Luận văn: Phát triển du lịch Thành phố Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Phát triển du lịch Thành phố Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Phát triển du lịch Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2017 – 2024 dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Ngày nay du lịch đã và đang trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống của mỗi người dân. Trong những năm gần đây, ngành du lịch, nhất là du lịch biển, đảo trên thế giới có tốc độ tăng trưởng rất nhanh và là nguồn thu lớn của nhiều quốc gia, cộng đồng địa phương đặc biệt là những nước phát triển.

Việt Nam có tài nguyên du lịch biển, đảo phong phú, đa dạng là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch. Thực tế hơn 30 năm đổi mới ngành Du lịch có sự tăng trưởng nhanh, liên tục, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Tốc độ tăng trưởng trung bình của khách du lịch quốc tế đạt 10,2%/năm, khách du lịch nội địa đạt 11,8%/năm. Năm 2023, du lịch Việt Nam đã đạt mức tăng kỷ lục cả về tốc độ và số tăng tuyệt đối, đã đón hơn 10 triệu lượt khách du lịch quốc tế, tăng 26% so với năm 2022, 62 triệu lượt khách du lịch nội địa. Tổng thu từ du lịch đạt hơn 400.700 tỷ đồng, tăng 19% so với năm 2022 đóng góp không nhỏ vào GDP của cả nước. Đầu tư của Nhà nước và tư nhân vào du lịch ngày càng tăng. Hệ thống khu, tuyến, điểm du lịch, doanh nghiệp du lịch được hoàn thiện, làm thay đổi diện mạo và ngày càng khẳng định vị thế của ngành du lịch trong đời sống KT-XH. Du lịch đã có tác động lan tỏa đến nhiều ngành, lĩnh vực; làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu, góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống, cải thiện diện mạo đô thị và nông thôn; bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc; đảm bảo an ninh, quốc phòng, giữ vững môi trường hòa bình, hữu nghị, tăng cường hiểu biết và nâng tầm vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Luận văn: Phát triển du lịch Thành phố Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa.

Thanh Hóa có 102 km đường bờ biển, tiềm năng phát triển du lịch phong phú, đa dạng với những di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh độc đáo đã tạo cho du lịch có vị thế đáng kể trong ngành du lịch Việt Nam, tạo dấu ấn trong lòng du khách quốc tế.

Sầm Sơn là điểm đến du lịch biển nổi tiếng không chỉ của Thanh Hóa mà của cả nước với những bãi biển đẹp, cảnh quan hấp dẫn cùng những giá trị di tích văn hóa lịch sử. Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến 2040 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại các Quyết định số 2473/QĐ-TTg ngày 30-12-2018 và số 201/QĐ-TTg ngày 22-01-2020 đều khẳng định vị trí quan trọng của Sầm Sơn với vai trò là khu vực có tiềm năng phát triển thành khu du lịch quốc gia và đô thị du lịch. Trong nhiều năm qua, lượng khách du lịch đến với Sầm Sơn ngày càng tăng. Du lịch Sầm Sơn đã có những đóng góp nhất định cho phát triển KT-XH địa phương, du lịch vùng Bắc Trung Bộ và cả nước. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công trên, du lịch Sầm Sơn vẫn chưa thực sự phát triển tương xứng với vị thế và tiềm năng của mình: hiệu quả kinh doanh du lịch còn hạn chế, thiếu sản phẩm đặc sắc có sức cạnh tranh, ảnh hưởng của tính mùa vụ trong hoạt động du lịch lớn, thiếu hình ảnh và thương hiệu, v.v.

Vậy làm thế nào để du lịch Sầm Sơn phát triển nhanh và bền vững và tương xứng với vị thế, tiềm năng, có nhiều đóng góp hơn nữa cho phát triển KT-XH của Thanh Hóa và Du lịch Việt Nam. Trong bối cảnh đó việc nghiên cứu gắn lý luận với thực tiễn và đưa ra các giải pháp để đẩy mạnh phát triển du lịch Sầm Sơn là rất quan trọng và cần thiết. Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi chọn đề tài “Phát triển du lịch Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2017 – 2024” để làm luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Địa lý học.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2. Mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

2.1 Mục tiêu của đề tài

Vận dụng cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch, luận văn tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng phát triển du lịch của thành phố Sầm Sơn giai đoạn 2017 – 2024. Từ đó, đưa ra định hướng và đề xuất các giải pháp cụ thể cho phát triển du lịch của thành phố giai đoạn 2025 – 2035, tầm nhìn đến năm 2040.

2.2 Nhiệm vụ của đề tài Luận văn: Phát triển du lịch Thành phố Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa.

Tổng quan cơ sở lí luận và thực tiễn về địa lý du lịch, phát triển du lịch, nhất là du lịch ven biển để vận dụng vào việc nghiên cứu phát triển du lịch và xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá sự phát triển du lịch ở TP Sầm Sơn.

Thu thập tài liệu, tư liệu, số liệu có liên quan phục vụ cho nội dung của đề tài luận văn. Khảo sát, kiểm kê, nghiên cứu các nguồn tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ du lịch của TP Sầm Sơn.

Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động du lịch của TP Sầm Sơn trong giai đoạn 2017 – 2024.

Đề xuất định hướng và những giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển du lịch TP Sầm Sơn giai đoạn 2025 – 2035, tầm nhìn đến năm 2040.

2.3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài

  • Về nội dung

Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích tiềm năng và đánh giá thực trạng phát triển du lịch của TP Sầm Sơn dưới góc độ địa lý kinh tế – xã hội.

Đề xuất định hướng và giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch phù hợp với các điều kiện của TP Sầm Sơn giai đoạn 2025 – 2035, tầm nhìn đến năm 2040.

  • Về không gian

Đề tài nghiên cứu giới hạn trong phạm vi TP Sầm Sơn.

  • Về thời gian

Đề tài tập trung điều tra, thu thập số liệu, nghiên cứu và phân tích trong giai đọan 2017 – 2024. Định hướng và giải pháp phát triển du lịch TP Sầm Sơn giai đoạn 2025 – 2035 tầm nhìn đến năm 2040.

3. Những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Luận văn: Phát triển du lịch Thành phố Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa.

3.1 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam

Lịch sử ngành du lịch Việt Nam được đánh dấu bắt đầu từ năm 1960, từ đó đến nay các công trình nghiên cứu địa lý du lịch tập trung vào các vấn đề về tổ chức không gian du lịch, cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu du lịch với một số tác giả tiêu biểu như PGS.TS Vũ Tuấn Cảnh, GS.TS Lê Thông, PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ, PGS.TS Đặng Duy Lợi, PGS.TS Phạm Trung Lương… Nhiều công trình nghiên cứu có giá trị trong lĩnh vực này đã được thực hiện như: Đề tài “Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam” do Vũ Tuấn Cảnh chủ trì (1991); “Cơ sở lý luận phương pháp nghiên cứu các điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch biển Việt Nam” do Nguyễn Trần Cầu và Lê Thông chủ trì (1993); “Quy hoạch quốc gia và vùng, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu” do Vũ Tuấn Cảnh, Lê Thông thực hiện (1994); Hai cuốn sách “Địa lý du lịch” (1996) và “Địa lý du lịch Việt Nam” (2017) do Nguyễn Minh Tuệ chủ biên; “Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam” do Phạm Trung Lương chủ biên (2000) … Nhiều địa phương cũng đã xây dựng quy hoạch tổng thể cho phát triển du lịch dưới sự giúp đỡ và hướng dẫn của Tổng cục du lịch như Thái Nguyên, Hải Phòng, Hà Nội, Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Bình Định, Phú yên, Khánh Hòa, TPHCM… với sự tham gia của các nhà khoa học có uy tín trong và ngoài nước [33].

Du lịch biển, đảo Việt Nam những năm gần đây có các công trình nghiên cứu như: Đề án phát triển du lịch biển, đảo và vùng ven biển Việt Nam đến năm 2030 của viện nghiên cứu phát triển du lịch, 2020; Ngoài ra còn có nhiều đề tài tiêu biểu về du lịch của các địa phương được thực hiện như luận án tiến sỹ: “Tổ chức lãnh thổ du lịch TP Hải Phòng” – Nguyễn Thanh Sơn (1997); Đề tài, Một số giải pháp đột phá phát triển du lịch vùng biển và ven biển Việt Nam của Lê Trọng Bình, 2014; Phát triển du lịch biển Đà Nẵng, luận văn thạc sĩ của Huỳnh Thị Mỹ Lệ, 2019…

3.2. Các công trình nghiên cứu ở Thanh Hóa

Nghiên cứu về du lịch và phát triển du lịch biển ở Sầm Sơn đã có một số nhà nghiên cứu, nhà báo trong nước và địa phương đề cập tới, Charles Robeguain (1929) Nhà xuất bản G.Van trong cuốn “Tỉnh Thanh Hoá” đã nhắc tới cảnh đẹp Sầm Sơn. Hoàng Tuấn Phổ trong cuốn “Thắng cảnh Sầm Sơn”, xuất bản năm 1983 đã đi sâu giới thiệu về những cảnh đẹp và phong tục tập quán truyền thống, những huyền thoại, sự tích của đất và người Sầm Sơn [14]; [9].

Năm 2014 để chuẩn bị cho lễ hội 100 năm du lịch Sầm Sơn, Ban tuyên giáo tỉnh uỷ Thanh Hoá đã xuất bản cuốn “Sầm Sơn xanh vẫy gọi” nêu khái quát lịch sử phát triển du lịch Sầm Sơn. Hay cuốn “Thị xã Sầm Sơn 30 năm xây dựng và phát triển (1981 – 2018)” của Thị Uỷ – Hội đồng Nhân dân – Uỷ ban Nhân dân – Uỷ ban Mặt trận Tổ Quốc Thị xã Sầm Sơn đã giới thiệu và có những đánh giá rất xác đáng về tài nguyên du lịch tự nhiên và văn hoá nhân văn của Thị xã [2].

Một số luận văn thạc sĩ cũng đề cập đến phát triển du lịch ở Sầm Sơn như: Hiện trạng, định hướng và giải pháp phát triển du lịch ở điểm du lịch Sầm Sơn (Thanh Hoá) – Luận văn thạc sĩ địa lý của Mai Duy Lục (1999), luận văn thạc sĩ  Kinh tế của Nguyễn Thị Phương Thanh (2022) Phát triển du lịch bền vững tại thị xã Sầm Sơn. Tiềm năng, thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Sầm Sơn – Luận văn thạc sĩ địa lý của Lưu Thị Ngọc Diệp (2015). Thực trạng dịch vụ du lịch biển tại thị xã Sầm Sơn – Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh của Phan Viết Linh. Định hướng nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch tại thị xã Sầm Sơn – Luận văn thạc sỹ ngành du lịch của Trần Quốc Hưng (2020); Trịnh Thị Tuyết (2024) “Nghiên cứu chất lượng sản phẩm du lịch biển Sầm sơn” Luận văn thạc sĩ Du lịch – Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội [25].

Như vậy, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu  về du lịch nói chung và du lịch Sầm Sơn nói riêng. Tuy nhiên, những nghiên cứu về Sầm Sơn mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu nhằm giới thiệu quảng bá du lịch. Nếu có nghiên cứu sâu về tiềm năng, thực trạng du lịch Sầm Sơn thì thời gian cũng đã cách đây nhiều năm, hoặc nghiên cứu về du lịch Sầm Sơn ở góc độ kinh tế, kinh doanh, du lịch. Dưới góc độ Địa lý học trước đây tuy có, nhưng chưa có đề tài nào xây dựng các tiêu chí đánh giá sự phát triển du lịch Sầm Sơn, hoặc chưa phỏng vấn, phát phiếu điều tra về mức độ hài lòng của du khách đối với khu du lịch Sầm Sơn. Do vậy thiếu cơ sở để đánh giá sự phát triển du lịch và xây dựng các giải pháp đẩy mạnh phát triển cho du lịch Sầm Sơn hiện tại và trong tương lai. Luận văn: Phát triển du lịch Thành phố Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa.

4. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

4.1 Quan điểm nghiên cứu

  • Quan điểm hệ thống

Hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thống mở phức tạp gồm nhiều thành phần có mối liên hệ chặt chẽ với nhau mang tính chất tổng hợp, có đủ các thành phần: tự nhiên, kinh tế – xã hội và chịu sự chi phối của nhiều qui luật cơ bản. Vì vậy quan điểm hệ thống luôn được tác giả quán triệt trong quá trình thực hiện đề tài.

Việc nghiên cứu phát triển du lịch Thành phố Sầm Sơn không thể tách rời với hiện trạng và xu hướng phát triển du lịch của Thanh Hóa, của Việt Nam. Quá trình phát triển du lịch của Sầm Sơn là một phần trong quá trình phát triển du lịch của tỉnh Thanh Hóa và của cả nước. Đồng thời TP Sầm Sơn chia ra các lãnh thổ nhỏ hơn như khu vực nội thành, khu vực ngoại thành, khu vực bãi biển, bờ biển, sông,  núi  …

  • Quan điểm tổng hợp – lãnh thổ

Trong một lãnh thổ, các yếu tố tự nhiên, kinh tế – xã hội luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo nên một thể tổng hợp thống nhất và hoàn chỉnh. Cơ cấu lãnh thổ TP Sầm Sơn được coi như một thể tổng hợp tương đối hoàn chỉnh. Vì thế, nghiên cứu đề tài tác giả đã vận dụng nghiên cứu trong mối quan hệ chặt chẽ với các điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, hoàn cảnh lịch sử và các chính sách phát triển kinh tế của thành phố, cũng như trong bối cảnh cả nước thực hiện công cuộc đổi mới. Trên cơ sở đó có những đánh giá mang tính tổng thể, nhằm khai thác tổng hợp tiềm năng và đề xuất những định hướng cũng như giải pháp cho phát triển trong tương lai.

  • Quan điểm lịch sử – viễn cảnh

Mọi sự vật, hiện tượng đều có sự vận động và biến đổi không ngừng. Trong nghiên cứu du lịch cần xem xét quá khứ, đánh giá hiện trạng (giai đoạn 2017 – 2024) để có thể đưa ra những dự báo hoặc định hướng phát triển trong tương lai (đến năm 2040). Quan điểm này được tác giả quán triệt và vận dụng xuyên suốt quá trình thực hiện đề tài.

  • Quan điểm phát triển bền vững Luận văn: Phát triển du lịch Thành phố Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa.

Phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu phát triển KT – XH của toàn nhân loại trong thế kỷ XXI. Phát triển du lịch bền vững trở thành xu hướng và mục tiêu phát triển ngành kinh tế du lịch của nhiều quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam trong hiện tại và tương lai. Vì vậy quan điểm phát triển này cần được soi sáng, vận dụng trong việc tổ chức quản lý, triển khai đánh giá các hoạt động du lịch trong nghiên cứu phát triển du lịch TP Sầm Sơn.

4.2 Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp thu thập, xử lý số liệu, tài liệu

Thu thập, xử lí thông tin, thu thập những tài liệu có liên quan ở các nguồn tin cậy, sắp xếp và xử lí tài liệu một cách khoa học, có hệ thống, phân tích từng nội dung đưa ra những kết luận đúng đắn nhất. Các thông tin, số liệu đã thu thập sẽ được thống kê, sắp xếp lại sao cho phù hợp với cấu trúc của đề tài, trình tự thời gian và lập ra các bảng biểu về quá trình phát triển KT – XH của TP nói chung và ngành du lịch nói riêng.

Đây là phương pháp cơ bản được sử dụng phổ biến trong hầu hết các công trình nghiên cứu khoa học. Phương pháp này được sử dụng đặc biệt có hiệu quả trong nghiên cứu tự nhiên và tổ chức khai thác lãnh thổ du lịch.

  • Phương pháp thực địa

Công tác thực địa có mục đích cơ bản là kiểm tra chỉnh lý và bổ sung những tư liệu về tài nguyên, cơ sở hạ tầng phục vụ trực tiếp cho hoạt động du lịch và các tài liệu liên quan khác; đối chiếu và lên danh mục cụ thể từng địa danh, thể loại liên quan du lịch và sơ bộ đánh giá các yếu tố cần thiết cho việc hình thành tổ chức không gian du lịch. Tác giả đã trực tiếp khảo sát thực địa tại các điểm, khu du lịch ở Sầm Sơn như khu vực bãi biển, khu vực Núi trường lệ, khu sinh thái Quãng Cư, khu nghỉ dưỡng sinh thái FLC, hòn Trống Mái, các đền, chùa tại TP Sầm Sơn.

  • Phương pháp bản đồ – GIS

Bản đồ – biểu đồ là phương pháp thể hiện trực quan, sinh động nhất các đối tượng nghiên cứu của Địa lý nói chung và Địa lý du lịch nói riêng. Bằng ngôn ngữ kí hiệu, bản đồ mô phỏng hình ảnh thu nhỏ một cách trung thực nhất các đối tượng nghiên cứu Địa lý du lịch với sự phân bố về mặt không gian lãnh thổ cũng như một số mặt về định lượng và định tính của đối tượng. Một số bản đồ tác giả  xây dựng như: Bản đồ vị trí TP Sầm Sơn, bản đồ Tài nguyên du lịch TP Sầm Sơn, bản đồ Hiện trạng phát triển du lịch Tp Sầm Sơn, bản đồ Các giai đoạn trong chu kỳ phát triển của điểm đến Sầm Sơn. Các bản đồ trên được xây dựng bằng kỹ thuật GIS với phần mềm MapInfo đảm bảo tính chính xác và trực quan. Tác giả đề tài cũng sử dụng nhiều biểu đồ thể hiện về sự phát triển du lịch Sầm Sơn (khách du lịch, doanh thu du lịch, lao động du lịch …).

  • Phân tích, tổng hợp, so sánh Luận văn: Phát triển du lịch Thành phố Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa.

Để trình bày và xử lý những số liệu điều tra, tác giả đã áp dụng phương pháp tính tỉ lệ phần trăm. Phương pháp này được thực hiện qua việc lập bảng thống kê các số liệu thu được và tính tỉ lệ phần trăm của các biến được chọn trong tổng số những phiếu điều tra. Ngoài ra, việc sử dụng thang đo xếp hạng theo thứ tự cho biết được khoảng cách giữa các thứ bậc. Các nguồn tư liệu đã thu thập sẽ được tiến hành so sánh, phân tích, tổng hợp sao cho phù hợp với các vấn đề cụ thể trong luận văn. Từ đó, sẽ có cái nhìn trung thực nhất về du lịch TP Sầm Sơn với những thông tin đã được tinh lọc có độ tin cậy cao.

  • Phương pháp thống kê du lịch

Phương pháp này nghiên cứu về mặt định lượng của các tiêu chí phát triển trong hoạt động du lịch ở TP Sầm Sơn. Những thông tin, số liệu có liên quan đến hoạt động du lịch ở địa phương sẽ thu thập, thống kê làm cơ sở cho việc xử lí, phân tích và đánh giá nhằm thực hiện những mục tiêu của đề tài đề ra.

  • Phương pháp điều tra xã hội học

Tác giả sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp phỏng vấn viết (đây là một nội dung của phương pháp điều tra xã hội học) để lấy ý kiến chủ quan của các chuyên gia, các nhà quản lý và du khách để đánh giá sự phát triển và mức độ hài lòng đối với khu du lịch Sầm Sơn về tài nguyên du lịch, chất lượng các dịch vụ, sản phẩm du lịch, về cơ sở hạ tầng, công tác quản lý du lịch… Chúng tôi đã điều tra 200 du khách, 30 chuyên gia và các nhà quản lý du lịch trên địa bàn theo phiếu đánh giá và phiếu điều tra [phụ lục 1, phụ lục 2].

  • Phương pháp dự báo

Phương pháp dự báo có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nghiên cứu, tổ chức hướng khai thác xây dựng các điểm, tuyến du lịch; sử dụng tài nguyên du lịch một cách hiệu quả. Tác giả đã sử dụng phương pháp ngoại suy để dự báo về số lượng khách, doanh thu du lịch, lao động làm du lịch, thị trường khách du lịch; dự báo về khả năng đầu tư, tôn tạo, nâng cấp các điểm du lịch; dự báo về phát triển cơ sở hạ tầng, tốc độ tăng trưởng và phát triển của ngành du lịch.

5. Những đóng góp chính của đề tài Luận văn: Phát triển du lịch Thành phố Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa.

  • Tổng quan được cơ sở lí luận và thực tiễn phát triển du lịch để vận dụng vào nghiên cứu phát triển du lịch tại TP Sầm Sơn – Tỉnh Thanh Hóa.
  • Xây dựng được hệ thống các tiêu chí đánh giá sự phát triển du lịch và vận dụng để đánh giá sự phát triển du lịch ở TP Sầm Sơn.
  • Phân tích, đánh giá được thực trạng hoạt động du lịch của TP Sầm Sơn trong thời gian từ năm 2017 đến 2024.
  • Khảo sát, đánh giá sự phát triển và điều tra xã hội học về và mức độ hài lòng của du khách đối với khu du lịch Sầm Sơn.
  • Đề xuất được định hướng và các giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch TP Sầm Sơn đến năm 2035 tầm nhìn đến 2040.

6. Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung của luận văn có 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển du lịch.
  • Chương 2: Hiện trạng phát triển du lịch TP Sầm Sơn giai đoạn 2017 – 2024.
  • Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch TP Sầm Sơn giai đoạn 2025 – 2035, tầm nhìn đến năm 2040.

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH

1.1. Cơ sở lí luận

1.1.1. Các khái niệm về du lịch

1.1.1.1. Khái niệm về du lịch

Luật Du lịch của Việt Nam do Quốc hội ban hành vào tháng 6 – 2012, có hiệu lực từ ngày 01/01/2013 ghi: “Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng các nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định” [17].

Tổ chức Du lịch Thế giới coi “Du lịch bao gồm tất cả những hoạt động của cá nhân đi, đến và lưu lại ngoài nơi ở thường xuyên trong thời gian không dài (hơn một năm) với những mục đích khác nhau ngoại trừ mục đích kiếm tiền hàng ngày”.

Luật Du lịch 2024 quan niệm về du lịch và hoạt động du lịch như sau:

“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”. Luận văn: Phát triển du lịch Thành phố Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa.

“Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch và cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư có liên quan đến du lịch” [16].

1.1.1.2. Tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch là điều kiện quan trọng để hình thành và phát triển du lịch của bất kỳ quốc gia hay lãnh thổ nào. Tài nguyên du lịch là tất cả các yếu tố thiên nhiên, nhân văn, xã hội và sự kiện có thể kích thích động cơ du lịch của khách du lịch, thu hút khách du lịch đến, được ngành du lịch khai thác để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch và mang lại lợi ích kinh tế xã hội cho quốc gia, địa phương.

Theo Luật Du lịch 2024 “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa” [16].

Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch thiên nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn.

  • Tài nguyên du lịch tự nhiên

Tài nguyên du lịch thiên nhiên bao là những yếu tố thuộc về tự nhiên được ngành du lịch đưa vào khai thác và phục vụ tham quan du lịch. Tài nguyên du lịch thiên nhiên là điều kiện hết sức quan trọng để phát triển loại hình du lịch sinh thái, thể thao, nghỉ dưỡng, nghiên cứu,… Đây cũng là thành phần không thể thiếu trong điều kiện hình thành và phát triển du lịch [23].

  • Tài nguyên du lịch nhân văn

“Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể sử dụng phục vụ mục đích du lịch” [23]. Luận văn: Phát triển du lịch Thành phố Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa.

1.1.1.3. Khách du lịch

Tổ chức Du lịch Thế giới cho rằng: “Khách du lịch là người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình trên 24 giờ và nghỉ qua đêm tại đó với nhiều mục đích khác nhau ngoại trừ mục đích kiếm tiền”.

Theo Luật Du lịch 2024 “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến” [16].

Khách du lịch được phân thành khách du lịch quốc tế và Khách du lịch nội địa.

Khách du lịch quốc tế (International Tourist)

Tổ chức du lịch thế giới đưa ra khái niệm khách du lịch quốc tế “Khách du lịch quốc tế là những người lưu trú ít nhất là một đêm nhưng không quá 01 năm tại một quốc gia khác với quốc gia thường trú với nhiều mục đích khác nhau ngoài hoạt động để được trả lương ở nơi đến”

  • Luật Du lịch 2024 (Điều 10) của Việt Nam phân biệt:
  • Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch.
  • Khách du lịch ra nước ngoài là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch nước ngoài [16].

Khách du lịch nội địa (Internal Tourist)

Theo Luật Du lịch 2024(Điều 10) “Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam” [16].

1.1.1.4. Sản Phẩm du lịch

Luật Du lịch của Việt Nam do Quốc hội ban hành vào tháng 6 – 2012, có hiệu lực từ ngày 01/01/2013 ghi: “Sản phẩm du lịch là toàn bộ những dịch vụ tạo ra các hàng hóa văn hóa mang tính đặc thù do các cá nhân và tổ chức kinh doanh du lịch cung cấp để phục vụ những nhu cầu của các đối tượng du khách khác nhau; nó phù hợp với những tiêu chí nghề nghiệp theo thông lệ quốc tế đồng thời chứa đựng những giá trị văn hóa đặc trưng bản địa; đáp ứng và làm thỏa mãn các mục tiêu KT-XH đối với các cá nhân, tổ chức và địa phương nơi đang diễn ra các hoạt động kinh doanh du lịch” [17].

Theo Luật Du lịch 2024 “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch” [16]. Luận văn: Phát triển du lịch Thành phố Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa.

Sản phẩm du lịch là một loại sản phẩm đặc biệt do nhiều loại dịch vụ và hàng hóa hợp thành với mục đích cơ bản là thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ của khách du lịch trong quá trình đi du lịch. Sản phẩm du lịch là sự kết hợp của những sản phẩm vật chất, sản phẩm tinh thần và dịch vụ [33].

Có nhiều quan niệm về Sản phẩm du lịch, tuy nhiên tác giả theo quan niệm: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”. Sản phẩm du lịch gồm sản phẩm du lịch đơn lẻ và sản phẩm du lịch hoàn chỉnh. Sản phẩm du lịch đơn lẻ là một số dịch vụ đơn lẻ như dịch vụ ăn uống, dịch vụ lưu trú… Sản phẩm du lịch hoàn chỉnh gồm nhiều sản phẩm du lịch đơn lẻ liên kết với nhau. Nhu cầu của khách du lịch đòi hỏi một sản phẩm du lịch hoàn chỉnh.

1.1.1.5. Phát triển du lịch

Khái niệm phát triển: Theo quan điểm của triết học phát triển là một quá trình vận động của sự vật, hiện tượng theo khuynh hướng từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.

Phát triển du lịch là sự gia tăng sản lượng và doanh thu cùng mức độ đóng góp du lịch cho nền kinh tế đồng thời có sự hoàn thiện về mặt cơ cấu kinh doanh, thể chế và chất lượng kinh doanh của ngành du lịch.

Theo Butler (1980) và được trích lại từ [1]; [10]; [13], các giai đoạn trong chu kỳ phát triển của điểm đến du lịch gồm:

Hình 1.1. Giả thuyết chu kỳ sống của khu du lịch của Butler (1980)

  • Thăm dò (exploration)

Giai đoạn này, điểm đến du lịch chưa được khai thác để phục vụ du lịch. Những người đến đây chủ yếu là các đối tượng thích phiêu lưu, mạo hiểm, các nhà thám hiểm. Họ bị hấp dẫn bởi những giá trị tài nguyên du lịch thiên nhiên còn hoang sơ hay những nền văn hóa chưa bị tàn phá ở điểm đến. Số lượng du khách đến đây rất ít vì khả năng tiếp cận điểm đến (giao thông đi lại) còn hạn chế; các tiện nghi, dịch vụ du lịch còn nghèo nàn, chưa phát triển. Hầu như, tại các điểm hấp dẫn du lịch chưa bị thay đổi bởi đầu tư du lịch và có mối liên hệ chặt chẽ với người dân địa phương.

  • Tham gia (involvement) Luận văn: Phát triển du lịch Thành phố Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa.

Giai đoạn này bắt đầu có sự tham gia của địa phương trong việc cung cấp những tiện nghi và dịch vụ cho du khách và sau đó tiến hàng quảng bá cho điểm đến. Điều này làm cho lượng khách du lịch đến đây thường xuyên và ngày càng tăng lên.

Mùa du lịch bắt đầu xuất hiện và chi phối đến hoạt động kinh doanh. Điểm đến cũng bắt đầu tạo áp lực cho các cơ quan nhà nước trong việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng đề phục vụ nhu cầu du lịch ngày càng tăng.

  • Phát triển (development)

Biểu hiện rõ nét của giai đoạn này là khách du lịch đến viếng thăm với số lượng lớn và tăng nhanh, thậm chí quá tải (vượt quá sức chứa của điểm đến) vào những thời kỳ cao điểm. Hoạt động du lịch có thể vượt xa tầm kiểm soát của địa phương. Điểm đến đã thu hút những nhà đầu tư từ bên ngoài cung cấp những tiện nghi và dịch vụ du lịch hiện đại hơn, làm thay đổi diện mạo của điểm đến du lịch. Tuy nhiên, điểm đến cũng bắt đầu nảy sinh những tiêu cực nhất định. Các vấn đề sử dụng quá mức và sự xuống cấp của các tiện nghi tồn tại do sự tăng nhanh của lượng khách du lịch đến thăm. Lúc này, vấn đề qui hoạch và kiểm soát hoạt động du lịch ở phạm vi quốc gia, vùng trở nên cần thiết, một phần khắc phục những vấn đề tồn tại, mặt khác có thể khai thác được một số thị trường khách quốc tế mới. Tại những thị trường này, du khách thường đi du lịch thông qua các chuyến đi của các đơn vị kinh doanh lữ hành.

  • Ổn định (consolidation)

Giai đoạn số lượt khách vẫn tăng và vẫn vượt quá sức chứa của khu vực nhưng tốc độ tăng thì chậm lại. Tại điểm đến đã có mặt đầy đủ các hình thức kinh doanh với đa dạng các loại hình dịch vụ du lịch chủ yếu và có các khu vực kinh doanh thương mại, giải trí riêng biệt, rõ ràng.

  • Ngừng trệ (stagnation)

Điểm đến đã đạt được số lượng khách đông nhất nhưng nó cũng không còn là mốt đối với khách du lịch nữa. Điểm đến không còn xa lạ với khách du lịch. Lúc này điểm đến chủ yếu dựa vào những chuyến viếng thăm lặp lại của du khách và kinh doanh trên các cơ sở, tiện nghi có sẵn. Mọi cố gắng của địa phương và doanh nghiệp nhằm đảm bảo duy trì nguồn khách và những chuyến viếng thăm. Điểm đến đã có thể tồn tại về môi trường, kinh tế, xã hội, văn hóa.

  • Suy giảm (decline)

Biểu hiện của giai đoạn này là số lượng khách giảm sút đáng kể do các điểm mới hấp dẫn hơn. Điểm đến dần dần nhàm chán với khách du lịch. Điểm đến có thể trở thành một khu trung chuyển khách mang tính chất địa lý cho các chuyến tham quan trong ngày hoặc là nơi nghỉ cuối tuần. Do ế ẩm nên các tài sản có sự luân chuyển quyền sở hữu cao; một số tiện nghi phục vụ du lịch như khách sạn, nhà hàng chuyển sang mục đích sử dụng hoặc kinh doanh lĩnh vực khác. Các cơ quan có trách nhiệm và thẩm quyền có thể đánh giá, xem xét giai đoạn này để đưa ra quyết định phục hồi điểm đến.

  • Hồi phục lại (rejuvenation) Luận văn: Phát triển du lịch Thành phố Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa.

Các chủ thể có liên quan tiến hành thực hiện các quyết định về chuyển mục đích sử dụng mới, các thị trường mới, kênh phân phối mới và thực hiện định vị lại điểm đến du lịch. Hay nói cách khác điểm đến du lịch được làm mới lại để tiếp tục thu hút khách. Chẳng hạn như thay đổi điểm hấp dẫn của điểm đến bằng cách khai thác thêm các tiềm năng tài nguyên du lịch của địa phương; thay đổi các tiện nghi, dịch vụ bổ sung, giải trí mới. Việc thực hiện các hướng phục hồi này thường có sự phối hợp giữa nhà nước và các doanh nghiệp tư nhân nhằm đầu tư đúng hướng để tìm kiếm thị trường mới hay bắt đầu phát triển một chu kỳ mới.

1.1.2. Các điều kiện phát triển du lịch 

1.1.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên

  • Vị trí địa lý

Vị trí địa lý của điểm đến du lịch gần hay xa nơi cư trú ảnh hưởng đến khách du lịch trên các khía cạnh: kinh phí đi lại, thời gian ở lại nơi du lịch và ảnh hưởng tới sức khỏe. Tuy nhiên, ngành hàng không đang phát triển mạnh và có xu hướng giảm giá có thể khắc phục phần nào những bất lợi trên cho khách du lịch.

  • Địa hình

Địa hình là yếu tố quan trọng góp phần tạo nên phong cảnh và sự đa dạng của điểm đến. Địa hình càng đa dạng, càng tương phản, độc đáo, phong phú càng có sức hấp dẫn khách du lịch. Việt Nam có 125 bãi biển có các điều kiện thuận lợi cho hoạt động nghỉ dưỡng, tắm biển và vui chơi giải trí, trong đó có nhiều bãi biển hấp dẫn như Lăng Cô, Trà Cổ, Sầm Sơn, Non Nước… Có nhiều vịnh đẹp có tiềm năng phát triển du lịch lớn như vịnh Hạ Long, vịnh Vân Phong, vịnh Cam Ranh… Trong tổng số có 2700 đảo lớn nhỏ ven bờ như Cù Lao Chàm, Cát Bà, Tuần Châu… Với các hệ sinh thái phong phú, cảnh quan đẹp là nơi có điều kiện hình thành các khu, điểm hấp dẫn du lịch; hơn 200 hang động đã được phát hiện, điển hình là động Phong Nha đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới [1].

  • Khí hậu

Những nơi có khí hậu ôn hoà thường được khách du lịch ưa thích. Mỗi loại hình du lịch đòi hỏi từng loại khí hậu khác nhau. Nghỉ biển đòi hỏi khí hậu không mưa, không lạnh; trong khi trượt tuyết đòi hỏi khí hậu rất lạnh. Những nơi có nhiệt độ thích hợp có thể cho phép khách phơi nắng vào ban ngày, còn ban đêm thì mát mẻ có thể dạo chơi, giải trí… thì sẽ thu hút được nhiều du khách. Nhiệt độ nước biển từ 20 – 25oC thích hợp cho khách du lịch tắm biển, nếu nhiệt độ nước biển dưới 20oC và trên 30oC là không thích hợp. Việt Nam có nhiều khu vực núi cao quanh năm mát lạnh như Sa Pa, Đà Lạt, Tam Đảo, Mẫu Sơn, Ba Vì…. thích hợp để phát triển du lịch. Luận văn: Phát triển du lịch Thành phố Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa.

  • Hệ động thực vật

Du lịch về với thiên nhiên đang trở thành một xu thế và nhu cầu phổ biến. Việt Nam có hệ sinh thái động thực vật rừng đa dạng. Đây là nguồn tài nguyên du lịch sinh thái quí giá, nơi bảo tồn khoảng 12.000 loài thực vật, gần 7000 loài động vật với nhiều loại đặc hữu và quí hiếm. Việt Nam có nhiều vườn quốc gia, khu bảo tồn rải khắp đất nước, tạo thuận lợi cho du lịch phát triển. Hệ thực vật của Thanh Hóa cũng rất đa dạng và phân bố ở Vườn Quốc gia Bến En, Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, Khu bảo tồn Pù Hu, … khá hấp dẫn du khách …

  • Sông ngòi

Chế độ thủy văn tạo ra bầu không khí mát mẻ, trong lành đồng thời có ảnh hưởng tốt đến sức khỏe, là phương thuốc khá hiệu nghiệm để chữa bệnh cho con người. Vì vậy, không ít nơi trên thế giới xây dựng khu du lịch nghỉ dưỡng ven hồ, biển thu hút nhiều khách du lịch. Trong đó nguồn nước khoáng là tiền đề không thể thiếu được đối với sự phát triển du lịch chữa bệnh. Nguồn nước khoáng ở nước ta phong phú, có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển du lịch. Thành phần hóa học của nước khoáng rất đa dạng từ bicabonat natri đến clorua natri với độ khoáng cao có ý nghĩa đối với du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh [1]; [10].

1.1.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn

Các tài nguyên có giá trị lịch sử, có sức hấp dẫn đặc biệt với du khách có trình độ, ham hiểu biết như Kim Tự Tháp Ai Cập, Công viên đá Thạch Lâm (Côn Minh, Trung Quốc), Công viên đá Đồng Văn (Hà Giang), Thành Nhà Hồ, cố đô Huế …

Tài nguyên du lịch nhân văn của Việt Nam phong phú với lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Trong số khoảng 40.000 di tích, có gần 3.000 di tích được Nhà nước chính thức xếp hạng.

1.1.3. Các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch Luận văn: Phát triển du lịch Thành phố Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa.

1.1.3.1. Điểm du lịch

Điểm du lịch là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị. Về mặt lãnh thổ, điểm du lịch có quy mô nhỏ, là nơi tập trung một loại tài nguyên nào đó (tự nhiên, văn hoá – lịch sử hoặc kinh tế – xã hội) hoặc một loại công trình riêng biệt phục vụ du lịch hoặc kết hợp cả hai ở quy mô nhỏ. Vì thế, điểm du lịch có thể được phân thành 2 loại: điểm tài nguyên và điểm chức năng.

Theo Luật Du lịch (2024) “Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch được đầu tư, khai thác phục vụ khách du lịch” [16].

1.1.3.2. Khu du lịch

Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có khả năng thu hút lượng khách du lịch cao, có kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch đồng bộ, có khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất một triệu lượt khách du lịch một năm, trong đó có cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch cần thiết phù hợp với đặc điểm của khu du lịch. Có diện tích tối thiểu hai trăm héc ta, trong đó có diện tích cần thiết để xây dựng các công trình, cơ sở dịch vụ du lịch.

Theo Luật Du lịch (2024) khái niệm “Khu du lịch là khu vực có ưu thế về tài nguyên du lịch, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch. Khu du lịch bao gồm khu du lịch cấp tỉnh và khu du lịch quốc gia” [16].

1.1.3.3. Tuyến du lịch

Tuyến du lịch là nối các khu du lịch, điểm du lịch, trong đó có khu du lịch, điểm du lịch, có tính chất liên vùng, liên tỉnh, kết nối với các cửa khẩu quốc tế; có biện pháp bảo vệ cảnh quan, môi trường và cơ sở dịch vụ phục vụ khách du lịch dọc theo tuyến.

1.1.3.4. Điểm đến du lịch

Trong tiếng Anh, từ “Tourism Destination” được dịch ra tiếng Việt là điểm đến du lịch. Tổ chức Du lịch Thế giới (UN-WTO), đã đưa ra quan niệm về điểm đến du lịch (Tourism Destination): “Điểm đến du lịch là vùng không gian địa lý mà khách du lịch ở lại ít nhất một đêm, bao gồm các sản phẩm du lịch, các dịch vụ cung cấp, các tài nguyên du lịch thu hút khách, có ranh giới hành chính để quản lý và có sự nhận diện về hình ảnh để xác định khả năng cạnh tranh trên thị trường” (A practical guide to tourism destination management, UNWTO, 2012).

Theo Vũ Đức Minh [13], điểm đến du lịch là nơi xuất hiện các yếu tố du lịch quan trọng và gây ấn tượng nhất; là nơi tồn tại ngành du lịch đón khách và cũng là nơi du khách có thể tìm được tất cả các tiện nghi, dịch vụ hỗ trợ cần thiết cho chuyến viếng thăm của mình. Điểm đến du lịch là sự tập trung các tiện nghi và dịch vụ được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của du khách.

1.1.4. Các tiêu chí đánh giá sự phát triển du lịch

1.1.4.1. Căn cứ lựa chọn Luận văn: Phát triển du lịch Thành phố Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa.

Dựa vào những cơ sở lý luận trên đây, nhất là Lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến du lịch của Butler (1980) và Bộ tiêu chí đánh giá điểm đến du lịch của Bộ VHTT& DL ban hành ngày 28/12/2023, Chúng tôi lựa chọn 12 tiêu chí dùng để đánh giá sự phát triển du lịch TP Sầm Sơn dưới đây :

1.1.4.2. Tiêu chí đánh giá điểm đến du lịch  

  • Số khách du lịch
  • Doanh thu du lịch
  • Lao động du lịch
  • Công tác quản lý về du lịch
  • Sản phẩm du lịch
  • Thị trường du lịch
  • Đầu tư phát triển du lịch
  • Khả năng tiếp cận (giao thông đi lại)
  • Cơ sở lưu trú
  • Dịch vụ du lịch (ăn uống, giải trí, mua sắm…)
  • Quảng bá du lịch
  • Đơn vị kinh doanh lữ hành (công ty du lịch)

1.2. Cơ sở thực tiễn Luận văn: Phát triển du lịch Thành phố Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa.

1.2.1. Kinh nghiệm phát triển du lịch biển của một số địa phương 

  • Kinh nghiệm phát triển du lịch biển, đảo ở Quảng Trị

Với chiều dài hơn 75 km bờ biển cát trắng, nước trong xanh, có nhiều bãi tắm đẹp hấp dẫn; là nơi hình thành khu dịch vụ – du lịch Cửa Tùng, Cửa Việt, đảo Cồn Cỏ. Bãi biển Cửa Tùng có cảnh quan đẹp, từng được mệnh danh là ‘Nữ hoàng của các bãi biển’. Khu dịch vụ – du lịch Cửa Việt được xác định là điểm nhấn để phát triển du lịch của tỉnh Quảng Trị, là vùng động lực để tỉnh tiếp tục phát triển tuyến du lịch ven biển Cửa Tùng, Cửa Việt và đảo Cồn Cỏ. Cụm Cửa Việt – Cửa Tùng – Cồn Cỏ là ba điểm hình thành nên tam giác du lịch biển đảo với các thế mạnh bổ sung cho nhau và có thể được xem xét phát triển thành một khu du lịch quốc gia tiềm năng.

Du lịch biển đảo là một thế mạnh của Quảng Trị, thời gian qua tỉnh đã tập trung đầu tư xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng du lịch đúng quy hoạch theo hướng tập trung trọng tâm, trọng điểm. Trước hết là hệ thống giao thông phục vụ du lịch kết hợp với phát triển các ngành kinh tế và phục vụ dân sinh; Hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật các khu, điểm du lịch quan trọng gắn với quảng bá, xúc tiến đầu tư, công tác quản lý, khai thác tiềm năng du lịch; Xây dựng lộ trình tôn tạo, nâng cấp các di tích văn hóa, lịch sử một cách hợp lý để phát huy hiệu quả đầu tư; Khai thác hiệu quả cơ sở vật chất hiện có, nhất là hệ thống khách sạn, nhà hàng cao cấp mới được xây dựng… Đặc biệt tập trung đầu tư xây dựng Đảo Cồn Cỏ thành Đảo Du lịch, xây dựng hạ tầng thiết yếu cho hoạt động du lịch; Có chính sách thỏa đáng kêu gọi thu hút đầu tư du lịch đảo [34].

  • Mô hình phát triển du lịch tại biển Mỹ Khê – TP. Đà Nẵng

Bãi biển Mỹ Khê từng được Tạp chí FORBES bình chọn là 1 trong 6 bãi biển quyến rũ nhất hành tinh (năm 2012). Trong những năm qua, T.P Đà Nẵng đã có nhiều sự đổi mới nhằm phát triển du lịch theo hướng bền vững tại biển Mỹ Khê. Nhiều hoạt động du lịch được tổ chức thường xuyên nhằm thu hút sự tham gia của khách du lịch và cộng động dân cư như: khám phá chợ cá Mỹ Khê vào buổi sáng sớm, lướt vát, bơi thuyền cùng ngư dân… Đặc biệt, thời gian gần đây, TP. Đà Nẵng đã áp dụng một chuỗi các hoạt động dịch vụ du lịch thút hút được nhiều sự quan tâm, tham gia nhiệt tình của du khách và nhân dân địa phương như: với hoạt động lặng ngắm san hô, du khách được ngâm mình trong làn nước trong xanh, ngắm nhìn những rạng san hô đủ hình dạng và màu sắc, với nhiều loài cá cảnh đang trú ngụ bơi tung tăng trước mắt bạn, bên cạnh những giây phút lắng đọng như mê lòng người đó, du khách sẽ được cùng trải nghiệm với nhóm lặn săn tìm những con cá nặng ký với những pha rượt đuổi, mai phục hết sức phấn khích. Ngoài ra, du khách còn được tham gia các hoạt động dã ngoại, cắm trại, câu cá với các chủ đề bảo vệ môi trường tự nhiên tại khu vực bãi tắm Tiên Sa. [20] Luận văn: Phát triển du lịch Thành phố Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa.

  • Mô hình phát triển du lịch MICE tại Nha Trang – Khánh Hòa

Du lịch MICE là loại hình du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện. Đây là loại hình du lịch có số lượng khách hàng lớn với mức chi tiêu cao. Tân dụng các lợi thế sẵn có, trong những năm quan, TP. Nha Trang đã có nhiều giải pháp nhằm phát triển Nha Trang thành một trung tâm tổ chức loại hình du lịch MICE trọng điểm của quốc gia. TP thường xuyên tổ chức các sự kiện thu hút khách du lịch như: Lễ hội Festival biển, hội thi đắp tượng cát, các cuộc thi hoa hậu và người đẹp tầm cỡ quốc gia… Bên cạnh đó là sự quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch với sự phát triển của khu vui chơi giải trí Vinpearl Land, sự đời nhà hát có sức chứa 7.500 chỗ của Diamond Bay Resort và các trung tâm hội trợ, trung tâm triễn lãm … Ngoài ra còn có các lễ hội đặc sắc như: Lễ hội Tháp Bà, Lễ hội Cá Voi, Lễ hội Am chúa … đã thu hút được đông đảo du khách, đặc biệt là khách quốc tế. [20]

Kinh nghiệm phát triển du lịch biển với các mô hình ở Quảng Trị, Mỹ Khê, Nha Trang là những bài học tốt để Sầm Sơn có thể áp dụng trong việc phát triển du lịch của TP Sầm Sơn trong hiện tại và tương lai.

1.2.2. Tình hình phát triển du lịch tỉnh Thanh Hóa

Nằm ở khu vực Bắc Trung Bộ, cách Thủ đô Hà Nội 150km về phía nam, Thanh Hóa là vùng đất có tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú, đặc sắc. Những năm gần đây, du lịch Thanh Hóa ngày càng phát triển, trở thành điểm đến thân thiện và hấp dẫn du khách.

Với đường bờ biển dài 102km, Thanh Hóa có nhiều bãi tắm đẹp như Sầm Sơn (TP Sầm Sơn), Hải Tiến (huyện Hoằng Hóa), Hải Hòa (huyện Tĩnh Gia), trong đó tiêu biểu nhất phải kể đến biển Sầm Sơn nằm cách TP Thanh Hóa 16km về phía đông nam. Bên cạnh tài nguyên biển, Thanh Hóa còn có tài nguyên rừng phong phú với các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên, nơi lưu trữ và bảo vệ nguồn gen động thực vật quý hiếm. Điển hình trong số đó là vườn quốc gia Bến En thuộc huyện Như Xuân và Như Thanh, cách thành phố Thanh Hóa 36km về phía tây nam. Thanh Hóa cũng được biết đến như là vùng đất “địa linh nhân kiệt” với bề dày lịch sử hào hùng và truyền thống văn hóa đặc sắc. Nhiều di tích lịch sử, văn hóa đã được Thanh Hóa bảo tồn, phát triển, đáp ứng nhu cầu tham quan, tín ngưỡng của nhân dân địa phương và du khách. Với tiềm năng du lịch phong phú, đa dạng, Thanh Hóa có điều kiện để phát triển nhiều loại hình du lịch như du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa – lịch sử…, từng bước khẳng định vị thế của du lịch xứ Thanh trong khu vực Bắc Trung bộ và cả nước.

Trong Chương trình phát triển du lịch Thanh Hóa giai đoạn 2023-2030, tỉnh Thanh Hóa đã xác định phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Đây là lợi thế quan trọng đối với định hướng phát triển kinh tế của tỉnh nói chung và du lịch nói riêng, tạo thuận lợi cho việc tập trung nguồn lực phát triển thương hiệu du lịch tỉnh Thanh Hóa. Luận văn: Phát triển du lịch Thành phố Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa.

Kết quả, tăng trưởng du lịch tỉnh duy trì ở mức độ khá, tất cả các chỉ tiêu kinh doanh du lịch đều vượt chỉ tiêu. Năm 2023 toàn tỉnh ước đón được 6.277.000 lượt khách, tăng 13,5% so với năm 2022 (trong đó khách quốc tế: 154.500 lượt khách, tăng 21,7% so với năm 2022); tổng thu nhập từ du lịch ước đạt: 6.298 tỷ đồng, tăng 21,6% so với năm 2022 (trong đó tổng thu từ khách quốc tế 39.600.000 USD).

Với sự chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo tỉnh, sự nỗ lực thực hiện nghiêm túc định hướng phát triển du lịch của các Sở, ban, ngành và sự triển khai đồng bộ trên các lĩnh vực, chắc chắn trong thời gian không xa, Du lịch Thanh Hóa sẽ là điểm sáng trên bản đồ du lịch cả nước.[32]

Tiểu kết chương 1

Trong Chương 1 của luận văn, tác giả tập trung làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến du lịch và phát triển du lịch ; các điều kiện phát triển du lich ; các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch. Đồng thời xây dựng các tiêu chí đánh giá điểm đến du lịch Sầm Sơn theo Buler trong thuyết chu kỳ sống của điểm đến du lịch từ đó làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng ở chương 2.

Ngoài ra, tác giả cũng đã nghiên cứu thực tiễn phát triển du lịch biển ở một số địa phương có đặc điểm tương tự nhằm tìm ra bài học để Sầm Sơn có thể áp dụng trong thời gian tới. Luận văn: Phát triển du lịch Thành phố Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Hiện trạng phát triển du lịch thành phố Sầm Sơn

One thought on “Luận văn: Phát triển du lịch Thành phố Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch thành phố Sầm Sơn

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464