Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tại khu bảo tồn biển Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu: Khu bảo tồn biển Phú Quốc

2.1.1. Đặc điểm về tự nhiên

2.1.1.1. Khái quát chung

Huyện Đảo Phú Quốc nằm trong Vịnh Thái Lan thuộc tỉnh Kiên Giang, cách Hà Tiên 45km, cách thành phố Rạch Gía 120 km, cách đường lãnh hải Việt Nam – Campuchia 4,5 km, tổng diện tích 593 km2, dân số 101.629 người, mật độ trung bình 95 người/km2. Từ Bắc xuống Nam đảo có chiều dài 52 km, nơi rộng nhất từ Tây qua Ðông nằm ở mạn Bắc khoảng 25 km. Phú Quốc còn được gọi là hòn đảo của 99 ngọn núi, với những ngọn núi nối tiếp nhau trải dài từ Bắc xuống Nam. Một trong những dãy núi dài nhất là dãy Hàm Ninh (30 km) ở điểm cực Ðông với đỉnh núi cao nhất là Núi Chúa, cao 603 m.

Vùng biển Phú Quốc có 22 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó đảo Phú Quốc lớn nhất có diện tích 567 km  (56.700 ha), dài 49 km. Vùng biển Phú Quốc có các hệ sinh thái rạn san hô và thảm cỏ biển là những hệ sinh thái biển đặc thù, quan trọng, đồng thời nơi cư trú cho nhiều nhóm động vật biển quý, hiếm, có giá trị kinh tế được ưu tiên bảo tồn. Chính vì vậy, năm 2007, Khu bảo tồn biển Phú Quốc chính thức được thành lập theo Quyết định số 19/QĐ-UBND ngày 03/01/2007 của Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang.

Khu bảo tồn biển có 12 hòn đảo lớn nhỏ, riêng khu vực phía nam của đảo có 11 hòn đảo. Đây là một khu vực có những nơi sinh cư của sinh vật còn trong trạng thái tốt đa dạng sinh học tương đối cao. Diện tích các rạn san hô trong Khu bảo tồn biển không lớn nhưng chúng phân bố đều khắp các hòn đảo và còn trong trạng thái tương đối tốt. Trong số những rạn san hô của vùng này, nhiều rạn có mức độ đa dạng sinh học và cấu trúc tuyệt vời, ví dụ như những rạn ở Hòn Móng Tay và Hòn Gầm Ghì. Khu vực cỏ biển Đông Bắc đảo Phú Quốc phong phú về thành phần loài vừa là nơi cư trú vừa là nguồn thức ăn của loài Bò biển quí hiếm.

Hình 2.1: Bản đồ Khu bảo tồn biển Phú Quốc

2.1.1.2. Khí hậu

Phú Quốc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa mang tính chất xích đạo nhưng bị chi phối mạnh bởi các quy luật của biển nên ôn hòa hơn so với các huyện trong đất liền, khá thuận lợi để trồng cây, sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất và chất lượng cao. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc.

Huyện đảo Phú Quốc chia làm hai mùa rõ rệt, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau và mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm là 27,20C. Lượng mưa trung bình năm 2.805 mm. Đặc biệt tại Bắc đảo (xã Cửa Dương) lượng mưa có thể đạt 3.600 mm/năm, có tháng mưa kéo dài 20 ngày liên tục.

Mưa là nguồn sinh thủy duy nhất nên có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sản xuất và đời sống của đảo. Lượng mưa bình quân hàng năm lớn và phân bố theo mùa rõ rệt, trong đó:

  • Mùa mưa kéo dài hơn các huyện khác trong tỉnh và toàn đồng bằng sông Cửu Long (8 tháng – từ tháng 5 đến tháng 11) và chiếm 90% lượng mưa cả năm. Trong các tháng mưa nhiều thường gây tình trạng ngập cục bộ ở các khu vực trũng như khu vực ấp Cây Bến, Đồng Tràm Cửa Cạn, Lung Con Gà … mức ngập thường dưới 1 m, thời gian ngập 5 – 10 giờ.
  • Mùa khô từ các tháng 12 đến tháng 4, do lượng mưa không đáng kể chiếm 10% lượng mưa cả năm đã gây tình trạng khô hạn cho cây trồng và thiếu nước cho sinh hoạt ở một số khu vực.

Có 2 hướng gió chính thay đổi trong năm gió mùa Đông Bắc thịnh hành từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, vận tốc trung bình biến đổi từ 2,8 – 4,0 m/s. Gió Tây Nam thịnh hành từ tháng 5 đến tháng 11, vận tốc gió trung bình biến đổi lên tới 31,7 m/s. Chế độ gió theo mùa chi phối mạnh mẽ và có ảnh hưởng lớn tới hoạt động sản xuất và sinh hoạt của ngư dân ở các đảo nhỏ của huyện Phú Quốc, họ thường phải di chuyển nơi ở theo mùa để tránh gió.

Huyện Phú Quốc có chế độ nhiệt đới ôn hòa, lượng mưa lớn và thời gian mưa dài hơn nên mức độ khô hạn vào mùa khô nhẹ hơn nhưng tốc độ gió mạnh hơn, nhất là khu vực phía Nam Dương Tơ, đã gây tác hại không nhỏ đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trên đảo. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc.

Hình 2.2: Hướng và tần suất gió đảo Phú Quốc

2.1.1.3. Thủy văn

Nhiệt độ nước biển biến động từ 24 – 30oC, thông thường đỉnh nhiệt độ thường xuất hiện từ tháng 5 tới 8 hàng năm và nhiệt độ thấp nhất từ tháng 11 năm trước tới tháng 2 năm sau. Độ muối trung bình dao động trong khoảng 32 – 340/00.

Chế độ thủy triều ở Phú Quốc được đặc trưng bằng chế độ nhật triều, mức triều cao nhất đạt 0,8 m. Độ trong của nước khá thấp do có nhiều huyền phù, có nơi huyền phù lên tới 100 mg/l ở một số khu vực. Kết quả khảo sát về môi trường mùa mưa năm 2004 cho thấy nước ngọt và trầm tích từ đất liền ảnh hưởng không đáng kể đến vùng biển Phú Quốc.

Các dòng chảy trong vùng biển Vịnh Thái Lan tạo thành vòng khép kín và biến động theo mùa do ảnh hưởng của gió mùa. Trong thời kỳ gió mùa Đông Bắc, dòng chảy trong vịnh Thái Lan chạy theo chiều kim đồng hồ; thời mùa gió Tây Nam, dòng chảy lại theo hướng ngược chiều kim đồng hồ. Tốc độ dòng chảy trong cả hai mùa gió mùa thường nhỏ hơn 30cm/s. Hướng sóng bị ảnh hưởng bởi chế độ gió.

Chiều cao sóng thường nhỏ hơn 0,9 m.

Hình 2.3: Hiện trạng thủy văn đảo Phú Quốc

2.1.1.4. Đa dạng sinh học

Các nét đặc trưng của giá trị đa dạng sinh học trong Khu bảo tồn biển Phú Quốc đó là:

Hệ sinh thái rạn san hô: Chủ yếu phân bố ở các hòn đảo phía nam Phú Quốc thuộc xã Hòn Thơm với 108 loài san hô thuộc cả 02 nhóm san hô cứng và san hô mềm, 135 loài cá rạn san hô, 03 loài cá di cư, 132 loài thân mềm, 09 loài giáp xác, 32 loài da gai. Rạn san hô đóng vai trò quan trọng đối với nhiều cộng đồng dân cư vùng ven biển trong việc bảo vệ đất đai và phục vụ cuộc sống con người; cung cấp nguồn lợi sinh vật biển, nguồn giống hải sản tự nhiên và dịch dụ du lịch sinh thái.

Hệ sinh thái thảm cỏ biển: Chủ yếu phân bố với diện tích lớn tập trung ở phía Đông và Đông Bắc đảo Phú Quốc thuộc 02 xã Hàm Ninh và Bãi Thơm với diện tích trên 10.000 ha, lớn nhất cả nước. Thảm cỏ biển là nơi có lượng thức ăn lớn, đồng thời cũng là điều kiện ẩn náo, cư trú thuận lợi; là nơi tập trung nhiều loài cá biển ven bờ, trong đó có nhiều loài thủy sản có giá trị sinh học và giá trị kinh tế như: Dugong (bò biển), cá ngựa, ghẹ … Ngoài ra các thảm cỏ biển tại vùng biển Phú Quốc còn là nơi tập trung nguồn giống, là những bãi ươm nuôi của ấu trùng, con non của các loài hải sản.

Các loài động vật biển quý hiếm: một nét đặc trưng tạo nên tính đa dạng sinh học của vùng biển Phú Quốc đó là sự hiện diện của 03 loài động vật biển quý hiếm bao gồm: Dugong (bò biển), rùa biển, cá heo, đây là những loài đã được các tổ chức quốc tế và Chính phủ Việt Nam đưa vào sách đỏ và bảo vệ nghiêm ngặt. Trong những năm gần đây, tần suất xuất hiện của các loài này được ghi nhận có xu hướng tăng đã minh chứng cho chất lượng môi trường biển Phú Quốc còn rất tốt.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2.1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội  Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc.

2.1.2.1. Khái quát chung

Về tín ngưỡng, cư dân biển đảo Phú Quốc hầu hết theo đạo thờ cúng ông bà, tổ tiên. Bên cạnh đó, trên các làng chài ven biển đảo việc thờ cúng các vị thần hữu hình và vô hình của biển cả, nhất là việc thờ cúng cá voi (còn gọi là Ông Nam Hải) rất được coi trọng. Những lăng, đình thờ, những nghi lễ độc đáo như: lăng, đình thờ Ông Bà Nam Hải, lễ hội Cầu Ngư, …

Về kinh tế xã hội: Phần lớn dân cư sống bằng nghề khai thác thủy sản, dịch vụ và buôn bán nhỏ, một số ít sản xuất nông nghiệp.

  • Xã Hòn Thơm:

Hòn Thơm là đảo lớn nhất trong xã Hòn Thơm. Đảo này nằm ở khu vực phía Nam của Hòn Rỏi. Có hai ngọn núi ở phía bắc và phía nam của đảo, phía tây và phía đông của đảo nối liền với một quả đồi thấp bằng một con đường. Có 02 làng ở trên đảo, người dân trên đảo này thường chuyển nhà 2 lần trong một năm. Từ cuối tháng 3 đến tháng 9, họ sống ở phía Đông của đảo và chuyển sang phía Tây từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau để tránh gió. Dân số toàn xã (năm 2015) có gần 4.000 người trong đó nữ chiếm 49%, mật độ bình quân 336 người/km2, tốc độ tăng dân số tự nhiên 1,5%/năm phân bố tập trung ở 3 ấp: Bãi Nam, Bãi Chướng và Hòn Rỏi. Khoảng 70% dân số ở độ tuổi lao động, chủ yếu là đàn ông. Lao động: chiếm gần 45% dân số của xã, trong đó lao động thủy sản chiếm 70% số lao động, lao động công, thương nghiệp và dịch vụ chiếm 22%, nông nghiệp 3% còn lại 4% lao động chưa có việc làm ổn định, trình độ lao động còn ở mức thấp. Thu nhập bình quân trên đầu người là 8 triệu đồng/năm. Phương tiện khai thác thủy sản có 243 phương tiện chủ yếu là công suất nhỏ (dưới 20 CV) nên chỉ hoạt động khai thác thủy sản gần bờ, hiệu quả kinh tế thấp.

Hiện nay, tình trạng bùng phát dân số được xem là khó khăn lớn nhất đối với xã, dẫn tới tình trạng khai thác quá mức nguồn lợi tự nhiên và gây ô nhiễm môi trường. Hơn nữa, việc bùng nổ dân số dẫn đến các vấn đề về tệ nạn xã hội, xung đột giữa các nhóm người địa phương … Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc.

  • Xã Hàm Ninh:

Tổng diện tích 6.305,22 ha, có 4 ấp. Dân số 6.851 người trong 1.550 hộ. Dân cư sống tập trung thành những làng chài dọc ven bờ biển.

Lao động có 2890 lao động chiếm 46% dân số của xã trong đó lao động thủy sản chiếm 71,5% nông nghiệp là 21%, thương mại dịch vụ 32% còn lại 4,3% chưa có việc làm ổn định. Trình độ lao động vẫn còn ở mức thấp. Thu nhập bình quân đầu người khoảng 12 triệu đồng/ người/ năm.

Phương tiện khai thác thủy sản có 470 phương tiện chủ yếu là công suất nhỏ (dưới 20 CV) nên chỉ hoạt động khai thác gần bờ hiệu quả kinh tế không cao.

Cơ cấu kinh tế không có những thay đổi đáng kể bởi kinh tế xã chủ yếu dựa vào ngành truyền thống đánh bắt, khai thác hải sản và bán đồ lưu niệm. Đến nay, kinh tế xã đã có sự chuyển biến theo hướng tăng dần các ngành nuôi trồng thủy hải sản, du lịch và thương mại. Tuy nhiên, do các ngành dịch vụ, thương mại có điểm xuất phát thấp nên đến nay vẫn còn chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu kinh tế chung.

Xã Hàm Ninh với làng chài truyền thống Hàm Ninh ngoài quang cảnh còn nguyên vẻ hoang sơ của thiên nhiên cùng với cuộc sống mộc mạc với nhà tranh vách tre của những người dân nơi đây, làng chài Hàm Ninh còn được biết đến là nơi có nghề đánh bắt hải sản, ngọc trai được ngư dân gắn bó rất mật thiết, mang tính cha truyền con nối qua nhiều năm chẳng thay đổi, thế nên quanh năm Hàm Ninh được xem là một trong những nơi cung cấp nguồn hải sản Phú Quốc giá rẻ, nhất là ghẹ tươi ngon có thịt rất chắc ngọt, mà hầu như du khách nào cũng háo hức tìm tới để thưởng thức món ghẹ luộc thơm ngon nổi tiếng mỗi khi có dịp đến thăm đảo ngọc. Làng chài Hàm Ninh ngày nay còn lưu giữ truyền thuyết về ông Đạo Đụn thành tiên và còn được biết đến với cầu cảng Bãi Vòng.

  • Xã Bãi Thơm:

Tổng diện tích 9.412 ha, có 4 ấp. Dân số 4.789 người trong 1.419 hộ. Dân cư sống tập trung thành những làng chài dọc ven bờ biển.

Năm 2015, toàn xã có trên 276 phương tiện đánh bắt, sản lượng đánh bắt khoảng 2.500 tấn. Ngư trường của xã hạn hẹp do nằm trong vùng ranh giới với Campuchia, phương tiện đánh bắt nhỏ nên ảnh hưởng nhiều đến tình hình khai thác hải sản.  Công tác bảo vệ ngư trường và nguồn lợi chưa tốt, việc ngăn chặn xử lý những hành vi vi phạm pháp luật trong khai thác hải sản chưa kịp thời, chưa có hiệu quả cao, tình trạng khai thác bằng các loại nghề bị cấm vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp. Thống kê cho thấy có 6 hộ, có cả những hộ di cư ở Rạch Tràm và 3 hộ ở Đá Chồng khai thác trái phép. Ngoài nghề đánh bắt thì nuôi trồng thủy sản của xã đang tiếp tục phát triển. Hiện xã có 1 hộ nuôi cá mú và cá bốp, 1 hộ nuôi ốc nhảy và ghẹ. Tuy nhiên, vấn đề đầu ra vẫn còn là một thách thức lớn. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc.

2.1.2.2. Đặc điểm về hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ  thuật

  • Xã Hòn Thơm

Về giao thông: là 1 xã đảo nên đi lại với huyện chủ yếu bằng đường thủy trên địa bàn xã có 4,5 km đường giao thông trong đó trục chính nối liền giữa bãi Nam và Bãi Chướng. Các tuyến đường chủ yếu là đường đất, mùa mưa thường bị sạc lỡ, đi lại khó khăn.

Về điện: Hiện tại xã có 1 trạm phát điện với công suất 150 KW phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hơn 70% số hộ của xã. Số còn lại là các hộ dân thuộc ấp Hòn Rỏi do tách biệt với xã nên phải sử dụng nguồn điện phát của tư nhân với giá cao.

Về nguồn nước sinh hoạt: hiện nay, người dân trên đảo sử dụng nước sinh hoạt từ nguồn giếng đào, giếng khoan và chưa có nhà máy cấp nước tập trung.

Về giáo dục: xã có 1 trường Phổ thông Cơ sở (cấp I và cấp II) với tổng số 10 phòng học với số lượng học sinh trên 400 em. Tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi đến trường hàng năm đạt trên 98%.

Về y tế: xã có 1 trạm y tế với 1 bác sĩ, 2 y sĩ, 2 nữ hộ sinh. Mặc dù lĩnh vực y tế của xã còn nhiều khó khăn nhưng cơ bản thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân.

Lĩnh vực văn hóa: xã đã có trạm tiếp sóng truyền hình, trạm truyền thanh của xã phục vụ nhu cầu nghe, nhìn của nhân dân.

Bưu chính viễn thông: hiện nay có bưu điện văn hóa xã, mạng điện thoại di động được phủ sóng một số khu vực, đã tạo điều kiện thuận lợi cho thông tin liên lạc.

  • Xã Hàm Ninh:

Về giao thông: toàn xã có 50,4 km đường bộ các loại. Trong đó, đường chính dài 12km nối liền trung tâm xã với huyện và đường từ tỉnh lộ 46 xuống cảng biển Bãi Vòng dài 5 km đã trải nhựa. Ngoài ra, các tuyến đường liên ấp là đường đất đỏ nên trong mùa mưa đi lại ở một số khu vực còn nhiều khó khăn.

Về điện: hiện tại xã đã có điện lưới đến xã và một số khu vực, phục vụ cho khoảng 70% số hộ sử dụng, còn lại sử dụng điện tự phát. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc.

Cung cấp nước: hiện nay nước sinh hoạt và sản xuất chủ yếu là nguồn nước từ các giếng khoan và giếng đào.

Về giáo dục: hiện toàn xã có 2 trường Phổ thông Cơ sở, 9 điểm trường học gồm 22 phòng học hầu hết phòng học đều được xây dựng kiên cố và bán kiên cố. Hàng năm thu hút khoảng 1200 học sinh, tỷ lệ huy động trẻ trong độ tuổi đến trường hàng năm đều đạt 98%.

Về y tế: xã có 1 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia và 1 trạm y tế cơ sở với 1 bác sĩ, 2 y sĩ và 2 y tá; ở các ấp đều có tổ y tế. Vì vậy, nhu cầu khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu của nhân dân khá tốt.

Lĩnh vực văn hóa: trên địa bàn xã đã có trạm tiếp sóng phát thanh và truyền hình. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được quan tâm phục vụ tốt nhu cầu tinh thần của nhân dân.

Bưu chính viễn thông: xã có điểm bưu điện văn hóa, mạng điện thoại di động được phủ sóng hầu hết diện tích của xã tạo điều kiện thuận lợi cho thông tin liên lạc trong nhân dân.

  • Xã Bãi Thơm

Về giao thông: toàn xã có 37,9 km đường giao thông các loại trong đó đường chính nối liền trung tâm huyện với xã dài 27 km, tất cả các tuyến đều là đường đất đỏ, giao thông nối liền từ xã đến các ấp thuận tiện đi lại cho nhân dân.

Về điện: hiện tại xã chưa có hệ thống cấp điện, một số cụm dân cư sử dụng điện máy phát của tư nhân.

Nước sinh hoạt: nguồn nước cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất chủ yếu từ các giếng đào và các giếng khoan. Tuy nhiên, do địa hình khá cao nên việc khai thác sử dụng nguồn nước ngầm khó khăn.

Về giáo dục: xã có 1 trường Trung học Cơ sở với 6 điểm trường gồm 22 phòng học, các phòng học đều xây dựng kiên cố, bán kiên cố. Hàng năm có khoảng 800 – 900  học sinh theo học ở các điểm trường; tỷ lệ huy động trẻ trong độ tuổi đến trường hàng năm đạt trên 98%. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc.

Về y tế: xã có 1 trạm y tế với 1 bác sĩ, 2 y sĩ, 2 y tá và các tổ y tế ở các ấp. Mặc dù trang thiết bị còn thiếu thốn nhưng hàng năm các cơ sở y tế đã cố gắng thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, phòng chống dịch bệnh.

Lĩnh vực văn hóa: xã có trạm tiếp sóng truyền hình, đài truyền thanh. Vì vậy nhu cầu nghe nhìn và tiếp cận thông tin của nhân dân cơ bản đã được đáp ứng.

Bưu chính viễn thông: nhiều khu vực trên địa bàn đã được phủ sóng điện thoại di động, tạo điều kiện thuận lợi cho nhu cầu thông tin liên lạc trong nhân dân.

 Nhìn chung dân cư tại các xã KBTB Phú Quốc sống bằng nghề khai thác thủy sản ven bờ là chính, một số ít làm dịch vụ du lịch, buôn bán nhỏ và sản xuất nông nghiệp. Tình trạng tăng dân số, thiếu công ăn việc làm, dân trí thấp, khai thác thủy sản bằng các nghề truyền thống, lạc hậu, hoạt động ven bờ dẫn đến nguồn thủy sản bị cạn kiệt, hệ sinh thái thảm cỏ bị xáo động và gây ô nhiễm môi trường nước, tác động lớn đến nơi cư trú của các loài thủy sản, đặc biệt một số loài động vật quý hiếm như dugông, rùa biển đang có nguy cơ tuyệt chủng. Vấn đề đầu tư dịch vụ trên các đảo trong KBTB cũng phải hết sức thận trọng vì việc sử dụng tài nguyên này rất nhạy cảm với môi trường. Cần phải có chiến lược cụ thể cho người dân tham gia phát triển kinh tế bằng các hoạt động dịch vụ du lịch, đặc biệt là đối với ngư dân khai thác thủy sản bằng nghề truyền thống trong KBTB.

2.1.3. Khái quát về Ban quản lý Khu bảo tồn biển Phú Quốc

2.1.3.1. Nguồn nhân lực 

Hiện nay đội ngũ làm công tác quản lý của KBTB Phú Quốc chỉ có 08 cán bộ, nhân viên trong đó lãnh đạo Ban quản lý gồm có 01 Giám đốc và 01 Phó Giám đốc. Giám đốc Ban quản lý (BQL) KBTB Phú Quốc do Giám đốc Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) bổ nhiệm, Phó Giám đốc Ban quản lý KBTB Phú Quốc do Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản bổ nhiệm. Sở NN&PTNT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BQL Khu bảo tồn biển Phú Quốc. Các phòng chuyên môn nghiệp vụ, gồm có 02 phòng: Phòng Hành chính tổng hợp và Phòng nghiệp vụ.

Mạng lưới nhân sự làm công tác quản lý ở cấp cơ sở như xã, ấp chưa được hình thành do thiếu cơ chế về tổ chức mạng lưới. Mặt khác, phần lớn nhân sự của Ban quản lý KBTB Phú Quốc có trình độ chuyên môn từ các lĩnh vực khác như: thủy sản, kinh tế nên việc đào tạo, nâng cao năng lực quản lý về bảo tồn biển là một yêu cầu cấp thiết trong thời gian tới.

Thành lập 03 tổ tình nguyện cộng đồng Bảo tồn biển ở 03 xã trong KBTB Phú Quốc, với tổng thành viên của 03 tổ gần 40 người và thành phần chủ yếu gồm Biên phòng, Công an xã, Xã đội, và ngư dân khai thác trong vùng.

2.1.3.2. Các yếu tố cơ sở vật chất kỹ thuật  Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc.

Tiến trình xây dựng cơ bản, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị trong KBTB Phú Quốc mặc dù đã được các bên liên quan, các Sở ban ngành cấp tỉnh quan tâm, ủng hộ nhưng đến nay các dự án/kế hoạch xây dựng cơ bản trong KBTB chưa được triển khai và đầu tư. Công tác quản lý bảo tồn biển gắn liền với các hoạt động tuần tra, kiểm soát, giám sát để nhằm bảo vệ tốt nguồn lợi, tài nguyên biển nhưng đến nay KBTB Phú Quốc vẫn thiếu tàu tuần tra, kiểm soát; hệ thống phao phân vùng và phao neo tàu trong vùng lõi KBTB; trang thiết bị chuyên dùng cho hoạt động giám sát san hô, cỏ biển; trạm truyền thông ở Hòn Vông (xã Hòn Thơm) và ở Bãi Bổn (xã Hàm Ninh); trung tâm du khách ở An Thới.

Về hệ thống phao phân vùng: Theo báo cáo tổng kết của BQL KBTB năm 2014, BQL đã cử các cán bộ kỹ thuật có chuyên môn về lặn biển triển khai dùng định vị tìm kiếm những neo phao cố định dưới đáy biển để lắp đặt, khôi phục lại hệ thống phao phân vùng bao gồm 25 phao phân vùng và 07 phao neo tàu thuyền nhằm đánh dấu khu rạn san hô nhạy cảm cũng như bố trí cho phương tiện là tàu cá và tàu du lịch neo đậu, tránh thả neo một cách bừa bải làm hư hại đến các rạn san hô. Hoạt động duy tu, bảo dưỡng, vệ sinh hệ thống phao dấu và phao neo được thực hiện định kỳ 3 tháng/lần, tuy nhiên phao thường bị mất, đứt trôi do nguyên nhân chính là sóng gió lớn và dòng chảy mạnh.

Ngoài các panô đặt tại các xã trong và xung quanh KBTB Phú Quốc, tại vùng lõi rạn san hô (Hòn Gầm Ghì) đã xây dựng 01 Biển báo nhằm cung cấp thông tin về Quy chế quản lý KBTB cho cộng đồng và du khách biết được các hoạt động nào được phép và không được phép hoạt động trong KBTB bằng 2 ngôn ngữ là tiếng Việt và Tiếng Anh.

BQL khu bảo tồn biển chưa được trang bị tàu tuần tra và chưa có đội tuần tra nên việc tuần tra, kiểm soát không thường xuyên vì thế các tàu chở khách du lịch trốn tránh không mua vé cho du khách hoặc chỉ mua cho có lệ.

Về công tác giao nhận Ca nô vận chuyển rác của xã Hòn Thơm: ngày 28/4/2014, Ban quản lý KBTB Phú Quốc, đại diện BQL Công trình công cộng Phú Quốc, UBND xã Hòn Thơm đã tiến hành bàn giao ca nô về cho BQL Khu bảo tồn biển Phú Quốc. Và năm 2015 đã sửa chữa xong và nghiệm thu xuồng rác (Composite và 30 CV), tiến hành đăng kiểm lại.

Nhìn chung, kết cấu hạ tầng phát triển du lịch chưa tương xứng yêu cầu phát triển, kết cấu hạ tầng giao thông, cơ sở vật chất phục vụ cho du lịch hiện còn ở mức thấp.

2.1.3.3. Nguồn lực về tài chính Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc.

Hiện nay, tài chính và ngân sách dành cho hoạt động của Ban quản lý KBTB Phú Quốc còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng đủ nhu cầu chi tiêu cho các hoạt động bảo tồn biển. Ngân sách tỉnh cấp hàng năm chỉ đủ chi cho các hoạt động văn phòng, kinh phí tổ chức thực hiện các hoạt động quản lý chủ yếu là do Hợp phần sinh kế bền vững (tổ chức DANIDA – Đan Mạch) bên trong và xung quanh Khu bảo tồn biển h  trợ nguồn tài chính.

BQL khu bảo tồn biển Phú Quốc là đơn vị sự nghiệp vì vậy hoạt động quản lý của đơn vị dựa vào các nguồn kinh phí sau đây:

1.Ngân sách Nhà nước:

Kinh phí từ nguồn ngân sách tỉnh cấp cho BQL hàng năm chi các khoản:

  • Chi lương cho cán bộ và hoạt động thường xuyên.
  • Chi đầu tư xây dựng cơ bản và mua sắm trang thiết bị.
  • Chi phí hoạt động tuần tra kiểm soát và duy tu bảo dưỡng định kỳ.
  • Chi phí phục vụ hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng.
  • Chi phí h trợ chuyển đổi sinh kế cho người dân trong vùng.
  • Chi phí phục vụ quan trắc định kỳ.
  • Chi các hoạt động khắc phục và phòng ngừa sự ô nhiễm môi trường.

Cách dự toán và sử dụng kinh phí: Hàng năm, vào giữa quý III căn cứ theo kế hoạch hoạt động của đơn vị, BQL sẽ lập dự toán đăng ký kinh phí gửi Sở NN& PTNT để tổng hợp vào kinh phí chung của ngành cho năm sau. Trên cơ sở nguồn kinh phí được cấp BQL KBTB lập kế hoạch chi, phân kỳ sử dụng và thanh quyết toán theo luật ngân sách.

Bảng 2.1: Báo cáo nguồn vốn ngân sách cấp cho hoạt động bảo tồn biển  giai đoạn 2006 – 2010

Bảng 2.2: Báo cáo nguồn vốn ngân sách cấp cho hoạt động bảo tồn biển giai đoạn 2011 – 2015

  1. Nguồn thu từ việc thu phí tham quan Khu bảo tồn biển

Nguồn thu từ việc thu phí tham quan KBTB Phú Quốc là một trong những nguồn thu chính của Ban quản lý.

  1. Nguồn kinh phí từ các doanh nghiệp khai thác du lịch sinh thái

Nguồn kinh phí từ các doanh nghiệp du lịch bao gồm các doanh nghiệp trực tiếp đầu tư dự án trong khu bảo tồn biển và các doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch trong khu vực bảo tồn biển.

Đối với các doanh nghiệp tham gia trực tiếp đầu tư dự án du lịch trong KBTB, BQL sẽ chủ động phối hợp với Sở NN&PTNT và các sở ngành liên quan xây dựng các tiêu chí trình các cấp thẩm quyền và UBND tỉnh ban hành các điều kiện đầu tư vào khu bảo tồn biển. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc.

Các tiêu chí bao gồm: điều kiện đáp ứng về năng lực tài chính và chuyên môn; xây dựng cơ bản; môi trường (chất thải); đóng góp nguồn kinh phí cho hoạt động bảo tồn; cùng tham gia phát triển sinh kế cộng đồng (đào tạo lao động, mở các lớp tập huấn nghề dịch vụ du lịch cho ngư dân trong khu bảo tồn).

Hàng năm, BQL sẽ lập kế hoạch hợp tác với các doanh nghiệp này trong các hoạt động bảo tồn kết hợp với hoạt động du lịch bền vững trong KBTB.

Đối với các doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh du lịch trong KBTB Phú Quốc phải thực hiện đúng theo qui chế quản lý KBTB, có trách nhiệm trong việc thực hiện việc nộp phí tham quan KBTB, tham gia h  trợ, đóng góp tài chính trong việc thả phao neo, bảo dưỡng duy trì hệ thống phao và quản lý bảo vệ hệ sinh thái san hô, cỏ biển trong KBTB. Đồng thời phối hợp với BQL trong việc tổ chức hoạt động dịch vụ phục vụ du lịch (ví dụ: bơi lặn, bán hàng lưu niệm, nhà hàng …).

  1. Nguồn kinh phí từ các tổ chức, đơn vị

Ngoài nguồn kinh phí do ngân sách tỉnh cấp và từ các doanh nghiệp du lịch thì BQL cũng tranh thủ lập dự án, kế hoạch hoạt động để xin các nguồn tài trợ, h  trợ của các tổ chức, đơn vị trong và ngoài nước như:

  • Các tổ chức trong nước: Hiệp hội du lịch tỉnh Kiên Giang, Liên hiệp hội hữu nghị Kiên Giang, Hội bảo vệ tài nguyên và môi trường Kiên Giang
  • Các sở ban ngành trong tỉnh: Sở Tài nguyên Môi trường (nguồn kinh phí sự nghiệp về môi trường; qua bảo vệ thiên nhiên và môi trường), Sở Du lịch, Sở Khoa học Công nghệ (Ngân sách sự nghiệp khoa học), Sở NN&PTNT (ngân sách khuyến nông, khuyến ngư), Ngân hàng chính sách, xã hội (cho vay vốn chuyển đổi nghề…).
  1. Nguồn kinh phí từ lợi nhuận nuôi bảo tồn hệ sinh thái nhân tạo và lợi nhuận từ du lịch sinh thái kết hợp bảo tồn biển của đối tác cùng quản lý.

2.2. Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Khu bảo tồn biển Phú Quốc Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc.

2.2.1. Tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng ở Khu bảo tồn biển Phú Quốc

2.2.1.1. Lợi thế về nguồn tài nguyên biển và giá trị đa dạng sinh học

Tài nguyên biển của vùng biển Phú Quốc là một trong những ngư trường khai thác quan trọng nhất Việt Nam. Hàng năm vùng biển Phú Quốc cung cấp nguồn tài nguyên phong phú phục vụ đời sống người dân, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển KT-XH của huyện đảo Phú Quốc nói riêng và của tỉnh Kiên Giang nói chung.

Bên cạnh các giá trị đa dạng sinh học, vùng biển Phú Quốc còn chứa đựng trong nó nhiều ý nghĩa quan trọng khác như giá trị cảnh quan, giá trị xuyên biên giới. Du lịch cũng đang phát triển rất mạnh tại Phú Quốc thông qua hệ thống hạ tầng k  thuật trên đảo đang được quan tâm và đẩy mạnh đầu tư, số lượng khách du lịch đến tham quan đảo hàng năm đều tăng dần: trong năm du lịch quốc gia 2016 đảo Phú Quốc đón hơn 1,45 triệu lượt khách du lịch, vượt 20,8% kế hoạch, tăng gần 63% so với năm 2015, trong đó khách quốc tế 201.132 lượt người, tăng 38,5%. Tổng doanh thu từ du lịch hơn 8.920 tỷ đồng, tăng 32,4% so năm 2015. Phát triển du lịch đã được Chính phủ xác định là một ưu tiên hàng đầu trong định hướng phát triển đảo Phú Quốc trở thành một trung tâm du lịch sinh thái chất lượng cao của cả nước và khu vực.

KBTB Phú Quốc có tính đa dạng sinh học cao. Nhiều loại sinh cảnh quan trọng đã được xác định tại đây như rạn san hô, thảm cỏ biển, các rạn đá ngầm nằm dưới biển, bãi cát, rừng phòng hộ. Ngoài ra trên đảo lớn Phú Quốc còn có Vườn Quốc gia, các khu suối, bãi biển đẹp, nhà tù Phú Quốc và danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử khác như Dinh Cậu, mũi Ông đội. KBTB Phú Quốc còn có là nơi sinh cư cho nhiều loài sinh vật quan trọng như bò biển, rùa biển, cá ngựa, ghẹ, ốc nhảy và các loài cá rạn.

2.2.1.2. Lợi thế bởi các thể chế, chính sách đã được ban hành

KBTB Phú Quốc được thành lập và đi vào hoạt động quản lý trong bối cảnh có nhiều điều kiện thuận lợi bởi một số thể chế, chính sách liên quan đến lĩnh vực bảo tồn biển biển đã được Chính phủ và các cấp có thẩm quyền ban hành, áp dụng. Có thể nêu ra một số văn bản pháp luật chủ yếu đó là:

  • Quyết định số 432/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (2012) phê duyệt “Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020”.
  • Quyết định số 1250/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (2013) phê duyệt “Chiến lược quốc gia về ĐDSH đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc.
  • Quyết định số 45/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (2014) phê duyệt “Quy hoạch tổng thể bảo tồn ĐDSH của cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030”.
  • Quyết định số 742/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (2010) phê duyệt “Quy hoạch hệ thống KBT biển Việt Nam đến năm 2020”.
  • Quyết định số 633/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (2010) phê duyệt điều chỉnh “Quy hoạch chung xây dựng đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đến năm 2030”.
  • Quyết định số 1255/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (2011) phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Kiên Giang thời kỳ đến năm 2020”.
  • Quyết định số 441/QĐ-UBND của UBND tỉnh Kiên Giang (2012) phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Kiên Giang đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030”. Điều 1 của Quyết định này nêu rỏ rằng ưu tiên phát triển bền vững kinh tế, xã hội của đảo Phú Quốc và đảm bảo duy trì cảnh quan cũng như môi trường.
  • Quy chế quản lý các Ban bảo tồn biển Việt Nam có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế (ban hành kèm theo Nghị định 57/2008/NĐ-CP ra ngày 02/05/2008)
  • Quyết định số 1297/QĐ-UBND của UBND tỉnh Kiên Giang về việc ban hành Quy chế quản lý Ban bảo tồn biển Phú Quốc.

Đây là những văn quản pháp luật quan trọng và là những công cụ pháp lý cần thiết để đảm bảo cho việc thực thi công tác quản lý Ban bảo tồn biển Phú Quốc đạt hiệu quả và góp phần phát triển bền vững.

2.2.1.3. Sự quan tâm hỗ trợ của các tổ chức trong và ngoài nước

Từ năm 2002 đến nay, trong lĩnh vục bảo tồn biển, bảo vệ tài nguyên môi trường liên quan đến vùng biển Phú Quốc – Kiên Giang đã được nhiều tổ chức quốc tế quan tâm và tài trợ triển khai nhiều dự án nhỏ cho Phú Quốc. Một số tổ chức quốc tế có liên quan có thể kể đến đó là: DANIDA, WWF Chương trình biển Đông Dương, IUCN, UNEP … Bên cạnh đó, một số dự án cấp quốc gia liên quan đến lĩnh vực bảo tồn biển, bảo vệ môi trường đã và đang triển khai tại Phú Quốc như: Dự án “Ngăn ngừa xu hướng suy thoái môi trường Biển Đông và vịnh Thái Lan” của UNEP/GEF, Dự án Điểm trình diễn san hô, cỏ biển tại Phú Quốc của UNEP, Dự án Xây dựng Khu bảo tồn nguồn giống thủy sản” được thực hiện bởi tỉnh Kiên Giang và tỉnh Kam Pốt của Campuchia.

Ban bảo tồn biển Phú Quốc hiện nay là thành viên của mạng lưới các Ban bảo tồn biển Việt Nam. Các hoạt động quản lý về bảo tồn biển hiện nay của Ban quản lý Ban bảo tồn biển Phú Quốc nhận được sự hỗ trợ rất lớn về kỹ thuật và tài chính của Qua hỗ trợ phát triển quốc tế của Đan Mạch (DANIDA) thông qua sự điều phối của Hợp phần sinh kế bền vững bên trong và xung quanh các Ban bảo tồn biển (LMPA). Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc.

2.2.1.4. Sự ủng hộ của chính quyền và cộng đồng địa phương

Về phía địa phương, KBTB Phú Quốc luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của UBND tỉnh Kiên Giang, Ban chỉ đạo cấp tỉnh, Sở NN& PTNT, Chi cục Thủy Sản; sự phối hợp, hổ trợ tích cực của các bên liên quan cấp tỉnh, huyện trong hoạt động quản lý cũng như sự hợp tác tích cực của chính quyền địa phương 03 xã trong Ban bảo tồn biển là: UBND xã Hòn Thơm, UBND xã Bãi Thơm, UBND xã Hàm Ninh. Đặc biệt Ban bảo tồn biển Phú Quốc đã xây dựng được mối quan hệ chặt chẽ với cộng đồng địa phương thông qua UBND các xã. Đây là một nhân tố rất quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển khu BTB Phú Quốc đảm bảo sự tham gia của cộng đồng địa phương trong quá trình quản lý KBTB. Kể từ khi thành lập và đi vào hoạt động, Ban quản lý Khu BTB Phú Quốc đã thực hiện nhiều cuộc điều tra, khảo sát, tham vấn ý kiến của cộng đồng dân cư ở các xã trong Khu BTB. Kết quả đều cho thấy phần lớn người dân ủng hộ việc thành lập Khu BTB, có một sự đồng thuận rất cao của người dân trong việc triển khai các hoạt động, cộng đồng cùng tham gia vào công tác quản lý bảo tồn biển, phát triển du lịch cộng đồng thông qua các Đội tình nguyện, các Tổ tự quản cộng đồng đã được thành lập.

Tóm lại, KBTB Phú Quốc có lợi thế rất lớn cho phát triển du lịch cộng đồng với nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên độc đáo như: HST rạn san hô, thảm cỏ biền, các rạn đá ngầm nằm dưới biển, bãi cát, rừng phòng hộ và KBTB Phú Quốc còn có là nơi sinh cư cho nhiều loài sinh vật quan trọng như bò biển, rùa biển, cá ngựa, ghẹ, ốc nhảy và các loài cá rạn … cùng với điều kiện ưu đãi về khí hậu, những bờ cát trắng, vùng nước biển trong xanh tuyệt đẹp tạo nên những giá trị riêng biệt có sức hấp dẫn cao cho phát triển du lịch. Hiện nay, Phú Quốc đang đặt trọng tâm cho phát triển du lịch sinh thái biển song việc tổ chức khai thác tài nguyên còn mang tính tự phát, manh mún và bất cập. Như vậy, một chính sách phát triển du lịch hợp lý với các loại hình du lịch mang tính bền vững cao như du lịch cộng đồng sẽ giúp Phú Quốc cải thiện môi trường, khai thác tốt nhất những giá trị tài nguyên hiện có, nâng cao chất lượng cuộc sống, mang lại hiệu quả kinh tế ngày càng cao đáp ứng các tiêu chí cho một sự phát triển du lịch bền vững trong tương lai.

2.2.2 Thực trạng hoạt động du lịch tại Khu bảo tồn biển Phú Quốc

2.2.2.1. Về công tác quản lý nhà nước 

Ban quản lý KBTB Phú Quốc là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Chi Cục Thủy sản, tham mưu giúp Chi cục trưởng Chi Cục Thủy sản thực hiện chức năng hỗ trợ, phục vụ công tác quản lý Nhà nước chuyên ngành về bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản; tổ chức khai thác các giá trị tài nguyên và môi trường biển trong khu bảo tồn biển theo đúng quy định pháp luật.

Cùng trên mặt nước ngành thuỷ sản lại sử dụng mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản, ngành giao thông sử dụng để phát triển giao thông thuỷ, ngành du lịch khai thác kinh doanh cho hoạt động du lịch, kể cả tắm, bơi thuyền, thể thao trên nước cho đến tham quan du lịch… Tình trạng này đã và đang xảy ra, cho dù tình trạng chưa quá mâu thuẫn tại vùng nước quanh đảo Phú Quốc.

Tình trạng chồng chéo trong quản lý trên đã dẫn đến những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình khai thác sử dụng giữa các chủ thể quản lý. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc.

Bảng 2.3: Hiện trạng quản lý một số loại tài nguyên du lịch chính   Kiên Giang

2.2.2.2. Về hoạt động kinh doanh du lịch

Theo thống kê chưa đầy đủ của KBTB Phú Quốc thì trong số lượng khách du lịch đến tham quan du lịch ở KBTB chiếm khoảng 30% tổng số khách du lịch đến Phú Quốc hàng năm.

Thực hiện theo Quyết định 20 của UBND tỉnh Kiên Giang, vào ngày 10/01/2011, BQL đã chính thức thu phí tham quan KBTB rạn san hô ở Nam đảo với điểm thu phí đặt tại trạm kiểm soát biên phòng cảng An Thới và thị trấn Dương Đông với giá vé: 5.000 đồng/người. Số lượng khách hàng năm trung bình khoảng 80.000 người. Ngoài lực lượng hỗ trợ trong công tác thu phí là các Đồn, Trạm kiểm soát Biên phòng, BQL đã thành lập 01 Tổ quản lý thu phí của đơn vị để việc thực hiện thu, nộp và quản lý nguồn phí thu đảm bảo đúng quy định Nhà nước, ký hợp đồng với cơ quan bảo hiểm thực hiện bảo hiểm cho khách tham quan thông qua vé tham quan.

Mặc dù, việc thu phí tham quan KBTB Phú Quốc đã được triển khai nên BQL đã có nguồn tài chính nhưng chưa ổn định để phục vụ cho công tác quản lý bảo tồn biển vì việc thu phí còn chưa liên tục và còn nhiều trường hợp gian lận gây thất thu phí tham quan bảo tồn biển, cụ thể: Ban quản lý KBTB Phú Quốc phối hợp với lực lượng biên phòng thực hiện tuần tra, kiểm soát và xử lý các trường hợp vi phạm quy chế quản lý trong KBTB Phú Quốc ở vùng lõi san hô, cỏ biển, kiểm soát thu phí tham quan được 19 chuyến năm 2014 và 04 chuyến năm 2015.

Kết quả thu phí được rất thấp, do các nguyên nhân sau:

Phạm vi được thu phí hẹp (chỉ giới hạn trong vùng lõi và vùng đệm san hô, cỏ biển của KBTB Phú Quốc) trong khi đó vùng biển Phú Quốc bao quanh đảo rất rộng, với nhiều bến bãi nên tàu bè có thể tổ chức dịch vụ tham quan biển, lặn ngắm san hô ở quanh đảo đều được mà không cần phải vào khu vực bảo tồn biển. Trong khi đó, việc sát nhập về Chi cục Thủy sản nên phải gián đoạn một thời gian khá dài ngưng thu phí bảo tồn biển. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc.

BQL khu bảo tồn biển chưa được trang bị tàu tuần tra và chưa có đội tuần tra nên việc tuần tra, kiểm soát không thường xuyên vì thế các tàu chở khách du lịch trốn tránh không mua vé cho du khách hoặc chỉ mua cho có lệ. Thời gian gần đây khi tuần tra có phát hiện việc không mua vé tham quan thì cũng không có chế tài xử phạt, cho nên các tàu du lịch thường xuyên vi phạm, khi trình xuất bến họ viện cớ không đi vào khu bảo tồn biển nên không mua vé.

Sự hỗ trợ, kết hợp của Biên phòng không tích cực chặt chẽ, còn nể nang, né tránh trong việc xử lý những trường hợp vi phạm.

2.2.2.3.Về hệ thống cơ sở vật chất kinh thuật du lịch

Tổng số cơ sở lưu trú hiện tại Phú Quốc hiện là 403 cơ sở với tổng số phòng là 10.048 buồng. Trong đó có 313/403 cơ sở được xếp hạng 1 sao: 82 cơ sở; 2 sao: 35 cơ sở; 3 sao: 4 cơ sở; 4 sao: 8 cơ sở; 5 sao: 3 cơ sở, còn lại là nhà nghỉ. Nhìn chung cơ sở lưu trú có chất lượng khá tốt, đáp ứng nhu cầu lưu trú của khách du lịch ngay trong mùa cao điểm hoặc những ngày diễn ra các sự kiện lớn.

Hoạt động lữ hành có bước phát triển, 6 tháng đầu năm 2017 có 04 đơn vị thành lập mới, tổng số cơ sở kinh doanh lữ hành hiện tại là 91 cơ sở, trong đó có 6 doanh nghiệp lữ hành quốc tế.

Do những khó khăn về vốn đầu tư, chưa có dự án du lịch được phê duyệt nên hạ tầng cơ sở DLCĐ ở phạm vi KBTB Phú Quốc còn rất hạn chế. Khách du lịch chỉ đến KBTB tham quan còn nghỉ và sử dụng các dịch vụ tại hệ thống cơ sở lưu trú ngoài.

Bảng 2.4: Báo cáo tình hình hoạt động du lịch giai đoạn 2006-2015

2.2.2.4.Về nguồn nhân lực du lịch

Nhìn chung, số lao động chưa qua đào tạo nghiệp vụ còn cao, trình độ nghiệp vụ sơ cấp chiếm số lượng lớn và đào tạo ngắn hạn, số lao động phổ thông vẫn chiếm tỷ lệ cao, trình độ ngoại ngữ còn rất thấp, chuyên môn nghiệp vụ chủ yếu dựa vào các kinh nghiệm thực tiễn do đó chưa thể đảm bảo phục vụ khách theo đúng tiêu chuẩn, đặc biệt phục vụ khách quốc tế.

Ngoài ra, lao động mùa vụ chiếm tỷ lệ khá cao hầu hết chưa qua đào tạo về du lịch, thậm chí trình độ lao động còn thấp, lao động quản lý giỏi còn thiếu và đa số số lao động giỏi chủ yếu từ nơi khác đến.

Đây là một trong những khó khăn lớn của KBTB Phú Quốc trong định hướng phát triển du lịch rất nhanh của toàn huyện đảo trong những năm đến.

2.2.2.5.Về sinh kế của cộng đồng Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc.

Hiện nay, phần lớn người dân sống ở các xã nằm trong Khu bảo tồn biển Phú Quốc luôn gặp khó khăn về sinh kế. Một đặc điểm chung dễ nhận thấy đó là: đa số là hộ nghèo, ít vốn, phương tiện khai thác nhỏ, ít đất sản xuất, đông con, phụ nữ không hoặc ít có cơ hội làm việc, nghề biển là nghề truyền thống khó có thể thay đổi. Đặc biệt là xã Hòn Thơm (đảo Hòn Thơm và Hòn Rỏi), gần 90% hộ dân không có đất ở (thường thuê đất ở tạm, cư trú không ổn định). Người dân khai thác thuỷ sản bằng các nghề truyền thống, lạc hậu, hoạt động ven bờ dẫn đến nguồn lợi thuỷ sản bị cạn kiệt, hệ sinh thái thảm cỏ biển bị xáo động làm gây ô nhiễm môi trường nước, tác động lớn đến nơi cư trú của các loài thuỷ sản, đặc biệt một số loài động vật biển quí hiếm như dugong, rùa biển đang có nguy cơ tiệt chủng. Do đó, chiến lược giải quyết, hỗ trợ sinh kế thay thế cho người dân là một chiến lược vô cùng quan trọng, cần được sự quan tâm, nỗ lực của các bên liên quan và nhiều thành phần tham gia.

Thực hiện chiến lược sinh kế bền vững; tập trung vào việc giảm mức độ dễ bị tổn thương và tạo điều kiện phát triển các hoạt động khác nhằm tăng thêm thu nhập và cải thiện điều kiện sống cho cộng đồng sống bên trong và xung quanh Khu bảo tồn biển. Trong 5 năm (2007 – 2011), Hợp phần LMPA đã hỗ trợ triển khai nhiều hoạt động sinh kế cho người dân bị ảnh hưởng của Khu bảo tồn biển Phú Quốc như:

  • Hỗ trợ đầu tư mô hình nuôi Ếch thương phẩm cho 3 hộ gia đình tại xã Hòn Thơm.
  • Hỗ trợ 5 thuyền thúng cho Tổ tình nguyện cộng đồng xã Hòn Thơm kinh doanh dịch vụ du lịch, góp phần nâng cao thu nhập cho các thành viên của Tổ.
  • Hỗ trợ 6 con em ngư dân học lái xe ô tô hạng B2 và 1 thuyền trưởng tàu vận chuyển rác của xã Hòn Thơm.
  • Hỗ trợ đào tạo 8 thanh niên ở xã Hòn Thơm học nghiệp vụ du lịch (nấu ăn, phục vụ bàn, lễ tân, hướng dẫn viên du lịch …) tại Trường Trung học Kinh tế Du lịch Hoa Sữa – Hà Nội. Hiện nay các em đã có việc làm và thu nhập ổn định.
  • Hỗ trợ xây dựng 182 nhà vệ sinh hộ gia đình cho các hộ ngư dân nghèo, hộ thuộc diện chính sách, trường học nhằm góp phần nâng cao chất lượng sống, cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường khu vực nông thôn.
  • Hỗ trợ 99 suất học bổng cho các em học sinh nghèo học giỏi, học sinh có hoàn cảnh khó khăn trong năm học 2010 – 2011, ở các xã Hòn Thơm, Bãi Thơm, Hàm Ninh, Gành Dầu.
  • Khoan 3 giếng nước ở xã đảo Hòn Thơm và Hòn Rỏi phục vụ cho cộng đồng sống trong Khu bảo tồn rạn san hô.
  • Hỗ trợ xã Hòn Thơm xây dựng và triển khai chương trình quản lý rác thải (trang bị tàu vận chuyển rác, chất liệu bằng Composite với công suất 30 CV, thành lập tổ thu gom rác, hỗ trợ kinh phí hoạt động trong 8 tháng, tổ chức các hoạt động tuyên truyền về bảo vệ môi trường) Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc.

Nhìn chung các hoạt động hỗ trợ sinh kế trên đã góp phần cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống và tạo việc làm giúp chuyển đổi nghề cho một bộ phận ngư dân trong Khu bảo tồn biển. Các hoạt động sinh kế nêu trên đã được sự đồng thuận và ủng hộ rất cao của chính quyền địa phương và cộng đồng ở các xã.

Vấn đề đầu tư dịch vụ du lịch trên các đảo trong KBTB cũng phải hết sức thận trọng và khôn khéo khi sử dụng tài nguyên này vốn rất nhạy cảm với môi trường. Cần phải có chiến lược cụ thể cho người dân tham gia phát triển kinh tế bằng các hoạt động dịch vụ du lịch, đặc biệt là ngư dân khai thác thuỷ sản bằng nghề truyền thống trong Khu bảo tồn biển.

2.2.2.6.Về hoạt động đ u tư phát triển du lịch

Về đầu tư du lịch, đến nay toàn tỉnh đã thu hút được 271 dự án đang còn hiệu lực triển khai thực hiện tại 04 vùng du lịch trọng điểm, với tổng diện tích 7.561 ha, vốn đầu tư 231.965 tỷ đồng; trong đó, 179 dự án được cấp Giấy chứng nhận đầu tư (GCNĐT) với diện tích 4.271 ha, vốn đầu tư đăng ký 131.582 tỷ đồng; 92 dự án có chủ trương đầu tư, đang triển khai các thủ tục đầu tư theo quy định, với diện tích 3.343 ha và vốn đăng ký đầu tư là 100.383 tỷ đồng.

Riêng Phú Quốc có 215 dự án với diện tích 6.316 ha, tổng vốn đầu tư 222.478 tỷ đồng; trong đó: 157 dự án được cấp GCNĐT với diện tích 3.721 ha, vốn đầu tư đăng ký 126.022 tỷ đồng; 30 dự án đã đi vào hoạt động, với diện tích 914 ha, vốn đầu tư 31.073 tỷ đồng; 58 dự án được chấp thuận chủ trương đầu tư, với diện tích 2.595 ha.

Tại vùng đệm của KBTB có một số dự án phát triển các khu nghỉ dưỡng biển mà điển hình là khu nghỉ dưỡng – vui chơi giải trí Vinpearl Phú Quốc, và khu nuôi thú bán hoang dã Vinpearl Safari Phú Quốc.

Ngày 23/2/2017, Uỷ ban nhân dân tỉnh Kiên Giang ra quyết định số: 378/QĐUBND phê duyệt “Đề án thí điểm thành lập mô hình đồng quản lý tiểu khu bảo tồn biển ấp Bãi Chồng, xã Bãi Thơm và ấp Bãi Bổn, xã Hàm Ninh, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang” nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng tham gia cùng với Nhà nước trong công tác quản lý khai thác tài nguyên, bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học, bảo vệ các hệ sinh thái, nguồn lợi thủy sản, môi trường biển và các giá trị văn hoá – lịch sử; đảm bảo chia sẻ lợi ích hài hoà giữa các bên liên quan trên cơ sở lợi ích lớn nhất của cộng đồng; đảm bảo lợi ích kinh tế – xã hội – môi trường trước mắt và lâu dài cho cộng đồng địa phương cũng như của toàn tỉnh trên cơ sở sử dụng một cách hợp lý, bền vững các giá trị tài nguyên biển.

Và, hiện tại chưa có dự án đầu tư nào phát triển du lịch cộng đồng ở KBTB Phú Quốc được phê duyệt.

2.2.2.7.Về sự suy giảm tài nguyên, môi trường du lịch Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc.

Hiện nay nhiều loài sinh vật biển tại Phú Quốc đang có nguy cơ bị đe dọa hoặc biến mất do các hoạt động của con người. Mặc dù các loài quan trọng như rùa biển, bò biển đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái thảm cỏ biển, nhưng trong những năm gần đây hầu như ít khi xuất hiện. Các loài như trai điệp, bào ngư, hải sâm, cá ngựa, ghẹ, ốc nhảy, cá mú là những đối tượng có giá trị kinh tế, mang lại thu nhập cho cộng đồng cư dân địa phương cũng bị khai thác quá mức. Từ các công trình nghiên cứu khoa học, các đề tài điều tra khảo sát của các cơ quan nghiên cứu về môi trường biển cho thấy một thực trạng đáng lo ngại về sự suy giảm của các rạn san hô, suy thoái thảm cỏ biển trong KBTB Phú Quốc mặc dù mức độ xâm hại chưa ở mức đe dọa cao. Hầu hết các rạn san hô, thảm cỏ biển bị đe dọa là do hoạt động của con người từ các hoạt động khai thác, đánh bắt thủy sản như nghề lưới bao rạn, nghề lặn bắt cá và các loài nhuyễn thể trong rạn san hô, nghề giã cào ven bờ trong vùng cỏ biển … hoặc bị ảnh hưởng bởi các hoạt động neo tàu, bơi lặn giải trí của khách du lịch, ô nhiểm trên biển.

Ngoài ra, một số loài động vật biển quý hiếm như: Dugong (bò biển), cá heo, rùa biển là những loài nằm trong sách đỏ, có đời sống quan hệ mật thiết với rạn san hô, thảm cỏ biển thường xuyên bị đe dọa bởi hoạt động khai thác, đánh bắt của người dân. Qua các nguồn thông tin nắm được, hàng năm đều ghi nhận xảy ra các vụ việc người dân địa phương giết hại các loài động vật biển quý hiếm xảy ra trong Khu bảo tồn biển. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc.

  • Bảng 2.5: Hiện trạng của các đối tượng tài nguyên
  • Sơ đồ 2.1: Mối đe dọa và nguyên nhân gây nên mối đe dọa đối với Rạn san hô  
  • Sơ đồ 2.2: Mối đe dọa và nguyên nhân gây nên mối đe dọa đối với Thảm cỏ biển
  • Sơ đồ 2.3: Mối đe dọa và nguyên nhân gây nên mối đe dọa đối với Rùa biển 
  • Sơ đồ 2.4: Mối đe dọa và nguyên nhân gây nên mối đe dọa đối với Bò biển
  • Sơ đồ 2.5: Mối đe dọa và nguyên nhân gây nên mối đe dọa đối với Ghẹ, Ốc nhảy và Cá ngựa

Hầu hết người dân sống trong và xung quanh KBTB Phú Quốc sống bằng nghề khai thác thủy sản với quy mô khai thác nhỏ, đa số phương tiện khai thác có công suất dưới 20 CV làm các nghề có ảnh hường đến Khu bảo tồn biển như nghề lặn, bẩy ghẹ, bao rạn ven bờ, cào cá ngựa … Đặc biệt nghề cào bay do các phương tiện từ nơi khác đến đã tạo ra một áp lực khai thác lớn đến nguồn lợi thủy sản ven bờ cũng như các mối đe dọa tiềm tàng đến các rạn san hô và thảm cỏ biển. Xã Hòn Thơm nằm trong KBTB, hiện nay đóng vai trò như một trung tâm neo đậu và trú ẩn cho tàu thuyền khai thác thủy sản và các hoạt động diễn ra luôn đi kèm với việc những sản phẩm thừa, chất thải sinh hoạt, dầu mỡ, chất thải hữu cơ thường được thải trực tiếp xuống biển, về lâu dài nếu không có phương án kiểm soát, xử lý hiệu quả sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trường biển.

2.2.2.8.Về hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch

Trong những năm vừa qua các hoạt động tuyên truyền – truyền thông được BQL Khu bảo tồn biển Phú Quốc triển khai đồng bộ với nhiều hình thức đa dạng, sinh động như: xây được 11 panô tuyên truyền bằng ciment, khung sắt; 800 áp phích; thiết kế và in ấn 1.000 cuốn sách nhỏ giới thiệu về quá trình hình thành và phát triển của KBTB Phú Quốc; 10.500 tờ rơi; 1.250 áo và nón với các nội dung khác nhau như bảo vệ môi trường, bảo vệ động vật biển quý hiếm, tuyên truyền về thu phí tham quan danh lam thắng cảnh KBTB Phú Quốc.

Ngoài ra, các hình thức truyền thông cho các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch cũng được chú ý thông qua các cuộc hội thảo chuyên đề, hội nghị tham vấn ý kiến đóng góp về phí tham quan KBTB Phú Quốc; đồng thời phát tờ rơi, áp phích cho các tàu du lịch, các trung tâm bơi, lặn; phối hợp với đài Truyền thanh – truyền hình Phú Quốc xây dựng chuyên mục bảo tồn biển phát sóng định kỳ với 1 chuyên mục/ tuần trên sóng Truyền thanh – truyền hình Phú Quốc và trên sóng các đài truyền thanh của các xã của huyện Phú Quốc, phối hợp làm phim tài liệu phóng sự về KBTB Phú Quốc.

Làm việc với tổ chức Bảo vệ động vật hoang dã (Wildlife At Risk – WAR) và ký thỏa thuận về Dự án “Bảo tồn Dugong và đa dạng sinh học Khu vực Phú Quốc – Thổ Chu”, từ tháng 05/2013 đến tháng 12/2015 (3 năm), với tổng kinh phí 105.000 USD do Tổ Chức Bảo vệ Động vật hoang dã tài trợ, với mục đích là Bảo vệ loài Dugong và các một số loài sinh vật biển khác có nguy cơ bị tuyệt chủng; Giáo dục bảo tồn về dugong, các loài sinh vật biển và trên cạn cho học sinh và nâng cao nhận thức cho cộng đồng các làng chài ven biển tại Phú Quốc – Thổ Chu và bổ sung thông tin động thực vật hoang dã quý hiếm tại khu vực đảo Thổ Chu cho các cơ quan liên quan tại địa phương, tiếp tục cho vay đối với các hộ tham gia chương trình Ghẹ xanh. Phối hợp ra quân hơn 11 đợt làm sạch môi trường khu dân cư và bờ biển.

Qua 10 năm, đã có 8 đợt tập huấn kỹ năng cho cán bộ, công chức, viên chức của Ban quản lý KBT, các sở, ban ngành liên quan cấp tỉnh, huyện, xã; trên 30 khóa tập huấn, hội thảo về sự giám sát đa dạng sinh học, tài chính bền vững, quy hoạch không gian biển, thực thi pháp luật, kỹ năng truyền thông, tham quan học tập kinh nghiệm quản lý các khu BTB trong và ngoài nước. Xây dựng và phát triển 3 tổ tình nguyện cộng đồng về bảo tồn biển ở các xã Hòn Thơm, Bãi Thơm, Hàm Ninh trong KBTB Phú Quốc với hơn 30 thành viên. Thành lập, đưa vào hoạt động 6 câu lạc bộ về bảo tồn biển trong các trường học trên địa bàn huyện với 250 học sinh tham gia.

Tuy nhiên đến nay chưa có hoạt động xúc tiến quảng bá nào liên quan đến DLCĐ được triển khai ở KBTB Phú Quốc.

2.2.3. Kết quả khảo sát điều tra Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc.

Thực trạng về hoạt động du lịch nói chung và du lịch cộng đồng nói riêng ở KBTB Phú Quốc được thể hiện rõ qua các thông tin, số liệu thu thập được qua các đợt khảo sát thực tế và điều tra xã hội học trong khoảng thời gian tháng 02/2017 đến tháng 07/2017. Đối tượng điều tra xã hội học là các bên liên quan gồm: công ty lữ hành, du khách và cộng đồng dân cư địa phương tại KBTB Phú Quốc.

Việc khảo sát công ty lữ hành với số lượng mẫu là 10 và được thực hiện ngay tại huyện đảo Phú Quốc với bảng câu hỏi phỏng vấn dành cho Giám đốc hoặc Điều hành tour.

Đối với du khách: số lượng phiếu khảo sát được phát ra là 100 phiếu.

Đối với cộng đồng dân cư: bên cạnh việc phỏng vấn sâu đối với người dân, tác giả cũng phát phiếu điều tra để lấy tỷ lệ % với số lượng phiếu phát ra là 50 phiếu.

Bên cạnh việc tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các nhà quản lý về du lịch tại các điểm khảo sát để tổng hợp các số liệu cần thiết, tác giả đã sử dụng số liệu sơ cấp được thu thập khi khảo sát với phần mềm Excel để tính toán tần suất và phân tích số liệu.

Một số đặc điểm cơ bản về thực trạng phát triển DLCĐ được thể hiện qua những kết quả sau:

2.2.3.1. Khảo sát cộng đồng

Quá trình khảo sát về DLCĐ trên địa bàn ven biển, đảo huyện đảo Phú Quốc cho thấy từ năm 2016 đến 2017 đã có sự bùng phát về phát triển du lịch rất mạnh. Tuy nhiên do tính chất tự phát nên dẫn đến những hạn chế trong vấn đề phát triển, đồng thời nảy sinh những vấn đề tiêu cực trong công tác quản lý hành chính, xã hội và môi trường của địa phương.

Về về công tác quản lý hành chính: đó là sự quản lý về cư trú, về an ninh xã hội, về quản lý định hướng phát triển ngành nghề chưa có những hỗ trợ cụ thể cho phát triển du lịch từ các bên tham gia.

Về xã hội: sự mất cân bằng trong cung cầu, giá cả một số sản phẩm không ổn định tại các thời điểm bùng phát du lịch. Ngoài ra còn là sự tác động của các xu hướng văn hóa bên ngoài đến cộng đồng bản địa.

Về môi trường: đó là rác thải, sự xuống cấp về cơ sở hạ tầng.

Bên cạnh những hạn chế từ việc phát triển du lịch tự phát thì cộng đồng KBTB Phú Quốc cũng đã có những thuận lợi ban đầu cho sự phát triển. Đó là chất lượng đời sống được nâng cao khi có thêm một nguồn thu mới từ du lịch. Sự tăng lên về nhận thức văn hóa khi cộng đồng tự nâng cao về chuyên môn nghiệp vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách. Từ mô hình tự phát, đã có những chính sách ban đầu của địa phương trong quy hoạch đô thị và mở ra một cơ hội cho quy hoạch đô thị mới nhằm đáp ứng được nhu cầu phát triển của ngành nghề địa phương.

Qua khảo sát thực tế, ngoài mức thu nhập chính từ các nghề lặn, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản của cộng đồng KBTB Phú Quốc trước đây thì sau khi có sự phát triển du lịch, người dân đã có thêm một nguồn thu nhập mới để nâng cao đời sống. Cụ thể người dân có mức thu nhập thêm từ du lịch trên 4 triệu đồng/ tháng là 54%; với mức thu nhập thêm từ 2 triệu – 4 triệu đồng/tháng chiếm 24%; và mức từ 1,5 triệu – 2 triệu chiếm 10%; còn lại là không tham gia vào hoạt động du lịch nên không tạo ra doanh thu thêm. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc.

Biểu đồ 2.1: Mức thu nhập thêm hàng tháng của người dân từ hoạt động du lịch

Ngoài những vấn đề trên, cộng đồng cư dân ven biển, đảo khi được hỏi cũng đã thể hiện sự quan tâm đến các hoạt động du lịch và công tác bảo tồn cho môi trường nói chung với tỉ lệ % theo bảng 2.6 dưới đây:

Bảng 2.6: Những vấn đề được cộng đồng dân cư quan tâm khi tham gia  hoạt động du lịch trên đảo (%)

Mong muốn được tham gia vào hoạt động du lịch để thông qua đó nhằm cải thiện điều kiện sống. Bên cạnh đó, cộng đồng các làng ven biển đảo đã bước đầu có sự quan tâm đến các vấn đề chung về môi trường sống và môi trường văn hóa xã hội.

2.2.3.2. Khảo sát khách du lịch

  1. Mục đích và thời gian chuyến đi du lịch

Biểu đồ 2.2: Mục đích và thời gian chuyến đi của khách du lịch đến Phú Quốc

Qua biểu đồ có thể thấy đa số du khách đi du lịch chủ yếu là vì mục đích tham quan tìm hiểu tự nhiên và văn hóa (73%), vì công việc chỉ chiếm 14%. Thăm thân chiếm 10%, còn lại là các mục đích khác 3%. Thời gian của chuyến đi hầu hết kéo dài 3-4 ngày (chiếm 34%), thời gian 1-2 ngày chiếm 26%. Những đối tượng khách quốc tế thường ở lại Phú Quốc từ 5-10 ngày chiếm 23%. Những khách du lịch ở từ 11-20 ngày và trên 20 ngày chiếm 17%, hầu hết là khách đi nghỉ dưỡng biển. Những điều trên cho thấy lượng khách du lịch đến với Phú Quốc hầu hết là đi du lịch thuần túy tìm về với tự nhiên biển đảo, thời gian đi với khách nội địa thường ngắn ngày.

  • Những loại hình, sản phẩm du lịch biển được ưa thích

Thông thường khách du lịch đến Phú Quốc đa số có xu hướng đi du lịch kết hợp nhiều loại hình khác nhau (chiếm 48%) và họ sẽ lưu trú lại nhiều ngày hơn nếu các sản phẩm du lịch tại địa phương phong phú và đặc trưng. Khi phân chia các loại hình cụ thể thì du lịch tham quan nghỉ dưỡng biển vẫn chiếm đa số (34%) cũng phản ánh mối quan tâm của du khách vẫn là các hình thức tham quan nghỉ biển. Còn có tỷ lệ khá cao du khách có mục đích thể thao khám phá (12%). Loại hình du lịch văn hóa hay nghiên cứu thường được kết hợp với các hoạt động sinh thái biển như là một sự trải nghiệm thêm của du khách mà chưa được quan tâm khai thác đúng tiềm năng. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc.

Biểu đồ 2. : Loại hình sản phẩm du lịch biển đảo được du khách ưa thích

Hiện tại KBTB Phú Quốc đang khai thác các sản phẩm như các loại hình lưu trú ven biển; các khu vực hệ sinh thái biển quý hiếm như rạn san hô, thảm cỏ biển khai thác các loại hình du lịch biển như lặn biển, nghiên cứu, lướt sóng, câu cá, đua thuyền, bơi lội.

Và ở Bãi Bổn – xã Hàm Ninh có bờ biển nằm trong vùng lõi và vùng đệm của Khu Bảo tồn biển Phú Quốc, với mật độ thảm cỏ biển tương đối dày. Thảm cỏ biển nơi đây là nơi sinh sản phát triển ghẹ xanh, tạo thành sản phẩm đặc sản giá trị kinh tế và chất lượng cao của tỉnh Kiên Giang. Ghẹ là nguồn lợi chủ lực của địa phương trong chế biến xuất khẩu và phục vụ khách du lịch. Ghẹ là nguồn thu nhập chính đa số ngư dân nghèo sống trên đảo.

Ngoài ra cộng đồng người dân trực tiếp tham gia hoạt động du lịch như thuyền thúng xem san hô, lặn biển.

Tại đây có thể xây dựng tour du lịch rừng – biển, du lịch học tập nghiên cứu đa dạng sinh học, du lịch đánh cá …

  • Mức độ hài lòng của khách du lịch đối với môi trường du lịch biển đảo và các yếu tố phục vụ khác

Bảng 2.7: Mức độ hài lòng của Khách du lịch với môi trường du lịch biển đảo và các yếu tố phục vụ khác (%)

Từ bảng trên cho thấy khách du lịch khi đến với KBTB Phú Quốc đã cảm nhận đánh giá các nội dung nổi trội tại điểm đến như sau: đầu tiên là thái độ ứng xử của người dân địa phương được đánh giá rất cao, điều này thể hiện rõ khi có đến 95% lượng du khách cảm thấy hài lòng và rất hài lòng; điểm nổi trội thứ hai là ẩm thực địa phương (84%) với nhiều món ăn vùng biển rất tươi và ngon, đặc biệt là Ghẹ xanh …; yếu tố thứ ba cũng được du khách hài lòng là sự an ninh an toàn (75%), thứ tư là giá trị truyền thống của cư dân vùng biển đảo (72%) thông qua cách cư xử thân thiện, lối sống thật thà, giản dị. Ngoài ra tính hoang sơ tự nhiên (70%) cũng là điểm mạnh với các bãi biển tự nhiên tuyệt đẹp. Cuối cùng các yếu tố khác cũng được du khách đánh giá tương đối hài lòng là dịch vụ lưu trú, ăn uống và phương tiện vận chuyển.

Một số yếu tố không được du khách đánh giá tốt, trong đó có dịch vụ mua sắm hàng lưu niệm, đặc sản (có đến 62% cảm nhận không hài lòng và khá hài lòng). Điều này thể hiện sự hạn chế trong việc chế tác, sản xuất các mặt hàng lưu niệm mang tính đặc trưng của địa phương. Chất lượng môi trường biển đảo cũng là vấn đề cần cải thiện khi hoạt động du lịch đã mang đến những phiền toái từ việc gia tăng lượng rác thải gây ô nhiễm khu dân cư và môi trường (59% khách không hài lòng đến khá hài lòng).

  • Những thông tin có ảnh hưởng đến việc lựa chọn các điểm du lịch cộng

Qua biểu đồ 2.4 cho thấy nguồn thông tin gây ảnh hưởng lớn nhất đến du khách trong việc lựa chọn điểm DLCĐ tại KBTB Phú Quốc là thông qua sự giới thiệu của bạn bè (27%), điều này rõ ràng cho thấy các điểm DLCĐ tại KBTB Phú Quốc hoặc là chưa được truyền thông rộng rãi hoặc là điểm du lịch mới được khai thác; tiếp đến là thông qua Internet 24%, được tiếp cận bởi giới thanh niên trẻ tuổi; các nguồn thông tin khác như tạp chí, nhật báo chiếm vị trí thứ ba (26%); riêng nguồn thông tin từ Ti vi, Radio cũng rất quan trọng (chiếm 14%); luồng thông tin từ các công ty du lịch lữ hành cũng có đóng góp nhất định (chiếm 9%), điều này phản ánh các công ty du lịch còn chưa thực sự tiếp sức cho các điểm DLCĐ trên KBTB Phú Quốc.

  • Cảm nhận và xu hướng của du khách trong việc sử dụng các sản phẩm dịch vụ tại điểm du lịch cộng đồng.

Bên cạnh việc khách du lịch đánh giá rất cao về thái độ thân thiện cởi mở của người dân KBTB Phú Quốc nói chung và cư dân biển đảo nói riêng (chiếm 97%), đa số du khách khi được hỏi cũng đánh giá các dạng tài nguyên và sản phẩm tại các điểm DLCĐ là khá hấp dẫn (chiếm 55%). Điểm DLCĐ làng chài Hàm Ninh hiện nay thu hút rất đông khách du lịch nội địa, trung bình một ngày khoảng 100 khách, đặc biệt cuối tuần và ngày lễ có tới khoảng 500 khách/ngày, đây là điểm đáng vui mừng xong cũng dẫn đến cơ sở hạ tầng và chất lượng dịch vụ không theo đáp ứng theo nhu cầu của du khách.

Bảng 2.8: Tỉ lệ % khách du lịch sử dụng các sản phẩm dịch vụ tại các điểm du lịch cộng đồng biển đảo Phú Quốc

Khách du lịch lại rất thích hình thức ngủ tại nhà dân (chiếm 80%). Một số dịch vụ được khách nội địa sử dụng nhiều nhất là ăn uống (95%), mua sắm hàng hóa (86,7%) và tìm hiểu văn hóa, phong tục tập quán (81,7%). Khách thường xuyên sử dụng dịch vụ vận chuyển từ những người dân làng biển như ghe, tàu, thúng để tham quan hay lặn biển (88,3%). Các hình thức tham quan nghệ thuật sản xuất thủ công truyền thống không thu hút nhiều du khách (41.7%). Dịch vụ hướng dẫn đa số là do các công ty lữ hành đưa khách đi và hướng dẫn trực tiếp (chiếm 51,7%). Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc.

Về trình độ văn hóa có 70% du khách có trình độ cao đẳng – đại học, 25% có trình độ trung học và trung học chuyên nghiệp, 5 % là trình độ trên đại học. Nhìn chung trình độ học vấn của khách du lịch đến Phú Quốc khá cao.

Về nghề nghiệp: Qua khảo sát cho thấy khách du lịch chiếm đa số là những người làm kinh doanh nói chung (19%); tiếp đến là người làm nghề kỹ thuật, kỹ sư và học sinh sinh viên chiếm khá cao (16% và 15%); giáo viên, nhân viên văn phòng và những nhà quản lý chiếm tỉ lệ tương đối (từ 11% – 13%); còn lại là các thành

Biểu đồ 2.6: Nghề nghiệp của Khách du lịch đến các điểm du lịch cộng đồng tại Phú Quốc

2.2.3.3. Khảo sát công ty du lịch

Thông qua việc khảo sát trực tiếp 10 công ty du lịch lớn trên địa bàn Phú Quốc, tác giả muốn chọn lọc những dữ liệu quan trọng để xác định rõ hơn những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia hoạt động DLCĐ của du khách. Bên cạnh đó, thông qua mẫu điều tra, các công ty cũng cho biết những hạn chế của cộng đồng và các khó khăn, trở ngại chính khi tham gia kinh doanh DLCĐ tại KBTB Phú Quốc.

Tất cả các công ty thông qua phỏng vấn đều cho rằng khách du lịch đến với các điểm cộng đồng vùng ven biển đảo vì lý do cảnh quan tự nhiên và nét văn hóa độc đáo của cộng đồng, điều này cũng phản ánh giá trị tài nguyên biển đảo trong khai thác du lịch của Phú Quốc. Đối tượng khách thường xuyên đến với các điểm cộng đồng (như làng chài Hàm Ninh, làng chài Hòn Thơm) chủ yếu thanh niên, trẻ tuổi đi theo tâm lý nhóm và tự phát vì vậy có thể thấy rất nhiều bạn trẻ rủ nhau tự tổ chức chuyến đi (6 công ty). Bên cạnh đó yếu tố giá cả và chất lượng dịch vụ tại điểm cộng đồng không được đánh giá cao, một số tiêu chuẩn về chất lượng dịch vụ chưa tương xứng với giá cả.

Các công ty lữ hành cũng đánh giá những yếu tố khó khăn trong quá trình xây dựng, thiết kế các sản phẩm DLCĐ tại Phú Quốc theo các chỉ tiêu:

Từ biểu đồ trên có thể thấy có 08 công ty cho rằng hai rào cản ảnh hưởng lớn đến việc thiết kế các sản phẩm DLCĐ là việc thiếu các nguồn thông tin chính thống từ cộng đồng và năng lực cộng đồng còn hạn chế trong các hoạt động du lịch nói chung. Bên cạnh đó, các công ty du lịch hiện tại chỉ liên kết trực tiếp với các hộ gia đình một cách tự phát, chính quyền địa phương chỉ đóng vai trò giám sát và chưa hướng dẫn, hỗ trợ nhiều cho hoạt động du lịch tại địa phương (07 công ty). Các yếu tố khác như điều kiện tiếp cận điểm cộng đồng (5 công ty) và các rào cản từ cộng đồng (3 công ty) không ảnh hưởng quá nhiều đến việc cho ra sản phẩm DLCĐ vì có thể khắc phục bằng nhiều cách khác nhau.

2.2.4. Đánh giá chung về hoạt động phát triển du lịch cộng đồng tại Khu bảo tồn biển Phú Quốc Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc.

KBTB Phú Quốc tuy chỉ mới có những bước đi ban đầu cho hoạt động DLCĐ song có thể thấy những tiền đề cho loại hình du lịch này phát triển. Tuy nhiên, nhìn lại các nội dung hoạt động du lịch trong thời gian tại các cộng đồng ở KBTB Phú Quốc cho thấy có nhiều thuận lợi nhưng bên cạnh đó cũng còn nhiều khó khăn thách thức. Cụ thể như sau:

2.2.4.1. Thuận lợi

Có lợi thế về tiềm năng DLCĐ thông qua hệ thống các tài nguyên tự nhiên, các KBTB với nhiều hệ sinh thái điển hình và lối sống đặc trưng rất thân thiện của cư dân vùng biển đảo.

Theo quyết định số 633/QĐ-TTg về phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đến năm 2030 tỉnh Kiên Giang đã xem việc phát triển du lịch hướng về biển đảo như là một chiến lược quan trọng, như vậy việc phát triển DLCĐ cũng là một hình thức phát triển bền vững, đúng hướng trong thời điểm hiện tại.

KBTB Phú Quốc luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo, hỗ trợ của Ban chấp hành tỉnh, các cấp các ngành của tỉnh, huyện, xã; Sở NN&PTNT Kiên Giang, trực tiếp là Chi cục Thủy sản tỉnh Kiên Giang trong các hoạt động quản lý của KBTB Phú Quốc.

Ngành du lịch tỉnh Kiên Giang trong những năm qua đã không ngừng phát triển, thu hút lượng lớn du khách, đây chính là tiền đề cho sự ra đời nhiều sản phẩm hơn nữa, trong đó có DLCĐ để đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách.

Trong bối cảnh mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, xu hướng toàn cầu hóa, việc phát triển du lịch bền vững được nhiều tổ chức, cá nhân, các tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ quan tâm và hỗ trợ, đặc biệt là tại các vùng có giá trị tài nguyên đặc trưng. Hoạt động phát triển DLCĐ tại KBTB Phú Quốc không những tạo sự bền vững, bảo tồn cho môi trường tự nhiên mà còn giúp cộng đồng ngư dân tạo thêm sinh kế mới nâng cao điều kiện sống.

2.2.4.2. Khó khăn và tồn tại Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc.

Trong quản lý hoạt động du lịch, về nhận thức chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa loại hình du lịch đại chúng và du lịch cộng đồng, vì vậy chưa có kế hoạch – quy hoạch hợp lý để phát triển một cách đúng đắn.

Ý thức của người dân và khách du lịch và cả các công ty lữ hành nói chung về bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường văn hóa chưa cao và chưa đồng bộ. Ở các vùng ven biển, đảo khi đa số người dân làm nghề đi biển, trình độ dân trí còn thấp, là hậu quả gián tiếp gây khó khăn trong việc bảo vệ môi trường chung tại KBTB Phú Quốc

Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, tài nguyên biển chưa đạt được những kết quả như mong đợi. Cộng đồng sống trong KBTB nhận thức và ủng hộ về việc bảo tồn biển chưa cao.

Công tác thực thi pháp luật trong KBTB còn nhiều hạn chế như: sự phối hợp giữa các bên liên quan chưa chặt chẽ, đồng bộ; xử lý, chế tài vụ việc vi phạm chưa nghiêm và thiếu kiên quyết; kinh phí cho công tác tuần tra, kiểm soát chưa được quan tâm đúng mức.

Phát triển các nguồn sinh kế nhằm hỗ trợ cho cộng đồng sống trong KBTB là một bài toán khó trong việc chú trọng đến tính hiệu quả và đảm bảo bền vững về sinh kế cho những đối tượng hưởng lợi. Các mô hình sinh kế hỗ trợ cho cộng đồng chưa đa dạng và quy mô không lớn và các mô hình sinh kế chưa có tính nhân rộng trong cộng đồng.

Phạm vi của KBTB Phú Quốc quá rộng, điều kiện đi lại khó khăn; trong khi đó trụ sở làm việc của Ban Quản Lý đặt ở thị trấn An Thới nên ảnh hưởng khá lớn đến hoạt động quản lý của đơn vị.

Do hoạt động DLCĐ còn rất mới mẻ ở Phú Quốc và hoạt động du lịch còn mang tính tự phát, nên việc định hình dịch vụ còn chưa hoàn chỉnh dẫn đến tính hấp dẫn và chất lượng sản phẩm DLCĐ còn chưa cao, nghèo nàn, đơn điệu.

Việc quy hoạch, quản lý của chính quyền địa phương không đồng bộ đối với các hộ dân kinh doanh du lịch từ việc xả thải ra môi trường bị buông lỏng gây ô nhiễm các khu vực cầu cảng, bãi biển, đến các hoạt động đón khách lên đảo và nhiều hình thức kinh doanh gây ảnh hưởng chung đến tình hình an toàn, an ninh chung tại khu vực.

Đối với hoạt động DLCĐ, cơ quan quản lý nhà nước về du lịch chưa có cơ chế chính sách rõ ràng nhằm thúc đẩy, khuyến khích các thành phần của xã hội tham gia đầu tư phát triển. Ngoài ra trong quy hoạch điều chỉnh phát triển du lịch Kiên Giang đến 2030 không đề cập đến mô hình du lịch cộng đồng cũng là vấn đề bất cập cho hoạt động phát triển.

Hiện tại, cơ sở hạ tầng tại cộng đồng KBTB Phú Quốc còn chưa đảm bảo điều kiện tốt cho việc đón tiếp và phục vụ khách du lịch như: điều kiện về đường sá trên đảo, nước ngọt thiếu thốn, hệ thống điện, phương tiện vận chuyển chưa được đảm bảo …

Thiếu các cán bộ có kinh nghiệm và kiến thức đầy đủ về phát triển DLCĐ, trong đó đặc biệt là chưa hình thành được mô hình cho phát triển DLCĐ với sự kết hợp giữa các bên liên quan như: cộng đồng, chính quyền địa phương, công ty lữ hành và các tổ chức, cá nhân hỗ trợ khác. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc.

Tóm tắt chương 2.

Trong chương hai, tác giả đã nghiên cứu một cách tổng quan nhất về các điều kiện cũng như thực trạng trong khai thác các yếu tố tài nguyên tự nhiên và xã hội phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế du lịch. Bên cạnh đó, việc phát triển DLCĐ tại các vùng ven biển, Khu bảo tồn biển Phú Quốc cũng đã được nghiên cứu nhằm định hướng cho các hoạt động mang tính hợp lý và bền vững hơn trong tương lai.

Khu bảo tồn biển Phú Quốc là vùng biển giàu tiềm năng về du lịch biển. Cùng với hệ thống tài nguyên tự nhiên hoang sơ, hấp dẫn thì những đặc trưng về văn hóa truyền thống của cộng đồng dân cư sống ở các làng chài ven biển là những điểm thuận lợi thu hút lượng lớn du khách đến với Phú Quốc trong thời gian qua.

Hiện nay một số làng ven biển như làng chài Hàm Ninh đã và đang thu hút rất nhiều khách du lịch. Các hoạt động du lịch tự phát của cộng đồng cư dân vùng ven biển làm thay đổi dần sự yên tĩnh tại các làng chài. Cộng đồng đã trực tiếp kinh doanh phục vụ khách du lịch từ công việc kinh doanh vận chuyển, cho khách lưu trú tại nhà (homestay), kinh doanh ăn uống đến hoạt động hướng dẫn hay buôn bán hàng hóa, đồ lưu niệm cho khách du lịch. Hoạt động DLCĐ đã tạo ra nhiều việc làm, thu nhập, từng bước nâng cao dân trí, cải thiện chất lượng cuộc sống cho cư dân làng ven biển vốn chịu nhiều bấp bênh của nghề đi biển.

Tuy nhiên, do hoạt động DLCĐ tại Khu bảo tồn biển Phú Quốc còn rất mới mẻ và mang tính tự phát nên chưa được quy hoạch một cách hợp lý, khoa học, hiệu quả về KT-XH và môi trường còn thấp, TNMT suy giảm. Hoạt động kinh doanh thu hút khách của cộng đồng làng ven biển, đảo đang bộc lộ nhiều vấn đề như: môi trường xả thải; giá cả hàng hóa tăng lên; tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ chưa được quan tâm; cách phân chia, đóng góp lợi nhuận về địa phương còn bị xem nhẹ. Như vậy, để phát triển DLCĐ tại Khu bảo tồn biển Phú Quốc một cách đúng đắn thì rất cần những chính sách, giải pháp và việc đầu tư nghiên cứu nhằm đưa ra một mô hình DLCĐ phù hợp nhất trong điều kiện phát triển của địa phương. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Giải pháp du lịch cộng đồng ở bảo tồn biển Phú Quốc

One thought on “Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc

  1. Pingback: Luận văn: Phát triển du lịch cộng đồng ở Bảo tồn biển Phú Quốc

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464