Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Việt Nam việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Việt Nam với việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
Trải qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân Việt Nam đã phải đổ biết bao xương máu để giành lấy những quyền cơ bản của con người: được sống trong điều kiện độc lập, tự do, có cơm ăn, áo mặc, nhà ở, được học hành, nhân phẩm được tôn trọng. Nhà nước Việt Nam không chỉ khẳng định sự tôn trọng và bảo vệ quyền con người mà còn làm hết sức mình để bảo đảm và thực hiện quyền con người trên thực tế, thông qua việc xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực thi các biện pháp cụ thể nhằm phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội; xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, bảo đảm thực hiện và thúc đẩy quyền con người trên đất nước Việt Nam.
Ở Việt Nam hiện nay chưa có khái niệm người bị tước tự do. Hơn nữa theo quan niệm ở Việt Nam “người bị tước tự do” chủ yếu đề cập đến phạm nhân, hoặc bị can, bị cáo bị bắt để tạm giam, những người bị tình nghi phạm tội trong trường hợp bắt khẩn cấp, bắt quả tang; không coi những trường hợp bị quản chế, cấm cư trú, bị đưa vào trung tâm cai nghiện ma túy, trường giáo dưỡng… là bị tước tự do mà chỉ cho rằng đó là để “cải tạo”. Mặc dù trên thực tế, quyền của các nhóm người nói trên đều được nhà nước Việt Nam quan tâm, bảo vệ bằng hệ thống các quy định pháp luật tương đối đầy đủ và phù hợp với luật pháp quốc tế.
Các văn kiện quốc tế về quyền của người bị tước tự do là những chuẩn mực chung mà cả nhân loại hướng tới. Pháp luật Việt Nam vận dụng các chuẩn mực đó trong hoàn cảnh cụ thể, đặc thù của mình nhằm bảo đảm tốt nhất cho các quyền của người bị tước tự do. Việt Nam đã tích cực, chủ động tham gia vào nhiều lĩnh vực hợp tác quốc tế và khu vực về quyền của người bị tước tự do trong khuôn khổ các diễn đàn đa phương, cũng như quan hệ song phương và đạt được một số kết quả khả quan. Việt Nam đã tham gia nhiều Công ước quốc tế nòng cốt về quyền con người (phụ lục 4). Bên cạnh đó, pháp luật nội địa của Việt Nam nói chung, pháp luật về quyền của người bị tước tự do nói riêng cũng ngày càng được hoàn thiện, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về nhân quyền. Các văn bản pháp luật trong nước được ban hành hoặc sửa đổi theo hướng nội luật hóa các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, đồng thời không làm cản trở việc thực hiện các công ước này [27].
2.1. Sự phát triển các quyền của người bị tước tự do trong pháp luật Việt Nam
2.1.1. Từ năm 1945 đến năm 1974
Cuộc cách mạng nhân quyền quốc tế hiện đại được đánh dấu bằng sự ra đời của Hiến chương Liên hợp quốc 1945 và Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền UDHR năm 1948. Năm 1945 ở Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa. Tuy vậy Việt Nam vẫn phải đấu tranh với thù trong, giặc ngoài để giải phóng hoàn toàn miền Nam và thống nhất đất nước. Đến năm 1975 đất nước ta mới hoàn toàn độc lập. Như vậy là trong giai đoạn 1945-1975, độc lập dân tộc được đặt lên hàng đầu. Tuy vậy, các nhân quyền trong đó có quyền của người bị tước tư do vẫn được quan tâm, bảo vệ. Sau khi tuyên bố độc lập, ngày 02/9/1945 và tiến hành Tổng tuyển cử ngày 06/01/1946 giành thắng lợi, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã được quốc hội thông qua trong phiên họp ngày 04/11/1946. Hiến pháp năm 1946 lần đầu tiên xác định một nguyên tắc về chống hành động tùy tiện trong hoạt động tố tụng ở Việt Nam, theo đó, tư pháp không quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm người công dân Việt Nam. Quy định này có ý nghĩa rất quan trọng để bảo vệ người dân trước những vi phạm nhân quyền trong hoạt động tư pháp, bao gồm các hành vi tra tấn, đối xử vô nhân đạo và hạ nhục. Để phù hợp với bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, Chính phủ ta đã ban hành các sắc lệnh quy định về quyền tự do thân thể, quyền bất khả xâm phạm về nhà ở của dân như: Luận văn: Việt Nam việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do.
Sắc lệnh số 33A ngày 13/9/1945 quy định Ty Liêm phóng khi bắt những người nguy hiểm cho nền dân chủ cộng hòa Việt Nam để đưa đi an trí phải làm ngay tờ trình gửi Ủy ban hành chính các miền, trong đó trình bày lý do, chứng cứ và thời hạn đề nghị đưa đi an trí, đồng thời phải thông báo cho các Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ Tư pháp [10].
Sắc lệnh số 33B ngày 13/9/1945 yêu cầu Ty Liêm phóng hoặc sở cảnh sát nếu bắt người thì trong vòng 24 giờ phải lập biên bản để tha ngay hoặc chuyển sang tòa án quân sự hay tòa án tư pháp để giải quyết [11].
Sắc lệnh số 33C ngày 13/9/1945 quy định các nguyên tắc tiến bộ trong tổ chức và hoạt động của các tòa án quân sự, bao gồm việc xét xử có một thẩm phán và hai hội thẩm, xét xử công khai, quyền của bị cáo được tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa, quyền của bị cáo được xin Chính phủ ân giảm… [12].
Từ năm 1954 công cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân thắng lợi bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ buộc thực dân Pháp ký kết hiệp định Giơnevơ ngày 20/7/1954 công nhận chủ quyền, độc lập dân tộc, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta. Tình hình đất nước có nhiều biến đổi lớn. Miền Bắc tiến vào giai đoạn vừa xây dựng CNXH, vừa phải tiến hành công cuộc đấu tranh để thống nhất đất nước, những sắc luật, sắc lệnh trước 1954 không còn thích hợp và đầy đủ để đáp ứng nhu cầu chính trị và xã hội trong giai đoạn mới; thiếu những điều kiện cần thiết làm cho các cơ quan bảo vệ pháp luật và các cá nhân hoạt động bảo vệ các lợi ích của nhà nước, lợi ích của nhân dân cũng như trừng trị bọn tội phạm gặp nhiều khó khăn. Trước những đòi hỏi trên, để phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra lúc này, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký luật số 103/SL-L.005 ngày 25/5/1957 bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật và thư tín của nhân dân [31]. Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành nghị định số 301-TT ngày 10/7/1957 quy định chi tiết việc thi hành luật số 103/T005 [32].
Nội dung của những văn bản này thể hiện rõ quan điểm của Chính quyền nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà là tôn trọng và bảo vệ quyền tự do thân thể của nhân dân nhưng đối với những phần tử xâm phạm đến lợi ích và sự an toàn của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của nhân dân mà cần thiết phải tạm giữ tạm giam để xét xử thì thủ tục tạm giữ tạm giam và các trường hợp tạm giữ tạm giam cũng được quy định cụ thể trong các sắc lệnh trên. Trong giai đoạn này với những sắc luật và sắc lệnh trên đã góp phần tích cực vào việc bảo vệ chế độ dân chủ của nhân dân và trấn áp kịp thời bọn phản cách mạng và bọn tội phạm hình sự. Pháp luật về quyền của người bị tước tự do giai đoạn 1945 – 1975 đã góp phần thực hiện quá trình tiến hành tố tụng được nhanh chóng và có nhiều thuận lợi hơn. Nhưng bên cạnh đó các văn bản trên cũng chưa nói rõ được những điều kiện cụ thể được phép tạm giữ, tạm giam nên vẫn còn có tình trạng và nhiều trường hợp áp dụng một cách tuỳ tiện, lạm quyền. Hơn nữa, vẫn chưa có một bộ luật riêng quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia tố tụng cũng như các cơ quan tiến hành tố tụng, trình tự, thủ tục tiến hành tố tụng như hiện nay. Đồng thời trong giai đoạn này, nói đến người bị tước tự do chỉ bao gồm trong lĩnh vực tư pháp hình sự, không có các trường hợp tước tự do theo chế tài hành chính, ví dụ như những trường hợp bị đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục…
2.1.2. Từ năm 1975 đến nay Luận văn: Việt Nam việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do.
Vào những năm 1975 trên thế giới, thời kỳ chiến tranh lạnh chuẩn bị bước vào giai đoạn kết thúc, các bên liên quan đã chứng tỏ sự hòa hoãn và chuyền từ đối đầu sang đối thoại để giải quyết những vấn đề trong quan hệ quốc tế. Năm 1975 tại Helsinky, 35 quốc gia (bao gồm Mỹ, Canada, Liên Xô và hầu hết các nước châu Âu) đã thông qua Định ước Helsinky. Định ước này nêu lên 10 nguyên tắc cụ thể, trong đó có nguyên tắc tôn trọng các quyền con người và tự do cơ bản. Thỏa thuận đã mở ra một thời kỳ mới của nhân quyền trên các diễn đàn quốc tế. Luật nhân quyền quốc tế giai đoạn những năm 1980 trở đi cũng phát triển rực rỡ và được gọi là giai đoạn vàng. Trong giai đoạn này có nhiều văn kiện nhân quyền được thông qua và có hiệu lực, trong đó có nhiều văn kiện liên quan đến quyền của người bị tước tự do: Công ước chống tra tấn CAT, được thông qua vào ngày 10/12/1984, có hiệu lực năm 1987; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ CEDAW, được thông qua vào tháng 12/1979, có hiệu lực năm 1981; Công ước về quyền trẻ em CRC, được thông qua năm 1989, có hiệu lực năm 1990; Những nguyên tắc cơ bản trong việc đối xử với tù nhân, được thông qua năm 1990; Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay bị cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào, được thông qua năm 1988… Cũng trong giai đoạn này, luật nhân quyền quốc tế ghi nhận một nhóm quyền được gọi là thế hệ nhân quyền thứ.
Đó là các quyền phát triển, quyền về môi trường, quyền sống trong môi trường hòa bình… Các văn kiện thể hiện nhóm quyền này như: Tuyên bố về quyền phát triển, 1986; Tuyên bố về quyền của các dân tộc được sống trong hòa bình, 1984…
Tình hình trong nước cũng có sự thay đổi lớn và tác động không nhỏ đến vấn đề nhân quyền. Đó là việc đất nước ta đã sạch bóng quân thù, nhân dân ta đã hoàn thành cuộc cách mạng giành độc lập hoàn toàn cho dân tộc và bước vào giai đoạn phát triển mới. Năm 1977 Việt Nam trở thành thành viên của Liên hợp quốc, kể từ đây, Việt Nam đủ điều kiện tham gia các công ước quốc tế về nhân quyền. Năm 1982 Việt Nam tham gia 03 Công ước quốc tế về nhân quyền, đó là công ước ICCPR, ICESCR và công ước CEDAW. Tiếp đến năm 1990 Việt Nam tham gia công ước CRC. Bên cạnh các văn kiện trên Việt Nam cũng tham gia nhiều văn kiện quốc tế nhân quyền khác. Cùng với UDHR và công ước chống tra tấn CAT, các công ước trên là những văn kiện nòng cốt về quyền con người, trong đó có nhiều điều khoản quy định về quyền của người bị tước tự do. Với việc tham gia vào các công ước quốc tế nói trên, Việt Nam thể hiện quyết tâm và mong muốn bảo đảm quyền cho nhóm người bị tước tự do cũng như là việc bảo đảm nhân quyền nói chung. Sau thời điểm gia nhập các công ước đó, Việt Nam đã có một quá trình nội luật hóa để đưa những nội dung công ước đó vào pháp luật quốc gia. Luận văn: Việt Nam việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do.
Việc xây dựng pháp luật trong giai đoạn này đã đạt được những thành tích đáng kể. Sau Đại hội Đảng VI, đất nước ta xóa bỏ cơ chế tập trung bao cấp và bước vào thời kỳ đổi mới. Trong sự nghiệp đổi mới, Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền, nâng cao đời sống nhân dân và bảo đảm sự hưởng thụ ngày một đầy đủ các quyền con người. Năm 1980 Hiến pháp mới được ban hành trên cơ sở sửa đổi, bổ sung bản Hiến pháp năm 1959. Hiến pháp có nhiều quy định bảo vệ các quyền cơ bản cho con người. Năm 1988 Việt Nam có Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên. Bộ luật này được Quốc hội sửa đổi, bổ sung ngày 30/6/1990; ngày 22/12/1992 và ngày 9/6/2000. Bộ luật Tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Việc bắt, tạm giữ, tạm giam đã được quy định khá cụ thể tại chương V và một số điều trong các chương khác của Bộ luật Tố tụng hình sự 1988. Bộ luật cũng phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng. Đặc biệt là Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001 đã bổ sung một số quyền mới cua người bị tước tự do như quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự khi bị bắt, giam giữ và xét xử trái pháp luật; quyền được khiếu nại, tố cáo những hành vi trái pháp luật của các cơ quan Nhà nước… Bên cạnh Bộ luật Tố tụng hình sự và Hiến pháp 1992, một loạt các đạo luật khác đã được ban hành, quy định ngày càng đầy đủ các quyền cũng như là cơ chế bảo đảm quyền cho nhóm người bị tước tự do. Hệ thống các văn kiện pháp lý của Việt Nam đề cập đến quyền của người bị tước tự do giai đoạn hiện nay có thể kể đến như:
- Hiến pháp 1992, sửa đổi, bổ sung 2001 (và đang tiến hành sửa đổi);
- Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung 2009;
- Bộ luật Tố tụng hình sự 2003;
- Luật thi hành án hình sự 2010;
- Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 (có hiệu lực ngày 01/7/2013).
Những thành tựu do lớn về lập pháp mà Việt Nam đã đạt được trong thời gian qua chính là bảo đảm cao nhất về pháp lý để mọi người có cơ hội và điều kiện ngày càng bình đẳng trong việc hưởng thụ các quyền con người. Đây cũng là các cố gắng to lớn của Nhà nước ta trong việc “nội luật hoá” các quy định về quyền con người trong các điều ước quốc tế về quyền con người mà nước ta đã tham gia. Thành quả của công tác nội luật hoá các điều ước quốc tế về quyền con người cũng của Việt Nam cũng đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Các báo cáo của Việt Nam về việc thực hiện Công ước ICCPR, Công ước CRC, Công ước CEDAW… đã được Liên Hợp quốc đánh giá cao, đặc biệt trong vấn đề hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ quyền con người, trong đó bao gồm cả người bị tước tự do. Một sự kiện đặc biệt thể hiện sự ghi nhận, đánh giá của cộng đồng quốc tế đối với những nỗ lực trong việc bảo đảm các quyền con người nói chung, quyền của người bị tước tự do nói riêng, đó là ngày 12/11/2013 Việt Nam đã trúng cử với số phiếu cao nhất (184/192 phiếu) trong số 14 nước và lần đầu tiên trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc [53]. Đây cũng là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những thành tựu của Việt Nam trong việc đảm bảo ngày càng tốt hơn các quyền của người dân trên tất cả các lĩnh vực chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa, giáo dục, tôn giáo, tín ngưỡng… Việc Việt Nam trúng cử với số phiếu cao cũng thể hiện vị thế và uy tín ngày càng cao của đất nước trên trường quốc tế.
2.2. Nội dung các quyền của người bị tước tự do theo pháp luật Việt Nam Luận văn: Việt Nam việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do.
Theo luật nhân quyền quốc tế, người bị tước tự do là một khái niệm rất rộng, bao gồm tù nhân, những người bị tạm giam, tạm giữ, quản chế, cải tạo… tức là tất cả những người bị giới hạn, ở bất cứ mức độ và dưới bất kỳ hình thức nào, các tự do chính trị, dân sự của mình so với những công dân bình thường. Căn cứ theo khái niệm này, người bị tước tự do ở Việt Nam bao gồm các nhóm đối tượng được thể hiện qua bảng sau:
- Bảng 2.1. Các nhóm đối tượng bị tước tự do ở Việt Nam hiện nay căn cứ theo tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế
2.2.1. Quyền của người bị tước tự do theo pháp luật Việt Nam
Các quy định của pháp luật Việt Nam về người bị tước tự do nhìn chung khá tương thích với các chuẩn mực quốc tế có liên quan. Tổng hợp các quy định về quyền của người bị tước tự do trong pháp luật Việt Nam so sánh với các tiêu chuẩn quốc tế có liên quan có thể được thể hiện qua bảng sau.
- Bảng 2.2. So sánh các quy định về quyền của người bị tước tự do trong pháp luật Việt Nam với các tiêu chuẩn quốc tế có liên quan
Cụ thể pháp luật Việt Nam quy định về các quyền của người bị tước tự do như sau:
- Một là: Quyền sống. Luận văn: Việt Nam việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do.
Trong pháp luật Việt Nam, quyền sống không được quy định một cách trực tiếp, mà được quy định gián tiếp tại các văn bản luật. Cụ thể như tại Điều 71 Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm” [25]. Quy định này được tái khẳng định trong Điều 93 đến Điều 122 bộ luật hình sự quy định về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người. Trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 quyền sống được thể hiện rõ ràng và cụ thể hơn tại Điều 21: “Mọi người có quyền sống”.
Cũng giống như nhiều quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam vẫn duy trì hình phạt tử hình. Theo điều 35 Bộ luật hình sự tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với những người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc xét xử. Không thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi [23]. Pháp luật hình sự Việt Nam quy định rất chặt chẽ về thủ tục để đảm bảo xét xử công khai, minh bạch và công bằng trong các vụ án có hình phạt tử hình. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, số tội danh có khung hình phạt tử hình đã được giảm đi đáng kể (từ 44 tội danh trong Bộ luật hình sự năm 1985 giảm xuống còn 29 tội danh trong Bộ luật hình sự năm 1999 và 21 tội danh như hiện nay). Xu hướng trong thời gian tới, Việt Nam sẽ tiếp tục nghiên cứu rút bớt những tội danh có khung hình phạt tử hình xuống thấp hơn nữa tiến tới một tương lai xóa bỏ hình phạt tử hình.
Về khía cạnh thứ hai của quyền sống, đó là việc đảm bảo các điều kiện tồn tại của con người, cụ thể là người bị tước tự do trong phạm vi luận văn này. Hiện pháp luật Việt Nam quy định rất đầy đủ các điều kiện về ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế đối với người bị tước tự do. Chẳng hạn như đối với tù nhân chế độ ăn, mặc, ở được thực hiện theo Nghị định 117/2011/NĐ-CP ngày 15/12/2011 của Chính phủ [7]. Đối với người bị tạm giữ, tạm giam được thực hiện theo Nghị định 09/2011/NĐ-CP ngày 25/01/2011 của Chính phủ [8]. Theo đó tiêu chuẩn ăn, mặc, nơi giam giữ, chế độ y tế đều được đảm bảo. Việc ăn uống của người bị tước tự do được đảm bảo đủ chất và lượng, ăn chín, uống sôi, ngày lễ, tết được ăn thêm; chỗ nằm tối thiểu cho mỗi người là 2m2, có đầy đủ chiếu, chăn, màn. Quần áo, đồ dùng được cấp phát theo tiêu chuẩn, đảm bảo giữ sức khỏe cho những người bị giam, giữ. Đặc biệt Nhà nước ta rất quan tâm đến những người bị tước tự do là người nước ngoài hay người dễ bị tổn thương. Phạm nhân nữ được cấp thêm đồ dùng vệ sinh cá nhân cần thiết có giá trị tương đương 02 kg gạo tẻ thường. Ngoài ra được cấp màn, chăn, áo ấm [7]. Đối với người nước ngoài bị tạm giữ, tạm giam tiếp xúc lãnh sự hoặc tiếp xúc với tổ chức nhân đạo được thực hiện theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo sự thoả thuận trực tiếp về từng trường hợp cụ thể giữa Nhà nước Việt Nam với nước có người bị tạm giữ, tạm giam hoặc với tổ chức nhân đạo.
- Hai là: Quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục.
Trong pháp luật Việt Nam, quyền này được quy định tại Điều 71, 72 Hiến pháp 1992; Điều 6, 7, 9 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003; Chương XII, XXII Bộ luật hình sự đã xác lập một khuôn khổ pháp lý để ngăn chặn và trừng trị những hành vi tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay bị hạ nhục. Điều 6 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 quy định “Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình”. Bộ luật hình sự bao gồm các Tội dùng nhục hình (Điều 298) và Tội bức cung (Điều 299) có ý nghĩa trực tiếp trong việc đảm bảo quyền không bị tra tấn và nhục hình trong hoạt động tố tụng. Ngoài ra còn có các văn bản pháp luật hiện hành về quản lý cơ sở giam giữ cũng quy định nghiêm cấm mọi hành vi tra tấn, nhục hình. Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 tại khoản 2 Điểu 22 quy định rõ: “nghiêm cấm mọi hành vi tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử khác xâm phạm thân thể, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của con người”. Luận văn: Việt Nam việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do.
So với Luật nhân quyền quốc tế, khuôn khổ pháp luật Việt Nam về quyền này có điểm khác biệt: Mặc dù Bộ luật hình sự đã có hai tội danh là tội bức cung và tội dùng nhục hình, nhưng các tội này rõ ràng chưa bao trùm hết nội hàm của hành vi tra tấn theo định nghĩa rất rộng nêu trong Công ước chống tra tấn của Liên hợp quốc. Như vậy, để phòng chống tra tấn, điều đầu tiên và rất quan trọng cần làm là nghiên cứu hoàn thiện hệ thống các tội danh về vấn đề này trong Bộ luật Hình sự, trong đó cần quy định thêm tội tra tấn và đưa ra những định nghĩa cụ thể về các hành vi tra tấn, đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo và hạ nhục phù hợp với những tiêu chuẩn liên quan của pháp luật quốc tế.
- Ba là: Quyền được bảo vệ để khỏi bị bắt, giam giữ tùy tiện.
Trong pháp luật Việt Nam, quyền này được quy định tại Điều 71 Hiến pháp 1992: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật. Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân” [25].
Trong dự thảo Hiến pháp sửa đổi 2013, điều này cũng được nhắc đến, tại khoản 1 Điều 22: “mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể”. Cụm từ “mọi người” trong dự thảo Hiến pháp 2013 thay thế cho cụm từ “công dân” trong Hiến pháp 1992 cho thấy tư tưởng đổi mới đúng đắn của Đảng và nhà nước ta. Bởi lẽ công dân Việt Nam chỉ bao gồm những người có quốc tịch Việt Nam. Thay “mọi người” cho “công dân” Hiến pháp 1992 đã mở rộng chủ thể hưởng quyền, điều này phù hợp với chuẩn mực chung của quốc tế. Điều 72 Hiến pháp nêu rõ:
“Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật. Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh” [25].
Quy định trên được cụ thể hóa trong Bộ luật hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự và nhiều văn bản pháp luật khác. Điều 6 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của VKS, trừ trường hợp phạm tội quả tang; Điều 7 bộ luật này quy định, “Công dân có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản. Mọi hành vị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm, tài sản đều bị xử lý theo pháp luật…” [24]; cũng theo điều này, người bị hại, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác cũng như người thân thích của họ mà bị đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, bị xâm hại danh dự, nhân phẩm, tài sản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo quy định của pháp luật. Bộ luật hình sự bao gồm một chương quy định về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp (Chương XXII), trong đó bao gồm các tội: Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội (Điều 293); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam giữ người trái pháp luật (Điều 303)…
- Bốn là: Quyền được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm của những người bị tước tự do Luận văn: Việt Nam việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do.
Trong pháp luật Việt Nam, các Điều 71, 72 Hiến pháp (Điều 22, 32 trong dự thảo Hiến pháp 2013), Điều 6, 7, 9 Bộ luật Tố tụng hình sự và các Chương XII, XXII Bộ luật hình sự (đã nêu ở phần trên) cũng chính là sự khẳng định về mặt pháp lý về bảo vệ quyền không bị tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay bị hạ nhục. Trong bộ luật Tố tụng hình sự, tại Điều 6 nêu rõ “Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình”. Trong Chương XXII (các tội xâm phạm hoạt động tư pháp) của Bộ luật hình sự, các Tội dùng nhục hình (Điều 298) và Tội bức cung (Điều 299) có ý nghĩa trực tiếp trong việc đảm bảo quyền không bị tra tấn và nhục hình trong hoạt động tố tụng. Các văn bản pháp luật về quản lý những cơ sở giam giữ cũng đều có quy định nghiêm cấm các hành vi tra tấn, nhục hình. Cụ thể, các Điều 4 Luật Thi hành án hình sự, Quy chế Trại giam (ban hành kèm theo Nghị định 113/NĐ-CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ), Điều 5 Quy chế về tạm giữ, tạm giam (ban hành kèm theo Nghị định 89/1998/NĐ-CP ngày 7/11/1998 của Chính phủ, sửa đổi bổ sung năm 2002) và Nghị định 09/2011/NĐ-CP, Điều 8 Quy chế thực hiện dân chủ trong tạm giữ, tạm giam và hoạt động điều tra của lực lượng công an nhân dân đều quy định, nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự nhân phẩm của những người bị tạm giữ, tạm giam. Điều 15 Quy chế thực hiện dân chủ ở trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng trực thuộc Bộ Công an nhấn mạnh, phạm nhân, trại viên, học sinh có quyên được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm. Nghiêm cấm cán bộ, chiến sĩ công tác tại các Trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng dùng nhục hình, đánh đập, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của phạm nhân, trại viên, học sinh… Thực hiện chính sách khoan hồng và nhân đạo của Nhà nước Việt Nam, hàng năm, Nhà nước Việt Nam đều xem xét giảm án và đặc xá cho hàng chục nghìn phạm nhân đã có thành tích cải tạo tốt, đáp ứng các điều kiện nêu trong Luật Đặc xá 2008. Việc giảm án, giảm thời hạn chấp hành hình phạt (một lần hoặc nhiều lần) cho những người bị kết án phạt tù được quy định cụ thể tại Điều 58, 59 của Bộ luật hình sự.
So với các chuẩn mực quốc tế về nhân quyền (Điều 10 ICCPR), quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này có điểm chưa phù hợp. Đó là về khái niệm “tra tấn”: hiện tại pháp luật Việt Nam chưa có định nghĩa tra tấn mà chỉ có khái niệm “dùng nhục hình”. Nội hàm của khái niệm dùng nhục hình cũng chưa được làm rõ trong pháp luật mà chỉ được giải thích trong các tài liệu nghiên cứu khoa học. Trong dự thảo Hiến pháp 2013, tại Điều 22 có đề cập đến cụm từ “tra tấn”. Đây là một sự đổi mới theo hướng tiến bộ.
- Năm là: Quyền được hưởng tố tụng riêng cho người chưa thành niên
Bộ luật dân sự Việt Nam, tại Điều 18 quy định: “Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên. Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên” [22]. Tuy nhiên khác với luật nhân quyền quốc tế đồng nhất khái niệm trẻ em với người chưa thành niên, pháp luật Việt Nam có quy định khác. Điều 1, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam quy định: “trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [28]. Bộ luật hình sự 1999, tại Điều 2 khẳng định: “Người đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Người đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” [23]. Luận văn: Việt Nam việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do.
Pháp luật Việt Nam có những quy định rất chặt chẽ bảo vệ người chưa thành niên bị tước tự do. Việc bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên phạm tội chỉ được thực hiện trong trường hợp thật sự cần thiết. Điều 303 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 quy định:
“Đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại các Điều 80, 81, 82, 86, 88 và 120 của Bộ luật này, nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng…” [24].
Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 dành một phần quan trọng quy định về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên, từ Điều 301 đến Điều 310. Những điều luật trên đã quy định rất rõ ràng, cụ thể và đầy đủ các thủ tục tố tụng áp dụng đối với người chưa thành niên. Các quy định trên nhằm đảm bảo những điều kiện tốt nhất cho người chưa thành niên bị tước tự do khi tham gia tố tụng. Chẳng hạn như khi tiến hành tố tụng đối với người chưa thành niên, bắt buộc phải có đại diện của gia đình, nhà trường, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, tổ chức khác nơi người chưa thành niên học tập, lao động và sinh sống và bắt buộc phải có luật sư bào chữa cho người chưa thành niên trong phiên tòa. Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán tiến hành tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội phải là người có những hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của người chưa thành niên.
Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người chưa thành niên chỉ được thực hiện trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Việc chấp hành hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội thực hiện theo chế độ giam giữ riêng do pháp luật quy định. Không được giam giữ chung người chưa thành niên với người thành niên. Người chưa thành niên bị kết án phải được học nghề hoặc học văn hóa trong thời gian chấp hành hình phạt tù. Nếu người chưa thành niên đang chấp hành hình phạt tù đã đủ mười tám tuổi thì phải chuyển người đó sang chế độ giam giữ người đã thành niên. Đối với người chưa thành niên đã chấp hành xong hình phạt tù, Ban giám thị trại giam phải phối hợp với chính quyền và tổ chức xã hội ở xã, phường, thị trấn để giúp người đó trở về sống bình thường trong xã hội.
2.2.2. Tước tự do trong lĩnh vực hành chính theo pháp luật Việt Nam so sánh với các tiêu chuẩn quốc tế có liên quan Luận văn: Việt Nam việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do.
Luật Xử lý vi phạm hành chính được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2012, có hiệu lực từ tháng 7/2013. Các quy định về người bị tước tự do trong Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 có một số điểm mới so với Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002, sửa đổi, bổ sung năm 2008 và những nội dung này được cho là tích cực và phù hợp với các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế. Cụ thể:
- Một là, Luật xử lý VPHC đã chuyển thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ Chủ tịch ủy ban nhân dân sang tòa án nhân dân. Đây là nội dung thay đổi rất lớn và phù hợp với xu hướng tiến bộ, dân chủ hiện nay. Giao cho tòa án nhân dân quyết định áp dụng các biện pháp tước tự do hành chính nói trên theo thủ tục tư pháp sẽ tạo điều kiện cho đương sự, luật sư, người bào chữa được tham dự để bảo vệ quyền lợi của đương sự, bảo đảm dân chủ, khách quan, phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế. Theo quy định tại Điều 9 ICCPR, mọi trường hợp tước tự do đều phải do cơ quan tư pháp quyết định.
- Hai là, Luật xử lý VPHC thu hẹp phạm vi đối tượng bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính. Đó là:
Không áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do vô ý quy định tại Bộ luật hình sự; Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng quy định tại Bộ luật hình sự mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm ít nghiêm trọng do vô ý quy định tại Bộ luật hình sự mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định.
Không áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với người đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện; phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận. Luận văn: Việt Nam việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do.
- Không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bán dâm.
Việc bỏ một số đối tượng bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính dẫn đến tước tự do như trên là sự thay đổi tiến bộ và đảm bảo sự tương thích nhiều hơn với các chuẩn mực nhân quyền quốc tế.
Ba là, Luật xử lý VPHC bổ sung quy định mới bảo đảm hơn nữa quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên. Luật đã dành phần thứ năm quy định về các nguyên tắc xử lý mới, đặc thù chỉ đạo toàn bộ hoạt động xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên như: xử lý chỉ được thực hiện trong trường hợp cần thiết nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội; bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người chưa thành niên; áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng chỉ được áp dụng khi xét thấy không có biện pháp xử lý khác phù hợp hơn, tôn trọng và bảo vệ bí mật riêng tư của người chưa thành niên… Bên cạnh đó, luật xử lý VPHC quy định hai biện pháp thay thế các biện pháp XLHC đối với người chưa thành niên là nhắc nhở và quản lý tại gia đình. Biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên được thực hiện khi có đủ điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật. Các biện pháp này mang tính xã hội để quản lý đối tượng tại gia đình và cộng đồng, người bị áp dụng các biện pháp này một mặt không bị tước tự do, mặt khác không bị coi là đã bị xử lý vi phạm hành chính.
Nhìn chung, các quyền của người bị tước tự do được thừa nhận trong pháp luật Việt Nam khá tương thích với các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế có liên quan. Điểm khác biệt lớn nhất và cũng gây nhiều tranh cãi nhất chính là các trường hợp tước tự do trong lĩnh vực hành chính. Thực tế là giới han của bắt, giam giữ hành chính và việc bảo đảm nhân quyền từ lâu luôn là đề tài gây tranh cãi gay gắt trên trường quốc tế và ở nhiều nước. Các tổ chức phi chính phủ quốc tế xem bắt, giam giữ hành chính là vi phạm nhân quyền, cụ thể là vi phạm Điều 9 ICCPR (cấm bắt, giam giữ người trái pháp luật và tùy tiện). Năm 1991, Liên hợp quốc đã thành lập một Nhóm công tác về giam giữ tùy tiện WAGD để nghiên cứu làm rõ các khía cạnh pháp lý của vấn đề này. Nhóm đã đưa ra các ý kiến:
- Tước tự do phải hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm giam giữ theo thủ tục hành chính.
- Tước tự do phải theo thủ tục được pháp luật quy định và phù hợp với luật nhân quyền quốc tế.
- Tước tự do hợp pháp và chính đáng thông thường phải qua trình tự tư pháp và bởi tòa án, song trong một số trường hợp hạn chế, cơ quan hành pháp cũng có thể quyết định và thực hiện tước tự do một người, ví dụ: với những người tâm thần, trong hoàn cảnh khẩn cấp của quốc gia… Luận văn: Việt Nam việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do.
Đặc biệt Nhóm nhấn mạnh không được áp dụng thủ tục hành chính để tước tự do với những người có hoạt động chính trị.
Như vậy là, nhìn từ góc độ luật nhân quyền quốc tế, các biện pháp xử lý hành chính theo pháp luật hiện hành của Việt Nam (trừ biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn) thực chất là việc tước tự do của một cá nhân vi phạm các quy định pháp luật mà chưa được coi là tội phạm. Bởi vì, khái niệm “tước tự do” theo luật nhân quyền quốc tế được hiểu theo nghĩa rất rộng, bao gồm không chỉ việc bỏ tù hay tạm giam, mà còn là những việc hạn chế một phần hay toàn bộ tự do của một người, dưới nhiều hình thức và tên gọi khác. Bình luận chung số 8 năm 1982 của Ủy ban nhân quyền, tại đoạn 1 khẳng định rằng quyền tự do và an ninh cá nhân được áp dụng cho tất cả những người bị tước tự do, kể cả các trường hợp do phạm tội hay do bị tâm thần, lang thang, nghiện ma tuý, hay để nhằm các mục đích giáo dục, kiểm soát nhập cư [19, tr.258]
Nhiều quốc gia trên thế giới có luật về bắt, giam giữ hành chính, song chủ yếu đề cập đến các tình huống:
- Giam giữ những người nhập cư lậu để chờ giải quyết thủ tục liên quan (các nước châu Âu, Úc, Bắc Mỹ…)
- Giam giữ những nghi can khủng bố (Luật yêu nước của Hoa Kỳ sau ngày 11/9/2001…)
- Giam giữ trong những tình huống liên quan đến an ninh quốc gia (biểu tình, tình trạng khẩn cấp của quốc gia…)
Chỉ có số ít nước quy định về bắt, giam giữ hành chính với những đối tượng như trẻ em làm trái pháp luật, người mại dâm, người nghiện ma túy, người có hành động nguy hại cho chính quyền…
Tóm lại là: Luật nhân quyền quốc tế không cấm các quốc gia thực hiện tước tự do theo thủ tục hành chính, nhưng chỉ trong một số trường hợp nhất định, với thời gian hạn chế và phải tuân thủ những điều kiện chặt chẽ. Quan niệm truyền thống của Việt Nam là “thương cho roi cho vọt”. Vì thế, có rất nhiều trường hợp gia đình xin cho con được vào các trường giáo dưỡng, trung tâm cai nghiện, cơ sở giáo dục. Các quy định về giam giữ hành chính trong pháp luật Việt Nam khác với quy định trong pháp luật quốc tế và pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới (chủ yếu đề cập đến các vấn đề nhập cư, chống khủng bố, tình trạng khẩn cấp của quốc gia…). Rất ít nước áp dụng thủ tục hành chính để tước tự do trong thời gian dài với những đối tượng được áp dụng ở Việt Nam. Một số chuyên gia cho rằng các biện pháp xử lý hành chính ở Việt Nam hiện nay không phù hợp với pháp luật và thực tiễn quốc tế, trái với các chuẩn mực nhân quyền mà Việt Nam đã cam kết tuân thủ, trái với các nguyên tắc hiến định về quyền tự do cá nhân trong Hiến pháp. Do đó cần nghiên cứu thay thế việc sử dụng các biện pháp xử lý hành chính để giải quyết các vấn đề xã hội như hiện nay bằng các biện pháp khác phi hành chính và phi tư pháp (hòa giải, giáo dục dựa vào cộng đồng…). Tuy nhiên vấn đề này không dễ và không thể thay đổi ngay lập tức mà cần phải được tiến hành một cách dần dần. Bởi vì, điều đó còn phụ thuộc vào điều kiện đặc thù của Việt Nam. Về nguyên tắc, những điều kiện đặc thù không được sử dụng để phủ nhận hay trì hoãn những nghĩa vụ rõ ràng, phổ biến và có thể thực hiện được của quốc gia. Tuy vậy, mức độ và cách thức bảo vệ, thúc đẩy nhân quyền phụ thuộc vào những điều kiện đặc thù về văn hóa, kinh tế, xã hội của mỗi nước.
2.3. Thực tiễn việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do ở Việt Nam Luận văn: Việt Nam việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do.
Trong những năm qua, việc đảm bảo quyền của người bị tước tự do ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể. Trên lĩnh vực hợp tác quốc tế và thực hiện các nghĩa vụ theo các công ước mà Việt Nam tham gia, nhà nước ta thực hiện khá tốt. Việt Nam đã chủ động mời nhóm công tác của Liên hợp quốc và đón nhiều đoàn nước ngoài vào tìm hiểu tình hình tại Việt Nam, ví dụ như nhóm công tác về giam giữ tùy tiện của Liên hợp quốc WAGD đã thăm Việt Nam vào năm 1994; chuyến thăm của đoàn các chuyên gia Nhà tù của Thụy Sỹ, đoàn của Úc, Na Uy, EU… Đối với công ước ICCPR Việt Nam đã nộp hai báo cáo vào năm 1989 và năm 2001, và một báo cáo bổ sung thông tin vào năm 2002. Việt Nam cũng nộp báo cáo cho Hội đồng nhân quyền của Liên hợp quốc theo cơ chế đánh giá định kỳ toàn thể UPR vào năm 2009. Ngoài ra, xuất phát từ nhu cầu trao đổi học thuật và tìm hiểu kinh nghiệm giữa các quốc gia trong lĩnh vực bảo đảm quyền con người, Việt Nam đã đăng cai tổ chức một số hội thảo, hội nghị quốc tế về lĩnh vực quyền con người, cụ thể là: Hội thảo quốc tế về Công ước chống tra tấn và đối xử vô nhân đạo (tháng 12/2003) do Trung tâm nghiên cứu quyền con người – Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ ngoại giao Việt Nam và Đại sứ quán Đan Mạch tổ chức; Hội thảo Việt Nam – EU về án tử hình (tháng 11/2004); Hội thảo về quyền con người lần thứ 6 do Trung Quốc – Na-uy – Ca-na-đa đồng bảo trợ với sự tham gia của hơn 20 nước trong khu vực (tháng 12/2004) [55]; Việt Nam còn khuyến khích sự trao đổi giữa các học giả về vấn đề các quyền tự do của con người. Khoa Luật – ĐHQG Hà Nội đã hợp tác với Đại học Oslo của Na Uy về đào tạo thạc sĩ nhân quyền và đã triển khai khóa học đầu tiên vào năm 2011.
Vào năm 2002, Việt Nam có 45 nhà tù trong cả nước quản lý 70.000 tù nhân. [40]. Tính đến năm 2012 có hơn 100.000 phạm nhân đang phải cải tạo, giam giữ tại các trại giam, trại tạm giam trên cả nước [41]. Không có lao động cưỡng bức trong nhà tù ở Việt Nam và tình trạng này đã được xác nhận bởi các báo cáo của các nhà ngoại giao sau các chuyến thăm của họ đến các nhà tù trong cả nước. Theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, trong thời gian từ 1997 đến 2002, đã có 931 bản án tòa án hình phạt tử hình. Trong đó, 535 trường hợp có liên quan đến hành vi vi phạm quyền sống, 310 trường hợp bị kết án về tội phạm ma tuý, 24 trường hợp bị kết án về tội tham nhũng, 05 trường hợp vi phạm quyền sở hữu. Còn lại là các loại tội khác. Năm 2001 Quốc hội có nhận được 15.000 thư khiếu nại của công dân. Liên quan đến quá trình kiến nghị của tù nhân, Chính phủ đã đưa ra một cơ chế mà qua đó có thể khiếu nại được nộp bởi các tù nhân. [40]. Xuất phát từ chính sách khoan hồng và truyền thống nhân đạo, hàng năm Nhà nước Việt Nam đều tiến hành các đợt đặc xá phạm nhân vào các ngày lễ lớn của dân tộc. Tiêu biểu như 8623 phạm nhân được đặc xá dịp tháng 9/2004, 8428 phạm nhân được đặc xá nhân dịp Tết Ất Dậu năm 2005 và 7751 phạm nhân được đặc xá đợt 30/4/2005 [50]. Theo báo cáo của công an các tỉnh, thành phố, trong số người được đặc xá này, khi về địa phương chỉ có 146 người vi phạm pháp luật, tỷ lệ 0,59% (trong đó có 86 người xử lý hình sự, chiếm tỷ lệ 0,35%), nhưng không có trường hợp nào phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng [42]. Ðiều đó chứng minh số người được đặc xá hai năm 2004-2005 nhiều nhưng không ảnh hưởng đáng kể đến tình hình an ninh, trật tự của đất nước. Dịp lễ quốc khánh 2/9/2011 có 10.244 phạm nhân được đặc xá, tha tù trước thời hạn và 291 người đang được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cũng được đặc xá, trong đó có 1333 phạm nhân là phụ nữ, 11 phạm nhân mang quốc tịch nước ngoài, 5 phạm nhân xâm phạm an ninh quốc gia, 150 phạm nhân trước đây là quan chức, và 29 phạm nhân trên 70 tuổi [43]. Đây là một trong những thành tựu nổi bật của Việt Nam về việc đối xử nhân đạo, khoan hồng với tù nhân, những người lầm lỡ, tạo điều kiện cho họ trở về với cuộc sống lương thiện. Nhìn chung, các quyền của người bị giam, giữ được đảm bảo khá đầy đủ ở Việt Nam. Do không có điều kiện nghiên cứu ở trên phạm vi toàn quốc, trong phạm vi luận văn này, tác giả đi vào khảo sát tình hình thực hiện các chế độ ăn, mặc, ở và sinh hoạt văn hóa tinh thần của người bị giam giữ trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn để làm rõ vấn đề trên:
Lạng Sơn là tỉnh biên giới, nằm ở phía Đông Bắc của Việt Nam. Toàn tỉnh có 10 huyện và 1 thành phố loại 3, với 212 xã, phường và 14 thị trấn; có 5 huyện biên giới là: Tràng Định, Văn Lãng, Cao Lộc, Lộc Bình, Đình Lập, 5 huyện nội địa là Văn Quan, Bình Gia, Bắc Sơn, Chi Lăng, Hữu Lũng. Thành phố Lạng Sơn là trung tâm chính trị – kinh tế – xã hội của tỉnh [53]. Toàn tỉnh Lạng Sơn hiện có 11 nhà tạm giữ và 01 nhà tạm giam. Quyết định số 3750/QĐ-BCA ngày 24/11/2009 và quyết định số 375/26/2004/QĐ-BCA ngày 22/4/2004 của Bộ Công an quy định quy mô giam giữ cho các nhà tạm giữ, tạm giam trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn như sau: Luận văn: Việt Nam việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do.
Đối với nhà tạm giam (trại tạm giam Yên Trạch): quy mô 600 chỗ, trong đó 400 chỗ dành cho giam giữ; 200 chỗ dành cho giam phạm nhân. Trại tạm giam được bố trí 01 bệnh xá, 01 bếp nấu ăn, 01 xưởng dạy nghề có diện tích 200m2.
Quy mô giam giữ của 11 nhà tạm giữ còn lại được thể hiện qua bảng sau:
- Bảng 2.3. Quy mô giam giữ của 11 nhà tạm giữ trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
Như vậy hiện nay, tổng quy mô giam giữ của các nhà tạm giữ, tạm giam trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn là 1025 chỗ.
Các nhà tạm giữ, tạm giam đều được xây dựng theo mẫu chuẩn của Bộ công an, đảm bảo các thông số kỹ thuật về diện tích, ánh sáng…
Số liệu cung cấp của phòng quản lý tạm giữ, tạm giam Công an tỉnh Lạng Sơn (Phòng PC 81), năm 2012 số người bị giam, giữ trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn là:
- Số người bị tạm giữ: 769, trong đó tạm giữ mới 764, năm 2011 chuyển sang 05, đã giải quyết 764 trường hợp, chuyển sang năm 2013 là 05 trường hợp;
- Số người tạm giam: 1674, trong đó số tạm giam mới là 1227, năm 2011 chuyển sang 447, đã giải quyết 1244 trường hợp, chuyển sang năm 2013 là 429 trường hợp.
- Số phạm nhân: 132, trong đó: phạm nhân thụ án năm 2012 là 80 người, số phạm nhân thụ án từ năm 2011 là 110, số phạm nhân được giảm án, ra tù là 58 trường hợp.
Như vậy tính vào thời điểm đầu năm 2013, tổng số người bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân ở các nhà tạm giữ, tạm giam trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn là: 624 người. Đối chiếu với quy mô giam giữ của các nhà tạm giữ, tạm giam trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn do Bộ công an quyết định (1025 chỗ) cho thấy: diện tích tối thiểu cho mỗi người bị giam giữ đảm bảo đủ từ 2m2/người trở lên, không có tình trạng quá tải xảy ra. Có đủ bếp ăn, bệnh xá, xưởng dạy nghề cho phạm nhân và những người tạm giữ, tạm giam. Không xảy ra tình trạng đánh đập, vi phạm quyền sống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm phạm nhân, người bị tạm giữ, tạm giam. Không có trường hợp bắt, giam sai quy định pháp luật. Việc đảm bảo các chế độ cho người tạm giữ, tạm giam, phạm nhân được thực hiện đầy đủ. Báo cáo công tác năm 2012 của Trại tạm giam Yên Trạch cho thấy:
Trại tạm giam – Công an tỉnh Lạng Sơn (gọi tắt là trại tạm giam Yên Trạch) đóng quân trên địa bàn thôn Yên Trạch, xã Yên Trạch, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. Tổng diện tích của trại khoảng hơn 19 héc-ta; trong đó khu làm việc và khu giam giữ khoảng 07 héc-ta; số cán bộ chiến sĩ trong những năm qua thường dao động trên dưới 100 người. Năm 2004 trại tạm giam Yên Trạch được Bộ Công an duyệt nâng cấp quy mô giam giữ từ 400 đến 600 chỗ (trong đó 400 chỗ giam cứu; 200 chỗ cho phạm nhân phân trại cải tạo). Hiện nay toàn trại có một nhà kiên giam hai tầng gồm: 48 buồng giam (có 08 buồng giam bị án tử hình); 02 nhà giam chung gồm 08 buồng, mỗi buồng giam chung đảm bảo đủ giam giữ cho từ 30 đến 50 can phạm; có 01 nhà giam cho can phạm là phụ nữ có thai và nuôi con nhỏ (nhà giam này được xây dựng năm 2001 từ nguồn kinh phí của địa phương). Phân trại cải tạo được đầu tư xây dựng từ năm 2001 nằm liền kề với khu tạm giam, có 02 nhà giam chung gồm 04 buồng giam, mỗi sàn nằm đảm bảo đủ giam cho 50 phạm nhân. Tuy nhiên, khi xây dựng phân trại cải tạo không xây nhà giam riêng cho phạm nhân là nữ. Đơn vị đã báo cáo lãnh đạo Công an tỉnh xin kinh phí của địa phương để sữa chữa, cải tạo một ngôi nhà cấp 4 (cách phân trại cải tạo chính khoảng 300m) dùng làm nhà giam cho phạm nhân nữ. Đến nay trại tạm giam Yên Trạch đã được Bộ công an, Công an tỉnh, cùng các ngành, các cấp quan tâm chỉ đạo đầu tư kinh phí xây dựng, hệ thống các nhà giam, buồng giam đã được cải thiện, xây dựng kiên cố theo đúng mẫu thiết kế của Bộ công an. Luận văn: Việt Nam việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do.
Như vậy là tuy chưa có nhà giam riêng cho phạm nhân là nữ, nhưng các phạm nhân nữ vẫn có khu giam giữ riêng, không phải giam chung với nam. Việc thực hiện chế độ đối với can, phạm nhân:
- Về chế độ ăn, ở, sinh hoạt:
Các chế độ ăn, ở, sinh hoạt và các chế độ khác cho can, phạm nhân được đảm bảo. Diện tích sàn nằm đảm bảo đủ 02m2/01 người, bệ nằm được lát gạch Galyto và có chiếu trải để nằm. Trường hợp can, phạm nhân không có chăn, màn được trại cấp cho mượn theo đúng quy định. Tiêu chuẩn, chế độ ăn đảm bảo đủ dinh dưỡng. Can phạm nhân được ăn chín, uống sôi, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Về chế độ thăm nuôi, tiếp tế, gửi quà, nhận – gửi thư:
Mọi trường hợp thân nhân đến thăm gặp người bị tạm giữ, tạm giam đều được tạo điều kiện, không bị cản trở vô lý. Mọi trường hợp thăm gặp đều được vào sổ theo dõi chặt chẽ. Những trường hợp đã hoàn cung, chờ xét xử, chấp hành tốt nội quy trại tạm giam có thể được xét tăng đôi số lần thăm gặp. Trường hợp đang trong thời gian bị kỷ luật không được thăm gặp gia đình. Chế độ thăm gặp của phạm nhân được thực hiện mỗi tháng một lần. Những trường hợp chấp hành tốt nội quy trại giam, tích cực học tập, lao động cải tạo tiến bộ có thể được tăng số lần thăm gặp, tiếp tế. Mọi trường hợp thăm gặp đều được tổ chức tại nhà thăm gặp của trại tạm giam. Hiện nay đơn vị vẫn tiếp tục tổ chức tiếp dân vào tất cả các ngày trong tuần, kể cả ngày lễ, tết. Trại tạm giam cũng thực hiện tốt việc nhận, gửi thư, quà, tiền lưu ký theo đúng quy định.
- Về chế độ khám chữa bệnh:
Công tác chăm sóc sức khỏe cho can phạm nhân luôn đảm bảo, khi ốm đau được khám, phát thuốc điều trị tại buồng giam và bệnh xá của trại. Các trường hợp bị bệnh nặng, vượt quá khả năng của y tế trại thì chuyển lên bệnh viện tuyến trên khám và điều trị. Đơn vị thường xuyên phối hợp với Trung tâm y tế dự phòng tỉnh Lạng Sơn, Trung tâm y tế huyện Cao Lộc, bệnh xá công an tỉnh tổ chức truyền thông về cách phòng chống HIV/AIDS, bệnh lây nhiễm xã hội, phát tờ rơi tới từng buồng giam. Lấy mẫu máu xét nghiệm HIV để sớm có biện pháp đảm bảo sức khỏe can phạm nhân.
- Về các chế độ khác: Luận văn: Việt Nam việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do.
Trại tạm giam trang bị 01 hệ thống loa đài truyền thanh để tuyên truyền giáo dục cho người bị tạm giữ, tạm giam nghe về các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước. Ngoài ra trại còn bố trí ở một số buồng giam chung 01 tivi cho can, phạm nhân xem để có thêm nhận thức, thấy được chính sách khoan hồng của Đảng, nhà nước đối với người phạm tội và tình hình xã hội nói chung. Đối với các phạm nhân chấp hành án tại phân trại cải tạo đều được học tập chính trị, pháp luật, quy chế, nội quy trại tạm giam… Hàng tuần, tháng, quý tổ chức cho các đội phạm nhân sinh hoạt để kiểm điểm, bình xét, đánh giá về thái độ học tập, kết quả lao động cải tạo của từng phạm nhân để làm cơ sở cho việc xét, giảm án, tha đặc xá… [9]
Đối với những người bị tước tự do hành chính, việc thực hiện quyền cũng được đảm bảo. Theo báo cáo năm 2011 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tính tới cuối tháng 6 năm 2011 cả nước có 149.900 người nghiện ma túy. So với cuối năm 1994, số người nghiện ma túy đã tăng khoảng 2,7 lần với mức tăng xấp xỉ 6.000 người nghiện mỗi năm. Người nghiện ma túy đã có 63/63 tỉnh, thành phố, khoảng 90% quận, huyện, thị xã và gần 60% xã, phường, thị trấn trên cả nước. Số người được cai nghiện tại các Trung tâm mỗi năm khoảng 30-35 ngàn, trong đó khoảng 80% là cai bắt buộc, 20% cai tự nguyện. [52].
Phần lớn các đối tượng sau khi chấp hành xong đều có sự tiến bộ, tái hoà nhập cộng đồng, có cuộc sống ổn định. Việc tiếp nhận đối tượng vào cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng, cơ sở chữa bệnh nhìn chung thực hiện đúng quy định của pháp luật như đối chiếu danh chỉ bản, phiếu xét nghiệm việc sử dụng ma tuý, bản tóm tắt lý lịch và hành vi vi phạm pháp luật của người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, quyết định đưa vào các cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, trường giáo dưỡng… Nơi ăn, ở, sinh hoạt, học tập, vui chơi, giải trí ngày càng được cải thiện. Người nhiễm HIV/AIDS trong trung tâm được đối xử bình đẳng, được sống chung, lao động học tập, vui chơi giải trí, tham gia các hoạt động văn nghệ, thể thao như các học viên khác; 100% được lập hồ sơ bệnh án theo dõi sức khoẻ, khám sức khoẻ định kỳ. Hiện nay, có 35 Trung tâm thuộc 28 tỉnh, thành phố tham gia vào dự án Quỹ toàn cầu về phòng chống HIV/AIDS [52]. Học viên ở các cơ sở cai nghiện bắt buộc được tư vấn, giáo dục, học nghề. Được bố trí chỗ ở phù hợp, đảm bảo đủ tiện nghi cần thiết cho sinh hoạt, học tập; được bố trí khu ở riêng nếu là nữ hoặc người chưa thành niên; được tiếp đón thân nhân thăm gặp; được hưởng các chế độ khám bệnh, chữa bệnh; được học văn hóa, học nghề; được tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao và các hình thức sinh hoạt tập thể do đơn vị tổ chức; được đóng góp ý kiến, khiếu nại với Người nghiện ma túy chưa thành niên khi cai nghiện tại Trung tâm ngoài được bố trí khu ở riêng còn được hưởng các chính sách hỗ trợ khác về chăm sóc y tế, học văn hóa, học nghề, kinh phí cai nghiện…
2.3.1. Hạn chế Luận văn: Việt Nam việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do.
Trong những năm qua pháp luật của Việt Nam đã có những đổi mới tích cực, nhằm hài hòa với các chuẩn mực quốc tế. Tuy nhiên, trên thực tế, dưới một góc độ nào đó, việc thực hiện quy định này chưa được triệt để và con nhiều vi phạm. Những điều đó xảy ra là do chưa có quy định cụ thể để hạn chế sự lạm quyền của cán bộ công chức nhà nước, các cơ quan công quyền, và việc quy định như hiện tại có nhiều kẽ hở dễ bị lách luật; cán bộ công chức nhà nước chưa được đào tạo cơ bản về tôn trọng, bảo vệ quyền con người… Ngoài ra nhận thức chung của một bộ phận người về người bị tước tự do ở Việt Nam còn phiến diện và chưa chuẩn xác. Điều đó ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do. Tình hình cụ thể như sau:
- Thứ nhất là vấn đề quá tải trại giam:
Nhìn chung, việc đảm bảo diện tích tối thiểu cho mỗi người giam, giữ ở các nhà tạm giữ, tạm giam, trại giam trên cả nước đều đảm bảo đủ từ 2m2/người trở lên. Tuy nhiên, ở một số trại giam xảy ra tình trạng vượt quá quy mô giam giữ, do đó chỗ nằm tối thiểu của người bị tạm giam không được đảm bảo, việc cấp phát đồ dùng sinh hoạt thiết yếu vẫn còn thiếu. Việc này chỉ là cá biệt và diễn ra ở một số trại giam. Tuy nhiên, tình trạng này cũng vẫn làm ảnh hưởng đến các quyền của người bị giam, giữ đồng thời làm giảm hiệu quả giáo dục, cải tạo phạm nhân. Theo quan điểm chung của cộng đồng quốc tế, điều kiện giam giữ, sinh hoạt trong các cơ sở giam giữ, nếu ở tình trạng tồi tệ sẽ bị coi là cấu thành hành vi đối xử dã man, vô nhân đạo, hạ thấp nhân phẩm và trong một số trường hợp sẽ cấu thành hành vi tra tấn. Theo Báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh với Ban pháp chế Hội đồng nhân dân TP tại buổi làm việc sáng 16/11/2012 cho biết qua kiểm tra cho thấy cơ sở vật chất của các nhà tạm giữ (thuộc công an quận huyện), trại tạm giam (thuộc Công an thành phố) đang xuống cấp, không đủ diện tích tối thiểu (2m2/người). Ngoài ra trong tháng 11/2012 số lượng vụ án khởi tố mới là 8.638 vụ/8.966 bị can, tăng 637 vụ/715 bị can so với cùng kỳ 2011. Vừa qua, công an một số quận huyện (Quận 2, Quận 5, huyện Nhà Bè) phải “gửi” can phạm tại trại tạm giam Chí Hòa vì không còn chỗ tạm giam [44].
Vấn đề quá tải trại giam khiến cho việc đảm bảo các chính sách, chế độ đối với người bị tạm giữ, tạm giam theo quy định không được đầy đủ. Không những thế, một hệ lụy đáng buồn của tình trạng trên, làm giảm ý nghĩa của chính sách khoan hồng của Đảng và nhà nước ta, cũng như giảm tính hiệu quả của các biện pháp giáo dục, cải tạo ở các nhà giam. Đồng thời ảnh hưởng đến nguyên tắc công bằng. Đó là tình trạng đặc xá do quá tải trại giam [45]. Việc đặc xá thể hiện chính sách nhân đạo của nhà nước ta. Chỉ những cá nhân nào cải tạo tốt mới được hưởng đặc xá. Thế nhưng việc đặc xá để giải phóng nhà tù, lấy chỗ cho người khác vào tù thì ý nghĩa trên đã thực sự giảm đi. Bởi vì sẽ có những cá nhân cải tạo chưa tốt vẫn được đặc xá. Điều này làm mất đi tính công bằng trong việc hưởng thụ quyền được đối xử nhân đạo của người bị tước tự do.
- Thứ hai là trình độ đội ngũ cán bộ ở một số trại giam, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh bắt buộc mặc dù được chú trọng xây dựng, nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ yêu cầu tình hình thực tế. Luận văn: Việt Nam việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do.
Một số cán bộ chủ yếu được đào tạo qua các lớp đào tạo ngắn hạn, đào tạo tại chức ở địa phương, một số cán bộ chiến sỹ chưa được đào tạo một cách chính quy nên còn bộc lộ một số yếu kém về kiến thức, nghiệp vụ, pháp luật. Đặc biệt là một số cán bộ có cái nhìn sai lệch, định kiến cho rằng phạm nhân, học viên là đồ bỏ đi, không thể cải tạo vì vậy làm gì có quyền. Ở khía cạnh thứ hai một số cán bộ coi phạm nhân, học viên là những đối tượng nguy hiểm nên không thể đối xử nhân đạo. Xuất phát từ nhận thức trên họ có những hành động xúc phạm nhân phẩm, danh dự của người bị giam, giữ. Hoặc là có những hành vi đề phòng quá mức cũng làm xâm phạm quyền của những người bị tước tự do, ví dụ như cùm chân, cùm tay… Trường hợp xảy ra ngày 18/2/2006 tại quán bia trên đường Mạc Đĩnh Chi, Quận 1, TP.HCM là một ví dụ. Đông đảo thực khách tại đây đã rất bất bình trước hình ảnh gây phản cảm: Khoảng ba bốn người (báo chí phản ánh là công an) dẫn giải một người bị còng tay từ trên xe (biển số xanh) bước xuống và vào quán. Mọi người ngồi vào bàn ăn, người thanh niên ngồi bên cạnh, tay phải bị còng chặt vào chân ghế gỗ… [46]. Đây là trường hợp do không tôn trọng quyền lợi hợp pháp của người bị dẫn giải, không giữ đúng lề lối, tác phong công an nhân dân nên một số cán bộ, chiến sĩ khi bắt, dẫn giải người vi phạm pháp luật đã xâm hại đến danh dự nhân phẩm của con người, coi thường dư luận xã hội. Tuy nhiên đây chỉ là một vi phạm riêng lẻ chứ không mang tính hệ thống.
Việc áp dụng biện pháp tạm giam hình sự tràn lan một phần cũng là vấn đề thuộc về đội ngũ cán bộ, công chức thực thi pháp luật. Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là một trong những hoạt động cần thiết, đảm bảo cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng. Bên cạnh biện pháp tạm giam, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định nhiều biện pháp ngăn chặn không tước tự do khác với tính chất, mức độ ảnh hưởng thấp hơn đối với người bị áp dụng như: cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lãnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Tuy nhiên việc áp dụng một cách tràn lan biện pháp tạm giam trong những năm qua đã ảnh hưởng trực tiếp và nghiêm trọng đến quyền của nhiều người tham gia tố tụng. Nhiều trường hợp bị can, bị cáo lẽ ra chỉ cần áp dụng biện pháp bảo lãnh, cấm đi khỏi nơi cư trú hoặc đặt tiền, tài sản có giá trị để bảo đảm là đã đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử, nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng không áp dụng các biện pháp này mà lại phải áp dụng biện pháp tạm giam. Chứng minh cho nhận định trên là kết quả một nghiên cứu vào năm 2012 của PGS. TS. Trần Văn Độ – Phó Chánh án Tòa án nhân dân TC, Chánh án Tòa án quân sự Trung ương. Ông đã tiến hành một nghiên cứu ngẫu nhiên về 320 trường hợp bị tạm giam trong tổng số 472 vụ án các loại tại tỉnh Lâm Đồng và thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy không tìm thấy trong hồ sơ vụ án có bất cứ giấy tờ, tài liệu nào chứng minh về khả năng bỏ trốn, tiếp tục phạm tội hoặc có thể cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án của người bị áp dụng. Trong các lệnh tạm giam của cơ quan điều tra, quyết định phê chuẩn lệnh tạm giam của VKS chỉ nêu chung chung là căn cứ vào hành vi phạm tội, căn cứ vào các điều luật của Bộ luật Tố tụng hình sự và xét thấy cần thiết tạm giam… [47]. Cũng theo PGS.TS Trần Văn Độ báo cáo của các cơ quan tiến hành tố tụng cho thấy hàng năm vẫn có gần 7% số người bị tạm giữ, tạm giam cuối cùng chỉ bị xử lý hành chính; khoảng 85% người bị kết án, bị can, bị cáo bị tạm giam, trong khi chỉ từ 70% – 75% bị Tòa án phạt tù [47].
Nghiên cứu trên đã chỉ ra rằng, trong hoạt động của mình, các cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng một cách tràn lan, tùy tiện biện pháp ngăn chặn tạm giam. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của nhiều người tham gia tố tụng nói chung. Tình trạng trên bên cạnh nguyên nhân khách quan, là Bộ luật Tố tụng hình sự không có quy định cụ thể về thủ tục xem xét căn cứ tạm giam, không quy định cụ thể về những hồ sơ, tài liệu nào cần xem xét khi ra lệnh tạm giam hoặc ra quyết định phê chuẩn lệnh tạm giam. Thì nguyên nhân ở phía những người tiến hành tố tụng cũng rất quan trọng. Người THTT chỉ xem xét căn cứ tạm giam trong trí tưởng tượng, do suy đoán là chính mà không xem xét căn cứ thực tế khách quan.
- Thứ ba: Tính độc lập của tòa án Luận văn: Việt Nam việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do.
Thực tế hoạt động của ngành Tòa án hiện nay có một số hoạt động ảnh hưởng đến tính độc lập của tòa án. Từ đó ảnh hưởng đến quyền của những người bị tước tự do trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Đó là: Tình trạng “thỉnh án”:
Hiện vẫn tồn tại cơ chế thỉnh án”, “báo cáo án” trong công tác của ngành tòa án. Đó là chính là kết quả khảo sát “Thực trạng quản lý hành chính tòa án địa phương tại Việt Nam” do Tiểu dự án Văn phòng Ban chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương điều phối, giám sát thực hiện. Cuộc khảo sát được thực hiện năm 2012 với sự tham gia của hơn 2.500 thẩm phán, đại diện cho gần một nửa thẩm phán tòa án cấp tỉnh và huyện trên cả nước đã cho kết quả như sau: 29,2% thẩm phán cấp tỉnh và 22,8% thẩm phán cấp huyện trao đổi đường lối giải quyết vụ án với lãnh đạo tòa án đối với tất cả các loại vụ án; 63,9% thẩm phán cấp tỉnh và 67,7% thẩm phán cấp huyện cho biết là tòa án mình có “quy chế về báo cáo án”…[48]. Thỉnh án hay còn gọi là báo cáo án là việc thẩm phán trao đổi đường lối giải quyết vụ án với lãnh đạo tòa án. Đây là thực trạng một số Tòa án cấp dưới đã không căn cứ vào các quy định của pháp luật cũng như những gì diễn ra tại phiên tòa để ra phán quyết đối với một vụ án cụ thể mà lại căn cứ vào ý kiến chỉ đạo của Tòa án cấp trên, dưới hình thức trao đổi nghiệp vụ, để ra phán quyết. Bởi vì, ngay từ ban đầu, việc Tòa án cấp dưới xin ý kiến và Tòa án cấp trên chỉ đạo việc xét xử đối với một vụ án cụ thể là hoàn toàn trái với các quy định của pháp luật, vi phạm nguyên tắc độc lập khi xét xử của Tòa án. Một bản án được ban hành trên cơ sở những hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về mặt tố tụng thì rõ ràng là bản án sai. Do đó, về mặt nội dung, phán quyết cuối cùng trong bản án có phù hợp hay không phù hợp với pháp luật thì bản án đó cũng là một bản án trái pháp luật. Mà vấn đề đặt ra ở đây là giới hạn và thẩm quyền của cơ quan Tòa án cấp trên trong việc trao đổi nghiệp vụ và hướng dẫn áp dụng pháp luật đối với Tòa án cấp dưới. Tòa án cấp trên về mặt chuyên môn nghiệp vụ chỉ được quyền hướng dẫn áp dụng các quy định của pháp luật có liên quan chứ không được can thiệp và chỉ đạo đối với những vụ án cụ thể.
2.4. Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền của người bị tước tự do ở Việt Nam Luận văn: Việt Nam việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do.
2.4.1. Một số phương hướng hoàn thiện
- Một là: Tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền của người bị tước tự do trước hết là trách nhiệm đồng thời cũng là mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta
Trước hết, quan điểm chung trên thế giới cho rằng, chủ thể cơ bản có trách nhiệm bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người là các nhà nước. Trong “Tuyên bố về quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, các nhóm và các tổ chức trong xã hội trong việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người và những tự do cơ bản đã được thừa nhận rộng rãi, 1998”, tại Điều 2(1) đã tuyên bố rằng: “Mọi quốc gia có trách nhiệm và nghĩa vụ hàng đầu về bảo vệ, thúc đẩy và thực hiện tất cả các quyền con người và những tự do cơ bản…” [16, tr. 920-921].
Sách trắng về thành tựu quyền con người của Việt Nam đã khẳng định:… việc bảo đảm và thúc đẩy quyền con người trước hết là trách nhiệm và quyền hạn của mỗi quốc gia. Các quốc gia có trách nhiệm xây dựng hệ thống pháp luật trong nước phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế…để bảo đảm cho người dân được thụ hưởng quyền con người một cách tốt nhất” [50].
Bảo vệ và tăng cường hưởng thụ các quyền con người, trong đó có quyền của người bị tước tự do được Đảng và Nhà nước ta xác định là sự nghiệp và nó không tách rời với mục tiêu làm cho mọi người phát triển tự do và toàn diện. Xuất phát từ quan điểm trên, trong mọi hoạt động, chính sách của mình, nhà nước cần phải hướng vào việc chăm lo cho con người, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người, trong đó có quyền của người bị tước tự do. Trong báo cáo quốc gia kiểm điểm định kỳ việc thực hiện quyền con người của Việt Nam, chính phủ Việt Nam khẳng định:
“Mọi sự phát triển chỉ có ý nghĩa khi nó là của mỗi con người và vì mỗi con người. Khi con người được đặt vào vị trí trung tâm của sự phát triển, thì sự tăng trưởng kinh tế, sự phát triển của nguồn lao động, cũng như sự phát triển các lĩnh vực khác của xã hội cũng đều vì mục tiêu phát triển con người và vì hạnh phúc của con người. Chính vì vậy, Nhà nước Việt Nam luôn coi con người là mục tiêu và động lực của sự nghiệp phát triển đất nước. Mọi chính sách phát triển của Việt Nam luôn lấy con người làm trung tâm: phát triển kinh tế vì con người; tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, giáo dục, nâng cao dân trí, bảo vệ và cải thiện môi trường”. [51]. Luận văn: Việt Nam việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do.
Không chỉ được thể hiện ở nhận thức, chính sách như trên, Nhà nước Việt Nam cần phải có những biện pháp cụ thể để hiện thực hóa quan điểm trên. “Mọi quốc gia phải thông qua những biện pháp lập pháp, hành pháp hoặc những biện pháp khác có thể được xem là cần thiết để đảm bảo rằng những quyền và những tự do…được bảo hộ một cách có hiệu quả.” [16, tr.921].
- Hai là: Các quyền của người bị tước tự do là những giá trị tự nhiên mà Nhà nước phải thừa nhận chứ không thể ban phát.
Theo quan điểm của cộng đồng quốc tế, các quyền con người, trong đó có quyền của người bị tước tự do là những giá trị tự nhiên, vốn có, gắn liền với mọi cá nhân, không phụ thuộc vào bất kỳ chủ thể nào khác. Nói cách khác, mọi thành viên của nhân loại khi sinh ra đã mặc nhiên có tư cách chủ thể của các quyền con người. Các nhà nước chỉ có thể thừa nhận (bằng Hiến pháp và pháp luật) các quyền đó như là những giá trị vốn có của mọi cá nhân mà nhà nước có nghĩa vụ bảo vệ và thúc đẩy chứ không thể ban phát cho công dân các quyền con người. Hiến pháp 1946, các quy định trong chương II thể hiện rất rõ vị thế chủ thể quyền của người dân, ví dụ như, tại Điều 7: “Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật…” [26]; Điều 11: “Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm người công dân Việt Nam” [26]…
Việc quy định trong Hiến pháp và pháp luật các quyền con người là tự nhiên, bẩm sinh và vốn có của mọi cá nhân không chỉ giúp đảm bảo nội dung hiến định phản ánh đúng bản chất của các quyền con người, mà còn nhằm phòng ngừa sự tùy tiện của nhà nước trong việc quy định, thu lại, xóa bỏ, giảm bớt hay đặt ra những điều kiện không thích đáng đối với việc hưởng thụ các quyền con người thông qua Hiến pháp và pháp luật.
- Ba là: Giải quyết mối quan hệ giữa các tiêu chuẩn quốc tế về quyền của người bị tước tự do với truyền thống, đặc điểm và trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của Việt Nam.
Về vấn đề này, hiện nay trên thế giới cuộc tranh luận giữa tính phổ biến và tính đặc thù của nhân quyền nói chung mà quyền của người bị tước tự do là một bộ phận vẫn còn tiếp diễn. Trên thực tế chưa từng có định nghĩa rõ thế nào là tính đặc thù, nhưng hàm ý là „mỗi khu vực, quốc gia, dân tộc…có những tiêu chuẩn khác nhau về nhân quyền” xuất phát từ truyền thống, văn hóa, điều kiện kinh tế, xã hội. Một số nhà chính trị của các nước châu Á như Lý Quang Diệu (cựu Thủ tướng Singapo), Ali Alatas (cựu Bộ trưởng ngoại giao Indonexia), Mahathir Mohamad (cựu Thủ tướng Malaixia)… đã cổ vũ cho quan điểm về tính đặc thù của quyền con người qua việc đề xướng lý luận về những giá trị nhân quyền châu Á mà nội dung chủ yếu cho rằng, do những đặc thù về văn hóa, lịch sử châu Á cần có những cách thức và tiêu chuẩn riêng trong vấn đề quyền con người chứ không thể và không nên theo những giá trị dân chủ, nhân quyền được cổ vũ bởi các nước phương Tây. Tuy nhiên nếu nhân quyền có tính đặc thù thì không thể có tính phổ biến, bởi chúng loại trừ nhau. Do đó, thực chất cần phải hiểu là nhân quyền có tính phổ quát, áp dụng chung ở mọi khu vực, mọi quốc gia. Tuy nhiên mức độ và cách thức bảo vệ, thúc đẩy nhân quyền phụ thuộc vào những điều kiện đặc thù về văn hóa, kinh tế, xã hội ở từng nơi. Và những điều kiện đặc thù không được sử dụng để phủ nhận hay trì hoãn những nghĩa vụ rõ ràng, phổ biến và có thể thực hiện được của quốc gia. Ví dụ như ở một số nước có hủ tục cắt bỏ âm vật của trẻ em nữ. Quốc gia đó không thể vin vào cớ đó là truyền thống văn hóa của đất nước mình để duy trì hủ tục đó. Bởi vì rõ ràng đó là vi phạm nhân quyền. Trở lại vấn đề của Việt Nam, đó là các trường hợp tước tự do hành chính. Như đã phân tích, các biện pháp xử lý hành chính (trừ biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn) ở Việt Nam thực chất là việc tước tự do của một cá nhân vi phạm các quy định pháp luật chưa được coi là tội phạm. Tuy nhiên chúng ta lại coi đó không phải là tước tự do mà chỉ là một trong các biện pháp nhằm giáo dục trẻ em hư. Luật nhân quyền quốc tế không cấm các quốc gia thực hiện tước tự do theo thủ tục hành chính, nhưng chỉ trong một số trường hợp nhất định, với thời gian hạn chế và phải tuân thủ những điều kiện chặt chẽ. Vì vậy vấn đề đặt ra là chúng ta phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa các chuẩn mực quốc tế về nhân quyền với đặc điểm, điều kiện cụ thể của Việt Nam. Một số kiến nghị nhằm bảo đảm tốt hơn nữa quyền của người bị tước tự do ở Việt Nam:
2.4.2. Hoàn thiện pháp luật Luận văn: Việt Nam việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do.
Trong việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do hệ thống pháp luật có vị trí quan trọng. Do các quy phạm pháp luật là nơi thể hiện rõ ràng nhất những tư tưởng tiến bộ về quyền của người bị tước tự do bằng biện pháp pháp lý và được bảo đảm thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước. Đồng thời, hệ thống pháp luật còn phản ánh sự tương thích giữa chuẩn mực quốc tế về quyền của người bị tước tự do với pháp luật quốc gia, là thước đo về mức độ bảo đảm quyền của người bị tước tự do của quốc gia ở mỗi thời điểm cụ thể.
Từ khi Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945 đến nay, pháp luật về các quyền của người bị tước tự do đã có sự phát triển không ngừng, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước và hội nhập với quốc tế. Tuy nhiên vẫn còn những bất cập, mâu thuẫn, chồng chéo trong hệ thống pháp luật khiến cho việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do gặp khó khăn. Vì vậy trong thời gian tới cần hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật để đảm bảo tốt hơn quyền cho nhóm người này. Các kiến nghị cụ thể:
- Đối với các nguyên tắc, tiêu chuẩn quốc tế về người bị tước tự do
Các nguyên tắc, tiêu chuẩn quốc tế về quyền của người bị tước tự do nói riêng, cũng như các nguyên tắc, tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người là những giá trị chung, được hầu hết các quốc gia, vùng lãnh thổ thừa nhận. Đó chính là một trong những biểu hiện giá trị phổ quát của quyền con người. Vì vậy, Việt Nam không có lý do gì không quan tâm tới các chuẩn mực đó. Tuy việc bảo đảm các quyền con người nói chung, quyền của người bị tước tự do nói riêng còn phụ thuộc vào các điều kiện đặc thù của mỗi nước. Điều đó không có nghĩa là chúng ta lờ đi các Công ước quan trọng trong lĩnh vực này. Việc quan tâm, xem xét tham gia các văn kiện đó có ý nghĩa không chỉ về mặt chính trị, đó là giúp chúng ta giành được thiện cảm và sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Mà nó còn tạo ra cơ sở và động lực để thúc đẩy hoạt động bảo đảm các quyền của người bị tước tự do. Bởi vậy, chúng ta cần: Luận văn: Việt Nam việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do.
Xúc tiến việc gia nhập Công ước chống tra tấn của Liên hợp quốc CAT và các công ước nhân quyền liên quan khác. Hiện Việt Nam đã tham gia khá nhiều công ước chủ chốt về nhân quyền, trong đó có 2 Công ước góp phần tạo nên Bộ luật nhân quyền của thế giới, đó là Công ước ICCPR và ICESCR. Trong Công ước ICCPR rất nhiều quyền của người bị tước tự do đã được ghi nhận một cách trực tiếp. Tuy nhiên Công ước chống tra tấn CAT cũng là một trong những điều ước cơ bản nhất về nhân quyền và là công ước trực tiếp điều chỉnh về quyền của người bi tước tự do mà Việt Nam chưa tham gia. Việt Nam đã thực hiện bước khởi đầu của việc tham gia CAT, đó là vào ngày 07/11/2013 Việt Nam đã ký kết Công ước này. Việc tham gia/phê chuẩn là vấn đề thời gian. Tuy vậy, chính phủ Việt Nam cần xúc tiến, thúc đẩy việc đó càng sớm càng tốt. Tra tấn thường xảy ra trong khi các nạn nhân bị biệt giam, tức là nạn nhân không thể liên lạc với những người bên ngoài để những người này có thể giúp đỡ hay biết được điều gì đang xảy ra với họ. Như vậy là những người bị tước tự do là những người rất dễ trở thành nạn nhân của tra tấn. Là đất nước đã phải gánh chịu nhiều đau thương, mất mát qua các cuộc chiến tranh dựng nước và giữ nước, nhiều người Việt Nam đã phải chịu cảnh tù đày, xiềng xích, tra tấn, đánh đập dã man trong các nhà tù của chế độ cũ. Vì vậy hơn ai hết, Việt Nam đặc biệt quan tâm đến vấn đề tôn trọng và bảo vệ quyền con người, trong đó có quyền sống, quyền không bị tra tấn, quyền được đối xử nhân đạo… Việc gia nhập công ước chống tra tấn là phù hợp với xu hướng phát triển, tiến bộ của thời đại. Tham gia công ước này sẽ nâng cao đáng kể uy tín quốc tế của Việt Nam trên lĩnh vực nhân quyền, tranh thủ được cảm tình và sự ủng hộ của dư luận tiến bộ trên thế giới, tạo cơ sở cho việc tăng cường đối thoại và trao đổi với các nước và các tổ chức quốc tế về nhân quyền, góp phần ngăn chặn được âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề nhân quyền để bôi nhọ chế độ ta. Đồng thời tạo ra những động lực, cơ sở mới để thúc đẩy hoạt động phòng chống tra tấn, góp phần bảo đảm quyền cho người bị tước tự do nói riêng, quyền con người nói chung.
Quan tâm nghiên cứu nội dung các khuyến nghị, bình luận của các thiết chế giám sát nhân quyền quốc tế, đặc biệt là những khuyến nghị, bình luận liên quan đến việc bảo đảm quyền của người bị tước tự Những bình luận, khuyến nghị chung và những kết luận khuyến nghị đó do Uỷ ban quyền con người và các Ủy ban giám sát công ước khác đưa ra trong quá trình xem xét báo cáo của các quốc gia về việc thực hiện những công ước mà quốc gia đó tham gia. Mặc dù về mặt pháp lý, những tài liệu của các Ủy ban trên chỉ có tính chất khuyến nghị với các quốc gia, song trên thực tế, chúng được xem là những ý kiến chính thức giải thích nội dung của các công ước quốc tế về nhân quyền và thường được các quốc gia tôn trọng, tuân thủ. Bởi vậy, việc quan tâm nghiên cứu nội dung các khuyên nghị, bình luận đó một mặt giúp chúng ta hiểu đúng các nội dung công ước, từ đó có thể hành động phù hợp với nội dung các tiêu chuẩn nhân quyền được quy định trong các Công ước đó. Mặt khác, việc này có thể khiến chúng ta tránh khỏi các chỉ trích bất lợi của cộng đồng quốc tế, nhất là các thế lực thù địch muốn lợi dụng để gây rối, phá hoại chế độ. Luận văn: Việt Nam việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do.
- Đối với hệ thống pháp luật trong nước
Rà soát toàn bộ hệ thống văn bản liên quan đến quyền của người bị tước tự do, trên cơ sở đó có kế hoạch xây dựng văn bản mới hoặc sửa đổi, bổ sung các văn bản hiện hành đáp ứng yêu cầu của các điều ước quốc tế về quyền của người bị tước tự do. Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các quy định pháp luật, đặc biệt là các quyền tố tụng của những người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, tù nhân. Liên quan đến vấn đề này, cũng cần nghiên cứu hoàn thiện các quy định để bảo đảm nguyên tắc lời khai lấy được từ việc tra tấn, nhục hình hay bức cung dưới mọi hình thức sẽ không được sử dụng làm chứng cứ buộc tội trong mọi giai đoạn tố tụng. Cụ thể:
- Hoàn thiện một số quyền quan trọng của người bị tước tự Bao gồm:
Quyền suy đoán vô tội. Trong pháp luật Việt Nam, nguyên tắc suy đoán vô tội tuy đã được thể hiện trong cả Hiến pháp và cả trong luật tố tụng hình sự. Tuy nhiên các quy định đó vẫn chưa thể hiện đầy đủ nội dung của nguyên tắc này. Cần bổ sung quy định việc nếu chưa có đủ căn cứ vững chắc để kết tội bị cáo thì phải suy đoán theo hướng có lợi cho bị cáo là không phạm tội. Do chưa ghi nhận nội dung này nên các cơ quan tố tụng, nhất là tòa nhiều khi đã không dám mạnh dạn tuyên bố bị cáo vô tội trong các trường hợp tương tự. Trường hợp của anh Nguyễn Văn Kiên ở ấp 5, xã Đông Nơ, Hớn Quản (Bình Phước) đăng trên báo điện tử dantri.com ngày 11/7/2013 là một ví dụ [49]. Năm 2005, Kiên cùng bạn đi ăn cưới ở huyện Chơn Thành. Nhóm của Kiên vừa rời đám cưới về thì bị năm thanh niên địa phương đuổi đánh. Bị ngã xe, Kiên bỏ chạy. Trong lúc hỗn loạn, Kiên lượm được một khúc cây ném trúng đầu một người đuổi theo, gây thương tật 26% tạm thời. Sau đó, Kiên bị bắt, bị tạm giam và bị khởi tố, truy tố về tội cố ý gây thương tích. Trong khi hồ sơ vụ án cho thấy, nhân chứng thì khai mâu thuẫn, người nói thấy Kiên thực hiện hành vi gây thương tích cho người khác, người bảo không, ngoài ra không có chứng cứ buộc tội khác. Cơ quan điều tra thì không thu giữ vật chứng kịp thời, đúng quy định; hồ sơ cũng không khẳng định được thương tích của nạn nhân do hung khí gì gây Theo nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội là nếu chưa có đủ căn cứ vững chắc để kết tội thì phải suy đoán theo hướng có lợi là không phạm tội. Nhưng do nội dung trên chưa được ghi nhận trong pháp luật Việt Nam cho nên anh Kiên đã phải trải qua gần tám năm trong vòng tố tụng với nhiều lần cơ quan điều tra thả rồi bắt, bắt rồi thả (tổng thời gian anh Kiên bị tạm giam khoảng hơn 30 tháng) và hiện nay kết thúc bằng bản án có tội với hình phạt 36 tháng tù. Nếu pháp luật hình sự nước ta ghi nhận nguyên tắc suy đoán vô tội, nhiều khả năng số phận pháp lý của anh Kiên đã không phải kết thúc bằng bản án tù Do đó cần thiết phải nghiên cứu và hoàn thiện nguyên tắc suy đoán vô tội với đầy đủ nội dung của nó.
Quyền im lặng và không bị buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình. Quyền im lặng là một trong những quyền quan trọng của người bị tước tự do khi tham gia tố tụng nhưng pháp luật Việt Nam chưa có quy định. Quyền này có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm giúp họ có thể tự bảo vệ mình. Vì vậy chúng ta cần phải bổ sung thêm quyền được im lặng và không coi sự im lặng là thái độ thiếu thiện chí của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam. Trên thực tế, người bị bắt, tạm giữ, tạm giam đang trong tâm trạng lo lắng, sợ hãi vì bị giam giữ, phải một mình đối diện với cơ quan điều tra, lại thêm sự thiếu hiểu biết về pháp luật, nên khi bị lấy lời khai, thẩm vấn, họ rất dễ bị khai theo hướng “gợi ý” của người lấy lời khai thiếu công tâm. Thực tiễn tố tụng cũng cho thấy, nếu người bị tình nghi, bị can, bị cáo khi bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam mà khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình thì sẽ được coi là tình tiết giảm nhẹ. Ngược lại, nếu họ im lặng, không khai báo thì thường bị cáo buộc ngoan cố, chống đối pháp luật và bị đề nghị xử lý với chế tài nghiêm khắc hơn dù không có quy định “ngoan cố” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự… Cũng có trường hợp, khi ra tòa, các bị can, bị cáo thay đổi hoàn toàn lời khai trước đó tại cơ quan điều tra, khiến cho các vụ án trở nên phức tạp. Họ cho rằng đã bị cơ quan điều tra ép cung, mớm cung… Để giải quyết tình trạng này, một trong các giải pháp được đưa ra là cho phép người bị tình nghi phạm tội, bị can, bị cáo “quyền im lặng”. Điều này không chỉ đảm bảo khách quan, giảm vi phạm tố tụng, mà còn giúp cho quá trình tố tụng nhanh hơn, không phải điều tra lại nhiều lần. Thực tế, để phá án và làm rõ tội phạm, cơ quan điều tra phải dùng nhiều biện pháp chứ không chỉ phụ thuộc vào lời khai, nên không lo ngại nếu cho nghi can quyền im lặng sẽ làm ảnh hưởng đến công tác điều tra. Luận văn: Việt Nam việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do.
Quyền không bị bỏ tù vì không hoàn thành được nghĩa vụ theo hợp đồng: Ở Việt Nam có các dạng hợp đồng chính là hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế và hợp đồng lao động. Về trách nhiệm phát sinh từ vi phạm các dạng hợp đổng này, những văn bản pháp luật có liên quan chỉ quy định hình thức bồi thường thiệt hại tùy theo lỗi của bên vi phạm. Bộ luật hình sự năm 1999 có 344 điều nhưng không có điều nào quy định bỏ tù một người không thể hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng. Tuy nhiên giống như pháp luật của nhiều nước khác trên thế giới, pháp luật Việt Nam quy định trong trường hợp có hành vi lạm dụng tín nhiệm, lừa đảo để chiếm đoạt tài sản của người khác trong giao kết và thực hiện hợp đồng thì người vi phạm sẽ bị xử lý hình sự và bị bỏ tù. Như vậy là pháp luật Việt Nam không có quy định bỏ tù người không hoàn thành được nghĩa vụ theo hợp đồng. Tuy nhiên quyền không bị bỏ tù vì không hoàn thành được nghĩa vụ theo hợp đồng thì vẫn chưa được quy định cụ thể.
- Sửa đổi quy định về thời hạn tạm giam đối với người chưa thành niên.
Hiện nay, Bộ luật Tố tụng hình sự của Việt Nam không có quy định riêng nào về thời hạn tạm giam đối với người chưa thành niên, điều đó có nghĩa là, thời hạn tạm giam đối với người chưa thành niên (tương tự là thời hạn điều tra, truy tố, xét xử) cũng giống như thời hạn tạm giam đối với người đã thành niên. Đây là điều bất hợp lý khi mà các Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của người chưa thành niên, thủ tục tư pháp đối với người chưa thành niên đều yêu cầu một thủ tục rút gọn, thân thiện đối với nhóm người cần đến sự quan tâm đặc biệt này. Dựa trên nguyên tắc: “khi sử dụng biện pháp giam giữ phòng ngừa thì tòa án dành cho người chưa thành niên và cơ quan điều tra phải dành ưu tiên cao nhất cho việc giải quyết nhanh nhất các vụ án này, để đảm bảo thời gian giam giữ ở mức thấp nhất có thể” [16, tr.710]. Việc tước tự do của người chưa thành niên chỉ được sử dụng như là biện pháp cuối cùng và trong một thời gian cần thiết tối thiểu, và chỉ nên giới hạn đối với những trường hợp ngoại lệ. Thời hạn áp dụng biện pháp trừng phạt này cần được cơ quan tư pháp quyết định mà không loại trừ khả năng sớm trả lại tự do cho người chưa thành niên đó. Điều này đặt ra yêu cầu hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự cũng như các văn bản pháp luật khác theo hướng quy định thời hạn tạm giam đối với người chưa thành niên giảm xuống so với người đã thành niên. Điều này góp phần hạn chế tác động tâm lý, tinh thần cho đối tượng dễ bị tổn thương này và sớm đưa các em trở về hòa nhập cộng đồng.
- Quy định chế bổ nhiệm thẩm phán suốt đời. Luận văn: Việt Nam việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do.
Theo quy định hiện hành, nhiệm kì của Thẩm phán là năm năm kể từ ngày được bổ nhiệm. Sau khi hết nhiệm kỳ các Thẩm phán sẽ được tái bổ nhiệm nếu như được Hội đồng tuyển chọn thẩm phán tuyển chọn. Ngược lại, trong trường hợp sau khi kết thúc nhiệm kỳ mà không được tuyển chọn bởi Hội đồng tuyển chọn những người đang là Thẩm phán sẽ không được bổ nhiệm lại và, đương nhiên là họ phải chuyển sang làm một công tác khác hoặc một nghề khác. Chính sự giới hạn nhiệm kỳ của Thẩm phán là năm năm sẽ dẫn đến tình trạng các Thẩm phán sẽ không tận tâm làm hết khả năng của mình nhằm đảm bảo sự khách quan, độc lập của Tòa án. Mà ngược lại, các Thẩm phán sẽ làm mọi cách để đảm bảo rằng mình sẽ được bổ nhiệm lại. Bởi vậy, cần thiết phải quy định chế độ bổ nhiệm thẩm phán suốt đời nhằm đảm bảo sự độc lập của Tòa án. Bởi vì quy định này đảm bảo cho thẩm phán không phải xét xử lựa theo ý của người và cơ quan sẽ tái bổ nhiệm họ; các cơ quan và người có thẩm quyền bổ nhiệm thẩm phán không còn điều kiện can thiệp vào hoạt động xét xử của thẩm phán. Đồng thời có thề góp phần giải quyết tình trạng “thỉnh án”, “báo cáo án”. Ngoài ra cũng cần phải có kế hoạch đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn của Thẩm phán. Đồng thời chế độ lương bổng cho Thẩm phán cũng cần phải được đảm bảo.
Về các biện pháp xử lý hành chính: Trước mắt có thể duy trì việc áp dụng các biện pháp XLHC như Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012. Tuy vậy cần hạn chế việc áp dụng các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc; đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Bởi vì các biện pháp này đã hạn chế tự do của người bị áp dụng. Thay vào đó cần áp dụng các biện pháp thay thế là nhắc nhở và quản lý tại gia đình. Tiến tới việc thay thế sử dụng các biện pháp XLHC để giải quyết các vấn đề xã hội như hiện nay bằng các biện pháp khác phi hành chính và phi tư pháp (hòa giải, giáo dục dựa vào cộng đồng…). Lợi ích trước hết của việc thay thế các biện pháp xử lý hành chính bằng các biện pháp hòa giải, giáo dục dựa vào cộng đồng đó là bảo vệ được quyền con người, quyền công dân của những đối tượng có liên quan. Bởi vì rõ ràng, các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là hình thức hạn chế tự do của con người trong một thời gian khá dài. Điều đó đồng nghĩa với việc ảnh hưởng đến quyền tự do của con người. Nhất là trong số các đối tượng bị áp dụng các biện pháp trên thì người chưa thành niên chiếm phần lớn. Do đó chúng ta cần nghiên cứu thay thế các biện pháp xử lý hành chính bằng các biện pháp hòa giải, giáo dục dựa vào cộng đồng. Việc đó không chỉ góp phần bảo đảm quyền tự do của con người mà còn giúp chính phủ Việt Nam không còn bị phê phán, chỉ trích của cộng đồng quốc tế. Hơn nữa có thể đỡ gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Và như vậy có thể giúp giải quyết vấn đề hiệu quả hơn.
2.4.3. Nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền của người bị tước tự do Luận văn: Việt Nam việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do.
Nâng cao nhận thức:
- Nâng cao nhận thức của cán bộ thực thi pháp luật
Đối với các cơ quan nhà nước việc thiếu cán bộ có kiến thức toàn diện, chuyên sâu về quyền con người có thể dẫn đến những hạn chế, sai sót trong hoạt động làm ảnh hưởng đến các quyền con người. Về mặt luật pháp, rất ít quốc gia pháp luật cho phép thực hiện các hành động tra tấn, nhưng trên thực tế hành động như vậy vẫn diễn ra. Ngoài hành động tra tấn, các hành vi khác xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích của phạm nhân, người bị tạm giữ, tạm giam cũng thường xảy ra. Nguyên nhân do các quan chức thực thi pháp luật thiếu hiểu biết hoặc có ý thức chấp hành pháp luật kém. Do đó một mặt chúng ta cần phải xây dựng đội ngũ cán bộ vừa có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, giác ngộ về chính trị, có tinh thần trách nhiệm cao, có đạo đức, tôn trọng quyền của người bị tước tự do và các quyền con người khác. Biện pháp cụ thể:
Nghiên cứu đưa vào hoặc sửa đổi, bổ sung nội dung về chống tra tấn và quyền con người của những người bị tước tự do trong chương trình giảng dạy của các trường đại học luật và các trường đào tạo cán bộ thực thi pháp luật ở mọi cấp.
Thêm vào đó, cũng cần xây dựng và thực hiện các chương trình tập huấn bắt buộc về những nội dung đã nêu cho các cán bộ quản giáo, cảnh sát điều tra, nhân viên an ninh, nhân viên dân sự và y tế làm việc trong các cơ sở giam giữ, giáo dục, cai nghiện tập trung…
Ngoài ra, cần xây dựng hoặc sửa đổi, bổ sung các bộ quy tắc đạo đức cho những đối tượng đã nêu trong đó nhấn mạnh vấn đề cấm tra tấn và tôn trọng, bảo vệ các quyền con người của những người bị tước tự do.
- Nâng cao nhận thức của người bị tước tự do và cộng đồng
Trong xã hội, do thiếu kiến thức về các quyền, người dân trong nhiều tình huống không biết cách tự bảo vệ quyền hoặc có hành vi trái pháp luật làm tổn hại đến quyền của người khác. Thiếu kiến thức cũng dẫn đến thiếu ý thức về quyền, khiến cho người dân trở nên thụ động, mặt khác lại thiếu trách nhiệm với việc thực hiện các nghĩa vụ công dân. Vì vậy, song song với việc nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, chúng ta cũng cần phải có những hành động thiết thực nhằm nâng cao nhận thức và năng lực của người dân trong việc thụ hưởng các quyền con người, trong đó có quyền của người bị tước tự do. Đây được coi là biện pháp đầu tiên và tính chất bền vững, lâu dài để bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người. Do đó cần:
- Giáo dục về nhân quyền trong và ngoài nhà trường Luận văn: Việt Nam việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do.
Bộ giáo dục, Sở giáo dục liên kết với các trường học ở từng cấp học, từng ngành học để lồng ghép kiến thức về quyền con người vào chương trình học. Ví dụ ở bậc phổ thông lồng ghép vào những môn học có liên quan, hay ở bậc học chuyên nghiệp cần đưa những kiến thức này trở thành một môn học riêng biệt bắt buộc. Tùy đặc điểm của từng cấp học, ngành học nhà trường và các cơ quan chuyên môn cần phải tính toán, xây dựng nội dung học cho phù hợp, dễ hiểu để đạt hiệu quả cao. Xây dựng những diễn đàn, hoặc những nhóm nhỏ hoạt động thường xuyên, trở thành nơi trao đổi học tập các kiến thức liên quan tới vấn đề này. Bên cạnh giáo dục trong nhà trường, việc giáo dục cộng đồng cũng góp phần không nhỏ tới việc đảm bảo quyền của người bị tước tự do. Chính quyền các cấp cần quan tâm sâu sắc hơn tới việc giáo dục cộng đồng. Hỗ trợ cho việc hình thành những nhóm có chung hoàn cảnh để họ có thể chia sẻ, giúp đỡ nhau trong thực tế.
Hoàn thiện thể chế:
- Nghiên cứu khả năng thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia
Ở Việt Nam, hiện có nhiều thiết chế tham gia vào việc giám sát việc thực hiện các quyền trong từng lĩnh vực như: Ủy ban Dân tộc, Ban Tôn giáo Chính phủ, Thanh tra về trẻ em… Tuy nhiên các cơ quan này không thể coi là các cơ quan nhân quyền quốc gia vì không phù hợp với các Nguyên tắc Pari ở nhiều điểm cốt lõi, bao gồm tính độc lập và chức năng, nhiệm vụ.
Trên thực tế, Liên hợp quốc luôn luôn thúc đẩy các quốc gia thành lập NHRIs. Bởi nhiều lý do, trong đó có lý do chính phủ một mặt có vai trò chính trong việc bảo vệ nhân quyền, mặt khác đó cũng là thủ phạm chính của những vi phạm về nhân quyền. Vì vậy, cần thiết có một cơ quan tư vấn ở giữa mang tính chất trung hòa (độc lập) để góp ý, trợ giúp cho hoạt động bảo vệ, bảo đảm nhân quyền nói chung. Một cơ quan nhân quyền quốc gia như vậy được thành lập có thể giúp cân bằng giữa hai thái cực: sự quá hữu (bảo thủ, trì trệ..) của các cơ quan nhà nước và sự quá tả (cực đoan, một chiều…) của các tổ chức phi chính phủ trong lĩnh vực nhân quyền. Luận văn: Việt Nam việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do.
Thúc đẩy, bảo vệ nhân quyền vừa là một nghĩa vụ quốc tế, vừa là một yêu cầu khách quan để bảo đảm sự tồn tại của các chính thể. Để thực hiện việc này, cần phải có cơ chế và bộ máy. Cũng như các nước khác, Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục phải giải quyết ngày càng nhiều hơn các vấn đề về nhân quyền ở tất cả các cấp độ, quốc gia, khu vực và quốc tế. Với vị thế đặc biệt của nó, NHRIs là cơ quan hữu ích giúp nhà nước giải quyết những yêu cầu trên, vì NHRIs có thể áp dụng phương thức tiếp cận các vấn đề nhân quyền một cách hệ thống mà không cơ chế nào khác có được. Từ đó NHRIs có khả năng hỗ trợ chính phủ, các thành viên quốc hội và các chủ thể xã hội dân sự bằng ý kiến tư vấn sâu về việc thực hiện các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế, phù hợp với nhu cầu riêng cụ thể của quốc gia đó với mức độ chuẩn xác mà một cơ quan công ước Liên hợp quốc không bao giờ đạt được (xử lý các báo cáo và khiếu nại từ tất cả các quốc gia thành viên Liên hợp quốc). NHRIs cũng có công dụng hỗ trợ cho tính chính danh của một quốc gia với tư cách là một chủ thể nhân quyền trong các cơ quan khu vực và quốc tế và là đầu mối cung cấp thông tin khách quan, tin cậy cho cộng đồng quốc tế về tình hình nhân quyền ở Việt Nam. NHRIs cũng có thể làm trung gian giúp giảm thiểu những căng thẳng giữa chính phủ – xã hội dân sự, chính phủ-quốc tế trong vấn đề nhân quyền.
Từ những phân tích trên cho thấy việc sớm thành lập NHRIs ở Việt Nam là một yêu cầu chính đáng và cấp thiết. Vì vậy, trước hết cần bổ sung quy định về vấn đề này trong Hiến pháp mới, nhằm tạo cơ sở hiến định cho việc thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia trong thời gian tới.
- Hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan và cán bộ tiến hành tố tụng, đặc biệt trong các hoạt động điều tra và giam giữ.
Trong vấn đề này, cần đặc biệt phát huy vai trò giám sát của Ủy ban Tư pháp và của các đại biểu Quốc Hội, đồng thời cần mở rộng các điều kiện cho phép các cơ quan thông tin đại chúng được giám sát thường xuyên và hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp, kể cả các cơ sở giam giữ. Bởi lẽ thủ phạm của hành vi vi phạm quyền của người bị tước tự do là những người tiến hành tố tụng, trong khi việc điều tra, truy tố và xét xử cũng do các cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành nên không thể tránh khỏi những trường hợp cố ý trì hoãn, bao che cho những kẻ vi phạm. Vì vậy việc giám sát của các cơ quan dân cử cũng như là của cơ quan thông tin đại chúng sẽ góp phần đưa những vi phạm ra ánh sáng và giải quyết công khai, bảo vệ quyền và lợi ích cho những nạn nhân của vi phạm.
KẾT LUẬN Luận văn: Việt Nam việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do.
Quyền con người là để cho tất cả mọi người. Theo nguyên tắc không phân biệt đối xử, các quốc gia phải tôn trọng và bảo đảm quyền con người cho tất cả mọi cá nhân trong lãnh thổ của mình (Điều 2 của ICCPR và ICESCR). Người bị tước tự do là một bộ phận cấu thành chủ thể của quyền con người nói chung. Tước tự do không có nghĩa là tước bỏ hoàn toàn tất cả mọi tự do của con người mà chỉ là hạn chế một số quyền tự do nhất định, các tự do khác của con người vẫn phải được bảo đảm.
Bảo vệ quyền của những người bị tước tự do chiếm một vị trí quan trọng trong luật nhân quyền quốc tế. Pháp luật Việt Nam đã thể hiện tương đối toàn diện những chuẩn mực quốc tế về người bị tước tự do. Bằng nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Hiến pháp, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự, Luật thi hành án hình sự…và đặc biệt là Luật xử lý vi phạm hành chính là luật mới có hiệu lực điều chỉnh một bộ phận người bị tước tự do. Nhà nước đã chính thức ghi nhận và bảo đảm quyền con người nói chung, quyền của người bị tước tự do nói riêng, coi đó như những chế định quan trọng và là mục tiêu cuối cùng của chế độ ta. Về cơ bản, quyền của phạm nhân, người bị tạm giữ, tạm giam, người bị quản chế, cấm cư trú, người bị đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, trung tâm cai nghiện đã được Nhà nước ta bảo đảm thực hiện tốt. Những vi phạm chỉ là những biểu hiện bên ngoài, có tính cá biệt, không phù hợp với bản chất Nhà nước, đường lối của Đảng ta. Việc tăng cường bảo đảm quyền của người bị tước tự do phải được thực hiện một cách khoa học, dựa trên những căn cứ lý luận và thực tiễn.
Vấn đề bảo đảm nhân quyền đối với nhóm người bị tước tự do là một đề tài thật sự khá nhạy cảm và phức tạp. Mặc dù bản thân đã rất cố gắng tìm tòi, nghiên cứu, khảo sát thực tế. Đồng thời nhận được sự giúp đỡ rất nhiệt tình, tận tụy của giáo viên hướng dẫn. Nhưng luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến xây dựng của các thày cô và những người quan tâm đến đề tài để đề tài này được hoàn thiện hơn. Luận văn: Việt Nam việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật Quyền của những người bị tước tự do

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
