Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề tự do phát triển kinh doanh đã làm xuất hiện một số doanh nghiệp lợi dụng những kẽ hở trong hợp đồng đã ký kết để cố tình vi phạm hoặc lờ đi những giao kết với đối tác. Trong khi đó, rất ít doanh nghiệp bị vi phạm hợp đồng áp dụng các hình thức xử lý vi phạm hợp đồng như đã thỏa thuận do nhiều nguyên nhân.
Trên thực tế, các vụ việc vi phạm hợp đồng thương mại xảy ra ngày càng nhiều, dẫn đến tranh chấp giữa các doanh nghiệp do đó mà tăng lên. Việc xác định được các căn cứ, các điều kiện quy trách nhiệm cụ thể đối với bên vi phạm, đó là những vấn đề cốt yếu phải được làm rõ mới có thể giải quyết tranh chấp xảy ra.
Bồi thường thiệt hại (BTTH) do vi phạm hợp đồng là biện pháp pháp lý quan trọng có vai trò bù đắp cho bên bị thiệt hại (bên có quyền) những tổn thất là hậu quả của hành vi vi phạm hợp đồng. Tuy nhiên, các hệ thống pháp luật khác nhau có những khác biệt về biện pháp này chẳng hạn như đối tượng thiệt hại nào được bồi thường, căn cứ áp dụng biện pháp Bồi thường thiệt hại ra sao, xác định mức Bồi thường thiệt hại như thế nào và các trường hợp nào được miễn trách nhiệm Bồi thường thiệt hại, … và thực tiễn tại Việt Nam việc quy định, áp dụng pháp luật liên quan vấn đề này đang còn bộc lộ những hạn chế nhất định; nhiều tranh chấp xảy ra khó giải quyết kịp thời và triệt để.
Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật về trách nhiệm Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại nhằm để hiểu rõ các nguyên nhân hạn chế, bất cập để tìm các giải pháp, để từ đó đề xuất hoàn thiện pháp luật hợp đồng Việt Nam, đề ra các giải pháp cụ thể trong việc áp dụng pháp luật về Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là việc cần thiết cả về lý luận và thực tiễn. Khóa luận: Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Do đó bản thân chọn đề tài “Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2. Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, phần tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khoá luận được thiết kế bao gồm ba chương như sau:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại.
- Chương 2: Những quy định pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại.
- Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại ở Việt Nam.
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái niệm chung
1.1.1. Khái niệm hợp đồng thương mại
Khái niệm hợp đồng trong Bộ luật dân sự năm 2015 không làm thay đổi bản chất của hợp đồng, mà chỉ nhằm khẳng định rằng, Bộ luật dân sự là luật gốc, có phạm vi điều chỉnh rộng, không chỉ là các quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực dân sự thuần tuý, mà còn bao gồm những hợp đồng hình thành trong nhiều lĩnh vực khác như thương mại, đầu tư, đất đai, lao động, tài chính, ngân hàng… Quyền và nghĩa vụ dân sự phát sinh từ hợp đồng thực chất là quyền và nghĩa vụ hình thành trong nhiều loại hợp đồng khác nhau như hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng vay tài sản, hợp đồng thương mại, hợp đồng đầu tư, hợp đồng lao động, vv… Ngoài khái niệm chung về hợp đồng trong Bộ luật dân sự, tùy từng lĩnh vực cụ thể, khái niệm hợp đồng lại được ghi nhận trong các văn bản pháp luật chuyên ngành tương ứng với lĩnh vực và phạm vi điều chỉnh, ví dụ như: Hợp đồng lao động được quy định trong Bộ luật Lao động, hợp đồng xây dựng được quy định trong Luật Xây dựng, hợp đồng thương mại được quy định trong Luật thương mại, hợp đồng chuyển nhượng, cho thuê quyền sử dụng đất được quy định trong Luật Đất đai, hợp đồng tín dụng được quy định trong các văn bản pháp luật về tín dụng – ngân hàng…
Trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại, hợp đồng có thể được gọi với các tên gọi khác nhau như: hợp đồng thương mại, hợp đồng kinh doanh hoặc hợp đồng kinh tế… Song khái niệm hợp đồng thương mại không được ghi nhận trong bất cứ văn bản pháp luật nào. Khóa luận: Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Qua nghiên cứu các văn bản pháp luật trong các thời kỳ cho thấy, chỉ có Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 mới ghi nhận cụ thể khái niệm hợp đồng kinh tế, theo đó, hợp đồng kinh tế được định nghĩa “là sự thỏa thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng nghiên cứu khoa học – kỹ thuật và các thỏa thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình”. Trong khái niệm này, các đối tượng của hợp đồng kinh tế cũng có sự tương đồng cơ bản với các đối tượng của hoạt động thương mại đã được ghi nhận trong Luật thương mại năm 2005.
Từ kết quả phân tích khái niệm hợp đồng nói chung và hợp đồng trong hoạt động thương mại nói riêng, cho phép tác giả đưa ra khái niệm về hợp đồng thương mại như sau:
“HĐTM là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động thương mại khác nhằm mục đích sinh lợi”. Khóa luận: Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Hoạt động thương mại là hoạt động mang tính đặc thù. Đó là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Chính vì vậy, hợp đồng thương mại cũng có những điểm đặc thù cơ bản so với hợp đồng nói chung được đề cập trong Bộ luật dân sự như: về chủ thể giao kết hợp đồng thương mại khi có ít nhất một bên hợp đồng là thương nhân; về mục đích xác lập hợp đồng khi có ít nhất một bên có mục đích sinh lời từ việc xác lập hợp đồng; về tính chất của hợp đồng khi hợp đồng thương mại luôn là hợp đồng có tình đền bù. Những điểm đặc thù này dù không phải là những yếu tố phản ánh bản chất của hợp đồng nói chung, nhưng lại phản ánh một phần bản chất của hợp đồng thương mại.
Sở dĩ như vậy là vì, xét về bản chất, nói đến hợp đồng là nói đến yếu tố thoả thuận, thống nhất ý chí giữa các bên nhằm hướng tới việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của một hoặc các bên. Chính vì vậy, suy cho cùng, hợp đồng thương mại cũng chỉ là một dạng cụ thể của hợp đồng nói chung mà nhà làm luật đã đề cập trong Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, việc xác lập, thực hiện, chấm dứt hợp đồng thương mại cũng phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2015, trong đó, nguyên tắc đặc trưng phản ánh bản chất của của pháp luật hợp đồng nói chung, pháp luật hợp đồng thương mại nói riêng, đó chính là nguyên tắc thoả thuận trên cơ sở tự do ý chí và bình đẳng.
1.1.2. Khái niệm vi phạm hợp đồng thương mại
HĐTM đã phát sinh hiệu lực sẽ được coi là luật ràng buộc các bên chủ thể, buộc các chủ thể phải tuân thủ, buộc cá nhân, tổ chức khác phải tôn trọng. Trong trường hợp các điều khoản của hợp đồng không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng bởi các bên vì bất kể lý do gì, có thể nảy sinh vấn đề được gọi là “vi phạm hợp đồng”, trừ trường hợp miễn trách nhiệm và chủ thể vi phạm sẽ phải gánh chịu hậu quả bất lợi là bị áp dụng các chế tài theo quy định của hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật.
Trong khoa học pháp lý, vi phạm hợp đồng nói chung và vi phạm hợp đồng thương mại nói riêng được hiểu là hành vi bất hợp pháp, do một bên hoặc các bên tham gia hợp đồng thực hiện thông qua hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng và do đó phải chịu chế tài theo quy định của hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật. Với cách định nghĩa này, vi phạm hợp đồng nói chung và vi phạm hợp đồng thương mại nói riêng có thể được nhận biết thông qua một số dấu hiệu đặc trưng cơ bản như: Là hành vi trái pháp luật (không được pháp luật thừa nhận) mà nội dung cốt lõi là làm trái các điều khoản đã thỏa thuận cam kết trong hợp đồng; Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hợp đồng chỉ có thể là các bên tham gia hợp đồng; Đối tượng của hành vi vi phạm hợp đồng chính là các điều khoản đã thỏa thuận cam kết trong hợp đồng (các điều khoản này phản ánh quyền, nghĩa vụ của các bên giao kết hợp đồng) hoặc do pháp luật quy định mặc dù không quy định trong hợp đồng (ví dụ như nhiệm vụ bắt buộc bảo hành, bảo trì, bảo dưỡng hàng hóa, sản phẩm theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2011, Luật Nhà ở năm 2014…); Hành vi vi phạm hợp đồng được thực hiện trong khoảng thời gian hợp đồng đang có hiệu lực; Có thể gây ra các hậu quả bất lợi cho bên bị vi phạm; Chủ thể vi phạm hợp đồng phải chịu chế tài theo quy định của hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật. Khóa luận: Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Trong pháp luật thực định, khái niệm vi phạm hợp đồng đã được đưa ra tại khoản 12 Điều 3 Luật thương mại năm 2005, theo đó:
“Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật thương mại”.
Ngoài ra, tại khoản 13 Điều 3 của Luật thương mại năm 2005, còn đưa ra một định nghĩa khác, gọi là “vi phạm cơ bản”, theo đó:
“Vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng”.
Có thể nhận thấy, các định nghĩa về vi phạm hợp đồng có sự khác biệt nhất định về quan điểm tiếp cận. Sự khác biệt đó ở chỗ, vi phạm hợp đồng là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng, thì vi phạm hợp đồng có bản chất là một hành vi bất hợp pháp, do các bên tham gia hợp đồng thực hiện bằng hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng (chứ không chỉ là hành vi không thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng). Rõ ràng, có quan điểm thể hiện cách tiếp cận khái niệm vi phạm hợp đồng theo nghĩa hẹp (chỉ là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng), trong khi đó, có quan điểm lại thể hiện cách tiếp cận khái niệm vi phạm hợp đồng theo nghĩa rộng (là hành vi vi phạm các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng, có nghĩa là hành vi này có thể vi phạm các quyền cũng như các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng).
1.1.3. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại Khóa luận: Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Để bảo đảm việc tuân thủ cam kết, thoả thuận đã có hiệu lực, ngoài việc quy định các nguyên tắc thoả thuận, trung thực, hợp tác thiện chí trong quá trình giao kết hợp đồng, nhà làm luật cũng ghi nhận nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự đối với chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hợp đồng, theo đó: “Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự”. Theo nguyên tắc này, hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng thương mại sẽ bị coi là vi phạm hợp đồng. Sự vi phạm cam kết thoả thuận của bên này sẽ khiến cho bên kia phải gánh chịu những hậu quả không đáng có. Do đó, hành vi vi phạm hợp đồng sẽ khiến các bên phải chịu trách nhiệm về sự vi phạm đó.
Theo pháp luật thực định, cũng giống như Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng nói chung, khái niệm về Bồi thường thiệt hại trong Luật thương mại năm 2005, theo đó: “BTTH là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm”. Tuy nhiên, với cách ghi nhận này chưa thể giúp chúng ta nhận diện hay xác định được các đặc tính cơ bản của Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại.
Trong khoa học pháp lý, có nhiều quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề nội hàm của khái niệm “TNBTTH do vi phạm hợp đồng thương mại”. Tuy nhiên, các quan điểm này đều có sự thống nhất khi cho rằng, cũng giống như hành vi vi phạm hợp đồng khác, hành vi vi phạm hợp đồng thương mại của các bên tham gia hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc phải gánh chịu hậu quả pháp lý là chủ thể thực hiện hành vi vi phạm sẽ bị áp dụng một hoặc nhiều loại chế tài khác nhau như: buộc thực hiện đúng hợp đồng, hủy hợp đồng, phạt vi phạm, Bồi thường thiệt hại, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng và các hình thức chế tài khác do các bên thỏa thuận không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế. Trong các loại trách nhiệm pháp lý này, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại là loại chế tài được áp dụng phổ biến nhất khi có thiệt hại xảy ra đối với bên bị vi phạm. Việc áp dụng loại trách nhiệm này có thể nhằm các mục đích khác nhau như bù đắp, khôi phục lợi ích vật chất mà bên bị vi phạm phải gánh chịu, đồng thời nhằm mục đích phòng ngừa vi phạm, giáo dục ý thức pháp luật và củng cố kỷ luật hợp đồng trong hoạt động kinh doanh… Bởi vậy, có thể coi đây là loại chế tài cơ bản và quan trọng nhất trong các chế tài mà Luật thương mại ghi nhận, vì nó có thể áp dụng cho hầu hết các hành vi vi phạm hợp đồng và có tính thực tiễn cao. Khóa luận: Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Do đó, hành vi vi phạm hợp đồng có thể coi là yếu tố cơ bản và quan trọng để xem xét áp dụng các loại chế tài thương mại nói chung, trong đó, có chế tài Bồi thường thiệt hại nói riêng. Về tính bắt buộc thực hiện của Trách nhiệm bồi thường thiệt hại, như đã phân tích ở trên, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại là một trong các loại chế tài thương mại, phát sinh do hành vi vi phạm hợp đồng. Khi chủ thể không thực hiện, thực hiện không đúng hợp đồng thì phải chịu trách nhiệm đối với sự vi phạm của mình. Thông thường, khi sự vi phạm xảy ra, các bên có thể thoả thuận về các vấn đề có liên quan, trong đó có thể xác định một khoảng thời gian để bên vi phạm thực hiện trách nhiệm của mình với bên bị vi phạm. Tuy nhiên, khi hết thời gian này mà bên vi phạm không thực hiện thì có thể bị khởi kiện ra Trọng tài hoặc Tòa án để giải quyết; phán quyết của các thiết chế này được bảo đảm thực hiện bởi việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Về mục đích của việc áp dụng Trách nhiệm bồi thường thiệt hại, các loại chế tài thương mại khác như phạt vi phạm, buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng… có thể phát sinh ngay khi có hành vi vi phạm hợp đồng. Nhưng việc Bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi hành vi vi phạm hợp đồng đã gây ra thiệt hại cho bên bị vi phạm. Nếu chỉ có hành vi vi phạm mà chưa có thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường không đặt ra, bởi lẽ, mục đích của việc áp dụng Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là nhằm khắc phục, bù đắp những tổn thất mà bên bị thiệt hại phải gánh chịu do sự vi phạm hợp đồng gây ra từ phía bên vi phạm.
Từ những phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại như sau:
“Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại là một loại chế tài tài sản, được áp dụng theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật đối với bên vi phạm hợp đồng, nhằm bù đắp những tổn thất về tài sản mà bên bị vi phạm phải gánh chịu do hành vi vi phạm hợp đồng của bên vi phạm gây ra, được bảo đảm thực hiện bằng pháp luật”.
1.2. Bản chất và đặc điểm của chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại Khóa luận: Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
1.2.1. Bản chất
Trong khoa học pháp lý, việc chỉ ra bản chất của Trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự nói chung và Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại nói riêng là vấn đề có ý nghĩa quan trọng không chỉ về phương diện lý luận, mà còn có tác dụng to lớn về khía cạnh thực tiễn lập pháp và hành pháp. Mặc dù vấn đề này đã được một số công trình nghiên cứu đề cập đến ở những khía cạnh, mức độ khác nhau, nhưng thực tế cũng cho thấy việc nghiên cứu nhằm làm rõ bản chất của loại trách nhiệm này cũng chưa được giới luật học quan tâm đúng mức. Chính vì vậy, bản chất của Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại là cần thiết, góp phần cung cấp những luận cứ có giá trị không chỉ để phát triển nền khoa học pháp lý, mà điều đó còn có ý nghĩa thiết thực cho việc hoàn thiện pháp luật liên quan.
TNBTTH do vi phạm hợp đồng nói chung được ghi nhận trong Bộ luật dân sự năm 2015 và được cụ thể hóa trong Luật thương mại năm 2005 để áp dụng đối với các hành vi vi phạm hợp đồng phát sinh trong hoạt động thương mại, phân biệt rõ hai trường hợp riêng biệt:
Đối với trường hợp áp dụng chế tài Bồi thường thiệt hại trong hợp đồng theo thoả thuận:
Theo quy định tại Điều 418 Bộ luật dân sự năm 2015, nếu các bên đã thoả thuận về phạt vi phạm hợp đồng cùng với Bồi thường thiệt hại thì khi đó cả hai chế tài này mới được áp dụng đồng thời. Nếu các bên chỉ thoả thuận áp dụng chế tài phạt vi phạm mà không thỏa thuận về việc áp dụng chế tài Bồi thường thiệt hại, thì khi đó chỉ áp dụng chế tài phạt vi phạm theo như thỏa thuận của các bên. Trường hợp các bên không thoả thuận về phạt vi phạm thì việc Bồi thường thiệt hại được áp dụng khi có đầy đủ các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường;
Đối với trường hợp áp dụng chế tài Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng:
Theo quy định tại các Điều 13, Điều 360 và khoản 2 Điều 419 Bộ luật dân sự năm 2015, bên bị thiệt hại được bồi thường toàn bộ thiệt hại nếu không có thoả thuận hoặc luật không có quy định khác. Đồng thời, bên bị thiệt hại còn có thể yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng, mà không trùng lặp với mức Bồi thường thiệt hại cho lợi ích hợp đồng mang lại. Khóa luận: Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Trong Luật thương mại năm 2005, vấn đề Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng đã được ghi nhận cụ thể tại các Điều 294 (về các trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường), Điều 302 (về thiệt hại được bồi thường) và Điều 303 (về các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường). Theo quy định tại Điều 303, trách nhiệm bồi thường phát sinh khi có đủ ba yếu tố: Có hành vi vi phạm; có thiệt hại thực tế; Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại. Đồng thời, pháp luật cũng quy định thiệt hại được bồi thường là những thiệt hại thực tế, trực tiếp và những khoản lợi trực tiếp lẽ ra được hưởng. Tuy nhiên, để có thể được bồi thường thì người bị thiệt hại phải chứng minh tổn thất và phải chứng minh mình đã thực hiện các biện pháp phù hợp để hạn chế tổn thất.
Có thể nói, về cơ bản, quy định về Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại cũng có sự tương đồng so với quy định trong Bộ luật dân sự. Điểm khác biệt chỉ là ở chỗ, trong Luật thương mại năm 2005, ngay cả khi các bên chỉ thoả thuận về phạt vi phạm hợp đồng, thì chế tài Bồi thường thiệt hại vẫn có thể được áp dụng nếu hành vi vi phạm đã gây ra thiệt hại và bên bị thiệt hại đã thực hiện quyền yêu cầu bồi thường. Từ những phân tích trên cho thấy, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng nói chung, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại nói riêng là loại chế tài hình thành khi hành vi vi phạm hợp đồng đã gây ra thiệt hại cho bên đối ước. Việc áp dụng chế tài Bồi thường thiệt hại hướng tới việc khắc phục hậu quả thiệt hại mà hành vi vi phạm hợp đồng đã gây ra cho bên bị thiệt hai.
Tuy nhiên, việc nhận định Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong kinh doanh là một chế tài tiền tệ với các lý giải nêu ra có phần chủ quan và chưa hợp lý. Bởi vì, bản chất của quan hệ kinh doanh, thương mại cũng là các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng, xuất phát từ sự thoả thuận của các bên về các vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của họ trong suốt quá trình thực hiện cho đến khi chấm dứt hợp đồng. Đặc biệt, các bên cũng có quyền thoả thuận về phương thức giải quyết tranh chấp và chế độ trách nhiệm khi có sự vi phạm xảy ra, mà trong đó, các bên hoàn toàn có quyền thoả thuận về đối tượng của Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng có thể là tiền, là vật hoặc bất cứ loại tài sản nào khác, thậm chí là thực hiện một công việc để thay thế. Khóa luận: Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Tóm lại Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là một loại chế tài mang tính chất tài sản, nhằm khôi phục những tổn thất mà bên bị vi phạm hợp đồng phải gánh chịu, do đó, chế tài này hướng tới việc bảo đảm lợi ích cho bên bị vi phạm trong hợp đồng thương mại mà không Tại Điều 303 Luật thương mại năm 2005, quy định ba điều kiện phát sinh Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại không bao gồm yếu tố lỗi. Hơn nữa, có đặc điểm mà tác giả đưa ra cũng không mang tính đặc trưng của Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại. Thực tế cho thấy, không chỉ riêng Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại, mà Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm bất cứ loại hợp đồng nào cũng đều gắn liền với hợp đồng đã có hiệu lực, và nội dung của trách nhiệm cũng đều có thể do các bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định.
1.2.2. Đặc điểm của bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do VPHĐ dân sự có đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là một loại trách nhiệm tài sản. Mục đích chính của việc áp dụng Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là nhằm khôi phục các tổn thất mà người bị thiệt hại phải gánh chịu do hành vi gây thiệt hại gây ra, mà các thiệt hại đó hầu như đều được xác định bằng giá trị cụ thể (giá trị có tính chất tài sản).
Thứ hai, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng chỉ phát sinh giữa các chủ thể của hợp đồng (chủ thể tham gia giao kết hợp đồng).
Thứ ba, chủ thể chịu Trách nhiệm bồi thường thiệt hại luôn là chủ thể đã có hành vi vi phạm hợp đồng và hành vi đó đã gây ra hậu quả thiệt hại cho bên kia. Đặc điểm này thể hiện sự khác biệt cơ bản so với Trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự, bởi lẽ, đối với Trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự , một số trường hợp thì không nhất thiết chỉ áp dụng đối với người có hành vi gây thiệt hại, mà còn có thể áp dụng đối với các chủ thể khác (ví dụ, cha mẹ phải Bồi thường thiệt hại do con chưa đủ 15 tuổi gây ra, pháp nhân phải Bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra khi đang thực hiện nhiệm vụ pháp nhân giao…). Đây là những trường hợp người gây thiệt hại chưa đủ năng lực chịu trách nhiệm bồi thường, đang chịu sự giám sát quản lý của cha mẹ hoặc họ gây thiệt hại khi đang thực hiện các hoạt động đem lại lợi ích cho pháp nhân và đó được xác định là hoạt động của pháp nhân. Trong khi đó, các bên chủ thể của hợp đồng thương mại luôn là những chủ thể có đủ năng lực giao kết và thực hiện hợp đồng, nên họ nhận thức được đầy đủ các quyền và nghĩa vụ phát sinh khi hợp đồng có hiệu lực. Việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng bị coi là hành vi vi phạm, nên đương nhiên phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Khóa luận: Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Thứ tư, việc áp dụng Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng luôn mang đến hậu quả bất lợi cho bên vi phạm
Thứ năm, TNBBTH do vi phạm hợp đồng thương mại phát sinh trên cơ sở những điều kiện luật định. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại luôn mang đến hậu quả bất lợi cho người phải bồi thường. Do đó, đòi hỏi phải xác định chính xác các vấn đề liên quan đến loại trách nhiệm này, đặc biệt là các điều kiện phát sinh trách nhiệm. Việc xác định không chính xác các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường có thể gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bên vi phạm. Về mặt nguyên tắc, khi giải quyết vấn đề bồi thường, chúng ta không chỉ phải bảo đảm lợi ích của bên bị thiệt hại mà còn phải bảo đảm lợi ích của bên gây thiệt hại. Đó chính là yếu tố bảo đảm sự bình đẳng của các bên trong quan hệ hợp đồng.
Ngoài những đặc điểm về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do VPHĐ dân sự nói chung, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại còn thể hiện một số đặc điểm riêng sau đây:
Thứ nhất, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại phát sinh không dựa trên yếu tố lỗi. Điều này đã được khẳng định cụ thể trong Luật thương mại năm 2005, theo Điều 303: “Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây: Có hành vi vi phạm hợp đồng; Có thiệt hại thực tế; Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại”. Đây là điểm đặc trưng cơ bản nhất của Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại so với trách nhiệm bồi thường do vi phạm hợp đồng nói chung. Trong Bộ luật dân sự, mặc dù không đề cập trực tiếp tại quy định về Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, song tại Điều 364 Bộ luật dân sự năm 2015 lại đề cập cụ thể về các loại lỗi do vi phạm nghĩa vụ. Sở dĩ Điều 303 Luật thương mại năm 2005 quy định như vậy là vì, trong hoạt động thương mại, do đặc thù của hoạt động này là sản xuất, kinh doanh hoặc các hoạt động đầu tư nhằm tìm kiếm lợi nhuận nên việc ưu tiên bảo vệ quyền lợi cho nhà kinh doanh là mục tiêu hàng đầu, trong đó có việc áp dụng chế tài buộc Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng mà không cần xem xét đến yếu tố lỗi của bên vi phạm hợp đồng. Nói cách khác, yếu tố lỗi chỉ được xem xét đến khi cần xác định các trường hợp “miễn trách nhiệm bồi thường” chứ không phải là một căn cứ bắt buộc phải có để làm phát sinh Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Thứ hai, chế tài Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại có mục đích nhằm bù đắp tổn thất và khắc phục thiệt hại cho bên bị thiệt hại hơn so với vi phạm hợp đồng nói chung được ghi nhận trong Bộ luật dân sự. Đây cũng là một trong những điểm đặc trưng của Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại , bởi lẽ, trong Bộ luật dân sự, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng không thực sự hướng tới mục đích bù đắp tổn thất và khắc phục thiệt hại cho bên bị thiệt hại. Vì theo khoản 3 Điều 418 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: Khóa luận: Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
“Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải Bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm”. Theo quy định này, bất kể mức phạt vi phạm mà các bên thoả thuận là bao nhiêu thì bên bị vi phạm cũng không được yêu cầu bồi thường đối với thiệt hại xảy ra, ngay cả khi bên bị thiệt hại chứng minh được mức thiệt hại lớn hơn mức phạt vi phạm. Trong Luật thương mại năm 2005, có nhiều loại chế tài thương mại khác nhau. Mỗi loại chế tài được áp dụng dựa trên những điều kiện khác nhau và hướng tới những mục đích khác nhau. Trong đó, chế tài Bồi thường thiệt hại hướng tới việc bù đắp và khắc phục tổn thất xảy ra. Bên yêu cầu Bồi thường thiệt hại phải chứng minh tổn thất và chỉ được bồi thường những thiệt hại thực tế, trực tiếp và những khoản lợi mà lẽ ra được hưởng, song những thiệt hại được bồi thường phải phù hợp với tổn thất thực tế. Sự phù hợp này có nghĩa rằng, thiệt hại được bồi thường không lớn hơn tổn thất thực tế. Tất nhiên, những tổn thất thực tế này không bao gồm những tổn thất xảy ra do bên bị thiệt hại không áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất, kể cả tổn thất đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra.
Thứ ba, điều kiện áp dụng Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại là không cần sự thỏa thuận trước. Bên vi phạm hợp đồng thương mại luôn phải chịu Trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên bị vi phạm, kể cả trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về việc Bồi thường thiệt hại. Đây là điểm đặc trưng của Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại so với Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng nói chung được ghi nhận trong Bộ luật dân sự. Bởi vì, theo khoản 2 Điều 307 Luật thương mại năm 2005 quy định: “Trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc Bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác”. Theo quy định này, chế tài Bồi thường thiệt hại có thể áp dụng đồng thời với phạt vi phạm hợp đồng thương mại ngay cả khi các bên không có thoả thuận về việc áp dụng đồng thời hai loại chế tài này. Điều này có thể được lý giải là, trong hoạt động thương mại, pháp luật cần can thiệp sâu hơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên bị thiệt hại nói riêng và lợi ích công nói chung, chứ không hoàn toàn dựa trên nguyên tắc ưu tiên sự thỏa thuận của các bên như trong các hợp đồng có tính chất dân sự thuần túy. Do đó, khi đã có thoả thuận về phạt vi phạm hợp đồng thì việc Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng chỉ đặt ra khi các bên có thoả thuận về việc áp dụng đồng thời cả phạt vi phạm và Bồi thường thiệt hại. Khóa luận: Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Thứ tư, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại phát sinh chủ yếu giữa các chủ thể là thương nhân. Theo Luật thương mại năm 2005, thương nhân là thuật ngữ chỉ nhóm chủ thể tham gia hoạt động thương mại, bao gồm: tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Ví dụ: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn…, tùy thuộc từng hợp đồng thương mại cụ thể mà các bên chủ thể giao kết hợp đồng bắt buộc phải là thương nhân, như hợp đồng đại lý thương mại, hợp đồng đại diện cho thương nhân hoặc trường hợp chỉ cần một bên chủ thể hợp đồng là thương nhân, như hợp đồng môi giới thương mại, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa… Bởi tuỳ vào từng ngành nghề kinh doanh mà pháp luật quy định chủ thể tham gia hợp đồng phải có những năng lực chủ thể đặc thù về vốn, về năng lực tiến hành thực hiện hợp đồng mang tính chuyên môn nghề nghiệp. Do tác động của nội dung hợp đồng thương mại ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển kinh tế của đất nước nên có sự phân hoá năng lực chủ thể tham gia vào từng loại hợp đồng thương mại. Đây là sự khác biệt cơ bản giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại. Trong hợp đồng dân sự, chủ thể tham gia giao kết hợp đồng có thể là cá nhân, pháp nhân không có đăng ký kinh doanh, còn chủ thể tham gia hợp đồng thương mại thường là thương nhân và bắt buộc ít nhất một bên chủ thể tham gia hợp đồng thương mại phải là thương nhân.
Thứ năm, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại được thực hiện phải gắn liền với hoạt động thương mại – hoạt động mang tính nghề nghiệp của thương nhân và đối tượng của hợp đồng thương mại thường là dịch vụ, hàng hoá. Đặc điểm này xuất phát từ đặc trưng của yếu tố chủ thể tham gia hợp đồng thương mại. Sứ mệnh mà pháp luật trao cho thương nhân là tìm kiếm lợi nhuận, để đạt được mục đích sinh lời thì thương nhân cần xác lập thật nhiều, thật hiệu quả những hợp đồng thương mại có giá trị lớn. Những hợp đồng này thường có nội dung liên quan đến việc xác lập, thực hiện hoạt động thương mại của thương nhân. Đối tượng của hợp đồng thương mại thường là dịch vụ, hàng hoá. Đây là những đối tượng chịu tác động cực lớn của biến động thị trường. Dịch vụ, hành hoá là sản phẩm của quá trình sản xuất, kinh doanh (hoạt động thương mại). Khi thương nhân thực hiện hoạt động sản xuất tạo ra hàng hoá cần luân chuyển sản phẩm trong thị trường để tìm kiếm lợi nhuận. Hàng hoá được chuyển giao từ chủ thể này sang chủ thể khác thông qua nhiều loại hợp đồng thương mại, như mua bán, đại lý, cho thuê… Chính nhờ hợp đồng thương mại các bên chủ thể tham gia hợp đồng trong đó có thương nhân mới đạt được mục tiêu tìm kiếm nguồn vốn và sinh lời.
Thứ sáu, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại không bao gồm thiệt hại về danh dự, uy tín. Theo khoản 2 Điều 302 Luật thương mại năm 2005, giá trị Bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng, trong đó không bao gồm thiệt hại về danh dự, uy tín. Do đó, thiệt hại về danh dự, uy tín của thương nhân không được bồi thường. Tuy nhiên, tại Điều 592 Bộ luật dân sự năm 2015 cho phép Bồi thường thiệt hại về danh dự, uy tín của các chủ thể khi bị xâm phạm, trong đó có các thương nhân đều có quyền yêu cầu Bồi thường thiệt hại. Đây là quy định hợp lý và Luật thương mại năm 2005 cần sửa đổi, bổ sung để tương thích với quy định này.
1.3. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại Khóa luận: Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là trách nhiệm của người có hành vi vi phạm, có lỗi trong việc gây thiệt hại về vật chất, tinh thần phải bồi hoàn cho người bị thiệt hại nhằm phục hồi tình trạng tài sản, bù đắp tổn thất tinh thần cho người bị thiệt hại. Trong hợp đồng thương mại, bồi thường thiệt hại là một chế tài trong thương mại dù các bên không có thỏa thuận nhưng vẫn có thể áp dụng nếu đáp ứng các điều kiện nhất định.
Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung trước hết được quy định tại Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 như sau: Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác; Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác; Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.
Xuất phát từ những căn cứ phát sinh trong bồi thường thiệt hại nói chung quy định tại Bộ luật dân sự, trong quan hệ hợp đồng thương mại, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được cụ thể hóa tại Điều 303 Luật Thương mại 2005 như sau: “ Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây: Có hành vi vi phạm hợp đồng; Có thiệt hại thực tế; Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.” Cụ thể từng căn cứ trên đây như sau:
Thứ nhất, có hành vi vi phạm hợp đồng Khóa luận: Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Đó là hành vi của một bên đã xử sự trái với những cam kết trong hợp đồng hoặc trái với quy định của pháp luật, nếu trong hợp đồng không quy định. Đó là hành vi không thực hiện hợp đồng, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng. Xét về bản chất, vi phạm hợp đồng chính là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng. Còn thực hiện không đầy đủ hợp đồng cũng chính là hành vi không thực hiện đúng hợp đồng. Tại Điều 360 Bộ luật dân sự 2015 cũng quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ như sau:
“Điều 360. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.”
Thứ hai, có thiệt hại thực tế xảy ra
Đó là những thiệt hại có thực phát sinh trực tiếp từ sự vi phạm hợp đồng. Những thiệt hại này hoàn toàn có thể xác định được và tính bằng tiền. Theo quy định của pháp luật hiện hành, thiệt hại thực tế bao gồm tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do hành vi vi phạm hợp đồng của bên kia và khoản lợi nhuận trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm. Tổn thất thực tế có thể là: giá trị số tài sản mất mát, hư hỏng; chi phí để ngăn chặn và hạn chế thiệt hại do vi phạm hợp đồng gây ra; tiền phạt vi phạm hợp đồng hoặc tiền bồi thường thiệt hại mà bên bị vi phạm đã phải trả cho bên thứ ba do hậu quả trực tiếp của sự vi phạm hợp đồng gây ra… Những khoản tổn thất này phải trực tiếp do bên vi phạm gây ra. Những khoản tổn thất không trực tiếp thì không được bồi thường. Khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm, còn được gọi là khoản lợi nhuận bị bỏ lỡ, ví dụ: các khoản lãi, thu nhập trực tiếp đáng lẽ được hưởng nhưng thực tế không thu được do bị vi phạm hợp đồng.
Thứ ba, hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại
Có nghĩa là có mối quan hệ nhân quả, trực tiếp giữa hành vi vĩ phạm hợp đồng và thiệt hại thực tế. Những thiệt hại là hậu quả của hành vi vi phạm; nếu không có hành vi vi phạm thì không có thiệt hại. Hành vi vi phạm hợp đồng phải xảy ra trước, từ hành vi đó mới dẫn đến thiệt hại. Khóa luận: Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Qua đây, ta có thể thấy khi muốn áp dụng chế tài này trong hợp đồng thương mại cần đáp ứng đủ cả ba điều kiện làm căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
1.4. Mối quan hệ giữa trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại với các loại chế tài khác
Chế tài là yếu tố không thể thiếu trong hệ thống các công cụ pháp lý điều chỉnh quan hệ kinh doanh thương mại hoặc các quan hệ khác nhằm đảm bảo việc tuân thủ các quy phạm pháp luật thương mại nói riêng và các quy phạm pháp luật các lĩnh vực khác nói chung. Thuật ngữ chế tài được sử dụng rộng rãi trong khoa học pháp lý và được hiểu một cách khá thống nhất ở các nước. Ở Việt Nam, chế tài thương mại là một thuật ngữ được sử dụng trong Luật thương mại hiện hành, theo Từ điển luật học, chế tài được hiểu theo nghĩa hẹp, là một trong ba bộ phận cấu thành một quy phạm pháp luật, theo đó chế tài là bộ phận xác định các hình thức trách nhiệm pháp lý khi có hành vi vi phạm với các quy các xử sự chung được ghi nhận trong phần quy định và giả định của quy phạm pháp luật. Theo nghĩa chung nhất, chế tài là các biện pháp cưỡng chế Nhà nước dự kiến áp dụng đối với các chủ thể vi phạm pháp luật để đảm bảo việc thực hiện pháp luật. Các chế tài do Nhà nước đặt ra, được quy định trong các quy phạm pháp luật và mang tính cưỡng chế thi hành. Về cơ bản cả Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật thương mại năm 2005 đều không định nghĩa thế nào là chế tài đối với hành vi vi phạm hợp đồng mà chỉ liệt kê các hình thức chế tài có thể áp dụng đối với hành vi vi phạm hợp đồng thương mại. Xét các hình thức chế tài trong thương mại được quy định tại Điều 292 Luật thương mại năm 2005, thì đó là những chế tài do vi phạm hợp đồng trong thương mại, xác định những hậu quả pháp lý bất lợi được áp dụng đối với bên có hành vi không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trong hợp đồng thương mại hoặc theo luật định.
Mục đích của chế tài trong thương mại là nhằm thúc đẩy các nhà kinh doanh tuân thủ khuôn khổ pháp lý và thực hiện nghiêm các thỏa thuận đã được xác định trong hợp đồng. Ngoài ra, chế tài trong thương mại có mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong hợp đồng thương mại; nhằm ngăn ngừa và hạn chế vi phạm hợp đồng từ các nhà kinh doanh cũng như những chủ thể có quan hệ hợp đồng với họ, từ đó nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, tuân thủ hợp đồng và chủ động phòng tránh vi phạm không đáng có dẫn tới hậu quả bất lợi cho mình. Khóa luận: Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Việc áp dụng chế tài thương mại cần phải đáp ứng một số nguyên tắc: dựa trên căn cứ luật định hoặc do các bên thỏa thuận; có thể áp dụng đồng thời nhiều chế tài trong thương mại khác nhau đối với một hành vi vi phạm hợp đồng song, không thể áp dụng đồng thời hai chế tài có mục đích, bản chất hay hậu quả pháp lý trái ngược nhau. Tùy theo tính chất và mục đích của từng loại chế tài, mỗi hình thức chế tài đòi hỏi căn cứ áp dụng khác nhau song việc cần thiết chứng minh một hay nhiều căn cứ còn phụ thuộc vào loại chế tại được áp dụng giữa các bên. Trên cơ sở Luật thương mại năm 2005 có thể xác định mối quan hệ giữa chế tại Bồi thường thiệt hại với các chế tài khác như sau:
Thứ nhất, mối quan hệ với chế tài phạt vi phạm: có sự khác nhau trong Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật thương mại năm 2005, Theo đó, nếu Bộ luật dân sự năm 2015 (Điều 418) chỉ cho phép kết hợp hai chế tài này khi các bên có thỏa thuận thì Luật thương mại năm 2005 (Điều 307) không đòi hỏi phải có sự thỏa thuận của các bên mới được kết hợp hai chế tài này. Có trường hợp ngoại lệ là Điều 266 Luật thương mại năm 2005 coi hành vi vi phạm nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định và hình thức lỗi (vô ý, cố ý) để xác định chế tài áp dụng là Bồi thường thiệt hại hay phạt vi phạm.
Thứ hai, mối quan hệ với các chế tài khác: theo quy định của Luật thương mại năm 2005 (Điều 309, Điều 311, Điều 314), thì khi áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, đình chỉ hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng, bên bị vi phạm vẫn có quyền yêu cầu Bồi thường thiệt hại kết hợp phạt vi phạm hợp đồng (nếu có thỏa thuận) theo quy định của pháp luật. Điều đáng lưu ý là, Điều 316 Luật thương mại năm 2005 đã quy định rõ: “Một bên không bị mất quyền yêu cầu Bồi thường thiệt hại đối với tổn thất do vi phạm hợp đồng của bên kia khi đã áp dụng các chế tài khác”.
Như vậy, chế tài Bồi thường thiệt hại hoàn toàn có thể áp dụng đồng thời với tất cả các chế tài thương mại khác nếu có đủ các điều kiện áp dụng theo luật định (trong đó có Điều 303 Luật thương mại năm 2005). Khóa luận: Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
