Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài và tình hình nghiên cứu

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

Hợp đồng là sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các chủ thể tham gia nhằm phát sinh một hậu quả pháp lý nhất định. Việc thực hiện hợp đồng là một quá trình, quá trình này hàm chứa nhiều rủi ro có thể đến từ môi trường thiên nhiên, môi trường kinh doanh hoặc môi trường xã hội khiến điều kiện thực hiện hợp đồng bị thay đổi căn bản, do vậy nội dung các bên đã thỏa thuận tại thời điểm giao kết có thể không còn là ý chí của các bên tại thời điểm thực hiện hợp đồng. Bởi vậy, “lý thuyết về hợp đồng đã tìm ra muôn vàn lý do để xử lý một cách công bằng nếu điều kiện thực hiện hợp đồng đã đổi thay căn bản. Các ngoại lệ này trải rộng từ việc vô hiệu hóa hợp đồng do nhầm lẫn, quyền được hủy hợp đồng, các lý do bất khả kháng, các lý do làm cho hợp đồng không thể thực hiện được, cho đến các lý do hủy nghĩa vụ hợp đồng do một bên vi phạm nghĩa vụ trung thành, vi phạm truyền thống tốt đẹp” [8].

Khi soạn thảo, ban hành bộ luật dân sự năm 2015, Quốc hội đã đưa thêm một giải pháp nữa để các bên có thể phân bổ rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng, đó chính là điều khoản về “Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” (Điều 420 bộ luật dân sự). Điều khoản này cho phép một bên có quyền yêu cầu đàm phán lại hợp đồng khi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng có sự đổi thay căn bản khiến bên này có thể bị thiệt hại nghiêm trọng nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng. Bên cạnh đó, Pháp luật dân sự Việt Nam cho phép Tòa án bên cạnh thẩm quyền chấm dứt hợp đồng thì còn có quyền điều chỉnh nội dung hợp đồng nhằm đảm bảo sự công bằng cho các bên tham gia khi hoàn cảnh thực hiện có sự đổi thay căn bản.

Phải đánh giá đây là một sự thay đổi tiến bộ trong quá trình lập pháp của nước ta, thể hiện một tư duy mới về hợp đồng, rằng hợp đồng không thể “đóng kín và đầy đủ” [8] mà “hợp đồng suy cho cùng là một công cụ để phản ánh ý chí của các bên trong việc ứng xử đối với môi trường kinh doanh luôn đổi thay” [8]. Khi môi trường thực hiện hợp đồng thay đổi, nội dung trong hợp đồng không còn phù hợp, không phản ánh đúng ý chí của các bên tham gia giao kết; khi những rủi ro từ môi trường kinh doanh gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng đến một hoặc các bên tham gia giao kết thì việc các bên ngồi lại, cùng đàm phán tìm ra giải pháp để giải quyết khắc phục, ngăn chặn thiệt hại là yêu cầu cần thiết.

Mặc dù trước đây, pháp luật Việt Nam có quy định về ngoại lệ ứng xử của các bên khi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng có sự thay đổi nhưng điều khoản về “thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” cho đến bộ luật dân sự năm 2015 mới được ghi nhận để áp dụng chung cho mọi loại hợp đồng. Tuy nhiên, cách quy định của bộ luật dân sự hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, mâu thuẫn với một số văn bản pháp luật khác và thậm chí là mâu thuẫn với quy định khác trong chính bộ luật dân sự. Cùng với đó, trước khi bộ luật dân sự năm 2015 ra đời, một số văn bản pháp luật chuyên ngành khác đã khá tiến bộ khi đưa nội dung về điều chỉnh hợp đồng khi xuất hiện những yếu tố khách quan tác động đến việc thực hiện hợp đồng. Nhưng đến nay, khi điều khoản về “thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” đã được ghi nhận trong bộ luật dân sự (vốn được coi là luật chung của hệ thống luật tư) thì những quy định đó có nhiều điểm không tương thích, không phù hợp. Đồng thời, do đây là quy định mới nên mức độ nhận thức, hiểu biết của người dân, doanh nghiệp chưa cao, kinh nghiệm của Tòa án trong việc giải quyết vụ việc liên quan cũng chưa nhiều khiến việc áp dụng quy định này chưa thật sự hiệu quả, và đạt được đúng, đủ ý nghĩa, vai trò của nó.

Bởi vậy, việc nghiên cứu quy định này là một vấn đề cấp bách và cần thiết, để một mặt giúp cá nhân, doanh nghiệp có thể tìm hiểu kỹ hơn về quy định mới này, từ đó có thể áp dụng trong thực tế giao dịch, kinh doanh, mặt khác có thể tìm ra những tồn tại, hạn chế có thể xuất hiện trong thực tiễn áp dụng pháp luật sau này. Trên cơ sở phân tích những vấn đề cấp thiết trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” cho luận văn thạc sĩ luật học của mình, góp phần bổ sung kiến thức lý luận và thực tiễn, hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam về vấn đề này.

1.2. Tình hình nghiên cứu đề tài Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản không còn mới mẻ với pháp luật của nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, đến khi bộ luật dân sự năm 2015 được soạn thảo và ban hành, quy định này mới được công nhận một cách chính thức. Bởi vậy, tại thời điểm bộ luật dân sự năm 2015 được soạn thảo, trưng cầu ý kiến, và thời điểm sau khi bộ luật này có hiệu lực thi hành, có tương đối nhiều các bài nghiên cứu dưới mức độ và phạm vi khác nhau.

Dưới cấp độ bài nghiên cứu, tạp chí, có thể kể đến các bài nghiên cứu sau đây: bài “Điều khoản điều chỉnh hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi trong pháp luật nước ngoài và kinh nghiệm cho Việt Nam” của tác giả Lê Minh Hùng trong Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 6 tháng 3/2009; bài “Mối liên hệ giữa thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản với giao dịch bảo đảm” của tác giả Nguyễn Văn Duy trong tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số chuyên đề 5/2017; bài “Đề xuất diễn giải và áp dụng điều 420 bộ luật dân sự 2015 về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” của TS. Nguyễn Thị Minh Hằng và ThS Trần Thị Giang Thu được đăng tải trên website https://thongtinphapluatdansu, bài “Điều khoản “harship” trong thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế” của tác giả Trần Thanh Tâm và Nguyễn Minh Hiển được đăng tải trên website https://thongtinphapluatdansu, bài “Một số vấn đề về thực hiện hợp đồng khi có hoàn cảnh thay đổi quy định trong bộ luật dân sự 2015 dưới góc nhìn so sánh với pháp luật quốc tế” của Ths Lê Đinh Bảo Trâm được đăng tải trên website http://tkshcm.eu.v ngày 20/09/2017, bài “Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” của Ngô Thu Trang, Nguyễn Thế Đức Tâm được đăng tải trên website https://rule.v, bài “Mối liên hệ giữa thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản với giao dịch bảo đảm” của Ths Nguyễn Văn Huy được đăng tải trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật điện tử (website www.tcdcpl.moj.gv.v), bài “Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi trong bộ luật dân sự 2015” của TS Dương Quỳnh Hoa được đăng tải trên Tạp chí Luật sư Việt Nam số 9/2016, bài “Một số bình luận về Điều 420 bộ luật dân sự năm 2015: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” của Đàm Thị Diễm Hạnh, Lê Thị Kim Oanh được đăng tải trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 7/2018…

Dưới cấp độ luận văn, luận án, hiện nay mới có luận văn thạc sĩ “Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” của Thái Thị Hải Yến, được nghiên cứu tại trường Đại học Luật Hà Nội.

Tuy nhiên, dưới dạng bài nghiên cứu, tạp chí, các bài viết trên cũng chỉ mang tính khái quát, sơ lược giới thiệu quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Dưới cấp độ luận văn, số lượng luận văn nghiên cứu nội dung này còn hạn chế, do vậy cũng chưa đủ để làm rõ, đầy đủ được những điểm hợp lý và những tồn tại của điều khoản này.

Trên thế giới, đây là đề tài được khá nhiều học giả quan tâm, là chủ đề hấp dẫn, tạo ra nhiều tranh luận giữa các học giả từ hơn 200 năm trước. Dưới dạng bài nghiên cứu, có thể kể đến bài “The effect of change in circumstances on the performance of contract” của Egidijus Baranauskas and Paulius Zapolskis, viết năm 2009 tại trường Đại học Wroclaw, bài “Force Majeur and Hardship International Sales Contract” của Ingeborg Schwenzer tại Trường Đại học Basel, Sưitzerland. Dưới dạng sách, có thể kể đến cuốn “Force Majeur and Hardship under General Contract Principles: Exemption for Non-Perforrmance in International Arbitration” của Christoph Bunne, Nhà xuất bản Wolters Kluwer law&Business. Đặc biệt, một trong những tác phẩm được đánh giá là chi tiết, dễ hiểu, dễ tiếp cận để tham khảo có thể được kể đến là cuốn sách “The effect of change of circumtances on the binding force of contracts – Comparative perspectives”, độ dày khoản 300 trang của nhà nghiên cứu người Chi Lê Rodrigo Momberg Uribe phát hành năm 2011 [1]…

Tuy nhiên, phần lớn các tài liệu về “thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” trên thế giới chưa được dịch ra tiếng Việt, do vậy sẽ hạn chế số người tiếp cận những tài liệu này để tìm hiểu, nghiên cứu và áp dụng quy định pháp luật.

2. Phạm vi và mục đích nghiên cứu Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

2.1. Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu mà luận văn hướng tới là một số vấn đề lý luận chung về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, pháp luật thực định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản và phương hướng hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi.

  • Phạm vi nghiên cứu:

trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả nghiên cứu quy định về quy định thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Trong đó, tập trung làm rõ các nội dung sau:

  • Lý luận chung về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản: bao gồm định nghĩa thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, ý nghĩa, nguyên tắc của quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản;
  • Quy định pháp luật hiện hành về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản: Điều kiện để công nhận hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi cơ bản và cơ chế để thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản;
  • Dựa trên cơ sở lý luận và pháp luật thực định đã phân tích, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật.

2.2. Về mục đích nghiên cứu

Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản có ý nghĩa quan trọng nhằm duy trì hiệu lực của hợp đồng, đảm bảo công bằng giữa các bên khi tham gia giao dịch. Tuy nhiên, đây là quy định còn khá mới mẻ, chưa nhiều cá nhân, doanh nghiệp biết đến. Bởi vậy, thông qua việc nghiên cứu trong phạm vi đã được nêu trên, tác giả mong muốn cung cấp cho người đọc hiểu biết cơ bản về cơ sở lý luận, ý nghĩa của quy định thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản; Hiểu rõ về quy định này trên cơ sở phân tích, đánh giá, so sánh với quy định của một số nước trên thế giới. Đồng thời, dựa trên những đánh giá đó, đưa ra được những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

  • Để có thể đạt được mục đích đề ra, khi nghiên cứu đề tài, tác giả đã đặt ra những nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, cung cấp những lý luận cơ bản về quy định thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản; Lý giải vì sao quy định này là quan trọng, cần thiết trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp đồng.

Thứ hai, đề tài khái quát, phân tích, bình luận về quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản được quy định trong bộ luật dân sự năm 2015. Đồng thời, có đối chiếu, so sánh với pháp luật của một số nước trên thế giới. Từ đó, đánh giá những thành tựu, hạn chế của quy định này trong thực tiễn thực thi.

Thứ ba, từ những phân tích mặt tích cực và hạn chế, đề xuất những kiến nghị để hoàn thiện quy định pháp luật.

4. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Với đối tượng, phạm vi nghiên cứu là quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, để đạt được mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu trên, luận văn đã được sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

  • Phương pháp phân tích, phương pháp diễn giải: Phương pháp này được áp dụng để để giải thích, lảm rõ quy định của pháp luật hiện hành về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi;
  • Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh: Được sử dụng để đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ, quy định của pháp luật Việt Nam với thế giới;
  • Phương pháp quy nạp: Được dùng để đưa ra những nhận định, đánh giá sau khi đã phân tích, làm rõ các vấn đề pháp lý đã đề ra.

Việc sử dụng kết hợp các phương pháp này giúp đề tài được xem xét từ nhiều góc độ, phương diện khác nhau, trên cơ sở đó có cách nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện và sâu sắc.

5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn là kết quả của quá trình nghiên cứu công phu của tác giả, dựa trên cơ sở phân tích lý luận, pháp luật thực định, thực tiễn thực thi pháp luật. Cụ thể: Làm sáng tỏ phương diện lý luận về quy định thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, làm rõ được những nội dung của pháp luật hiện hành, và đưa ra được những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật.

Do vậy, luận văn một mặt có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo hữu ích để người dân, doanh nghiệp muốn tìm hiểu về quy định pháp luật hiện hành, hay cho sinh viên, giảng viên, những người nghiên cứu chuyên sâu… khi thực hiện nghiên cứu về đề tài liên quan. Mặt khác, luận văn cũng là một cơ sở để các cơ quan chức năng, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình tham khảo để bổ sung, hoàn thiện quy định pháp luật.

6. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài nghiên cứu gồm ba chương:

  • Chương 1: Lý luận chung về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
  • Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
  • Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG KHI HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN

1.1. Hợp đồng, đặc điểm của hợp đồng

1.1.1. Định nghĩa hợp đồng

Cùng với sự phát triển của xã hội, con người càng có nhiều hơn nhu cầu về sinh hoạt và sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, bản thân họ không thể tự mình thực hiện, đáp ứng đầy đủ các nhu cầu ấy. Do vậy, việc hợp tác, hỗ trợ, trao đổi lẫn nhau về tài sản, hàng hóa hay thực hiện công việc là yêu cầu tất yếu để mỗi cá nhân, tổ chức đáp ứng nhu cầu tồn tại, phát triển của chính mình. Để thực hiện điều này, các bên thiết lập với nhau các cam kết, khế ước, thỏa thuận, hay nói cách khác là các hợp đồng. “Hợp đồng cho phép con người gánh chịu những trách nhiệm và sự tận tụy trên cơ sở có đi có lại, đưa ra những lời hứa mà người khác có thể tin tưởng, loại bỏ một số thứ không chắc chắn, và tạo lập những ước vọng hợp lý cho các công việc trong tương lai” [2].

Có nhiều thuật ngữ khác nhau được dùng để chỉ về hợp đồng như cam kết, khế ước, giao kèo hay luật riêng của các bên … Là một trong những nội dung nền tảng của luật dân sự, được hình thành từ rất sớm, định nghĩa về hợp đồng cũng dần được hoàn thiện. Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Theo bộ luật dân sự Bắc kỳ năm 1931, “Khế ước là một hiệp ước của một người hay nhiều người cam đoan với một hay nhiều người khác để tặng cho để làm hay không làm cái gì” (Điều 644). bộ luật dân sự Trung kỳ năm 1936 định nghĩa “Khế ước là hiệp ước của một hay nhiều người cam đoan với một hay nhiều người khác để chuyển giao, làm hay không làm cái gì” (Điều 680). Phần nào thừa kế, phát triển định nghĩa trên, Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 quy định “Hợp đồng dây sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng, cho tài sản, làm một việc hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng”. Như vậy, so với bộ luật dân sự Bắc kỳ và bộ luật dân sự Trung kỳ nêu trên thì cách định nghĩa của Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 khái quát, đầy đủ hơn về mặt chủ thể tham gia hợp đồng, đồng thời cũng liệt kê cụ thể hơn các giao dịch, thỏa thuận giữa các bên khi tham gia giao kết. Tuy nhiên, cách liệt kê của Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 như trên sẽ dẫn đến trường hợp không thể “quét” được hết các giao dịch, tình huống phát sinh trên thực tế, từ đó có thể gây khó khăn cho các chủ thể áp dụng, thực hiện pháp luật.

Khắc phục nhược điểm này, bộ luật dân sự 2005, tiếp đến là bộ luật dân sự 2015 đã định nghĩa lại một cách đầy đủ hơn, nhưng ngắn gọn hơn, tập trung vào các đặc điểm, bản chất pháp lý của hợp đồng, cụ thể: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” (Điều 388, bộ luật dân sự 2005), hay “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” (BLDS 2015).

Như vậy, dù cách định nghĩa có sự thay đổi qua các thời kỳ thì hợp đồng luôn được xác định qua hai yếu tố cơ bản: 1 – sự trao đổi, thống nhất ý chí và 2 – tạo ra một hậu quả pháp lý. Trong đó, thống nhất ý chí là thống nhất trong mỗi chủ thể (giữa ý chí, mong muốn nội tại và hành động được thể hiện qua việc thỏa thuận đàm phán hợp đồng); và thống nhất ý chí giữa các bên tham gia giao kết. Hậu quả pháp lý chính là việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

Pháp luật dân sự nói chung và pháp luật về hợp đồng của các nước nói riêng đều tôn trọng, đề cao sự tự do ý chí của các chủ thể tham gia hợp đồng. Điều đó có nghĩa, các bên có thể tự do lựa chọn đối tác tham gia hợp đồng, đối tượng của hợp đồng, và tự thỏa thuận về nội dung của hợp đồng. Quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng – hậu quả pháp lý sau khi ký kết hợp đồng là do các bên cùng thỏa thuận, xây dựng nên. Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, để bảo đảm trật tự xã hội, bảo vệ quyền của các bên yếu thế hơn, đảm bảo lợi ích công cộng và thực hiện mục tiêu phát triển xã hội, nhà nước hạn chế tự do ý chí của các bên tham gia hợp đồng bằng cách can thiệp vào việc giao kết, thực hiện hợp đồng. Sự hạn chế này được biểu hiện ở những khía cạnh sau:

  • Một là nhà nước hạn chế tự do lựa chọn đối tác ký kết hợp đồng.

Một trong những biểu hiện của tự do ý chí là mỗi bên được tự do lựa chọn người ký kết hợp đồng với mình. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, pháp luật hạn chế việc lựa chọn người giao kết hợp đồng hoặc phải ưu tiên giao kết hợp đồng với một số người nhất định. Tại Khoản 1 Điều 127 Luật Nhà ở năm 2014 quy định:

Trường hợp chủ sở hữu bán nhà ở đang cho thuê thì phải thông báo bằng văn bản cho bên thuê nhà ở biết về việc bán và các điều kiện bán nhà ở; bên thuê nhà ở được quyền ưu tiên mua nếu đã thanh toán đầy đủ tiền thuê nhà cho bên cho thuê tính đến thời điểm bên cho thuê có thông báo về việc bán nhà cho thuê, trừ trường hợp nhà ở thuộc sở hữu chung; trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bên thuê nhà ở nhận được thông báo mà không mua thì chủ sở hữu nhà ở được quyền bán nhà ở đó cho người khác, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác về thời hạn.

Quy định này hạn chế quyền tự do lựa chọn người giao kết hợp đồng của chủ sở hữu nhà, buộc chủ sở hữu có nghĩa vụ ưu tiên bán nhà cho người đang thuê nhà, trường hợp người thuê không mua nhà thì chủ sở hữu mới được bán nhà cho người khác.

Bên cạnh việc hạn chế tự do giao kết hợp đồng, pháp luật còn có những quy định nhằm hạn chế tự do không giao kết hợp đồng. Điều này có thể thấy ở nhiều lĩnh vực, nhưng nhiều nhất có thể thấy là trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ công cộng. “Đối với người cung cấp dịch vụ công cộng không được từ chối giao kết hợp đồng nếu còn khả năng cung cấp dich vụ và phải mở ra cho tất cả mọi người đều có cơ hội như nhau trong việc mua và sử dụng dịch vụ. Người giao kết hợp đồng không được từ chối giao kết hợp đồng vì lý do sắc tộc, tôn giáo hay quốc tịch…” [9]

  • Hai là nhà nước hạn chế tự do ấn định nội dung hợp đồng.

Khi giao kết hợp đồng, mặc dù các bên có quyền tự do thỏa thuận các nội dung hợp đồng nhưng sự tự do này vẫn phải nằm trong khuôn khổ pháp luật và đạo đức xã hội. Mọi thỏa thuận trái với pháp luật và đạo đức đều không có hiệu lực thi hành.

Bên cạnh đó, về nguyên tắc các bên tham gia hợp đồng đều tự nguyện, bình đẳng. Tuy nhiên, trong thực tế, có rất nhiều trường hợp một bên trong hợp đồng yếu thế hơn nhiều so với bên còn lại về kinh tế, về cơ hội lựa chọn đối tác ký kết…, nên họ buộc phải chấp thuận những hợp đồng mẫu hoặc những điều khoản bất lợi được đưa ra bởi bên có lợi thế hơn. Bởi vậy, để bảo vệ quyền lợi của bên yếu thế hơn, pháp luật đưa ra những giới hạn cơ bản buộc các bên phải tuân thủ khi giao kết. Nội dung nào của hợp đồng trái với những nội dung bắt buộc này của pháp luật thì không có hiệu lực. Ví dụ, tại Điều 31 Luật Điện lực năm 2004 quy định về giá điện và các loại phí thì: Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

  1. Biểu giá bán lẻ điện do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Cơ quan điều tiết điện lực giúp Bộ trưởng Bộ Công nghiệp xây dựng biểu giá bán lẻ điện trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
  2. Khung giá phát điện, bán buôn điện và các loại phí truyền tải điện, phân phối điện, điều độ hệ thống điện, điều hành giao dịch thị trường điện lực, các phí dịch vụ phụ trợ do đơn vị điện lực có liên quan xây dựng, cơ quan điều tiết điện lực thẩm định trình Bộ trưởng Bộ Công nghiệp phê duyệt.
  3. Giá phát điện, giá bán buôn điện, giá bán lẻ điện theo hợp đồng mua bán điện có thời hạn do các đơn vị điện lực quyết định nhưng không được vượt quá khung giá, biểu giá đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
  4. Giá mua bán điện giao ngay được hình thành theo thời điểm giao dịch trên thị trường điện lực và do đơn vị điều hành giao dịch thị trường điện lực công bố phù hợp với quy định tại điểm e và điểm h khoản 1 Điều 21 của Luật này.

Như vậy, mặc dù hợp đồng cung ứng điện được giao kết giữa khách hàng sử dụng điện, hoặc đơn vị bán buôn, bán lẻ điện, đơn vị phát điện với đơn vị điện lực nhưng giá điện bán buôn, giá điện bán lẻ, giá phát điện không phải do các bên tùy ý thỏa thuận mà buộc phải tuân theo biểu giá điện đã được phê duyệt bởi cơ quan có thẩm quyền. Điều này là hợp lý, bởi lẽ điện năng là sản phẩm có vai trò quan trọng đối với sinh hoạt, sản xuất trên cả nước, sản xuất điện là một ngành kinh doanh độc quyền. Nếu như giá điện được “thả trôi”, không có sự kiểm soát của nhà nước thì sẽ dẫn đến việc đơn vị điện lực tăng giá tùy ý, làm “lũng đoạn” thị trường điện năng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống sản xuất và sinh hoạt trong nước.

1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng

Hợp đồng có những đặc điểm cơ bản sau:

  • Thứ nhất, về chủ thể của hợp đồng.

Hợp đồng chỉ được hình thành khi có sự tham gia của hai hay nhiều bên. Nếu như trong hành vi pháp lý đơn phương chỉ cần một chủ thể thể hiện ý chí của mình cũng có thể làm phát sinh hậu quả pháp lý thì hợp đồng chỉ được hình thành khi có sự gặp gỡ ý chí của hai hay nhiều bên. “Sự gặp gỡ này được xét tới ở hai thành tố là “đề nghị” và “chấp thuận” [2]. Nếu như một bên đề nghị nhưng không được bên kia chấp thuận thì hợp đồng không thể được xác lập.

Theo quy định của bộ luật dân sự năm 2015 thì các bên tham gia hợp đồng chỉ có thể là cá nhân hoặc pháp nhân. Trong khi đó, tại bộ luật dân sự năm 2005, chủ thể tham gia hợp đồng có thể là cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác – không có tư cách pháp nhân như tổ hợp tác, hộ gia đình… Như vậy, so với quy định tại bộ luật dân sự năm 2005 thì chủ thể tham gia hợp đồng theo bộ luật dân sự năm 2015 có sự thu hẹp lại. Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Tuy nhiên, không phải cho đến bộ luật dân sự năm 2015, chủ thể tham gia hợp đồng mới thu hẹp như vậy. Dù được sử dụng bằng các thuật ngữ pháp lý khác nhau nhưng chủ thể tham gia hợp đồng trong bộ luật dân sự Bắc Kỳ, bộ luật dân sự Nam Kỳ và Pháp lệnh hợp đồng dân sự cũng chỉ bao gồm cá nhân và pháp nhân.

Tuy vậy, điều kiện để một tổ chức được coi là pháp nhân và năng lực tham gia giao kết khế ước, giao kết hợp đồng của cá nhân có sự thay đổi qua từng thời kỳ. Về năng lực giao kết khế ước, bộ luật dân sự Bắc Kỳ quy định: “phàm người vị thành niên chưa được thoát quyền thì không có tư cách quản trị tài sản cùng tự do tự xử về mình”. Như vậy, theo pháp luật thời kỳ này, một người chỉ được tự do tham gia giao dịch dân sự khi người này đủ hai mốt tuổi (Điều 221 bộ luật dân sự Bắc Kỳ) và được “thoát quyền”. Trong đó, được coi là được thoát quyền khi đã “giá thú” và có nhà ở riêng khác nhà cha mẹ, hoặc khi đã đủ mười tám tuổi và được cha, mẹ cho phép “thoát quyền”. Đến Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991, quyền tự do của con người được đảm bảo hơn. Điều 3 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế quy định;

  • Cá nhân từ đủ mười tám tuổi trở lên, có khả năng nhận thức, thực hiện quyền, nghĩa vụ hợp đồng và tự chịu trách nhiệm về việc thực hiện nghĩa vụ đó, thì có quyền giao kết hợp đồng dân sự.
  • Cá nhân dưới mười tám tuổi được giao kết hợp đồng dân sự, nếu được cha, mẹ hoặc người đỡ đầu đồng ý, trừ hợp đồng có giá trị nhỏ phục vụ nhu cầu thiết yếu hàng ngày.
  • Cá nhân từ đủ mười sáu tuổi đến dưới mười tám tuổi được giao kết hợp đồng dân sự, nếu họ có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thanh toán, trừ trường hợp pháp luật quy định phải từ đủ mười tám tuổi trở lên.

Đến bộ luật dân sự năm 2015, năng lực hành vi dân sự của cá nhân được quy định tại Điều 21 như sau:

  1. Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi.
  2. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.
  3. Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.
  4. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý. Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Như vậy có thể thấy, qua các thời kỳ, pháp luật càng mở rộng hơn quyền tự do cá nhân, đảm bảo tốt hơn quyền tự do tham gia hợp đồng của mỗi cá nhân, phù hợp với năng lực nhận thức và điều chỉnh hành vi của chủ thể.

  • Thứ hai, về ý chí của các bên trong hợp đồng

Một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là “cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng” (Khoản 2 Điều 3 bộ luật dân sự 2015). Là một trong những chế định đặc thù của luật dân sự, các quy định về hợp đồng cũng không nằm ngoài nguyên tắc trên.

Hợp đồng là “một thỏa thuận”, có nghĩa nó phải chứa đựng yếu tố tự nguyện. Trong thực tiễn xã hội, mỗi bên chủ thể tham gia giao kết hợp đồng thường để theo đuổi những mục đích, lợi ích riêng của mình. Và thực chất, quá trình đàm phán, thương thảo hợp đồng là quá trình các bên trao đổi các mong muốn, mục đích của mình với đối tác, từ đó, hai bên thống nhất, tìm ra được tiếng nói chung, hợp tác vì lợi ích chung. Quá trình giao kết này, các bên phải tuân theo các nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng, tự do, nhưng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội. Hợp đồng chính là kết quả của quá trình giao kết đó, là sự tuyên bố và thống nhất ý của các chủ thể nhằm phát sinh một hậu quả pháp lý nhất định.

  • Thứ ba, hậu quả pháp lý của hợp đồng.

Hợp đồng được ví như “luật giữa các bên”. Tức khi tham gia hợp đồng, các bên đã thỏa thuận, thiết lập các quyền và nghĩa vụ của mình thông qua các điều khoản của hợp đồng. Các điều khoản này có thể là điều khoản cơ bản, điều khoản thông thường hoặc điều khoản tùy nghi. Điều khoản cơ bản là điều khoản xác định quyền, nghĩa vụ cơ bản của mỗi bên, nếu không thỏa thuận được những điều khoản này thì hợp đồng không thể giao kết được. Điều khoản thông thường là những điều khoản mà nội dung đã được xác định trong văn bản pháp luật. Nếu như các bên không thỏa thuận những điều khoản này thì được coi là các bên đồng ý thực hiện những nội dung pháp luật đã quy định. Điều khoản tùy nghi là các điều khoản mà các bên tham gia giao kết đồng ý lựa chọn và thỏa thuận với nhau để xác định cụ thể hơn về quyền và nghĩa vụ. Điều này có nghĩa hợp đồng chính là cơ sở xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên, các quyền và nghĩa vụ này được đảm bảo thực hiện bởi pháp luật. Trường hợp không thực hiện, hoặc thực hiện không đúng hợp đồng thì theo yêu cầu của một bên, cơ quan có thẩm quyền có thể buộc bên vi phạm thực hiện chế tài theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

Trên thực tế, chúng ta thường đưa ra rất nhiều cam kết. Tuy nhiên, không phải cam kết nào cũng được coi là hợp đồng, chỉ những cam kết, những thỏa thuận làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự, được pháp luật bảo đảm thực hiện thì mới được coi là hợp đồng.

1.2. Thực hiện hợp đồng Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

1.2.1. Thực hiện hợp đồng, các nguyên tắc thực hiện hợp đồng

Hiện nay, bộ luật dân sự không có định nghĩa thế nào là thực hiện hợp đồng, mà chỉ nêu ra các yêu cầu của việc thực hiện đối với từng loại hợp đồng cụ thể.

Tại Luận văn thạc sĩ “Thực hiện hợp đồng dân sự – những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Thạc sĩ Thái Thị Hải Yến quan điểm “Thực hiện hợp đồng dân sự là bên có nghĩa vụ trong hợp đồng phải làm hoặc không được làm một công việc theo một thời hạn nhất định đã được xác định trong nội dung của hợp đồng dân sự, qua đó thỏa mãn quyền dân sự tương ứng của bên kia”. Như vậy, theo quan điểm này, thực hiện hợp đồng được hiểu tương đương với việc thực hiện các nghĩa vụ đã được hai bên thỏa thuận, và chỉ trọng tâm chú ý đến hành vi của bên có nghĩa vụ – một bên trong quan hệ hợp đồng.

Trong khi đó, đối chiếu quy định tại Điều 274 bộ luật dân sự năm 2015 thì “nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)”. Và hợp đồng chỉ là một trong những căn cứ phát sinh nghĩa vụ (Khoản 1 Điều 275 bộ luật dân sự năm 2015). Ngoài hợp đồng, nghĩa vụ còn có thể phát sinh từ các nguồn gốc khác mà không phải là từ sự thỏa thuận của các bên như hành vi pháp lý đơn phương, thực hiện công việc không có ủy quyền, chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật… Một cách khái quan, có thể thấy nguồn hình thành nghĩa vụ bao gồm: hành vi pháp lý (hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương) và sự kiện pháp lý [2]. Như vậy, có thể hiểu, thực hiện nghĩa vụ là bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng các yêu cầu của bên có quyền theo nội dung đã thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Hay như cách định nghĩa của PGS.TS Ngô Huy Cương thì “có thể hiểu một cách đơn giản, thực hiện nghĩa vụ là việc người thụ trái làm thỏa mãn các yêu cầu của trái chủ trong một quan hệ nghĩa vụ xác định với một hoặc nhiều đối tượng nào đó theo đúng sự thỏa thuận hoặc quy định của pháp luật”. Trong đó, trái chủ là bên có quyền, người thụ trái là bên có nghĩa vụ.

Trong khi đó, trong hợp đồng, các bên thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên. Quyền của bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên kia, như trong hợp đồng mua bán hàng hóa, bên mua có quyền nhận hàng, bên bán có nghĩa vụ giao hàng. Do vậy, việc thực hiện hợp đồng phải được hiểu là việc các chủ thể tham gia hợp đồng làm cho các điều khoản trong hợp đồng trở thành hiện thực. Tức, bên có quyền được quyền đưa ra yêu cầu đối với bên có nghĩa vụ, và được thực hiện các công việc trong phạm vi đã thỏa thuận; Bên có nghĩa vụ sẽ phải thực hiện các công việc như đã thỏa thuận trong hợp đồng.

Theo Từ điển luật học của Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, “thực hiện hợp đồng là những hành vi của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng nhằm làm cho các điều khoản, nội dung đã cam kết trong hợp đồng trở thành hiện thực”. Như vậy, việc thực hiện hợp đồng phải được hiểu là thực hiện các quyền (những việc được làm) và nghĩa vụ (những việc buộc phải làm) đã được các bên thỏa thuận trong hợp đồng, hoặc theo quy định của pháp luật.

1.2.2. Nguyên tắc thực hiện hợp đồng Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Hiện nay, bộ luật dân sự 2015 không có quy định riêng về nguyên tắc thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, là một trong những chế định quan trọng của luật dân sự, việc thực hiện hợp đồng cũng tuân theo những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự sau đây:

  • Thứ nhất, nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử

Bình đẳng, không phân biệt đối xử là nguyên tắc đặc thù của quan hệ pháp luật dân sự nói chung và quan hệ hợp đồng nói riêng, cụ thể hóa quan điểm của nhà nước ta về quyền con người, quyền tự do của công dân trên mọi mặt của đời sống, xã hội. Tại Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định “ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”.

Khi tham gia quan hệ dân sự nói chung và quan hệ hợp đồng nói riêng, các bên không phân biệt giới tính, tuổi tác, tôn giáo, địa vị xã hội, năng lực kinh tế… trong việc lựa chọn, quyết định tham gia hợp đồng, thỏa thuận các nội dung trong hợp đồng và thực hiện hợp đồng. “Bình đẳng và không phân biệt đối xử có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo đảm công bằng xã hội, hạn chế đặc quyền, đặc lợi hoặc cạnh tranh không lành mạnh khi lợi dụng sự yếu thế về kinh tế” [3]. Một hợp đồng không bảo đảm yếu tố bình đẳng có thể bị tuyên bố vô hiệu.

  • Thứ hai, nguyên tắc thực hiện thiện chí, trung thực

Khi tham gia hợp đồng, các bên đều mong muốn đạt được một lợi ích vật chất, tinh thần nào đó. Tuy nhiên, quan hệ hợp đồng là quan hệ pháp luật tương đối, tức quyền, lợi ích của bên này chỉ có thể đạt được nếu như bên kia thực hiện nghĩa vụ của mình. Do vậy, để quyền và lợi ích của mỗi bên được đảm bảo, không cách nào khác, mỗi bên trong hợp đồng đều phải có thái độ thiện chí, trung thực khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.

Sự thiện chí, trung thực phải được thể hiện ngay từ khi các bên chuẩn bị ký kết, xác lập hợp đồng. Các bên phải cho bên kia biết các thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng như tình trạng của đối tượng hợp đồng, khả năng thực hiện hợp đồng của bản thân… Đây chính là biểu hiện của thái độ trung thực. Trường hợp một bên cung cấp thông tin không trung thực dẫn đến bên kia chấp thuận hợp đồng thì hợp đồng có thể vô hiệu do lừa dối. Đồng thời, nếu một bên biết được những thông tin bí mật của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin và không được sử dụng cho mục đích riêng. Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, mỗi bên không chỉ quan tâm đến lợi ích của mình mà còn phải quan tâm, tôn trọng đến quyền, lợi ích của đối tác. Mỗi bên phải căn cứ vào điều kiện hoàn cảnh, khả năng của mình để thực hiện nghĩa vụ một cách mẫn cán, trung thực, đồng thời, phải hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau để xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ từ đó đạt được mục đích chung của hợp đồng.

Nếu như việc ký kết hợp đồng mang tính chất thời điểm thì việc thực hiện hợp đồng lại là một quá trình. Trong thời gian thực hiện hợp đồng, rất nhiều yếu tố khách quan có thể xuất hiện, gây trở ngại cho các bên, đặc biệt là đối với các hợp đồng dài hạn hay các hợp đồng trong lĩnh vực có độ rủi ro cao. Trong trường hợp này, các bên tham gia hợp đồng phải cùng nhau bàn bạc, tìm cách khắc phục trên tinh thần hợp tác, từ đó tìm mọi biện pháp cần thiết để thực hiện các cam kết, thỏa thuận và hạn chế các thiệt hại gây ra cho nhau. Bên có quyền không được lợi dụng tình thế bất lợi của bên có nghĩa vụ để trục lợi cho mình, đồng thời phải tạo điều kiện thuận lợi để người đó vượt qua được khó khăn, thực hiện được đầy đủ và nghiêm chỉnh các nghĩa vụ của mình. Bên có nghĩa vụ cũng không được ỷ lại vào những khó khăn khách quan, lấy đó làm nguyên cớ để không thực hiện nghĩa vụ mà phải thi hành các biện pháp trong khả năng cho phép để khắc phục những khó khăn khách quan đó.

  • Thứ ba, nguyên tắc thực hiện đúng hợp đồng

Như đã nói, hợp đồng được ví như “luật giữa các bên”, điều này có nghĩa một hợp đồng với các thỏa thuận hợp pháp sẽ được ràng buộc thực hiện bởi chính các bên tham gia hợp đồng và bởi pháp luật. Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia, Nhà nước có những cơ chế đảm bảo tính an toàn và tính thực thi của các giao dịch hợp pháp đó. Trường hợp một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng, từ đó gây ra tranh chấp thì bên đó có thể phải chịu các chế tài do bên bị vi phạm đưa ra hoặc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng theo quy định pháp luật. Bởi thế ngay từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải có nghĩa vụ thực hiện đúng hợp đồng.

Thực hiện đúng hợp đồng được hiểu là bên có nghĩa vụ phải thực hiện một cách đầy đủ, toàn bộ nội dung của hợp đồng. Tùy từng loại hợp đồng mà các bên đưa ra những thỏa thuận khác nhau phù hợp với mục đích của hợp đồng, nhưng thông thường, các bên có những thỏa thuận cơ bản sau đây:

  • Một là, đối tượng của hợp đồng

Đối tượng của hợp đồng là tài sản, hàng hóa hoặc công việc mà các bên tham gia hợp đồng tác động tới để đạt được mục đích của mình như vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản hay một công việc. Ví dụ 1: Trong hợp đồng mua bán xe máy, đối tượng hợp đồng là xe máy. Bên bán muốn chuyển quyền sở hữu xe để thu lại lợi nhuận, còn bên mua muốn được sở hữu xe máy đó. Ví dụ 2: Trong hợp đồng tư vấn pháp luật, Công ty A muốn Công ty luật B tư vấn cho mình về trình tự, thủ tục đăng ký đầu tư ra nước ngoài. Trong trường hợp này, đối tượng hợp đồng chính là dịch vụ tư vấn trình tự, thủ tục đăng ký đầu tư ra nước ngoài của Công ty luật B. Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Để các bên có cơ sở thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, cũng như để hạn chế tranh chấp, các bên đều thỏa thuận cụ thể về đối tượng hợp đồng. Trường hợp đối tượng hợp đồng là hàng hóa, các bên cần thực hiện, giao dịch đúng hàng hóa với tên, loại, chất lượng, chủng loại, kích thức, nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa… như đã thỏa thuận. Đối với đối tượng hợp đồng là một công việc thì cũng thực hiện đúng loại công việc với cách thức thực hiện, chất lượng, thời hạn hoàn thành… đã xác định. Trường hợp các bên không thỏa thuận cụ thể về một tiêu chí của đối tượng hợp đồng thì việc thực hiện hợp đồng sẽ được tuân theo quy định của pháp luật. Ví dụ, về chất lượng của tài sản mua bán, Khoản 2 Điều 432 bộ luật dân sự quy định “trường hợp không có tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố, quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tiêu chuẩn ngành nghề thì chất lượng của tài sản mua bán được xác định theo tiêu chuẩn thông thường hoặc theo tiêu chuẩn riêng phù hợp với mục đích giao kết hợp đồng và theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”.

Trong trường hợp đối tượng của hợp đồng là tùy ý lựa chọn, các bên có thể lựa chọn một trong các đối tượng đã thỏa thuận để thực hiện quyền hay nghĩa vụ của mình. Ví dụ: A cho B vay 500.000 (năm trăm nghìn) đồng với thỏa thuận B phải trả A trong thời hạn 07 ngày hoặc sẽ phải cấy cho B 02 sào ruộng lúa. Như vậy, hết thời hạn 07 ngày, B có quyền lựa chọn trả lại A số tiền đã vay hoặc cấy lúa cho A.

Tuy nhiên, nếu đối tượng của hợp đồng là vật không được phép giao dịch, công việc không được phép thực hiện hoặc vật, công việc được giao dịch, thực hiện có điều kiện nhưng các bên chủ thể không đáp ứng được các điều kiện này thì hợp đồng đó vô hiệu. Trong trường hợp này, hợp đồng không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm được xác lập; các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

  • Hai là thực hiện đúng thời hạn

Thời hạn thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng là một thời điểm hay một khoảng thời gian nhất định mà trong thời điểm hoặc khoảng thời gian đó bên có nghĩa vụ phải hoàn thành nghĩa vụ của mình nhằm thỏa mãn lợi ích của bên có quyền. Thời hạn thực hiện nghĩa vụ có ý nghĩa quan trọng. Trong nhiều trường hợp, hợp đồng chỉ đáp ứng được quyền lợi cho các bên nếu nó được người có nghĩa vụ thực hiện đúng thời hạn. Đồng thời, thời hạn thực hiện nghĩa vụ còn là mốc thời gian để xác định thời hạn khởi kiện của các bên khi có tranh chấp về việc thực hiện nghĩa vụ. Ngoài ra, thông qua thời hạn thực hiện nghĩa vụ để xem xét hành vi vi phạm và xác định trách nhiệm dân sự đối với người vi phạm nghĩa vụ.

Tùy thuộc vào tính chất, nội dung của quan hệ nghĩa vụ cũng như điều kiện, hoàn cảnh của mình mà các bên có thể thỏa thuận về thời hạn thực hiện nghĩa vụ. Khi thời hạn đã xác định theo thỏa thuận thì các bên phải thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn đó. Tuy nhiên, trong trường hợp pháp luật quy định hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền ấn định khoảng thời gian này, các bên chủ thể sẽ phải thực hiện theo. VD: Theo Điểm a Khoản 2 Điều 85 Luật Nhà ở 2014 quy định việc bảo hành đối với nhà chung cư thì tối thiểu là 60 tháng kể từ khi hoàn thành việc xây dựng và nghiệm thu đưa vào sử dụng.

Trong trường hợp các bên không thỏa thuận về thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì bên có nghĩa vụ sẽ được thực hiện hợp đồng vào bất cứ lúc nào khi một trong hai bên có yêu cầu hoặc theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho các bên thực hiện nghĩa vụ thì các bên phải thông báo cho nhau biết trước một khoảng thời gian hợp lý. Ví dụ, đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi, việc thực hiện hợp đồng được Khoản 1 Điều 469 bộ luật dân sự năm 2015 quy định “Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Mặt khác điều kiện, nhu cầu, mục đích… của các bên trong hợp đồng có thể thay đổi trong suốt quãng thời gian thực hiện hợp đồng. Điều này có thể dẫn đến việc các bên sẽ mong muốn thực hiện hợp đồng với thời hạn thay đổi so với thỏa thuận trước đó như thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn hay hoãn thực hiện nghĩa vụ. Bất cứ sự thay đổi nào trong hợp đồng, trong đó có thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng đều có thể làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của các bên. Do vậy việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng trước thời hạn, hoặc hoãn thực hiện hợp đồng chỉ có thể coi là hợp lệ nếu bên có nghĩa vụ đưa ra đề nghị và được bên có quyền chấp thuận. Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

  • Ba là thực hiện đúng phương thức.

Phương thức là cách thức mà các bên thực hiện nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận hay theo quy định của pháp luật, như thực hiện nghĩa vụ một lần hay thực hiện từng phần, thực hiện tại một thời điểm cụ thể hay thực hiện theo định kỳ, thực hiện trực tiếp hay thông qua người thứ ba…

Cũng tương tự như các nội dung khác, phương thức thực hiện hợp đồng được các bên thỏa thuận. Trường hợp không thỏa thuận hoặc thỏa thuận trái quy định của pháp luật thì thỏa thuận đó vô hiệu, các bên phải thực hiện hợp đồng theo quy định của pháp luật.

Ví dụ: Công ty A ký hợp đồng mua 50 tấn gạo với Công ty B. Theo Hợp đồng thỏa thuận giữa hai bên thì giá trị hợp đồng là 50.000 (năm mươi nghìn) Đô la Mỹ, thanh toán 01 lần, qua tài khoản, bằng tiền Đô la Mỹ tại thời điểm Công ty B giao hàng và chứng từ hàng hóa đầy đủ cho Công ty A.

Theo quy định tại Điều 22 Pháp lệnh ngoại hối năm 2005, sửa đổi năm 2013 thì “trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các trường hợp được phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”. Như vậy, theo quy định này thì thỏa thuận áp giá và thanh toán bằng tiền Đô la Mỹ giữa Công ty A và Công ty B nói trên là trái pháp luật, do vậy, nội dung này vô hiệu. Để thực hiện hợp đồng, các bên sẽ phải thỏa thuận lại bằng cách quy đổi số tiền trên ra Đồng Việt Nam để áp giá và thanh toán.

  • Thứ tư, nguyên tắc không được xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân khác Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Khi giao kết hợp đồng, các bên có quyền tự do lựa chọn đối tác, lựa chọn đối tượng giao dịch, thỏa thuận quyền, nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng. Trong quá trình thực hiện, để đạt được mục đích chung, các bên phải chịu sự ràng buộc bởi các thỏa thuận đó. Tuy nhiên, mỗi cá nhân, tổ chức đều tồn tại trong lòng xã hội nên lợi ích của họ không được tách rời với lợi ích của cộng đồng, của xã hội. Chính bởi thế, dù các chủ thể hợp đồng có quyền tự do thỏa thuận, nhưng các thỏa thuận đó không được trái với pháp luật, xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, cộng đồng, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân khác. Việc thực hiện hợp đồng cũng phải đảm bảo nguyên tắc này, các bên được tự do thực hiện các thỏa thuận, cam kết của mình, nhưng chỉ được thực hiện trong phạm vi, giới hạn cho phép. Giới hạn đó chính là lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân khác. Các thỏa thuận dù đã được xác lập nhưng nếu xâm phạm đến các lợi ích hợp pháp khác cần bảo vệ thì các bên cũng không được phép thực hiện.

  • Thứ năm, nguyên tắc tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng

Mặc dù về nguyên tắc, các bên tham gia hợp đồng phải có nghĩa vụ thực hiện đúng, đủ các thỏa thuận giữa hai bên hoặc quy định của pháp luật. Tuy nhiên, thực tế không tránh khỏi trường hợp một bên vì lợi ích của mình mà cố ý không thực hiện, thực hiện không đúng hợp đồng, không đúng pháp luật. Do vậy, để nâng cao tinh thần tự giác của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng, hạn chế việc vi phạm hợp đồng, hạn chế, bù đắp tổn thất của bên bị vi phạm, pháp luật hợp đồng đề ra nguyên tắc tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng để ràng buộc trách nhiệm pháp lý của các bên khi tham gia hợp đồng.

Về nội dung, nguyên tắc này bao gồm ba nội dung chủ yếu: Thứ nhất, các bên phải nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ của mình. Nghĩa vụ này có thể là nghĩa vụ đã được thỏa thuận trong hợp đồng hoặc nghĩa vụ do pháp luật quy định nếu phát sinh những tình huống chưa được hợp đồng dự liệu hoặc có dự liệu nhưng không đúng pháp luật. Thứ hai, các bên phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình. Việc vi phạm nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân dẫn tới gây thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần cho bên kia, thì chính bản thân cá nhân, pháp nhân phải đứng ra gánh chịu trách nhiệm đối với sự vi phạm của mình. Thứ ba, nếu các bên không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình thì có thể bị cưỡng chế thực hiện theo quy định của pháp luật. Điều này thể hiện cao nhất giá trị hiệu lực pháp lý của hợp đồng.

Để thực hiện nguyên tắc này, cá nhân pháp nhân khi tham gia giao dịch dân sự phải xem xét các điều kiện, khả năng của mình, nhất là các điều kiện về mặt tài sản, chuyên môn và các điều kiện khác có thể thực hiện được các cam kết, thỏa thuận hay không. Nếu xảy ra vi phạm cá nhân, pháp nhân phải tự mình khắc phục hậu quả với thái độ thiện chí, trung thực.

1.2.3. Chế tài khi vi phạm hợp đồng Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Chế tài khi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng được hiểu là hậu quả bất lợi do bên bị vi phạm hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng đối với bên có hành vi vi phạm hợp đồng (không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng). Đối với các bên tham gia hợp đồng, việc thỏa thuận chế tài do vi phạm hợp đồng nhằm ngăn ngừa, hạn chế hành vi vi phạm hợp đồng, tăng cường ý thức, trách nhiệm của các bên trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng, đồng thời khắc phục, giảm thiểu những tổn thất về kinh tế do hành vi vi phạm hợp đồng gây.

Về phía Nhà nước, quy định về chế tài do vi phạm hợp đồng buộc bên vi phạm phải chịu trừng phạt về tài sản cũng như bù đắp lợi ích vật chất cho bên bị thiệt hại, từ đó đảm bảo hợp đồng được thực hiện trên thực tế, tạo điều kiện và khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân phát triển.

Tùy theo mục đích mà các bên có thể thỏa thuận các hình thức chế tài khác nhau. Mỗi hình thức chế tài đều có điều kiện áp dụng riêng, tuy nhiên, để áp dụng chế tài phải có hành vi vi phạm hợp đồng. Hành vi vi phạm là điều kiện để áp dụng mỗi chế tài có thể do các bên thỏa thuận hoặc do quy định của pháp luật. Trong pháp luật dân sự, lỗi do vi phạm hợp đồng là lỗi suy đoán, nghĩa là mọi hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng đều bị suy đoán là có lỗi, trừ trường hợp bên vi phạm chứng minh được mình không có lỗi đối với hành vi vi phạm. Tuy nhiên nếu hành vi vi phạm thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm thì bên bị vi phạm không phải chịu chế tài đối với hành vi vi phạm hợp đồng của mình.

Theo quy định của luật dân sự, được thể hiện tại Điều 11 bộ luật dân sự về các phương thức bảo vệ quyền dân sự và một số quy định khác nằm rải rác trong các quy định về thực hiện nghĩa vụ và thực hiện hợp đồng, chế tài áp dụng đối với hành vi vi phạm hợp đồng có các hình thức cơ bản sau đây: buộc chấm dứt hành vi vi phạm, buộc thực hiện hợp đồng, buộc bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm, hủy bỏ hợp đồng, vô hiệu hợp đồng và đơn phương chấm dứt hợp đồng. Ngoài ra, tại Luật thương mại năm 2005, chế tài xử lý vi phạm hợp đồng còn có tạm đình chỉ.

  • Thứ nhất, chấm dứt hành vi vi phạm, buộc thực hiện đúng hợp đồng

BLDS năm 2015 không có định nghĩa cụ thể, mà chỉ liệt kê “chấm dứt hành vi vi phạm”, “buộc thực hiện nghĩa vụ” là hai trong những cách thức để bảo vệ quyền dân sự khi bị vi phạm (Khoản 2, 4 Điều 11 bộ luật dân sự năm 2015) và dự liệu các cách ứng xử cụ thể của các bên trong trường hợp một bên không thực hiện đúng hợp đồng. Như Khoản 2 Điều 439 bộ luật dân sự năm 2015 quy định trường hợp tài sản được giao không đúng chủng loại đã thỏa thuận trong hợp đồng mua bán thì bên mua có quyền “yêu cầu giao tài sản đúng chủng loại và bồi thường thiệt hại”. Trong đó, “yêu cầu giao tài sản đúng chủng loại” chính là chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng mà bên mua có thể áp dụng đối với bên bán.

Có thể nói buộc thực hiện đúng hợp đồng là chế tài mang tính mềm dẻo, thiện chí nhất và thường được các bên ưu tiên lựa chọn áp dụng khi có hành vi vi phạm. Bởi khi ký kết hợp đồng, các bên đều mong muốn quyền và nghĩa vụ đã cam kết được thực hiện một cách thiện chí và đầy đủ nhằm đạt được lợi ích kinh tế cho cả hai bên. Buộc thực hiện đúng hợp đồng nhằm đảm bảo thực hiện trên thực tế hợp đồng đã ký kết, khắc phục, hạn chế được các thiệt hại do hành vi vi phạm gây nên. Bởi vậy trong nhiều trường hợp, các chế tài khác như bồi thường thiệt hại hay phạt vi phạm không thể thay thế lợi ích từ việc thực hiện hợp đồng.

Về cách thức áp dụng chế tài: Trong trường hợp các bên không giao vật hoặc giao vật không đúng với thỏa thuận trong hợp đồng thì phải có nghĩa vụ giao đúng vật đó (nếu là vật đặc định), giao vật khác cùng loại (nếu là vật cùng loại), hoặc phải có trách nhiệm sửa chữa, thanh toán giá trị của vật nếu vật bị hư hỏng. Nếu nghĩa vụ bị vi phạm là không thực hiện, thực hiện không đầy đủ một công việc theo thỏa thuận thì phải có nghĩa vụ thực hiện hoặc tiếp tục thực hiện công việc đó. Nếu bên vi phạm không tiếp tục thực hiện hợp đồng thì bên bị vi phạm có thể tự mình hoặc thuê bên thứ ba thực hiện công việc; sau đó, bên bị vi phạm có nghĩa vụ thanh toán các chi phí phát sinh. Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp bên bị vi phạm đều nên hoặc có thể lựa chọn áp dụng chế tài này. Bởi trong kinh doanh, thời cơ là một trong những yếu tố quan trọng để mang lại lợi nhuận. Do vậy nếu như việc kéo dài thực hiện hợp đồng làm mất cơ hội kinh doanh của bên bị vi phạm thì bên bị vi phạm không nên lựa chọn áp dụng. Hoặc trong trường hợp, đối tượng của hợp đồng là vật đặc định không còn, hay bên có nghĩa vụ không có khả năng thực hiện nghĩa vụ thì bên bị vi phạm phải áp dụng hình thức chế tài khác để đảm bảo hiệu quả kinh tế.

  • Thứ hai, phạt vi phạm

Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm phải trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận. Nếu như hai hình thức chế tài nêu trên thể hiện rõ tinh thần thiện chí tiếp tục thực hiện hợp đồng của bên bị vi phạm thì phạt vi phạm là biện pháp nhằm ngăn ngừa, răn đe và trừng phạt bên vi phạm, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng thỏa thuận của các bên khi tham gia giao kết.

Phạt vi phạm chỉ được áp dụng nếu như trong hợp đồng, các bên có thỏa thuận về việc áp dụng chế tài này. Trường hợp các bên không thỏa thuận thì bên bị vi phạm không có quyền yêu cầu áp dụng. Về mức phạt vi phạm, bộ luật dân sự 2015 quy định do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. Về trường hợp luật khác có liên quan, có thể lấy ví dụ Điều 301 Luật thương mại 2005, phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm. Trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định cấp chứng thư giám định có kết quả sai do lỗi vô ý thì phải chịu phạt theo mức thỏa thuận, nhưng không vượt quá mười lần thù lao dịch vụ giám định. Quy định như trên của bộ luật dân sự 2015 là hoàn toàn hợp lý, thể hiện sự đề cao, tôn trọng quyền tự do định đoạt hợp đồng giữa các bên, đồng thời cũng thể hiện đúng vai trò, tinh thần của luật dân sự – đạo luật gốc của hệ thống luật tư.

  • Thứ ba, buộc bồi thường thiệt hại

Bồi thường thiệt hại là trách nhiệm tài sản có lịch sử lâu đời và phổ biến nhất, chế tài này được áp dụng nhằm khôi phục, bù đắp lợi ích vật chất bị tổn hại cho bên bị vi phạm. Theo đó, trong trường hợp một bên vi phạm hợp đồng, từ đó gây thiệt hại cho bên kia thì sẽ phải bồi thường toàn bộ các thiệt hại đó.

Tuy nhiên, khác với các hình thức chế tài khác, trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ được đặt ra khi có đủ các căn cứ sau đây: có hành vi vi phạm, có thiệt hại thực tế, và hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại. Có thể thấy, đây là một chế tài khá “khắt khe”. Các bên không cần phải thỏa thuận về việc áp dụng chế tài này. Chỉ cần có thiệt hại bị gây ra bởi một hành vi vi phạm (không thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm), bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm bồi thường thiệt hại cho mình. Các thiệt hại phải được bồi thường bao gồm: giá trị tổn thất thực tế (vật chất và tinh thần) mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra; khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.

  • Thứ tư, tạm ngừng thực hiện hợp đồng Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Tạm ngừng thực hiện hợp đồng là việc một bên tạm thời không thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng nếu xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để tạm ngừng thực hiện hợp đồng hoặc một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng. Như vậy điều kiện để áp dụng chế tài này là các bên có thỏa thuận trường hợp tạm ngừng thực hiện hợp đồng. Trường hợp không có thỏa thuận thì phải có hành vi vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng. Trong đó, tại Khoản 13 Điều 3 Luật thương mại 2005 quy định “vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng”.

Khi tạm ngừng thực hiện hợp đồng, hợp đồng vẫn còn hiệu lực nhưng một bên sẽ không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình nếu bên kia vi phạm nghĩa vụ là điều kiện để hợp đồng bị tạm ngưng, hoặc vi phạm nghĩa vụ cơ bản. Do vậy, lúc này, bên vi phạm hợp đồng sẽ không được hưởng lợi ích kinh tế phát sinh từ hợp đồng. Thời hạn tạm ngưng có thể theo thỏa thuận của hai bên, hoặc khi thấy điều kiện tạm ngừng không còn nữa, bên vi phạm đã khắc phục và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình.

Cũng như hình thức buộc thực hiện đúng hợp đồng, tạm ngừng thực hiện hợp đồng cũng là một hình thức thể hiện tính thiện chí cao. Việc tạm ngừng thực hiện hợp đồng chính là cơ hội khắc phục sai phạm của bên vi phạm. Dù thời hạn thực hiện hợp đồng bị kéo dài nhưng hai bên vẫn tiếp tục hợp tác, thực hiện hợp đồng để đạt được mục đích chung. Đồng thời, đây cũng là điều kiện để bên bị vi phạm không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thỏa thuận trong hợp đồng, hạn chế tổn thất nếu như bên vi phạm không có thiện chí thực hiện hợp đồng.

  • Thứ năm, đơn phương chấm dứt hợp đồng

Trong quan hệ hợp đồng, quyền của bên này gắn liền với nghĩa vụ của bên kia. Do vậy, nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình thì quyền của bên còn lại sẽ bị ảnh hưởng. Bởi lẽ đó, trong trường hợp một bên vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc trong trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định thì bên còn lại có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng.

Bên đơn phương chấm dứt hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt kể từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện.

Chế tài đơn phương chấm dứt hợp đồng là một trong những biện pháp để bên bị vi phạm kịp thời ngăn chặn những tổn thất, thiệt hại có thể phải gánh chịu do sự vi phạm của bên kia, và cũng là biện pháp trừng phạt đối với bên vi phạm, từ đó bên vi phạm không thể đạt được mục đích đã đề ra khi tham gia hợp đồng.

  • Thứ sáu, hủy bỏ hợp đồng

Hủy bỏ hợp đồng là việc một bên hủy bỏ hiệu lực của một phần hoặc toàn bộ hợp đồng kể từ thời điểm giao kết khi bên kia có hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để đình chỉ hợp đồng hoặc có hành vi vi phạm nghĩa vụ cơ bản của hợp đồng. Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Có thể đánh giá, đây là một chế tài đặc biệt nghiêm khắc với hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của một bên trong hợp đồng. Tính nghiêm khắc này không chỉ thể hiện ở ý nghĩa pháp lý của chế tài mà còn ở hậu quả pháp lý của nó. Do vậy, theo quy định của pháp luật hay theo thỏa thuận của các bên, các trường hợp được hủy bỏ hợp đồng thường được hạn chế tối đa. Các bên chỉ áp dụng chế tài này nếu có hành vi vi phạm hợp đồng nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn tới quyền của bên còn lại và khiến mục đích của hợp đồng không đạt được.

Khi hủy bỏ một phần hay toàn bộ hợp đồng, thì phần hợp đồng bị hủy bỏ không có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, các bên không phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp. Do vậy các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận sau khi trừ đi chi phí hợp lý trong thực hiện hợp đồng và chi phí bảo quản, phát triển tài sản.

  • Thứ bảy, vô hiệu hợp đồng

Để đảm bảo sự công bằng giữa các bên khi tham gia hợp đồng, và đảm bảo trật tự xã hội, mọi sự thỏa thuận, giao kết hợp đồng cần phải thỏa mãn những điều kiện để hợp đồng có hiệu lực. Trong trường hợp các hợp đồng được giao kết khi không thỏa mãn những điều kiện này thì hợp đồng phải được xác định là vô hiệu. Vô hiệu hợp đồng là việc xác định một hợp đồng không có hiệu lực pháp luật, do đó, hợp đồng sẽ không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

Nếu như với các chế tài khác, hành vi vi phạm được thực hiện khi hợp đồng đã được giao kết, có hiệu lực pháp luật thì chế tài vô hiệu hợp đồng được áp dụng đối với các vi phạm tại thời điểm các bên giao kết hợp đồng. Đó là vi phạm về năng lực chủ thể tham gia giao kết (Điều 125 bộ luật dân sự), về ý chí của các chủ thể khi tham gia giao kết (Điều 126, Điều 127, Điều 128 bộ luật dân sự), về mục đích, nội dung của hợp đồng (Điều 123, Điều 129 bộ luật dân sự). Khi hợp đồng có các dấu hiệu của một hợp đồng vô hiệu, các bên không thể tự áp dụng chế tài này, mà phải yêu cầu Tòa án giải quyết trong thời hạn nhất định. Đối với từng vi phạm khác nhau mà thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là khác nhau (Điều 132 bộ luật dân sự). Trong đó, trường hợp hợp đồng vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, hợp đồng giả tạo thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu là không bị hạn chế.

Vô hiệu hợp đồng là một chế tài khắt khe, bởi nó có giá trị hồi tố. Hợp đồng vô hiệu, quyền, nghĩa vụ của các bên từ hợp đồng này không những đương nhiên chấm dứt mà các bên còn phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận. Chính bởi vậy, chỉ có cơ quan có thẩm quyền xét xử mới có quyền tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

1.3. Khái quát về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

1.3.1. Khái niệm thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi

Khi tham gia hợp đồng, các bên đều mong muốn đạt được lợi ích tối đa cho mình, và nhìn chung, lợi ích mỗi bên mong muốn đạt được là cân bằng nhau. Do vậy, trong quá trình đàm phán hợp đồng, các bên thường phải cân nhắc rất nhiều nội dung như: chất lượng, số lượng hàng hóa, giá cả, phương thức thanh toán, phương thức giao nhận hàng, thời hạn thực hiện hợp đồng, năng lực thực hiện hợp đồng của đối tác… Tuy nhiên, bản chất hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên nên việc thực hiện chúng phụ thuộc rất lớn vào ý chí và sự thiện chí của chủ thể tham gia. Bên cạnh đó, đối tượng của hợp đồng không chỉ tồn tại trong thế giới vật chất khách quan mà còn tồn tại trong lưu thông, trong thị trường khi chúng được đưa vào giao dịch. Do vậy, các nội dung liên quan đến hợp đồng như chất lượng, số lượng, giá cả, phương thức giao nhận… phải chịu tác động của rất nhiều yếu tố chủ quan, khách quan khác nhau như năng lực, khả năng thực hiện hợp đồng của đối tác, thời tiết, chính sách pháp luật, nguồn cung, nguồn cầu trên thị trường… Các yếu tố này thường xuyên thay đổi với tính chất và tầm ảnh hưởng khác nhau, có thể chỉ là những thay đổi nhỏ nằm trong sự dự báo và kiểm soát của các bên, nhưng cũng có thể là những thay đổi lớn ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của một bên khi thực hiện hợp đồng, điều này khiến hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi.

Như vậy, hoàn cảnh thay đổi chính là hoàn cảnh thực hiện hợp đồng trở nên khác biệt so với thời điểm ký kết hợp đồng do có những thay đổi về điều kiện khách quan hoặc chủ quan, khiến cho một bên không thể hoặc gặp khó khăn khi thực hiện hợp đồng.

BLDS năm 2015, Luật Thương mại năm 2005 đã đưa ra những dự liệu khá đa dạng về hoàn cảnh thay đổi như: thực hiện hợp đồng song vụ khi khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên kia đã bị giảm sút nghiêm trọng đến mức không thể thực hiện được nghĩa vụ như đã cam kết; trường hợp phát hiện hợp đồng được giao dịch do có yếu tố lừa dối, nhầm lẫn, giả tạo hay được xác lập bởi người không có thẩm quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi đại diện; trường hợp xuất hiện các sự kiện bất khả kháng… Đối với mỗi tình huống này, nhà làm luật đều đưa ra các cách thức xử sự để các bên lựa chọn thực hiện hoặc buộc phải thực hiện khi phát sinh tình huống trên thực tế. Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn, định nghĩa hoàn cảnh thay đổi chỉ được nghiên cứu trong phạm vi hoàn cảnh thay đổi cơ bản và việc thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản được quy định tại Điều 420 bộ luật dân sự năm 2015. Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 420 bộ luật dân sự năm 2015 thì:

Hoàn cảnh thay đổi cơ bản khi có đủ các điều kiện sau đây:

  • Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng;
  • Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh;
  • Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác;
  • Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên;
  • Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích.

Quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản được thừa nhận trong nhiều hệ thống pháp luật, và thường được gọi ngắn gọn là điều khoản “hardship”. Khái niệm “hardship” và các khái niệm tương tự cũng đã được thừa nhận trong nhiều hệ thống pháp luật, như “force majeure”, “commercial impracticability”, “frustration of purpose” hay “change of circumstances” trong Thông luật, “Wegfall der Geschaftsgrundlage” trong tiếng Đức, hoặc được các học giả người Đức dùng với thuật ngữ khác là “the foundation of the transaction” [6].

“Điều 451 bộ luật dân sự Liên bang Nga quy định về điều chỉnh và hủy bỏ hợp đồng liên quan đến thay đổi hoàn cảnh cơ bản; theo đó, việc thay đổi hoàn cảnh cơ bản so với hoàn cảnh các bên lấy làm căn cứ để ký kết hợp đồng sẽ là cơ sở để điều chỉnh hoặc hủy bỏ hợp đồng nếu hợp đồng không có quy định khác. Hoàn cảnh được coi là thay đổi cơ bản khi các bên biết trước một cách hợp lý việc thay đổi đó thì sẽ không ký kết hoặc được ký kết với nội dung hoàn toàn khác.

Điều 1.615 Bộ luật thương mại Thống nhất Hoa Kỳ thừa nhận ngoại lệ thay đổi nghĩa vụ khi hoàn cảnh thay đổi trong mua bán hàng hóa. Theo đó, hoàn cảnh bị coi là thay đổi nếu xảy ra bất ngờ, các bên không thấy trước được và cũng không hề nghĩ đến hoặc nếu có nghĩ đến thì cũng không cho rằng nó có thể trở thành hiện thực vào thời điểm ký kết hợp đồng. Một số án lệ của Hoa Kỳ cũng chấp nhận cho các bên đàm phán lại hoặc chấm dứt hợp đồng.

Tại Bộ nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế PICC, hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi cơ bản được định nghĩa như sau: “hardship, đó là các sự kiện làm thay đổi cơ bản sự cân bằng giữa các nghĩa vụ hợp đồng, hoặc do chi phí thực hiện nghĩa vụ tăng lên, hoặc do giá trị của nghĩa vụ đối trừ giảm xuống, và: (a) Các sự kiện này xảy ra hoặc bên bị thiệt hại chỉ biết đến sau khi giao kết hợp đồng; (b) Bên bị bất lợi đã không thể tính một cách hợp lý đến các sự kiện đó khi giao kết hợp đồng; (c) Các sự kiện này nằm ngoài sự kiểm soát của bên bị bất lợi; và (d) Bên bị bất lợi không gánh chịu rủi ro về các sự kiện này”.

Có thể thấy, cách định nghĩa về hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi cơ bản trong pháp luật Việt Nam khá tương đồng với pháp luật thế giới. Theo đó, hoàn cảnh được coi là thay đổi cơ bản khi xuất hiện những sự kiện khách quan sau khi giao kết hợp đồng mà các bên không thể lường trước được tại thời điểm giao kết, khiến cho một bên có thể bị thiệt hại nghiêm trọng nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng. Và thực hiện hợp đồng trong hoàn cảnh thay đổi cơ bản là cách thức các bên thực hiện các quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng sao cho phù hợp với hoàn cảnh thực hiện đã thay đổi. Trong trường hợp này, bộ luật dân sự 2015 đã đưa ra hai giải pháp là đàm phán, sửa đổi lại hợp đồng hoặc chấm dứt thực hiện hợp đồng.

“Tuy trước đây chưa có quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản nhưng thực tiễn tài phán Việt Nam cũng từng ghi nhận nhiều trường hợp liên quan, mà vụ án dưới đây là một ví dụ. Năm 2010, Công ty M (trụ sở tại Đắk Lắk) ký hợp đồng với Công ty T (trụ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh) để thiết kế một hệ thống chế biến cà phê cho Công ty M. Tổng giá trị hợp đồng là hơn bốn tỷ đồng, thời hạn mà Công ty T phải bàn giao hệ thống chế biến là hai năm, kể từ khi ký hợp đồng. Một năm sau, Công ty T tạm ngưng công việc, yêu cầu Công ty M ký thêm phụ lục hợp đồng theo hướng tăng giá lên do hoàn cảnh thay đổi. Theo Công ty T, tại thời điểm hai bên ký hợp đồng, nhiều bộ phận, thiết bị để chế tạo hệ thống chế biến cà phê không phải nhập ngoại do các công ty trong nước có thể sản xuất được. Tuy nhiên, sau khi có quy định mới của Nhà nước thì một số linh kiện không có hàng trong nước, khiến Công ty T phải nhập khẩu từ nước ngoài, và giá thành tăng gấp ba lần. Nếu không tăng giá hợp đồng thì Công ty T sẽ bị lỗ nặng, và không thể tiếp tục kinh doanh. Công ty M không đồng ý, cho rằng Công ty T đã “cố tình viện lý do để đơn phương chấm dứt hợp đồng” nên khởi kiện, yêu cầu Công ty T phải tiếp tục thực hiện công việc theo đúng thời hạn đã cam kết, nếu không sẽ phải chịu phạt vi phạm hợp đồng.

Tại phiên xét xử sơ thẩm, Công ty T đề nghị Tòa án cho phép hai bên được điều chỉnh hợp đồng với một giá thành hợp lý hơn. Tuy nhiên, Tòa án đã không chấp nhận và tuyên buộc Công ty T phải tiếp tục thực hiện hợp đồng theo đúng thời gian và mức giá trong hợp đồng, nếu không sẽ chịu phạt vi phạm hợp đồng. Theo Tòa án, dù hoàn cảnh thực tế thay đổi khiến giá thành sản xuất tăng cao nhưng pháp luật không cho phép điều chỉnh lại trong tình huống này, nên Công ty T phải tôn trọng hợp đồng đã ký. Công ty T kháng cáo và tại phiên xét xử phúc thẩm sau đó, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cũng tuyên giữ nguyên bản án sơ thẩm” [12]. Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Trong tình huống trên, việc chính sách pháp luật thay đổi dẫn đến số lượng, giá cả nguồn cung vật liệu trên thị trường thay đổi. Dù với sự thay đổi của hoàn cảnh mới này, Công ty T vẫn có thể tiếp tục thực hiện hợp đồng, nhưng do chi phí nguyên liệu tăng lên 3 lần so với dự tính ban đầu, Công ty T sẽ bị thiệt hại nghiêm trọng, và có thể mất khả năng kinh doanh. Việc pháp luật thay đổi dẫn tới thị trường vật liệu thay đổi là điều mà cả hai bên không thể dự đoán trước. Hậu quả của sự thay đổi này là giá thành nguyên liệu tăng cao, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của Công ty T. Đây có thể xác định là hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Tuy nhiên, pháp luật tại thời kỳ trước (thời điểm bộ luật dân sự năm 2005 có hiệu lực) lại không có quy định dự liệu tình huống này, do vậy Tòa án đã buộc Công ty T phải tiếp tục thực hiện đúng những thỏa thuận đã đặt ra.

1.3.2. Ý nghĩa của quy định thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi

Vấn đề miễn trách nhiệm vi phạm hợp đồng không còn mới mẻ với khoa học pháp lý cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật. Hầu hết các nguồn pháp luật trên thế giới đều thừa nhận và áp dụng chế định miễn trách nhiệm vi phạm hợp đồng. Ban đầu, những trường hợp này được giải quyết bằng cơ chế giải phóng nghĩa vụ của luật hợp đồng cổ điển, như cho phép bên vi phạm được chấm dứt hợp đồng và được miễn trách nhiệm vi phạm hợp đồng dựa trên điều khoản bất khả kháng hay gọi cách khác là trường hợp bất khả kháng [11].

Tuy nhiên, trong trường hợp hoàn cảnh thực hiện hợp đồng bị thay đổi cơ bản như trên đã định nghĩa, nếu cho phép một bên được quyền yêu cầu chấm dứt hợp đồng, hoặc được hoàn toàn miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thì sẽ không công bằng đối với bên còn lại. Do vậy, nhà làm luật đã đưa quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản vào khi xây dựng bộ luật dân sự 2015. Đây là quy định mới, tỏ ra hợp lý và cần thiết, phù hợp với nhu cầu thực tế của các bên tham gia giao dịch, và cũng phù hợp với pháp luật hợp đồng thế giới. Cụ thể:

  • Thứ nhất, quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi đảm bảo công bằng giữa các bên

Trong quá trình đàm phán hợp đồng, các bên ở địa vị pháp lý ngang bằng nhau, đều có quyền đưa ra các ý kiến của mình để thống nhất các nội dung của hợp đồng, đạt được lợi ích chung của cả hai bên. Và như đã nói, thông thường lợi ích mà mỗi bên mong muốn đạt được là cân bằng nhau. Tuy nhiên, khi hoàn cảnh thay đổi, sự cân bằng quyền lợi giữa hai bên không còn nữa: Một bên sẽ được hưởng lợi ích to lớn do hoàn cảnh thay đổi; Bên còn lại sẽ phải chịu những thiệt hại nghiêm trọng do phải bổ sung chi phí quá lớn để thực hiện nghĩa vụ, giá trị nghĩa vụ đối trừ hoặc giá trị của hợp đồng bị giảm sút nghiêm trọng… Sự thay đổi này không được các bên mong muốn hay dự tính khi giao kết hợp đồng. Hay nói cách khác, điều này trái với ý chí của các bên tại thời điểm giao kết. Như vậy, nếu buộc một bên phải chấp nhận những thiệt hại này để thực hiện hợp đồng là hoàn toàn không công bằng.

Do vậy, pháp luật buộc các bên phải thương lượng, đàm phán sửa đổi hợp đồng. Trường hợp các bên không thể đàm phán được thì hợp đồng mới có thể bị chấm dứt theo quyết định của Tòa án. Điều này là hợp lý và cần thiết, bởi nó cho phép các bên lấy lại sự công bằng – cân bằng về quyền lợi giữa các bên tại thời điểm thực hiện hợp đồng, giúp các bên tiệm cận hơn tới mục đích, ý chí đã thỏa thuận ban đầu. Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

  • Thứ hai, quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi đảm bảo duy trì hiệu lực của hợp đồng

Khi hoàn cảnh thay đổi, một bên có thể phải đối mặt với thiệt hại nghiêm trọng mà mình không đáng phải chịu, ảnh hưởng lớn tới hoạt động kinh doanh của mình. Trong trường hợp này, bên bị thiệt hại thường vận dụng điều khoản bất khả kháng: lựa chọn chấm dứt hợp đồng tạm thời hoặc vĩnh viễn, giải phóng nghĩa vụ cho bên có hành vi vi phạm. Hoặc trong trường hợp chưa đủ điều kiện để áp dụng điều khoản bất khả kháng, bên bị thiệt hại có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng, chấp nhận bồi thường thiệt hại hoặc chịu phạt theo thỏa thuận để giảm thiểu thiệt hại. Điều này không chỉ khiến hợp đồng bị chấm dứt mà còn phát sinh tranh chấp giữa hai bên.

Điều khoản về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cho phép một bên được đưa ra yêu cầu đàm phán lại hợp đồng, đặt ra nghĩa vụ cho bên còn lại phải tham gia đàm phán. Trường hợp các bên không thể thỏa thuận, đàm phán được thì có thể yêu cầu Tòa án chấm dứt hợp đồng hoặc sửa đổi hợp đồng để cân bằng lợi ích giữa các bên. Như vậy, việc quy định quyền yêu cầu thỏa thuận lại hợp đồng của một bên chính là tạo thêm một cơ hội để hợp đồng có thể quay trở lại đúng vị trí là sự đồng thuận, thống nhất ý chí. Chỉ khi hợp đồng trở về đúng vị trí này, phù hợp với điều kiện thực hiện ở hoàn cảnh mới, các bên mới có thể tiếp tục thực hiện hợp đồng một cách trung thực, thiện chí, từ đó, hợp đồng mới có thể duy trì hiệu lực.

  • Thứ ba, quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản là một trong những cách thức hiệu quả để quản lý rủi ro

“Rủi ro là một thuộc tính bất ổn định của môi trường kinh doanh. Trong vô số nguy cơ dẫn đến thua lỗ hoặc thiệt hại, rủi ro thường là những nguy cơ có thể ngăn chặn, né tránh hoặc giảm thiểu hậu quả bất lợi” [8]. Do vậy, ngay từ thời điểm giao kết, các bên đã phải dự đoán các rủi ro có thể xảy ra, từ đó đưa ra những dự liệu ứng xử phù hợp, các cách thức phân chia hay chuyển giao rủi ro hợp lý. Đặc biệt đối với hoạt động thương mại, môi trường kinh doanh biến thiên liên tục, các bên càng cần phải phản ứng linh hoạt đối với sự thay đổi này. Lúc này, việc thực hiện hợp đồng không chỉ là một quá trình, mà phải là quá trình có điều tiết, trong đó, các bên cùng nhận diện, đánh giá, phân chia và điều tiết rủi ro, gọi chung là quản lý rủi ro.

Thực tế, trong quá trình soạn thảo hợp đồng, các bên cũng đã đưa ra rất nhiều các cách thức để quản lý rủi ro như hoãn thực hiện hợp đồng khi một bên không thực hiện/không có khả năng thực hiện nghĩa vụ; miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp bất khả kháng… Đồng thời, pháp luật đã đưa ra rất nhiều ngoại lệ thực hiện hợp đồng khi xuất hiện những điều kiện, hoàn cảnh không giống với hoàn cảnh tại thời điểm các bên giao kết. Tại bộ luật dân sự 2015, quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản là một điều khoản mới, lấp những khoảng mà pháp luật thời kỳ trước còn bỏ trống. Sẽ không có một phương án điều tiết rủi ro nào hợp lý hơn phương án các bên cùng bàn bạc, đánh giá lại hoàn cảnh thực hiện hợp đồng, đánh giá những rủi ro, bất lợi nghiêm trọng mà một bên đang phải đối mặt, từ đó đàm phán, thương thảo lại hợp đồng để phân chia, điều tiết rủi ro, tìm lại điểm cân bằng lợi ích tiệm cận với mục đích giao kết hợp đồng ban đầu.

1.3.3. Nguyên tắc của thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Điều khoản về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản được ra đời dựa trên hai nguyên tắc cơ bản của hợp đồng, đó là nguyên tắc thiện chí, trung thực, nguyên tắc thực hiện đúng hợp đồng và nguyên tắc tự do ý chí, tự do giao kết hợp đồng. Cụ thể:

  • Thứ nhất, quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản là một ngoại lệ của nguyên tắc buộc thực hiện đúng hợp đồng

Khi hợp đồng có hiệu lực, các bên buộc phải thực hiện đúng các nội dung đã thỏa thuận. Trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng, bên vi phạm sẽ phải chịu chế tài theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Buộc thực hiện đúng hợp đồng là một trong những nguyên tắc nền tảng, cơ bản khi thực hiện hợp đồng dân sự. Bởi lẽ chỉ khi các bên thực hiện đúng các thỏa thuận đã đặt ra thì quyền, lợi ích hợp pháp của các bên mới được đảm bảo, mục đích ban đầu của các bên mới có thể đạt được. Tuy nhiên, nguyên tắc này được đặt ra khi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng không có sự thay đổi, hoặc có thay đổi nhưng không đáng kể so với thời điểm hai bên giao kết hợp đồng.

Trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, sự cân bằng về quyền và lợi ích giữa các bên không còn nữa, một bên dù không có lỗi nhưng buộc phải gánh chịu thiệt hại một cách vô lý thì việc buộc các bên thực hiện đúng hợp đồng sẽ trở thành cứng nhắc, và đi ngược lại với ý nghĩa của nguyên tắc. Trong khi đó, các bên cũng không thể áp dụng điều khoản bất khả kháng, vì hoàn cảnh mặc dù thay đổi, một bên có thể bị thiệt hại nghiêm trọng nhưng các bên vẫn có thể thực hiện hợp đồng, việc cho phép chấm dứt hợp đồng hoặc giải phóng nghĩa vụ của một bên sẽ là bất công bằng với bên còn lại.

Để mềm dẻo hóa việc áp dụng nguyên tắc buộc thực hiện đúng hợp đồng, cũng như bù đắp lỗ hổng mà điều khoản bất khả kháng không thể điều chỉnh được, điều khoản thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi phải được áp dụng như một ngoại lệ của nguyên tắc buộc thực hiện đúng hợp đồng, cho phép một bên được yêu cầu đàm phán lại hợp đồng hoặc buộc chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm nhất định. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý việc áp dụng điều khoản thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản chỉ được xem là ngoại lệ, không được tùy tiện áp dụng hoặc lạm dụng điều khoản này. Trường hợp áp dụng một cách tùy tiện và lạm dụng thì bản thân hợp đồng sẽ mất đi ý nghĩa, vai trò của nó.

Có thể nói nguyên tắc buộc thực hiện đúng hợp đồng và lý thuyết về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản không đối lập với nhau mà bổ sung cho nhau, nhằm hoàn thiện và tạo ra bộ khung pháp lý mềm dẻo, hợp lý cho các giao dịch dân sự, đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại [5]. Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

  • Thứ hai, điều khoản về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản là ngoại lệ của nguyên tắc tự do ý chí

Hợp đồng là kết quả của sự thống nhất về ý chí của các bên tham gia giao kết. Do vậy, pháp luật dân sự nói chung và pháp luật về hợp đồng nói riêng đều đề cao, tạo điều kiện tối đa để bảo đảm quyền tự do ý chí của các bên trong hợp đồng. Tuy nhiên, sự tự do ý chí này cũng phải bị hạn chế trong một phạm vi, đó là lợi ích hợp pháp của người khác, của cộng đồng và quy định của pháp luật. Mọi hợp đồng được giao kết, được thực hiện vượt quá các phạm vi, giới hạn đó đều không có hiệu lực pháp luật.

Thực tế, có nhiều trường hợp hợp đồng tại thời điểm giao kết có nội dung không trái pháp luật, không xâm phạm bất cứ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể nào nhưng, trong quá trình thực hiện, hoàn cảnh thay đổi cơ bản khiến việc thực hiện đúng hợp đồng này sẽ không phù hợp với hoàn cảnh, gây tổn thất nghiêm trọng, và vô lý cho một bên trong hợp đồng. Do vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bên bị ảnh hưởng, cũng như để đảm bảo công bằng giữa các bên, những thiệt hại nghiêm trọng, vô lý này phải được xem là giới hạn của sự tự do ý chí. Theo đó, khi một bên đề nghị điều chỉnh hợp đồng cho phù hợp hoàn cảnh mà bên kia không chấp thuận, thì pháp luật phải cho phép cơ quan thứ ba – Tòa án can thiệp vào nội dung và việc thực hiện hợp đồng, cụ thể như được phép sửa đổi hợp đồng hoặc chấm dứt hiệu lực của hợp đồng. Sự can thiệp của Tòa án trong trường hợp này là hợp lý và cần thiết, phương thức giải thoát bên đó khỏi gánh chịu thiệt hại nghiêm trọng một cách bất hợp lý và không công bằng.

  • Thứ ba, điều khoản về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản chính là biểu hiện của nguyên tắc thực hiện thiện chí, trung thực hợp đồng

Như trên đã nói, thiện chí, trung thực thực hiện hợp đồng là việc các bên không chỉ quan tâm đến lợi ích của mình mà còn phải quan tâm tôn trọng đến quyền, lợi ích của đối tác, phải hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau để xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng, từ đó đạt được mục đích chung của hợp đồng.

Hoàn cảnh thay đổi cơ bản dẫn đến việc một bên gặp khó khăn nghiêm trọng, nhưng ngược lại, có thể mang đến cho bên kia lợi ích to lớn trong việc thực hiện hợp đồng. Do vậy, nếu như không thiện chí, thì dù bên chịu thiệt hại có đưa ra yêu cầu đàm phán thì cũng sẽ không thành công. Bởi vậy, để hợp đồng thực sự là biểu hiện của sự thống nhất ý chí, là “trung điểm” lợi ích, thì các bên buộc phải thiện chí để giải quyết những khó khăn, vướng mắc mà hoàn cảnh thay đổi đặt ra. Sự thiện chí này đòi hỏi phải đến từ hai bên, cụ thể:

  • Bên bị thiệt hại cần phải kịp thời thông báo về hoàn cảnh thay đổi và những tác động của nó đến việc thực hiện hợp đồng đã ký kết một cách trung thực. Đồng thời, không được lạm dụng vào hoàn cảnh để kéo dài thời hạn thực hiện hợp đồng, mà phải áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng để ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích.
  • Bên được hưởng lợi từ sự thay đổi của hoàn cảnh cũng phải tham gia đàm phán lại hợp đồng một cách thiện chí, phối hợp với bên bị thiệt hại, tìm ra phương án, cách thức để giải quyết những khó khăn mà hoàn cảnh thay đổi đặt ra.

1.3.4. Phân biệt điều khoản thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản và một số chế định tương tự Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

  • Thứ nhất, trường hợp thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản và trường hợp bất khả kháng

Xuất hiện trong thực tiễn thương mại vào những năm 1960 và được trình bày lần đầu tiên trong các nghiên cứu của Marcel Fontaine, in trong quyển “Pháp luật hợp đồng quốc tế”, xuất bản năm 1989 [4], điều khoản thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản hay “harship” cho tới nay không còn là khái niệm xa lạ trong thực tiễn thương mại quốc tế, thậm chí nó đã trở thành cơ sở thực tiễn quan trọng trong Bộ nguyên tắc Unidroit về Hợp đồng thương mại quốc tế 2016 (PICC) và Bộ nguyên tắc Hợp đồng chung Châu Âu (PECL) [10]. Tuy nhiên, trong pháp luật Việt Nam, cho đến bộ luật dân sự năm 2015, điều khoản này mới được công nhận một cách chính thức.

Trước đó, trong thực tiễn giao dịch dân sự cũng như thương mại, trường hợp những rủi ro bất thường từ thiên nhiên, xã hội, con người… xảy đến làm một bên gặp khó khăn đặc biệt trong việc thực hiện hợp đồng, hoặc thậm chí không thể thực hiện được nghĩa vụ trong hợp đồng, bộ luật dân sự cũng như Luật Thương mại chỉ đưa ra một giải pháp duy nhất là miễn trách nhiệm do trường hợp bất khả kháng.

Về cơ bản, điều khoản thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản hay trường hợp bất khả kháng quy định về cách ứng xử của các bên trong giao kết hợp đồng khi có một sự kiện khách quan diễn ra làm thay đổi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, phạm vi áp dụng và hậu quả pháp lý của hai chế định này có nhiều điểm khác biệt.

Về phạm vi áp dụng: Hoàn cảnh thay đổi cơ bản hay trường hợp bất khả kháng đều là trường hợp xảy ra các sự kiện khách quan, nằm ngoài khả năng dự đoán của các bên trong hợp đồng. Các sự kiện này phải xảy đến sau khi giao kết hợp đồng và trong thời gian thực hiện hợp đồng, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng là khác nhau.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 156 bộ luật dân sự năm 2015 thì “sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”. Theo thông lệ chung, sự kiện bất khả kháng thường được hiểu có thể là những hiện tượng do thiên nhiên gây ra (thiên tai) như lũ lụt, hỏa hoạn, bão, động đất, sóng thần… hoặc các hiện tượng xã hội như chiến tranh, bạo loạn, đảo chính, đình công, cấm vận, thay đổi chính sách của chính phủ… Các sự kiện này khiến cho một bên mất hoàn toàn khả năng thực hiện hợp đồng, mặc dù bên này đã áp dụng mọi biện pháp khắc phục cần thiết. Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Tuy nhiên, trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, mặc dù có một sự kiện bất lợi xảy ra khiến hoàn cảnh thực hiện hợp đồng khác biệt lớn so với thời điểm ký kết hợp đồng. Nhưng sự kiện này chỉ khiến một bên gặp khó khăn đặc biệt trong việc thực hiện hợp đồng, nghĩa vụ của hợp đồng hoàn toàn có thể được thực hiện và hoàn thành như đã thỏa thuận.

  • Về điều kiện áp dụng

Đối với sự kiện bất khả kháng, tại Khoản 2 Điều 351 bộ luật dân sự năm 2015 quy định “trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Như vậy, theo quy định này, trong trường hợp sự kiện bất khả kháng diễn ra, bên có hành vi vi phạm đương nhiên được miễn trách nhiệm do không thực hiện đúng hợp đồng. Có thể đánh giá quy định này khá mở, bảo vệ tối đa quyền lợi của bên có nghĩa vụ, nhưng trong trường hợp bên có nghĩa vụ lạm dụng điều khoản này mà không thực hiện hợp đồng, cũng không có thông báo hay phản hồi gì đối với bên có quyền thì có thể điều này sẽ gây thiệt hại đối với bên có quyền. Chính bởi thế Điều 295 Luật Thương mại năm 2005 đã có quy định chặt chẽ hơn, theo đó:

  1. Bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên kia về trường hợp được miễn trách nhiệm và những hậu quả có thể xảy ra.
  2. Khi trường hợp miễn trách nhiệm chấm dứt, bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết; nếu bên vi phạm không thông báo hoặc thông báo không kịp thời cho bên kia thì phải bồi thường thiệt hại.
  3. Bên vi phạm có nghĩa vụ chứng minh với bên bị vi phạm về trường hợp miễn trách nhiệm của mình.

Như vậy, theo quy định tại Luật Thương mại năm 2005, để được miễn trách nhiệm do sự kiện bất khả kháng, bên có nghĩa vụ phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên có nghĩa vụ về trường hợp bất khả kháng và hậu quả có thể xảy ra. Tất nhiên cùng với việc thông báo, bên có nghĩa vụ phải chứng minh có tồn tại sự kiện bất khả kháng trước bên có quyền hoặc trước cơ quan có thẩm quyền nếu có tranh chấp phát sinh.

Đối với trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, điều kiện để bên có nghĩa vụ áp dụng điều khoản này lại khắt khe hơn. Ngay khi có sự kiện khiến hoàn cảnh thực hiện hợp đồng bị thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng phải áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng để khắc phục thiệt hại và thực hiện hợp đồng. Chỉ trong trường hợp không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích của mình thì bên lợi ích bị ảnh hưởng mới có quyền yêu cầu đàm phán lại hợp đồng trong thời hạn hợp lý. Sở dĩ pháp luật quy định như trên là vì khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, các bên vẫn có thể thực hiện hợp đồng và nguyên tắc thực hiện đúng hợp đồng cần phải được ưu tiên áp dụng tối đa. Việc đàm phán lại hợp đồng hay chấm dứt hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản chỉ được áp dụng như một ngoại lệ của nguyên tắc trên, và là giải pháp khắc phục khi một bên đã hết sức nỗ lực, thiện chí để thực hiện thỏa thuận đã đề ra.

  • Về hậu quả pháp lý Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Khi áp dụng điều khoản bất khả kháng, bên có nghĩa vụ được miễn hoàn toàn trách nhiệm do không thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, khi áp dụng điều khoản về hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên lợi ích bị ảnh hưởng chỉ có quyền yêu cầu bên còn lại đàm phán hợp đồng trong một thời hạn hợp lý. Trường hợp các bên không thể thỏa thuận được việc sửa đổi hợp đồng thì một bên có thể yêu cầu Tòa án chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định hoặc sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Như vậy, có thể thấy, so với điều khoản bất khả kháng, điều khoản thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản có phạm vi áp dụng rộng hơn, điều kiện áp dụng khắt khe hơn nhưng về hậu quả pháp lý lại giúp các bên có thể linh hoạt hơn, mềm dẻo hơn trong việc ứng phó với các thay đổi của hoàn cảnh thực hiện hợp đồng.

  • Thứ hai, điều khoản thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản và trở ngại khách quan

Bên cạnh trường hợp bất khả kháng, bộ luật dân sự năm 2015 còn ghi nhận về trường hợp “trở ngại khách quan”. Tại Khoản 1 Điều 156 bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự của mình”. Pháp luật Việt Nam định nghĩa “trở ngại khách quan” một cách khái quát và trừu tượng, khiến khái niệm này có thể dễ gây nhầm lẫn với “sự kiện bất khả kháng” hoặc “hoàn cảnh thay đổi cơ bản”, chúng đều là những thuật ngữ dùng để chỉ những sự kiện khách quan làm cản trở chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, “trở ngại khách quan” và “hoàn cảnh thay đổi cơ bản” lại được áp dụng cho hai trường hợp hợp hoàn toàn khác nhau. Cụ thể:

“Hoàn cảnh thay đổi cơ bản” được áp dụng để các bên có thể thỏa thuận, đàm phán lại nội dung hợp đồng đã ký kết, hoặc là căn cứ để Tòa án sửa đổi lại nội dung hợp đồng, chấm dứt hợp đồng sao cho phù hợp với lợi ích của các bên tại thời điểm hoàn cảnh đã thay đổi. “Trở ngại khách quan” lại chỉ được áp dụng duy nhất để xác định thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự hoặc thi hành án dân sự, không được áp dụng cùng với sự kiện bất khả kháng hay hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong quá trình các bên thực hiện hợp đồng, mặc dù những trở ngại khách quan hoàn toàn có thể xảy ra đối với các bên trong hợp đồng, khiến họ không thể thực hiện được nghĩa vụ trong hợp đồng.

  • Thứ ba, điều khoản thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản và điều khoản không thực hiện được nghĩa vụ nhưng không phải do lỗi của các bên

Điều khoản không thực hiện được nghĩa vụ nhưng không phải do lỗi của các bên đã được quy định tại bộ luật dân sự năm 2005 và nay được ghi nhận lại tại bộ luật dân sự 2015. Theo quy định tại Điều 414 bộ luật dân sự năm 2015 thì “trong hợp đồng song vụ, nếu một bên không thực hiện được nghĩa vụ mà các bên đều không có lỗi thì bên không thực hiện được nghĩa vụ không có quyền yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình. Trường hợp một bên đã thực hiện được một phần nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu bên kia thực hiện phần nghĩa vụ tương ứng đối với mình.”

Điều khoản này, về cơ bản có mang chút “bóng dáng” của điều khoản thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi. Trước tiên, có thể thấy hoàn cảnh và điều kiện để áp dụng điều khoản này là “một bên không thực hiện được nghĩa vụ mà các bên đều không có lỗi”. Quy định về việc “không có lỗi” ở đây chính là yếu tố, sự kiện xảy ra một cách khách quan mà không chịu tác động của bất kỳ bên nào trong hợp đồng, xảy ra sau khi hợp đồng đã có hiệu lực pháp luật. Thứ hai, sự kiện khách quan này tác động mạnh mẽ đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng.

Tuy nhiên, nghiên cứu sâu hơn, có thể dễ dàng nhận thấy sự khác biệt giữa hai điều khoản “thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” và “không thực hiện được nghĩa vụ nhưng không do lỗi của các bên” như sau:

  • Về phạm vi áp dụng: Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Khi căn cứ vào mối tương quan quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong hợp đồng, hợp đồng được phân loại thành hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ. Trong đó, hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với nhau, quyền của bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên kia như hợp đồng mua bán, hợp đồng thuê tài sản… Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ có một bên có nghĩa vụ, bên còn lại chỉ có quyền, mà không có nghĩa vụ như hợp đồng tặng cho tài sản. Tuy nhiên, khi xác định một hợp đồng là đơn vụ hay song vụ phải dựa vào quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, bởi có thể cùng loại hợp đồng nhưng ở trường hợp này là hợp đồng song vụ, ở trường hợp khác lại là hợp đồng đơn vụ.

Điều khoản thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản không hạn chế về loại hợp đồng áp dụng. Điều này có nghĩa trong bất cứ hợp đồng nào, hợp đồng song vụ hay hợp đồng đơn vụ, và hoàn cảnh chỉ thay đổi đến mức khiến một bên gặp khó khăn nghiêm trọng nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng, một bên có thể yêu cầu áp dụng quy định tại Điều 420 bộ luật dân sự năm 2015.

Tuy nhiên, Điều 414 về việc “không thực hiện được nghĩa vụ nhưng không do lỗi của các bên” chỉ được áp dụng đối với hợp đồng song vụ, và trong trường hợp sự kiện khách quan xảy ra có mức độ tác động nghiêm trọng hơn đối với việc các bên thực hiện quyền, nghĩa vụ đã thỏa thuận, khiến một bên không thể thực hiện được nghĩa vụ của mình. Như vậy, so với Điều 420, thì phạm vi áp dụng của Điều 414 bộ luật dân sự hẹp hơn về loại hợp đồng và mức độ tác động của hoàn cảnh khách quan xảy ra.

  • Về hậu quả pháp lý

Khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, một bên có quyền yêu cầu đàm phán lại hợp đồng hoặc đề nghị Tòa án chấm dứt hợp đồng hoặc sửa đổi hợp đồng. Như vậy, quyền và nghĩa vụ của các bên không đương nhiên bị thay đổi, bị tạm dừng hay bị chấm dứt mà phải có sự đồng ý của các bên hoặc của Tòa án – cơ quan có thẩm quyền phán quyết. Tuy nhiên, với trường hợp “một bên không thực hiện được nghĩa vụ mà các bên đều không có lỗi” thì bên không thực hiện được nghĩa vụ mặc nhiên không được yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa vụ của mình, điều này cũng có nghĩa một bên đương nhiên có quyền không thực hiện nghĩa vụ của mình, mà không cần có sự đồng ý của bên còn lại hoặc có sự chấp thuận của một cơ quan thứ ba khác.

Một cách tổng quan, khi so sánh điều khoản “không thực hiện được nghĩa vụ nhưng không do lỗi của các bên” với điều khoản bất khả kháng. Có thể nhận thấy hai điều khoản này có điểm tương đồng là đều áp dụng khi có sự kiện khách quan xảy ra khiến một bên không thể thực hiện được nghĩa vụ. Nhưng về mặt ý nghĩa thì có sự khác biệt: điều khoản bất khả kháng giải phóng bên có nghĩa vụ khỏi trách nhiệm pháp lý khi không thể thực hiện được hợp đồng; Điều khoản “không thực hiện được nghĩa vụ nhưng không do lỗi của các bên” lại giải phóng nghĩa vụ của một bên có lợi ích bị ảnh hưởng còn lại. Hai quy định này có tính tương hỗ lẫn nhau, tạo sự công bằng của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Thực hiện hợp đồng là việc các bên thực hiện những cam kết, thỏa thuận đã được xác lập trong hợp đồng đã có hiệu lực pháp luật. Được xác lập trên cơ sở tự nguyện, tự do ý chí nên khi thực hiện, các bên trong hợp đồng phải thực hiện đúng, thiện chí các cam kết đã đặt ra. Trong trường hợp không thực hiện, thực hiện không đúng, không đủ những cam kết đó thì phải chịu chế tài trước các bên còn lại và trước pháp luật.

Hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi cơ bản là trường hợp xuất hiện các sự kiện khách quan sau khi các bên đã giao kết hợp đồng, các sự kiện này các bên không thể lường trước được tại thời điểm giao kết, nhưng chúng lại có khả năng gây thiệt hại nghiêm trọng đến một bên trong hợp đồng, dù bên này đã nỗ lực hết sức để ngăn chặn những thiệt hại có thể xảy ra. Khi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi cơ bản, một bên có quyền đề nghị bên kia để sửa đổi hợp đồng trong thời hạn hợp lý, để tái lập lại sự cân bằng vốn có của hợp đồng. Trường hợp hai bên không thể thống nhất được việc sửa đổi này, một bên có quyền đề nghị Tòa án giải quyết tranh chấp.

Điều khoản về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản là một trong những biểu hiện của nguyên tắc thiện chí, thể hiện nỗ lực cùng khắc phục những khó khăn gây ra bởi hoàn cảnh để duy trì hiệu lực của hợp đồng. Tuy nhiên, khi áp dụng điều khoản này cũng cần lưu ý, nó chỉ được áp dụng với vai trò là ngoại lệ của nguyên tắc thực hiện đúng hợp đồng. Khi khó khăn xảy ra, trên hết, các bên vẫn phải tìm được phương án để thực hiện đúng các thỏa thuận đã đặt ra. Chỉ trong trường hợp những thiệt hại có thể xảy đến là nghiêm trọng, làm mất sự cân bằng vốn có của hợp đồng thì một bên mới được quyền viện dẫn điều khoản này. Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Pháp luật về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

One thought on “Luận văn: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản”

  1. Pingback: Luận văn: Hoàn thiện về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464