Khóa luận: Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Những quy định pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, vấn đề “trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại” được quy định tại Chương VII Luật thương mại năm 2005 – với tư cách là một loại chế tài trong hoạt động thương mại. Về cơ bản, các quy định hiện hành về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại tương đối đầy đủ và khá cụ thể.

2.1. Chủ thể tham gia quan hệ bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại

2.1.1. Chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại 

Trong pháp luật thực định, việc quy định chủ thể có Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại tại khoản 1 Điều 302 Luật thương mại năm 2005, theo đó, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại là trách nhiệm thuộc về bên vi phạm.

2.1.1.1. Căn cứ xác định chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại

Như đã đề cập ở trên, khoản 1 Điều 302 Luật thương mại năm 2005 quy định: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại thuộc về bên vi phạm. Về mặt từ ngữ, điều luật quy định rất rõ ràng, cụ thể rằng bên nào có hành vi vi phạm dẫn đến thiệt hại cho bên kia thì sẽ phải chịu Trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, vấn đề xác định chủ thể có Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là ai trên thực tế không hề đơn giản, đặc biệt là trong trường hợp tranh chấp tại Tòa án (hoặc Trọng tài). Việc xác định hành vi nào là vi phạm hợp đồng không thể chỉ dựa vào ý kiến của một bên (nguyên đơn hoặc bị đơn) mà phải dựa vào tình tiết khách quan của vụ việc thể hiện trong hồ sơ, tài liệu vụ án. Do đó, nếu không xác định được hành vi vi phạm hợp đồng, sẽ không có việc xác định Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng. Thậm chí, nếu có hành vi vi phạm hợp đồng nhưng không có bằng chứng hợp pháp chứng minh mối quan hệ nhân – quả giữa hành vi vi phạm đó với thiệt hại xảy ra, thì cũng không thể xác định được ai là chủ thể có Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại và yêu cầu Bồi thường thiệt hại cũng khó được cơ quan xét xử chấp nhận, từ đó, chủ thể của Trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng không tồn tại. Khóa luận: Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại.

Như vậy, chủ thể của Trách nhiệm bồi thường thiệt hại có mối liên hệ chặt chẽ với hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại thực tế. Điều này cho thấy, để xác định chủ thể có Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là ai thì nhất thiết phải làm rõ ai là người có hành vi vi phạm hợp đồng và hành vi đó có phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại cho bên bị thiệt hại hay không? Tuy nhiên, cũng có những trường hợp có phát sinh trách nhiệm nhưng người có hành vi vi phạm không phải là người chịu trách nhiệm bồi thường, như trong trường hợp người đại diện của pháp nhân không thực hiện hợp đồng hoặc người được uỷ quyền , được uỷ nhiệm hoặc người thứ ba không thực hiện hoặc đối với hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba…

2.1.1.2. Quyền và nghĩa vụ của chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại

Theo quy định hiện hành, trong quan hệ Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại, chủ thể có Trách nhiệm bồi thường thiệt hại có các quyền và nghĩa vụ sau đây: Khóa luận: Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại.

  • Quyền chủ thế có trách nhiệm Bồi thường thiệt hại do Vi phạm hợp đồng thương mại

Thứ nhất, quyền được miễn Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp vi phạm

HĐTM, tức là loại bỏ hoàn toàn hậu quả pháp lý bất lợi cho bên có hành vi vi phạm trong quan hệ hợp đồng thương mại. Quyền này được ghi nhận tại Điều 237 đối với các thương nhân kinh doanh dịch vụ logistic và Điều 294 Luật thương mại năm 2005, theo đó, nhà làm luật quy định rõ những trường hợp bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm, bao gồm: Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận; Xảy ra sự kiện bất khả kháng; Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia; Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng. Trên nguyên tắc, quyền miễn trừ trách nhiệm bồi thường chỉ được thực hiện khi bên vi phạm hợp đồng chứng minh được hành vi vi phạm của mình thuộc một trong các trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường như quy định nêu trên.

Thực tế, quyền được miễn trách nhiệm bồi thường khi vi phạm hợp đồng thương mại chủ yếu phát sinh trong trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng. Để đáp ứng điều kiện hưởng quyền miễn trách nhiệm bồi thường do vi phạm hợp đồng, bên vi phạm phải chứng minh sự tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật chuyên ngành (ví dụ phòng cháy chữa cháy, an toàn điện) mới có thể lập luận việc vi phạm hợp đồng của mình hoàn toàn do nguyên nhân từ sự kiện bất khả kháng.

Thứ hai, quyền yêu cầu giảm bớt giá trị thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được. Theo quy định tại Điều 305 Luật thương mại năm 2005, “bên yêu cầu Bồi thường thiệt hại phải áp dụng các biện  pháp hợp lý để hạn chế tổn thất kể cả tổn thất đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra; nếu bên yêu cầu Bồi thường thiệt hại không áp dụng các biện pháp đó, bên vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu giảm bớt giá trị Bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được”. Do đó, khi hành vi vi phạm hợp đồng xảy ra, trong nhiều trường hợp thiệt hại chưa xảy ra hoặc chưa xảy ra nhiều thiệt hại, thì bên vi phạm hợp đồng hoàn toàn có quyền yêu cầu bên bị vi phạm có biện pháp để hạn chế thiệt hại. Quyền yêu cầu này mặc dù không được quy định rõ ràng trong Luật thương mại, nhưng là quyền phái sinh tương ứng với nghĩa vụ áp dụng các biện pháp hạn chế tổn thất. Có những trường hợp ngay sau khi có hành vi vi phạm hợp đồng có nguy cơ dẫn đến thiệt hại, nếu bên bị vi phạm tiến hành những biện pháp cần thiết thì thiệt hại xảy ra sẽ nhỏ hơn.

  • Nghĩa vụ, chủ thể có Trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải thực hiện các nghĩa vụ sau đây: Khóa luận: Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại.

Thứ nhất, nghĩa vụ Bồi thường thiệt hại và thực hiện các chế tài thương mại khác. Khi đã có hành vi vi phạm hợp đồng và hành vi đó gây thiệt hại cho bên bị vi phạm, nếu không thuộc các trường hợp miễn trách nhiệm theo Điều 294 Luật thương mại năm 2005 thì đương nhiên sẽ phát sinh Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với bên vi phạm. Trong trường hợp này, bên vi phạm (với tư cách là chủ thể có Trách nhiệm bồi thường thiệt hại) phải thực hiện nghĩa vụ Bồi thường thiệt hại cho bên bị vi phạm (đồng thời là bên bị thiệt hại) theo quy định tại khoản 1 Điều 302 Luật thương mại năm 2005. Ngoài ra, chủ thể này còn có thể phải thực hiện thêm các chế tài thương mại khác theo quy định tại Điều 292 Luật thương mại năm 2005, với tư cách là chủ thể vi phạm hợp đồng thương mại. Mặc dù không được quy định riêng trong một điều luật, nhưng Luật này quy định tại các điều: Điều 293; Điều 297; Điều 299; Điều 307; Điều 308; Điều 309; Điều 310 cho phép các bên tham gia hợp đồng thương mại được thỏa thuận trước về các chế tài thương mại, cụ thể là cho phép áp dụng cùng lúc nhiều chế tài thương mại như: Buộc thực hiện đúng hợp đồng; Bồi thường thiệt hại; Phạt vi phạm… hoặc chỉ áp dụng một loại chế tài.

Thứ hai, nghĩa vụ thông báo và chứng minh về trường hợp miễn Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại. Về nguyên tắc, việc lập luận về một vấn đề, ví dụ như hành vi vi phạm, thiệt hại thực tế… sẽ không có ý nghĩa nếu không có chứng cứ chứng minh. Tương tự như vậy, nếu hành vi vi phạm thuộc trường hợp miễn trách nhiệm nhưng bên vi phạm không tuân thủ nghĩa vụ thông báo cũng như không chứng minh được về trường hợp miễn trách nhiệm, thì Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại vẫn phát sinh đối với bên vi phạm hợp đồng. Theo quy định tại Điều 295 Luật thương mại năm 2005, nhà làm luật đã quy định rõ về nghĩa vụ của bên vi phạm hợp đồng trong việc thông báo và chứng minh về trường hợp miễn trách nhiệm, theo đó: “Bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên kia về trường hợp được miễn trách nhiệm và những hậu quả có thể xảy ra. Khi trường hợp miễn trách nhiệm chấm dứt, bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết; nếu bên vi phạm không thông báo hoặc thông báo không kịp thời cho bên kia thì phải Bồi thường thiệt hại. Bên vi phạm có nghĩa vụ chứng minh với bên bị vi phạm về trường hợp miễn trách nhiệm của mình”. Do  đó, khi tình huống miễn trách nhiệm xảy ra, việc thông báo về tình huống này phải tuân thủ hai yêu cầu: Thông báo kịp thời (thông báo ngay); và thông báo bằng văn bản, như khoản 2 Điều 295 đã nêu rõ. Nếu bên vi phạm không đáp ứng một trong hai yêu cầu vừa nêu thì vẫn phải chịu Trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Rõ ràng, việc quy định như vậy nhằm tạo điều kiện cho bên bị vi phạm biết trước về tình hình thực tế của hợp đồng và có thời gian chuẩn bị các phương án hạn chế tổn thất – vốn là nghĩa vụ của bên bị vi phạm hợp đồng. Song trong quy định đó chưa làm rõ về “thông báo ngay” là như thế nào? Thông báo trong bao lâu (khi nào) thì đáp ứng được yêu cầu của pháp luật và có những nơi không có điều kiện thực hiện “thông báo bằng văn bản” mà bằng các hình thức khác được không?

Đây là vấn đề trên thực tế xảy ra dẫn đến tranh chấp.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2.1.2. Chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại Khóa luận: Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại.

2.1.2.1. Căn cứ xác định chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại

Trong quan hệ Bồi thường thiệt hại, ngoài chủ thể là người có Trách nhiệm bồi thường thiệt hại  thì còn một chủ thể khác là người có quyền yêu cầu Bồi thường thiệt hại. Theo quy định tại khoản 1 Điều 302 Luật thương mại năm 2005, chủ thể có quyền yêu cầu Bồi thường thiệt hại chính là bên bị vi phạm.

Trong điều khoản này, thuật ngữ “bên bị vi phạm” để chỉ chủ thể có quyền yêu cầu Bồi thường thiệt hại là không chặt chẽ, thiếu độ chính xác và có thể gây tranh cãi, bởi lẽ, không phải khi nào bên bị vi phạm trong quan hệ hợp đồng cũng là chủ thể có quyền yêu cầu Bồi thường thiệt hại, do hành vi vi phạm hợp đồng chưa gây ra thiệt hại cho bên bị vi phạm, hoặc thậm chí đã có thiệt hại xảy ra cho bên bị vi phạm nhưng không  chứng minh được mối quan hệ nhân – quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng với thiệt hại xảy ra. Hơn nữa, quy định là vậy nhưng trên thực tế, việc xác định ai là chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường không hề đơn giản và dễ dàng. Để xác định ai là chủ thể có quyền yêu cầu Bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại thì về nguyên tắc phải dựa trên hai tiêu chí: Bên có quyền yêu cầu Bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại phải là bên tham gia hợp đồng thương mại và đồng thời là bên do hành vi vi phạm hợp đồng của bên đối ước; Là  bên bị thiệt hại và thiệt hại đó là hậu quả xảy ra do hành vi vi phạm hợp đồng của bên đối ước. Đương nhiên, về nguyên tắc thì bên bị vi phạm hợp đồng chỉ có thể trở thành chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường khi chứng minh được rằng mình đã đáp ứng cả hai điều kiện nói trên.

Trên thực tế, có nhiều trường hợp bên bị vi phạm hợp đồng chứng minh được bên đối ước đã có hành vi vi phạm hợp đồng nhưng không thể chứng minh được thiệt hại thực tế đã xảy ra do chính hành vi vi phạm đó. Trong trường hợp này, bên bị vi phạm hợp đồng chỉ có thể yêu cầu bên vi phạm phải trả tiền phạt vi phạm hợp đồng, nếu có thỏa thuận về việc áp dụng biện pháp này theo quy định tại khoản 1 Điều 307 Luật thương mại năm 2005. Mặt khác, trong trường hợp bên bị vi phạm chứng minh được hành vi vi phạm của bên bên đối ước và chứng minh được thiệt hại thực tế đã xảy ra  nhưng không chứng minh được mối quan hệ nhân – quả giữa hành vi vi phạm đó với thiệt hại đã xảy ra, thì bên bị vi phạm cũng không có quyền yêu cầu bên vi phạm hợp đồng phải Bồi thường thiệt hại cho mình. Khóa luận: Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại.

2.1.2.2. Quyền và nghĩa vụ của chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại

Trong quan hệ Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại, bên bị vi phạm – với tư cách là chủ thể có quyền yêu cầu Bồi thường thiệt hại, có các quyền, nghĩa vụ cơ bản sau đây:

  • Về phương diện quyền, chủ thể này có những quyền cơ bản như:

Thứ nhất, quyền yêu cầu Bồi thường thiệt hại. Hiện tại, Luật thương mại năm 2005 không quy định rõ rằng bên bị vi phạm có quyền yêu cầu Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại, tuy nhiên, việc quy định nghĩa vụ Bồi thường thiệt hại khi có hành vi vi phạm tại khoản 1 Điều 302 đã ngầm định rằng, bên bị vi phạm khi bị thiệt hại bởi hành vi vi phạm hợp đồng của bên đối ước thì có quyền yêu cầu Bồi thường thiệt hại. Mặt khác, Luật thương mại hiện hành cũng không quy định rõ quyền yêu cầu Bồi thường thiệt hại phát sinh dựa trên những căn cứ nào, nhưng đối chiếu với các quy định chung của Bộ luật dân sự năm 2015 thì có thể cho rằng, quyền yêu cầu Bồi thường thiệt hại phát sinh dựa trên các căn cứ: Có hành vi vi phạm hợp đồng của bên đối ước; Có thiệt hại thực tế xảy ra cho bên bị vi phạm do chính hành vi vi phạm hợp đồng của bên vi phạm.

Như trên đã đề cập, để thực hiện quyền yêu cầu Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại, bên bị vi phạm phải chứng minh rằng mình đáp ứng đủ cả hai điều kiện: Là bên tham gia hợp đồng và bị vi phạm quyền, lợi ích hợp pháp bởi hành vi vi phạm hợp đồng của bên đối ước; Là bên bị thiệt hại bởi chính hành vi vi phạm hợp đồng  của bên đối ước. Quy định của pháp luật thương mại về các căn cứ phát sinh Trách nhiệm bồi thường thiệt hại thừa nhận rằng, bên bị vi phạm chỉ có quyền yêu cầu bồi thường trong trường hợp đã có thiệt hại, và yêu cầu này chỉ được chấp nhận khi thiệt hại đó có thể chứng minh được bằng chứng cứ. Khóa luận: Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại.

Thứ hai, quyền yêu cầu áp dụng các chế tài thương mại khác cùng với chế tài buộc Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại. Về nguyên tắc, quyền này vốn dĩ không phải của chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường mà là quyền của bên bị vi phạm hợp đồng. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền này cũng có tác dụng “bổ trợ” cho việc thực hiện quyền yêu cầu Bồi thường thiệt hại, bởi lẽ tại Điều 307 và Điều 299 Luật thương mại năm 2005, nhà làm luật đã xác định mối quan hệ giữa các chế tài thương mại được áp dụng khi có hành vi vi phạm hợp đồng. Cụ thể, bên bị vi phạm có thể: Đồng thời áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng với chế tài Bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng; Đồng thời áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp đồng với chế tài Bồi thường thiệt hại nếu có thỏa thuận trong hợp đồng; Áp dụng đơn lẻ các chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng; hủy bỏ thực hiện hợp đồng nếu có thỏa thuận hoặc vi phạm là vi phạm cơ bản. Việc quy định và áp dụng các biện pháp nói trên nhằm bảo vệ tối đa lợi ích của bên bị vi phạm trong trường hợp xảy ra hành vi vi phạm và đã có hoặc chưa có thiệt hại.

Thứ ba, quyền yêu cầu trả tiền lãi do việc chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc chậm thanh toán tiền Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại. Quyền yêu cầu trả tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán là một quyền được quy định rõ tại Điều 306 Luật thương mại năm 2005. Như đã phân tích ở phần trên, tiền lãi do chậm thanh toán là một dạng “thiệt hại” mà bên bị vi phạm nghĩa vụ thanh toán không có nghĩa vụ phải chứng minh thiệt hại, mà chỉ cần chứng minh hành vi chậm thanh toán theo hợp đồng. Có thể hiểu tiền lãi chậm thanh toán là một dạng “thiệt hại” của bên bị vi phạm, phát sinh từ việc “chiếm dụng vốn kinh doanh” của bên vi phạm, cũng có thể coi đó là một “khoản lợi đáng lẽ được hưởng” của bên bị vi phạm. Trong các vụ án liên quan đến hợp đồng phân phối hoặc mua bán hàng hóa được đề cập tại phần trên, hầu hết đều có yêu cầu thanh toán lãi suất chậm thanh toán và thông thường yêu cầu này được chấp nhận nếu chứng minh được hành vi chậm thanh toán. Ngoài tiền lãi chậm thanh toán, nếu bên vi phạm chậm nộp khoản tiền bồi thường cho bên bị thiệt hại còn phải chịu thêm lãi suất chậm thi hành án cho khoản tiền trên.

  • Về phương diện nghĩa vụ, chủ thể có quyền yêu cầu Bồi thường thiệt hại cũng phải thực hiện một số nghĩa vụ  sau:

Nghĩa vụ chứng minh và hạn chế tổn thất. Quyền luôn đi kèm với nghĩa vụ và việc có quyền luôn làm phát sinh các nghĩa vụ tương ứng. Sẽ không là ngoại lệ nếu quyền yêu cầu Bồi thường thiệt hại đi liền với nghĩa vụ chứng minh tổn thất của bên bị vi phạm (bên có quyền yêu cầu bồi thường) trong quan hệ Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại. Nghĩa vụ chứng minh tổn thất của bên bị vi phạm hợp đồng (khi đó chủ thể này có tư cách là bên có quyền yêu cầu Bồi thường thiệt hại) được quy định tại Điều 304 Luật thương mại năm 2005. Theo quy định của điều luật này, bên yêu cầu Bồi thường thiệt hại phải chứng minh tổn thất, mức độ tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng của bên đối ước gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm. Bên yêu cầu Bồi thường thiệt hại sẽ chỉ được bồi thường đối với những khoản thiệt hại có nguyên nhân trực tiếp là hành vi vi phạm của bên vi phạm. Trên thực tế, có những khoản tổn thất, thiệt hại mà bên bị vi phạm chứng minh được, nhưng tổn thất, thiệt hại đó không có nguyên nhân trực tiếp từ hành vi vi phạm hợp đồng của bên đối ước thì chủ thể này không có quyền yêu cầu bồi thường đối với phần thiệt hại đó. Khóa luận: Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại.

Về nghĩa vụ hạn chế tổn thất, đây là quy định mang tính chất công bằng lợi ích giữa bên vi phạm và bên bị vi phạm, giúp bên vi phạm không phải chịu thiệt hại quá lớn vì khoản bồi thường, phạt vi phạm cũng như giúp bên bị vi phạm giảm bớt hậu quả của hành vi vi phạm hợp đồng. Nghĩa vụ hạn chế tổn thất được quy định tại Điều 305 Luật thương mại năm 2005, theo đó: “Bên yêu cầu Bồi thường thiệt hại phải áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất kể cả tổn thất đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra; nếu bên yêu cầu Bồi thường thiệt hại không áp dụng các biện pháp đó, bên vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu giảm bớt giá trị Bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được”. Yếu tố quan trọng nhất cần xem xét đối với dạng nghĩa vụ này là tính “hợp lý” của biện pháp hạn chế tổn thất. Có thể hiểu rằng, nghĩa vụ hạn chế tổn thất chính là những hành vi cụ thể của bên bị vi phạm nhằm hạn chế thiệt hại cho mình sau khi có hành vi vi phạm. Hiện nay, chưa có văn bản pháp luật nào hướng dẫn cụ thể về sự “hợp lý” của biện pháp hạn chế tổn thất, cũng như đưa ra định nghĩa pháp lý về biện pháp hạn chế tổn thất, do đó, việc  áp dụng các quy định về nghĩa vụ hạn chế tổn thất phụ thuộc vào sự lập luận của các cơ quan tài phán như Tòa án và Trọng tài thương mại.

2.2. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Theo quy định của Luật thương mại năm 2005, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại phát sinh dựa trên ba căn cứ: Có hành vi vi phạm hợp đồng; Có thiệt hại thực tế; Hành vi vi phạm là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại. Để làm rõ việc vận dụng các quy định của pháp luật thương mại về các căn cứ trên, cần tiến hành phân tích các ví dụ cụ thể trong thực tế là các vụ việc tranh chấp liên quan đến Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại. Việc phân tích quan điểm giải quyết tranh chấp của các cơ quan tài phán như Trọng tài thương mại và Tòa án là phương pháp hiệu quả nhất để hiểu  được thực trạng pháp luật về trách nhiệm Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại.

Có ba điều kiện làm phát sinh Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại, đó là: Hành vi vi phạm; Thiệt hại xảy ra; Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra. Theo cách tiếp cận này, thì lỗi không phải là một trong các điều kiện làm phát sinh Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại.

Có ý kiến cho rằng, chỉ có ba yếu tố làm phát sinh Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng: “Có hành vi vi phạm hợp đồng; Có thiệt hại thực tế; Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại”. Trong đó, mặc dù không chỉ ra cụ thể các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường, nhưng Bộ luật dân sự lại quy định về các hình thức lỗi cố ý và vô ý trong trách nhiệm dân sự do vi phạm  nghĩa vụ tại Điều 364 năm 2015. Song Luật thương mại năm 2005 lại quy định cụ thể về ba điều kiện phát sinh Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại tại Điều 303.

Theo quy định tại Điều 302 Luật thương mại năm 2005, căn cứ để áp dụng chế tài Bồi thường thiệt hại là có hành vi vi phạm hợp đồng, có thiệt hại thực tế và có  quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế. Mặc dù, Điều 302 Luật thương mại năm 2005 không đề cập đến điều kiện về lỗi, nhưng tại một số điều lại đề cập đến yếu tố lỗi như Điều 236, Điều 266. Việc quy định không khoa học và không thống nhất như vậy là một nguyên nhân gây ra những cách hiểu khác nhau làm cho luật không được áp dụng một cách thống nhất.

2.3. Phương thức xác định bồi thường thiệt hại Khóa luận: Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại.

Sau khi có căn cứ về hành vi vi phạm hợp đồng thương mại, bên bị vi phạm muốn yêu cầu Bồi thường thiệt hại phải tiến hành xác định các thiệt hại được bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều 302 Luật thương mại năm 2005. Các loại thiệt hại được bồi thường bao gồm: giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm. Có thể nhận thấy, quy định của pháp luật chỉ liệt kê các loại thiệt hại được phép yêu cầu bồi thường, mà không có hướng dẫn nào về phương thức để xác định thiệt hại được bồi thường. Trong khi đó, khi tranh chấp liên quan đến yêu cầu Bồi thường thiệt hại phát sinh, bên bị vi phạm cần phải chứng minh về hành vi vi phạm của bên vi phạm, đồng thời chứng minh các thiệt hại đã xảy ra do hành vi vi phạm đó. Để giải quyết yêu cầu này, bên bị vi phạm cần sử dụng các phương thức xác định thiệt hại được bồi thường theo quy định của pháp luật. Trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các quy định về chứng cứ và chứng minh được thể hiện tại Điều 6 như sau: “1. Đương sự có  quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự. 2. Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định”.

Như vậy, phương thức xác định thiệt hại được bồi thường là cách thức mà bên bị vi phạm thực hiện để chứng minh thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra. Việc xác định thiệt hại đương nhiên phải dựa vào các chứng cứ hợp pháp để chứng minh nhưng điều quan trọng nhất trong cách thức, phương pháp xác định thiệt hại là bên bị vi phạm phải chứng minh rằng các thiệt hại đã xảy ra cho mình bởi hành vi vi phạm hợp đồng của bên đối ước là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật về các thiệt hại được bồi thường. Để hoàn thiện hồ sơ tham gia tố tụng (tại Tòa án hoặc Trọng tài thương mại), hoặc tham gia giải quyết tranh chấp bằng hình thức phi tố tụng (thương lượng, hòa giải) về yêu cầu Bồi thường thiệt hại, bên bị vi phạm phải tự thu thập tài liệu, chứng cứ theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhằm chứng minh yêu cầu Bồi thường thiệt hại của mình là hợp pháp. Chứng cứ theo định nghĩa tại Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp. Do đó, bên bị vi phạm trong hợp đồng thương mại cần khai thác tối đa các nguồn chứng cứ quy định tại Điều 94 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 để chứng minh yêu cầu Bồi thường thiệt hại của mình. Khóa luận: Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại.

Vận dụng phương thức xác định thiệt hại vào các vụ việc có thiệt hại không được xác định qua giá của tài sản cụ thể, chúng ta có thể thấy rằng, khi có yêu cầu Bồi thường thiệt hại, cần thu thập mọi tài liệu liên quan đến: thiệt hại và chi phí để khắc phục thiệt hại; biên bản định giá thiệt hại của cơ quan giám định độc lập; các hợp đồng, hóa đơn thanh toán liên quan đến thu nhập thực tế bị mất do hành vi vi phạm; các tài liệu khác liên quan đến Bồi thường thiệt hại cho bên thứ ba phát sinh từ hành vi vi phạm.

2.4. Việc xác định mức bồi thường thiệt hại trong trường hợp đặc thù Khóa luận: Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại.

Việc xác định mức Bồi thường thiệt hại trong các trường hợp đặc thù bao gồm:

2.4.1. Xác định mức bồi thường thiệt hại trong các trường hợp có thỏa thuận trước

Khác với Bộ luật dân sự năm 2005 và Luật thương mại năm 2005, Bộ luật dân sự năm 2015 đã có sự thay đổi trong việc ghi nhận “điều khoản phạt” và “điều khoản về mức Bồi thường thiệt hại được xác định trước”. Đó là, một mặt Bộ luật dân sự năm 2015 thừa nhận việc cho phép các bên thỏa thuận trước về khoản tiền mà bên có nghĩa vụ phải trả cho bên có quyền trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng hợp đồng, không phụ thuộc vào thiệt hại thực tế theo quy định tại Điều 360 Bộ luật dân sự năm 2015, mặt khác Bộ luật dân sự năm 2015 cũng chỉ rõ bản chất của “phạt vi phạm” tương tự như Bộ luật dân sự năm 2005 là “sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó, bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm” và sự thỏa thuận này tạo ra một điều khoản nhằm khuyến khích các bên thực hiện đúng hợp đồng dựa trên tính chất trừng phạt, răn đe của nó. Tuy nhiên, nếu như Bộ luật dân sự năm 2005 ghi nhận cả điều khoản phạt và điều khoản về mức Bồi thường thiệt hại được xác định trước, thì Bộ luật dân sự năm 2015 chỉ còn ghi nhận “điều khoản phạt”. Cách quy định này cho thấy, việc tiếp cận phạt vi phạm hợp đồng và Bồi thường thiệt hại theo mức thỏa thuận trước đã được gộp lại trong “điều khoản phạt”.

2.4.2. Xác định mức bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên tham gia hợp đồng vi phạm nghĩa vụ trả tiền Khóa luận: Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại.

Như đã phân tích ở phần trên, bên có quyền yêu cầu bồi thường sẽ không được bồi thường những thiệt hại xảy ra nếu chủ thể này không chứng minh được thiệt hại đó bằng các tài liệu, chứng cứ cụ thể. Tuy nhiên, có một trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc nghĩa vụ chứng minh thiệt hại thuộc về bên bị vi phạm hợp đồng (đã được ghi nhận tại Điều 304 Luật thương mại năm 2005), đó là khoản tiền lãi phát sinh khi một bên vi phạm nghĩa vụ trả tiền. Quy định của pháp luật thương mại cho phép bên có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ trả một khoản tiền lãi trong trường hợp chậm thanh toán, cụ thể là: “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.

Sự khác biệt của loại thiệt hại này so với các loại thiệt hại khác nằm ở chỗ: Bên có quyền không phải chứng minh một con số thiệt hại cụ thể mà chỉ cần chứng minh bên có nghĩa vụ thanh toán đã vi phạm nghĩa vụ về thời hạn thanh toán; Giá trị của khoản Bồi thường thiệt hại không được quyết định bởi việc chứng minh của bên có quyền, mà phụ thuộc vào quy định của pháp luật về lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán.

Về bản chất, loại thiệt hại này có thể coi là “thiệt hại do chiếm dụng vốn”, được xây dựng dựa trên yếu tố ”giá trị sinh lời” của vốn, theo đó, mỗi khoản tiền được một cá nhân hay pháp nhân sử dụng vào mục đích kinh doanh trong các hợp đồng thương mại (hoặc dân sự); khoản lợi mà cá nhân hoặc pháp nhân đó được hưởng luôn có giá trị sinh lời với một mức lãi suất tối thiểu bằng với lãi suất của ngân hàng. Do đó, để đảm bảo lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong quan hệ hợp đồng, việc chậm thanh toán sẽ làm phát sinh nghĩa vụ chi trả tiền lãi chậm trả, khoản tiền lãi này được tính dựa trên công thức đã được pháp luật quy định.

2.5. Các trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại

Khi tham gia vào quan hệ hợp đồng thương mại, các bên đều bình đẳng và có nghĩa vụ ngang nhau trong việc tuân thủ các điều khoản của hợp đồng. Do đó, bên có hành vi vi phạm đương nhiên sẽ phải đền bù tổn thất cho bên bị vi phạm nếu hành vi đó gây ra thiệt hại cho bên bị vi phạm. Bản thân khái niệm “bồi thường” đã bao hàm ý nghĩa của trách nhiệm tài sản, do đó, có thể khẳng định rằng, chế tài Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại là một dạng trách nhiệm tài sản, trong đó việc trả một khoản tiền cho bên bị vi phạm hợp đồng là một hành vi có tính chất thay thế cho phần nghĩa vụ bị vi phạm trong hợp đồng. Hậu quả pháp lý cho bên vi phạm hợp đồng chính là nghĩa vụ trả tiền. Tuy nhiên, vấn đề miễn Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được đặt ra không chỉ trong khoa học pháp lý và trong thực tiễn áp dụng pháp luật, mà ngay cả trong quá trình xây dựng pháp luật nói chung và pháp luật thương mại nói riêng đã xác lập vấn đề này. Khóa luận: Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại.

Trong Bộ luật dân sự năm 2015, tại Điều 351 nhà làm luật chỉ quy định có tính chất nguyên tắc về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ, theo đó ghi nhận: “Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền”. Trong Luật thương mại năm 2005, nhà làm luật đã đi xa hơn bằng cách quy định rõ hơn về các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm tại Điều 294, theo đó quy định bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong các trường hợp sau đây: a) Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận; b) Xảy ra sự kiện bất khả kháng; c) Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia; d) Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.

Thứ nhất, về trường hợp miễn Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại mà các bên đã thỏa thuận.

Xuất phát từ nguyên tắc tự do ý chí, tự định đoạt và tự do hợp đồng, các hệ thống pháp luật đều cho phép các bên thỏa thuận về điều khoản miễn Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.  Điều đó có nghĩa là khi thỏa thuận về miễn Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được đưa vào hợp đồng thì thỏa thuận đó sẽ có hiệu lực đối với các bên. Về nguyên tắc, thỏa thuận miễn Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được thực hiện vào thời điểm xác lập hợp đồng, nhưng các bên cũng có  thể đạt được thỏa thuận về miễn Trách nhiệm bồi thường thiệt hại sau thời điểm đó. Vì vậy, khi xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mà các bên đã thỏa thuận thì về nguyên tắc là bên vi phạm sẽ không phải thực hiện nghĩa vụ Bồi thường thiệt hại cho bên bị vi phạm, mặc dù thiệt hại đó là do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra. Trong trường hợp này, quy định về việc miễn Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng mà các bên đã thỏa thuận được quy định nhằm bảo đảm quyền tự do hợp đồng và quyền tự định đoạt của các bên tham gia hợp đồng thương mại. Khóa luận: Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại.

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, thỏa thuận miễn Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được ngầm định tại Điều 13, Điều 360 Bộ luật dân sự năm 2015 với quy định “trừ trường hợp có thỏa thuận khác” và được thể hiện rõ hơn tại khoản 3 Điều 405, khoản 3 Điều 406 Bộ luật dân sự năm 2015. Thỏa thuận miễn Trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng được ghi nhận tại điểm a khoản 1 Điều 294 Luật thương mại năm 2005. Theo đó, hợp đồng mẫu là hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý và điều kiện giao dịch chung là những điều khoản ổn định do một bên công bố để áp dụng chung cho bên được đề nghị giao kết hợp đồng. Nếu bên được đề nghị chấp nhận giao kết hợp đồng thì coi như chấp nhận toàn  bộ nội dung hợp đồng theo mẫu và coi như chấp nhận các điều khoản này. Đối với điều khoản quy định miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì nó không có hiệu lực, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Để minh họa vấn đề này, ví dụ hợp đồng mua bán điện, nước… trong đó, có một số điều khoản mẫu do bên đề nghị đưa ra không thỏa thuận còn các bên vẫn có quyền đàm phán các điều khoản khác; hoặc ví dụ trong điều kiện chung quy định đối với hàng hóa mà khách hàng đã mua thì “không được phép đổi hoặc trả lại”, quy định này sẽ không có hiệu lực vì không công bằng và vi phạm pháp luật về nghĩa vụ đảm bảo chất lượng của vật bán, nghĩa vụ bảo hành…

Như vậy, quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 là hợp lý, bảo vệ sự bình đẳng giữa các bên, bảo vệ quyền và lợi ích của bên được đề nghị, bởi vì, bên chủ động đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng với các điều khoản soạn trước có thời gian nghiên cứu kỹ và cũng thường là bên có tính chuyên nghiệp với nhiều lợi thế khác; điều kiện giao dịch chung do bên đưa ra thường được xây dựng theo hướng có lợi cho người soạn nó, từ đó, chủ thể kinh doanh tạo lợi thế cho mình và áp đặt bất lợi cho đối phương.

Trên thực tế các bên ít thỏa thuận các trường hợp được miễn trách nhiệm trong hợp đồng, bởi lẽ việc thỏa thuận này sẽ khiến các bên viện cớ để vi phạm Hợp đồng hoặc cố tình tự tạo ra tình huống để được miễn trách nhiệm. Do đó, những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường chủ yếu có nguyên nhân từ các sự kiện bất khả kháng.

Thứ hai, về trường hợp miễn Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng khi xảy ra sự kiện bất khả kháng. Không giống với trường hợp miễn Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo thỏa thuận nêu trên, miễn Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp bất khả kháng là căn cứ miễn Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo luật định và không cần phải thỏa thuận về căn cứ miễn trách nhiệm này. Theo khoản 1 Điều 156 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”. Như vậy chỉ đáp ứng cả ba điều kiện sau đây thì một sự kiện mới được xem là bất khả kháng và là căn cứ để miễn trách nhiệm đối với bên vi phạm: Sự kiện khách quan, tức là nằm ngoài phạm vi kiểm soát của bên vi phạm hợp đồng, ví dụ: các sự kiện thuộc về thiên nhiên tác động (như bão, lút, động đất, song thần, núi lửa…) hoặc các sự kiện thuộc về chính trị – xã hội (bạo loạn, đình công, xung đột vũ trang, chiến tranh…); Sự kiện không thể lường trước được tại thời điểm giao kết hợp đồng hoặc trong quá trình thực hiện hợp đồng nhưng phải trước thời điểm xảy ra hành vi vi phạm; Hậu quả sự kiện đó không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết với khả năng cho phép. Tuy nhiên nhìn nhận về tính chất, điều kiện đối với sự kiện bất khả kháng trong lý luận cũng như thực tiễn thường không thống nhất. Do đó, khi các chủ thể giao kết hợp đồng thường có xu hướng đưa ra điều khoản về sự kiện bất khả kháng. Khóa luận: Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại.

Mặc dù không khó để nhận ra triết lý cơ bản của quy định này là nhằm loại trừ những trách nhiệm pháp lý đặt ra đối với bên vi phạm hợp đồng do sự kiện bất khả kháng, mà bản chất là khi xảy ra sự kiện bất khả kháng dẫn đến sự vi phạm hợp đồng của một bên đối với bên kia thì khi đó bên vi phạm hợp đồng được xác định là không có lỗi. Vì thế, nếu pháp luật bắt họ phải chịu trách nhiệm pháp lý về những sự kiện tổn thất xảy ra không do lỗi của họ thì đó là điều không thể chấp nhận được. Tuy vậy, điều đáng tiếc là nhà làm luật chưa quy định rõ sự kiện bất khả kháng có thể dẫn đến việc miễn trừ trách nhiệm bồi thường của bên vi phạm hợp đồng thương mại bao gồm những trường hợp nào nên trong thực tế có thể xảy ra những tình huống bên vi phạm hợp đồng cố ý, chủ động đưa mình vào tình trạng bất khả kháng để từ đó chối bỏ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng của chính họ gây ra cho bên bị vi phạm.

Tuy Bộ luật dân sự đã ghi nhận về sự kiện bất khả kháng với các dấu hiệu cơ bản, song các quy định này vẫn còn chung chung nên khi áp dụng vào thực tiễn vẫn còn nhiều quan điểm trái chiều nhau, đặc biệt là trong bối cảnh đại dịch Covid-19 đang hoành hành ở khắp các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam thì vấn đề này càng nổi cộm hơn bao giờ hết. Có thể thấy, đây là đại dịch nghiêm trọng nhất từ trước đến nay, đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế thế giới, làm đứt gãy các chuỗi cung ứng sản phẩm hàng hóa trên phạm vi toàn cầu, khiến cho hàng loạt các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản hoặc chấm dứt hoạt động. Tình trạng này gây ra hàng loạt các vụ việc vi phạm hợp đồng nói chung, hợp đồng thương mại nói riêng của rất nhiều doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, gây tổn thất về tài sản cho bên đối ước. Song, bên vi phạm có thể coi sự xuất hiện của đại dịch Covid-19 là sự kiện bất khả kháng để được miễn trừ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thương mại nói chung, trách nhiệm Bồi thường thiệt hại nói riêng hay không lại là vấn đề có nhiều quan điểm trái chiều.

Quan điểm khác lại cho rằng để được miễn thực hiện nghĩa vụ theo khoản 2 Điều 351 Bộ luật dân sự năm 2015, doanh nghiệp phải chứng minh được nghĩa vụ của họ không thể thực hiện được do bất khả kháng. Ở đây, họ phải chứng minh được ba yếu tố của sự kiện bất khả kháng trong quy định trên. Điều quan trọng là phải chứng minh được rằng nghĩa vụ của họ không thể thực hiện được và việc không thể thực hiện được này có nguyên nhân trực tiếp từ dịch Covid-19. Trong thực tế, mặc dù có dịch Covid-19 và thậm chí có quyết định của cơ quan có thẩm quyền về giãn cách xã hội do dịch Covid-19, một số công trình xây dựng vẫn tiếp tục được thi công (khi đáp ứng điều kiện về y tế) nên trong trường hợp đó, doanh nghiệp xây dựng không thể viện dẫn dịch Covid-19 như sự kiện bất khả kháng để được miễn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Ngược lại, nếu vì dịch Covid-19 mà cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định dừng hoạt động từ đó doanh nghiệp xây dựng không thể tiếp tục thi công (không có cách nào khác là dừng việc thi công), doanh nghiệp có thể viện dẫn sự kiện bất khả kháng để miễn thực hiện nghĩa vụ/miễn trách nhiệm khi quyết định của cơ quan có thẩm quyền như nêu trên là không lường trước được. Nói cách khác, tuỳ vào hoàn cảnh cụ thể để xem xét có hay không sự kiện bất khả kháng ảnh hưởng tới việc thực hiện hợp đồng; chúng ta không được sử dụng một cách tuỳ tiện sự tồn tại của dịch Covid-19 để được miễn thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng trên danh nghĩa của sự kiện bất khả kháng. Khóa luận: Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464