Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Nghiên cứu đặc điểm tài nguyên, kinh tế – xã hội phục vụ phát triển du lịch bền vững huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Tiềm năng du lịch của huyện đảo Phú Quý

3.1.1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch tự nhiên

3.1.1.1 Địa hình, địa mạo

Huyện Phú Quý gồm 10 hòn đảo có quy mô diện tích và đặc điểm tự nhiên khác nhau. Trong đó, đảo Phú Quý (hay còn gọi là Cù Lao Thu) có diện tích lớn nhất, là đảo tập trung hầu hết dân cư sinh sống và các hoạt động kinh tế – xã hội của huyện. Các đảo nhỏ khác chủ yếu là các núi đá hoặc bãi đá nổi lên giữa biển khơi và hiện tại có ý nghĩa về mặt an ninh, quốc phòng như Hòn Hải là vị trí xác định đường cơ sở của vùng lãnh hải quốc gia.

Địa hình đảo Phú Quý không bằng phẳng, độ cao trung bình từ 15m đến 20m, có 3 ngọn núi chính ở 2 phía: Phía Bắc có 2 ngọn là núi Cấm cao 108m và núi Cao Cát cao 85m. Phía Nam có các cồn cát, đồi cát cao từ 35m đến 48m, trong đó có đồi cao nhất là núi ông Đụn cao 44,9m, trong những ngọn núi này, núi Cấm được xem như một phao tiêu thiên nhiên rất quan trọng để ngư dân bắt được tín hiệu của đảo trong những cuộc hải trình, trung tâm đảo có các dãy đồi lượn sóng, tạo điều kiện phát triển du lịch tham quan, thưởng ngoạn cảnh quan.

Địa hình đảo không bị chia cắt bởi các con sông, suối lớn, nhưng các đồi cát, cồn cát thường xuyên bị tác động của gió với quy mô và tốc độ đáng kể đã thu hẹp diện tích canh tác và vùi lấp đường sá. Đây là hạn chế trong việc di chuyển du lịch ở huyện đảo. Vì vậy, để cho việc bảo vệ cơ sở hạ tầng, các công trình dịch vụ du lịch và nhà ở của nhân dân thì cần phải bố trí diện tích đất hợp lý để trồng rừng chắn gió, cát và hiện tượng xâm thực của biển.

3.1.1.2. Đánh giá hiện trạng sử dụng đất

Theo số liệu thống kê năm 2023 diện tích toàn huyện Phú Quý là 17,4 km2 được phản ánh thực trạng và cơ cấu theo 3 nhóm đất như sau: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý.

  • Đất nông nghiệp: Diện tích đất nông nghiệp 1.123,23 ha, chiếm 62,69% tổng diện tích đất tự nhiên.
  • Đất phi nông nghiệp: Diện tích đất phi nông nghiệp 510,17 ha, chiếm 28,47% tổng diện tích đất tự nhiên.
  • Đất chưa sử dụng: Diện tích đất chưa sử dụng 158,32 ha, chiếm 8,84% tổng diện tích đất tự nhiên.
  • Trong đó một số loại đất phục vụ phát triển du lịch:
  • Đất thương mại dịch vụ có diện tích 6,99 ha.
  • Đất phát triển hạ tầng năm 2021 có diện tích 209,74 ha.
  • Đất có di tích lịch sử văn hóa có diện tích 1,59 ha.
  • Đất sinh hoạt cộng đồng có diện tích 1,01 ha.
  • Đất khu vui chơi giải trí công cộng có diện tích 13,63 ha.
  • Đất cơ sở tín ngưỡng có diện tích 3,72 ha.

Nhận xét: Hiện tại quỹ đất trên đảo Phú Quý còn nhiều quỹ đất chưa sử dụng tạo điều kiện thuận lợi để đảo phát triển du lịch. Quỹ đất dọc bờ biển phát triển du lịch sinh thái biển, nghỉ dưỡng kết hợp thể thao biển.

Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất huyện Phú Quý năm 2021

3.1.1.3. Khí hậu

Nằm giữa biển khơi nên Phú Quý chịu ảnh hưởng sâu sắc chế độ khí hậu của biển rất rõ rệt:

Nhiệt độ không khí trung bình năm là 270C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 300C (tháng 5), thấp nhất 240C (tháng 12), biên độ nhiệt dao động trong năm không lớn (40C), không có mùa đông lạnh.

Lượng mưa trung bình năm 1.200 mm/năm, nhưng lại phân bố không đều trong năm. Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 12 (tháng 10 có lượng mưa cao nhất 422,3 mm). Mùa ít mưa thường từ tháng 1 đến tháng 5 năm sau với lượng mưa trung bình 18 mm/ tháng.

Gió trên đảo hoạt động gồm 2 hướng gió chính: Gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau (trùng với mùa khô), tốc độ trung bình 5m/s, tốc độ cực đại (tháng 1) có thể đạt 16 – 18 m/s; gió mùa Tây Nam bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 (trùng với mùa khô), tốc độ trung bình 3,8 – 4,7 m/s, vào buổi chiều (17 – 20 giờ) thường có giông, có gió giật từ 14 đến 18 m/s, có lúc đạt 20 đến 22 m/s. Trong những thời gian có gió mùa và gió lớn thường tạo ra sóng lớn, ảnh hưởng đến hoạt động khai. thác hải sản và giao thông của huyện đảo. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý.

Bão: Vùng đảo Phú Quý mùa bão thường chỉ giới hạn trong vòng 2 tháng 10 và 11, khả năng có bão ở khu vực này cũng ít hơn so với các khu vực khác, tần suất 0,66 lần/năm (trong vòng 60 năm trở lại đây).

Mặc dù ít có bão, nhưng trên đảo Phú Quý thường xuyên chịu ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới và cũng chính áp thấp nhiệt đới là loại nhiễu động rất mạnh của thời tiết trong vùng này. Bão và áp thấp nhiệt đới sinh ra sóng to, mưa lớn, biển động mạnh gây nên xói lở vùng bờ biển trên đảo làm thay đổi đường bờ, thay đổi cán cân vật lý tại khu vực, làm thiệt hại không nhỏ cho người dân trên đảo nhất là nhiều khi áp thấp nhiệt đới kéo dài, biển bị động mạnh nên nhiều tàu, thuyền không thể ra khơi, phần nào gây bất lợi cho du lịch Phú Quý.

Độ ẩm không khí trung bình trong năm từ 83% đến 84%, thấp nhất là tháng 5 với 79% và cao nhất là tháng 12 đạt 89%. Nhìn chung, không khí quanh năm thường khô.

Khí hậu trên đảo Phú Quý mang tính chất của khí hậu đại dương với các đặc trưng nắng nhiều, khô và đặc biệt có gió nhiều có thể phát triển các sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng, tắm biển, lướt ván,…

Bảng 3.2: Số liệu khí hậu huyện Phú Quý

3.1.1.4. Thủy văn

Toàn huyện đảo hiện không có sông, suối và kênh mương, khi mưa nước chảy theo các đường tụ thủy và mương xói thoát ngay ra biển. Do diện tích nhỏ, dòng chảy ngắn, độ che phủ thấp nên thường là hết mưa thì dòng chảy hết nước.

Vùng biển Phú Quý có chế độ nhật triều không đều hay còn gọi là thủy triều hỗn hợp, thiên về nhật triều. Biên độ dao động mực nước với chu kỳ nửa ngày đêm (bán nhật triều) thường nhỏ hơn biên độ dao động chu kỳ một ngày đêm (nhật triều). Theo nhiều số liệu thống kê thì biên độ dao động mực nước triều (nhật triều) tại vùng biển Phú Quý thường nhỏ hơn 2m. Số ngày nhật triều trong tháng từ 18 đến 20 ngày. Do địa hình cao so với mực nước biển nên thủy triều ít ảnh hưởng đến đời sống và tình hình sản xuất trên đảo.

3.1.1.5. Tài nguyên nước Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý.

Là một đảo diện tích không lớn, bao quanh bởi biển cả và xa đất liền, nước ngọt cho nhu cầu tiêu dùng trong sinh hoạt và sản xuất là yếu tố quan trọng, có ý nghĩa quyết định bậc nhất sống còn đối với sự phát triển kinh tế, xã hội và đời sống của nhân dân trên đảo Phú Quý. Nhìn chung, nguồn nước ngọt của đảo Phú Quý thuộc vào dạng khan hiếm, đang và sẽ tạo ra một trong những giới hạn chính đối với sự phát triển của huyện đảo về mọi mặt cũng như du lịch.

Nguồn nước mặt: Nguồn nước mặt trên đảo phụ thuộc vào việc tích trữ nước mưa qua các lớp phủ thực vật. Tuy nhiên, trên đảo hiện không có sông, hồ hoặc ao đầm chứa nước. Phần lớn nước mưa, sau khi thẩm thấu vào lòng đất (không được nhiều) đều chảy ra biển bằng các dòng chảy mặt. Nguồn sinh thủy phụ thuộc vào lượng mưa được thẩm thấu xuống đất và độ che phủ bằng cây rừng và cây lâu lăm. Việc tích tụ nước mưa hiện nay chủ yếu là do các hộ gia đình tự lo liệu, phân tán và kết quả không được nhiều. Để tăng thêm nguồn nước mặt, cần xây dựng các hồ chứa nước và trồng thêm nhiều cây rừng và cây lâu năm để giữ nước và giảm độ bốc hơi.

Đảo có khả năng xâm nhập nước mặn vào các tầng nước nông, gây thêm những khó khăn về nguồn nước ngọt để phát triển kinh tế, dân sinh, du lịch trên huyện  đảo Phú Quý.

Nguồn nước ngầm: Tài nguyên nước dưới đất đóng vai trò hết sức quan trọng trong cung cấp nước phục vụ ăn uống sinh hoạt và sản xuất trên đảo. Đất đá nằm dưới mặt đất là các bể chứa nước ngầm có vai trò quan trọng trữ nước mưa để cung cấp cho đảo.

3.1.1.6. Tài nguyên rừng

Theo số liệu thống kê đất đai huyện Phú Quý, diện tích đất lâm nghiệp của huyện là 124,73 ha, chiếm 6,96% diện tích tự nhiên. Tài nguyên rừng của huyện tuy không nhiều nhưng có vai trò cực kỳ quan trọng trong điều hòa khí hậu, bảo vệ đất đai, chống xói mòn rửa trôi và giữ nguồn nước ngầm.

3.1.1.7. Tài nguyên biển

Huyện Phú Quý nằm trong vùng biển với hai ngư trường lớn là ngư trường vùng thềm lục địa và ngư trường biển khơi.

Động, thực vật sinh sống dưới biển có các loại như: Đồi mồi, tôm hùm, cua huỳnh đế, cua mặt trăng hoa đỏ nền vàng, ốc xà cừ ngọc nữ, bào ngư… với nhiều màu sắc dùng làm những mặt hàng mỹ nghệ rất hấp dẫn và có giá trị.

Biển Phú Quý có nhiều loại đồn đột (hải sâm). Đồn đột ở đây rất phong phú về chủng loại: Táo, gấm, huyết, mít, lựu, sâu chóc, hoa thơm, vú đen và vú trắng. Hầu hết các loại đồn đột này có ở cách bờ khoảng 1.000 m trở ra.

Ở ven bờ biển có các loại rong như rong đông sương, rong chân vịt, rong cổ ống, rong lá mơ, rong câu, rong câu chỉ, rong sa, rong sói (mức), rong sà lách… dùng chế biến thành nhiều loại thức ăn phục vụ cho con người.

Ngư trường Phú Quý rộng lớn, nằm về phía Đông – Đông Nam. Đây là một trong những ngư trường có trữ lượng cá nổi rất lớn. Ở phía Tây – Tây Bắc của đảo là một gò lồi (rạn lồi) tập trung những loại cá lớn sinh sống như: mú chiên, mú giấy, hồng heo, hồng thèn, hồng chuối, hồng chữ, … cùng nhiều loại mực là những nguồn lợi tự nhiên to lớn. Ngoài ra, Phú Quý còn có một hệ thống những gò, cồn, bãi cạn dài và rộng mênh mông. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý.

Ở đây, mực nước không sâu, vừa tầm đánh bắt, là nơi trú ngụ của nhiều loại cá như: mập, cào, xà, cồn, bống, giống… có giá trị kinh tế cao.

3.1.1.8. Tài nguyên du lịch tự nhiên

Phú Quý là một hòn đảo đẹp với khung cảnh tự nhiên hoang sơ và gần như chưa có sự động chạm của các dịch vụ du lịch chuyên nghiệp. Tài nguyên du lịch tự nhiên nổi bật của Phú Quý là các bãi biển, hòn đảo đẹp hoang sơ, hệ sinh thái biển đa dạng, độc đáo.

  • Cảnh quan thiên nhiên

Các bãi biển: Có nhiều bãi biển đẹp và lý tưởng như: Vịnh Triều Dương, bãi Doi Dừa xã Ngũ Phụng, Bãi Nhỏ Gành Hang,… với làn nước trong xanh, bãi cát trắng mịn trải dài. Vịnh Triều Dương: Thuộc xã Tam Thanh, huyện Phú Quý. Đây là bãi tắm nổi tiếng nhất của đảo, với dải cát uốn cong hình chữ S, trắng phau chạy dài cả cây số, tuyệt đối sạch sẽ và hoang sơ.

Bãi Nhỏ Gành Hang: Cách trung tâm huyện 10 phút đi xe máy. Là một bãi tắm đẹp hình lưỡi liềm được giới hạn bởi những mũi đá nhô ra biển. Trên bờ quanh bãi là những mỏm đá đen. Bãi cát tuy nhỏ nhưng thoáng đãng và yên tĩnh.

  • Các hòn đảo:

Hòn Tranh: Là một trong 10 đảo nhỏ thuộc huyện Phú Quý, cũng là nơi thu hút nhiều du khách đến thăm quan chiêm ngưỡng cảnh đẹp còn mang đậm nét hoang sơ và lãng mạn. Hòn đảo quanh năm sóng yên biển lặng, bãi biển phẳng lì, cát trắng mịn, nước trong xanh soi rõ từng rạn san hô và các loài tảo biển. Động thực vật ở đảo cũng vô cùng phong phú.

Ngoài ra, còn có 1 số điểm cảnh quan khác như: Hòn Trứng, Hòn Đỏ, Hòn Giữa, Hòn Đen, Hòn Đá Bé…

  • Các điểm cảnh quan khác: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý.

Phong điện Phú Quý: “Phong điện” là những chiếc quạt gió được xây dựng để tạo ra nguồn điện phục vụ cho người dân trên đảo. Trên đảo hiện có 3 cây quạt gió, được biết mỗi cây có chiều cao là 60m và chiều dài của cánh quạt là 37m. Đặc biệt, đường ra tham quan những cây quạt gió này rất đẹp, một bên là biển, một bên là những hàng dương trồng dọc hai bên đường đi trông rất đẹp mắt.

Hải Đăng Phú Quý: Nằm trên ngọn núi Cấm với độ cao 108m so với mực nước biển, cách cảng 3km về phía Tây thuộc xã Ngũ Phụng.Trên đỉnh núi có ngọn đèn hải đăng thuộc loại lớn nhất Việt Nam. Hải đăng Phú Quý có độ cao 18m, phải đi bộ, leo núi hơn 120 bậc đá, men theo sườn núi mới chinh phục.

Núi Cấm: Là một trong hai ngọn núi ở đảo Phú Quý với độ cao 108 m so với mực nước biển, cách cảng Phú Quý khoảng 3km, nằm trên địa bàn xã Ngũ Phụng. Trên đỉnh núi Cấm có một ngọn hải đăng.

Cột cờ Phú Quý: Cột cờ Phú Quý được khởi công xây dựng từ ngày 17/6/2020 trên diện tích gần 200 m2 tại mỏm Đông đồi Chuối, phía dưới là bãi biển Gành Hang (thôn Triều Dương, xã Tam Thanh). Cột cờ Phú Quý không chỉ đơn thuần thể hiện chủ quyền của Việt Nam tại đảo, mang tính giáo dục sâu sắc về tình yêu quê hương, đất nước mà còn giúp cho thế hệ trẻ hun đúc thêm lý tưởng, niềm tin và trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Đây là một điểm du lịch, tham quan hấp dẫn đối với du khách trong thời gian qua.

  • Hệ sinh thái biển

Khu bảo tồn biển đảo Phú Quý có trung tâm là đảo Phú Quý, có diện tích 18.980 ha, bao gồm vùng biển 16.68 ha và 2.30 ha vùng đảo nổi. Khu bảo tồn có 70 loài thực vật ở cạn, 72 loài tảo biển, 134 loài san hô cứng, 15 loài nhuyễn thể; có một khu vực san hô rộng lớn ở vùng biển khơi của đảo Phú Quý, có dải đá ngầm bằng phẳng rộng tới 600m tạo thành một dải đầm phủ đầy thảm cỏ biển.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

3.1.2. Điều kiện kinh tế – xã hội và tài nguyên du lịch văn hóa Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý.

3.1.2.1. Dân số, tốc độ tăng và mật độ dân số

Với mức tăng dân số tự nhiên luôn cao trong suốt chiều dài lịch sử, dân số của Phú Quý tăng lên khá nhanh và Phú Quý trở thành một trong những huyện đảo đông dân của Việt Nam.

Hình 3.6: Dân số huyện đảo Phú Quý  giai đoạn 1998 – 2023

Dân số tại Phú Quý tăng lên tục qua các năm. Tuy nhiên, tốc độ gia tăng của dân số Phú Quý lại rất thất thường dù xu hướng chung là giảm. Trước năm 2000, tỉ lệ gia tăng dân số của huyện đảo này nhìn chung khá cao, đạt trên 3%/năm. Sau đó tốc độ này liên tục giảm cho đến năm 2009, nhưng sang đến năm 2010 lại tăng lên, và từ đó dao động khá thất thường trong khoảng 2,8 – 0,5%/năm. Sau năm 2019, tỉ lệ gia tăng dân số huyện đảo Phú Quý khá ổn định, khoảng sấp xỉ 1%/năm.

Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2024, tốc độ tăng dân số trung bình của huyện Phú Quý giai đoạn 2014 – 2024 là 0,45%, thuộc nhóm trung bình của tỉnh Bình Thuận (các huyện có tốc độ gia tăng dân số nhanh như: Hàm Thuận Nam (1,68%), Bắc Bình (1,02%), Hàm Thuận Bắc (0,94%), các huyện có tốc độ gia tăng dân số trung bình: Phan Thiết (0,47%), các huyện có tốc độ gia tăng dân số thấp: Tuy Phong (0,29%), La Gi (0,24%), Hàm Tân (0,17%), Đức Linh (0,08%))

Với tổng số dân gần 30 nghìn người đến năm 2023, Phú Quý là thuộc nhóm đảo đông dân trong số 12 huyện đảo của cả nước và mật độ dân số khá cao. Mật độ này cũng tăng lên không ngừng qua các năm.

Bảng 3.3: Dân số và mật độ dân số huyện đảo Phú Quý

STT Năm Dân số (người) Mật độ (người/km2)
1 1998 19.756 1.103
2 2000 21.234 1.186
3 2010 23.682 1.322
4 2015 26.107 1.458
5 2020 27.744 1.549
6 2021 28.010 1.564
7 2022 28.308 1.581
8 2023 28.618 1.598

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Thuận 1998 – 2023)

Với mật độ 1.598 người/km2 năm 2023, Phú Quý là đơn vị hành chính có mật độ cao nhất của tỉnh Bình Thuận, thậm chí cao gấp hơn 10 lần mật độ dân số toàn tỉnh (156 người/km2) Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý.

Dân cư của huyện phân bố tại các xã như sau:

Xã Ngũ Phụng có 03 thôn: Thôn Phú An, thôn Thương Châu và thôn Quý Thạnh. Dân số 8.623 người, chiếm 30,13% dân số toàn huyện.

Xã Tam Thanh có 03 thôn: Thôn Mỹ Khê, thôn Hội An và thôn Triều Dương. Dân số 9.633 người, chiếm 33,67% dân số toàn huyện.

Xã Long Hải có 04 thôn: Thôn Phú Long, thôn Đông Hải, thôn Quý Hải và thôn Tân Hải. Dân số 10.362 người, chiếm 36,2% dân số toàn huyện.

3.1.2.2. Lao động

Theo số liệu thống kê của huyện, năm 2023 số người trong độ tuổi lao động là 19.015 người, chiếm 66,4% dân số toàn huyện.

Nhìn chung cơ cấu lao động bắt đầu có sự chuyển dịch:

  • Lao động ngành nông – lâm – ngư nghiệp chiếm chủ yếu và có xu hướng giảm.
  • Lao động trong ngành công nghiệp – xây dựng chiếm một phần rất nhỏ và đang tăng chậm.
  • Lao động dịch vụ tăng tương đối nhanh.

Nguồn lao động của huyện khá dồi dào nhưng chất lượng nguồn lao động cũng là vấn đề lớn đặt ra với huyện khi phần lớn số lao động là lao động phổ thông chưa qua đào tạo và chủ yếu lao động hoạt động trong khu vực nông, lâm, thủy sản.

Trong giai đoạn 2021 – 2024, Lao động nông thôn được huyện tổ chức đào tạo nghề theo Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2025” và một số lao động theo học nghề tại các trường nghề, các trung tâm đào tạo nghề của Tỉnh và các địa phương khác, nhằm đáp ứng nhu cầu công việc của người dân. Bên cạnh nỗ lực để hoàn thành chỉ tiêu đào tạo nghề cho lao động nông thôn, Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên đã tích cực đào tạo các lớp khác đáp ứng theo nhu cầu, nguyện vọng thiết thực của người dân. Năm 2023, trung tâm mở được 4 lớp với 120 học viên, gồm các nghề: thuyền trưởng tàu cá hạng 4, máy trưởng tàu cá hạng 4, dinh dưỡng và kỹ thuật nấu ăn, pha chế thức uống. Riêng 6 tháng của năm 2024, trung tâm mở 2 lớp với 60 học viên. Cùng với việc tăng cường trang bị đồ dùng, thiết bị dạy nghề phù hợp với nội dung, chương trình đào tạo, trung tâm còn đăng ký đào tạo các nghề mới, xây dựng chương trình mới, đa dạng hóa ngành nghề phù hợp với nhu cầu học nghề của người dân.

Đến nay toàn huyện có 6.174 lao động đã qua đào tạo trên 14.691 lao động trên toàn huyện, chiếm tỷ lệ 42,24%. Tuy nhiên, hầu hết việc đào tạo người lao động mới chỉ là đào tạo ngắn hạn, không có bằng cấp, hoặc ở mức sơ cấp. Số lao động có trình độ cao rất ít. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý.

3.1.2.3. Đặc điểm kinh tế

Cơ cấu kinh tế huyện chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng thương mại – dịch vụ, công nghiệp – xây dựng, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến năm 2020 theo hướng ngành nông-lâm-ngư nghiệp (chiếm 22-23%), ngành công nghiệp-xây dựng (chiếm 51-52%), ngành dịch vụ (chiếm 24-25%).

Những năm qua, Phú Quý có tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khá cao, bình quân 9%/ năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, trong đó ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu nền kinh tế. Hệ thống kết cấu hạ tầng – kinh tế xã hội được đầu tư xây dựng khá toàn diện với những công trình rất quan trọng như: Cảng biển, nhà máy điện, hệ thống đường giao thông, trường học, bệnh viện, kè chống biển xâm thực… Chính những công trình này đã phát huy hiệu quả tối đa, tạo điều kiện thuận lợi để Phú Quý phát triển kinh tế – xã hội và cải thiện, nâng cao chất lượng sống cho người dân.

Với lợi thế về ngư nghiệp, đội tàu thu mua, khai thác đánh bắt xa bờ của huyện cũng đã từng bước được đầu tư hiện đại, vươn đến các vùng biển ngoài khơi xa. Điều này vừa đem lại hiệu quả kinh tế cho địa phương, vừa góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo liêng thiêng của Tổ quốc.

  • Trích báo cáo Kỷ niệm 40 năm thành lập huyện đảo Phú Quý

Giá trị sản xuất bình quân ước tính đạt xấp xỉ 125 triệu đồng/người/năm.

Đặc điểm các ngành kinh tế chính: Kinh tế của Phú Quý chủ yếu là kinh tế nông – ngư nghiệp. Trong những năm gần đây Phú Quý còn phát triển về thương mại và dịch vụ. Đến tháng 8 năm 2022, huyện Phú Quý hiện có 1.406 tàu cá/236.582 CV, trong đó có 509 chiếc có công suất từ 90 CV trở lên, tham gia khai thác xa bờ, góp phần đưa sản lượng khai thác hải sản toàn huyện đạt 27.000 tấn/năm. Nuôi trồng thủy sản chủ yếu nuôi lồng bè trên biển, toàn huyện có 70 cơ sở nuôi lồng bè với tổng diện tích 10.730m2.

Hiện nay, diện tích sản xuất nông nghiệp của huyện Phú Quý khoảng 1.332 ha, trong đó: Diện tích trồng cây ngắn ngày 830 ha và trồng cây lâu năm 502 ha. 198,07 ha rừng và đất lâm nghiệp – thuộc các Tiểu khu 248A (54,04 ha), Tiểu khu 248B (33,98 ha) và Tiểu khu 248C (110,05 ha) – đối tượng rừng phòng hộ, lâm phận quản lý của Trạm Nông lâm nghiệp Phú Quý. Trong đó:

  • Đất có rừng: 135,51 ha, bao gồm: Rừng tự nhiên 17,31 ha và rừng trồng 118,2ha.
  • Đất chưa có rừng: 62,56 ha.

Ngoài ra, Trạm Nông lâm nghiệp Phú Quý hiện đang quản lý, bảo vệ diện tích đất lâm nghiệp có rừng nằm ngoài quy hoạch 3 loại rừng được thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước: 9,53 ha (rừng Hòn Tranh: 8,03 ha; Dự án kè chống xâm thực bảo vệ bờ biển: 1,5 ha). Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý. 

3.1.2.4. Tình hình văn hóa xã hội

  • Giáo dục – đào tạo

Sự nghiệp giáo dục – đào tạo luôn được quan tâm. Chất lượng dạy và học, số lượng học sinh ở các lớp, bậc học tăng lên hàng năm. Năm học 2021 – 2022, tổng số học sinh các cấp học  có 7.148 học sinh. Tỷ lệ thi đậu tốt nghiệp THPT và thi đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp đạt kết quả cao.

Hệ thống trường học được quan tâm đầu tư nâng cấp đồng bộ, cơ bản đáp ứng được nhu cầu dạy và học trong toàn huyện. Công tác đào tạo nghề được quan tâm đúng mức, Trung tâm dạy nghề huyện được đầu tư, góp phần nâng cao chất lượng lao động du lịch.

  • b. Y tế Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý.

Bệnh viện quân dân y tế huyện và mạng lưới y tế cơ sở luôn được quan tâm đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị, đội ngũ y, bác sĩ từng bước được đào tạo, cơ bản bảo đảm được công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ cho cán bộ, chiến sỹ và nhân dân. Tuy nhiên, cơ sở vật chất, trang thiết bị chuyên môn từ tuyến huyện đến tuyến xã hiện nay còn thiếu thốn, lạc hậu nên chưa hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân.

Hiện nay trên địa bàn huyện Phú Quý, ngành y tế có 04 đơn vị y tế đang duy trì hoạt động bao gồm:

Trung tâm Y tế Quân dân y, quy mô 70 giường bệnh;

Trạm Y tế xã Long Hải;

Trạm Y tế xã Tam Thanh;

Trạm Y tế xã Ngũ Phụng.

  • Văn hóa – Thể thao

Các thiết chế văn hóa được tiếp tục phát triển, nội dung và hình thức ngày càng phong phú ở huyện Phú Quý. Việc bảo tồn trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa địa phương được thực hiện tốt, quan tâm đầu tư cơ sở thiết yếu cho sự nghiệp văn hóa – thể thao. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở ngày càng phát triển rộng khắp và nâng cao chất lượng. Duy trì tốt việc tiếp, phát sóng các chương trình truyền hình VTV1, VTV3, HTV7, BTV, truyền hình cáp đã đi vào hoạt động, cơ bản phủ tuyến cáp trong toàn huyện, truyền hình kỹ thuật số mặt đất, vệ tinh có bước phát triển nhanh, hệ thống truyền thanh không dây FM được quan tâm đầu tư,… tạo nên chương trình đa dạng, phong phú.

  • d. Công nghệ thông tin, thông tin liên lạc

Mạng lưới thông tin liên lạc trên toàn huyện phát triển mạnh với 04 nhà mạng di động Vinaphone, Mobifone, Viettel, Vietnamobile, số thuê bao máy điện thoại các loại hiện là 3.690, đạt tỷ lệ 14 máy/100 dân, đến năm 2020 ước đạt 12 máy/100 dân và 485 thuê bao Internet ADSL, hệ thống truyền dẫn cáp quang có bước phát triển đảm bảo phục vụ tốt cho phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Đến năm 2022 số thuê bao vệ bờ biển: 1,5 ha).

  • e. An ninh trật tự

Lực lượng vũ trang luôn được củng cố, trưởng thành và phát triển về số lượng, chất lượng, quốc phòng – an ninh được giữ vững, nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và thế trận lòng dân luôn được phát huy hiệu quả, các công trình, cơ sở vật chất phục vụ cho quốc phòng được quan tâm đầu tư, từng bước bảo đảm cho lực lượng vũ trang hoạt động. Công tác bảo vệ an ninh chính trị nói chung và phòng chống nội gián được chú trọng thực hiện tốt. Công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội và phong trào toàn dân tham gia phòng ngừa, đấu tranh, tố giác tội phạm, giáo dục, cảm hoá được đẩy mạnh. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý.

3.1.2.5. Tài nguyên du lịch văn hóa

Phú Quý có tài nguyên du lịch văn hóa độc đáo thể hiện qua các di tích lịch sử văn hóa (gần 30 di tích văn hóa lịch sử với nhiều loại hình tín ngưỡng khác nhau), các lễ hội văn hóa dân gian, các làng nghề truyền thống, là điều kiện thuận lợi để phát triển các sản phẩm du lịch văn hóa.

  • Các di tích lịch sử – văn hóa

Một số di tích nổi bật tại Phú Quý:

Vạn An Thạnh (xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1996): Vị trí ở xã Tam Thanh, huyện Phú Quý, với kiến trúc kiểu đình làng và thờ khoảng 70 bộ xương cá voi. Được xây dựng năm 1781 gắn liền với lịch sử hình thành đảo Phú Quý, chứa đựng nhiều giá trị vật chất, tinh thần, tín ngưỡng nghề nghiệp của ngư dân đảo Phú Quý.

Đền thờ Công chúa Bàn Tranh (xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia năm 2020): Vị trí ở xã Long Hải, huyện Phú Quý, thờ một Nữ Thần của người Chăm. Nhân dân trên đảo gọi là miếu thờ Bà Chúa Xứ. Hiện trong đền còn có nhiều loại tượng bia bằng đá. Bà đã được các vua triều Nguyễn ban tặng nhiều sắc phong vì đã có công phù hộ cho người dân trên đảo được sống yên lành.

Chùa Linh Quang (xếp hạng di tích lịch sử thắng cảnh cấp quốc gia năm 1996): Nằm trên địa bàn xã Tam Thanh. Chùa xây dựng năm 1747, được xem là một trong những ngôi chùa cổ nhất của tỉnh Bình Thuận. Chùa còn lưu giữ nhiều tượng phật quý.

Đền thờ Bà Chúa Ngọc – Vạn Thương Hải (xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm 2012): Nằm trên địa phận thôn Thương Châu xã Ngũ Phụng huyện Phú Quý. Quần thể kiến trúc của di tích tuy được bố trí trong cùng một khuôn viên nhưng có hai chức năng thờ phụng khác nhau. Mỗi ngôi chính điện được trang trí ở ngoại thất và bài trí bên trong nội thất các khám thờ, các vật thờ, hoành phi, câu đối… thể hiện rõ chức năng, nội dung thờ phụng cũng như nét tín ngưỡng đặc sắc của người dân địa phương.  Di tích lịch sử cấp tỉnh vừa mới được công nhận có 5 sắc phong thần.

Đền thờ Thầy Sài Nại (xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm 2015): Nằm trên địa bàn xã Ngũ Phụng. Xây dựng cuối thế kỷ XVII, thờ thầy Sài Nại đã hiển linh cứu giúp người dân trên đảo. Nhân dân 9 làng của 3 xã luân phiên lưu giữ sắc phong, cúng tế trong một năm, là một tập tục độc đáo, riêng biệt của phú quý.

Chùa Thạnh Lâm: Chùa Thạnh Lâm tọa lạc tại xã Ngũ Phụng huyện Phú Quý, được tạo dựng vào cuối thế kỷ XVIII. Tại chùa còn lưu giữ trên 30 tượng Phật cổ với nhiều chất liệu như: đồng, gỗ và đất nung. Trải qua hơn 200 năm tồn tại, chùa Thạnh Lâm trở thành nơi sinh hoạt tôn giáo không thể thiếu của nhiều thế hệ người dân trên đảo Phú Quý.

Mộ Thầy Nại (Thầy Sài Nại): Được xây dựng từ thế kỷ 17, đây được xem

Chùa Linh Sơn – Núi Cao Cát: Tọa lạc trên đỉnh núi cao nổi tiếng với tầm nhìn ngoạn mục dễ dàng phóng xa tầm mắt xung quanh đảo, nơi đây như một bức tranh hữu tình với không khí trong lành và mát mẻ trên đỉnh núi đặt tượng Phật bà Quan Âm uy nghi bên những vách đá cao vút với những hình thù độc đáo. Đây là nơi người dân trong hòn đảo này thường lui tới để bái phật cầu bình. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý.

Đình làng Triều Dương (xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm 2012): Nằm trên địa bàn xã Tam Thanh.

Đình Vạn Hội An (xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm 2017): Nằm trên địa bàn xã Tam Thanh.

Vạn Mỹ Khê (xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm 2017): Nằm trên địa bàn xã Tam Thanh.

Đình làng Long Hải (còn gọi là Nhà Vuông) (xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm 2015): Nằm trên địa bàn xã Long Hải.

Đền thờ Bà Chúa Ngọc – Miếu Cây Da (xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm 2020): Nằm trên địa bàn xã Long Hải.

  • Lễ hội

Một số lễ hội tiêu biểu như:

Lễ hội rước sắc thầy: Lễ hội vào ngày 04/4 âm lịch.

Lễ hội Công chúa Bàn Tranh: Diễn ra vào ngày 03/01 âm lịch.

Lễ hội Cầu ngư: Diễn ra đầu năm sau Tết Nguyên đán.

  • Làng nghề truyền thống

Làng nghề trên đảo: Nuôi hải sản lồng bè ở Lạch Dù xã Tam Thanh, đan gùi, đan võng ở xã Ngũ Phụng, nghề lặn ốc xã Long Hải….

  • Các đặc sản, văn hóa ẩm thực

Văn hóa ẩm thực: Mang hương vị đậm đà của những món ăn đặc sản vùng biển như hải sâm, cua huỳnh đế, cua mặt trăng, tôm hùm, gỏi ốc, chè rau câu,… Cần khai thác nghệ thuật ẩm thực trong các tuyến du lịch, giới thiệu hình ảnh Phú Quý qua các món ăn đặc sắc, hấp dẫn.

Hình 3.14: Ẩm thực của đảo Phú Quý

3.1.3. Đánh giá tiềm năng tài nguyên du lịch Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý.

3.1.3.1. Điểm mạnh

Vị trí địa lý thuận lợi nằm giữa các trung tâm du lịch, nằm cạnh đường hàng hải quốc tế.

Vị trí địa lý: Nằm giữa các trung tâm du lịch như: Phan Thiết – Nha Trang – Đà Lạt, Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu. Bên cạnh đó, đảo Phú Quý tiếp cận với tuyến hàng hải quốc tế, có cảng Phú Quý thuận lợi cho du lịch đường biển quốc gia – quốc tế.

Tài nguyên du lịch, bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên văn hóa rất phong phú và đa dạng, đặc biệt là các giá trị sinh thái, nguồn lợi sinh vật biển. Đây là tiền đề quan trọng cho việc phát triển nhiều loại hình du lịch: du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng biển, du lịch thể thao biển,… nhiều sản phẩm du lịch hấp dẫn, có khả năng cạnh tranh cao.

Các bờ biển tương đối nông, nhiều gió, dãy cát ven biển phù hợp với các loại hình thể thao biển: lướt ván buồm, lướt ván diều, ….

Là vùng có đặc trưng “Biển xanh – cát trắng – nắng vàng”. Các làng nghề truyền thống đa dạng và phong phú.

Văn hóa ẩm thực có đặc trưng riêng.

3.1.3.2. Điểm yếu

  • Nhiều lợi thế tài nguyên thiên nhiên còn lãng phí và chưa khai thác phát triển du lịch hiệu quả.
  • Chưa khai thác tiềm năng du lịch làng nghề truyền thống.

3.2. Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý.

3.2.1. Khách du lịch

Tốc độ tăng trưởng khách du lịch đến huyện Phú Quý giai đoạn 2015 – 2022 đạt 15,65%/năm. Năm 2021, khách du lịch đến đảo Phú Quý đạt 7.050 lượt khách, chiếm 0,16% tổng số khách đến tỉnh Bình Thuận. Khách du lịch tăng lên trong những năm gần đây nhờ chủ trương hướng về biển đảo, đặc biệt là công tác tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch của Phú Quý. Năm 2022 ước tính có khoảng 16.600 lượt khách đến đảo Phú Quý, chiếm 0,32% so với tỉnh Bình Thuận. Nguồn khách chính đến từ Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh miền Tây Nam Bộ và miền Bắc.

Khách du lịch đến Phú Quý chủ yếu là khách nội địa, khách quốc tế chiếm tỷ lệ nhỏ. Hàng năm, có khoảng 100 – 200 khách Việt kiều về thăm quê với mục đích thăm thân. Khách nội địa đến Phú Quý chủ yếu là giới trẻ chiếm khoảng 60 – 70% khách du lịch đến Phú Quý, tập trung đông vào các đợt lễ hội, ngày lễ, ngày tết, thứ bảy, chủ nhật.

Ngày lưu trú trung bình của khách du lịch năm 2022 đạt 3,5 ngày.

Khách du lịch đến đảo Phú Quý trong những năm qua không ổn định do những nguyên nhân khách quan và chủ quan như: Điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng tại đảo và tiếp cận đảo đã và đang được đầu tư trong mấy năm gần đây; điều kiện khí hậu thời tiết cũng hạn chế việc khách du lịch đến đảo; công tác xúc tiến quảng bá du lịch còn hạn chế,…

Hình 3.15: Biểu đồ hiện trạng khách du lịch đến Bình Thuận và huyện Phú Quý

3.2.2. Đánh giá hệ thống kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ phát triển du lịch Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý.

3.2.2.1. Đánh giá hiện trạng và các dự án phát triển giao thông

  • Đường bộ

Hệ thống giao thông cũng được bê tông hóa với trên 21 km mặt đường.

Mạng lưới giao thông đường bộ: Mật độ mạng lưới giao thông đường bộ trung bình của huyện Phú Quý 5,4 km/km2, 3,52km/1.000 dân.

Đường huyện, đường đô thị: 44,01km/21tuyến (0,96km đường bê tông xi măng; 38,8km đường láng nhựa, 4,24km đường cấp phối sỏi đỏ).

Đường xã: 8,84km/10 tuyến (1,85km đường bê tông xi măng; 7,0km đường láng nhựa).

Đường giao thông nông thôn: 43,24km/273 tuyến (25,3km đường bê tông xi măng, 17,94km đường sỏi đỏ).

Tổng chiều dài đường bộ: 96,09km.

  • Vận tải biển

Tuyến vận tải biển Phan Thiết – Phú Quý có đội tàu gồm 05 khách và 02 tàu vận tải biển.

Tàu khách Bình Thuận 16: Năng lực khai thác 160 khách+50 tấn hàng.

Tàu khách Bình Thuận 18: Năng lực khai thác 160 khách+50 tấn hàng.

Tàu khách trung tốc Hưng Phát: Năng lực khai thác 250 khách.

Tàu khách Quê Hương: Năng lực khai thác 165 khách+55 tấn hàng.

Tàu khách Phú Quý 07: Năng lực khai thác 150 khách+100 tấn hàng.

Tàu vận tải Hoàng Phúc 09: Năng lực khai thác 600 tấn hàng.

Tàu vận tải Hoàng Phúc 27: Năng lực khai thác 1.000 tấn hàng.

Cảng Phú Quý: Cảng Phú Quý là cảng tổng hợp được đầu tư xây dựng cơ bản hoàn chỉnh (bến cập tàu, kè bờ, đê chắn sóng, kho bãi,…), phục vụ cho nhu cầu vận tải và hậu cần nghề cá, là cửa ngõ chính nối huyện đảo với đất liền và thế giới bên ngoài. Cảng Phú Quý có những ưu thế như vị trí kín gió và mớn nước khá sâu có thể tiếp nhận các loại tàu vận tải có trọng tải đến 1.000 tấn; Bến cập tàu khách + tàu cá dài 139m, bến cập tàu hàng dài 51m.

Hiện trạng luồng tuyến vào cảng Phú Quý:

Luồng tàu 01 chiều cho tàu 1.000 DWT.

Chiều rộng đáy luồng 50 mét.

Chiều dài toàn tuyến luồng 3,2 km.

  • Sân bay Phú Quý Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý.

Nằm trên điạ bàn xã Ngũ Phụng, huyện Phú Quý. Sư đoàn Không quân 370 trực tiếp quản lý, sử dụng diện tích 25.736 m2, đã cắm 02 biển báo, 19 cột mốc.

Hiện trạng sử dụng: Sân bay có đường băng là ghi nhôm (chiều rộng 80m, chiều dài 200m) có 01 nhà ga, hai bên hành lang đường băng là đất trống.

Sân bay sử dụng làm bãi hạ cánh cho trực thăng thường xuyên thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, diễn tập; phục vụ các nhiệm vụ quốc phòng – an ninh, cứu hộ – cứu nạn và các phương án tác chiến.

3.2.2.2. Hiện trạng và các dự án hạ tầng kỹ thuật khác (cấp điện, cấp nước, thu gom và xử lý chất thải rắn,…) trên địa bàn khu du lịch

  • a. Cấp điện

Nguồn cấp điện: Tổng cộng các nguồn cấp điện hiện tại trên đảo khoảng 12.000 KW, gồm:

Nhà máy phát điện diesel với tổng công suất 5.000kW (6x500kW + 2×1.000kW);

Nhà máy điện gió Phú Quý với tổng công suất 6.000kW (3×2.000kW);

Các máy phát điện của các hộ gia đình, cơ sở sản xuất khoảng 30 máy phát điện với tổng công suất 1.000kW.

Hệ thống đường dây 22kV: 26,2km; đường dây 12,7kV: 02km; Trạm biến áp (TBA) 22/0,4kV: 29 trạm/4.428 KVA; TBA 12,7/0,2kV: 12 trạm/370 KVA; đường dây 0,4-0,2kV: 37,3km; 6.663 điện kế khách hàng.

Điện năng thương phẩm: 14,926 triệu kWh/năm 2022.

  • Cấp nước

Hiện nay, huyện đảo đã được đầu tư 120 giếng khoan bơm tay UNICEF để phục vụ nước sinh hoạt.

Hiện nay tại huyện có 1 trạm cấp nước với lưu lượng khai thác 680 m3/ngày đêm do Trung tâm nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý, được khai thác tại 2 cụm giếng khoan: Một cụm ở xã Ngũ Phụng, một cụm ở xã Long Hải. Hiện nay Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường được UBND tỉnh cấp phép thăm dò 2000 m3/ngày, đêm. Ngoài ra tại huyện đảo có 3 hộ được cấp phép khai thác nước dưới đất với tổng công suất 300 m3/ngày.đêm.

c. Hệ thống thoát nước và vệ sinh môi trường

  • Thoát nước Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý.

Toàn đảo chưa xây dựng hệ thống thoát nước chung, chủ yếu thoát nước tự nhiên đổ ra biển đảo.

Hiện tại, Phú Quý chỉ có 2 trạm xử lý nước thải: Một trạm là trạm xử lý nước thải công nghiệp với công suất Q = 1.400 m3/ ngày và một trạm xử lý nước thải khu vực gần cảng với công suất Q = 1.000 m3/ ngày. Còn lại, chưa có hệ thống thoát nước thải riêng, chủ yếu tự ngấm và thoát qua đường nước mưa.

Hệ thống thoát nước chưa được thu gom xử lí gây ảnh hưởng đến mạch nước ngầm nông.

Đối với các hộ dân nuôi thủy sản chưa được thu gom xử lí nước thải gây ảnh hưởng đến mạch nước ngầm nông.

  • Vệ sinh môi trường

Rác thải: Hiện tại có 1 bãi rác với diện tích 5 ha khu vực xã Ngũ Phụng. Tuy nhiên, chưa được thu gom xử lí tập trung, nhất là đối với các hộ nuôi thủy sản gây ô nhiễm môi trường.

Nghĩa địa: Hiện tại, phía Bắc có khu nghĩa địa tập trung tại xã Long Hải có diện tích 5ha, ngoài ra còn một số mộ chôn lấp gần nhà.

Nhận xét: Hệ thống hạ tầng kĩ thuật hiện tại cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu của dân cư trên đảo và khách du lịch. Tuy nhiên, các hệ thống xử lý rác thải, nước thải bảo vệ môi trường vẫn chưa được đáp ứng. Đặc biệt, lịch trình các tàu thuyền ra đảo chất lượng chưa cao vẫn bị phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết. Trong tương lai cần có những giải pháp nâng cấp và xây dựng hệ thống hạ tầng kĩ thuật để phục vụ nhu cầu phát triển du lịch.

3.2.2.3. Hiện trạng hệ thống các công trình văn hóa, thể thao và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch khác

Nhìn chung, các công trình văn hóa, thể thao trên đảo tương đối phát triển đáp ứng nhu cầu của dân cư và phục vụ phát triển du lịch.

Huyện Phú Quý hiện có 13 cơ sở karaoke, trong đó có 10 cơ sở tại xã Tam Thanh, 3 cơ sở tại xã Long Hải.

Bên cạnh đó, huyện có 31 nhà hàng ăn uống và 3 khu vui chơi giải trí: Trung tâm văn hóa – trung tâm huyện (Quý Thạnh, xã Ngũ Phụng), Khu vui chơi trẻ em Quang Linh (Mỹ Khê, xã Tam Thanh) và dịch vụ vui chơi CLB Thiếu nhi (Trung tâm VH-TT Long Hải).

Kết cấu hạ tầng thương mại phục vụ du lịch: Hiện trên địa bàn huyện Phú Quý có 03 chợ đạt chuẩn tiêu chí 7 – cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn (chợ Tam Thanh, chợ Long Hải, chợ Ngũ Phụng) và 01 chợ huyện Ngũ Phụng; 04 cửa hàng xăng dầu trên đất liền; 05 tàu dầu trên biển (trong đó có 02 tàu dịch vụ hậu cần nghề cá). Huyện Phú Quý đạt chuẩn nông thôn mới tại Quyết định số 1916/QĐ-TTg ngày 05/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ công nhận huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận đạt chuẩn nông thôn mới năm 2020. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý.

3.2.3. Lao động ngành du lịch

Lao động du lịch huyện Phú Quý được tăng lên rõ rệt qua các năm, tuy nhiên không đồng đều. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2015 – 2022 đạt 10,74%/năm. Năm 2022, lao động du lịch đạt 621 lao động, tăng gấp 2 lần so với năm 2015, chiếm 4% so với lao động du lịch tỉnh Bình Thuận.

Đánh giá chất lượng nhân lực du lịch: Nguồn nhân lực tương đối dồi dào nhưng về trình độ chuyên môn kĩ thuật được đào tạo còn tương đối thấp.

Hình 3.16: Biểu đồ hiện trạng lao động du lịch của tỉnh Bình Thuận và huyện Phú Quý

3.2.4. Tổng thu từ khách du lịch

Tổng thu từ khách du lịch huyện Phú Quý được tăng lên rõ rệt qua các năm, tuy nhiên không đồng đều. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2015 – 2022 đạt 14,11%/năm. Năm 2021 tổng thu từ khách du lịch đạt 18.295 triệu đồng, tăng gấp 1,03 lần so với năm 2015, chiếm 0,20% so với tổng thu từ khách du lịch tỉnh Bình Thuận. Năm 2022, ước tính tổng thu từ khách du lịch của huyện Phú Quý đạt 44.820 triệu đồng, chiếm 0,41% so với tổng thu từ khách du lịch tỉnh Bình Thuận.

Hình 3.17: Biểu đồ hiện trạng tổng thu từ khách du lịch của tỉnh Bình Thuận và huyện Phú Quý

3.2.5. Các sản phẩm du lịch

  • Du lịch sinh thái biển: Ngắm các bãi san hô,….
  • Du lịch văn hóa, tâm linh: Một số điểm tham quan được khai thác phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch như Chùa Linh Sơn, Chùa Linh Bửu, Di tích Lăng cô Mỹ Khê, Đền thờ Bà Chúa Ngọc – Vạn Thương Hải, Vạn An Thạnh, ….
  • Du lịch cộng đồng: Du khách đến du lịch có thể nghỉ ngơi tại nhà của người dân trong huyện và tìm hiểu về các lễ hội truyền thống của người dân.
  • Du lịch tham quan: Tham quan các điểm du lịch như Hòn Tranh, Phong điện Phú Quý, Hải Đăng Phú Quý, Bãi Đá, Bãi Nhỏ….
  • Du lịch tắm biển tại Vịnh Triều Dương, Bãi Nhỏ Gành Hang,…
  • Du lịch trải nghiệm: Thăm quan và trải nghiệm làng nghề nuôi thủy hải sản tại Lạch Dù…

Về dịch vụ du lịch:

  • Mới chỉ đáp ứng các loại dịch vụ cơ bản cho khách du lịch về chỗ ăn, chỗ ngủ, đi lại bằng tàu cao tốc, thuyền mủng, xe máy,… Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý.
  • Chưa có các dịch vụ vui chơi giải trí phục vụ khách du lịch.
  • Chưa hình thành các sản phẩm giá trị gia tăng khai thác từ tài nguyên.
  • Sản phẩm hàng hóa: Mới phát triển hàng hóa là sản phẩm nông sản, thủy sản, chưa có các sản phẩm lưu niệm độc đáo gắn với đảo Phú Quý.

3.3. Đánh giá hiện trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý theo các chỉ tiêu du lịch chủ yếu

3.3.1. Thị trường khách du lịch

  • Khách du lịch quốc tế:

Tập trung phát triển các thị trường truyền thống của tỉnh Bình Thuận hiện nay, đặc biệt chú trọng đến các thị trừng truyền thống của Khu du lịch quốc gia Mũi Né. Giai đoạn đến năm 2030 chủ yếu tiếp cận các thị trường truyền thống như Đông Âu, Trung Quốc, Hàn Quốc, ASEAN, Tây Âu, Bắc Âu, Bắc Mỹ,… xây dựng hình ảnh Phú Quý như một điểm đến mơi hấp dẫn cần khám phá. Giai đoạn sau năm 2030 củng cố và mở rộng vị trí trên các thị trường truyền thống và tiếp cận, xâm nhập các thị trường mới như Nhật Bản, Châu Đại dương, Ấn Độ và Trung Đông.

  • Khách du lịch nội địa:

Chủ yếu tập trung và phân khúc khách có mức thu nhập khá trở lên từ các đô thị với các phân khúc khách du lịch nghỉ dưỡng, tham quan và văn hóa tâm linh. Giai đoạn đến năm 2030 tiếp cận như một điểm đến nối dài từ Khu du lịch quốc gia Mũi Né, giai đoạn sau 2030 mở rộng thị trường như một điểm đến độc lập, ưu tiên phát triển phân khúc khách cao cấp.

3.3.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch

Hiện tại, trên địa bàn huyện có 31 cơ sở dịch vụ lưu trú đang hoat động với tổng số 249 buồng. Trong đó có 21 nhà nghỉ, ngoài ra còn có 10 cơ sở lưu trú khác. Nhìn chung, số lượng cơ sở lưu trú ở Phú Quý đã đáp ứng nhu cầu khách trong ngày bình thường. Tuy nhiên, vào những dịp lễ tập trung đông khách du lịch vẫn có thể xảy ra tình trạng thiếu buồng. Tại Phú Quý chưa có cơ sở lưu trú du lịch được xếp hạng để có thể đón khách du lịch có khả năng chi trả cao hoặc khách du lịch quốc tế.

3.3.3 Không gian phát triển du lịch Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý.

Các điểm du lịch: Vịnh Triều Dương, Bãi Nhỏ – Gành Hang, Chùa Linh Sơn – Núi Cao Cát, Vạn An Thạnh, Vạn Liên Thành, Mộ Thầy,…

Các tuyến du lịch chính như: Chùa Linh Sơn – Núi Cao Cát – Hải Đăng Núi Cấm – Vịnh Triều Dương – Bãi Doi Dừa – Gành Hang – Bãi Nhỏ,…

3.3.4 Đầu tư phát triển du lịch

Trong thời gian qua, du lịch vẫn chưa được quan tâm đầu tư, vẫn còn ở dạng tiềm năng, còn nhiều hạn chế như: Quy mô nhỏ lẻ, mang tính tự phát; việc khai thác du lịch còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng.

Cơ sở vật chất du lịch chưa được đầu tư đúng mức, chất lượng dịch vụ còn hạn chế, đặc biệt phương tiện vận chuyển khách du lịch từ đất liền ra đảo cần được đầu tư phát triển, cơ sở lưu trú, ăn uống,…

Dự án đầu tư du lịch tại đảo Phú Quý tính đến thời điểm hiện tại có 02 dự án, trong đó có 01 đang triển khai xây dựng (dự án Nhà hàng Khách sạn Sài Gòn – Đảo của Công ty TNHH Dịch vụ Du lịch Sail Travel, diện tích 1,9 ha).

01 dự án đã triển khai đi vào hoạt động (Dự án Khu du lịch sinh thái biển Long Vĩ của Công ty TNHH Dịch vụ Du lịch Long Vĩ, với diện tích 01 ha).

3.3.5. Môi trường phát triển du lịch

Trên đường đi và dọc bãi biển…đủ loại rác xuất hiện, từ rác sinh hoạt, rác thải nilong được tập kết thành từng đống, đến những vỏ trái dừa, vỏ chai nhựa nằm lăn lóc hay được sóng biển đưa tấp vào bờ như thế này. Phú Quý tuy chưa ngập rác như các đảo du lịch nổi tiếng Côn Đảo, Phú Quốc… song cũng đang phải đối mặt với sự gia tăng rác thải.

Với dân số gân 30 ngàn người và khách du lịch đến Phú Quý ngày càng nhiều, nên lượng rác thải sinh hoạt, trong đó có rác thải du lịch là rất lớn so với năng lực xử lý của địa phương. Ô nhiễm môi trường do rác thải đang là vấn đề đặt ra cho đảo.

Nhiều chủ lồng bè trước đây nuôi hải sản thì nay đã chuyển sang kinh doanh du lịch, phục vụ du khách vui chơi, ăn uống tại chỗ, nhưng chỗ vệ sinh, nơi bỏ rác thải lại chưa được đầu tư. Nhiều du khách vẫn vô tư xả rác ở các điểm du lịch.

Bên cạnh đó, vẫn còn một số cơ sở sản xuất kinh doanh, chế biến hải sản nằm xen kẽ trong khu dân cư nhưng chưa có cam kết bảo vệ môi trường, chưa có các biện pháp xử lý chất thải đã và sẽ là một vấn đề nan giải. Việc di dời và bố trí cho các cơ sở này vào các khu quy hoạch hay phải cách xa khu dân cư theo quy định sẽ gặp nhiều khó khăn và khó thực hiện được. Vì vậy, công tác quản lý môi trường vẫn còn những tồn tại mà việc giải quyết những tồn tại trên mang tính chiến lược, đòi hỏi có sự phối hợp với các ban ngành. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý.

Ông Ngô Tấn Lực, Phó chủ tịch UBND huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận:

Bên cạnh lượng dân số của huyện thì khách du lịch đến Phú Quý cũng ngày càng tăng, do đó vấn đề xử lý rác thải, chống ô nhiễm môi trường cũng được huyện hết sức quan tâm với rất nhiều giải pháp. Song song với xử lý rác trên bờ, huyện cũng hướng tới việc xử lý rác thải đại dương từ ngoài biển trôi tấp vào.

 Trước vấn nạn rác thải, tháng 3/2024, huyện Phú Quý đã triển khai dự án Nhà máy xử lý chất thải sinh hoạt và sản xuất phân hữu cơ, quy mô xử lý 70 tấn rác/ngày, sẽ giải quyết 100% lượng rác thải phát sinh hằng ngày tại đảo. Đồng thời thường xuyên tuyên truyền, vận động người dân, du khách bỏ rác đúng nơi quy định, hạn chế rác thải nhựa, đồng thời ra quân tổng vệ sinh làm sạch bờ biển hằng tháng.

Bảng 3.4: Đánh giá hiện trạng môi trường tại huyện đảo Phú Qúy

STT Phân loại ảnh hưởng Diện tích (m²) Tỷ lệ (%)
1 Khu vực ảnh hưởng đến nguồn nước mặt 2.172.793 27,16%
2 Khu vực ảnh hưởng đến nguồn nước ngầm 100.875 1,26%
3 Khu vực ảnh hưởng đến nước mặt và nước ngầm 436.790 5,46%
4 Khu vực tạo cảnh quan điều hòa không khí 2.485.137 31,06%
5 Khu vực gây bạc màu đât 1.180.518 14,76%
6 Khu vực có thể xảy ra cháy nổ 5.583 0,07%
7 Khu vực gây ra tiếng ồn và chất thải nguy hiểm 23.732 0,30%
8 Khu vực gây ra tiếng ồn 173.946 2,17%

(Nguồn: Thuyết minh tổng hợp điều chỉnh QH chung đô thị Phú Quý)

3.3.6. Các công tác khác Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý.

Nguồn nhân lực du lịch còn thiếu và yếu, chưa tương xứng với vai trò của một khu du lịch, hiệu quả kinh tế – xã hội của du lịch đối với cộng đồng dân cư còn thấp…

Các định hướng phát triển điểm du lịch chưa được hình thành rõ nét và chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển đảo Phú Quý thành khu du lịch.

ĐÁNH GIÁ CHUNG

  • Điểm mạnh:

Về vị trí: Là nơi tiếp cận với các đường hàng hải quốc tế sẽ thu hút đông đảo lượng khách tham quan từ mọi nơi trong nước và thế giới.

Về khí hậu: Quanh năm ấm áp, dễ chịu thuận lợi cho việc tổ chức các chuyến du lịch.

Về môi trường: Lượng khách du lịch chưa nhiều và dân cư chưa đông đúc nên chất lượng nguồn nước và vệ sinh môi trường vẫn được đảm bảo.

Hệ sinh thái, cảnh quan trên bờ biển còn tương đối nguyên vẹn, chưa bị tác động; tài nguyên văn hóa hấp dẫn, độc đáo, có ý nghĩa.

Về giao thông: Được đầu tư đồng bộ, hầu hết các tuyến đường đã được bê tông hóa, có các phương tiện hiện đại như tàu cao tốc, bên cạnh đó phương tiện đường thủy tàu thuyền trang bị đầy đủ và nâng cấp trong các năm qua.

  • Về tài nguyên du lịch

Có nhiều điểm cảnh quan tự nhiên đẹp, hoang sơ: Vịnh Triều Dương, Bãi Nhỏ – Gành Hang, Bãi Đá, Hòn Tranh và các đảo lân cận…

Có nhiều đền chùa, di tích lịch sử đẹp, nhiều dấu ấn tạo những điểm tham quan hấp dẫn khách du lịch.

Có nhiều điểm du lịch lạ mắt và đẹp như: Phong điện, Bờ Kè, Hải Đăng

  • Núi Cấm…
  • Phát triển du lịch:

Là một điểm đến còn mới trong tương lai sẽ thu hút được nhiều khách du lịch.

Lượng khách du lịch đến tham quan, nghỉ dưỡng có xu hướng ngày càng tăng.

Cơ sở lưu trú đã đáp ứng đủ với nhu cầu của khách du lịch.

Cơ sở ăn uống đa dạng.

  • Nguồn nhân lực lao động dồi dào.

Điểm yếu

  • Vị trí địa lý:

Nằm giữa biển khơi giao thông đi lại khó khăn.

Nằm cách xa đất liền nên việc di chuyển rất khó khăn nhất là mùa mưa bão người dân trên đảo có thể bị cô lập.

Khí hậu: Chịu ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới, bão. Gây khó khăn cho phát triển du lịch một vài tháng trong năm. Bên cạnh đó còn chịu ảnh hưởng của biển đổi khí hậu. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý.

Tài nguyên: Không có sông suối kênh mương nên khi mưa xuống nước chảy theo đường tụ thủy ra ngoài biển dẫn đến thiếu nguồn nước ngọt để sinh hoạt.

Hệ sinh thái: Do quy hoạch sử dụng đất chuyển từ đất tự nhiên sang xây dựng các khu nhà nghỉ, khách sạn chưa hợp lí nên dễ gây mất cân bằng hệ sinh thái. Các tài nguyên du lịch chưa được khai thác triệt để, hình ảnh du lịch chưa được quảng bá rộng rãi.

  • Phát triển du lịch:

Ngành du lịch của huyện có phát triển, nhưng chưa tương xứng với tiềm năng vốn có.

Công tác xúc tiến, kêu gọi đầu tư chậm, không tạo được sự chú ý và thu hút các nhà đầu tư đến với Phú Quý.

Các dịch vụ hoạt động trong lĩnh vực du lịch còn rất nhiều bất cập.

Công tác định hướng của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở địa phương chưa thật sự đồng bộ.

Lượng khách đến tham quan chưa đa dạng, chỉ tập trung chủ yếu ở các khu vực lân cận.

Các cơ sở lưu trú: Nhỏ lẻ, chủ yếu do người dân tự xây dựng, chưa có các khu khách sạn nghỉ dưỡng lớn, độc đáo.

Nguồn nhân lực: Dồi dào nhưng chưa được đào tạo bài bản về kĩ năng và phong cách phục vụ chưa chuyên nghiệp.

Hoạt động marketing, quảng bá còn rất hạn chế.

  • Cơ hội

Kết nối rộng rãi với các nước trong khu vực Đông Nam Á.

Có tiềm năng trở thành 1 khu du lịch biển đảo đẹp của khu vực.

Thu hút nhiều khách du lịch ở trong và ngoài nước.

Nằm ở vị trí chiến lược trên vùng biển của đất nước do đó sẽ nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước trong việc phát triển kinh tế – xã hội. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý.

Là 1 trong 41 điểm du lịch quốc gia đang được đẩy mạnh đầu tư và phát triển.

  • Thách thức

Là huyện đảo nên giao lưu với các địa phương khác hết sức khó khăn đặc biệt khi thời tiết xấu.

Đầu tư cho cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch trên đảo chưa đáp ứng với tốc độ phát triển du lịch.

Thách thức từ các đối thủ cạnh tranh như: Cù Lao Chàm, Lý Sơn, đảo Phú Quốc, Côn Đảo, Cát Bà, Cô Tô,…

Đối với sản phẩm du lịch của Phú Quý thì có hai điểm đến có thể có sức cạnh tranh lớn nhất là các nơi có sản phẩm du lịch tương đồng (cùng loại). Đảo Phú Quốc là điểm đến đã phát triển ổn định, có sức hấp dẫn và thị trường khách lớn. Côn Đảo có vị trí địa lý gần Phú Quý nhất cũng đang trong quá trình phát triển và có khả năng được đầu tư phát triển trong cùng một giai đoạn sẽ xuất hiện sự cạnh tranh lớn trong việc thu hút thị trường.

3.4. Đề xuất giải pháp phát triển bền vững du lịch huyện đảo Phú Quý

3.4.1. Cơ sở đề xuất

3.4.1.1.Quan điểm phát triển

Thực hiện các quan điểm của Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2040. Trong đó, nhấn mạnh các quan điểm phát triển phù hợp với Khu du lịch Phú Quý.

Phát triển Khu du lịch Phú Quý đến năm 2040 phải phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội của huyện Phú Quý và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bình Thuận đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2040.

Phát triển Khu du lịch Phú Quý trên cơ sở khai thác có hiệu quả các thế mạnh đặc trưng về tài nguyên sinh thái biển, yếu tố văn hóa và yếu tố con người Phú Quý để xây dựng thương hiệu du lịch đặc trưng của huyện đảo.

Phát triển Khu du lịch Phú Quý trở thành điểm đến hấp dẫn nhằm thực hiện chủ trương đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, nhất là du lịch biển đảo, góp phần đưa ngành du lịch tỉnh Bình Thuận trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Phát triển Khu du lịch Phú Quý bền vững, bảo đảm quốc phòng – an ninh biển, đảo gắn với bảo tồn, phát huy các di tích lịch sử văn hóa, bảo vệ môi trường, thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu. Chú ý khai thác, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước ngọt trên đảo. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý.

3.4.1.2. Mục tiêu phát triển

  • Mục tiêu tổng quát

Đến năm 2030, Phú Quý trở thành khu du lịch trọng điểm của tỉnh Bình Thuận, phát huy tiềm năng lợi thế về du lịch nghỉ dưỡng biển, đảo gắn với di sản, tìm hiểu văn hóa biển, ẩm thực biển. Từng bước xây dựng Phú Quý là khu du lịch phát triển theo hướng du lịch xanh.

Đến năm 2040, Phú Quý đáp ứng đầy đủ các tiêu chí và trở thành khu du lịch cấp tỉnh, là khu du lịch biển đảo hấp dẫn, có vị trí quan trọng của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, của Việt Nam.

  • Mục tiêu cụ thể

Mục tiêu phát triển của Phú Quý trong quy hoạch tập trung vào việc khắc phục những hạn chế của khu vực trong thời gian hiện tại:

Cải thiện cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu của khách du lịch và đạt tiêu chuẩn khu du lịch.

Đa dạng hóa sản phẩm và nâng cấp chất lượng dịch vụ du lịch.

Tăng thời gian lưu trú của khách du lịch.

Phấn đấu đạt các chỉ tiêu:

Khách du lịch:

Đến năm 2025 đón khoảng 24 nghìn lượt khách, trong đó khách quốc tế khoảng 1 nghìn lượt khách, tốc độ tăng trưởng khách du lịch giai đoạn 2023 – 2025 khoảng 13,08%/năm.

Đến năm 2030 đón khoảng 45 nghìn lượt khách, trong đó khách quốc tế khoảng 3 nghìn lượt khách, tốc độ tăng trưởng khách du lịch giai đoạn 2021 – 2030 khoảng 13,40%/năm.Đến năm 2040 đón 74 nghìn lượt khách, trong đó khách quốc tế khoảng 6 nghìn lượt khách, tốc độ tăng trưởng khách du lịch giai đoạn 2026 – 2040 khoảng 10,46%/năm.

Tổng thu từ khách du lịch: Năm 2025 tổng thu từ khách du lịch đạt 75 tỷ đồng (tương đương 3 triệu USD); năm 2030 tổng thu từ khách du lịch đạt 192 tỷ đồng (tương đương 9 triệu USD); năm 2040 tổng thu từ khách du lịch đạt 380 tỷ đồng (tương đương 17 triệu USD).

Số lượng cơ sở lưu trú: Năm 2025 đầu tư nâng cấp các cơ sở lưu trú hiện tại để có 215 buồng đạt tiêu chuẩn phục vụ du lịch; năm 2030 có 340 buồng đạt tiêu chuẩn phục vụ du lịch; năm 2040 có 684 buồng đạt tiêu chuẩn phục vụ du lịch.

Về lao động du lịch: Năm 2025 tạo việc làm cho 660 lao động (trong đó 220 lao động trực tiếp); năm 2030 tạo việc làm cho 1.020 lao động (trong đó 340 lao động trực tiếp); năm 2040 tạo việc làm cho 2.040 lao động (trong đó 680 lao động trực tiếp).

3.4.2. Giải pháp phát triển bề vững du lịch huyện đảo Phú Quý

3.4.2.1. Quy hoạch và quản lý quy hoạch Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý.

  • Thực hiện tốt công tác quy hoạch điểm du lịch quốc gia tại Phú Quý; rà soát lại toàn bộ quy hoạch các khu, điểm du lịch và định hướng phát triển các khu, điểm dịch vụ – du lịch.
  • Quy hoạch chợ hải sản, khu ẩm thực đặc sản địa phương phục vụ nhân dân và du khách đến huyện.
  • Đề nghị cấp có thẩm quyền triển khai thực hiện Quy hoạch Khu bảo tồn biển Phú Quý theo Quyết định số 742/QĐ-TTg, ngày 26/5/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2025.
  • Khôi phục và phát triển một số nghề truyền thống tiêu biểu.

3.4.2.2. Thu hút đầu tư

  • Huy động các nguồn lực để nâng cấp hệ thống giao thông liên xã, liên thôn nhằm vừa đáp ứng nhu cầu dân sinh, vừa tạo điều kiện khai thác phát triển du lịch.
  • Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư các cơ sở lưu trú, nhà hàng, khách sạn với các loại hình dịch vụ tiện ích, phong phú đa dạng. Xây dựng chương trình văn hóa ẩm thực đặc sắc, đặc trưng nhằm tạo điều kiện cho du khách nâng cao chất lượng tour du lịch.
  • Phát triển các trung tâm thương mại – dịch vụ có chất lượng cao. Tiếp tục hiện đại hóa và nâng cao chất lượng phục vụ của các dịch vụ như: viễn thông, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, cấp điện, cấp nước, …
  • Tiếp tục kêu gọi đầu tư hệ thống giao thống vận tải biển, các phương tiện chở khách du lịch; thực hiện văn hóa giao thông, văn minh bến cảng có nền nếp, lịch sự.
  • Khẩn trương có kế hoạch chỉnh trang khu dã ngoại Vịnh Triều Dương giai đoạn 2, khu lạch dù…; xây dựng các nhà vệ sinh công cộng nhằm phục vụ tốt cho du khách.
  • Vận động các hộ kinh doanh tiến hành tổ chức phục vụ chợ đêm buôn bán các mặt hàng ẩm thực, quà lưu niệm,…
  • Khuyến khích các cá nhân, các doanh nghiệp tạo ra được nhiều sản phẩm trên cơ sở đăng ký thương hiệu độc quyền về sản phẩm của địa phương như: hải sản, hàng thủ công mỹ nghệ, trái cây đảo,…

3.4.2.3. Đa dạng hóa sản phẩm du lịch

  • Phấn đấu đến 2023 sẽ đưa vào khai thác 2 đến 3 điểm tham quan du lịch; có thêm nhiều sản phẩm du lịch phục vụ yêu cầu mở rộng không gian phát triển du lịch, hình thành thêm nhiều tour, tuyến trên địa bàn huyện.
  • Kêu gọi đầu tư phát triển và nâng cao chất lượng các sản phẩm, loại hình du lịch đặc thù như: Du lịch – thể thao biển, câu cá, lặn biến và khám phá sinh thái biển, du lịch tâm linh, làng nghề,…; ưu tiên phục vụ vui chơi giải trí cho du khách về đêm.
  • Xây dựng các chương trình khai thác văn hóa nghệ thuật bản địa, dân ca, hò vè, đối đáp, đờn ca tài tử,… để phục vụ và thu hút du khách. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý.
  • Đẩy mạnh việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để phát triển các sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu mua sắm và kích thích chi tiêu của du khách.

3.4.2.4. Tăng cường công tác tuyên truyền, xúc tiến, quảng bá về du lịch dịch vụ

  • Phối hợp các doanh nghiệp, Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch tỉnh đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá bằng nhiều biện pháp và nhiều đơn vị cùng tham gia.
  • Nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến du lịch thương mại đầu tư cho các sản phẩm đặc thù của địa phương đối với thị trường trong và ngoài tỉnh. Tranh thủ các nguồn lực, sự hỗ trợ của Tỉnh và các ngành Trung ương để đẩy mạnh công tác quảng bá du lịch đến những thị trường du lịch trọng điểm cả nước.
  • Xây dựng nội dung để thuyết minh, hướng dẫn ở các khu du lịch, điểm tham quan theo chủ đề phù hợp truyền thuyết và đặc thù của từng khu, điểm du lịch nhằm tạo sự đa dạng liên hoàn sản phẩm, góp phần tăng thời gian lưu trú của khách du lịch.
  • Phát hành các tập gấp, bản đồ du lịch, lô gô, đĩa video, thông tin trên website du lịch của huyện,… phối hợp tổ chức và tham gia các hội chợ, các lễ hội du lịch trong và ngoài tỉnh để giới thiệu, quảng bá sản phẩm du lịch của địa phương.
  • Xây dựng thông tin về dịch vụ và giá cả hàng hóa, trên trang thông tin điện tử du lịch huyện và hệ thống thông tin đại chúng để phục vụ du khách.

Tăng cường xây dựng các cụm pa nô, tờ gấp, xây dựng nội dung giới thiệu các di tích lịch sử văn hóa các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng và quảng bá hình ảnh Phú Quý trên các phương tiện thông tin đại chúng. Vận động các cá nhân, các doanh nghiệp đăng ký sử dụng bản quyền logo của huyện trên các sản phẩm.

3.4.2.5. Phát triển nguồn nhân lực

  • Tăng cường đào tạo cán bộ quản lý, hướng dẫn viên du lịch, lực lượng tiếp thị quảng bá, chào bán trực tiếp sản phẩm du lịch cho du khách và cung ứng cho các đơn vị hoạt động du lịch trên địa bàn.
  • Huy động và phát triển nguồn nhân lực tại chỗ nhằm đảm bảo cho người dân xung quanh các điểm du lịch được tham gia trực tiếp vào hoạt động kinh doanh dịch vụ – du lịch.
  • Khuyến khích đào tạo, bồi dưỡng trình độ, kiến thức về phục vụ du lịch và ngoại ngữ cho đội ngũ cán bộ, công chức, tiểu thương, lực lượng thanh niên địa phương, học sinh, đội ngũ tài xế, tiếp viên…
  • Đẩy mạnh hoạt động hướng nghiệp trong các trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông phát triển các ngành nghề, dịch vụ – du lịch.
  • Nâng cao chất lượng đào tạo nghề của Trung tâm GDNN-GDTX huyện, tổ chức các lớp bồi dưỡng ngắn ngày chuyên đề về nhà hàng, khách sạn. Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ, kiến thức, kỹ năng giao tiếp, ứng xử văn hóa cho lực lượng là nhân viên phục vụ nhà hàng, khách sạn…

3.4.2.6. Đảm bảo môi trường du lịch Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý.

  • Tăng cường giáo dục và nâng cao ý thức trong cộng đồng dân cư về gìn giữ bảo vệ môi trường; nâng cao trách nhiệm của cá nhân, tổ chức kinh doanh du lịch và dịch vụ – du lịch trong việc xử lý các loại chất thải phát sinh, khắc phục tác động tiêu cực đối với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội nhân văn, phòng chống các tệ nạn xã hội trong cơ sở kinh doanh du lịch.
  • Tăng cường công tác quản lý môi trường các hoạt động du lịch bao gồm hành vi du khách, địa điểm lưu trú, phương tiện vận chuyển, khu vui chơi giải trí. Đồng thời, thực hiện tốt công tác quản lý công viên cây xanh nhằm tạo mỹ quan và đảm bảo vệ sinh môi trường ở khu vực trung tâm, các khu dân cư.
  • Khuyến khích các công ty du lịch khi thiết kế tour có các chương trình đưa khách tham gia trồng cây và chăm sóc cây xanh.
  • Phổ biến, tuyên truyền về Luật Bảo vệ môi trường, Luật Du lịch, Quy tắt ứng xử trong du lịch,… xây dựng chương trình phong cách nếp sống người dân văn minh, lịch sự.
  • Đẩy mạnh cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa văn minh đô thị, tổ chức ngày chủ nhật xanh, tuần lễ môi trường tuyên truyền vận động người dân trồng cây xanh.
  • Tổ chức các khóa bồi dưỡng về quản lý tài nguyên và môi trường du lịch cho các doanh nghiệp kinh doanh du lịch và dịch vụ – du lịch.
  • Tổ chức ngăn chặn các hành vi quấy nhiễu du khách. Xây dựng, thành lập lực lượng bảo vệ khách du lịch để đảm bảo môi trường an toàn, tạo sự thân thiện đối với du khách.

3.4.2.7. Tăng cường quản lý Nhà nước về du lịch

  • Tăng cường cải cách hành chính theo cơ chế một cửa để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện các thủ tục đầu tư phát triển các dịch vụ – du lịch.
  • Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nhằm phát hiện, xử lý những vi phạm trong hoạt động kinh doanh du lịch như hoạt động sai chức năng, kinh doanh trái phép,… từng bước đưa hoạt động tổ chức kinh doanh của các tổ chức cá nhân kinh doanh du lịch vào trật tự, tạo môi trường kinh doanh ổn định.
  • Tăng cường công tác quản lý giá cả, đặc biệt trong các dịp Lễ, Tết. Chú trọng công tác đảm bảo niêm yết giá bán các mặt hàng đặc sản một cách triệt để, tạo tâm lý an tâm, tin tưởng cho du khách.
  • Thành lập Ban chỉ đạo phát triển du lịch của huyện; từng bước thành lập Ban quản lý các điểm du lịch khi đủ điều kiện.

3.4.2.8. Giải pháp về nguồn vốn

  • Tập trung huy động vốn từ tất cả các nguồn để đầu tư cho phát triển các khu, điểm du lịch, chú trọng vào việc xã hội hoá trong đầu tư phát triển du lịch và các dịch vụ – du lịch.
  • Hàng năm, UBND huyện bố trí kinh phí cho ngành du lịch để lập các quy hoạch khu, điểm du lịch nhằm kêu gọi đầu tư phát triển sản phẩm mới và tổ chức nâng cao chất lượng các dịch vụ – du lịch.

KẾT LUẬN Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý.

1. Kết luận

Thông qua những nghiên cứu và phân tích về đặc điểm tài nguyên và kinh tế – xã hội của huyện đảo Phú Quý, tác giả có những nhận định và kết luận về phát triển du lịch của huyện đảo như sau:

  1. Phú Quý hiện là địa phương có dân số đông, thậm chí có mật độ dân số cao nhất của tỉnh Bình Thuận. Trong những năm qua, dân số của huyện đảo tăng khá nhanh và phần lớn sự gia tăng này đến từ gia tăng tự nhiên, trong khi tỉ lệ gia tăng cơ giới của Phú Quý hiện đang ở mức âm do số dân di cư khỏi đảo hiện nay tương đối lớn. Tuy nhiên, trong tương lai, mặc dù tỉ suất gia tăng tự nhiên giảm nhờ những nỗ lực của ngành DS-KHHGĐ nhưng gia tăng cơ giới sẽ là nguyên nhân khiến tốc độ gia tăng dân số của Phú Quý tiếp tục duy trì.
  2. Hiện nay, nguồn lao động của Phú Quý khá dồi dào và được bổ sung liên tục qua các năm do dân số đông và vẫn gia tăng nhanh. Tuy nhiên, chất lượng nguồn lao động, nhất là trình độ khoa học kĩ thuật là một điểm yếu của Phú Quý.

Vì thế, mặc dù tỉ lệ lao động địa phương có việc làm tương đối cao nhưng phần lớn lao động vẫn làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản. Trong tương lai, bên cạnh nguồn lao động tại chỗ, Phú Quý sẽ thu hút thêm một số lao động ngoài địa phương đến làm việc do những khởi sắc của nền kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực dịch vụ.

  1. Dựa trên vị thế thuận lợi, cùng nguồn tài nguyên du lịch phong phú, hoạt động du lịch tại huyện đảo Phú Quý gia tăng mạnh mẽ cả về số lượng khách, cơ sở lưu trú và doanh thu du lịch. Định hướng phát triển của du lịch Phú Quý trong những năm tiếp theo là tập trung vào đa dạng hóa các sản phẩm du lịch trên cơ sở thế mạnh về du lịch biển. Với tốc độ tăng trưởng khách du lịch khoảng 1314%/năm, Phú Quý sẽ trở thành một khu du lịch biển trọng điểm của tỉnh Bình Thuận cũng như vùng Duyên hải Nam Trung bộ. Và mục tiêu của huyện đảo là thu hút khách du lịch quốc tế (vốn rất ít ỏi hiện nay) để góp phần nâng cao doanh thu du lịch của địa phương.
  2. Phú Quý là điểm đến có nhiều tiềm năng và điều kiện để phát triển thành khu du lịch và điều này đã được khẳng định trong định hướng phát triển ngành ở tầm vùng và tầm quốc gia. Với những đặc điểm nổi trội về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, lịch sử văn hóa, an ninh quốc phòng… huyện Phú Quý có những lợi thế rất lớn để phát triển du lịch. Tuy nhiên, trong những năm qua, hoạt động du lịch ở Phú Quý còn ở dạng tự phát, lượng khách du lịch đến Phú

Quý còn ít, cơ sở hạ tầng, vật chất du lịch còn hạn chế, tiềm năng du lịch chưa được khai thác hiệu quả.

  1. Đứng trước những điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của huyện đảo, nhằm phát triển bền vững du lịch tác giả đưa ra tám giải pháp cơ bản: Quy hoạch và quản lý quy hoạch; Thu hút đầu tư; Đa dạng hóa sản phẩm du lịch; Tăng cường công tác tuyên truyền, xúc tiến, quảng bá về du lịch dịch vụ; Phát triển nguồn nhân lực; Đảm bảo môi trường du lịch; Tăng cường quản lý Nhà nước về du lịch; Giải pháp về nguồn vốn.

2. Kiến nghị Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý.

Để khu du lịch Phú Quý phát triển tương xứng với lợi thế và tiềm năng, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội địa phương, kiến nghị:

  • Kính đề nghị Tỉnh và Trung Ương quan tâm hỗ trợ nguồn kinh phí cho địa phương để huyện Phú Quý có điều kiện trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử – văn hóa nhằm bảo tồn di sản văn hóa truyền thống biển đảo Phú Quý; hỗ trợ huyện xúc tiến quảng bá và đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch.
  • Kính đề nghị các cơ quan ban ngành có thẩm quyền đơn giản hóa các thủ tục đối với khách du lịch, đặc biệt là khách nước ngoài ra đảo Phú Quý. Đề xuất, khách nước ngoài có thể ra đảo làm giấy phép, thủ tục mà không cần phải đến phòng xuất nhập cảnh ở thành phố Phan Thiết làm giấy phép, thủ tục.
  • Kính đề nghị các sở ban ngành tỉnh và Trung ương nhanh chóng triển khai thành lập Khu bảo tồn biển Phú Quý.
  • UBND tỉnh tiếp tục chỉ đạo quyết liệt các đơn vị chức năng sớm hoàn chỉnh việc nạo vét cửa cảng Phan Thiết để tạo điều kiện thuận lợi cho tàu khách Phú Quý ra vào cảng.
  • Sớm công nhận khu du lịch Phú Quý, tỉnh Bình Thuận nhằm phục vụ tốt cho việc phát triển du lịch, nhất là du khách nước ngoài đến du lịch tại Phú Quý được thuận lợi hơn. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Phát triển du lịch bền vững huyện đảo Phú Quý

One thought on “Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch huyện đảo Phú Quý

  1. Pingback: Luận văn: Phương pháp nghiên cứu du lịch đảo Phú Quý

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464