cảu riêng cá nhân hay nhóm đối tượng nào mà là quyền của mọi cá nhân sống trong cộng đồng.

  • Nguyên tắc nhà nước thống nhất quản lý và giữ vai trò chủ đạo trong thực hiện an sinh xã hội

Nhà nước thống nhất quản lý tức là nhà nước định ra chính sách an sinh xã hội trong các giai đoạn khác nhau, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội và định hướng phát triển chung quốc gia. Trên cơ sở đó, nhà nước thực hiện những chính sách đó bằng cách ban hành hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện, kiểm tra việc thực hiện. Đồng thời, nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc thực hiện an sinh xã hội, nhà nước đảm bảo tài chính thực hiện các chế độ trợ cấp an sinh xã hội. Điều này thể hiện ở trách nhiệm đảm bảo chi trả trợ cấp trong các chế độ trợ giúp xã hội, ưu đãi xã hội, đảm bảo tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân với nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước.

Việc nhà nước tham gia vào hoạt động quản lý và thực hiện an sinh xã hội cũng thể hiện trình độ văn minh, tiến bộ và tinh thần nhân đạo của mỗi quốc gia.

  • Nguyên tắc kết hợp hài hòa chính sách kinh tế và xã hội trong quy định và thực hiện an sinh xã hội

Việc thực hiện chính sách an sinh xã hội và chính sách kinh tế – xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau. An sinh xã hội là một phần nhỏ nằm trong hệ thống chính sách xã hội. Do vậy, thực hiện tốt chính sách kinh tế sẽ tác động tích cực đến hiệu quả của chính sách xã hội và ngược lại. Khóa luận: Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

Nhà nước định ra các chính sách và điều chỉnh pháp luật phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội quốc gia ở mỗi giai đoạn. Các khoản trợ cấp an sinh xã hội không thể vượt qua điều kiện kinh tế cho phép vì sẽ không thể thực hiện được. Mặt khác, khi điều kiện kinh tế phát triển, các chế độ hưởng cần được nâng cao đảm bảo giá trị và ý nghĩa đối với đời sống người dân.

  • Nguyên tắc đảm bảo công bằng và tương trợ cộng đồng, chia sẻ rủi ro

Trên tinh thần “mọi người vì một người; một người vì mọi người” và đảm bảo sự công bằng chung cho toàn xã hội “cân đối giữa đóng góp và hưởng thụ” là cơ sở của nguyên tắc này.

Nguyên tắc tương trợ cộng đồng là sự san sẻ rủi ro của những người khỏe mạnh, có thu nhập chia sẻ cho những người có hoàn cảnh khó khăn, người già, ốm đau, thất nghiệp, tai nạn… để họ có cơ hội vượt qua hoàn cảnh, hòa nhập cộng đồng.

Hai nguyên tắc đảm bảo công bằng và tương trợ cộng đồng luôn được thực hiện song song. Vì sự công bằng trong thực hiện an sinh xã hội thể hiện ở sự cân đối giữa đóng góp, hưởng thụ và công bằng giữa những đối tượng thụ hưởng có cùng điều kiện. Trong các chế độ trợ cấp Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, mức hưởng phụ thuộc vào mức đóng góp, thời gian đóng góp, hay cùng là các chế độ đó, nhiều đối tượng yếu thế, thậm chí không có đóng góp nhưng vẫn được đảm bảo quyền thụ hưởng chế độ. Do đó, nguyên tắc công bằng trong hưởng thụ an sinh xã hội không theo nghĩa tuyệt đối bởi còn đảm bảo sự kết hợp với nguyên tắc tương trợ cộng đồng.

  • Nguyên tắc đa dạng hóa, xã hội hóa hoạt động an sinh xã hội

Xuất phát từ việc đa dạng nhu cầu hỗ trợ như: có đối tượng cần hỗ trợ đảm bảo thu nhập, có đối tượng cần trợ giúp để trải qua tình trạng nguy kịch, cũng có những đối tượng cần giúp đỡ về tinh thần… Từ đó hình thành đa dạng nên các chế độ bảo vệ phù hợp để đáp ứng các nhu cầu của những người cần giúp đỡ.

Việc thực hiện an sinh xã hội thuộc về trách nhiệm của Nhà nước đồng thời cũng là trách nhiệm của toàn dân, toàn xã hội và cũng để đảm bảo hiệu quả của hoạt động an sinh xã hội. Nhà nước giữ vai trò trung tâm điều tiết hoạt động của an sinh xã hội, đồng thời khuyến khích và tạo điều kiện để mọi cá nhân, tổ chức đều có thể được tham gia miễn đảm bảo đúng mục đích của an sinh xã hội.

1.1.3. Vai trò của an sinh xã hội

  • Đối với đối tượng thụ hưởng

Quyền được hưởng an sinh xã hội là một trong những quyền con người được ghi nhận trong các văn bản pháp lý quốc tế như: Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, Công ước về quyền trẻ em, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ… Quyền con người trong lĩnh vực an sinh xã hội cũng được tiếp tục khẳng định trong tuyên ngôn nhân quyền năm 1948: “Mọi người dân và hộ gia đình đều có quyền có một mức tối thiểu về sức khỏe và các phúc lợi xã hội, bao gồm ăn, mặc, chăm sóc y tế, dịch vụ xã hội thiết yếu và có quyền được an sinh khi có các biến cố về việc làm, ốm đau, tàn tật, góa phụ, tuổi già… hoặc các trường hợp bất khả kháng khác…” [6]. Vì vậy, an sinh xã hội có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với những người thụ hưởng. Khóa luận: Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

An sinh xã hội đảm bảo các điều kiện sống và phát triển tốt nhất cho người dân, bao gồm an toàn, sức khỏe, giáo dục, lao động, thu nhập, chăm sóc xã hội và các quyền lợi khác. Giúp giảm bớt gánh nặng chi phí cho người dân trong các lĩnh vực như y tế, giáo dục, bảo hiểm, trợ cấp, tạo ra môi trường sống an toàn, bình đẳng và công bằng cho người dân, thể hiện quyền cơ bản của con người, chủ nghĩa nhân đạo của nhà nước và tinh thần đoàn kết của xã hội. Và đảm bảo thu nhập ở mức tối thiểu là một trong những vai trò cơ bản nhất của an sinh xã hội. Điều này nhằm bảo đảm quyền sống tối thiểu của con người, bao gồm các quyền về ăn, sức khỏe, nơi ở cũng như một số dịch vụ xã hội cơ bản nhằm bảo vệ con người khỏi bị đói nghèo do không có thu nhập tạm thời hoặc vĩnh viễn.

Bên cạnh đó, an sinh xã hội cũng giúp phòng ngừa rủi ro giúp người dân chủ động ngăn ngừa rủi ro trong cuộc sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh và biến đổi môi trường. Khắc phục rủi ro là giúp người dân hạn chế tối đa các tác động bất ngờ do các biến cố trong đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh, và môi trường tự nhiên và bảo đảm điều kiện sống tối thiểu của người dân.

  • Đối với xã hội

Nói rằng: “An sinh xã hội góp phần phát triển xã hội ổn định, bền vững, thúc đẩy sự công bằng và tiến bộ xã hội”. Bởi vì an sinh xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc trợ giúp cho những cá nhân, nhóm cộng đồng người gặp khó khăn trong cuộc sống, hòa nhập với xã hội, giảm khoảng cách địa vị giữa người giàu và người nghèo. Góp phần đảm bảo ổn định, bền vững cho nền kinh tế, xã hội.

An sinh xã hội góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội, là cơ chế phần phối lại thu nhập xã hội, thu hẹp khoảng cách thụ hưởng các dịch vụ xã hội giữa các cá nhân, nhóm, cộng đồng người trong xã hội. Quỹ an sinh xã hội được thu về một mối từ quỹ đó lại phân phối lại cho những trường hợp rủi ro, cần được giúp đỡ, giúp họ vượt qua khó

khăn, tiếp tục phát triển cuộc sống.

Hệ thống an sinh xã hội thúc đẩy thị trường việc làm bền vững, tăng cường kỹ năng và các cơ hội tham gia thị trường lao động cho người lao động bằng cách hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động, phát triển thị trường lao động. Ngoài ra còn hỗ trợ tạo việc làm trực tiếp cho một bộ phận người lao động thông qua các chương trình cho vay vốn tín dụng ưu đãi, hỗ trợ chuyển đổi việc làm cho lao động mất đất, lao động di cư, …. Khóa luận: Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

Một hệ thống an sinh xã hội được xây dựng và thực thi có hiệu quả sẽ góp phần quan trọng vào sự phát triển của mỗi quốc gia. An sinh xã hội giúp nâng cao hiệu quả quản lý xã hội, xóa đói giảm nghèo, giảm bất bình đẳng, thu hẹp chênh lệch về điều kiện sống theo vùng, các nhóm dân cư đồng thời góp phần tăng trưởng kinh tế và gắn kết xã hội.

  • Đối với nhà nước

An sinh xã hội là công cụ hiệu quả để nhà nước thực hiện chính sách xã hội và quản lý an sinh xã hội. Sự quản lý này được thể hiện thông qua hệ thống pháp luật, chính sách, chương trình của một quốc gia. Mục tiêu của nó là duy trì sự ổn định  chính trị, xã hội của đất nước, trong đó quan trọng nhất là ổn định xã hội, bằng cách giảm bất bình đẳng xã hội, bất bình đẳng giới, khoảng cách giàu nghèo. Sự phân tầng xã hội tạo ra sự đồng thuận xã hội giữa các tầng lớp xã hội và các nhóm xã hội trong thời kỳ đó. Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, kinh tế thị trường càng phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế càng cao thì xu hướng phân hóa giàu nghèo, phân tầng  và bất bình đẳng xã hội càng lớn. Để tạo sự phát triển bền vững, nhà nước phải phát triển mạnh mẽ hệ thống an sinh xã hội để “điều tiết những “xung đột xã hội” đã phát sinh, đang phát sinh và sẽ phát sinh. Hệ thống an sinh xã hội sẽ giúp điều tiết và hạn chế tốt hơn các nguyên nhân gây ra xung đột, bất ổn xã hội. Hệ thống an sinh xã hội sẽ áp dụng các giải pháp điều hòa tái phân phối thu nhập, điều tiết tái phân phối giữa các thành phần kinh tế, các vùng kinh tế và các nhóm dân cư nhằm giảm bớt sự bất bình đẳng trong quá trình cùng tồn tại và phát triển. Nhà nước thông qua hệ thống chính sách an sinh xã hội điều tiết việc phân bổ của cải xã hội, cân đối và điều chỉnh các nguồn lực nhằm củng cố các vùng nghèo, kém phát triển, tạo sự phát triển hài hòa giữa các vùng, giảm chênh lệch giữa các vùng; Mở rộng chính sách hỗ trợ các đối tượng bảo trợ xã hội nhằm xoa dịu những bất bình gay gắt trong các nhóm dân cư.

1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện pháp luật an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội Khóa luận: Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

1.2.1. Hệ thống pháp luật

Pháp luật là lăng kính phản ánh hiện thực đời sống xã hội. Bản thân pháp luật ra đời nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, là cơ sở cho phép các chủ thể thực hiện pháp luật. Các quy định pháp luật cũng là yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi pháp luật.

Pháp luật điều chỉnh mọi hành vi của mọi người trong xã hội, bao gồm tri thức, tình cảm, niềm tin… Pháp luật là nền tảng, là khuôn mẫu, chuẩn mực hành vi của các hoạt động thực tiễn. Giúp cho Hoạt động của con người trong xã hội có hướng đi đúng đắn. Vì vậy, nếu hệ thống pháp luật phù hợp, không có mâu thuẫn, chồng chéo sẽ giúp thực thi pháp luật một cách hiệu quả. Ngược lại, nếu hệ thống pháp luật có những khoảng trống, mâu thuẫn sẽ tạo điều kiện phát sinh những hành vi tiêu cực, ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi pháp luật.

Luật an sinh xã hội cũng vậy, hệ thống pháp luật về an sinh xã hội là một bộ phận của hệ thống pháp luật Việt Nam. Các quy định của pháp luật an sinh xã hội điều chỉnh các mối quan hệ liên quan đến quyền lợi xã hội của cá nhân. Vì vậy, việc hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH cần dựa trên sự nhận thức sâu sắc và thực hiện đúng quan điểm của Đảng, Nhà nước về kết hợp hài hòa giữa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội với bảo đảm ASXH trong từng giai đoạn và trong từng chính sách phát triển. Giúp cơ quan nhà nước thực hiện pháp luật an sinh xã hội cho người dân một cách chính xác, đầy đủ, công bằng, nhanh chóng, giúp người dân yên tâm trong cuộc sống, công việc và phát triển.

1.2.2. Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước

Cơ quan quản lý nhà nước bộ phận không thể thiếu trong việc đảm bảo hiệu quả  thực hiện pháp luật. Hoạt động của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương có tốt, thì việc thực hiện pháp luật mới nghiêm túc, hiệu quả.

Trước tiên, chúng ta cần nói đến cơ quan nhà nước ban hành chính sách pháp luật. Công tác ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh, nghị quyết luôn được quan tâm, vì đây là hoạt động quan trọng, tạo cơ sở cho việc tổ chức thực hiện pháp luật. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ngày càng đảm bảo chất lượng, đáp ứng yêu cầu triển khai đồng bộ, hiệu quả thi hành luật, pháp lệnh.

Tiếp theo là hoạt động thanh tra, kiểm tra và giám sát việc thực hiện pháp luật của cơ quan nhà nước. Có thể nói cơ quan quản lý nhà nước là một công cụ để nhà nước thực hiện chức năng cưỡng chế, giám sát, đảm bảo việc thực hiện pháp luật một cách nghiêm túc. Bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện công việc áp dụng pháp luật, dùng pháp luật để quản lý xã hội. Cho nên, khi bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước có trơn tru, thì việc quản lý thực hiện pháp luật mới có hiệu quả.

Cơ quan quản lý nhà nước giám sát người dân có tuân thủ pháp luật hay không, đồng thời cũng xem quy định đó có còn phù hợp với tình hình xã hội tại thời điểm đó hay không, để tiến hành xem xét, điều chỉnh các quy định đó. Trong pháp luật an sinh xã hội cũng vậy, cơ quan nhà nước đưa ra chính sách đối với đối tượng an sinh xã hội, từ đó đôn đốc, tổ chức, giám sát việc thực hiện các chính sách đó, nếu phát hiện sai sót, các cơ quan nhà nước sẽ có giải pháp phù hợp điều chỉnh cho từng giai đoạn phát triển cụ thể của xã hội.

Hơn nữa, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện công tác pháp luật là yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi pháp luật. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác pháp luật được nâng cao, công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý  cán bộ, công chức thi hành pháp luật được quan tâm. Có năng lực chuyên môn, kỹ năng tổ chức thực thi pháp luật và đạo đức công vụ tốt là điều kiện giúp nâng cao chất lượng thực thi pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật.

1.2.3. Điều kiện kinh tế – văn hóa – xã hội Khóa luận: Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

Yếu tố kinh tế bao gồm tổng thể các điều kiện, hoàn cảnh về kinh tế – xã hội, chính sách kinh tế, việc triển khai, áp dụng trong thực tế xã hội. Một đất nước có nền kinh tế phát triển, ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện pháp luật, người dân có sự hiểu biết pháp luật và ý thức pháp luật tốt hơn. Tuy nhiên sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện pháp luật. Khi cuộc sống của người dân tốt hơn, việc tiếp cận và thực hiện pháp luật cũng sẽ tốt hơn. Ví dụ, đối với việc thực hiện pháp luật về an sinh xã hội, người công nhân có thu nhập ổn định, mức sống khá giả, sẽ có điều kiện hiểu biết về pháp luật bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, họ sẽ tham gia đầy đủ, chấp hành đúng các quy định của luật bảo hiểm. Ngược lại nếu thu nhập của họ thấp, cuộc sống không ổn định, luôn lo lắng về thu nhập hằng ngày khiến họ không có thời gian, cũng như hiểu biết để tìm hiểu và tham gia bảo hiểm. Hay kinh tế phát triển, các doanh nghiệp cũng dễ dàng quan tâm đến chất lượng đời sống của công nhân hơn, thay vì khó khăn dẫn đến tình trạng trốn đóng bảo hiểm cho người lao động.

Yếu tố văn hóa – xã hội cũng tác động không hề nhỏ đến việc thực hiện pháp luật. Sự chênh lệch về văn hóa, lối sống giữa nông thôn và thành thị biểu hiện rõ ràng nhất về ý thức tìm hiểu pháp luật, cũng như thực hiện pháp luật. Ở thành phố con người dễ nhận thức yếu tố sức khỏe, họ cũng sẽ chuẩn bị phương tiện hỗ trợ, phòng ngừa rủi ro khi ốm đau, bệnh tật bằng cách mua bảo hiểm y tế. Ở nông thôn có nơi có tỉ lệ người lao động, người dân hầu như không mua bảo hiểm y tế, do không biết, hoặc chủ quan về sức khỏe. Vì vậy, việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung mà pháp luật về an sinh xã hội nói riêng là hết sức quan trọng.

1.3. Nội dung pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội Khóa luận: Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

1.3.1. Pháp luật về bảo hiểm y tế cho đối tượng bảo trợ xã hội

Pháp luật bảo hiểm y tế là tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực bảo hiểm y tế với mục tiêu chăm sóc sức khỏe cộng đồng, không vì lợi nhuận.

Theo quy định của pháp luật: “Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do nhà nước tổ chức thực hiện” (Khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm y tế năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014) [2].

Theo Điều 9 Nghị định 20/2021/NĐ-CP quy định cấp thẻ bảo hiểm y tế: “Đối tượng bảo trợ xã hội đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng được cấp thẻ bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế”[3] bao gồm một số đối tượng sau:

  • Trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng thuộc một trong các trường hợp theo quy định của pháp luật trợ giúp xã hội;
  • Trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo;
  • Người thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo chưa có chồng hoặc chưa có vợ; đã có chồng hoặc vợ nhưng đã chết hoặc mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi hoặc đang nuôi con từ 16 đến 22 tuổi và người con đó đang học văn hóa, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất quy định tại khoản 2 Điều này (sau đây gọi chung là người đơn thân nghèo đang nuôi con);
  • Người cao tuổi thuộc một trong các trường hợp quy định của pháp luật trợ giúp xã hội;
  • Người khuyết tật nặng, người khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định pháp luật về người khuyết tật;
  • Người nhiễm HIV/AIDS thuộc diện hộ nghèo không có nguồn thu nhập ổn định hàng tháng như tiền lương, tiền công, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội hàng tháng.

1.3.2. Pháp luật về ưu đãi xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội Khóa luận: Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

Pháp luật ưu đãi xã hội là một bộ phận nằm trong hệ thống pháp luật bảo đảm xã hội. Cùng với pháp luật về bảo hiểm xã hội và pháp luật cứu trợ xã hội thì pháp luật ưu đãi xã hội góp phần vào việc ổn định chính trị, xây dựng và bảo vệ đất nước. Pháp luật ưu đãi xã hội là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định về điều kiện được hưởng ưu đãi, các lĩnh vực cụ thể được ưu đãi, các chế độ trợ cấp cho những người có công đối với đất nước. Do vậy, ưu đãi xã hội được hiểu “là sự đãi ngộ của Nhà nước, của cộng đồng và toàn xã hội về vật chất cũng như tinh thần đối với người có công và gia đình họ” [16].

  • Đối tượng hưởng ưu đãi xã hội bao gồm:

Đối tượng là những người có công hiến đặc biệt cho công cuộc bảo vệ tổ quốc : Liệt sỹ và thân nhân liệt sỹ; Thương binh, bệnh binh : Thương binh thuộc lực lượng vũ trang bị suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên do chiến đấu hay phục vụ chiến đấu; bệnh binh thuộc quân nhân, mắc bệnh suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên do chiến đấu hay hoạt động trong điều kiện thiếu thốn. Những người hoạt động cách mạng : những người lấy sự nghiệp giải phóng dân tộc làm mục tiêu lý tưởng của cả đời mình.

Đối tượng là những người có cống hiến đặc biệt trong quá trình xây dựng đất nước như : giáo sư, bác sỹ, anh hùng lao động, các vị lãnh đạo nhà nước… + Ưu đãi xã hội đối với thân nhân người có công với cách mạng

  • Các chế độ ưu đãi xã hội:

Căn cứ vào đối tượng hưởng ưu đãi xã hội: Chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng; Chế độ ưu đãi đối với thân nhân của người có công với cách mạng.

Căn cứ vào nội dung chế độ ưu đãi xã hội: Chế độ ưu đãi về vật chất; Chế độ ưu đãi về tinh thần.

Căn cứ vào chủ thể thực hiện ưu đãi xã hội: Nhà nước thực hiện ưu đãi xã hội từ ngân sách nhà nước; Tổ chức Mặt trận tổ quốc Việt Nam thực hiện ưu đãi xã hội từ Quĩ đền ơn đáp nghĩa; Cộng đồng xã hội thực hiện ưu đãi xã hội từ thu nhập của chính họ.

1.3.3. Pháp luật về các dịch vụ xã hội cơ bản cho đối tượng bảo trợ xã hội

Dịch vụ xã hội được hiểu là “những dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cộng đồng và cá nhân nhằm phát triển xã hội, có vai trò đảm bảo phúc lợi và công bằng xã hội, đề cao giá trị đạo lý, nhân văn, vì con người”. Như vậy, dịch vụ xã hội là hoạt động mang bản chất kinh tế – xã hội, với những đặc trưng cơ bản là: dịch vụ xã hội nhằm mục tiêu phát triển xã hội, không vì mục tiêu lợi nhuận hay thương mại thuần tuý; chất lượng dịch vụ xã hội không thể thuần tuý được đánh giá bằng giá cả trên thị trường như các dịch vụ khác mà chủ yếu được xem xét ở mức độ hài lòng của người dân.

Trong các loại dịch vụ xã hội nói trên, loại dịch vụ cộng đồng và trợ giúp xã hội (đặc biệt là trợ giúp các đối tượng yếu thế trong xã hội) ngày càng được quan tâm và phát triển ở nước ta hiện nay. Đó là các dịch vụ về trợ giúp người bị rủi ro, thiên tai, tàn tật, người già, trẻ em cơ nhỡ, mồ côi, khuyết tật, tự kỷ,… Các dịch vụ này thường do Nhà nước, hoặc có sự tham gia của các tổ chức xã hội dân sự thực hiện. Khóa luận: Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

  • Dịch vụ xã hội cơ bản được chia thành 4 loại chính:

Dịch vụ đáp ứng những nhu cầu vật chất cơ bản: Việc ăn uống, vệ sinh, chăm sóc, nhà ở….mọi đối tượng yếu thế là trẻ em, người tàn tật mất khả năng lao động đều phải được đáp ứng nhu cầu này để phát triển về thể lực.

Dịch vụ y tế: Bao gồm các hình thức khám chữa bệnh, điều dưỡng phục hồi chức năng về thể chất cũng như tinh thần cho các đối tượng.

Dịch vụ giáo dục: Trường học, các lớp tập huấn, đào tạo kỹ năng sống, các hình thức giáo dục hoà nhập, hội nhập và chuyên biệt…

Dịch vụ về giải trí, tham gia và thông tin: Đây là loại hình dịch vụ xã hội rất quan trọng đối với các đối tượng thuộc nhóm đối tượng công tác xã hội, hoạt động giải trí như văn nghệ, thể thao,… nâng cao sự tự tin, đẩy mạnh hòa nhập tốt hơn với cộng đồng, nâng cao sự hiểu biết, kiến thức cho đối tượng…

1.3.4. Pháp luật về trợ giúp xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội

1.3.4.1. Trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng

1.3.4.1.1. Đối tượng hưởng

Chế độ bảo trợ xã hội thường xuyên là sự hỗ trợ, giúp đỡ về mặt vật chất và tinh thần mang tính lâu dài cho những người thuộc diện Bảo trợ xã hội nhằm giúp họ ổn định cuộc sống, hòa nhập vào cộng đồng. Tùy từng đối tượng bảo trợ khác nhau mà pháp luật chế độ trợ cấp cụ thể.

Theo Điều 5 Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm 2021 quy định chính sách an sinh xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội thì đối tượng bảo trợ xã hội hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng bao gồm:

  • “Trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng thuộc một trong các trường hợp:
  • + Bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi;
  • + Mồ côi cả cha và mẹ;
  • + Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật; …”[3]

Đối tượng hưởng chế độ an sinh xã hội thường xuyên không phải tất cả các đối tượng bất hạnh, rủi ro không thể tự lo liệu cuộc sống đều là đối tượng hưởng chế độ Bảo trợ xã hội thường xuyên, chỉ những đối tượng thỏa mãn các điều kiện thuộc diện Bảo trợ xã hội mới được hưởng chế độ trợ cấp này, đối tượng Bảo trợ xã hội thuộc diện trợ cấp hàng tháng do xã phường, thị trấn quản lý. Khóa luận: Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

1.3.4.1.2. Mức hưởng

  • Mức chuẩn an sinh xã hội đối với các đối tượng bảo trợ xã hội
  • Mức chuẩn an sinh xã hội là căn cứ xác định mức trợ cấp xã hội, mức hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc, nuôi dưỡng; mức trợ cấp nuôi dưỡng trong cơ sở an sinh xã hội và các mức an sinh xã hội khác.
  • Mức chuẩn an sinh xã hội áp dụng từ ngày 01/7/2021 là 360.000 đồng/tháng.

Tùy theo khả năng cân đối của ngân sách, tốc độ tăng giá tiêu dùng và tình hình đời sống của đối tượng bảo trợ xã hội, cơ quan có thẩm quyền xem xét, điều chỉnh tăng mức chuẩn an sinh xã hội cho phù hợp; bảo đảm tương quan chính sách đối với các đối tượng khác.

Tùy thuộc điều kiện kinh tế – xã hội tại địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định:

Mức chuẩn an sinh xã hội, mức an sinh xã hội áp dụng trên địa bàn bảo đảm không thấp hơn mức chuẩn an sinh xã hội và mức an sinh xã hội quy định tại Nghị định 20/2021/NĐ-CP;

Đối tượng khó khăn khác chưa quy định tại Nghị định 20/2021/NĐ-CP được hưởng chính sách an sinh xã hội. (Điều 4 Nghị định 20/2021/NĐ-CP)

Mức trợ cấp xã hội hàng tháng đối với các đối tượng bảo trợ xã hội

Theo Điều 6 Nghị định số 20/2021/NĐ-CP quy định chính sách an sinh xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội thì đối tượng quy định tại Điều 5 Nghị định này được trợ cấp xã hội hàng tháng với mức bằng mức chuẩn an sinh xã hội quy định tại Điều 4 Nghị định 20/2021/NĐ-CP nhân với hệ số tương ứng quy định như sau:

“Đối với đối tượng là trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng thuộc một trong các trường hợp nêu trên:

  • + Hệ số 2,5 đối với trường hợp dưới 4 tuổi;
  • + Hệ số 1,5 đối với trường hợp từ đủ 4 tuổi trở lên.

Hệ số 1,5 đối với đối tượng là người thuộc diện trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng thuộc một trong các trường hợp đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng mà đủ 16 tuổi nhưng đang học văn hóa, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất thì tiếp tục được hưởng chính sách an sinh xã  hội cho đến khi kết thúc học, nhưng tối đa không quá 22 tuổi. …”[3]

Quy định mức chuẩn để xác định mức trợ cấp xã hội hàng tháng, khi mức sống tối thiểu của người dân thay đổi thì mức chuẩn an sinh xã hội cũng được điều chỉnh theo cho phù hợp.

Nguồn kinh phí an sinh thường xuyên tại cộng đồng, kinh phí nuôi dưỡng, kinh phí hoạt động bộ máy, kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản của các cơ sở Bảo trợ xã hội, nhà xã hội tại cộng đồng thuộc cấp nào thì do ngân sách cấp đó đảm bảo theo phân cấp hiện hành của Luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản hướng dẫn Luật Ngân sách Nhà nước.

1.3.4.2. Trợ giúp xã hội khẩn cấp

1.3.4.2.1. Đối tượng hưởng

Chế độ an sinh xã hội khẩn cấp là sự hỗ trợ, giúp đỡ về vật chất, tinh thần cho những người gặp rủi ro do thiên tai và những lý do bất khả kháng khác nhằm giúp họ vượt qua hoàn cảnh hiểm nghèo, khắc phục hậu quả rủi ro để ổn định cuộc sống.

Theo Điều 12, Điều 13, Điều 14, Điều 15, Điều 16, Điều 17 Nghị định 20/2021/NĐCP ngày 15 tháng 3 năm 2021 quy định chính sách an sinh xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội, những trường hợp được an sinh xã hội khẩn cấp bao gồm:

“Các đối tượng thuộc hộ thiếu đói do thiên tai, hỏa hoạn, mất mùa, giáp hạt hoặc lý do bất khả kháng khác;

  • Đối tượng có hoàn cảnh khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh hoặc lý do bất khả kháng khác mà mất nhà ở và không có khả năng tự bảo đảm các nhu cầu thiết yếu; Khóa luận: Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.
  • Hộ gia đình có người chết, mất tích do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh; tai nạn giao thông, tai nạn lao động nghiêm trọng hoặc các lý do bất khả kháng khác;
  • Hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn có nhà ở bị đổ, sập, trôi, cháy hoàn toàn do thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác mà không còn nơi ở;
  • Hộ phải di dời nhà ở khẩn cấp theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền do nguy cơ sạt lở, lũ, lụt, thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác;
  • Hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn có nhà ở bị hư hỏng nặng do thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác;…”[3]

Chế độ an sinh xã hội khẩn cấp thường gắn liền với những rủi ro, thiên tai hoặc những lý do bất khả kháng khác do đối tượng An sinh xã hội khẩn cấp bao gồm: Đối tượng được an sinh khẩn cấp (một lần) là những người, hộ gia đình gặp khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc lý do bất khả kháng khác gây ra; Ủy ban nhân dân cấp xã, bệnh viện, cơ quan đơn vị đứng ra tổ chức mai táng cho người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú bị chết, gia đình không biết để mai táng.

1.3.4.2.2. Mức hưởng

TGXH khẩn cấp là sự giúp đỡ mang tính chất tạm thời cho các đối tượng thuộc diện bảo trợ do đó các mức An sinh xã hội khẩn cấp chủ yếu là một lần đối với hộ gia đình, cá nhân, đối với người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú bị chết, gia đình không biết để mai táng,… tùy vào từng đối tượng mà nhà nước quy định mức trợ cấp An sinh xã hội khẩn cấp cụ thể.

Theo Điều 12, Điều 13, Điều 14, Điều 15, Điều 16, Điều 17 Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm 2021 quy định mức hưởng cho từng trường hợp hỗ trợ khẩn cấp.

“Hỗ trợ lương thực và nhu yếu phẩm thiết yếu từ nguồn ngân sách nhà nước:

+ Hỗ trợ 15 kg gạo/người/tháng trong thời gian 01 tháng cho mỗi đợt hỗ trợ đối với các đối tượng thuộc hộ thiếu đói dịp Tết âm lịch. Hỗ trợ không quá 3 tháng cho mỗi đợt hỗ trợ cho đối tượng thiếu đói do thiên tai, hỏa hoạn, mất mùa, giáp hạt hoặc lý do bất khả kháng khác từ nguồn lực của địa phương và nguồn dự trữ quốc gia.

+ Hỗ trợ nhu yếu phẩm thiết yếu:

Đối tượng có hoàn cảnh khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh hoặc lý do bất khả kháng khác mà mất nhà ở và không có khả năng tự bảo đảm các nhu cầu thiết yếu thì được xem xét hỗ trợ từ nguồn lực huy động hoặc nguồn dự trữ quốc gia: lều bạt, nước uống, thực phẩm, chăn màn, xoong nồi, chất đốt, xuồng máy và một số mặt hàng thiết yếu khác phục vụ nhu cầu trước mắt, tại chỗ. …”[3]

Nguồn kinh phí thực hiện chế độ An sinh xã hội khẩn cấp bao gồm: Ngân sách địa phương tự cân đối; an sinh của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hỗ trợ trực tiếp cho địa phương hoặc thông qua Chính phủ, các đoàn thể xã hội. Trường hợp các nguồn kinh phí trên không đủ để thực hiện An sinh xã hội khẩn cấp thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương báo cáo Bộ LĐTBXH và Bộ Tài chính để tổng hợp đề xuất trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định hỗ trợ từ ngân sách trung ương.

1.3.4.3. Chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng

1.3.4.3.1. Đối tượng hưởng

Đối tượng được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng theo Điều 18 Nghị định 20/2021/NĐ-CP như sau:

  • Đối tượng thuộc diện được hộ gia đình, cá nhân nhận chăm sóc, nuôi dưỡng hàng tháng tại cộng đồng bao gồm (1):
  • Đối tượng trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi;

Mồ côi cả cha và mẹ

Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật;

Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở an sinh xã hội, nhà xã hội;

Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc

Cả cha và mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật;

Cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở an sinh xã hội, nhà xã hội;

Cả cha và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở an sinh xã hội, nhà xã hội; Khóa luận: Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

Cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở an sinh xã hội và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Đối tượng là người cao tuổi thuộc diện hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở an sinh xã hội nhưng có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồng.

Đối tượng là người khuyết tật nặng, người khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định pháp luật về người khuyết tật.

Đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp thuộc diện nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tạm thời tại cộng đồng bao gồm (2):

Trẻ em có cả cha và mẹ bị chết, mất tích theo quy định của pháp luật mà không có người thân thích chăm sóc, nuôi dưỡng hoặc người thân thích không có khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng;

Nạn nhân của bạo lực gia đình; nạn nhân bị xâm hại tình dục, thân thể; nạn nhân bị buôn bán; nạn nhân bị cưỡng bức lao động cần được bảo vệ khẩn cấp trong thời gian chờ đưa về nơi cư trú hoặc đưa vào cơ sở an sinh xã hội, nhà xã hội;

Trẻ em, người lang thang xin ăn trong thời gian chờ đưa về nơi cư trú hoặc đưa vào cơ sở an sinh xã hội, nhà xã hội;

  • Đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp khác theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
  • Thời gian nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tạm thời tại cộng đồng đối với đối tượng quy định tại cần bảo vệ khẩn cấp thuộc diện nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tạm thời tại cộng đồng không quá 03 tháng (3).

Trường hợp hết thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng mà hộ gia đình, cá nhân không nhận chăm sóc, nuôi dưỡng thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chuyển hộ gia đình, cá nhân khác nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tạm thời;

Hoặc có văn bản gửi Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện đưa đối tượng vào chăm sóc, nuôi dưỡng trong cơ sở an sinh xã hội, nhà xã hội theo quy định.

1.3.4.3.2. Mức hưởng

Mức hưởng đối với đối tượng được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng theo Điều 19 Nghị định 20/2021/NĐ-CP như sau:

Đối tượng quy định tại (1) mục 1 được hưởng các chế độ sau đây

  • Trợ cấp xã hội hàng tháng theo quy định tại Điều 6 Nghị định 20/2021/NĐ-CP; Cấp thẻ bảo hiểm y tế theo quy định tại Điều 9 Nghị định 20/2021/NĐ-CP
  • An sinh giáo dục, đào tạo và dạy nghề theo quy định tại Điều 10 Nghị định 20/2021/NĐ-CP;
  • Hỗ trợ chi phí mai táng theo quy định tại Điều 11 Nghị định 20/2021/NĐ-CP.

Đối tượng quy định tại (2) mục 1 khi sống tại hộ nhận chăm sóc, nuôi dưỡng được hỗ trợ theo quy định sau đây:

  • Tiền ăn trong thời gian sống tại hộ nhận chăm sóc, nuôi dưỡng;
  • Chi phí điều trị trong trường hợp phải điều trị tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh mà không có thẻ bảo hiểm y tế;
  • Chi phí đưa đối tượng về nơi cư trú hoặc đến cơ sở an sinh xã hội, nhà xã hội.

Chế độ đối với hộ gia đình, cá nhân chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng

Tại Điều 20 Nghị định 20/2021/NĐ-CP quy định chế độ đối với hộ gia đình, cá nhân chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng như sau:

Hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc, nuôi dưỡng hàng tháng thấp nhất cho mỗi đối tượng quy định tại khoản 1, điểm d khoản 5 Điều 5 Nghị định này bằng mức chuẩn an sinh xã hội quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định này nhân với hệ số tương ứng theo quy định sau đây: Khóa luận: Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

Hệ số 2,5 đối với trường hợp nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em dưới 04 tuổi là đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định này;

Hệ số 1,5 đối với trường hợp nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em từ đủ 04 tuổi đến dưới 16 tuổi là đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định này, đối tượng quy định tại điểm d khoản 5 Điều 5 Nghị định này.

Hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng hàng tháng thấp nhất cho mỗi đối tượng quy định tại khoản 6 Điều 5 Nghị định này bằng mức chuẩn an sinh xã hội quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định này nhân với hệ số tương ứng theo quy định sau đây:

Mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng đối với người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi được quy định như sau:

Hệ số 1,5 đối với người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng đang mang thai hoặc nuôi một con dưới 36 tháng tuổi;

Hệ số 2,0 đối với người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng đang mang thai và nuôi một con dưới 36 tháng tuổi hoặc nuôi hai con dưới 36 tháng tuổi trở lên;

Trường hợp người khuyết tật thuộc diện hưởng các hệ số khác nhau quy định tại điểm này thì chỉ được hưởng một hệ số cao nhất;

Trường hợp cả vợ và chồng là người khuyết tật thuộc diện hưởng hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng quy định tại điểm này thì chỉ được hưởng một suất hỗ trợ kinh phí chăm sóc.

  • Trường hợp người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng đang hưởng trợ cấp xã hội quy định tại khoản 6 Điều 5 Nghị định này nhưng mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì vẫn được hưởng kinh phí hỗ trợ chăm sóc quy định tại điểm a khoản 2 Điều này.
  • Hộ gia đình đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng mỗi một người khuyết tật đặc biệt nặng được hưởng kinh phí hỗ trợ chăm sóc hệ số một (1,0).
  • Hộ gia đình, cá nhân nhận chăm sóc nuôi dưỡng người khuyết tật đặc biệt nặng được hỗ trợ kinh phí chăm sóc với hệ số được quy định như sau:
  • Hệ số 1,5 đối với trường hợp nhận chăm sóc, nuôi dưỡng mỗi một người khuyết tật đặc biệt nặng;
  • Hệ số 2,5 đối với trường hợp nhận chăm sóc, nuôi dưỡng mỗi một trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng.
  • Được hướng dẫn, đào tạo nghiệp vụ nhận chăm sóc, nuôi dưỡng.
  • Được ưu tiên vay vốn, dạy nghề tạo việc làm, phát triển kinh tế hộ và chế độ ưu đãi khác theo quy định của pháp luật liên quan.

1.3.4.4. Chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội tại cơ sở an sinh xã hội, nhà xã hội

1.3.4.4.1. Đối tượng hưởng

Theo Điều 24 Nghị định 20/2021/NĐ-CP, đối tượng bảo trợ xã hội được chăm sóc, nuôi dưỡng trong cơ sở an sinh xã hội được quy định như sau:

Thứ nhất, đối tượng bảo trợ xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn bao gồm:

  • Đối tượng quy định tại các khoản 1 và 3 Điều 5 của Nghị định 20/2021/NĐ-CP thuộc diện khó khăn không tự lo được cuộc sống và không có người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng;
  • Người cao tuổi thuộc diện được chăm sóc, nuôi dưỡng trong cơ sở an sinh xã hội theo quy định của pháp luật về người cao tuổi;
  • Trẻ em khuyết tật, người khuyết tật thuộc diện được chăm sóc, nuôi dưỡng trong cơ sở an sinh xã hội theo quy định của pháp luật về người khuyết tật. Khóa luận: Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

Thứ hai, đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp bao gồm:

  • Nạn nhân của bạo lực gia đình; nạn nhân bị xâm hại tình dục; nạn nhân bị buôn bán; nạn nhân bị cưỡng bức lao động;
  • Trẻ em, người lang thang xin ăn trong thời gian chờ đưa về nơi cư trú;
  • Đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp khác theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Thứ ba, người chưa thành niên, người không còn khả năng lao động là đối tượng thuộc diện chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở an sinh xã hội theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Thứ tư, đối tượng tự nguyện sống tại cơ sở an sinh xã hội bao gồm:

  • Người cao tuổi thực hiện theo hợp đồng ủy nhiệm chăm sóc;
  • Người không thuộc diện quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 24 Nghị định 20/2021/NĐ-CP, không có điều kiện sống tại gia đình, có nhu cầu vào sống tại cơ sở an sinh xã hội.

Như vậy, đối tượng bảo trợ xã hội được chăm sóc, nuôi dưỡng trong cơ sở an sinh xã hội bao gồm đối tượng bảo trợ xã hội có hoàn cảnh đặc biệt; đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp; người chưa thành niên, người không còn khả năng lao động theo quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và đối tượng tự nguyện sống tại cơ sở an sinh xã hội theo Điều 24 Nghị định 20/2021/NĐ-CP.

1.3.4.4.2. Mức hưởng

Theo Điều 25 Nghị định 20/2021/NĐ-CP, đối tượng quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 24 Nghị định 20/2021/NĐ-CP khi sống tại cơ sở an sinh xã hội được hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định sau đây:

Mức trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng thấp nhất cho mỗi đối tượng bằng mức chuẩn an sinh xã hội quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định 20/2021/NĐ-CP (360.000 đồng/tháng) nhân với hệ số tương ứng theo quy định, cụ thể:

  • Hệ số 5,0 đối với trẻ em dưới 04 tuổi;
  • Hệ số 4,0 đối với các đối tượng từ đủ 4 tuổi trở lên.
  • Cấp thẻ bảo hiểm y tế theo quy định pháp luật về bảo hiểm y tế.
  • Hỗ trợ chi phí mai táng khi chết với mức tối thiểu bằng 50 lần mức chuẩn an sinh xã hội quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định 20/2021/NĐ-CP.

Cấp vật dụng phục vụ cho sinh hoạt thường ngày, chăn, màn, chiếu, quần áo mùa hè, quần áo mùa đông, quần áo lót, khăn mặt, giày, dép, bàn chải đánh răng, thuốc chữa bệnh thông thường, vệ sinh cá nhân hàng tháng đối với đối tượng nữ trong độ tuổi sinh đẻ, sách, vở, đồ dùng học tập đối với đối tượng đang đi học và các chi phí khác theo quy định.

Ngoài ra, trường hợp đối tượng đã được hưởng chế độ trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng quy định tại khoản 1 Điều 25 Nghị định 20/2021/NĐ-CP thì không được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng quy định tại Điều 6 Nghị định 20/2021/NĐ-CP.

  • Hỗ trợ giáo dục, đào tạo và tạo việc làm Khóa luận: Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

Theo Điều 26 Nghị định 20/2021/NĐ-CP về việc hỗ trợ giáo dục, đào tạo và tạo việc làm như sau:

Đối tượng được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở an sinh xã hội được hưởng chính sách hỗ trợ học mầm non, giáo dục phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất theo quy định của pháp luật.

Đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người chưa thành niên, người không còn khả năng lao động là đối tượng thuộc diện chăm sóc, nuôi dưỡng, đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp quy định tại Nghị định này từ 16 tuổi trở lên đang học các cấp học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất thì tiếp tục được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở an sinh xã hội cho đến khi kết thúc học, nhưng không quá 22 tuổi.

Trẻ em từ 13 tuổi trở lên được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở an sinh xã hội không còn học phổ thông thì được giới thiệu học nghề.

Đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người chưa thành niên, người không còn khả năng lao động là đối tượng thuộc diện chăm sóc, nuôi dưỡng, đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp quy định tại Nghị định này từ 16 tuổi trở lên không tiếp tục học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học được đưa trở về nơi ở trước khi vào cơ sở an sinh xã hội. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi ở trước đây của đối tượng có trách nhiệm tiếp nhận, tạo điều kiện để có việc làm, ổn định cuộc sống.

Đối tượng bảo trợ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người chưa thành niên, người không còn khả năng lao động là đối tượng thuộc diện chăm sóc, nuôi dưỡng từ 16 tuổi trở lên không tiếp tục học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học thì cơ sở an sinh xã hội và địa phương xem xét hỗ trợ để có nơi ở, tạo việc làm và cơ sở an sinh xã hội tiếp tục giải quyết trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng cho đến khi tự lập được cuộc sống, nhưng không quá 24 tháng.

1.3.5. Kinh phí thực hiện

Theo Điều 31 Nghị định 20/NĐ-CP quy định kinh phí thực hiện chính sách an sinh xã hội thường xuyên.

Kinh phí thực hiện chế độ chính sách an sinh xã hội thường xuyên, hỗ trợ nhận chăm sóc tại cộng đồng và kinh phí thực hiện chi trả chính sách; tuyên truyền, xét duyệt đối tượng; ứng dụng công nghệ thông tin; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ và kiểm tra giám sát được thực hiện theo quy định pháp luật về ngân sách nhà nước.

Kinh phí bảo đảm để chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 24 Nghị định này thì đối với cơ sở an sinh xã hội thuộc cấp nào thì do ngân sách cấp đó bảo đảm trong dự toán chi bảo đảm xã hội.

Thông tư số 76/2021/TT-BTC đã hướng dẫn cụ thể về kinh phí thực hiện chế độ chính sách an sinh xã hội thường xuyên, hỗ trợ nhận chăm sóc tại cộng đồng; kinh phí bảo đảm chăm sóc nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội tại cơ sở an sinh xã hội, nhà xã hội. Thông tư cũng hướng dẫn nội dung và mức chi tuyên truyền, xét duyệt đối tượng; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ, ứng dụng công nghệ thông tin, kiểm tra giám sát và kinh phí thực hiện chi trả chính sách; lập dự toán, phân bổ và quyết toán kinh phí [4].

Kinh phí thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội tại cơ sở an sinh xã hội ngoài công lập thành lập và hoạt động được bố trí trong dự toán chi thường xuyên của cơ quan Lao động – Thương binh và Xã hội (cơ quan có thẩm quyền giấy chứng nhận đăng ký thành lập và cấp giấy phép hoạt động cơ sở an sinh xã hội ngoài công lập). Cơ quan Lao động – Thương binh và Xã hội cấp kinh phí cho cơ sở an sinh xã hội ngoài công lập tổ chức chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng theo quy định [4].

Ngân sách trung ương hỗ trợ ngân sách địa phương kinh phí thực hiện các chính sách an sinh các đối tượng bảo trợ xã hội theo cơ chế hỗ trợ thực hiện các chính sách an sinh xã hội do Trung ương ban hành và được Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Kinh phí chi hoạt động thường xuyên, đầu tư xây dựng cơ bản và các chi phí khác của cơ sở an sinh xã hội thực hiện theo quy định của pháp luật. Cơ sở an sinh xã hội được tiếp nhận, sử dụng và quản lý các nguồn kinh phí và hiện vật do các tổ chức, cá nhân đóng góp và giúp đỡ từ thiện; bảo đảm sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng và thanh quyết toán theo quy định của pháp luật. Khóa luận: Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

Theo Điều 32 Nghị định 20/2021/NĐ-CP quy định kinh phí thực hiện an sinh khẩn cấp:

Ngân sách địa phương tự cân đối theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước;

An sinh của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hỗ trợ trực tiếp cho địa phương hoặc thông qua cơ quan, tổ chức.

Trường hợp thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh xảy ra trên diện rộng gây thiệt hại nặng và các nguồn kinh phí quy định tại trước đó không đủ để thực hiện an sinh khẩn cấp thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, các bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia và Bộ Tài chính để tổng hợp, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định hỗ trợ hàng hóa từ nguồn dự trữ quốc gia theo quy định.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Trong chương 1, tác giả đã hệ thống được kiến thức, cũng như phân tích các nội dung cơ bản về pháp luật an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội. Cụ thể hiểu được khái niệm an sinh xã hội, bảo trợ xã hội, đồng thời lấy được ví dụ minh họa. Phân tích nguyên tắc, vai trò của an sinh xã hội; nêu được mục đích điều chỉnh pháp luật án sinh xã hội, các yếu tố ảnh hưởng hiệu quả thực hiện pháp luật. Nghiên cứu, phân tích, hệ thống nội dung pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội bao gồm: pháp luật về bảo hiểm y tế, pháp luật về ưu đãi xã hội, pháp luật về các dịch vụ xã hội cơ bản cho đối tượng bảo trợ xã hội về đối tượng hưởng, mức hưởng. Bên cạnh đó trọng tâm đi sâu phân tích pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội. Từ đó có góc nhìn về hệ thống pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội tại Việt Nam. Làm cơ sở, tiền đề để tìm hiểu, phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội tại phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Khóa luận: Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thực tiễn an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội

One thought on “Khóa luận: Pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464