Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Một số giải pháp nhằm phát triển du lịch tâm linh khu vực phía Tây Hà Nội dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1 Căn cứ đề xuất giải pháp

Các khu điểm du lịch tâm linh khu vực phía Tây Hà Nội thuộc địa bàn thành phố Hà Nội, vì vậy trước khi đưa xây dựng những chính sách, kế hoạch phát triển du lịch tâm linh khu vực phía Tây Hà Nội thì ta cần biết mục tiêu và chiến lược phát triển du lịch Hà Nội và chủ trương chiến lược phát triển du lịch của nhà nước thể hiện qua các Luật – Nghị định – Pháp lệnh…sau:

  • Luật Du lịch số 44/2005/QH11 ngày 14/6/2005.
  • Luật Di sản Văn hóa số 28/2001/QH10 ngày 29/6/2001.
  • Luật Di sản Văn hóa số 32/2009/QH12 ngày 18/6/2009.
  • Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21/09/2010 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hoá.
  • Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo số 21/2004/PL-UBTVQH11 ngày 18/6/2004 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI.
  • Nghị quyết số 12/2012/NQ-HĐND ngày 13/7/2012 của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội “Về việc thông qua quy hoạch phát triển du lịch thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030”.

Xác định Hà Nội là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả nước, là vùng đất có đầy đủ các điều kiện để phát triển du lịch như vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên du lịch phong phú, điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất hạ tầng tốt…Hội đồng Nhân dân Thành phố Hà Nội đã phê chuẩn Nghị quyết số 12/2012/NQ-HĐND ngày 13/7/2012 đã nêu rõ mục tiêu và chiến lược của Du lịch Hà Nội đến năm 2020 và những năm tiếp theo đó là “phấn đấu đến năm 2020, du lịch Thủ đô Hà Nội thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, có sức cạnh tranh; mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, thân thiện với môi trường, đưa Hà Nội trở thành điểm đến hấp dẫn, có đẳng cấp và xứng đáng là trung tâm du lịch lớn của cả nước và khu vực”.

Trong Nghị quyết này của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội cũng đưa ra những chỉ tiêu và chiến lược cụ thể:

Về lượng khách du lịch, phấn đấu tới năm 2020 tổng số du khách đến Hà Nội đạt 23,3 triệu lượt người, trong đó lượng khách quốc tế đạt 3,2 triệu lượt người, khách nội địa đạt số lượng 20 triệu lượt. Đến năm 2030 tổng số khách đạt 31,3 triệu lượt người, khách quốc tế đạt 4,5 triệu lượt người, khách nội địa là con số 26,8 triệu lượt khách.

Về tỷ trọng GRDP du lịch trong GRDP của Thành phố phấn đấu đến năm 2020 chiếm 8,7 % và năm 2030 chiếm 9,3 %.

Định hướng thị trường du lịch với thị trường nước ngoài tập trung đẩy mạnh việc thu hút khách du lịch quốc tế ở thị trường truyền thống như Đông Bắc Á (tập trung Nhật Bản, Hàn Quốc….), Tây Âu, Bắc Mỹ và thị trường Asean. Mở rộng thu hút khách du lịch đến các thị trường mới như Trung Đông và Bắc Âu…Với thị trường trong nước thì phát triển mạnh thị trường nội địa, tăng cường liên kết giữa Hà Nội với các vùng miền, địa phương trong cả nước, tập trung thị trường tại các địa phương vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc, vùng trung du, miền núi Bắc Bộ và các đô thị lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng… Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Quy hoạch phát triển du lịch theo không gian lãnh thổ với việc quy hoạch và phát triển các cụm du lịch trọng điểm của thành phố. Trong đó có thể kể tới:

  • Cụm du lịch Sơn Tây – Ba Vì với sản phẩm du lịch chủ yếu: Du lịch sinh thái nghỉ dưỡng cuối tuần; du lịch văn hóa tâm linh núi Ba Vì;  du lịch văn hóa làng Việt cổ Đường Lâm – Đền Và; du lịch vui chơi giải trí; du lịch thể thao cao cấp và du lịch nông nghiệp.
  • Cụm du lịch Hương Sơn – Quan Sơn với các sản phẩm du lịch chủ yếu: Du lịch văn hóa tâm linh, lễ hội; du lịch nghỉ dưỡng cuối tuần và sinh thái; du lịch thể thao cao cấp với các sản phẩm sân golf, thể thao nước.
  • Cụm du lịch Hà Đông và phụ cận với sản phẩm du lịch chủ yếu: Du lịch làng nghề; du lịch cuối tuần; du lịch văn hóa; du lịch vui chơi giải trí.
  • Quy hoạch phát triển vành đai du lịch sông Hồng với sản phẩm du lịch chính: Du lịch tâm linh, du lịch sinh thái ven sông.

Các căn cứ trên cho thấy du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn đóng góp quan trọng trong tổng GRDP của cả nước nói chung và từng địa phương nói riêng. Vì thế, phát triển du lịch phải có chính sách, giải pháp, định hướng và quy hoạch phát triển cụ thể cho từng vùng du lịch trong cả nước.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

3.2 Giải pháp

3.2.1 Giải pháp về công tác quản lý

Áp dụng kinh nghiệm thứ năm ở cuối chương 1: lập quy hoạch tổng thể, bảo tồn và phát triển hệ thống các địa điểm du lịch tâm linh và phân loại chúng theo các thứ bậc: di sản thế giới, di sản quốc gia và di tích địa phương để có hướng đầu tư phát triển và quảng bá hình ảnh chuyên môn hơn. Hiện tại khu vực phía Tây Hà Nội chưa có điểm du lịch tâm linh nào được công nhận là di sản thế giới. Tuy vậy về di sản cấp quốc gia thì hiện tại có rất nhiều như : chùa Hương, chùa Thầy, chùa Tây Phương, Đền thờ Tản Viên Sơn Thánh, đình Chu Quyến, đình Tây Đằng…Các di tích này cần được đặc biệt chú trọng bảo tồn lưu trữ. Ngoài ra còn rất nhiều các di tích tâm linh cấp địa phương cũng cần được chú ý tu bổ giữ gìn.

Áp dụng kinh nghiệm thứ hai ở cuối chương 1: Hoàn thiện công tác quản lý kinh doanh dịch vụ, hàng hóa gắn với các giá trị văn hóa truyền thống tại các điểm du lịch tâm linh. Đề ra những cơ chế, chính sách sát thực để khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia phát triển, trong đó ưu tiên xã hội hóa du lịch cộng đồng.

Để thực hiện được giải pháp này cần lưu ý đến các vấn đề sau: Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Ban quản lý các di tích tín ngưỡng tôn giáo cần nắm vững các Thông tư, quy định, văn bản chính sách, pháp lệnh…của Nhà nước và của địa phương về việc tổ chức quản lý di tích văn hóa tâm linh. Học hỏi và áp dụng những phương pháp quản lý lành mạnh hiệu quả. Bố trí quy định rõ ràng không gian phù hợp cho các quầy kinh doanh hàng hóa, dịch vụ mua sắm phụ trợ cho việc tham quan, hành lễ (hoa quả, lễ vật…) đảm bảo an ninh, trật tự và an toàn vệ sinh. Thường xuyên kiểm tra rà soát các hoạt động kinh doanh dịch vụ tại điểm di tích nhằm giảm thiểu tối đa các hoạt động kinh doanh hàng hóa phi pháp và hoạt động giải trí thiếu lành mạnh. Quy định rõ ràng và phối hợp chặt chẽ với các cá nhân, đơn vị tham gia kinh doanh dịch vụ tại khu vực di tích phải đảm bảo các quy định vệ sinh an ninh, an toàn. Đặc biệt cần đầu tư thêm công cụ hỗ trợ quản lý bằng hệ thống bảng, biển nội quy, quy định, chỉ dẫn thực hiện tổ chức kinh doanh, niêm yết giá cả cả các dịch vụ tại chỗ.

Các cơ quan chủ quản của Thành phố, ban ngành đoàn thể chuyên trách cần họp tác và quan tâm động viên các đơn vị quản lý đầu tư, đa dạng hóa dịch vụ cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ phục vụ nhu cầu tham quan, tìm hiểu, nghiên cứu.Sự phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền giúp xác định hướng phát triển tốt hơn, phân bố không gian đồng đều hơn ,kết hợp được các lợi ích kinh tế với nhiệm vụ bảo tồn. Sự hợp tác giữa các cơ quan nhà nước tạo nên vòng đai pháp lý, định hướng để phát triển du lịch tâm linh khu vực phía Tây Hà Nội còn sự phối hợp giữa các đơn vị kinh doanh liên quan với nhau và các cơ quan giúp thực hiện hóa các đường lối, chính sách để đưa hoạt động du lịch tâm linh của khu vực lên xứng đáng với tiềm năng vốn có.

Xây dựng hệ thống các quy đinh, nội quy tại các điểm du lịch tâm linh.

Lập ra các mức phạt dành cho hành vi trộm cắp, phân vùng khu vực cấm các đối tượng bán rong, ăn xin, giải trí không lành mạnh (cờ bạc), buôn thần bán thánh…Nghiêm cấm việc xây dựng di tích giả, tự tiện để hòm công đức và xây dựng những công trình dân dụng xâm phạm đến khu vực di tích.

Chuẩn hóa cách ứng xử văn hóa trong hoạt động du lịch tâm linh tại các điểm tín ngưỡng – tôn giáo.

Khi tham gia các hoạt động du lịch này du khách, nhà cung ứng, người dân địa phương và đặc biệt là hướng dẫn viên cần có cách ứng xử phù hợp với văn hóa, tín ngưỡng và tôn giáo.

Đối với khách du lịch: cần có những hiểu biết nhất định khi quyết định tham gia vào hoạt động du lịch văn hóa. Ví dụ như những điểm đến có đặc điểm về tâm linh như thế nào, cần ăn mặc, đi đứng, nói năng như thế nào là phù hợp. Trình tự  vào lễ như thế nào là hợp lý, khi vào sẽ xưng hô ra sao? Lễ vật thì gồm những đồ gi?chú ý không nên dâng những lễ vật gì? Trình từ lễ như thế nào là đúng? Những yêu cầu này để đảm bảo khách du lịch sẽ không gây ra những tình huống không phù hợp với tín ngưỡng, tôn giáo và văn hóa bản địa cũng như vì thế mà hạn chế những phản ứng không mong đợi của người dân bản địa.

Đối với nhà cung ứng: nhà cung ứng du lịch bao gồm những công ty lữ hành, những cơ sở lưu trú, hướng dẫn viên…Cùng với du khách, nhà cung ứng trực tiếp tham gia vào các hoạt động du lịch. Những hiểu biết đầy đủ về giá trị các tài nguyên cũng như có kĩ năng nhận diện và khai thác hợp lí các tài nguyên này là yêu cầu đặc biệt quan trọng. Khi hiểu biết đầy đủ mới có thể khai thác hiệu quả hướng tới sự hài lòng tối đa những nhu cầu chính đáng của khách mà vẫn trân trọng và bảo vệ tài nguyên, đảm bảo phát triển du lịch bền vững, vì các nguồn tài nguyên vật thể nếu đã mất đi thì không có khả năng tái tạo lại.

Đối với hướng dẫn viên hoạt động trong ngành: Khi đến các nơi như vậy cần nhanh chóng xác định những yếu tố về không gian, địa điểm, địa thế, lịch sử…của điểm đến để có thể giới thiệu chính xác tới du khách. Đồng thời xác định các giá trị vật chất và giá trị tinh thần của điểm đến đó tới du khách cũng như hướng dẫn du khách làm theo đúng trình tự khi vào lễ, tham quan hay giải thích cho du khách ý nghĩa về các hình tượng, kiến trúc, về cách cầu cúng như thế nào cho đúng…

Đối với dân địa phương: đây là đối tượng chủ thể của văn hóa, của những giá trị vật thể và phi vật thể – tài nguyên của du lịch văn hóa tâm linh. Thông thường dân bản địa có cái nhìn không tích cực đối với hoạt động du lịch, nhất là trong thời kì mà kinh tế phát triển, tất cả đều được cân, đong, đo, đếm bằng lượng vật chất người ta dễ dàng đánh mất những giá trị tinh thần. Đồng thời, hoạt động du lịch ở các địa phương ngày nay thường xảy ra hiện trạng khai thác đến cạn kiệt tài nguyên nhưng lợi ích lại chỉ thường về một vài người hoặc một tổ chức nào đó, còn người dân vẫn lâm vào trạng thái cùng quẫn, khổ sở vì tính thương mại của du lịch mang lại. Yêu cầu đối với người dân là có hiểu biết và có thể trực tiếp tham gia hoạt động du lịch ở địa phương mình. Nhiều địa phương đã và đang triển khai hoạt động du lịch cộng đồng, người dân, chính quyền và nhà cung ứng cùng có được lợi ích. Thiết nghĩ, hoạt động này đặc biệt ý nghĩa với du lịch tâm linh bởi vì những người tham gia vào sáng tạo văn hóa có lẽ sẽ biết cách làm thế nào để bảo vệ tài nguyên của mình, đem lại lợi ích cho mình.

Tóm lại, cách ứng xử văn hóa nói chung và ứng xử văn hóa trong du lịch nói riêng là yêu cầu tối thiểu với mỗi chủ thể khi tham gia vào hoạt động này. Con người khác với những loài khác là có tư duy, suy nghĩ và vì thế có khả năng điều chỉnh hành vi của mình trong từng môi trường cho phù hợp.

3.2.2 Giải pháp về đầu tư, phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Áp dụng kinh nghiệm số 1 và kinh nghiệm số 4 từ 7 kinh nghiệm mà tác giả đúc rút được ở phần cuối chương 1 sẽ có 1 số hướng giải pháp sau:

  • Hệ thống cơ sở hạ tầng:

Cần tiến hành lập quy hoạch tổng thể các khu – điểm du lịch tâm linh, khảo sát và nghiên cứu văn hóa lịch sử để thi công hoàn thiện và trùng tu các công trình lịch sử trong khu di tích. Tránh hiện tượng phá bỏ toàn bộ các công trình kiến trúc nghệ thuật cũ và xây mới. Đây là vấn đề vô cùng quan trọng và cần có sự phối hợp giữa các bộ ban ngành, ban quản lý, nhà đầu tư trong đó các bộ ban ngành sẽ là người thẩm định, kiểm tra và phê duyệt bản quy hoạch. Ban quản lý sẽ xây dựng quy hoạch (có sự tham gia tư vấn của các nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa) và nhà đầu tư sẽ là người kết hợp với ban quản lý để thực hiện bản quy hoạch…Việc xây dựng hệ thống cấp thoát nước , xử lý rác thải cần thực hiện triệt để nhằm đảm bảo an toàn vệ sinh môi trường tại khu du lịch và nâng cao chất lượng sống của người dân bản địa. Khuyến khích các doanh nghiệp, nhân dân trong vùng có di tích góp vốn xây dựng hệ thống nhà hàng, quán ăn, dịch vụ nghỉ ngơi, dịch vụ tín ngưỡng…để đa dạng hóa các dịch vụ cho du khách lựa chọn.

Khuyến khích và xây dựng mô hình homestay tại khu vực chùa Hương, Mỹ Đức với đối tượng nhắm tới là du khách quốc tế muốn có thêm thời gian để tham quan hết 3 tuyến du lịch tâm linh của chùa Hương: Hương Tích, Long Vân và Tuyết Sơn. Đồng thời có nhu cầu khám phá thưởng ngoạn cảnh vật được ví như Hạ Long trên cạn của Hà Nội.

Giao thông vận tải: Hiện tại về cơ bản hệ thống giao thông tới các điểm di tích tâm linh của khu vực phía Tây Hà Nội đã được xây dựng và hoàn thành xong. Tuy vậy khi những điểm này tập trung một số lượng lớn du khách thì việc tắc nghẽn cục bộ vẫn còn tái diễn. Vì vậy, ngoài đầu tư làm mới các hệ thống trục đường quốc lộ chính cần phát triển thêm các hệ thống đường nội bộ, đường liên xã để có thể giải quyết một phần hiện tượng dồn ứ tắc nghẽn giao thông ra những trục đường chính.

Phát triển tuyến giao thông theo trục Mỹ Đình – Chùa Hương – Bái Đính tạo ra sự liên kế các điểm du lịch tâm linh giữa Hà Nội với Ninh Bình.

Cải tạo tuyến giao thông ĐT 419 từ hồ Quan Sơn – chùa Hương vì hiện tại tuyến đường này đang bị xuống cấp do tải trọng của các xe tải lưu thông qua đây quá lớn. Việc cải tạo tốt tuyến đường này sẽ giúp du khách có thêm lựa chọn để kết hợp khi đến chùa Hương. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

3.2.3 Giải pháp về phát triển sản phẩm, thị trường khách du lịch tâm linh

Với những tiềm năng sẵn có là nơi tập trung nhiều di tích văn hóa lịch sử lớn nhất cả nước và ưu thế là 1 bộ phận của thủ đô Hà Nội thì khu vực phía Tây Hà Nội hoàn toàn có thể phát triển trở thành một điểm đến tâm linh lớn nhất miền Bắc và cả nước. Tuy nhiên trên con đường phát triển bên cạnh các yếu tố về chính sách đầu tư, cơ sở vật chất kỹ thuật…thì sản phẩm du lịch và dịch vụ phụ phục vụ hoạt động du lịch tâm linh cũng đóng vai trò quan trọng trong việc làm hài lòng và níu chân du khách quay lại những lần sau.

Mỗi năm, các khu- điểm du lịch tâm linh khu vực này tiêu thụ một lượng khá lớn các sản phẩm công nghiệp chế biến như: Bia, nước giải khát, bánh kẹo …trong đó có nhiều sản phẩm có thể tự sản xuất, chế biến tại địa bàn huyện như chế biến chè lam,củ mài, bánh gai, khánh, đồ lưu niệm…. Tác giả áp dụng kinh nghiệm thứ 3 ở cuối chương 1 để góp phần phát triển công nghiệp nông thôn với định hướng sau:

Sản xuất chè lam tại khu vực chùa Tây Phương, bánh gai tại khu vực chùa Mía – làng cổ Đường Lâm, bánh củ mài, rượu mơ tại khu vực chùa Hương : đây là sản phẩm phục vụ cho việc làm đồ lễ, quà tặng và tiêu dùng trực tiếp. Nếu sản xuất trực tiếp tại địa phương với số lượng lớn có thể thu hút các nhân công lao động nhàn rỗi. Tuy nhiên để tránh việc hàng giả, hàng kém chất lượng làm ảnh hưởng đến uy tín của các nhà sản xuất thì cần có sự đăng ký nhãn hiệu độc quyền.

Sản xuất hàng tế lễ: Nhu cầu mua sắm đồ lễ của một điểm du lịch tâm linh và là khá cao. Để đáp ứng những nhu cầu tại chỗ của du khách thì cần đào tạo, xây dựng một đội ngũ lao động biết chữ Nho, hiểu biết về lễ nghi Phật giáo và sắm sửa các đồ tế lễ cho mọi người có nhu cầu nhằm quản lý được những người hành nghề tiêu cực, mê tín dị đoan nhưng vẫn thỏa mãn được lòng tín ngưỡng. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Sản xuất hàng lưu niệm: Hiện tại phần lớn các đồ hàng lưu niệm được bày bán tại đây đều là các hàng gia công, sản xuất ở nơi khác hoặc nhập từ Trung Quốc sang vì vậy không mang được nét đặc trưng của vùng. Việc sản xuất hàng lưu niệm mang đậm phong cách của điểm đến tạo ra ấn tượng sâu đậm cho du khách. Trong số các mặt hàng đó, nhiều sản phẩm có thể sản xuất được tại địa bàn như khánh, tượng Phật, tranh sơn mài, tràng hạt và tạo thành các cơ sở liên doanh  kinh doanh đồ lưu niệm phục vụ du khách tham quan. Để phát triển sản phẩm lưu niệm đặc trưng, chính quyền địa phương và ban quản lý có thể phát động các cuộc thi sáng tạo để tìm ra sản phẩm phù hợp khuyến khích chế tác các mô hình bằng mây tre, lá, giấy mô phỏng theo kiến trúc các điểm di tích tâm linh…để mỗi khi du khách nhìn vào đó nhận ra được đó là sản phẩm của vùng hay của điểm đến nào. Như vậy với giải pháp này ta đã phần nào giải quyết được bài toán đảm bảo lợi ích cho người dân bản địa giúp họ có thu nhập tốt hơn. Khi đó họ sẽ tích cực tham gia việc bảo tồn các di tích tâm linh tại nơi mình sinh sống vì khi phát triển bền vững những di tích này thì cuộc sống của họ mới được đảm bảo.

Bàn về giải pháp khắc phục tính mùa vụ, thu hút du khách đến với các điểm du lịch tâm linh quanh năm, thì bên cạnh việc đưa ra các gói dịch vụ ưu đãi cho du khách vào mùa thấp điểm, các địa phương cần phát triển thêm các sản phẩm phụ trợ, kết hợp nhiều hình thức du lịch:

Tới thăm chùa Hương, du khách có thể kết hợp đi đò tham quan khu du lịch sinh thái dọc theo suối Yến, hoặc tới thăm đền du khách có thể kết hợp tìm hiểu, thưởng thức nghệ thuật hát bóng, hầu đồng.

Thay vì cung cấp những tour du lịch tâm linh thông thường, chỉ dẫn khách tới tham quan chùa chiền, các hãng lữ hành có thể thiết kế các tour để du khách được nghỉ lại trong chùa, quan sát cuộc sống các thiền sư, tham gia tập dưỡng sinh, nghe giảng về Phật pháp tại chùa Hương, chùa Thầy, chùa Tây Phương…Đây là hướng khai thác du lịch đã được một số nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… áp dụng khá thành công.

  • Kết hợp du lịch tâm linh với các loại hình du lịch khác:

Du lịch tâm linh + du lịch sinh thái : tuyến Chùa Hương – cảnh quan sinh thái Hương Sơn – hồ Quan Sơn; chùa Thầy – chùa Tây Phương – đền Và – Vườn quốc gia Ba Vì… Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Du lịch tâm linh + du lịch nghỉ dưỡng: chùa Thầy – chùa Tây Phương – làng cổ Đường Lâm – chùa Mía…

Du lịch tâm linh + du lịch mua sắm: sau khi đi hành hương, tham quan, chiêm bái tại các điểm du lịch tâm linh khu vực Hà Tây cũ, du khách di chuyển về các trung tâm thương mại lớn tại trung tâm Hà Nội để mua sắm hoặc đến các làng nghề truyền thống nổi tiếng: lụa Vạn Phúc, cốm Mễ Trì, mây tre đan Phú Vinh – Chương Mỹ…

Một hướng đi mới có khả năng thu hút khách vào mùa thấp điểm đó là có chính sách thu hút khách du lịch như miễn vé cáp treo tại chùa Hương, vé tham quan cho học sinh sinh viên, người già vào mùa hè (mùa thấp điểm) tại các điểm du lịch tâm linh trong khu vực. Nếu thực hiện ý tưởng này thì cần thực hiện triệt để và trên quy mô rộng khắp mới đem lại hiệu quả, tránh việc làm manh mún, nhỏ lẻ.

Về thị trường khách du lịch tâm linh thì như đã phân tích ở phần trên, du khách đến đa phần là khách nội địa với những lứa tuổi, thành phần xã hội…khác nhau. Họ thường đi theo nhóm tự tổ chức hoặc theo các chương trình du lịch. Vì vậy nếu muốn xác định được tập khách mục tiêu tiềm năng để khai thác thì cần dựa vào đặc điểm tâm lý, nhu cầu, khả năng chi tiêu và hình thức tổ chức chuyến đi của du khách. Với khách quốc tế cần thực hiện bài bản việc tổ chức và quảng bá hình ảnh điểm đến cho du khách và chuẩn bị thông tin về văn hóa cho khách quốc tế là rất quan trọng do giữa ta và họ có sự khác biệt về văn hóa. Do đó cần thường xuyên tiến hành điều tra mức độ hài lòng của du khách đối với điểm đến làm căn cứ thống kê, phân tích đưa ra những biện pháp xử lý.

Phục dựng và bảo tồn các “hèm” liên quan đến tín ngưỡng cổ tại các lễ hội như: Hội làng Vân Sa (xã Tản Hồng, Ba Vì) có trò chiềng tứ dân lạc nghiệp tổ chức rước kéncướp kén; hội làng Miêng Hạ (xã Hoa Sơn, Ứng Hòa) diễn trò ội ại tắt đèn giằng bông; hội làng Sơn Đồng (xã Sơn Đồng, Hoài Đức) diễn trò cướp bông, thi bánh dày, bánh cuốn; hội Giã La làng La Cả (Dương Nội, Hà Đông) có tục tắt đèn giã đám…phản ánh tín ngưỡng tồn thực của người Việt cổ. Hát Dô ở hội Dô tại Liệp Tuyết, Quốc Oai; hát Chèo tầu ở hội Chèo tầu tại xã Tân Hội, Đan Phượng.

Một điểm đáng lưu ý là hiện tại các công ty lữ hành khi đưa khách du lịch tới các khu –điểm du lịch tâm linh khu vực phía Tây Hà Nội mới chỉ mới tập trung khai thác và phục vụ đối tượng khách có nhu cầu hành hương chiêm bái, vãn cảnh và đi trong thời gian trong một ngày chứ chưa tập trung xây dựng các chương trình du lịch nghiên cứu chuyên sâu dành cho đối tượng muốn nghiên cứu tìm hiểu về kiến trúc tôn giáo – tín ngưỡng , giá trị điêu khắc mỹ thuật…trong đó điểm đến chính là Đình –Đền –Chùa. Liên kết để tạo bản sắc và phải lựa chọn được điểm nhấn ở các di tích, lễ hội văn hóa từng địa phương, tránh trùng lặp về hình thức, nội dung, tạo được sản phẩm du lịch mang tính đặc trưng riêng được coi là chìa khóa dẫn đến thành công. Trước mắt, các hãng lữ hành cần phối hợp các địa phương nghiên cứu khảo sát, xây dựng cơ sở thông tin dữ liệu để hình thành một số tuyến văn hóa tâm linh tiêu biểu. Tác giả đã tiến hành nghiên cứu xây dựng các chương trình du lịch chuyên đề và tổ chức vào mùa thấp điểm của lễ hội trong khu vực và liên kết với các vùng khác như sau:

  • Chương trình du lịch nghiên cứu công trình kiến trúc cổ của Đình –Đền – Chùa ở khu vực xứ Đoài (Chùa Hương -Chùa Tây Phương – Chùa Thầy – Chùa Mía – Đền Và – Chùa Trăm Gian)….Chương trình này có thể kéo dài 2 ngày 1 đêm và thời gian tổ chức vào mùa thu để tránh sự ồn ào, đông đúc của các du khách khác.
  • Chương trình du lịch nghiên cứu lịch sử kiến trúc Phật giáo thời Tây Sơn. Triều đại này tuy chỉ kéo dài trong thời gian 15 năm nhưng các kiến trúc Phật giáo thời này có xu hướng “Phật pháp bất ly thế gian pháp”. Phật điện thời này mang yếu tố kết hợp với thế gian nên đã tạo ra những tác phẩm có giá trị độc đáo mà hiện nay những kiến trúc đó không còn lưu lại nhiều. ( Chùa Kim Liên – Chùa Tây Phương – Chùa Mía…)
  • Tổ chức các khóa học thiền, tìm hiểu về Phật giáo tại các chùa lớn như chùa Hương, chùa Trăm Gian…để người tham gia sẽ có đủ thời gian và không gian để đắm mình trong thiên nhiên, trong thế giới tâm linh tĩnh lặng với những giây phút bình an của đất Phật. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.
  • Liên kết tuyến du lịch chùa Hương – Đầm Đa (Hà Nội – Hòa Bình); chùa Hương – chùa Bái Đính (Hà Nội – Ninh Bình);
  • Xây dựng 2 loại hình sản phẩm du lịch tâm linh, là du lịch tâm linh thuần túy và tâm linh chuyên đề. Du lịch tâm linh thuần túy là những tour đi tham quan chùa chiền các di tích để hành hương và nghỉ dưỡng. Còn du lịch tâm linh chuyên đề thì sẽ đi tham gia những khóa tu, cộng tu, niệm Phật.
  • Đặc biệt trong vùng có hệ thống các quán đạo Lão phát triển theo triền sông Đáy. Là một trong ba “Tam giáo” du nhập vào Việt Nam nhưng những nghiên cứu về đạo Lão chưa phát triển nhiều. Tác giả đề xuất xây dựng chương trình du lịch nghiên cứu đạo Lão dựa theo hệ thống các quán đạo Lão ở dọc triền sông Đáy: Lão Quân quán (Hoài Đức) – Viên Dương quán (Hoài Đức) – Hội Linh quán (Thanh Oai) – Lâm Dương quán (Hà Đông).

Việc áp dụng những chương trình du lịch chuyên đề vào thực tiễn có thể còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại nhưng tác giả tin rằng đó sẽ là một hướng đi đúng trong tương lai.

3.2.4 Giải pháp về tuyên truyền, quảng bá sản phẩm du lịch tâm linh

Để góp phần đẩy mạnh sự phát triển hoạt động du lịch tâm linh khu vực phía Tây Hà Nội cần mở rộng thêm thị trường để tăng thêm lượng khách và quan trọng không kém đó là việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá sản phẩm du lịch tâm linh của khu vực bằng nhiều hình thức:

  • Quảng bá, tuyên truyền các sản phẩm du lịch tâm linh đặc thù và các tuyến du lịch tâm linh đặc thù.
  • Tổ chức hoặc tham gia các buổi hội thảo, các sự kiện văn hóa, tuần lễ du lịch, các lễ hội mang tính quốc tế nhằm thu hút sự quan tâm của các nhà chuyên môn, các doanh nghiệp lữ hành, khách du lịch trong và ngoài nước đến tham dự.
  • Sưu tập, biên soạn và in ấn các ấn phẩm, tài liệu, sổ tay du lịch, các đoạn phim tư liệu giới thiệu về các khu-điểm du lịch tâm linh nổi tiếng của vùng. Đưa các đoạn phim tư liệu đó lên các kênh truyền hình trong nước và Kiều bào ở nước ngoài…Viết các bài giới thiệu điểm đến du lịch tâm linh của khu vực trên các tờ báo có uy tín. Các ấn phẩm, tài liệu sổ tay du lịch nên để ở chế độ song ngữ để cung cấp thông tin cho cả du khách nước ngoài.
  • Tại các khu-điểm du lịch tâm linh trọng điểm cần xây dựng các trung tâm, quầy thông tin về du lịch tâm linh để cung cấp thêm các dữ liệu cho du khách tham quan.
  • Hợp tác, liên kết với các đại lý, công tu du lịch trong cả nước để thông qua đó giới thiệu, quảng bá hình ảnh du lịch tâm linh của khu vực.
  • Tổng cục Du lịch và các địa phương cần phối hợp với các công ty lữ hành trang bị kiến thức cho các hướng dẫn viên về du lịch tâm linh, cần cung cấp, trang bị thông tin đa dạng về điểm du lịch, điểm đến hấp dẫn tại mỗi địa phương để hướng dẫn viên và du khách hiểu thêm về nét văn hóa đặc sắc của mỗi vùng miền. Tại mỗi khu du lịch, khu di tích cần có những biển chỉ dẫn, biển báo cụ thể bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh…
  • Tận dụng tối đa việc quảng bá hình ảnh trên các trang mạng xã hội, các diễn đàn mạng trong và ngoài nước… vì hiện tại đây là nơi hàng ngày có hàng triệu lượt truy cập của mọi đối tượng khách hàng đủ các lứa tuổi. Một hình thức quảng bá sản phẩm tốn it chi phí đầu tư nhưng mang lại hiệu quả cao.

Tiểu kết chương 3 Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Với những thành quả đã đạt được của hoạt động du lịch tâm linh khu vực phía Tây Hà Nội trong thời gian qua, cùng việc đẩy mạnh công tác đầu tư, khai thác thúc đẩy sự phát triển của hoạt động du lịch tâm linh này đã góp phần nâng cao hình ảnh và thương hiệu của du lịch tâm linh khu vực này nói riêng và cả thành phố Hà Nội nói chung.

Tuy hoạt động du lịch tâm linh có những khởi sắc nhưng rõ ràng khu vực này vẫn chưa có thể tận dụng khai thác hết những tiềm năng của du lịch tâm linh sẵn có trong khu vực, thiếu sản phẩm đặc sắc. Đồng thời, ý thức của du khách và người dân địa phương vẫn còn chưa tốt đã ảnh hưởng đến hiện trạng của các di tích, kiến trúc điêu khắc, nghệ thuật tâm linh trong vùng. Thậm chí một số các công trình kiến trúc điêu khắc còn bị phá hủy để làm mới lại làm mất đi giá trị vốn có của nó.

Tác giả tin rằng, qua những giải pháp của mình nếu được áp dụng sẽ phần nàp giúp cho mọi người có cái nhìn tổng quát hơn về vai trò và tầm quan trọng cũng như sự ảnh hưởng của loại hình du lịch này trong sự phát triển kinh tế của thành phố Hà Nội nói chung và trước mắt là thay đổi đời sống của những người dân bản địa. Từ đó kêu gọi mọi người trong xã hội cùng chung tay bảo vệ nguồn tài nguyên du lịch quý giá này và gìn giữ cho các thế hệ măng non của nước nhà.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Du lịch tâm linh là một trong những xu thế được khách du lịch trong và ngoài nước quan tâm và có xu hướng lựa chọn. Nhu cầu tâm linh và việc thỏa mãn nhu cầu này hiện nay về cơ bản là không thể thiếu được trong mỗi người Việt Nam nói chung và khách du lịch nói riêng.

Hà Tây cũ và nay là khu vực phía Tây Hà Nội là một vùng giàu tiềm năng du lịch tâm linh với số lượng, chất lượng nguồn tài nguyên rất cao. Với ưu thế như vậy, nơi đây xứng đáng trở thành một trung tâm du lịch tâm tinh lớn của nước nhà. Vấn đề đặt ra cho khu vực này là việc đưa hoạt động du lịch tâm linh phát triển phù hợp với giá trị và nguồn tài nguyên sẵn có.

Thực trạng của các tiềm năng du lịch tâm linh của khu vực đòi hỏi mỗi người trong chúng ta và bản thân tác giả là người sinh ra và lớn lên tại khu vực này phải đưa ra được những hướng đi, giải pháp cụ thể dựa trên những tri thức được học và tự nghiên cứu để phát triển hoạt động du lịch tâm linh theo hướng phát triển bền vững. Tuy vậy việc đưa ra các giải pháp phát triển một sản phâm du lịch đặc thù cho một khu vực địa lý thường gặp nhiều trở ngại trong đó trở ngại lớn nhất có thể kể tới là việc phân định những giải pháp cụ trước mắt và những biện pháp lâu dài.

Với những biện pháp cụ thể trước mắt sẽ giúp giải quyết trước mắt những mục tiêu, yêu cầu cơ bản của cả chính quyền, người dân và doanh nghiệp du lịch. Nhưng để có thể có sự phát triển theo hướng bền vững thì nhất thiết cần phải đến những biện pháp lâu dài giúp cho tiềm năng du lịch tâm linh được bảo tồn giá trị.

Để phát triển và phát huy được thế mạnh của các tiềm năng này đòi hỏi các ngành, các cấp, chính quyền địa phương có liên quan cũng như cá nhân mỗi người dân phải cùng chung tay góp sức nâng cao tinh thần, trách nhiệm. Mỗi một khu – điểm di tích tâm linh theo thời gian sẽ bị xuống cấp, hư hỏng…cần đến sự quan tâm, quản lý chặt chẽ của chính quyền địa phương và sự đóng góp tu bổ của những người dân trong và ngoài nước. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Trong quá trình thực hiện luận văn với nhận thức còn hạn chế, chắc chắn luận văn chưa thể đưa ra các hệ thống giải pháp đầy đủ và cụ thể nhưng tác giả hy vọng rằng nó sẽ đóng góp một phần vào việc xây dựng cơ sở lý luận để hoạch định chiến lược phát triển du lịch của thành phố Hà Nội nói chung và của khu vực phía Tây Hà Nội nói riêng nhằm xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp. Tác giả cũng mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp của các thầy cô và những người có kiến thức sự am hiểu về hoạt động du lịch tâm linh này để luận văn được hoàn thiện và có thể đưa những giải pháp này sớm trở thành hiện thực.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Phát triển du lịch tâm linh khu vực phía Tây Hà Nội

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464