Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Điều kiện pháp luật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo pháp luật Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự phát triển của nền văn minh nhân loại luôn đặt yếu tố hàng đầu về quyền con người trong xã hội ngày càng phát triển ngày nay. Trong tất cả các quyền con người, quyền được làm cha mẹ là quyền tự nhiên mà pháp luật cần bảo vệ. Quyền được làm cha, làm mẹ đối với con luôn được phát luật bảo về và tôn trọng trong xã hội ngày nay. Tuy nhiên, báo động về việc gia tăng tỷ lệ vô sinh và hiếm muộn trên toàn cầu ngày càng gia tăng. Tổ chức Y tế hàng đầu thế giới WTO vừa có cuộc khảo sát mới nhất đưa ra kết quả đánh giá trên thế giới là cứ 6 người trưởng thành thì có 1 một người bị vô sinh. Còn kết quả ở Việt Nam được ghi nhận là có khoảng 7,7% cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sẽ mắc các bệnh vô sinh hoặc hiếm muộn. Sự gia tăng vô sinh sau một lần có thai lên đến 15-20% sau mỗi một năm. Cả nam giới và nữ giới đều mắc phải bệnh vô sinh với tỷ lệ phần trăm ngang nhau là 40%, còn các trường hợp là cả vợ chồng đều mắc rơi vào 10% và 10% do không rõ nguyên nhân [34].
Nhiều cặp vợ chồng không thể sinh con dẫn đến thiếu sự gắn kết từ đó hôn nhân dễ tan vỡ, vì vậy việc sinh con không chỉ để duy trì nòi giống mà còn mang lại sự hạnh phúc gắn kết tình yêu giữa các cặp vợ chồng giúp cha mẹ làm việc tốt hơn, sống có trách nhiệm hơn với gia đình. Khi nuôi dạy con cái cha mẹ cảm nhận được thành tựu, hạnh phúc từ đó khiến bản thân tràn đầy kỳ vọng vào cuộc sống. Bản thân khi thực hiện quá trình nuôi dạy con cái có thế trải nghiệm được giá trị và ý nghĩa cuộc sống từ đó cảm nhận được hài lòng và hạnh phúc. Các trường hợp ly hôn cũng sẽ ít hơn khi họ có con cái, có sự liên kết giữa cả hai. Có con cái trong gia đình thì vợ chồng sẽ có tránh nhiệm chăm sóc cho gia đình của mình hơn và từ đó giảm tình trạng ly hôn.
Như Bác Hồ đã từng căn dặn trong buổi hội thảo hôn nhân – gia đình ngày 10/10/1959 như sau: “Quan tâm đến gia đình là đúng và nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình” [37]. Qua những giai đoạn phát triển xã hội khác nhau gia đình vẫn luôn giữ những vai trò quan trọng trong xã hội.
Chẳng hạn, gia đình là nơi đem lại yêu thương cho mỗi người từ đó mỗi con người đều được đùm bọc về mặt vật chất lẫn tâm hồn. Đồng thời, gia đình là nơi cung cấp nguồn nhân lực cho xã hội. Mỗi người con sinh ra trong môi trường gia đình giàu lòng yêu nước, có ý chí, lành mạnh thì sẽ tạo ra những cá nhân có phẩm chất tốt đẹp, góp sức vào nguồn nhân lực chất lượng cao phụ vụ đất nước. Như vậy, gia đình đều giữ vai trò là tế bào của xã hội, góp phần vào sự phát triển của xã hội và của quốc gia. Việt Nam vẫn chú trọng triển khai nhiều chương trình, dự án với nội dung xây dựng phát triển gia đình. Chế định về gia đình với vị trí và vai trò quan trọng được quy định trong Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới và còn Luật Trẻ em. Nhà nước luôn đầu tư và ưu tiên cho sự phát triển bền vững của gia đình trong xã hội.
Cùng với quá trình phát triển của xã hội nền y học cũng có sự thay đổi tích cực nhằm làm tốt hơn hiệu quả khám chữa bệnh đối với mọi người. Để điều trị tình trạng hiếm muộn rất nhiều chuyên gia đã nghiên cứu và đưa ra nhiều phương pháp kỹ thuật hỗ trợ sinh sản giúp các cặp vợ chồng có con nhưng không thể đáp ứng được hết những vấn đề phát sinh của bệnh lý. Vì vậy, mang thai hộ là giải pháp đem đến hy vọng có con cho các cặp vợ chồng. Tuy nhiên, phương pháp mang thai hộ lại có nhiều ý kiến trái chiều cũng như ẩn chứa nhiều hậu quả khôn lường. Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo sẽ là cần thiết đối với xã hội đang ngày càng tăng số ca hiếm muộn nhưng nếu mang thai hộ ẩn chứa tính thương mại sẽ gây hậu quả xung đột làm tổn thương người mẹ và trẻ em không có cơ sở xử lý. Khóa luận: Điều kiện pháp luật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Ở một số quốc gia việc mang thai hộ bị cấm dưới một hình thức nào đó ví dụ như Pháp, Đức, Thuỵ Sĩ, Tây Ban Nha,… Bộ luật Việt Nam về trước đây, việc mang thai là hành vi bị cấm. Trong bối cảnh có nhiều sự biến động như hiện nay, sự thay đổi về pháp luật cho phù hợp với xu hướng toàn cầu đã trở thành tất yếu. Văn bản pháp luật hiện hành hiện nay đã quy định cho phép việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và nghiêm cấm việc mang thai hộ vì mục đích thương mại trong Luật HN&GĐ năm 2014 thay vì trước đây luật nghiêm cấm mang thai hộ. Điều này được xem là một trong những bước đổi mới mang tính nhân văn của pháp luật, thể hiện cách tiếp cận xu hướng toàn cầu.
Thực hiện quy định mới của pháp luật về mang thai hộ qua một thời gian đã ghi nhận được những kết quả tích cực. Điều chỉnh pháp luật đã thực hiện việc ghi nhận quyền nhân thân của cá nhân, mang lại hạnh phúc cho các cặp đôi được làm cha, làm mẹ. Tuy nhiên, đây là chế định mới nên còn nhiều ý kiến trái chiều, quy định về điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo còn còn được sửa đổi, hoàn thiện nhằm thuận lợi cho các bên tham gia quan hệ pháp luật, cũng như nâng cao được hiệu quả áp dụng với tính nhân văn mà pháp luật ban hành. Trên những phân tích trên, tác giả lựa chọn đề tài “Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo pháp luật Việt Nam” là đề tài khoá luận của mình.
2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Pháp luật Việt Nam đã mở rộng chế định mang thai hộ từ đó cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, đây là một quy định mới trong pháp luật vì vậy đã nhận được nhiều sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu luật pháp. Tính đến hiện tại, những quy định liên quan đến mang thai hộ đã có nhiều nghiên cứu được thể hiện được thể hiện dưới dạng luận văn, luận án, tạp chí, khoá học. Có thể khái quát một số công trình tiêu biểu như sau:
Nhóm sách chuyên khảo, giáo trình: Mang thai hộ nói chung và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo nói riêng được tổng quát ở một số sách chuyên khảo có tính chuyên sâu tại hai quyển giáo trình là:
“Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam” của trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2016), NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, trong giáo trình tác giả triển khai nội dung về mang thai hộ với những vấn đề như khái niệm mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và phân tích các điều kiện, vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ các bên sẽ phải thực hiện khi tham gia quá trình mang thai hộ. Mục đích giáo trình là để giảng dạy vì vậy tác giả chỉ nêu những lý luận về cơ sở pháp luật mà chưa đánh giá thực trạng và chỉ ra những bất cập, hạn chế khi áp dụng luật mang thai hộ hiện nay.
“Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam” của trường Đại học Luật Hà Nội (2021), NXB Tư pháp. Với nội dung nhằm mục đích phục vụ việc dạy học nên khái quát nội dung nêu toàn diện về quy định khái niệm, ý nghĩa mang thai hộ; nêu và phân tích các điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo; quyền và nghĩa vụ các bên trong mối quan hệ mang thai hộ; trách nhiệm pháp lý phát sinh từ việc mang thai hộ. Các quy định pháp luật được phân tích tuy nhiên vấn đề hạn chế và bất cập khi áp dụng thực tế không được chỉ ra. Khóa luận: Điều kiện pháp luật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Nhóm luận văn, luận án: Đối với nhóm tài liệu này, trong thời gian thực hiện pháp luật đã có những công trình nghiên cứu ở bậc đại học cũng như sau đại học, có thể kể đến một số công trình như:
Luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Thị Lê Huyền về “Chế định mang thai hộ theo pháp luật Việt Nam”, nội dung bài luận trình bày các khái niệm, đặc điểm về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và chế định thực hiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Phân tích những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cùng với thực tiễn áp dụng pháp luật vào đời sống. Các nguyên nhân gây nên khó khăn và hạn chế được tác giả trình bày trong bài luận. Bài luận kết thúc với nội dung về phương hướng và giải pháp tác giả đưa ra nhằm hoàn thiện nâng cao chế định Mang thai hộ.
Luận án thạc sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Vũ Tùng về “Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam”, tác giả trình bày những lý luận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, bên cạnh đó thực tiễn việc áp dụng pháp luật có những tích cực và hạn chế từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Duyên trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh về “Điều kiện mang thai hộ theo pháp luật Việt Nam”, bài viết nếu khái quát cơ sở lý luận của mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa cùng với kết hợp trình bày quy định một số nước trên thế giới về mang thai hộ nhằm so sánh với pháp luật Việt Nam.
Từ đó, nêu được những nguyên nhân dẫn đến hạn chế còn tồn và kiến nghị giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của pháp luật về vấn đề này.
Khoá luận tốt nghiệp của tác giả Trần Bảo Châu trường Đại học Luật Hà Nội về “Mang thai hộ theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014”. Bài viết đưa ra những khái quát chung về định nghĩa, đặc điểm, các vấn đề liên quan đến những quá trình mang thai hộ cùng với quyền và nghĩa vụ các bên. Từ những phân tích đó tác giả kết hợp với thực trạng tại địa bản thành phố Hà Nội, từ đó chỉ ra được những bất cập thiếu sót đang còn chưa rõ ràng. Nhìn nhận những thiếu sót tác giả cũng đưa ra những kiến nghị và giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật.
Nhóm bài viết tạp chí, tài liệu hội thảo: Ở phạm vi nghiên cứu khoa học, hội thảo cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về chế định mang thai hộ, điển hình như:
Nguyễn Văn Cừ về “Điều kiện nhờ mang thai hộ về những vấn đề phát sinh” tại Kỷ yếu hội thảo khoa học về “Mang thai hộ và các vấn đề phát sinh” của Trường đại học Luật Hà Nội. Bài có nội dung về trình bày các quy định chung của pháp luật về Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và nội dung được quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về điều kiện nhờ mang thai mạng hộ vì mục đích nhân đạo. Tác giả nêu một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Ngô Thị Hường về “Điều kiện đối với bên mang thai hộ thực tiễn thi hành” tại Kỷ yếu hội thảo khoa học về “Mang thai hộ và các vấn đề phát sinh” của Trường đại học Luật Hà Nội. Tác giả trình bày các điều kiện đối với người mang thai hộ từ đó nêu những vấn đề phát sinh khi thực hiện quy định về điều kiện đối với người mang thai hộ.
Nguyễn Thị Liệu về “Một số vấn đề còn bỏ ngỏ trong quy định về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo tại Việt Nam”, Tạp chí Công thương, số 4 – Tháng 3/2020. Bài viết trình bày nội dung về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo dưới góc độ pháp luật Việt Nam, cùng với đó nêu được thực trạng mang thai hộ và thực trạng áp dụng pháp luật về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo ở Việt Nam hiện nay. Tác giá cũng đưa ra những bình luận về thực trạng từ đó đưa ra giải pháp nâng cao pháp luật.
Huỳnh Thị Trúc Giang về “Vài suy nghĩ về quy định mang thai hộ trong luật Hôn nhân và gia đình năm 2014”, tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. Bài viết trình bày mục đích của việc mang thai hộ và nội dung của điều kiện của việc mang thai hộ đối với người mang thai hộ cùng với người được nhờ mang thai hộ. Phân tích các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia, đi kèm đó có những hệ quả pháp lý sẽ đối mặt khi thực hiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Nguyễn Thị Lê Huyền và Vũ Thị Hương về “Quan điểm lập pháp về mang thai hộ của một số quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam trong hoàn thiện pháp luật về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo”, tạp chí Pháp luật và thực tiễn, số 35/2018. Tác giả đưa ra những quan điểm lập luận của những nước trên thế giới về mang thai hộ và từ đó rút kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc thực hiện về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu Khóa luận: Điều kiện pháp luật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Mục tiêu nghiên cứu của bài khoá luận: dựa trên cơ sở hệ thống quy định pháp luật và chế định về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, đánh giá pháp luật và từ đó chỉ ra những bất cập của pháp luật về điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Trình bày được những bất cập nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về điều kiện mang thai hộ theo pháp luật Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Hệ thống hoá cơ sở lý luận làm rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của mang thai hộ vì mục đích nhân đạo dưới nhiều góc độ, với phương diện chính là đảm bảo quyền con người và được pháp luật bảo vệ.
Phân tích được các quy định của điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được ban hành tại Việt Nam.
Trình bày một số nước trên thế giới quy định pháp chế về mang thai hộ qua đó so sánh với pháp luật Việt Nam. Nhận xét về pháp luật Việt Nam áp dụng trong thực tiễn đã có những tích cực và bấp cập của pháp luật đối với các chủ thể tham gia quan hệ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Đưa ra các đề xuất, giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật và hoàn thiện pháp luật về điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo tại Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là những quy định pháp luật của Việt Nam về điều kiện của mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành và mang thai hộ trong đó vấn đề về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và một số văn bản liên quan.
Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi về mặt nội dung: khoá luận chủ yếu nghiên cứu về quy định pháp luật của Việt Nam về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo mà cụ thể là điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được thực hiện. Khoá luận tập trung phân tích, đánh giá các quy định trong pháp luật về điều kiện thực hiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thông qua các văn bản pháp luật hiện hành như: Luật HN&GĐ năm 2014, Bộ Luật dân sự 2015, Nghị định 10/2015/NĐ-CP, Nghị định 98/2016/NĐ-CP,…
Phạm vi về không gian, thời gian: quy định pháp luật về điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo tại Việt Nam thời gian từ khi pháp luật Việt Nam cho phép thực hiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
5. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận: Điều kiện pháp luật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Để thực hiện tốt các nhiệm vụ nghiên cứu cũng như các mục tiêu đề ra của luận văn tác giả sử dụng một phương pháp sau đây:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tiến hành thu thập và nghiên cứu, phân tích thông tin từ những sách, tạp chí khoa học, các diễn đàn khoa học, giáo trình, website chính thống và các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài về mang thai hộ nói chung và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo nói riêng. Phương pháp này giúp tác giả tìm hiểu về cơ sở lý luận, chỉ ra các khái niệm, vai trò, ý nghĩa cũng như nội dung của điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Phương pháp so sánh: được sử dụng so sánh pháp luật Việt Nam với các nước trên thế giới về quy định điều kiện mang thai hộ từ đó đưa ra những nhận định về quy định của Việt Nam.
6. Ý nghĩa nghiên cứu
Qua nghiên cứu đề tài giúp đóng góp một phần nào đó cho quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo tại Việt Nam. Khoá luận giúp chúng ta hiểu rõ hơn những quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và những vấn đề liên quan. Bên cạnh đó, giúp mỗi chúng ta nhận thức được tầm quan trọng của điều kiện và áp dụng đúng với quy định của pháp luật ban hành.
7. Bố cục của khoá luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài gồm hai chương kết cấu như sau:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
- Chương 2: Pháp luật Việt Nam về điều kiện mang thai hộ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về mang thai hộ
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO
1.1. Những khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm về mang thai hộ
Mang thai đó là quá trình tạo nên mầm sống mới, đây là hiện tượng sinh lý bình thường diễn ra ở mỗi giống loài. Tiếng Latin về mang thai được viết là “Graviditas” hay còn có tên gọi khác là “thai nghén”, đây là từ chỉ việc người phụ nữ mang một hay nhiều con, được gọi là bào thai và phát triển bên trong tử cung của người phụ nữ [31]. Quá trình mang thai của con người có ý nghĩa nhằm duy trì nòi giống, gắn kết yêu thương, bởi con cái là động lực để cha mẹ sống tốt và có trách nhiệm, góp phần làm nâng cao chất lượng xã hội. Nhìn chung, mang thai được hiểu là quá trình người phụ nữ nuôi dưỡng bào thai trong cơ thể mình.
Xét về mặt pháp lý tại Việt Nam đã có những quy định liên quan đến mang thai. Khái niệm về “thai” được quy định tại khoản 1 Điều 2 Thông tư số 12/2012/TT-BYT ban hành ngày 15 tháng 07 năm 2012 về quy trình kỹ thuật thụ tinh nhân tạo và thụ tinh ống nghiệm như sau:“Thai là sản phẩm của quá trình thụ tinh được tính bắt đầu từ tuần thứ 09 sau thụ tinh cho đến khi sinh hoặc khi sảy thai” [1]. Đồng thời, pháp luật cũng đưa ra định nghĩa về “phôi” như sau:“là quá trình kết hợp giữa noãn và tinh trùng” [2] quy định tại khoản 5 Điều 2 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ban hành ngày 28 tháng 01 năm 2015 quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Nhìn chung, khái niệm hoàn chỉnh về mang thai vẫn chưa được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật và chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này.
Theo Từ điển Tiếng Việt, giải nghĩa cho từ “hộ” được hiểu là làm thay cho người khác, giúp người khác công việc không phải của mình [7]. Giải nghĩa từng từ như trên mang thai hộ được hiểu là việc mượn cơ thể của người phụ nữa khác với mục đích mang thai thay thế cho một người phụ nữ không thể tự mình mang thai. Thông tin từ Bệnh viện Hùng Vương cho biết “Mang thai hộ là khi người phụ nữ mang thai và sinh ra một em bé cho cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ khi họ mong muốn có con nhưng không thể mang thai được” [22]. Nhiều người vẫn còn gọi đây là hình thức “đẻ thuê” hoặc “đẻ mướn” có sự trao đổi giữa cả hai bên là người mẹ mang thai hộ và vợ chồng người nhờ mang thai hộ. Khóa luận: Điều kiện pháp luật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Ý kiến khác đưa ra nhận định về việc mang thai hộ phải thông qua quá trình thực hiện thành công kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm. Theo Kirsty Horsey là Giáo sư Luật tại trường Kent Law “Surrogacy is the practice where one woman carries and gives birth to a baby that she intends to give to others – the intended parent – to raise, following a preconception agreement. A surrogate pregnancy can be established using IVF or intrauterine insemination performed in a fertility clinic, using an embryo the intended parents have created using their gametes (with either a fresh or frozen embryo transfer), or one or both of the intended parents’s gametes may be substituted by a donor egg or spermatozoa where necessary.” [17]. (MTH là việc một người phụ nữ mang thai và sinh con mà người mang thai dự định sẽ trao cho người khác, cha mẹ mà có dự định nuôi dưỡng, theo một thoả thuận hai bên. Mang thai hộ còn được thể hiện bằng cách sử dụng IVF hoặc thụ tinh trong tử cung được thực hiện trong phòng khám hỗ trợ sinh sản, sử dụng phôi mà người cha mẹ dự định đã tạo ra bằng cách sử dụng giao tử của hộ (bằng chuyển phôi tươi hoặc phôi đông lạnh) hoặc một hoặc cả hai giao tử của cha mẹ dự định có thể được thay thế bằng trứng hoặc tinh trùng của người hiến tặng khi cần thiết.)
Thạc sĩ Nguyễn Thị Liệu đã nhận định về việc mang thai hộ là kỹ thuật dùng phương pháp lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm tạo ra phôi [13]. Đây là hình thức mang thai hộ sử dụng công nghệ khoa học được đánh giá cao trong nền y học.
Như vậy, từ các quan điểm nêu trên kết luận được rằng định nghĩa này có thể hiểu theo hai cách: Một là Mang thai hộ được thực hiện theo khoa học công nghệ cao có sự hỗ trợ sinh sản IVF, điều này có nghĩa người thay thế hay gọi là người mang thai hộ sẽ không có quan hệ di truyền đối với đứa trẻ được sinh ra. Hai là, người Mang thai hộ sẽ được thuê để mang thai con với người chồng, phôi thai sẽ là sự kết hợp giữa tinh trùng và noãn cả hai bên. Trong trường hợp này, đứa trẻ sinh ra sẽ mang gen của người Mang thai hộ hay còn gọi là có huyết thống với nhau.
MTH diễn ra phổ biến và tiến bộ hơn trước và với những dẫn chứng trên cho thấy ngày nay đã có nhiều sự kết hợp của nhiều phương pháp khác nhau. Cách định nghĩa về Mang thai hộ cũng đang được hệ thống hoá hơn trong nhiều luật nhằm phát triển cho những người phụ nữ mang thai hộ. Tính hợp pháp của Mang thai hộ cũng trên thế giới cũng khác nhau. Nhiều quốc gia không có quy định cụ thể về mang thai hộ. Pháp luật Việt Nam quy định mang thai hộ thông qua hai khái niệm là Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và Mang thai hộ vì mục đích thương mại tại Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014.
Pháp luật nước ta hiện nay cho phép thực hiện kỹ thuật mang thai hộ tuy nhiên chỉ được thực hiện với mục đích nhân đạo, đối với mục đích thương mại là hành vi nghiêm cấm.
Mang thai hộ theo pháp luật Việt Nam được nhận định gồm có mục đích khi tham gia thực hiện đó là thương mại và nhân đạo. Cả hai mục đích mang thai nêu trên có điểm chung đều là mang thai cho người khác có can thiệt bởi kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Hai mục đích có sự khác biệt đó là đối với Mang thai hộ vì mục đích thương mại các bên tham gia thực hiện đều có một đích vụ lợi cá nhân như tiền hay vật chất,…còn Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo các bên đều trên tinh thân giúp đỡ nhau có tính tự nguyện để cặp vợ chồng không thể có con được làm cha mẹ. Có sự khác nhau bởi mục đích chính vì vậy pháp luật Việt Nam nghiêm cấm thực hiện hành vì mang thai hộ vì mục đích thương mại. Thực hiện Mang thai hộ vì mục đích thương mại mang đến nhiều tiềm ẩn xấu đối với người phụ nữ thực hiện mang thai hộ và không đảm bảo được quyền lợi của đứa trẻ được sinh ra.
Từ nhiều khái niệm khác nhau, tác giả đưa ra khái niệm về Mang thai hộ là quá trình thực hiện pháp luật về quan hệ giữa người phụ nữ mang thai và sinh ra một em bé cho cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ với mong muốn có con nhưng không thể mang thai được, được thực hiện giữa các bên với cơ sở y tế có chuyên môn thực hiện kỹ thuật Mang thai hộ. Người con của vợ chồng áp dụng phương pháp này sẽ có gen di truyền, nhóm máu của cặp vợ chồng và không có huyết thống với người mang thai hộ.
1.1.2. Khái niệm về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Khóa luận: Điều kiện pháp luật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Mang thai hộ vì mục đích thương mạ là phương pháp sử dụng công nghệ y khoa hiện đại sử dụng kỹ thuật TTTON hoặc IVF để cấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để tạo phôi và phôi được chuyển vào cơ thể của một người phụ nữ khác để mang thai và sinh con cho bên nhờ Mang thai hộ. Người phụ nữ Mang thai hộ phải đồng ý giúp đỡ dựa trên tinh thần tự nguyện không vì lợi ích nào khác.
Xét về phương diện xã hội, Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là phương pháp mang tính nhân văn phù hợp nhất đối với những trường hợp không may không thể tự mình mang thai và sinh con một cách tự nhiên. Như vậy, việc Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đã tạo ra hy vọng cuối cùng cho những cặp đôi vô sinh muốn có con chung khi cả hai đã áp dụng nhiều kỹ thuật hỗ trợ sinh sản khác mà không thành công. Đây là nguyện vọng chính đáng của người làm cha, làm mẹ và là quyền con người hoàn toàn tự nhiên xuất phát từ mong muốn được có cơ hội làm cha, làm mẹ. Bên cạnh đó, trong bối cảnh xã hội hiện đại, Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đã tạo ra những thay đổi về quan niệm xưa khi xác định người mẹ giờ đây không chỉ là người sinh ra đứa trẻ và sẽ không còn tuân theo lẽ tự nhiên và quy luật thông thường. Việc này đã mở rộng quan niệm về người mẹ trong xã hôi hiện đại. Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được hiểu với góc độ xã hội là việc những người phụ nữ giúp đỡ nhau thực hiện việc mang thai và sinh con nếu gặp phải khó khăn không thể trực tiếp thực hiện.
Ở góc độ pháp lý, tại Việt Nam điều chỉnh và xây dựng cơ chế thực hiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là một vấn đề hoàn toàn mới. Những văn bản quy phạm pháp luật trước đây như Luật HN&GĐ năm 2000 mang thai hộ chưa được nhắc đến. Đến năm 2003 pháp luật mới có quy định về mang thai hộ, tình hình đất nước cùng với xã hội thời đó nước ta đưa ra quy định “nghiêm cấm các hành vi mang thai hộ” tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 12/2003/NĐ-CP ban hành ngày 12 tháng 02 năm 2003 về việc sinh con theo phương pháp khoa học. Tuy nhiên nhu cầu mang thai hộ ở nước ta lại ngày càng phổ biến. Các dịch vụ mang thai hộ đều được tìm thấy nhanh chóng thông qua Internet, bài báo đưa tin thực hiện dịch vụ mang thai hộ có giá 50 triệu đồng đối với một ca vào năm 2007 [23]. Các bác sĩ Việt Nam sẽ không thực hiện việc mang thai hộ vì vi phạm pháp luật, vậy nên nhiều người đã chuyển hướng đi sang nước ngoài thực hiện mục đích. Chẳng hạn như vụ án về việc 14 cô gái Việt Nam tham gia đường dây đẻ thuê tại Thái Lan [23]. Những vụ việc trên đã dẫn đến tình trạng cơ quan nhà nước không thể kiểm soát kịp thời và bảo vệ lại quyền và lợi ích của công dân hoặc đảm bảo an toàn cho đứa trẻ sinh ra.
Sau hơn mười năm Chính phủ đã sửa đổi ban hành luật mới về hôn nhân gia đình, Luật HN&GĐ năm 2014 ban hành đã có giải thích hai khái niệm “mang thai hộ vì mục đích thương mại” và “mang thai hộ vì mục đích nhân đạo”. Hiện nay, Việt Nam chỉ thừa nhận về “mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” và nghiêm cấm thực hiện “mang thai hộ vì mục đích thương mại”.
Khái niệm Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo dưới góc độ pháp lý như sau: ““Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con.” [5].
1.1.3. Khái niệm về điều kiện mang thai hộ
Mang thai hộ được ghi nhận trong pháp luật được xây dựng thận trọng với cơ chế kiểm soát chặt chẽ. Trong đó, các chủ thể tham gia vào quá trình mang thai hộ đều được quy định và điều kiện đối với các đối tượng, với cơ sở vật chất, hồ sơ thực hiện hay thủ tục thực hiện. Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để kiểm soát việc mang thai hộ trong khuôn khổ nhất định được pháp luật giám sát. Hiện nay, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào định nghĩa “điều kiện mang thai hộ” mà chỉ quy định theo phương thức liệt kê nên khái niệm trên vẫn đang được định nghĩa theo nhiều góc độ khác nhau. Khóa luận: Điều kiện pháp luật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Theo ngôn ngữ học “điều kiện” là chỉ ra những những gì cần thiết để đạt được mục đích, cơ sở của một thoả thuận [8]. Điều kiện còn có nghĩa là nghĩa vụ được thoả thuận và bảo đảm thực hiện bởi các bên [24]. Qua hai cách hiểu trên tác giả hiểu điều kiện là những gì cần có của một chủ thể hay đối tượng được đặt ra nhằm đáp ứng được thoả thuận hoặc để thực hiện được điều gì đó.
Những quan điểm về vấn đề này cụ thể là: “Việc đặt ra điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo sẽ là cơ sở pháp lý để kiểm soát việc mang thai hộ trong khuôn khổ nhất định.” [32]. Qua đó, có thể nhận định điều kiện mang thai hộ đối với các chủ thể tham gia vào quan hệ mang thai hộ có tính bắt buộc, tạo ra hành lang pháp lý để việc mang thai hộ được đảm bảo thực hiện trong khuôn khổ của pháp luật. Tuy nhiên, để sử dụng các quan điểm này như một định nghĩa về điều kiện mang thai hộ thì chưa thực sự đầy đủ và thuyết phục.
Từ những định nghĩa nêu trên, theo từng góc độ tiếp cận khác nhau, tác giả đồng quan điểm và sử dụng khái niệm về “điều kiện mang thai hộ” của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Duyên trong Luận văn thạc sĩ về Điều kiện mang thai hộ theo pháp luật Việt Nam như sau: “Điều kiện mang thai hộ là một hoặc tổng hợp các yêu cầu mang tính chất bắt buộc mà các chủ thể tham gia vào quá trình mang thai hộ phải đáp ứng, nhằm kiểm soát việc mang thai hộ được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật và là cơ sở pháp lý để việc mang thai hộ có hiệu lực pháp luật.” [14].
1.2. Đặc điểm của điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Khóa luận: Điều kiện pháp luật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Các chủ thể khi tham gia vào một quan hệ xã hội cần đáp ứng đủ các điều kiện mà pháp luật quy định. Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cũng không ngoại lệ. Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo có những điều kiện nhất định phù hợp với mỗi quốc gia trên thế giới. Hiện nay, pháp luật Việt Nam quy định về điều kiện Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo tại các văn bản pháp luật như Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP. Những chế định pháp lý về điều kiện mà các bên chủ thể tham gia vào mối quan hệ này đã tạo ra một số đặc điểm riêng biệt của quy định về điều kiện Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo như sau:
Thứ nhất, tạo cơ sở pháp lý để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên. Các chủ thể tham gia vào mối quan hệ này, đều phải đủ tất cả các điều kiện được pháp luật quy định tại Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Như người nhờ mang thai hộ phải trong những trường hợp nhất định khi người vợ không đủ điều kiện mang thai và sinh con nhưng noãn vẫn có thể tạo ra phối với tinh trùng người chồng bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo. Còn đối với chủ thể là người mang thai hộ thì cần đủ tiêu chí tránh các trường hợp trục lợi vì mục đích cá nhân dẫn đến việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo trở thành thương mại.
Thứ hai, điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo luôn hướng tới mục tiêu đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia. Xuất phát từ tính nhân văn mà pháp luật mang đến, điều kiện nhằm đảm bảo việc các bên đều hướng tới tinh thần nhân văn vì vậy quy định tính tự nguyện. Tính tự nguyện được thể hiện bằng văn bản khi người mang thai hộ và người nhờ mang thai hộ đều ký vào văn bản tự nguyện mang thai vì mục đích nhân đạo được quy định tại Nghị định số 10/2015/NĐ-CP.
Thứ ba, các bên chủ thể tham qua mối quan hệ đều bắt buộc phải đáp ứng đủ điều kiện về Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo mà pháp luật quy định. Bởi lẽ nước ta nghiêm cấm thực hiện hành vì Mang thai hộ vì mục đích thương mại vậy nên các nhà lập pháp xây dựng điều kiện pháp luật với mục tiêu ngăn chặn các thành phần thực hiện mục đích thương mại. Do đó, điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo có đặc điểm bặt buộc thực hiện với các chủ thể tham gia.
1.3. Ý nghĩa của điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Thứ nhất, điều kiện là cơ sở góp phần bảo vệ quyền lợi các bên tham gia.
Khi thực hiện Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo người mang thai hộ sẽ đứng trước nhiều rủi ro xảy đến như sức khoẻ, tâm lý, và thời gian. Vì vậy, đưa ra các điều kiện dành cho người mang thai hộ có ý nghĩa sàng lọc những trường hợp không đủ khả năng thực hiện mang thai, tránh để lại những hậu quả không thương tâm. Điều kiện về tuổi tác, sức khoẻ và cả việc đã từng sinh con là những điều cần thiết giúp phụ nữ không phải đối mặt với sức ép từ gia đình, có tâm lý thoải mái, ổn định cho người mang thai hộ khi họ thực hiện thiên chức làm mẹ. Thực hiện các điều kiện với người mang thai hộ nhằm bảo vệ về sức khoẻ thì đối với điều kiện của người nhờ mang thai hộ là cặp vợ chồng người vợ không thể sinh con và mang thai là đảm bảo quyền con người, quyền làm cha mẹ và thực hiện tính nhân đạo về tình thân khi vợ chồng không có con chung.
Thứ hai, điều kiện nhằm đảm bảo quyền lợi của đứa trẻ khi được sinh ra. Khóa luận: Điều kiện pháp luật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Pháp luật nước ta cho phép thực hiện kỹ thuật Mang thai hộ với phương pháp sử dụng kỹ thuật y học trong sinh sản tạo ra phôi từ noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng. Phôi khi tạo thành sẽ được cấy vào tử cung của người phụ nữ đồng ý mang thai hộ cho cặp vợ chồng. Ý nghĩa điều kiện giúp đứa trẻ được sinh ra bằng phương pháp này có huyết thống với vợ chồng, tránh trường hợp từ chối nhận con hoặc người mang thai hộ tranh chấp con cái. Ngoài ra, điều kiện quy định về y tế, pháp lý, tâm lý cho người người mang thai hộ và người nhờ mang thai hộ khi thực hiện cũng là giúp cho quyền lợi của đứa trẻ trước khi sinh ra được đảm bảo. Trẻ em luôn là đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội và không có khả năng chống lại việc bị lợi dụng tham gia các hoạt động vi pháp liên quan đến quyền con người. Các tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại vẫn còn tồn tại nên căn cứ pháp lý về điều kiện chặt chẽ sẽ giúp trẻ em khi sinh ra bằng phương pháp này được bảo vệ tốt hơn.
Thứ ba, đặt ra điều kiện có ý nghĩa quan trọng trong việc hạn chế việc mang thai hộ, tạo cơ sở pháp lý để Toà án giải quyết khi có tranh chấp.
Mang thai hộ vì mục đích thương mại hiện nay là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm việc cụ thể hoá điều kiện nhằm hạn chế các trường hợp rủi ro xảy ra. Khi thực hiện Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cơ quan có thẩm quyền sẽ có cơ sở để quản lý, điều hành hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Điều kiện mang thai hộ còn là căn cứ pháp lý không thể thiếu để cơ quan có thẩm quyền giải quyết nếu xảy ra phát sinh về tranh giành con cái, xác minh cha mẹ, trong bối cảnh mang thai hộ ngày càng trở nên phổ biến.
1.4. Các yếu tố tác động đến điều kiện Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Thứ nhất, yếu tố về văn hoá phong tục tập quán. Vì Việt Nam là nước
Đông Nam Á nên có văn hoá phương Đông chịu sự ảnh hưởng của văn hoá nho giáo tạo nên phong tục tập quán có sự tác động lên các mối quan hệ trong xã hội như hôn nhân và gia đình. Trong mối quan hệ hôn nhân và gia đình đã chịu sự chi phối mạnh từ văn hoá, phong tục về việc tạo dựng một hệ thống dòng tộc là có con nối dõi. Những người cùng dòng tộc là những người có cùng cụ tổ, về sinh học họ cùng có chung huyết thống với nhau. Vì vậy, quan điểm của nhiều gia đình về con cái là những đứa trẻ được sinh ra có cùng huyết thống với vợ và chồng. Văn hoá cha truyền con nối ở Việt Nam hiện nay vẫn ảnh hưởng lên đời sống hôn nhân và gia đình. Nhiều gia đình có lối sống trọng nam kinh nữ và chỉ mong cầu đẻ được con trai. Cùng với đó lối suy nghĩ có con trai để phụng dưỡng tuổi già, con gái sẽ đi lấy chồng và hết trách nhiệm. Không thể để những phong tục tập quán lạc hậu làm ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội nhà nước đã có những điều chỉnh phù hợp lên pháp luật về điều kiện Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Do đó, để phù hợp với văn hoá, phong tục tập quán Việt Nam pháp luật đã ban hành các điều kiện Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đảm bảo với lối sống người Việt và hạn chế tình trạng Mang thai hộ vì mục đích thương mạ. Khóa luận: Điều kiện pháp luật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Thứ hai, yếu tố tâm lý, đạo đức. Chịu sự tác động bởi yếu tố tâm lý, đạo đức nên pháp luật đưa ra các điều kiện Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo lên các chủ thể tham ra đều đảm bảo được yêu cầu về tâm lý và đạo đức có tính thống nhất. Đối với các cặp vợ chồng khổng thể mang thai và sinh con có cùng huyết thống với mình là điều mà họ luôn mong muốn được có những biện pháp giúp họ có con chung của cả hai. Do đó, đảm bảo phù hợp với nhu cầu của người dân và đảm bảo trật tự xã hội điều kiện về chủ thể được nhờ Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đưa ra là để thoả mãn khát khao nhu cầu có con của cặp vợ chồng. Khi thực hiện phương pháp Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo các bên chủ thể sẽ đối mặt với những áp lực từ tâm lý bởi đây là phương pháp trái với lý lẽ tự nhiên để có con và đối với Việt Nam đây là phương pháp chưa được nhiều người biết đến và hiểu đúng. Chẳng hạn, những người phụ nữ chấp nhận Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cho cặp vợ chồng đối mặt với áp lực từ phía dư luận nhiều người sẽ có những lời lẽ không tốt cho rằng đây là “đẻ thuê”, “đẻ mướn”. Khi mang thai chịu sự tác động về mặt tâm lý gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của người phụ nữ. Vì vậy, sự điều chỉnh của pháp luật về điều kiện Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được xây dựng dựa trên yếu tố về mặt tâm lý, đạo đức của cả hai bên chủ thể đảm bảo quyền lợi cho chính bản thân mỗi chủ thể và đứa trẻ được sinh ra. Điều kiện về Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo còn dựa vào tâm lý của đứa trẻ được sinh để thiết lập. Để đứa trẻ được sinh ra được đáp ứng đủ các quyền lợi điều kiện Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cũng đã đưa ra điều kiện phù hợp.
Thứ ba, yếu tố kinh tế – xã hội. Mối quan hệ về hôn nhân và gia đình luôn có sự liên kết chặt chẽ với yếu tố kinh tế – xã hội. Cùng với đó Mang thai hộ cũng chịu sự tác động bởi yếu tố này. Xã hội hiện đại phát triển kéo theo tỷ lệ hiếm muộn tăng cao tạo nên sức ép để pháp luật điểu chỉnh luật pháp phù hợp với xã hội. Nhu cầu về Mang thai hộ ngày càng tăng cao pháp luật cũng có những điều chỉnh nhất định để phù hợp đối với xã hội. Nhưng thực hiện điều chỉnh luôn hướng tới tính nhân văn và bảo vệ quyền con người, quyền công dân vì vậy Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là sự điều chỉnh phù hợp tại thời điểm này. Để thực hiện tốt phương pháp Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đáp ứng được yếu tố về kinh tế và xã hội cần đặt ra các điều kiện nhất định. Điều kiện Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đã chịu sự tác động từ phía xã hội.
1.5. Kinh nghiệm một số quốc gia về mang thai hộ Khóa luận: Điều kiện pháp luật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Nhiều quốc gia trên thế giới vẫn tồn tại những ý kiến trái chiều về mang thai hộ. Nguyên do cũng từ sự khác biệt về chính trị, văn hoá – xã hội, tôn giáo, phong tục tập quán, mà ở mỗi nước có góc nhìn nhận, đánh giá khác nhau về chủ đề này, từ đó đưa ra những chế định pháp lý khác nhau ở mỗi nước trên thế giới. Nếu để phân nhóm về chế định pháp lý của các nước về mang thai hộ gồm có ba nhóm: Nhóm các quốc gia tuyệt đối không cho phép mang thai hộ; nhóm các quốc gia chỉ cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo; nhóm các quốc gia cho phép mọi hình thức mang thai hộ.
1.5.1. Các quốc gia công nhận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Lý do hợp pháp việc Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo bởi việc đây là hoạt động thực hiện nhân đạo sẽ tạo cơ hội cho những cặp vợ chồng không thể mang thai và sinh con nhưng có mong muốn được làm cha, mẹ. Việc quy định chi tiết cho phép thực hiện Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo sẽ tạo cơ sở pháp lý hoàn chỉnh nhằm bảo vệ đối tượng yếu thế trong mối quan hệ là trẻ em và phụ nữ trước nguy cơ bị thương mại hoá và trở thành dịch vụ “đẻ thuê”. Đảm bảo đứa trẻ sinh ra bằng phương pháp Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đều đảm bảo đầy đủ quyền lợi như những đứa trẻ khác. Những quan điểm lập luận này thể hiện trong pháp luật của các quốc gia điển hình như: Anh, Australia, Hà Lan, Bỉ, Đan Mạch, Cộng hoà Séc,…
- Vuơng quốc Anh
Pháp luật ở Anh quy định mang thai hộ từ những năm 1985, sau đó được hoàn thiện và triển khai theo Đạo luật thụ tinh nhân tạo và phôi năm 1985 (Arrangements Act 1985) và được sửa đổi vào năm 2008, cùng với nhiều đạo luật khác. Việc cho phép được thực hiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là hợp pháp tại Anh nhưng việc quảng cáo hoặc tổ chức mang thai vì mục đích thương mại là bất hợp pháp được xem là tội phạm.
Các cặp đôi hoàn toàn được phép nhờ mang thai hộ tuy nhiên phải tuân thủ quy định về sức khoẻ trước khi phẫu thuật và phải có sự cho phép của toà án để chuyển phôi sang cho người mang thai hộ. Các cặp đôi đồng giới hoặc hai người sống với nhau như bạn đời trong một mối quan hệ gia đình lâu dài nhưng không có quan hệ họ hàng với nhau có thể được phép mang thai hộ. Tuy nhiên trên thực tế việc làm thủ tục đăng ký khai sinh chuyển tên bố mẹ đứa trẻ sinh ra bởi Mang thai hộ thành tên mình thì lại gặp nhiều khó khăn. Pháp luật không cho phép những người độc thân đăng ký mang thai hộ. Các cặp đôi đều được phép nhờ người mang thai hộ miễn họ cư trú tại Anh. Khóa luận: Điều kiện pháp luật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm tạo thành phôi ở Anh quy định sẽ có ít nhất một người đem tinh trùng hoặc noãn kết hợp tạo thành phôi trong quá trình thụ tinh. Như vậy, đứa trẻ sinh ra sẽ chỉ mang gen di truyền từ một người trong cặp đôi và gen của người Mang thai hộ sẽ có trong đứa trẻ.
Ở Vương quốc Anh thoải mái trong việc chọn người mang thai hộ bởi người mang thai hộ không nhất thiết phải có quan hệ họ hàng đối với bên nhờ Mang thai hộ. Để trở thành người mang thai hộ người phụ nữ chỉ cần đáp ứng các điều kiện được quy định như tuổi tác, mang tính tự nguyện và không vì mục đích thương mại.
Pháp luật không cho phép các thoả thuận kinh phí khi tham gia Mang thai hộ, nhưng vẫn chấp nhận việc người nhờ Mang thai hộ chi trả các chi phí hợp lý người Mang thai hộ được nhận.
Theo pháp luật nước Anh, người sinh ra đứa trẻ sẽ được công nhận là mẹ , bất kể giữa cô ấy có huyết thống hay không. Để người nhờ mang thai hộ thiết lập mối quan hệ cha, mẹ với đứa trẻ, họ phải nộp đơn lên Toà án trong khoảng thời gian từ sáu tuần đến sáu tháng kể từ khi đứa trẻ được sinh ra, để Toà án thông qua. Lúc này, cặp vợ chồng mới được xác lập quyền làm cha mẹ đối với đứa con được sinh ra bằng phương pháp Mang thai hộ. Có thể thấy đây là một quá trình căng thẳng, tốn kém và mất thời gian.
Một báo cáo đưa ra kết quả về phương pháp điều trị mang thai hộ được thực hiện từ năm 2014 đến tháng 9 năm 2021 ở Vương quốc Anh. Số ca mang thai hộ ở hai trung tâm IVF được quản lý bởi Cơ quan thụ tinh nhân tạo và Cơ quan quản lý Phôi (HFEA) là 108 người mang thai hộ tính đến tháng 02 năm 2022. Tổng số em bé được sinh bởi 61 người mang thai hộ là 71 em bé [16].
- Đan Mạch
Năm 2007, Đan Mạch ban hành Luật thụ tinh nhân tạo mới (New Artificial Insemination Law), cho phép quá trình sinh sản bằng IVF cho tất cả mọi người. Bất chấp việc tự do hoá luật pháp trong lĩnh vực công nghệ y học về sinh đẻ, hình thức mang thai hộ vì mục đích thương mại vẫn bị cấm ở Đan Mạch. Người Mang thai hộ được phép Mang thai hộ khi đáp ứng điều kiện không nhận khoản chi phí bồi thường và sẵn sàng giao con của mình cho cặp vợ chồng nhờ Mang thai hộ. Chính vì vậy việc tìm kiếm người Mang thai hộ ở Đan Mạch là vô cùng khó. Để thực hiện được Mang thai hộ người Đan Mạch thường sang các nước như Mỹ hoặc Mexico để tìm kiếm người Mang thai hộ.
- Úc Khóa luận: Điều kiện pháp luật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Hành vi Mang thai hộ vì mục đích thương mại ở Úc bị xét là tội phạm hình sự. Các bang sẽ có quy định điều chỉnh riêng tuỳ theo đặc điểm, cách nhìn nhận của mỗi bang mà ban hành ví dụ như Lãnh thổ Thủ đô Úc với Luật Huyết thống năm 2004 (Parentage 2004); bang New South Wales ban hành Đạo luật Mang thai hộ năm 2010 (Surrogacy Act 2010); bang Nam Úc có Đạo luật Mang thai hộ năm 2019 (Surrogacy Act 2019); ngày 31/03/2022 chính quyền Lãnh thổ phía Bắc ban hành Dự luật Mang thai hộ năm 2022 (The Surrogacy Bill 2022) [33]. Thực hiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo tại Úc đều có nghĩa là người phụ nữ mang thai, sinh con giúp người phụ nữ khác trên tinh thần tự nguyện, người mang thai hộ nhận được các khoản chi trả về hoá đơn y tế và chi phí hợp lý khác từ người nhờ mang thai hộ, nhưng không vượt quá chi tiêu nêu trên.
Điều kiện để trở thành người nhờ mang thai hộ phải là người phụ nữ không có khả năng thụ thai hoặc nếu thụ thai thì cơ thể không chịu được việc mang thai và sinh đẻ; trường hợp đẻ ra nhưng khả năng sống sót là không thể ngay sau khi sinh hoặc bị ảnh hưởng nghiêm trọng nếu sinh con; nếu tiếp tục thực hiện sinh thường đứa trẻ sẽ mang những khiếm khuyết về gen của người mẹ. Pháp luật Úc sẽ xem xét việc Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đối với các cặp đồng tính nam hay đồng tính nữ.
Bên cạnh đó, các bang tại Úc đều quy định chi tiết độ tuổi đối với chủ thể tham gia Mang thai hộ. Chẳng hạn đối với bang Nam Úc độ tuổi người nhờ mang thai hộ được quy định là từ 25 tuổi trở lên và đối với người Mang thai hộ sẽ là từ 25 tuổi trở lên, cả hai đều không mất hoặc hạn chế hành vi dân sự. Nơi được quy định có độ tuổi cho phép mang thai hộ thấp nhất ở Úc đó là Lãnh thổ Thủ đô Úc, Luật Huyết thống năm 2004 cho phép người nhờ mang thai hộ từ 18 tuổi trở lên. Mỗi một nơi quy định chi tiết độ tuổi cho thấy luật xây dựng dựa trên đặc điểm ở mỗi khu vực, phù hợp đời sống người dân.
Hai bên thoả thuận Mang thai hộ đều phải lập một văn bản thoả thuận thể hiện sự đồng ý của mình khi tham gia phương pháp này. Điều kiện đáp ứng tham gia mối quan hệ này là đã có giấy xác nhận về y tế, sức khoẻ và tâm lý, nộp các văn bản được quy định và mẫu đơn đăng ký tiến hành mang thai hộ đến Hội đồng Kỹ thuật sinh sản của Bộ Y tế Úc. Hội đồng sẽ xem xét hồ sơ và đưa ra thông báo, nếu được chấp nhận quá trình Mang thai hộ sẽ được tiến hành tại một số cơ sở y tế được cấp phép.
Pháp luật Úc đưa ra quy định về người Mang thai hộ sẽ là mẹ hợp phát của đứa trẻ từ lúc bắt đầu mang thai cho đến khi chuyển giao đứa trẻ cho bên nhờ Mang thai hộ. Vì vậy, bên nhờ Mang thai hộ phải thực hiện thủ tục gửi hồ sơ nhận làm cha mẹ ruột với đứa trẻ. Quyền được làm cha, làm mẹ đối với đứa trẻ cũng cần phải có sự đồng ý từ người Mang thai hộ. Trường hợp người Mang thai hộ không đồng ý, Toà án sẽ là người đưa ra phán quyết cuối cùng dựa trên cơ sở đảm bảo tốt nhất về quyền và lợi ích hợp pháp của đứa trẻ.
Nhận xét chung, các nước Châu Âu cho phép Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đều có nhiều điều kiện tương đồng với pháp luật Việt Nam. Đặc biệt, pháp luật các nước đều đặt lợi ích bảo vệ pháp lý của đứa trẻ sinh ra bằng phương pháp Mang thai hộ lên hàng đầu. Tuy nhiên việc xác nhận cha mẹ con ở Vương quốc Anh sẽ khác đối với Việt Nam. Anh cho phép người Mang thai hộ có quyền xác nhận cha mẹ con đối với đứa trẻ được sinh ra, lợi ích của điều kiện trên là tránh việc đứa trẻ bị bỏ rơi. Việt Nam người Mang thai hộ trước khi thực hiện đều phải thoả thuận bằng văn bản đối với người nhờ Mang thai hộ và pháp luật dựa vào bản thoả thuận nếu xảy ra tranh chấp đứa trẻ. Nhìn chung, việc điều chỉnh pháp luật các nước có sự khác biệt về đối tượng, độ tuổi, cư trú,… Qua đó nhìn nhận điều kiện Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo ở nước ta đang còn hẹp hơn so với các nước, thiếu tính thực tế khiến các cặp đôi mong muốn có con trong nước gặp phải khó khăn.
Một số quốc gia trên thế giới đã từng cho phép mang thai cả về mục đích thương mại và nhân đạo nhưng khi thực hiện một thời gian đã gặp phải những hậu quả nặng nề buộc phải sửa đổi luật nhằm bảo vệ công dân và ổn định xã hội. Ở Châu Á hai nước điển hình là Ấn Độ và Thái Lan đã sửa đổi luật và chỉ cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
- Ấn Độ Khóa luận: Điều kiện pháp luật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Nguyên nhân cho sự thay đổi luật của Ấn độ là sau một thời gian thực hiện pháp luật cho phép mang thai hộ vì mục đích thương mại, người ta nhận thấy với quy định lỏng lẻo, cởi mở, đã khiến nhiều người phụ nữ coi đây là một nghề. Những người phụ nữ nghèo muốn thoát khỏi gánh nặng kinh tế đã chọn công việc này và làm dụng nó thực hiện nhiều lần việc mang thai hộ. Điều này rất nguy hiểm và cho thấy việc mang thai hộ đang lạm dụng người phụ nữ. Mặt khác, dù không cùng huyết thống nhưng bà mẹ mang thai hộ cũng cảm thấy tổn thương khi phải xa con. Như vậy, quan điểm mang thai hộ ở Ấn Độ đã chuyển sang đồng thuận với các nước khác và chỉ cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Bộ trưởng Bộ Y tế và Phúc lợi gia đình ở Ấn Độ đã ban hành quy định về mang thai hộ và thủ tục mang thai hộ vào ngày 15 tháng 07 năm 2019 [9]. Nội dung mới ban hành thu hẹp hình thức mang thai hộ hơn so với trước đây. Luật pháp của Ấn Độ hiện nay quy định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là hợp pháp và mang thai hộ vì mục đích thương mại bị cho là bất hợp pháp.
Cần đáp ứng đủ các điều kiện sau để thực hiện việc Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo tại Ấn Độ:
Thứ nhất, đối với các bên chủ thể là vợ chồng nhờ mang thai hộ. Cần cung cấp đầy đủ các loại giấy tờ chứng minh mình có đủ điều kiện được phép tham gia mang thai hộ với cương vị là chủ thể nhờ người Mang thai hộ. Các loại giấy tờ cần là: (i) Giấy chứng nhận vô sinh của cả hai vợ chồng hoặc một trong hai người được cấp từ cơ sở y tế có thẩm quyền; (ii) Giấy thoả thuận về huyết thống và quyền nuôi dưỡng đứa trẻ khi sinh ra với phương pháp Mang thai hộ giữa chủ thể là người mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ; (iii) Giấy công nhận việc người được nhờ mang thai hộ sẽ được trả các khoản bảo hiểm trong vòng 16 tháng với các biến chứng sau sinh do Cơ quan quản lý và Phát triển bảo hiểm cấp [9].
Thứ hai, đối với các bên là chủ thể được nhờ mang thai hộ, cần những điều kiện sau: (i) Người mang thai hộ đã từng kết hôn, có ít nhất một đứa con và trong độ tuổi 25 đến 35 tuổi; (ii) Người phụ nữ Mang thai hộ phải là người thân thích với bên chủ thể nhờ mang thai hộ thì mới được thực hiện, những người không phải người thân đều không được phép tham gia; (iii) Người Mang thai hộ không được sử dụng noãn của mình để thụ thai mà phải sử dụng của người vợ nhờ Mang thai hộ, có nghĩa việc đứa trẻ sinh ra sẽ không có huyết thống với người Mang thai hộ; (iv) Người Mang thai hộ chỉ được phép Mang thai hộ một lần; (v) Người Mang thai hộ cung cấp đủ giấy chứng nhận sức khoẻ, tâm lý để mang thai hộ từ tổ chức y tế có thẩm quyền [9].
Thứ ba, mục đích chung thực hiện mang thai hộ giữa hai bên đều là tự nguyện vì mục đích nhân đạo và phải tuân thủ pháp luật về mang thai hộ. Vợ chồng nhờ mang thai hộ phải tuân thủ pháp luật quy định không được bỏ rơi đứa trẻ vì bất kỳ lý do gì, kể cả trong những trường hợp đứa trẻ bị bệnh, khuyết tật cơ thể, dị tật bẩm sinh được sinh ra bằng phương pháp Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Tính nhân đạo được để cao khi pháp luật nước này đặt ra quy định cho phép người Mang thai hộ có thể từ chối tiếp tục thực hiện Mang thai hộ trước khi phôi thai được cấy ghép vào cơ thể mình. Yêu cầu từ chối này chỉ được công nhận khi phôi thai chưa được cấy ghép vào cơ thể người phụ nữ Mang thai hộ. Như vậy, quy định đưa ra nhằm bảo vệ tính tự nguyện của các bên tham gia Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Có thể thấy rằng, pháp luật Ấn Độ quy định cụ thể điều kiện của các bên tham gia và điều kiện này có sự ràng buộc chặt chẽ để hai bên cùng thực hiện. Nếu một trong hai không đủ điều kiện thì việc Mang thai hộ sẽ không được diễn ra. Một số điều kiện về Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo ở Ấn Độ tương đồng đối với Việt Nam, tuy nhiên hiện nay Việt Nam vẫn chưa quy định cụ thể độ tuổi của các bên chủ thể tham gia Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Điều kiện Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo của Việt Nam cũng chưa có quy định về bảo hiểm khi thực hiện dịch vụ y tế khi mang thai. Nhìn chung những điều kiện của của hai nước đều hướng tới bảo vệ các giá trị văn hoá xã hội và tạo cơ hội được làm cha, mẹ của những cặp đôi hiếm muộn.
- Thái Lan Khóa luận: Điều kiện pháp luật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Thái Lan là một quốc gia tương tự. Quốc gia này từng cho phép phạm vi về Mang thai hộ bao gồm Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và Mang thai hộ vì mục đích thương mại. Tuy nhiên, khi thực thi pháp luật trên thực tế đã diễn ra gặp vụ việc gây ra sự phẫn nộ trên toàn thế giới, dẫn đến nước này phải thoả luận và đưa ra đạo luật mới nhằm chấm dứt hình thức Mang thai hộ vì mục đích thương mại.
Vụ việc đau lòng về em bé Gammy mắc hội chứng Down được sinh ra bằng phương pháp mang thai hộ cũng đã thúc đẩy nhà nước sửa đổi luật. Một cặp vợ chồng ở Úc đã đến Thái Lan thực hiện phương pháp mang thai hộ với người phụ nữ đẻ thuê Thái Lan là Pattharamon. Nhưng trong quá trình mang thai người ta phát hiện Pattharamon mang thai sinh đôi và một đứa trẻ mắc hội chứng Down. Cơ quan y tế thực hiện mang thai hộ đã yêu cầu Pattharamon phá thai nhi bị bệnh nhưng cô đã từ chối. Điều này đã tạo nên nhiều làn sóng ý kiến không chỉ Thái Lan và toàn thế giới. Bởi nếu giữ lại thai nhi bị bệnh sẽ có nhiều ảnh hưởng xấu trong tương lai của đứa trẻ được sinh ra. Nhưng Pattharamon theo đạo Phật nên cô cho rằng việc phá thai là một điều cấm kỵ trong tín ngưỡng, vậy nên cô quyết định giữ cái thai. Khi sinh ra cả hai đứa trẻ vợ chồng người Úc đã mang một đứa trẻ khoẻ mạnh đi và để lại Gammy mắc hội chứng Down. Khi vụ việc được phanh phui, cặp vợ chồng người Úc đã quay trở lại đón bé Gammy [27].
Sau sự việc trên các cơ quan nhà nước Thái Lan thực hiện hành động trấn án dịch vụ mang thai hộ. Tares Krassanairawiwong là quan chức ở Bộ Y tế Thái Lan cho biết việc mang thai hộ là phi pháp nếu giao dịch bằng tiền để người phụ nữ mang thai hộ; người mang thai hộ phải đáp ứng điều kiện là họ hàng với vợ chồng hợp pháp nhờ mang thai [29].
Vụ việc thứ hai khiến Chính phủ nước này quyết định cấm không co người phụ nữ nước mình thực hiện mang thai hộ cho người nước ngoài là vụ thuê người đẻ 16 người con. Cảnh sát Thái Lan đã phối hợp với Interpol để điều tra vụ án liên quan đến một doanh nhân người Nhật có tên là Mitsutoki Shigeta đã thực hiện giao dịch sinh con cho mình với nhiều người phụ nữ Thái Lan. Lực lượng điều tra đã cho biết Shigeta đã có tổng cộng 16 người con bằng phương pháp này và có dự định tiếp tục kế hoạch thuê người Mang thai hộ đến khi nào anh ta còn sống [27].
Qua hai vụ bê bối trên Thái Lan đã thông qua dự thảo luật mang thai hộ mới vào năm 2014 nội dung mới nhất trí việc mang thai hộ vì mục đích thương mại hành vi bị cấm. Khóa luận: Điều kiện pháp luật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Vào tháng 2 năm 2015 Đạo Luật Bảo vệ đứa trẻ được sinh ra bởi công nghệ hỗ trợ sinh sản ở Thái Lan cho phép Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải tuân thủ các điều kiện sau:
Thứ nhất, bên nhờ mang thai hộ phải là vợ chồng hợp pháp. Người vợ không có khả năng mang thai và muốn sinh con bằng phương pháp Mang thai hộ. Cặp vợ chồng nhờ Mang thai hộ phải có quốc tịch Thái Lan. Những trường hợp một trong hai người không có quốc tịch Thái Lan thì phải có đăng ký kết hôn không dưới 3 năm. Công dân Thái Lan mới được Mang thai hộ nhằm giảm tỷ lệ người nước ngoài sang thực hiện Mang thai hộ vì mục đích thương mại. Việc xác định cụ thể số năm kết hôn để giúp cặp vợ chồng thể đưa ra quyết định đúng đắn, tránh trường hợp nhất thời mong muốn có con mà thực hiện Mang thai hộ.
Thứ hai, bên người Mang thai hộ không trở thành mẹ hợp pháp sau khi sinh con do Mang thai hộ. Điều kiện này đưa ra tránh trường hợp tranh chấp quyền nuôi con khi người phụ nữ Mang thai hộ không muốn giao đứa trẻ cho vợ chồng nhờ Mang thai hộ.
Thứ ba, người phụ nữ đảm nhận việc Mang thai hộ phải có mối quan hệ họ hàng với vợ hoặc chồng người nhờ Mang thai hộ. Những người không cùng huyết thống vẫn có thể Mang thai hộ nhưng phải tuân thủ quy tắc, thủ tục, điều kiện do Bộ trưởng Bộ Y tế và cố vấn của Uỷ ban Pháp luật Thái Lan. Quy định này mở rộng quyền mang thai hộ cho các cặp vợ chồng giúp việc tìm người Mang thai hộ được dễ dàng và thuận lợi.
Thứ tư, người phụ nữ được nhờ Mang thai hộ đã từng mang thai và sinh con. Trường hợp nếu đã có chồng hợp pháp theo quy định pháp luật thì cần có sự đồng ý của người chồng được thể hiện bằng văn bản. Đây được xem là điều kiện luôn có đối với các quốc gia cho phép Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo vì tính nhân đạo và sự tự nguyện của các bên.
Nhìn chung, pháp luật Thái Lan vẫn mở rộng hơn so với Việt Nam, các điều kiện được thay đổi linh hoạt để phù hợp cho các cặp vợ chồng hiếm muộn mong muốn có con chung. Hiện nay, Việt Nam chưa cho phép người Mang thai hộ không phải họ hàng với bên nhờ mang thai hộ vì vậy đã hạn chế khả năng Mang thai hộ của các cặp đôi, pháp luật Thái Lan thoải mái trong việc tìm người Mang thai hộ nhưng có những ràng buộc nhất định. Tuy pháp luật khá thoải mái cho các cặp đôi mong muốn Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo tuy nhiên sẽ phải tuân thủ, có sự giám sát kiểm tra khắt khe của cơ quan có thẩm quyền.
1.5.2. Các quốc gia cho phép mọi hình thức mang thai hộ Khóa luận: Điều kiện pháp luật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Các nước điển hình của nhóm này là Nga, Ukraina, Hy Lạp, Iran, pháp luật cho phép mang thai dưới mọi hình thức như mục đích nhân đạo, mục đích thương mại. Quan điểm về Mang thai hộ ở các nước này đều cho rằng đây là giải pháp tốt nhất ở thời điểm hiện tại cho những trường hợp sinh hoặc không thể mang thai và sinh con nhưng vẫn có phôi thai bình thường,
- Nga
Nước Nga luôn là đất nước có sự thu hút đối với các cặp đôi muốn có con thông qua mang thai hộ. Pháp luật Nga cho phép việc Mang thai hộ dưới mọi hình thức và còn có ưu thế về chi phí khi được cho phù hợp với nhiều người. Mang thai hộ tại Nga được quy định tại khoản 4 Điều 51 và khoản 3 Điều 52 của Bộ Luật Gia đình năm 1997 của nước này. Điều kiện cho bên nhờ Mang thai hộ ở Nga là một cặp vợ chồng có mối quan hệ ổn định. Cả hai bên đều thực hiện trên tinh thần tự nguyện đặc biệt người Mang thai hộ đồng ý cho cấy phôi của cặp vợ chồng bên nhờ Mang thai hộ vào cơ thể mình.
Điều kiện với người Mang thai hộ là không được có bất kỳ yêu cầu nào về quyền nhận con nuôi và cũng như quyết định của toà án để thực hiện thủ tục này. Người phụ nữ Mang thai hộ không được ghi tên trong giấy khai sinh của đứa trẻ. Cha mẹ là người nhờ Mang thai hộ sẽ được ghi tên vào sổ đăng ký khai sinh của đứa trẻ trong khoảng thời gian từ 3 đến 5 ngày sau khi sinh, lúc này người phụ nữ được nhờ Mang thai hộ sẽ mất tất cả các quyền của mình đối với đứa trẻ. Mang thai hộ đầu tiên ở Nga được thực hiện thành công vào năm 1995 tại trung tâm IVF của nước này. Có nhiều trường hợp Mang thai hộ đã được chấp nhận đất nước này với nhiều mục đích khác nhau, chẳng hạn vào năm 2010 Toà án Moscow đã chấp nhận một người đàn ông độc thân nộp đơn xin mang thai hộ sử dụng trứng được hiến tặng đăng ký khai làm cha mẹ duy nhất cho con mình, tên người mẹ được để trống trong giấy khai sinh.
Việc mang thai hộ vì mục đích thương mại ở Nga là hợp pháp vì vậy việc người Mang thai hộ được phép nhận một khoản tiền khi thực hiện hoạt động này. Theo thống kê Mang thai hộ ở Nga có chi phí Mang thai hộ là 20.000 USD.
Hợp đồng Mang thai hộ ở nước Nga có hiệu lực khi quy định về trách nhiệm tài chính của các bên, hợp đồng bị vô hiệu khi có điều khoản về người Mang thai hộ sẽ phải đưa đứa trẻ cho các cặp bố mẹ. Nước Nga không yêu cầu về việc đứa trẻ phải có mối quan hệ huyết đối với người cha và mẹ như ở Việt Nam.
- Ukraina
Luật pháp Ukraina cho phép thương mại Mang thai hộ và không có quy định chi tiết về quá trình Mang thai hộ. Pháp luật nước tự do về Mang thai hộ và không có quy định người được phép mang thai hộ và người nhờ mang thai hộ, những trường hợp mang thai hộ các bên tham gia sẽ không nhận được bảo vệ đúng mực của pháp luật.
Phát triển về dịch vụ Mang thai hộ ở đất nước tăng vọt gấp 10 lần, theo thống kê số trẻ em được sinh ra bằng phương pháp Mang thai hộ ít nhất 1.000 trẻ, với 15 quốc gia có nhu cầu sử dụng dịch vụ này. Dịch vụ Mang thai hộ ở đây phát triển nguyên nhân được cho là kinh phí chi trả hợp lý. Một ca Mang thai hộ ở Ukraine có giá khoảng 40 nghìn Euro trong khi các nước như Mỹ hay Hà Lan, khách hàng phải bỏ ra số tiền lên đến 100 nghìn Euro và nếu Mang thai hộ tại Canada sẽ có giá là 60 nghìn Euro [38]. Khác với nhiều nước, dịch vụ ở nước này còn cung cấp cho khách hàng nhiều lựa chọn như sử dụng trứng chính chủ hoặc sử dụng trứng được hiến tặng. Vì có nhiều trung tâm Mang thai hộ ở nước này nên dịch vụ chăm sóc khách hàng luôn mang đến những đãi ngộ tốt, ví dụ mua vé máy bay cho trẻ, sau sinh con các trung tâm môi giới chu cấp ăn ở miễn phí.
So với Việt Nam, pháp luật các nước nêu trên rất thoáng với vấn đề mang thai hộ và điều này trở thành đất nước phát triển về Mang thai hộ, các cặp đôi nước ngoài có nhu cầu Mang thai hộ đều đến các nước trên. Việc mở rộng pháp luật về mang thai hộ sẽ tiềm ẩn nhiều hậu quả rất lớn ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế, trật tự xã hội và có nguy cơ xâm phạm quyền trẻ em. Thực tế đã có một số quốc gia như Thái Lan, Ấn Độ đã phải đối mặt với những hậu quả buộc phải thay đổi luật mang thai hộ bằng cách cấm mang thai hộ vì mục đích thương mại nhằm bảo vệ công dân và ổn định trật tự xã hội. Vì vậy, Việt Nam cần cân nhắc tham khảo khảo pháp luật các nước trên thế giới để áp dụng phù hợp với văn hoá – xã hội và con người Việt Nam.
1.5.3. Các quốc gia tuyệt đối không cho phép mang thai hộ
Các quốc gia điển hình như Đức, Pháp, Áo, Tây Ban Nha, Thuỵ Sĩ là các nước Châu Âu cấm Mang thai hộ, Châu Á có các nước là Đài Loan. Giải thích cho việc các nước không chấp nhận Mang thai hộ bởi quan điểm lập pháp phần các nước cho rằng việc Mang thai hộ là hành vi vi phạm quyền con người. Mang thai hộ gây ảnh hướng đến tâm lý người phụ nữ mang thai và đứa trẻ sinh ra. Sức khoẻ và nhân phẩm của người mang thai hộ cũng bị ảnh hưởng và các nước cho rằng đây là hành vi xâm phạm cơ thể con người. Việc cho phép Mang thai hộ có nguy cơ dẫn đến thương mại hoá và người Mang thai hộ sẽ bị bóc lột.
- Pháp Khóa luận: Điều kiện pháp luật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Cộng hoà Pháp là quốc gia đầu tiên trên thế giới xem Mang thai hộ là một hoạt động vi phạm pháp luật và bị nghiêm cấm ở đất nước này. Phán quyết của Alma Mater vào ngày 13 tháng 12 năm 1989 là quyết định đầu tiên về việc không chấp nhận việc mang thai hộ. Đến năm 1994, Đạo Luật Đạo đức sinh học (Bioethics Act of 1994) quy định nghiêm cấm Mang thai hộ với mọi mục đích và xem đây là hành động bất hợp pháp.
Do pháp luật nghiêm cấm nên phần lớn trẻ em Pháp sinh ra bằng phương pháp Mang thai hộ đều là kết quả của hoạt động xuyên biên giới. Khi thực hiện Mang thai hộ ở nước ngoài sẽ gặp khó khăn khi xác định quan hệ cha mẹ của đứa trẻ. Trên thực tế, Pháp đã giải quyết một trường hợp yêu cầu ghi chú khai sinh cho đứa trẻ được sinh ra bằng phương pháp Mang thai hộ ở nước ngoài. Trong trường hợp này Pháp đã từ chối tuy nhiên có nhiều tranh cãi để đến với kết luận cuối cùng. Sau nhiều nhận định Toà án giám đốc thẩm đã đồng ý cho phép thực hiện sao chép giấy khai sinh của đứa trẻ. Việc xác nhận cha mẹ của đứa bé phải thông qua quan hệ huyết thống, nếu bên nhờ Mang thai hộ có cùng huyết thống với đứa trẻ thì mới được công nhận là cha mẹ hợp pháp [12]. Pháp luật Pháp cởi mở và có sự thay đổi phù hợp với đời sống sự phát triển của công dân tuy nhiên vẫn trong khuôn khổ pháp luật và thực hiện nghiêm cấm Mang thai hộ.
- Đức
Ở Đức, Đạo luật Bảo vệ Thai nhi năm 1991 (Fetal Protection Act) có quy định nghiêm cấm bất kỳ thủ tục y tế nào trên Đức có liên quan đến các hành động bất hợp pháp đối với mạng sống của đứa trẻ mới sinh. Pháp luật ở Đức chỉ thừa nhận người phụ nữ sinh ra đứa trẻ là mẹ. Phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm được cho phép ở Đức tuy nhiên điều kiện thực hiện là dùng trứng của người yêu cầu thụ tinh. Việc ngăn cấm Mang thai hộ khiến người Đức phải lựa chọn các phương pháp Mang thai hộ ở các nước khác.
- Trung Quốc
Bên các nước Châu Á cũng có nhiều ý kiến khác nhau về việc mang thai hộ, điển hình Trung Quốc là nước có thái độ tiêu cực về vấn đề mang thai hộ. Mang thai hộ tại Trung Quốc được xem là bất hợp pháp và pháp luật nước này chỉ xác định cha mẹ dựa trên mối quan hệ di truyền có huyết thống. Do nhu cầu có con của các cặp đôi mà trên thực tế Trung Quốc vẫn xuất hiện trường hợp mang thai hộ đầu tiên vào năm 2016. Vụ án liên quan đến quyền tranh chấp nuôi con, người con sinh ra bằng phương pháp mang thai hộ. Khi giải quyết vụ án Toà án nhân dân trung cấp số 1 Thượng Hải tuyên bố thoả thuận mang thai hộ vô hiệu. Đứa trẻ sinh ra trong trường hợp này Toà án xét theo pháp luật xác định đứa trẻ sẽ là con ngoài giá thú của người chồng. Phán quyết của Toà án dựa trên điều luật quy định người mẹ hợp pháp phải là người mang thai và sinh ra đứa trẻ.
Mặc dù phán quyết cuối cùng là vì lợi ích tốt nhất địa vị pháp lý cho đứa trẻ nhưng mặt tâm lý đứa trẻ sẽ bị tác động tiêu cực khi bị xem là con ngoài giá thú. Việc mang thai hộ ở Trung Quốc không đảm bảo được lợi ích hợp pháp của đứa trẻ được sinh ra. Mặc khác còn làm cắt đứt mối quan hệ cha mẹ hợp pháp khi thực hiện có con bằng biện pháp mang thai hộ. Pháp luật không quy định rõ ràng dẫn đến việc mang thai hộ nằm ngoài tầm kiểm soát và việc xác định cha mẹ phải phụ thuộc vào quyết định của Toà án. Khóa luận: Điều kiện pháp luật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương một, tác giả đã hệ thống hoá cơ sở lý luận về điều kiện mang thai hộ theo pháp luật Việt Nam được làm rõ qua khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, lịch sử hình thành về mang thai hộ qua các thời kỳ trong nước.
Trình bày khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, lịch sử hình thành về mang thai hộ ở Việt Nam và pháp luật quy định về điều kiện cho phép thực hiện mang thai hộ vì mục đích thương mại để khẳng định tính nhân văn trong pháp luật. Pháp luật bảo vệ quyền con người và bảo vệ các bên tham gia và quan hệ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thông qua các chế định pháp lý. Mang thai hộ được thực hiện tại Việt Nam chỉ áp dụng với mục đích nhân đạo và đều đáp ứng đủ các điều kiện nhà nước ban hành trong văn bản quy phạm pháp luật. Qua đó thấy được pháp luật hình thành dựa trên tính tất yếu, phù hợp với nhu cầu thực tế trong xã hội.
Những nội dung tại chương một làm tiền đề lý luận vững chắc để tác giả phân tích về điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo trong pháp luật Việt Nam và những ưu điểm hạn chế và đưa ra kiến nghị thay đổi pháp luật tại chương hai. Khóa luận: Điều kiện pháp luật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về điều kiện mang thai hộ

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Khóa luận: Điều kiện pháp luật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Pingback: Khóa luận: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều kiện mang thai hộ