Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Kết quả nghiên cứu khách du lịch về chất lượng dịch vụ hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ du lịch cộng đồng tại thành phố Cần Thơ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
4.1 Thực trạng hoạt động du lịch cộng đồng tại thành phố Cần Thơ
4.1.1 Tổng quan về thành phố Cần Thơ và du lịch cộng đồng tại thành phố Cần Thơ
4.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
TPCT nằm ở trung và hạ lưu Sông Mê Kông, là trung tâm Kinh tế – Văn hóa của cả vùng ĐBSCL, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 169Km. TPCT có tọa độ là 105013’38’’ 105050’35’’ kinh độ Đông và 9055’08’’ – 10019’38’’ vĩ độ Bắc, phía Đông giáp với tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Vĩnh Long; phía Tây giáp với tỉnh Kiên Giang; Phía Nam giáp với tỉnh Hậu Giang và phía Bắc giáp với tỉnh An Giang.
Hình 4.1: Bản đồ hành chính thành phố Cần Thơ
Với diện tích 1.409 Km2, năm 2016 dân số vào khoản 1.238.300 người và mật độ dân số là 879 người/Km2 cao nhất vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (Tổng cục Thống kê, 2016). Qua đó cho thấy, TPCT có rất nhiều thuận lợi trong giao thông với các tỉnh trong vùng nói riêng và cả nước nói chung, ngoài ra TPCT còn là điểm hút của vùng ĐBSCL do đó du khách không thể không ghé thăm TPCT khi đến với vùng sông nước miệt vườn này.
- Khí hậu
TPCT nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới – gió mùa, rất ít có bão, quanh năm nóng ẩm và không có mùa lạnh. Có hai mùa chính, mùa mưa và mùa khô, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa nắng kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Năm 2016, với nhiệt độ trung bình là 180C và số giờ nắng trung bình cả năm 2.249,2 giờ (Tổng cục Thống kê, 2016). Với khí hậu này rất thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển sinh vật, có thể tạo ra một hệ thống nông nghiệp nhiệt đới có năng suất cao. Tuy nhiên, với loại khí hậu nhiệt đới – gió mùa này có thể gây khó khăn cho việc tổ chức hoạt động du lịch vào mùa mưa, do đó dẫn đến sự chênh lệch lượng khách du lịch đến thăm TPCT giữa các mùa, đây cũng là một tồn tại khách quan gây khó khăn cho hoạt động du lịch của thành phố do thiên nhiên tác động. Luận văn: Kết quả nghiên cứu khách du lịch về chất lượng dịch vụ.
- Tài nguyên tự nhiên
TPCT nằm trong khu vực bồi tụ phù sa của sông Mê Kông, có nguồn tài nguyên đất đai màu mỡ, rất thích hợp để nông nghiệp ở đây phát triển. Thêm vào đó, hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, đặc biệt là sông Hậu con sông lớn nhất chảy qua thành phố khoản 65 Km với lưu lượng nước bình quân tại TPCT là 14.800 m3/giây phục vụ cho nước sinh hoạt và tưới tiêu trong nông nghiệp, giúp nông nghiệp phát triển. Được thiên nhiên ban tặng tài nguyên nước và đất, cho nên nền nông nghiệp TPCT rất phong phú loại thực vật, thế mạnh là các loại cây ăn trái không chỉ phục cho tiêu thụ trong khu vực và của cả nước, mà nó còn phục vụ cho hoạt động du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng hình thức du lịch xanh mà thành phố đang xây dựng và đi vào phục vụ khách du lịch.
4.1.1.2 Điều kiện kinh tế
Từ năm 2004 đến nay, TPCT trở thành thành phố trực thuộc Trung Ương hơn 10 năm, hiện nay thành phố xứng danh là trung tâm vùng ĐBSCL, theo Trung tâm xúc tiến Đầu tư – Thương mại – Du lịch TPCT thì thu nhập bình quân đầu người cao nhất vùng ở năm 2016 có giá trị là 3.600 USD, tổng giá trị GDP năm 2016 là 77.900 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng là 12,19% so với năm 2015. TPCT vốn được mệnh danh là Tây Đô, thủ phủ của các tỉnh miền Tây Nam Bộ hơn trăm năm về trước, hiện nay TPCT là một trong 4 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm của ĐBSCL và là vùng kinh tế trọng điểm thứ tư của Việt Nam. Có được lợi thế đó TPCT không chỉ phát triển về Nông nghiệp, Thủy sản mà còn phát triển trên nhiều phương diện khác như: Công nghiệp, Thương mại, Dịch vụ, Du lịch,… chính vì thế TPCT đang trên đà ngày càng phát triển để xứng đáng được gọi là trung tâm Kinh tế của vùng ĐBSCL.
Trong các lĩnh vực được chú trọng phát triển ở TPCT đáng phải nhắc đến nhất là lĩnh vực Du lịch. Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch TPCT, trong năm 2016 TPCT tiếp đón và phục vụ trên 1,6 triệu lượt khách ghé thăm và lưu trú tại thành phố, tăng 18% so với năm 2015 với tổng số lượng khách đó mang về cho TPCT một lượng thu khổng lồ từ du lịch hơn 1.700 tỷ đồng. Bên cạnh đó, theo định hướng phát triển thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa TPCT xác định sẽ phát triển du lịch theo hướng du lịch xanh, du lịch cộng đồng đặc trưng sông nước của vùng ĐBSCL. Với định hướng đó, thời gian qua thành phố đã thúc đẩy đầu tư phát triển các cơ sở hạ tầng, khuyến khích và ủng hộ các hộ gia đình tham gia vào hoạt động du lịch này. Chính vì những lý do trên, cho thấy du lịch của TPCT đang ngày càng được chú trọng để phát triển nhằm thu hút khách du lịch không chỉ trong nước mà còn là du khách quốc tế để mạng lại thu nhập ngày càng tăng giúp người dân trong vùng có cuộc sống sung túc hơn.
4.1.1.3 Điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật Luận văn: Kết quả nghiên cứu khách du lịch về chất lượng dịch vụ.
Bên cạnh hệ thống giao thông thuận lợi, thì cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho du lịch phát triển bao gồm: nhà hàng, khách sạn, khu du lịch, khu vui chơi giải trí cũng là điều kiện làm cho du lịch phát triển mạnh. Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thì tính đến giữa năm 2016, toàn thành phố có 226 cơ sở lưu trú với tổng số phòng lên đến 5.200 phòng để phục vụ cho du khách, trong đó có 80 cơ sở đạt chuẩn từ 1 đến 4 sao, nhưng hầu như các điểm lưu trú chỉ tập trung tại trung tâm thành phố. Trong năm 2015, TPCT đã có nhiều tập đoàn lớn như Vingroup, Novaland, Mường Thanh,… đầu tư nhiều dự án lớn về du lịch trên địa bàn. Đặc biệt, Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam ngồi chùa lớn nhất ĐBSCL cũng được khánh thành vào trung tuần tháng 5 năm 2014, đáp ứng nhu cầu du lịch tâm linh và làm đòn bẩy thúc đẩy phát triển các loại hình du lịch còn lại. Có được cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch như trên hỗ trợ rất nhiều để các hoạt động du lịch nói chung du lịch vườn sinh thái nói riêng có thể phát triển xứng đáng với tiềm năng đang có.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
4.1.2 Thực trạng hoạt động du lịch cộng đồng tại thành phố Cần Thơ
Cần Thơ hiện có 13 điểm nhà vườn đang hoạt động, trong đó 6 điểm có cung cấp dịch vụ lưu trú. Hiện các nhà vườn có kinh doanh du lịch gồm: Mỹ Khánh, Giáo Dương, Vũ Bình, Mười Cương, Ba Xinh, Út Thơm, Hoàng Anh (Phong Điền); Út Trung, Cái Nai (Cái Răng); Ba Cống, Gia Trang Quán (Bình Thủy); vườn cò Bằng Lăng, vườn ông Sáu Tia (Thốt Nốt). Tuy nhiên, mô hình kinh doanh của các hộ gia đình nói trên theo kiểu tự chủ là chủ yếu, chưa có tính liên kết. Có thể nhận thấy hoạt động du lịch cộng đồng tại thành phố Cần
Thơ chủ yếu tập trung và thể hiện tính cộng đồng rõ nét nhất là tại cồn Sơn (Bình Thủy), chính vì vậy tác giả tập trung nghiên cứu và khảo sát tại điểm du lịch này.
4.1.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên tại cồn Sơn Luận văn: Kết quả nghiên cứu khách du lịch về chất lượng dịch vụ.
Nằm cách đất liền không xa chỉ khoảng 600m, nhưng ở Cồn Sơn luôn giữ cho mình một không gian yên tĩnh và trong lành, khác xa với nhịp sống hối hả của thành phố ồn ào, náo nhiệt phía bên kia bờ. Cồn Sơn mang dáng vẻ hoang sơ khi được bao bọc bởi những rặng bần, bốn mặt là sông nước mênh mông, cộng đồng địa phương với nếp sống đôn hậu, chân tình là những lợi thế để phát triển du lịch. Với lợi thế về thiên nhiên, đất đai màu mỡ, quanh năm phù sa bồi đắp, cồn Sơn là xứ sở của những vườn cây trái. Một màu xanh từ những dải lục bình, rặng bần, từ những vườn cây trái và vườn rau. Vườn tược từ ngõ tới tận phía sau nhà đầy đủ các loại trái cây như: Nhãn Ido, dâu Hạ Châu, chôm chôm, ổi, vú sữa, bưởi,… Hiện nay, nhãn Ido là loại cây trồng có giá trị kinh tế cao và được xem là loại trái cây đặc sản của Cồn Sơn. Là một giống nhãn nổi tiếng được nhập từ Thái Lan, vườn nhãn nhà chú Sáu Cảnh trồng được 4 năm, nhãn Ido được lai tạo từ ba giống nhãn khác nhau (Nhãn Xuồng, nhãn Da Bò, nhãn Hạt Tiêu), nhãn được xử lý ra hoa không đồng loạt nên có thể tiếp khách được nhiều vụ trên những luống trồng khác nhau. Với vị ngọt vừa phải không gắt, cơm nhãn dày và giòn, hạt nhỏ nên rất được lòng khách du lịch về chất lượng. Ngoài nhãn ra, ở đây còn có vườn dâu Hạ Châu là giống dâu nổi tiếng và là đặc sản của huyện Phong Điền được chú Ba Thành mang giống dâu này về Cồn Sơn trồng đã nhiều năm hiện nay vườn đang được khai thác đưa vào phục vụ đón tiếp khách.
Ngoài nhãn Ido, dâu Hạ Châu thì trên địa bàn còn một số loại trái cây hấp dẫn như vườn nhãn Da Bò, của gia đình chị Bình, với diện tích khoảng 7ha nhãn trồng xen canh với bưởi, mùa nhãn thường bắt đầu từ rầm tháng 7 kéo dài đến tết âm lịch hằng năm. Mùa nhãn vừa qua vườn đã đón một lượng khách khá lớn đến tham quan và thưởng thức. Đây là loại nhãn trái không to, thịt nhiều, ít nước, vị ngọt vừa phải có thể ăn nhiều mà không bị gắt cổ, trong vườn ngoài giống nhãn Da Bò thì còn một giống nhãn nữa đó là nhãn Long, đây là giống nhãn có vị rất ngọt, cơm mỏng và có vị thơm rất đặc trưng. Loại nhãn này cũng được rất nhiều khách du lịch ưa thích và mua về làm quà.
Bên cạnh đó, Cồn Sơn còn có những loại trái cây đặc sắc khác như vườn bưởi của chị Út Hiền, với ba giống bưởi là : bưởi Năm Roi, bưởi Đường và bưởi Da Xanh. Bưởi Năm Roi với vị ngọt xen lẫn vị chua dịu, hình dáng như quả lê, trọng lượng trung bình từ 1 – 1,4kg, khi chín quả có màu vàng xanh, đây là giống bưởi được nhiều tiêu dùng đánh giá cao và ưa thích. Riêng giống bưởi Đường và bưởi Da Xanh có hình dáng tròn dẹp, nhưng hai loại bưởi này có nét riêng là bưởi Đường rất giòn, vị ngọt vừa và hơi khô nước rất thích hợp cho việc làm những món rỏi, còn bưởi Da Xanh là loại bưởi có vị ngọt thanh, bên trong ruột bưởi có màu đỏ hồng rất bắt mắt người dùng, đây là loại bưởi có giá trị kinh tế cao.Giống ổi Lê Da Bò, giống ổi này giòn và ngọt, cây nhỏ nhưng trái rất to, hai trái có thể lên đến 1kg. Hoặc vào đầu xuân ở Cồn Sơn khoảng từ tháng 1 đến tháng 3 có một loại trái cây khác đó là mùa của vú sữa Bơ, loại trái khá to và nặng, một trái có thể nặng đến 0,5kg, khi xẻ ra hoàn toàn không có nhựa, với vị ngọt và giòn đây cũng là loại trái cây hấp dẫn đối với khách du lịch.
Với lợi thế và tiềm năng hiện có về du lịch sinh thái miệt vườn, hệ thống cảnh quan thiên nhiên trong lành, mát mẻ, đời sống người dân gắn liền với những vườn cây ăn trái, kinh nghiệm trồng trọt lâu đời và có sự am hiểu về kỹ thuật nuôi trồng giúp cho Cồn Sơn đang dần hình thành hệ thống các vườn cây ăn trái với quy mô lớn hơn làm tiền đề cho sự phát triển du lịch sinh thái gắn với cộng đồng. Luận văn: Kết quả nghiên cứu khách du lịch về chất lượng dịch vụ.
Không chỉ có vườn trái cây ngọt, món ăn đậm đà hương vị Nam Bộ hấp dẫn, Cồn Sơn còn có loại hình du lịch trên sông nước với điểm nhấn đặc trưng là các nhà bè. Gần giống như chợ nổi Cái Răng nổi tiếng, với hơn 50 nhà bè quanh cồn, đã tạo nên một làng nổi trên sông khá độc đáo và lãng mạn. Mỗi nhà bè là một thế giới thu nhỏ về cuộc sống thường nhật của người dân nơi đây, những con người gắn mình với từng con nước, mảnh vườn. Với nguồn nước dồi dào, chịu ảnh hưởng bán nhật triều không đều của biển Đông, hằng năm vào mùa lũ một phần diện tích của cồn bị ngập gây ảnh hưởng đến đời sống người dân nhưng cũng đã cung cung cấp cho cồn một lượng phù sa tạo điều kiện phát triển nông nghiệp và cung cấp nhiều nguồn lợi thủy hải sản.
Do nằm cách đất liền gần 600m nên hoạt động đi lại chủ yếu của người dân là ghe, xuồng,… không chỉ phục vụ cho việc đi lại mà những chiếc xuồng còn được đưa vào hoạt động phục vụ khách du lịch với hình thức chèo xuồng trên các con kênh, rạch đưa khách đến tham quan các điểm du lịch trong cồn. Không những vậy, đối với một số người dân nơi đây thì ghe, xuồng còn là nơi sinh hoạt, nghĩ ngơi, trao đổi buôn bán hàng hóa của cư dân vùng sông nước như việc hình thành nên các loại hình du lịch chợ nổi ở Phong Điền hay nổi tiếng hơn đó là chợ nổi Cái Răng, những điểm du lịch không thể bỏ qua khi du khách đến với vùng đất Tây Đô.
Ở Cồn Sơn còn có một loại hình du lịch đặc sắc nữa đó là ngắm cò, khi hoàng hôn dần buông xuống quanh các triền đê, vườn nhà chú Tho lại đón một đàn cò lớn bay về, lúc cao điểm khoảng 5.000 con bay trú ngụ qua đêm rợp cả trời. Chính vì số lượng cò lớn và khu vườn rộng nên chú đã xây dựng một tháp đài cao để phục vụ nhu cầu ngắm cò, ngắm cảnh của khách du lịch.
Với những lợi thế về thiên nhiên cũng như khí hậu và sản vật nơi đây, Cồn Sơn đã mang đến cho du khách những sản phẩm gần gũi và khó quên khi du khách đến nơi đây như: Luận văn: Kết quả nghiên cứu khách du lịch về chất lượng dịch vụ.
4.1.2.2 Thực trạng hoạt động du lịch cộng đồng tại cồn Sơn
- Bộ máy quản lý du lịch cồn Sơn
Hoạt động du lịch của cồn Sơn được tổ chức theo hình thức tổ hợp tác, Tổ hợp tác du lịch cộng đồng cồn Sơn vận hành dưới sự quản lý chung về mặt hành chính của Phường Bùi Hữu Nghĩa, và về mặt chuyên môn nghiệp vụ của Phòng văn hóa thông tin Quận Bình Thủy.
Hiện nay theo số liệu thống kê của Ban quản lý Tổ hợp tác du lịch tại cồn Sơn có khoảng 15 hướng dẫn viên địa phương (bao gồm cả nội địa và quốc tế), 12 hộ là thành viên chính thức và 3 hộ dự bị (đang trong giai đoạn thử nghiệm 1 năm).
Hiện trạng về các điểm du lịch ở Cồn Sơn: Từ những tài nguyên du lịch hiện có và đang được phát triển ở Cồn Sơn, có thể thấy Cồn Sơn là một trong những điểm du lịch có tiềm năng phát triển rất lớn của quận Bình Thủy, cụ thể hơn là loại hình du lịch cộng đồng đang được hoạt động tại đây, với một số điểm nhà vườn đặc trưng như:
- Một số điểm du lịch tiêu biểu tại cồn Sơn
Nhà vườn Song Khánh: Đây là nhà vườn đầu tiên gần gũi với mô hình du lịch ở Cồn Sơn, và cũng có thể xem đây là nhà vườn phục vụ khách nhiều nhất, với ngôi nhà ba gian cùng lối kiến trúc đậm chất Nam Bộ với các hoạt động chủ yếu là tham quan phục vụ ăn uống, trải nghiệm làm bánh. Nhà vườn trồng nhiều nhất là chôm chôm Java với diện tích trên 6ha. Mùa chôm chôm thường kéo dài từ tháng 4 đến tháng 6 thu hút nhiều du khách đến tham quan, thưởng thức trái cây và kèm theo đó là các hoạt động trò chơi dân gian ngay tại nhà vườn. Phía sau nhà là một vườn trái cây tổng hợp bao gồm nhiều loại trái cây khác nhau như: Bưởi, thanh long, vú sữa, đu đủ, bơ,… đáp ứng được nhu cầu thưởng thức trái cây nhà vườn cho du khách, bên cạnh đó phía sau vườn còn có các mương nuôi cá tai tượng, cá tra, cá lốc, các loại ốc đồng và trồng các loại rau sạch luôn sẵn sàng phục vụ nhu cầu ăn uống tại chỗ cho khách du lịch.
Đến đây du khách còn có thể thưởng thức các món gà vườn hấp dẫn như: Món gà nấu cháo ăn kèm với gỏi chuối hột được du khách đặc biệt yêu thích. Ở đây, gà không làm sẵn hay mua ngoài chợ mang về, gà có sẵn tại nhà mà chủ vườn chỉ bắt và làm thịt khi khách có nhu cầu thưởng thức, điều này làm cho du khách có cảm giác mới mẻ và thích thú hơn. Đặc biệt tại nhà còn có một lò rượu gạo thơm ngon luôn sẵn sàng để phục vụ cho các đấng mày râu. Ngoài ra, nhà vườn còn có các sản phẩm du lịch đặc trưng như trải nghiệm làm các loại bánh như: Bánh canh, bánh ướt, bánh khọt,… Khi khách đến tham gia trải nghiệm làm bánh chủ nhà sẽ chuẩn bị sẵn các nguyên liệu và dụng cụ chế biến, sau đó sẽ đồng hành hướng dẫn và chia sẻ cùng du khách từ lúc bắt tay làm bánh cho đến khâu thưởng thức. Luận văn: Kết quả nghiên cứu khách du lịch về chất lượng dịch vụ.
Nhà vườn Công Minh: Nhắc đến bánh dân gian ở Cồn Sơn ai cũng nghĩ ngay đến hộ gia đình của cô Bảy Muôn. Một nghệ nhân làm bánh nổi tiếng nhất cồn với tay nghề của mình cô Bảy đã từng mang về cho Cồn Sơn nhiều giải thưởng trong các hội thi làm bánh lớn nhỏ. Một điểm nổi bật về ngôi nhà của cô Bảy, là một trong những ngôi nhà cổ nhất ở cồn, nhà truyền từ đời ông cha đến đời con cháu (đời cô Bảy) mang đậm nét Nam Bộ với lối kiến trúc ba gian hai chái, gian thờ nằm giữa trên cao vị trí trang trọng. Có bao lam gỗ chạm khắc thiên nhiên muôn thú do chính ông bà đời trước làm và được cô Bảy giữ nguyên đến ngày hôm nay. Vị trí nhà lý tưởng theo lối nhất cận thị, nhị vận giang, tam cận lộ hợp phong thủy.
Nhà vườn Thành Tâm: Khi nói đến những nhà vườn ấn tượng nhất ở Cồn Sơn không thể không kể đến nhà vườn Thành Tâm, với diện tích rộng trên 8ha của chú Nguyễn Thành Tâm, ở nơi đây lúc trước được biết đến là nơi có vườn bưởi sum xuê với giống bưởi Năm Roi nhưng do môi trường và tuổi của cây nên chú Tâm đã chuyển sang trồng ổi, hiện nay ổi cũng đã cho trái, khi đến nơi đây du khách không những được thưởng thức hương vị của trái cây mà du khách còn được trải nghiệm cuộc sống của người dân qua các hoạt động như: Câu cá, mò cua, bắt ốc, tát mương bắt cá,…Sau nhiều giờ lặn ngụp, lấm lem bùn đất, thì du khách sẽ thu được những thành quả là các loại cá (cá lóc, cá rô phi, cá trê, cá sặc, cá bống, cá trắng,…) giãy đành đạch, khiến không ít người vui sướng. Từ thành quả này du khách có thể chế biến tại chỗ với nguyên liệu sẵn có trong vườn, thành những món đồng quê tuyệt vời như: Cá nướng rơm hay bẹ chuối, ốc nướng,… Chú Nguyễn Thành Tâm chia sẻ: “Sắp tới, sẽ cất thêm vài láng trại, trồng thêm những giàn mướp, bí,… để tạo thêm không gian riêng cho du khách thoải mái nấu nướng, vui chơi”.
Nhà vườn Sáu Cảnh: Nhà vườn có vườn nhãn Ido với diện tích khoảng 8ha, là một trong những vườn du lịch đang được nhiều du khách quan tâm vì loại nhãn ngon và lạ này. Ngôi nhà được trang trí đơn giản, gần gũi với thiên nhiên, với hình ảnh quen thuộc đặc trưng của vùng nông thôn Nam Bộ với cổng vào được phủ kín màu vàng của loài hoa dại. Ngoài giống nhãn Ido được trồng, khu vườn còn được trồng các loại cây ăn trái khác như: Ổi lê, đu đủ và có các giàn mướp leo trải dài trung bình 0,5m. Ngôi nhà với sân vườn rộng rãi có thể tiếp được một lượng khách khá lớn khoảng 100 khách cùng một lúc. Bác sáu gái còn có tài làm bánh in và món chuối ngào đường rất ngon và bắt mắt, khách đến đây sẽ được trải nghiệm làm bánh in và nghe bác sáu gái chia sẽ về qui trình để làm ra được một cái bánh in ngon. Với cảnh quan trong lành mát mẻ, sự hiếu khách của gia đình và vừa có thể thưởng thức các món ăn đặc trưng của địa phương tại nơi đây nên nhà vườn luôn thu hút được nhiều khách du lịch.
Nhà vườn Tín – Hòa: Đây là nhà vườn mới tham gia vào mô hình du lịch ở Cồn Sơn gần đây, nhưng đã mang đến một lượng khách du lịch đáng kể bởi mô hình cá lóc bay. Vào đầu năm 2017 lượng du khách đến với Cồn Sơn tăng một cách vượt bật, một phần do mô hình nuôi cá lóc bay của chú Tín đã tạo cho du khách sự thích thú cũng như có được những hướng phát triển trong ngành nuôi trồng. Luận văn: Kết quả nghiên cứu khách du lịch về chất lượng dịch vụ.
Bè cá 7 Bon: Đây là bè cá lớn nhất tại hệ thống bè cá dọc theo khu vực cồn. Bè của nhà chú 7 Bon với diện tích bè khoảng 200m2 tổng số cá được nuôi trên 100.000 con được chia làm bốn bè, mỗi bè nuôi được khoảng 25.000 con, xung quanh còn những bè nhỏ nuôi khoảng 15.000 con mỗi bè. Bè nuôi giống cá thác lác cườm, giống cá ban đầu dược lấy từ Trà Nóc nhưng nay nhà bè đã có thể tự nhân giống, cá có đặc tính thịt dai và thơm trên vảy có màu cườm, thịt cá xay ra có màu đỏ, cá nuôi trong vòng 6 tháng sẽ được xuất bè, trung bình mỗi con là 350g. Tuy nhiên bè nhà chú 7 Bon thường nuôi cá đến 1 năm mới xuất bè nhằm tăng năng xuất và tăng tính hấp dẫn để thu hút khách du lịch, lúc này mỗi con đạt khoảng 1kg. Ngoài giống cá thác cườm, tại hệ thống bè còn nuôi các giống cá khác như: Cá Chép,cá Trạch Lấu, cá Rô Phi Đài Loan.
Vườn cò Cồn Sơn: Ở Cồn Sơn còn có một loài hình du lịch đặc sắc nữa đó là ngắm cò, khi hoàng hôn dần buông xuống quanh các triền đê, vườn cò Cồn Sơn lại đón một đàn cò lớn bay về, lúc cao điểm khoảng 5.000 con bay trú ngụ qua đêm rợp cả trời. Chính vì số lượng cò lớn và khu vườn rộng nên chú Tho đã xây dựng một tháp đài cao để phục vụ nhu cầu ngắm cò, ngắm cảnh của khách du lịch.
Ngoài những điểm du lịch nêu trên thì Cồn Sơn còn rất nhiều điểm và sản phẩm thu hút khách du lịch theo mùa và theo tính thời vụ.
4.2 Sự tham gia của hộ gia đình vào hoạt động du lịch cộng đồng tại cồn Sơn Luận văn: Kết quả nghiên cứu khách du lịch về chất lượng dịch vụ.
4.2.1 Thông tin chung của hộ gia đình
Đối với đối tượng khảo sát là hộ gia đình tham gia vào hoạt động du lịch cộng đồng cồn Sơn, hộ gia đình được tác giả tiếp cận thông qua việc đến trực tiếp điểm hoạt động du lịch của hộ và có 16 hộ gia đình đang hoạt động du lịch tại cồn Sơn được tác giả tiếp cận. Thông tin chung của hộ gia đình được tác giả thống kê ở Bảng 4.3.
Bảng 4.3: Thông tin chung của hộ gia đình
Về giới tính, theo như kết quả khảo sát thể hiện ở Bảng 4.2 cho thấy, không có sự chênh lệch nhiều về giới tính giữa giới tính nam và giới tính nữ. Cụ thể, giới tính nữ chiếm 43,8%; giới tính nam chiếm 56,2%. Điều này cho thấy, hoạt động du lịch là hoạt động tạo ra thêm thu nhập cho hộ gia đình bên cạnh những nguồn thu nhập của hộ gia đình từ nông nghiệp. Khi hộ gia đình có đủ điều kiện và nhận thấy được lợi ích khi tham gia vào hoạt động du lịch thì hộ gia đình sẽ sẵn sàng thực hiện hoạt động du lịch.
Về độ tuổi, theo kết quả thống kê ở Bảng 4.2 cho thấy, độ tuổi trung bình của hộ gia đình là 51,56 tuổi. Độ tuổi này cũng đúng với thực tế, vì trong nông nghiệp thông thường là nghề truyền được từ thế hệ này sang thế hệ khác trong gia đình. Hơn thế, hoạt động du lịch ở địa phương mới được hình thành trong thời gian ngắn, điều này cần những hộ gia đình thực sự có điều kiện và uy tính. Do đó, những chủ hộ lớn có đủ điều kiện thực hiện hoạt động du lịch và uy tính được chính quyền khuyến khích tham gia vào hoạt động nhiều hơn.
Về trình độ học vấn, trình độ học vấn trung bình của chủ hộ gia đình là 7,69 năm được thể hiện ở Bảng 4.2. Với số năm đến trường của chủ hộ gia đình cũng khá hợp với thực tế, vì ở độ tuổi của những chủ hộ gia đình là thời kỳ chiến tranh, con người không nhiều điều kiện để thực hiện việc học tập.
Về kinh nghiệm trong hoạt động du lịch cộng đồng, giá trị trung bình là 1,81 năm được thể hiện ở Bảng 4.2. Hoạt động du lịch tại cồn Sơn mới hình thành được trong khoản từ giữa năm 2014 cho đến nay. Chính vì thế, thời gian tham gia vào hoạt động du lịch của hộ gia đình còn ngắn hạn. Điều này cho thấy, hộ gia đình cần tăng cường bổ sung kiến thức và nâng cao kỹ năng trong phục vụ hoạt động du lịch.
4.2.2 Các dịch vụ phục vụ khách du lịch Luận văn: Kết quả nghiên cứu khách du lịch về chất lượng dịch vụ.
Dù hoạt động du lịch cộng đồng ở cồn Sơn mới được hình thành, nhưng hoạt động du lịch tại địa phương cũng được tổ chức khá tươm tất. Nhiều hoạt động vui chơi giải trí đã được các điểm du lịch thực hiện để phục vụ khách du lịch. Các hoạt động vui chơi giải trí hộ gia đình thực hiện để phục vụ khách du lịch được thể hiện ở Bảng 4.3.
Bảng 4.3: Các dịch vụ phục vụ khách du lịch
Hoạt động cho khách du lịch tham quan vườn cây ăn trái có 68,8% hộ gia đình phục vụ; hoạt động ẩm thực có 50,0% hộ gia đình phục vụ; hoạt động câu cá giải trí có 12,5% hộ gia đình phục vụ; hoạt động lưu trú có 12,5% hộ gia đình phục vụ; hoạt động các trò chơi dân gian có 6,3% hộ gia đình phục vụ; hoạt động bán hàng hóa có 6,3% hộ gia đình phục vụ. Hoạt động phục vụ cho khách du lịch đến tham quan cồn Sơn của các hộ gia đình còn hạn chế và chưa có tính sang tạo. Điều này làm cho khách du lịch dễ dàng nhàm chán và khó lòng quay lại du lịch và giới thiệu cho người quen đến với cồn Sơn. Chính vì thế, hộ gia đình và chính quyền cần có những chính sách để hộ gia đình học hỏi được những điểm du lịch thành công trong khu vực, từ đó sang tạo và áp dụng vào hoạt động tại cồn Sơn để hoạt động du lịch cộng đồng tại đây có thể tồn tại và phát triển bền vững.
4.2.2 Thực trạng về lượt khách và doanh thu du lịch tại cồn Sơn
Cồn Sơn là một điểm du lịch cộng đồng mới được hình thành vào khoảng giữa năm 2015, tận dụng lợi thế địa hình đặc trưng cùng các điều kiện về sinh thái, không gian yên bình, các đặc sản đồng quê phù hợp với nhu cầu thư giản, nghĩ ngơi của khách du lịch ưu thích loại hình du lịch sinh thái và thích khám phá những lối sống dân dã vùng miền tây sông nước. Đây là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng để thu hút khách du lịch ở các vùng miền khác nhau trong đó có cả khách du lịch quốc tế.
Tuy nhiên, do đây còn là một điểm du lịch mới, chưa được phổ biến rộng rãi như những điểm du lịch khác trong khu vực nên hiện nay lượng du khách đến tham quan Cồn Sơn tương đối ít. Chủ yếu chỉ là những nhóm du khách nhỏ, hoặc du khách lẻ. Du khách thường đi theo nhóm bạn bè hoặc gia đình, thường đến vào dịp cuối tuần hoặc ngày lễ với mục đích chính là tham quan. Do đây còn là một điểm du lịch mới nên rất ít người đến nghiên cứu tìm kiếm tư liệu viết đề tài. Khách du lịch không đông và thời gian lưu lại không lâu, thường là 6 giờ hoặc nhiều nhất là một ngày.
Bảng 4.4: Lượng khách du lịch tới Cồn Sơn năm 2016 Luận văn: Kết quả nghiên cứu khách du lịch về chất lượng dịch vụ.
Trong khi năm 2015 tổng lượt khách quốc tế chỉ chiếm 14 lượt thì qua năm 2016 lượng khách quốc tế đến Cồn Sơn đã lên đến 272 lượt, và đang có xu hướng tăng dần lên trong tương lai. Mặc dù vậy, lượng khách quốc tế đến với Cồn Sơn vẫn chiếm số lượng rất thấp chỉ chiếm 4,3% trong khi đó khách nội địa lại là đối tượng chính của Cồn Sơn, số lượng khách chiếm tỷ lệ 95,7% tổng lượt khách đến Cồn Sơn. Từ những số liệu trên có thể thấy du lịch nơi đây ngày càng được nhiều du khách biết đến và lựa chọn.
Bảng 4.1: Doanh thu từ hoạt động du lịch ở Cồn Sơn năm 2016
Trong 12 tháng hoạt động du lịch của năm 2016 doanh thu đạt được 790.332.000đ. Trung bình mỗi tháng 65.861.000đ, tăng hơn gấp 2 lần so với trung bình tháng của năm 2015. Trong năm 2016, từ tháng 1 đến tháng 5 doanh thu có sự tăng giảm không đều, có tháng tăng cũng có tháng giảm trong khi tháng 1 tăng thì tháng 2 lại giảm, tháng 3 tăng mạnh thì tháng 4 giảm và tháng 5 lại giảm mạnh hơn. Nguyên nhân phần lớn do ảnh hưởng của tính mùa vụ trong du lịch cũng như quá trình sử dụng dịch vụ của du khách. Nhưng từ khoảng tháng 6 khi bước vào mùa hè nhu cầu đi du lịch của du khách tăng cao doanh thu du lịch ở Cồn Sơn cũng liên tục tăng. Những tháng đạt doanh thu cao nhất là từ tháng 9 đến tháng 12.
4.2.3 Hình thức quảng bá cho hoạt động du lịch
Để một điểm du lịch có thể phát triển thì yếu tố chính là có thể thu hút lượt khách du lịch đến tham quan. Chính vì thế, việc quảng bá hình ảnh điểm du lịch đến khách du lịch rất quan trọng, nó giúp khách du lịch có được nguồn thông tin về điểm du lịch. Từ đó, nó sẽ tạo động lực để khách du lịch đến với điểm du lịch. Nguồn thông tin về điểm du lịch cồn Sơn mà khách du lịch thu thập được được thể hiện ở Hình 4.3. Theo đó, tự tìm hiểu chiếm 10%; nguồn thông tin có được từ phương tiện truyền thông đại chung chiếm 41%; nguồn thông tin từ bạn bè, người thân chiếm 41%; nguồn thông tin từ đồng nghiệp chiếm 7%; nguồn thông tin từ các công ty du lịch chiếm 1%. Luận văn: Kết quả nghiên cứu khách du lịch về chất lượng dịch vụ.
Hình 4.3: Nguồn thông tin khách du lịch biết đến Cồn Sơn
Qua đây cho thấy, khách du lịch có được thông tin về điểm du lịch cồn Sơn từ nhiều nguồn khác nhau. Tuy nhiên, các điểm du lịch và chính quyền cần tích cực và tăng cường thực hiện quảng bá hình ảnh điểm du lịch cồn Sơn để ngày có nhiều khách du lịch biết đến điểm du lịch.
Như đã đề cập hoạt động du lịch cộng đồng tại cồn Sơn mới được hình thành và đi vào hoạt động từ giữa năm 2014. Do đó, chưa có nhiều khách du lịch biết đến với hoạt động du lịch tại địa phương. Cho nên, muốn khách du lịch biết đến nhiều hơn với hoạt động du lịch tại địa phương cần phải tăng cường quảng bá để khách du lịch có nguồn thông tin và đến du lịch tại cồn Sơn. Tuy nhiên, trong thực tế, hiện chưa có bất cứ hộ gia đình nào thực hiện chiến lược quảng bá cho điểm du lịch. Điều này là một hạn chế rất lớn để điểm du lịch tại cồn Sơn phát triển được, vì không đón được nhiều lượt khách du lịch đến tham quan nhất là khách du lịch quốc tế. Chính vì thế, chính quyền cần phối với các hộ gia đình để tích cực hơn trong việc quảng bá hoạt động du lịch của cồn Sơn, để khách du lịch có thể nắm bắt được thông tin tại điểm du lịch tốt hơn.
4.2.4 Những khó khăn trong hoạt động du lịch Luận văn: Kết quả nghiên cứu khách du lịch về chất lượng dịch vụ.
Trong bất kỳ hoạt động sản xuất hoặc kinh doanh nào cũng sẽ tồn tại những khó khăn nhất định đối với người hoạt động, điều này sẽ làm hạn chế khả năng trong hoạt động của họ. Đối với hoạt động du lịch của hộ gia đình tại cồn Sơn cũng thế, cũng tồn tại nhiều khó khăn cho hộ gia đình trong hoạt động du lịch. Những khó khăn trong hoạt động du lịch của hộ gia đình được thể hiện ở Bảng 4.6.
Bảng 4.6: Những khó khăn trong hoạt động du lịch
Khó khăn về cơ sở hạ tầng có 37,5% hộ gia đình gặp phải; khó khăn thiếu vốn kinh doanh có 62,5% hộ gặp phải; khó khăn thiếu lao động có 31,3% hộ gia đình gặp phải; khó khăn thiếu tổ chức liên kết có 50,0% hộ gặp phải; hệ thống giao thông chưa tốt có 6,3% hộ gặp phải. Hoạt động du lịch tại cồn Sơn mới được hình thành do đó sẽ tồn nhiều khó khăn hơn và điều này dễ làm cho hộ gia đình không còn hứng thú trong hoạt động du lịch nữa. Tuy nhiên, du lịch cộng đồng là hoạt động trong dài hạn mới thu được nguồn lợi. Do đó, chính quyền địa phương cần có những chính sách hỗ trợ cho hộ gia đình tham gia vào hoạt động du lịch, tạo điều kiện để hộ gia đình có thể dễ dàng thực hiện các hoạt động du lịch tại địa phương.
4.2.5 Dự định mở rộng hoạt động kinh doanh
Những dự định của hoạt động phục vụ du lịch trong tương lai của hộ gia đình cũng được đề cập và thu thập thông tin từ những hộ hoạt động du lịch tại cồn Sơn. Những dự định cho hoạt động du lịch của hộ gia đình được thể hiện ở Bảng 4.7. Theo đó, mở rộng diện tích có 62,5% hộ dự định; tăng thêm dịch vụ có 62,5% hộ dự định; tăng cường quảng cáo có 6,3% hộ dự định.
Bảng 4.7: Dự định mở rộng hoạt động kinh doanh
Với những dự định này cho thấy được quyết tâm mong muốn làm du lịch của các hộ gia đình tại cồn Sơn. Tuy nhiên, dù hoạt động du lịch có rộng lớn và phong phú đến mức nào mà không được khách du lịch biết đến thì hoạt động du lịch cũng sẽ thất bại. Dự định quảng bá du lịch của những hộ gia đình tham gia vào hoạt động du lịch tại cồn Sơn còn rất hạn chế và hộ gia đình chưa nhận thức được lợi ích từ việc quảng bá. Chính vì thế, hộ gia đình thực hiện du lịch và chính quyền cần có những chiến lược tăng cường quảng bá cho hình ảnh du lịch của cồn Sơn.
4.3 Kết quả nghiên cứu Luận văn: Kết quả nghiên cứu khách du lịch về chất lượng dịch vụ.
4.3.1 Thông tin chung của khách du lịch
Khách du lịch cũng là một đối tượng khảo sát của đề tài phục vụ cho việc phân tích mục tiêu nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ du lịch tại cồn Sơn. Khách du lịch được tác giả tiếp cận tại các điểm du lịch tại cồn Sơn để thực hiện phỏng vấn, thu thập thông tin phục vụ cho việc phân tích. Bảng 4.6 thể hiện những thông tin chung của đáp viên là khách du lịch tại cồn Sơn.
Bảng 4.8: Thông tin chung của khách du lịch
Về giới tính, giới tính của khách du lịch không có nhiều sự chênh lệch được thể hiển ở Bảng 4.8. Cụ thể, giới tính năm chiếm 47,2%; giới tính nữ chiếm 52,8%. Trong cuộc sống hiện tại, con người ngày càng có nhiều áp lực trong cuộc sống, từ công việc, từ gia đình,… Do đó, nhu cầu du lịch để giải tỏa những căng thẳng của con người ngày càng tăng lên. Hơn thế, chất lượng cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao, cho nên nhu cầu đi du lịch ngày càng tăng. Chính vì thế, không có nhiều khác biết về giới tính của khách du lịch tại cồn Sơn.
Về nơi đến, theo kết quả khảo sát thể hiện ở Bảng 4.6 khách quốc tế chiếm 25,4%; khách nội địa chiếm 74,6%. Du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng là loại hình du lịch giúp khách du lịch có thêm những kiến thức về nền một nền văn hóa. Đến với loại hình du lịch này, khách du lịch sẽ biết thêm được về cuộc sống thường nhật của người dân ở một địa phương nào đó, đặc biệt là miền quê. Chính vì thế, lượng khách quốc tế đến với loại hình du lịch này rất phổ biến và họ rất yêu thích loại hình du lịch này.
Về độ tuổi, độ tuổi dưới 24 tuổi chiếm 31,0%; độ tuổi từ 24 – 30 tuổi chiếm 23,9%; độ tuổi từ 30 – 40 tuổi chiếm 39,6%; độ tuổi từ 40 – 50 tuổi chiếm 4,5%; độ tuổi trên 50 tuổi chiếm 1,0% được thể hiện ở Bảng 4.6. Điều này cho thấy, mọi lứa tuổi đều có nhu cầu đi du lịch, đặc biệt là loại hình du lịch cộng đồng đang ngày là xu hướng chung và cần được phát triển để giúp bảo vệ môi trường.
Về trình độ học vấn, kết quả khảo sát được thể hiện ở Bảng 4.6 cho thấy, trình độ dưới trung học phổ thông chiếm 1,0%; trình độ trung cấp/cao đẳng chiếm 20,8%; trình độ đại học chiếm 64,5%; trình độ sau đại học chiếm 13,2%. Thực tế cho thấy, trình độ học vấn của con người ngày càng được nâng lên vì đòi hỏi của công việc. Do đó, trình độ học vấn của đáp viên ở mức cao chiếm tỷ trọng nhiều hơn so với trình độ thấp. Luận văn: Kết quả nghiên cứu khách du lịch về chất lượng dịch vụ.
Về nghề nghiệp, theo kết quả khảo sát thể hiện ở Bảng 4.6 cho thấy, nghề nghiêp của khách du lịch là nhân viên kinh doanh chiếm 7,1%; nghề nghiệp nhân viên văn phòng chiếm 11,7%; nghề nghiệp sinh viên chiếm 32,0%; nghề nghiệp giáo viên chiếm 15,2%; nghề nghiệp khác chiếm 34,0%. Điều này càng thể hiện được nhu cầu đi du lịch ngày càng cao của con người, đối tượng nào cũng có nhu cầu được đi du lịch.
4.3.2 Mức độ yêu thích các hoạt động vui chơi giải trí ở cồn Sơn
Các điểm du lịch cộng đồng tại cồn Sơn cung cấp rất nhiều hoạt động vui chơi giải trí cho khách du lịch trải nghiệm. Mức độ yêu thích của khách du lịch đối với hoạt động vui chơi giải trí ở cồn Sơn được thể hiện Bảng 4.9.
Theo đó, hoạt động hái trái cây tại vườn có 93,4% khách du lịch tham gia; bơi xuồng, ngắm cảnh, câu cá có 86,3% khách du lịch tham gia; tát đìa, bắt cá, hái rau có 76,1% khách du lịch tham gia; tham gia cắm trại và trò chơi dân gian có 66,5% khách du lịch tham gia; thưởng thức đờn ca tài tử có 18,3% khách du lịch tham gia; tham gia vào việc chế biến và thưởng thức những món ăn đặc sản địa phương có 93,9% khách du lịch tham gia; lưu trú tại nhà dân có 15,7% khách du lịch tham gia. Điều này cho thấy, các hoạt động vui chơi giải trí tại các điểm du lịch cồn Sơn đều được khách du lịch hưởng ứng và tham gia. Tuy nhiên, các hoạt động vui chơi giải trí này dễ dàng bắt gặp tại nhiều điểm du lịch khác, không có điểm đặc trưng, làm cho khách du lịch không có nhiều hứng thú với hoạt động vui chơi giải trí. Do đó, các điểm phục vụ du lịch tại cồn Sơn cần tăng tính sáng tạo trong các hoạt động vui chơi, tránh sự nhàm chán cho khách du lịch.
Bảng 4.9: Mức độ yêu thích của khách du lịch đối với hoạt động vui chơi giải trí ở cồn Sơn
Đối với mức độ yêu thích các hoạt động vui chơi giải trí cho thấy, hoạt động hái trái cây tại vườn được khách du lịch đánh giá điểm trung bình là 3,39; bơi xuồng, ngắm cảnh, câu cá được khách du lịch đánh giá điểm trung bình là 3,41; tát đìa, bắt cá, hái rau được khách du lịch đánh giá điểm trung bình là 3,41; tham gia cắm trại và trò chơi dân gian được khách du lịch đánh giá điểm trung bình là 3,50; thưởng thức đờn ca tài tử được khách du lịch đánh giá điểm trung bình là 3,69; tham gia vào việc chế biến và thưởng thức những món ăn đặc sản địa phương được khách du lịch đánh giá điểm trung bình là 3,70; lưu trú tại nhà dân được khách du lịch đánh giá điểm trung bình là 3,68. Điều này cho thấy, đối với các hoạt động vui chơi giải trí tại cồn Sơn được khách du lịch đánh giá ở mức yêu thích. Tuy nhiên, cần có những cải thiện và sáng tạo để tăng sự hấp dẫn và thu hút thêm khách du lịch tham gia. Luận văn: Kết quả nghiên cứu khách du lịch về chất lượng dịch vụ.
4.3.3 Thời điểm thường đến điểm du lịch cộng đồng cồn Sơn
Thời điểm khách du lịch thường đến với điểm du lịch cồn Sơn cũng được thu thập, kết quả khảo sát được thể hiện ở Hình 4.4. Theo đó, khách du lịch đi vào dịp lễ, tết chiếm 6%; khách du lịch đến vào dịp cuối tuần chiếm 64%; khách du lịch đến vào dịp nghỉ hè chiếm 28%; khách du lịch khi có sự kiện văn hóa du lịch chiếm 1%; khác chiếm 1%. Qua đây cho thấy, khách du lịch có thể đến với điểm du lịch cồn Sơn vào nhiều khoản thời gian khác nhau, nhưng chiếm phần lớn là dịp cuối tuần.
Hình 4.4: Thời điểm khách du lịch đến Cồn Sơn
Dịp cuối tuần là khoản thời gian nghỉ ngơi, thư giãn, sau một tuần làm việc vất vả, khách du lịch có thể cùng gia đình, bạn bè đến với điểm du lịch cồn Sơn. Điều này cho thấy, vào dịp này các điểm du lịch cần trang bị những phương tiện cần thiết để phục vụ tốt nhất cho khách du lịch.
4.3.4 Mục đích đến điểm du lịch cộng đồng cồn Sơn
Điểm du lịch cồn Sơn là điểm du lịch cộng đồng mới hình thành để phục vụ khách du lịch. Có nhiều hoạt động vui chơi giải trí được thực hiện để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. Mục đích đến du lịch tại cồn Sơn của khách du lịch cũng được thu thập thông tin từ khách du lịch và kết quả thống kê thể hiện ở Bảng 4.10.
Bảng 4.10: Mục địch đến du lịch cồn Sơn của khách du lịch
Theo đó, mục đích tham quan, nghỉ ngơi chiếm 93,9%; mục đích kết hợp với thăm người thân chiếm 4,1%; mục đích khác chiếm 2,0%. Ngày nay, khi nền kinh tế phát triển, bên cạnh việc đi du lịch để nghỉ ngơi, tham quan thì du lịch có thể được kết hợp với nhiều mục đích khác nữa.
4.3.5 Đánh giá chất lượng dịch vụ du lịch cộng đồng tại cồn Sơn Luận văn: Kết quả nghiên cứu khách du lịch về chất lượng dịch vụ.
Thông qua lược khảo các tài liệu nghiên cứu về chất lượng dịch vụ du lịch trong và ngoài nước, bộ thang đo chất lượng dịch vụ của Parasuraman được tác giả sử dụng để làm tiêu chí đo lường chất lượng dịch vụ du lịch cộng đồng tài cồn Sơn. Bộ thang đo chất lượng dịch vụ du lịch cộng đồng tại cồn Sơn gồm: độ tin cậy, hữu hình, đảm bảo, sự cảm thông, đáp ứng với 30 biến quan sát được sử dụng để đo lường cho bộ thang đo vừa đề cập.
Bên cạnh đó, chất lượng dịch vụ du lịch cộng đồng tại cồn Sơn cũng được thực hiện khảo sát với 2 phần. Phần 1 là đánh giá mức độ quan trọng các tiêu chí trong chất lượng dịch vụ du lịch cộng đồng tại cồn Sơn. Phần 2 là đánh giá mức độ thực hiện chất lượng dịch vụ du lịch cộng đồng tại cồn Sơn. Tất cả các biến đều được đo lường thông qua thang đo likert 5 mức độ, từ rất không tốt đến rất tốt. Thông qua những phần đánh giá của khách du lịch về mức độ quan trọng và mức độ thực hiện chất lượng dịch vụ du lịch cộng đồng tại cồn Sơn, tác giá thực hiện so sánh sự khác biệt giữa mức độ quan trọng và mức độ thực hiện chất lượng dịch vụ du lịch. Mức độ quan trọng và mức độ thực hiện chất lượng dịch vụ du lịch cộng đồng tại cồn Sơn được thể hiện ở Bảng 4.11.
Bảng 4.11: Mức độ quan trọng và thực hiện CLDV du lịch tại cồn Sơn Theo đó, về tin cậy được đo lường thông qua 5 biến quan sát, nhưng đánh giá của khách du lịch thì mức độ thực hiện ở tin cậy luôn thấp hơn so với mức độ quan trọng. Cụ thể, mức độ quan trọng và mức độ thực hiện của các biến quan sát trong thang đo tin cậy như sau: Điểm đến cung cấp dịch vụ như đã hứa là 3,93 và 3,74; Thông tin về điểm đến được cung cấp rõ ràng, chính xác là 3,91 và 3,72; Có sách, ảnh giới thiệu các điểm vườn là 3,73 và 3,71; Giải quyết kịp thời những khiếu nại, sự cố là 3,69 và 3,67; Điều kiện an ninh tại Cồn Sơn tốt là 4,10 và 3,63. Điều này cho thấy, các điểm du lịch cộng đồng tại cồn Sơn chưa thực hiện “Tin cậy” đúng như kỳ vọng và mong muốn của khách du lịch. Du khách kỳ vọng hơn thế, do đó các điểm du lịch tại cồn Sơn cần có những cải thiện để đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch, giúp du khách tăng tin cậy đối với điểm du lịch cồn Sơn.
Về đảm bảo, được đo lường thông qua 5 biến quan sát, cũng tương tự mức độ quan trọng và mức độ thực hiện đảm bảo cũng được thu thập thông tin từ khách du lịch. Theo kết quả khảo sát cho thấy, khách du lịch đánh giá mức độ thực hiện đảm bảo thấp hơn so với mức độ quan trọng. Hiệu số của mức độ quan trọng và mức độ thực hiện đảm bảo luôn mang giá trị nhỏ hơn 0, điều này cho thấy khách du lịch kỳ vọng và mong muốn cao hơn những gì những điểm du lịch cồn Sơn thực hiện. Cụ thể, hiệu số giữa mức độ quan trọng và mức độ thực hiện đảm bảo ở các biến quan sát như sau: Hướng dẫn viên/nhân viên có ngoại ngữ là -0,19; Hướng dẫn viên/nhân viên có khả năng phục vụ chuyên nghiệp là -0,11; Nhân viên/hộ kinh doanh du lịch có thái độ lịch sự, chân thật là -0,21; Đảm bảo an toàn vệ sinh là -0,40; Mức giá dịch vụ tương xứng với giá trị là -0,38. Chính vì thế, các điểm du lịch cần nâng cao kiến thức và chuyên môn để có thể đáp ứng được yếu tố “Đảm bảo” của khách du lịch.
Về hình ảnh, được đo lường thông 7 biến quan sát bao gồm: Người dân địa phương thân thiện; Nhân viên/hộ kinh doanh hiểu rõ nhu cầu; Nhân viên/hộ kinh doanh quan tâm; Nhân viên/hộ kinh doanh thể hiện sự chú ý. Yếu tố này liên quan đến con người nhiều hơn so với các yếu tố khác, con người cần thể hiện hết thái độ tốt đối với khách du lịch là đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch. Tuy nhiên, yếu tố “Hình ảnh” các điểm du lịch tại cồn Sơn cũng chưa đáp ứng được đáp ứng được kỳ vọng của khách du lịch. Cụ thể, điểm chênh lệch giữa mức độ quan trọng và mức độ thực hiện của yếu tố “Hình ảnh” như sau: Người dân địa phương thân thiện là -0,54; Nhân viên/hộ kinh doanh hiểu rõ nhu cầu là -0,21; Nhân viên/hộ kinh doanh quan tâm là -0,42; Nhân viên/hộ kinh doanh thể hiện sự chú ý là -0,48; Ngoại hình hướng dẫn viên/nhân viên ưa nhìn, gọn gang là -0,39; Trang phục của hướng dẫn viên/nhân viên lịch sự, trang nhã là -0,26; Món ăn đặc sản địa phương phong phú là -0,52. Luận văn: Kết quả nghiên cứu khách du lịch về chất lượng dịch vụ.
Về hữu hình, hữu hình thể hiện được cở sở vật chất của các điểm du lịch để phục vụ khách du lịch. Khi cơ sở đủ để đáp ứng cho hoạt động du lịch, giúp khách du lịch có được dịch vụ đúng như bản chất. Tùy thuộc vào loại hình du lịch mà khách du lịch có những yêu cầu về phương tiện vật chất phục vụ cho hoạt động du lịch. Nhưng hữu hình là một yếu tố không thể thiếu khi đánh giá chất lượng dịch vụ của một điểm du lịch. Mức độ quan trọng và mức độ thực hiện của yếu tố “Hữu hình” được thu thập và thể hiện kết quả khảo sát ở Bảng 4.9. Cụ thể, điểm chênh lệch giữa mức độ quan trọng và mức độ thực hiện của yếu tố “Hữu hình”: Hệ thống lưu trú tại điểm đến là -0,56; Phương tiện vận chuyển an toàn, hiện đại là -0,58; Hệ thống giao thông tại Cồn Sơn thuận tiện là -0,56; Hệ thống thông tin liên lạc tại Cồn Sơn là -0,35; Khu du lịch/vườn trái cây có quy mô lớn là -0,37; Có nhiều cảnh quan tự nhiên, phong cảnh đẹp là 0,32; Có các gian hàng thủ công mỹ nghệ và các nghệ nhân biểu diễn kỹ năng chế tác là -0,37. Điều này cho thấy, hữu hình của các điểm du lịch tại cồn Sơn còn hạn chế, cần phải tu bổ, cải thiện và nâng cấp nếu muốn phục vụ du lịch trong lâu dài.
Về đáp ứng, cho thấy được đáp ứng các hoạt động du lịch của cồn Sơn đối với khách du lịch. Đáp ứng được đo lường thông qua 4 biến quan sát, điểm chênh lệch giữa mức độ quan trọng và mức độ thực hiện như sau: Có vườn trái cây theo mùa là -0,24; Đáp ứng tốt nhu cầu của du khách là 0,01; Có sự liên kết giữa các điểm đến tại Cồn Sơn, không trùng lắp các hoạt động du lịch khác là 0,03; Hướng dẫn viên/nhân viên luôn sẵn sàng giúp đỡ du khách là -0,01; Hàng lưu niệm/sản vật địa phương đa dạng là -0,23; Các hoạt động vui chơi giải trí mang đậm chất dân gian là -0,21. Đây là yêu tố duy nhất trong bộ thang đo chất lượng dịch vụ du lịch cồn Sơn có biến quan sát được đánh giá mức độ thực hiện cao hơn so với mức độ quan trọng. Tuy nhiên, lượng chênh lệch không nhiều, các điểm du lịch vẫn cần nổ lực thêm nhiều vì nhu cầu của khách du lịch là càng cao.
4.3.6 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng du lịch cộng đồng
4.3.6.1 Kiểm định độ tin cậy thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha
Để thực hiện phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ, cần phải tiến hành đánh giá độ tin cậy của thang đo chất lượng dịch vụ du lịch và thang đo sự hài lòng của khách du lịch. Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo chất lượng dịch vụ du lịch cồn Sơn và thang đo sự hài lòng của khách du lịch được thể hiện ở Bảng 4.12.
Bảng 4.12: Kết quả kiểm định thang đo thông qua hệ số Cronbachs’s Alpha Luận văn: Kết quả nghiên cứu khách du lịch về chất lượng dịch vụ.
Như đã đề cập ở phần lý thuyết các phương pháp phân tích, để thang đo đáng tin cậy có thể sử dụng được thì giá trị hệ số Cronbach’s Alpha phải lớn hơn 0,6 và thang đo tốt nhất khi hệ số có giá trị lớn hơn 0,8. Bên cạnh đó, hệ số tương quan biến tổng phải luôn lớn hơn 0,3, nếu không thì đó là biến rác và bị loại khỏi mô hình nghiên cứu.
Theo kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo cho thấy, hệ số Cronbach’s Alpha của các thang đo luôn lớn hơn 0,9, điều này cho thấy thang đo của các yếu tố đều là thang đo tốt, có thể sử dụng cho phân tích nhân tố khám phá. Cụ thể, hệ số Cronbach’s Alpha của các yếu tố được đề cập như sau: tin cậy là 0,916; đảm bảo là 0,957; hình ảnh là 0,945; hữu hình là 0,978; đáp ứng là 0,955; sự hài lòng của khách du lịch là 0,925. Mặt khác, hệ số tương quan biến tổng của các biến quan sát trong thang đo chất lượng dịch vụ du lịch cộng đồng cồn Sơn và của sự hài lòng đều có giá trị lớn hơn 0,7. Điều này cho thấy, không có biến quan sát nào là biến rác và bị loại khỏi mô hình nghiên cứu.
4.3.6.2 Phân tích nhân tố khám phá
- Kết quả phân tích nhân tố thang đo chất lượng dịch vụ
Với kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo chất lượng dịch vụ du lịch cồn Sơn cho thấy, giá trị Cronbach’s Alpha thể hiện là thang đo tốt và không có biến nào bị loại khỏi mô hình nghiên cứu. Do đó, tất cả các biến quan sát đều được đưa vào thực hiện phân tích nhân tố khám. Bảng 4.13 thể hiện kết quả kiểm định KMO và kiểm định BartleTC’s.
Bảng 4.13: Kết quả kiểm định KMO và BartleTC’s thang đo chất lượng dịch vụ
Theo đó, giá trị KMO = 0,920 năm trong khoản cho phép (0,5 – 1) của giá trị thỏa cho thấy kết quả nghiên cứu là phù hợp. Giá trị kiểm định BartleTC’s là 0,000 nhỏ hơn 0,05, do đó kết quả nghiên cứu có thể suy rộng ra cho tổng thể. Như vậy, phương pháp phân tích nhân tố là phù hợp.
Kết quả phân tích nhân tố khám phá được thể hiện ở Bảng 4.14. Theo đó, giá trị tổng phương sai trích = 82,994 cho thấy, các biến thiên giải thích được 82,994% sự biến thiên của mô hình nghiên cứu. Giá trị lượng biến thiên được giải thích bởi nhân tố có 5 giá trị lớn hơn 1, điều này cho thấy có 5 nhóm nhân tố được rút trích từ 30 biến quan sát đo lường chất lượng dịch vụ du lịch cồn Sơn. Luận văn: Kết quả nghiên cứu khách du lịch về chất lượng dịch vụ.
Kết quả phân tích nhân tố khám phá cho thấy, có 5 nhóm nhân tố được rút trích từ thang đo chất lượng dịch vụ bao gồm: F1: Hữu hình (HH1, HH2, HH3, HH4, HH5, HH6, HH7, HH8, HA5, HA6, HA7, DU5); F2: Đảm bảo (DB1, DB2, DB3, DB4, DB5, TC5); F3: Đáp ứng (DU1, DU2, DU3, DU4); F4:
Hình ảnh (HA1, HA2, HA3, HA4); F5: Tin cậy (TC1, TC2, TC3, TC4).
- Kết quả phân tích nhân tố thang đo sự hài lòng
Tương tự thang đo chất lượng dịch, thang đo sự hài lòng của khách du lịch cũng được tiến hành phân tích nhân tố khám phá. Kết quả phân tích khám phá của sự hài lòng được thể hiện ở Bảng 4.15.
Bảng 4.15: Kết quả phân tích nhân tố thang đo sự hài lòng
Kết quả phân tích nhân tố của thang đo sự hài lòng cho thấy, giá trị KMO = 0,763 nằm trong khoản cho phép là từ 0,5 – 1, cho thấy phân tích nhân tố khám phá là phù hợp. Giá trị kiểm định Bartlell’s là 0,000 nhỏ hơn 0,5 cho thấy, kết quả nghiên cứu có thể suy rộng ra cho tổng thể. Tổng phương sai trích là 86,953 cho thấy, các biến đề cập giải thích được 86,953% sự biến thiên của mô hình nghiên cứu. Giá trị lượng biến thiên được giải thích bởi nhân tố có một giá trị lớn hơn 1 cho thấy, chỉ gom thành một nhóm nhân tố.
4.3.6.3 Hồi quy tuyến tính
Sau khi thực hiện phân tích nhân tố khám phá thang đo chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách du lịch, tác giả tiến hành phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách du lịch đối với chất lượng dịch vụ du lịch tại cồn Sơn. Với biến phụ thuộc là sự hài lòng và biến độc lập là hữu hình, đảm bảo, sự đám ứng, hình ảnh, tin cậy. Hàm số các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách du lịch đối với chất lượng dịch vụ du lịch tại cồn Sơn có dạng như sau: Y = f(F1, F2, F3, F4, F5)
Trong đó, biến Y (Sự hài lòng) được đo lường thông qua giá trị trung bình của các biến đo lường sự hài lòng. Các biến độc lập được đo lường thông qua điểm nhân tố từ kết quả phân tích nhân tố. Kết quả hồi quy tuyến tính được thể hiện ở Bảng 4.16.
Bảng 4.16: Kết quả hồi quy tuyến tính Luận văn: Kết quả nghiên cứu khách du lịch về chất lượng dịch vụ.
Trước khi xem xét đến các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ du lịch tại cồn Sơn, cần thực hiện kiểm định một số điều kiện của hồi quy tuyến tính. Giá trị VIF được sử dụng để kiểm tra hiện tương đa cộng tuyến của các biến độc lập, giá trị VIF nếu có giá trị nhỏ hơn 10 thì không có hiện tượng đa cộng tuyến. Giá trị Sig. F được sử dụng để kiểm tra sự phù hợp của mô hình nghiên cứu, nếu giá trị Sig. F nhỏ hơn 0,05 thì thỏa điều kiện mô hình nghiên cứu là phù hợp. Hệ số R2 hiệu chỉnh được sử dụng để xem mức độ phù hợp của mô hình nghiên cứu, giá trị này càng lớn càng tốt.
Theo kết quả hồi quy tuyến tính cho thấy, giá trị VIF của các biến độc lập nhỏ hơn rất nhiều so với giá trị cho phép là 10, điều này cho thấy không có hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập. Giá trị Sig. F = 0,000 nhỏ hơn giá trị 0,05, cho nên mô hình nghiên cứu là phù hợp. Bên cạnh đó, giá trị R2 hiệu chỉnh là 0,542, điều này cho thấy, các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu giải thích được 54,2% sự biến thiên trong tổng thể, còn lại 45,8% được giải thích bởi những yếu tố chưa được đề cập trong mô hình nghiên cứu.
Tiếp theo tác giả tiến hành xem xét sự tác động của các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ du lịch tại cồn Sơn. Theo đó, các yếu tố được đề cập trong mô hình nghiên cứu bao gồm: hữu hình, đảm bảo, sự đám ứng, hình ảnh, tin cậy đều có ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ du lịch. Phương trình hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ du lịch tại cồn Sơn có dạng: HL = 3,254 + 0,276HH + 0,146DB + 0,250DU + 0,179HA + 0,170TC
Yếu tố hữu hình là một yếu tố tác động thuận chiều và mạnh nhất đến sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ du lịch. Với hệ số tác động là 0,276 và mức ý nghĩa 1% ta có thể kết luận, khi hữu hình tại điểm du lịch cồn Sơn càng đáp ứng được những nhu cầu của khách du lịch thì sẽ làm tăng sự hài lòng của du khách về chất lượng dịch vụ du lịch tại cồn Sơn. Thực tế cho thấy, khi hữu hình của điểm du lịch càng đáp ứng được nhiều nhu cầu của khách du lịch, thì khả năng phục vụ khách du lịch được tốt hơn, phục vụ được những nhu cầu của khách du lịch. Điều này sẽ làm cho khách du lịch cảm thấy thoải mái khi đến với điểm du lịch cồn Sơn, từ đó giúp nâng cao sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ du lịch.
Yếu tố đảm bảo cũng là một yếu ảnh hưởng thuận chiều đến sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ du lịch tại cồn Sơn. Có hệ số tác động là 0,146 và ở mức ý nghĩa 1% có thể kết luận, khi điểm du lịch tại cồn Sơn tăng cường đảm bảo đối với khách du lịch thì sẽ góp phần làm tăng sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ du lịch tại cồn Sơn. Thật vậy, đảm bảo cho thấy được những khả năng của điểm du lịch cồn Sơn phục vụ khách du lịch như: thái độ chuyên nghiệp của hướng dẫn viên và nhân viên, điều kiện an ninh, vệ sinh,… Do đó, nếu các điểm du lịch có được nhiều khả năng phục vụ cho khách du lịch, sẽ góp phần làm tăng sự hài lòng của khách du lịch. Luận văn: Kết quả nghiên cứu khách du lịch về chất lượng dịch vụ.
Yếu tố đáp ứng là một yếu tố ảnh hưởng thuận chiều đến sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ du lịch tại cồn Sơn. Hệ số tác động là 0,250 và mức ý nghĩa 1% có thể kết luận, khi điểm du lịch tại cồn Sơn càng đáp ứng được khách du lịch thì sẽ làm tăng sự hài lòng của khách du lịch đối với chất lượng dịch vụ tại cồn Sơn. Đáp ứng cho thấy được sự cung cấp những dịch vụ du lịch của điểm du lịch đến với khách du lịch, nếu điểm du lịch cấp nhiều dịch vụ, khách du lịch có thể lựa chọn những dịch vụ phù hợp để tham gia vào hoạt động du lịch. Trên cơ sở đó, giúp cho khách hàng thích điểm du lịch nhiều hơn, điều này làm cho sự hàng lòng của khách du lịch cũng tăng lên.
Yếu tố hình ảnh là một yếu tố ảnh hưởng thuận chiều đến sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ du lịch tại cồn Sơn. Hệ số tác động là 0,179 và mức ý nghĩa 5% có thể kết luận, khi điểm du lịch tại cồn Sơn càng đồng cảm với khách du lịch thì sẽ làm tăng sự hài lòng của khách du lịch đối với chất lượng dịch vụ tại cồn Sơn. Hình ảnh thể hiện được sự quan tâm của điểm du lịch đến với khách du lịch, khi điểm du lịch quan tâm nhiều đến khách du lịch, người dân địa phương thân thiện sẽ giúp khách du lịch có được thời gian thư giãn nhiều hơn khi đến du lịch tại cồn Sơn. Điều này làm cho sự hài lòng của khách du lịch sẽ tăng thêm nếu khách du lịch có được quan tâm từ điểm du lịch.
Yếu tố tin cậy là một yếu tố ảnh hưởng thuận chiều đến sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ du lịch tại cồn Sơn. Hệ số tác động là 0,170 và mức ý nghĩa 5% có thể kết luận, khi điểm du lịch tại cồn Sơn càng làm tăng tin cậy của khách du lịch thì sẽ làm tăng sự hài lòng của khách du lịch đối với chất lượng dịch vụ tại cồn Sơn. Thực tế cho thấy, nếu điểm du lịch không cung cấp những dịch vụ đúng như đã giới thiệu, có nhiều tranh chấp với điểm du lịch thì chuyến du lịch thật vô nghĩa. Điều này không những làm cho khách du lịch khó chịu mà còn làm giảm sự hài lòng của khách du lịch.
Tóm tắt chương 4, thông qua phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách du lịch đối với chất lượng dịch vụ du lịch cộng đồng tại thành phố Cần Thơ cho thấy, có 5 yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ du lịch cộng đồng tại thành phố Cần Thơ. Các nhân tố ảnh hưởng bao gồm: hữu hình, đảm bảo, đáp ứng, hình ảnh, tin cậy. Trong đó, yếu tố hữu hình là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ du lịch cộng đồng.
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH Luận văn: Kết quả nghiên cứu khách du lịch về chất lượng dịch vụ.
5.1 Kết luận
Nghiên cứu đã hệ thống hoá cơ sở lý luận cơ bản về dịch vụ du lịch cộng đồng, sự hài lòng và các yếu tố tác động đến sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ du lịch cộng đồng. Dựa trên cơ sở lý thuyết này cùng các nghiên cứu trong và ngoài nước tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu nhằm đánh giá các yếu tố tác động đến sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ du lịch cộng đồng tại thành phố Cần Thơ. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu nhằm đánh giá những yếu tố tác động đến sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ du lịch cộng đồng tại thành phố Cần Thơ và chỉ ra được những khía cạnh hạn chế về chất lượng dịch vụ du lịch cộng đồng tại thành phố Cần Thơ.
Kết quả khảo sát cho thấy sự hài lòng của của khách du lịch về chất lượng dịch vụ du lịch cộng đồng tại thành phố Cần Thơ chịu tác động của 5 yếu tố. Cả 5 yếu tố này đều tác động thuận chiều đến sự hài lòng của của khách du lịch về chất lượng dịch vụ du lịch cộng đồng tại thành phố Cần Thơ, bao gồm: (1) Hữu hình, (2) Đảm bảo, (3) Đáp ứng, (4) Hình ảnh, (5) Tin cậy. Mô hình hồi quy chuẩn hoá sự hài lòng của của khách du lịch về chất lượng dịch vụ du lịch cộng đồng tại thành phố Cần Thơ rút ra có dạng:
HL = 3,254 + 0,276*VT + 0,164*DB + 0,250*DU + 0,179*HA + 0,170*TC + ei
Trong đó, Mô hình hồi quy có hệ số R2 hiệu chỉnh = 54,2% với mức ý nghĩa nhỏ hơn 0.05, chứng tỏ độ phù hợp của mô hình với bộ dữ liệu là khá cao, giải thích được 54,2% cho bộ dữ liệu khảo sát. Các giả thuyết đều được chấp nhận.
Ngoài ra, thông qua phân tích sự tham gia của hộ gia đình vào hoạt động du lịch tại cồn Sơn cho thấy, hoạt động du lịch còn nhiều hạn chế, các hoạt động vui chơi giải trí phục vụ cho khách du lịch chưa có nét đặc trưng, dễ dàng tìm thấy ở bất kỳ điểm du lịch sinh thái khác. Hơn thế, các điểm du lịch tại cồn Sơn chưa có hình thành bất kỳ hình thức quảng bá nào cho hoạt động du lịch tại địa phương. Bên cạnh đó, các hộ gia đình tham gia vào hoạt động du lịch của địa phương vẫn còn những khó khăn làm hạn chế khả năng hoạt động du lịch như: cơ sở hạ tầng yếu kém, thiếu nguồn vốn bổ sung cho hoạt động du lịch, thiếu nguồn lao động, thiếu sự liên kết giữa các điểm du lịch,… Luận văn: Kết quả nghiên cứu khách du lịch về chất lượng dịch vụ.
Mặt khác, chất lượng dịch vụ du lịch tại cồn Sơn được đo lường thông qua bộ thang đo của Parasuramen, với 30 biến quan sát được sử dụng để đo lường cho các nhóm nhân tố như: tin cậy, đáp ứng, hình ảnh, đảm bảo và hữu hình. Mức độ thực hiện chất lượng dịch vụ du lịch tại cồn Sơn hầu hết đều được khách du lịch thấp, thấp hơn so với mức độ quan trọng của khách du lịch với các tiêu chí đó.
5.2 Một số hàm ý chính sách nhằm phát triển du lịch cộng đồng tại cồn Sơn
5.2.1 Hàm ý chính sách về hữu hình
Chính quyền cần có những chính sách cải thiện hệ thống giao thông tại địa phương. Mặt khác, cần tăng cương hơn trong vấn đề bảo hộ khi vận chuyển khách du lịch trên hệ thống giao đường thủy như: trang bị áo phao, đảm bảo thiết bị vận chuyển là an toán,…
Cần phát triển loại hình du lịch homestay, du khách sẽ được sống chung với chủ nhà và tham gia những hoạt động thường ngày với người dân. Qua đó kích thích sự tò mò, khám phá của du khách với những đặc sắc văn hóa dân cư Nam Bộ. Đây cũng là một hệ thống lưu trú đáng phát triển và phù hợp với loại hình du lịch.
Các điểm du lịch tại cần phải cải thiện để phù hợp với loại hình du lịch như: tạo lối đi trong vườn để khách du lịch dễ dàng tiếp cận vườn; trồng thêm nhiều cây cảnh tạo không gian thiên nhiên để khách du lịch có thể chụp ảnh; xây dựng các tum để khách du lịch có thể ăn uống và nghỉ ngơi, thư giãn.
Cần phát huy vị thế của các nghề truyền thống ở địa phương, phối hợp tạo thành làng nghề thu hút khách du lịch, tạo ra các sản phẩm du lịch đặc trưng thu hút khách du lịch đến cồn Sơn. Hơn thế, cần hình thành các điểm trưng bày, giới thiệu và bán các sản phẩm truyền thống địa phương góp phần đa dạng hóa hệ thống gian hàng lưu niệm tạo sự hấp dẫn đối với du khách, hình thành một số gian hàng giới thiệu những làng nghề đang hoạt động ở địa phương,…
Đối với ngoài hình của nguồn nhân lực cũng rất quan trọng, do đó cần đầu tư nhiều hơn về đồng phục của nhân viên. Một mặt tạo thiện cảm và sự chuyên nghiệp trong mắt khách du lịch, một mặt tăng sự quảng bá cho điểm du lịch.
Các điểm du lịch cần tận dụng lợi thế của mình để tạo những sản phẩm du lịch mang tính đặc trưng. Hơn thế, giữa các điểm du lịch không nên cung cấp đến khách du lịch những trò vui chơi giải trí giống nhau. Mặt khác, các điểm du lịch cũng cần sáng tạo ra những trò vui chơi giải trí mới để phục vụ cho khách du lịch. Địa phương cần chủ động thành lập các câu lạc bộ đờn ca tài tử và các đội trình diễn văn hóa dân gian ở địa phương nhằm giới thiệu nét đẹp trong bản sắc văn hóa, ở các điểm du lịch.
Bảng 5.1: Gợi ý chính sách về hữu hình Luận văn: Kết quả nghiên cứu khách du lịch về chất lượng dịch vụ.
5.2.2 Hàm ý chính sách về đảm bảo
Cải thiện những vấn đề về nguồn nhân lực của hoạt động du lịch tại địa phương. Chính quyền nên liên hệ với trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Cần Thơ để phát triển về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực. Các điểm vườn du lịch sinh thái cần được trang bị ngoại ngữ để phục vụ tốt khách du lịch nước ngoài. Cần mở các lớp bồi dưỡng, đào tạo và giáo dục về du lịch cộng đồng cho những người làm du lịch tại địa phương như: phương thức làm du lịch, thái độ với khách, kỹ năng giao tiếp, các kỹ năng đón tiếp khách, kỹ năng thuyết minh cho khách du lịch, phục vụ khách trong ăn uống nghĩ ngơi, các kỹ năng nghề trong hoạt động du lịch.
Chính quyền địa phương cần can thiệp và xử lý những đối tượng làm ảnh hưởng đến hình ảnh du lịch của địa phương.
Chính quyền cần thực hiện những chiến dịch tuyên truyền việc bảo vệ môi trường đến người dân địa phương. Hơn thế, các hộ làm du lịch cần giữ gìn vệ sinh trong việc phục vụ du lịch đến du khách.
Mức giá các dịch vụ du lịch cộng đồng phải tương xứng với những dịch vụ cung cấp. Điểm du lịch cộng đồng cồn Sơn có thể tham khảo bảng giá dịch vụ các điểm du lịch khác. So sánh với chi phí thực hiện hoạt động để xây dựng mức giá dịch vụ du lịch thật hợp lý.
Bảng 5.2: Gợi ý chính sách về đảm bảo
5.2.3 Hàm ý chính sách về đáp ứng Luận văn: Kết quả nghiên cứu khách du lịch về chất lượng dịch vụ.
Chính quyền cần liên hệ với khoa Nông nghiệp ở trường Đại học Cần Thơ để giúp các điểm du lịch đa dạng cây trồng, nhằm giúp điểm du lịch có thể phục vụ khách du lịch quanh năm, không có tính thời vụ như hiện nay.
Chính quyền cần chủ động động viên những hộ gia đình có điều kiện thực hiện hoạt động du lịch tham gia phát triển du lịch, góp phần hình thành nhiều điểm du lịch, thu hút thêm du khách. Hơn thế, sự hợp tác giữa những hộ gia đình tham gia vào hoạt động du lịch còn hạn chế. Cho nên, cần tăng cường liên kết giữa những hộ gia đình này lại với nhau, để có sự kết nối bền chặt phải thành lập “Hội du lịch cồn Sơn”. Khi “Hội du lịch cồn Sơn” được thành lập sẽ góp phần tăng cường sự hỗ trợ trong hoạt động du lịch giữa các thành viên.
Chính quyền là trung gian, góp phần giúp các điểm vườn du lịch gắn kết.
Bảng 5.3: Gợi ý chính sách về đáp ứng
5.2.4 Hàm ý chính sách về hình ảnh
Du lịch cộng đồng là dựa vào cộng đồng để phát triển du lịch một cách bền vững, chỉ cần một thành phần trong cộng đồng địa phương không phối hợp cũng sẽ ảnh hưởng không tốt đến hoạt động du lịch cộng đồng. Chính vì thế, cần tăng cường sự liên kết trong cộng đồng với hoạt động du lịch của địa phương. Để thực hiện được cần có sự hỗ trợ của chính quyền, chính quyền cần hỗ trợ và khuyến khích những hộ có điều kiện tham gia vào hoạt động du lịch. Những hộ không có điều kiện tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch thì có thể tạo điều kiện để họ tham gia gián tiếp bằng việc cung cấp các hoạt động phụ trợ khác cho du lịch của địa phương. Từ đây, hoạt động du lịch sẽ tăng tính cộng đồng.
Bên cạnh việc cung cấp đến khách du lịch những hoạt động của du lịch thì điểm du lịch cũng cần cung cấp đúng dịch vụ mà khách du lịch mong muốn. Do đó, cần chủ động tìm hiểu, quan sát, để ý đến tâm lí của khách du lịch như: nhu cầu, sở thích, tâm trạng, thái độ của họ. Việc nắm bắt được tâm lí khách du lịch sẽ giúp ít rất nhiều cho việc phục vụ khách du lịch. Các điểm du lịch tại cồn Sơn phải có cung cách ứng xử văn hóa, tạo được niềm tin cho khách du lịch. Tích cực tìm hiểu thêm về văn hóa đa quốc gia để nắm được hành vi ứng xử của khách quốc tế, từ đó có thể đưa ra những cách ứng xử phù hợp làm hài lòng khách du lịch.
Bảng 5.4: Gợi ý chính sách về hình ảnh
5.2.5 Hàm ý chính sách về tin cậy Luận văn: Kết quả nghiên cứu khách du lịch về chất lượng dịch vụ.
Các điểm du lịch tại cồn Sơn phải thể hiện được sự quan tâm của mình khi khách hàng gặp trở ngại, phải kiên nhẫn lắng nghe và hiểu rõ vấn đề để giải quyết một cách ổn thỏa. Các điểm du lịch tại cồn Sơn phải thực hiện dịch vụ đúng như đã hứa hẹn với khách hàng, cung cấp đầy đủ các dịch vụ như đã cam kết, các thông tin giới thiệu về dịch vụ trên các trang web đặt phòng phải chính xác, tạo cho khách hàng cảm giác tin cậy
Các điểm du lịch tại cồn Sơn phải luôn có thái độ tích cực khi nhận được phản hồi từ khách. Phải bình tĩnh lắng nghe ý kiến của khách và giữ thái độ lịch sự một cách tốt nhất dù họ có thể phản hồi sai. Giải thích cặn kẽ cho khách về vấn đề họ phàn nàn. Đưa ra giải pháp hợp lí trên cơ sở tôn trọng lợi ích của khách.
Bảng 5.5: Gợi ý chính sách về tin cậy
5.3 Một số hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo
Bên cạnh những đóng góp nhằm chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ du lịch cộng đồng tại thành phố Cần Thơ, nghiên cứu này cũng có một số hạn chế nhất định như sau:
Thứ nhất: Mô hình nghiên cứu có R2 hiệu chỉnh là 0,542 nghĩa là 54,2% sự biến thiên của sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ du lịch cộng đồng tại thành phố Cần Thơ được giải thích bởi sự biến thiên của các thành phần như: (1) Hữu hình, (2) Đảm bảo, (3) Đáp ứng, (4) Hình ảnh, (5) Tin cậy. Như vậy, tỷ lệ lớn sự biến thiên của sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ du lịch cộng đồng tại thành phố Cần Thơ chưa được giải thích bởi sự biến thiên của các thành phần này và vẫn còn rất nhiều yếu tố cần được bổ sung vào mô hình, đây cũng là một hướng nghiên cứu tiếp theo cho đề tài.
Thứ hai: Do giới hạn về thời gian, kinh phí, nhân lực, công cụ hỗ trợ,…
nghiên cứu được thực hiện thông qua phương pháp lấy mẫu thuận tiện để khảo sát thu thập dữ liệu phân tích nên không thu thập được nhiều khách du lịch. Phạm vi lấy mẫu là khách du lịch tại các điểm du lịch cộng đồng ở cồn Sơn nên việc lấy mẫu được thực hiện có tính đại diện chưa cao. Việc chọn mẫu được tiến hành theo phương pháp phi xác suất (Phương pháp lấy mẫu thuận tiện) với kích thước mẫu chưa nhiều (200 khảo sát), nên những đánh giá chủ quan của các nhóm đối tượng khảo sát có thể làm lệch kết quả nghiên cứu. Do đó, nghiên cứu tiếp theo có thể thực hiện với kích thước mẫu lớn hơn, chọn mẫu theo xác suất và có phân lớp đối tượng để tăng tính khái quát cho nghiên cứu. Luận văn: Kết quả nghiên cứu khách du lịch về chất lượng dịch vụ.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Phương pháp nghiên cứu khách du lịch về chất lượng