Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Tội buôn bán người theo pháp luật hình sự Việt Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Tội buôn bán người theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian qua, tội mua bán người xảy ra ngày càng nhiều, gây bức xúc lớn trong xã hội. Tội phạm này không chỉ xâm hại đến quyền con người, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần, tính mạng của nạn nhân mà còn tác động xấu đến đạo đức, giống nòi, lối sống, thuần phong mỹ tục, ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình an ninh, trật tự của đất nước. Quảng Ninh có 132,8km đường biên giới trên bộ, khoảng 250km đường biên giới trên biển và nước ngoài và có nhiều cửa khẩu, đường tiểu ngạch thông thương với Trung Quốc. Đây là những điều kiện tốt để Quảng Ninh phát triển kinh tế-xã hội nhưng cũng là điều kiện thuận lợi cho nhiều loại tội phạm hoạt động nhất là tội phạm mua bán người qua biên giới. Chỉ tính riêng tại địa bàn thành phố Móng Cái (tỉnh Quảng Ninh), 5 năm qua lực lượng chức năng đã phát hiện, bắt giữ 30 vụ, 46 đối tượng phạm tội mua bán người, giải cứu 40 phụ nữ, 11 trẻ em, trong đó có 4 trẻ sơ sinh. Công an TP Móng Cái phối hợp với các Đồn Biên phòng và Phòng Quản lý xuất nhập cảnh, Công an tỉnh Quảng Ninh tiếp nhận từ Cục Công an thị xã Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc 116 nạn nhân bị lừa bán sang Trung Quốc.
Thực tiễn trong những năm qua trên địa bàn toàn quốc nói chung, các tỉnh biên giới nói riêng trong đó có Quảng Ninh, tội phạm mua bán người ngày càng gia tăng, diễn biến tội phạm ngày càng phức tạp, thủ đoạn tội phạm ngày càng tinh vi. Các quy định của pháp luật cũng chưa bao quát được hết những hành vi phạm tội của loại tội phạm này dẫn đến công tác phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử tội phạm này trên thực tế còn phát sinh nhiều vướng mắc, bất cập.
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) được ban hành đã hoàn thiện hơn khung pháp lý quan trọng cho việc xử lý người phạm tội mua bán người, giúp cho việc áp dụng pháp luật trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đối với loại tội phạm này được thống nhất trên phạm vi cả nước nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng. Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng kể từ khi Bộ luật hình sự 2015 có hiệu lực, các quy định của Bộ luật hình sự 2015 về tội mua bán người cũng còn có những vướng mắc, bất cập, dẫn đến việc định tội danh và quyết định hình phạt của Tòa án nhân dân các cấp tại tỉnh Quảng Ninh đối với tội mua bán người gặp những khó khăn, thậm chí là sai phạm. Do vậy, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về tội mua bán người luôn là vấn đề cấp thiết.
Với lý do nêu trên, học viên quyết định chọn đề tài: “Tội buôn bán người theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh” làm luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật Hình sự – Tố tụng hình sự.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tính thời điểm hiện nay có khá nhiều công trình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tội mua bán người, phòng ngừa tội mua bán người. Cụ thể:
- TS Nguyễn Ngọc Anh (2011): “Luật Phòng, chống mua bán người – Cơ sở pháp lý đấu tranh chống tội phạm mua bán người trong thời gian tới”, Tạp chí CAND số chuyên đề tháng 8 năm 2011
- TS Hà Mạnh Hùng (2014): “Phòng ngừa tội phạm mua bán người trong tình hình hiện nay”, Tạp chí Phòng chống tội phạm, số 6/2014 Luận văn: Tội buôn bán người theo pháp luật hình sự Việt Nam.
- TS Phạm Minh Tuyên (2018): “Thực trạng các vụ án mua bán người, mua bán trẻ em – Một số vướng mắc và kiến nghị”, Tạp chí Tòa án nhân dân (điện tử), tháng 9/2018.
Về cơ bản, các công trình nghiên cứu trên đã tiếp cận về tội mua bán người ở một số phương diện sau:
- Những công trình nghiên cứu trên đã tiếp cận những vấn đề lý luận cơ bản về tội mua bán người và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao của công tác phòng, chống tội phạm mua bán người.
- Nhiều công trình nghiên cứu đã đánh giá thực tiễn việc áp dụng pháp luật về tội mua bán người, cung cấp những thông tin về tình hình tội phạm, mức độ và dự đoán tình hình gia tăng của loại tội phạm này.
- Các công trình nghiên cứu cũng đã đề cập tới những hạn chế, bất cập của các quy định pháp luật hiện hành và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập của các quy định đó về tội mua bán người.
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về tội mua bán người ở các góc độ khác nhau.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật hình sự cũng như thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự đối với tội mua bán người tại tỉnh Quảng Ninh, luận văn hướng đến đề xuất các giải pháp bảo đảm định tội danh và quyết định hình phạt đúng đối với tội mua bán người tại tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn giải quyết các nhiệm vụ gồm:
- Phân tích khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội mua bán người theo quy định của pháp luật hình sự.
- Phân tích các quy định của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội mua bán người.
- Khái quát lý luận và phân tích thực trạng định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2014-2018;
- Phân tích các yêu cầu và đề xuất các giải pháp đảm bảo định tội danh và quyết định hình phạt đúng đối với tội mua bán người tại tỉnh Quảng Ninh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn: Tội buôn bán người theo pháp luật hình sự Việt Nam.
- Đối tượng nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đã đặt ra, luận văn lấy các quan điểm khoa học, các quy định của pháp luật hình sự hiện hành, thực trạng định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh Quảng Ninh để nghiên cứu những vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của đề tài.
- Phạm vi nghiên cứu
Đề tài luận văn được nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự ngoài những vấn đề lý luận, luận văn nghiên cứu quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).Trong quá trình nghiên cứu, tác giả có khảo cứu các quy định, nghị quyết, văn bản hướng dẫn của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự về tội mua bán người.
Các tài liệu, số liệu, vụ án điển hình phục vụ nghiên cứu được tác giả luận văn thu thập từ nguồn thống kê xét xử sơ thẩm án hình sự của Tòa án nhân dân các cấp tại tỉnh Quảng Ninh trong thời gian 5 năm từ năm 2014 – 2018.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận nghiên cứu
Đề tài luận văn được nghiên cứu dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin; các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng; Tư tưởng Hồ Chí Minh; Chính sách hình sự của nhà nước về tội phạm, về hình phạt, về cải cách tư pháp về phòng, chống tội phạm.
- Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Tội buôn bán người theo pháp luật hình sự Việt Nam.
Đề tài luận văn còn được nghiên cứu trên cơ sở kết hợp trong một tổng thể các phương pháp chủ yếu như: phân tích, tổng hợp, thống kê, phương pháp so sánh, đánh giá,…Tùy thuộc vào yêu cầu, mục đích và nội dung của từng chương, mục việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu đảm bảo sự phù hợp và chính xác. Cụ thể:
Chương 1: Các phương pháp phân tích, tổng hợp được luận văn sử dụng và nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận về tội mua bán người như: khái niệm, các dấu hiệu pháp lý của tội mua bán người, quy định của pháp luật hình sự về tội mua bán người qua các giai đoạn khác nhau.
Chương 2: Luận văn sử dụng các phương pháp thống kê, đánh giá để phân tích thực trạng áp dụng pháp luật hình sự tội mua bán người từ thực tiễn xét xử của cơ quan xét xử tại tỉnh Quảng Ninh trên hai nội dung chính: định tội danh và quyết định hình phạt, đồng thời các phương pháp này cho phép chỉ ra một số những khó khăn vướng mắc trong thực tiễn và nguyên nhân những khó khăn vướng mắc đó.
Chương 3: Các phương pháp phân tích tổng hợp được sử dụng để lập luận những yêu cầu và giải pháp mà theo tác giả đó là những giải pháp đề đảm bảo định tội danh và quyết định hình phạt đúng đối với tội mua bán người.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần nhận thức sâu và thống nhất hơn các dấu hiệu pháp lý về tội mua bán người, góp phần xây dựng và hoàn thiện nền tảng pháp luật về tội mua bán người ở Việt Nam.
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn là cơ sở để các cán bộ, công chức, các tổ chức, cá nhân có thể khảo cứu trong quá trình áp dụng pháp luật, cụ thể là trong định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội mua bán người. Đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu có giá trị tham khảo phục vụ quá trình, học tập và nghiên cứu trong giảng dạy tại các cơ sở đào tạo luật tại Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
- Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật hình sự về tội mua bán người.
- Chương 2: Thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh Quảng Ninh.
- Chương 3: Yêu cầu và giải pháp đảm bảo định tội danh và quyết định hình phạt đúng đối với tội mua bán người tại tỉnh Quảng Ninh.
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI MUA BÁN NGƯỜI
1.1. Những vấn đề lý luận về tội mua bán người
1.1.1 Khái niệm tội mua bán người Luận văn: Tội buôn bán người theo pháp luật hình sự Việt Nam.
Mua bán người là hành vi xâm phạm trực tiếp đến nhân phẩm, danh dự của con người, coi con người như hàng hóa để mua bán, trao đổi lấy tiền hoặc lợi ích vật chất khác. Trong khoa học luật hình sự Việt Nam cũng như trong pháp luật hình sự Việt Nam thuật ngữ “buôn bán người” không được sử dụng mà thay vào đó là thuật ngữ “mua bán người”. Theo Giáo trình Luật hình sự của Đại học Luật Hà Nội do nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản năm 2005 thì hành vi mua bán người được hiểu là: “Hành vi dùng tiền hoặc phương tiện thanh toán khác như tiền, ngoại tệ… để trao đổi, mua bán người như một thứ hàng hóa. Mua bán người theo từ điển Tiếng Việt được hiểu là đối tượng mua bán là con người, việc mua đi bán lại, trao đổi được hiểu là coi nạn nhân như một món hàng hóa trao đổi lấy nhằm mục đích tư lợi ích vật chất khác.
Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị hành vi buôn người đặc biệt là phụ nữ và trẻ em năm 2000 đưa ra khái niệm, theo đó: “Mua bán người là việc mua bán, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc nhận người nhằm mục đích bóc lột bằng cách sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực hay bằng các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt hay lạm dụng quyền lực hoặc hoàn cảnh dễ bị tổn thương, hay bằng việc đưa hay nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người để kiểm soát những người khác. Hành vi bóc lột bao gồm: việc bóc lột mại dâm người khác hoặc các hình thức bóc lột tình dục khác, các hình thức lao động hoặc dịch vụ cưỡng bức, nô lệ hoặc những hình thức tương tự nô lệ, khổ sai hoặc lấy đi các bộ phận cơ thể”. Pháp luật Việt Nam sử dụng thuật ngữ “Mua bán người” để mô tả hành vi này, theo đó Mua bán người là hành vi dùng tiền, tài sản hoặc các lợi ích vật chất khác để trao đổi người (từ đủ 16 tuổi trở lên) như một loại hàng hóa; cụ thể là một trong các hành vi sau đây:
- Bán người cho người khác, không phụ thuộc vào mục đích của người mua.
- Mua người để bán lại cho người khác, không phân biệt bán lại cho ai và mục đích của người mua sau này như thế nào.
- Dùng người như là tài sản để trao đổi, thanh toán.
- Mua người để bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc vì các mục đích trái pháp luật khác;
- Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức cho người thực hiện một trong các hành vi mua bán người nêu trên đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người.
Theo Điều 150 Bộ luật hình sự 2015 tội mua bán người có thể hiểu đó là việc đem người và nhóm người này sang một người hoặc một nhóm người khác để đổi lấy tiền, hàng hóa hoặc lợi ích vật chất khác. Đối tượng bị xâm hại : là con người từ đủ 16 tuổi trở lên, không phân biệt giới tính. Trường hợp đối tượng là người bị mua bán người dưới 16 tuổi, người phạm tội sẽ bị truy cứu Trách nhiệm hình sự về tội mua bán người dưới 16 tuổi quy định tại điều 151 Bộ luật hình sự năm 2015. Nếu như vậy, ý chí chủ quan của người bị mua bán ( người đó có đồng ý hay không về việc mình bị mua bán) không có ý nghĩa trong cấu thành tội mua bán người [23,tr.436]. Luận văn: Tội buôn bán người theo pháp luật hình sự Việt Nam.
Từ quy định tại Điều 150 Bộ luật hình sự 2015, để hướng dẫn áp dụng pháp luật được thống nhất trong việc xử lý tội mua bán người. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/2019 ngày 11/01/2019. Hướng dẫn áp dụng áp dụng Điều 150 về tội mua bán người của Bộ luật hình sự năm 2015. Tại khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 02/2019/NQ-HĐTP đã đưa ra định nghĩa về “tội mua bán người” là : “Mua bán người là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác thưc hiện một trong các hành vi sau đây: a) Chuyển giao người để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; b) Tiếp nhận người để giao tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; c) Chuyển giao người khác để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận trên cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; d) Tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận trên cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; đ) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi chuyển giao người theo hướng dẫn tại điểm a và điểm c của khoản này”.
Tác giả đồng ý với định nghĩa trên vì đã bao quát tương đối đầy đủ các hành vi của tội mua bán người và phù hợp với các tình tiết định tội được quy định tại Điều 150 Bộ luật hình sự 2015 và khắc phục được những hạn chế, bất cập theo quy định tại Điều 119 Bộ luật hình sự 1999. Để hiểu rõ hơn về khái niệm của tội phạm này, cần phân tích những dấu hiệu pháp lý của tội này như sau.
1.1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội mua bán người
Khách thể của tội mua bán người: khách thể của tội phạm nói chung là những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại có tính chất tội phạm nhưng bị tội phạm xâm hại đến và gây nên ( hoặc đe dọa thực tế gây nên) thiệt hại đáng kể nhất định [28,tr.142]. Qua những trường hợp đã được cụ thể hóa trong các quy phạm pháp luật hình sự ở phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, có thể hiểu khách thể của tội mua bán người là xâm phạm đến quyền tự do thân thể, danh dự, nhân phẩm của con người được pháp luật bảo vệ. Luận văn: Tội buôn bán người theo pháp luật hình sự Việt Nam.
Phân tích quy định tại Điều 150 Bộ luật hình sự 2015 cho thấy tội mua bán người xâm hại nghiêm trọng đến các quyền cơ bản của con người, quyền được người khác tôn trọng về danh dự, nhân phẩm, tổn thương về sức khỏe và tinh thần, hơn hết là xâm phạm đến quyền tự do con người, có thể khẳng định đối tượng tác động của tội mua bán người là con người cụ thể.
Mặt khách quan của tội mua bán người là mặt bên ngoài của tội phạm. Bất kỳ một tội phạm nào mặt khách quan cũng được thể hiện ra bên ngoài, phản ánh trong thế giới khách Mặt khách quan của tội phạm có những dấu hiệu: về tính chất, hành vi thực hiện phạm tội gây nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội gây ra là không lường trước được, hệ quả nguy hiểm cho xã hội có mối quan hệ nhân quả giữa, thời gian, địa điểm, phương tiện, phương thức và công cụ thực hiện tội phạm [28,tr.158]. Hành vi mua bán người thể hiện ở việc dùng tiền, tài sản, hoặc lợi ích vật chất khác để trao đổi mua bán người như một thứ hàng hóa. Khi việc mua bán xảy ra người bị mua bán có thể biết bị mua bán. Trong trường hợp biết mình bị mua bán thì người bị mua bán có thể đồng tình hoặc không đồng tình.
Hành vi mua bán người xâm hại đến khách thể chung của tội phạm được ghi nhận tại Điều 8 Bộ luật hình sự năm 2015 đó là xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế xã hội, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm đến những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật mà theo quy định của Bộ luật hình sự này thì phải bị xử lý hính sự.
Hành vi mua bán người xâm hại khách thể loại đó là những quan hệ xã hội được ghi nhân tại chương XIV Bộ luật hình sự năm 2015, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội đó, tính nguy hiểm cao của hành vi mua bán người trước hết thể hiện ở chỗ, người phạm tội có ý thức coi con người như hàng hóa để trao đổi và mua bán. Trường hợp nạn nhân có thể biết hoặc không biết về việc mua bán này, thậm chí nạn nhân đồng ý để cho người khác mua bán thì người đó vẫn bị truy cứu Trách nhiệm hình sự về tội này.[23,tr.436]. Ý chí có đồng ý hay không của nạn nhân trong việc bị mua bán, vì vậy không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của tội này. Như vậy, có thể khẳng định rằng, đối tượng bị xâm hại của tội mua bán người là từ đủ 16 tuổi trở lên, không phân biệt giới tính là đối tượng của tội mua bán người. Trường hợp đối tượng là người dưới 16 tuổi sẽ xét xử theo tội mua bán người dưới 16 mới quy định tại Điều 151 Bộ luật hình sự năm 2015
Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội mua bán người “1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt, hoăc bằng các thủ đoạn khác thực hiện các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm, a) chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; b) chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; c ) tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi quy định tại điểm a, điểm b khoản này. Luận văn: Tội buôn bán người theo pháp luật hình sự Việt Nam.
Tuy nhiên, do nhu cầu công việc các công ty đã “chuyển giao” các nhân viên giỏi của mình cho nhau thì không phải là phạm mua bán người. Việc con người có thỏa thuận mình trở thành “hàng hóa” để mua bán hay không như đã nhấn mạnh không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội mua bán người quy định tại Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015. Tội phạm mua bán người hoàn thành khi người đó thực hiện hành vi mua hoặc bán người diễn ra, nghĩa là từ khi thỏa thuận mua bán đã xong (về người đó, giá trị), không cần việc trao người – tiền được diễn ra trên thực tế[2,tr.170].
Hành vi phạm tội mua bán người được thực hiện bằng hình thức phương thức, thủ đoạn tinh vi, đa dạng, ngày càng phức tạp như: người phạm tội hình thành các hình thức đường dây, ổ nhóm, đồng phạm có tổ chức kết cấu chặt chẽ giữa các nhóm đối tượng trong và ngoài nước vì mục đích lợi dụng lòng tin lừa gạt nạn nhân ở địa phương, biến họ như một món hàng để mua bán trao đổi vì mục đích tư lợi.
Lợi dụng sự nhẹ dạ, cả tin của người dân tại các vùng sâu, vùng xa, nơi thiếu thông tin, hiểu biết xã hội còn hạn chế để phạm tội là một trong những thủ đoạn của tội mua bán người. Người phạm tội lợi dụng những người có trình độ học vấn thấp, hoàn cảnh nghèo, không có việc làm đã lấy lòng tin, tạo mỗi quan hệ thân thiết với nạn nhân, thậm chí là muốn đi tới hôn nhân để một thời gian sau chúng lừa nạn nhân đi du lịch rồi bán cho chủ chứa, tổ chức mua bán người ở bên kia biên giới.
Tội mua bán người còn được thực hiện thông qua việc tuyển lao động làm việc tại nước ngoài và kể cả trong nước. Tuy nhiên, vì ít được tiếp cận với thông tin và trình độ học vấn hạn chế nhưng mong muốn có công việc nhàn hạ mà kiếm được thu nhập cao ở nước ngoài nên đã khiến nhiều người lao động trở thành nạn nhân của các công ty lừa đảo, xuất nhập khẩu lao động. Một số công ty xuất nhập khẩu lao động Việt Nam áp dụng mức phí cao hơn mức phí mà luật pháp quy định, đôi khi người lao động phải trả cho công ty mức phí lên đến 10.000USD để sang nước ngoài làm việc. Vì vậy, người lao động họ phải gánh trên mình những khoản để được làm việc tại nước ngoài, khiến họ dễ rơi vào tình trạng lao động làm công để trừ nợ và bị cưỡng bức lao động.
Khi sang đến nước ngoài, người lao động đã bị bắt buộc phải làm những công việc trong điều kiện khắc nghiệt, họ làm việc quá số giờ quy định (thậm chí là làm thêm giờ) một ngày nhưng được trả một mức lương rất ít hoặc thậm trí không được trả lương và không được tiếp cận với thông tin đại chúng và nạn nhân cũng không được trợ giúp pháp lý đáng tin cậy nào.
Lợi dụng sự phát triển của internet, điện thoại di động như facebook, zalo chúng đã liên kết với các tổ chức và thiết lập các đường dây phạm tội, lợi dụng sơ hở trong quy định của pháp luật, nhất là trong tư vấn môi giới hôn nhân với người nước ngoài, cho nhận con nuôi, tham quan du lịch, thăm thân, đi hợp tác lao động, xuất nhập cảnh cũng là thủ đoạn mà người phạm tội mua bán người sử dụng để lừa gạt đưa nạn nhân ra nước ngoài để thực hiện hành vi phạm tội mua bán người.
Tội mua bán người là tội cấu thành hình thức. Bởi vậy tội phạm hoàn thành ngay khi người phạm tội thực hiện một trong những hành vi liệt kê tại khoản 1 Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015. Tất nhiên, khi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực thì tỷ lệ tổn thương cơ thể phải dưới 31% trong trường hợp tỷ lệ phần tram tổn thương cơ thể trên 31% trở lên sẽ cấu thành tội phạm tang nặng tương ứng của tội mua bán người. Luận văn: Tội buôn bán người theo pháp luật hình sự Việt Nam.
Chủ thể của tội mua bán người: theo quy định của luật hình sự Việt Nam, chủ thể của tội phạm có thể là cá nhân có thể là pháp nhân thương mại thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội bằng lỗi cố ý hoặc vô ý. Đối với tội mua bán người chủ thể là cá nhân, người đó phải năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của luật hình sự.
Cơ sở pháp lý để xác định chủ thể của tội mua bán người là Điều 12, Điều 21 và Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015. Tại Điều 12 Bộ luật hình sự 2015 nhà làm luật quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự: 1 “người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu Trách nhiệm hình sự về tội mua bán người”; 2 “người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu Trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trong theo quy định tại Điều luật này. Tại Điều 21 Bộ luật hình sự 2015 quy định về tình trạng không có năng lực Trách nhiệm hình sự. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Thông qua cụm từ “người nào” cho thấy chủ thể thực hiện hành vi phạm tội mua bán người không phải là chủ thể đặc biệt, có ý nghĩa là bất cứ người nào có năng lực Trách nhiệm hình sự đều có thể là chủ thể của tội phạm này. Vì vậy, chủ thể tội mua bán người phải là người có năng lực nhận thức về hành vi, khả năng điều khiển hành vi đó, không thuộc trường hợp mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Như vậy, theo quy định của pháp luật hình sự hiện hành, chủ thể của tội mua bán người là có nhân, có năng lực trách nhiệm hình sự đủ 16 tuổi trở lên. So với quy định 1999, quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 mang tính nghiêm khắc hơn (trong mối liên hệ tội mua bán người).
Mặt chủ quan của tội mua bán người là lỗi ( trực tiếp hoặc là gián tiếp) mặt chủ quan là mặt bên trong của tội phạm, thể hiện thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi, nhận thức rõ hành vi của mình gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn mong muốn thực hiện hoặc tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc hậu quả đó xảy ra [28,tr.197]. Hoạt động có ý thức của con người, bao giờ cũng là hoạt động thống nhất bên trong và bên ngoài. Hai mặt chủ quan của hoạt động luôn thống nhất với nhau. Mặt bên trong của tội phạm mua bán người không thể thấy được nếu nó không thể hiện ra bên ngoài bằng các dấu hiệu, tính chất, thực hiện hành vi phạm tội gây nguy hiểm cho xã hội, bằng hậu quả tác hại, bằng phương pháp thời gian, địa điểm, phương tiện, công cụ phương thức thực hiện tội phạm. Mặt chủ quan bên trong của tội phạm mua bán người là diễn biến tâm lý của tội phạm nên diễn biến này gồm các dấu hiệu : lỗi, động cơ, mục đích của tội phạm [28,tr.198].
Như vậy mặt chủ quan của tội phạm bao gồm : lỗi, động cơ, mục đích phạm tội, trong đó, lỗi là dấu hiệu bắt buộc phải có ở mọi cấu thành tội phạm vì tội phạm nào cũng được thực hiện bởi lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý. Lỗi là thái độ diễn biến tâm lý của con người đối với hành vi gây nguy hiểm cho xã hội của mình và hậu quả tác hại do hành vi đó gây ra cho xã hội được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý. [28,tr.199].
Mặt chủ quan của tội mua bán người là lỗi cố ý thực hiện hành vi phạm tội ( có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp). Bởi tội mua bán người có cấu thành hình thức phức tạp nên vấn đề thấy trước hay không thấy trước hậu quả không được đặt ra. Lỗi cố ý trực tiếp là khi thực hiện hành vi người phạm tội mua bán hoặc trao đổi người, nhận thức rõ việc của mình là mua bán hoặc trao đổi người nhưng vẫn mong muốn thực hiện, mong muốn việc mua bán, trao đổi diễn ra. Lỗi cố ý gián tiếp là khi thực hiện hành vi người phạm tội mua bán hoặc trao đổi người, nhận thức rõ việc làm của mình là mua bán hoặc trao đổi người và để mặc nó diễn ra. Trên thực tế, người phạm tội mua bán người không chỉ được lợi từ khoản tiền thu được về từ việc mua bán người mà còn hưởng lợi từ việc bắt nạn nhân bán dâm, cưỡng bức lao động, lấy các bộ phận cơ thể của nạn nhân. Tuy nhiên, theo Nghị định thư về phòng, chống buôn bán người, thì mục đích bóc lột, động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội mua bán người.
1.2. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội mua bán người Luận văn: Tội buôn bán người theo pháp luật hình sự Việt Nam.
1.2.1 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội mua bán người đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015
Trong Nhà nước phong kiến Việt Nam trước đây, một số văn bản pháp luật quy định có những chế tài hình sự đối với hành vi mua bán người. Chẳng hạn theo Bộ luật Hồng Đức thì người thực hiện hành vi bán người ít tuổi từ hàng cơ thân trở xuống thì có thể bị tội Giảo (thắt cổ) và nếu có thêm hành vi cướp của hoặc đồ vật của người khác thì có thể bị chém đầu (Điều 43, Quyển IV), đối với hành vi bắt người trái phép đem bán làm nô tì cho người nước ngoài cũng bị tội chém. Như vậy, tội mua bán người trong Bộ luật Hồng Đức được như là tội rất nghiêm trọng và hình phạt cao nhất người phạm tội phải chịu là chém bêu đầu (chỉ thấp hơn bậc lăng trì). Trong lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam, Bộ luật Hồng Đức được coi là văn bản đầu tiên của nước ta quy định về tội mua bán người.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng, do bị chiến tranh tàn phá nên điều kiện kinh tế vô cùng khó khăn và tình hình tội phạm nói chung diễn biến với nhiều hành vi phạm tội mới tinh vi xuất hiện, ngày càng phức tạp, trong đó có hành vi mua bán người. Tuy nhiên, phải đến Bộ luật hình sự 1985, tội mua bán phụ nữ mới được quy định.
Tại Điều 115 Bộ luật hình sự năm 1985 nhà làm luật muốn ta quy định : 1: “Người nào bắt trộm, mua bán hoặc đánh tráo trẻ em, phụ nữ thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm”. 2 “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì phạt tù từ năm năm đến hai mươi năm”: a) Có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp; b) Để đưa ra nước ngoài; c) Bắt trộm, mua bán hoặc đánh tráo nhiều trẻ em hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác; d) Tái phạm nguy hiểm”.
Mặc dù được sửa đổi, bổ sung bốn lần lần lượt vào các năm 1989, 1991, 1992 và năm 1999. Tuy nhiên, với phương thức thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội những quy định của Bộ luật hình sự năm 1985 không đáp ứng được tính răn đe trong công tác đấu tranh phòng, chống tội mua bán phụ nữ, trẻ em. Bởi vậy, trong Bộ luật hình sự năm 1999, nhà làm luật quy định hai điều liên quan trực tiếp liên quan đến việc mua bán người đó là: Điều 119 quy định tội mua bán người và Điều 120 quy định về tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em. Thực tiễn áp dụng Bộ luật hình sự năm 1999 cho thấy có những hạn chế ở chỗ chưa có quy định chế tài đối với hành vi mua bán nam giới, mua bán người để lấy nội tạng. Trong lần sửa đổi, bổ sung năm 2009, Bộ luật hình sự năm 1999 mới bổ sung thêm một số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Như vậy, so với Bộ luật hình sự năm 1985 thì Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã quy định tương đối cụ thể các tội phạm thường xảy ra liên quan đến tội phạm mua bán người, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em. Cụ thể là theo khoản 1 Điều 119 Bộ luật hình sự 1999 “ tội mua bán người” thì người nào mua bán người thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm. Tại khoản 2 điều 119 Bộ luật hình sự 1999 quy định về tội mua bán người: phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến hai mươi năm:a) Vì mục đích mại dâm; b) Có tổ chức; c) Có tính chất chuyên nghiệp; d) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân; đ) Để đưa ra nước ngoài; e) Đối với nhiều người; e) Phạm tội nhiều lần. Theo khoản 3 nhà làm luật quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ (năm triệu đồng) đến 50.000.000 (năm mươi triệu đồng), phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm. Luận văn: Tội buôn bán người theo pháp luật hình sự Việt Nam.
Như vậy theo khoản 1 – Khoản cơ bản: thì bất kỳ người nào thỏa mãn độ tuổi Trách nhiệm hình sự và không bị mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, thực hiện hành vi phạm tội mua bán người thì có thể bị phạt tù từ 02 đến 07 năm quy định tại Điều 119 Bộ luật hình sự năm 1999. Theo khoản 2: thì người có năng đầy đủ lực trách nhiệm hình sự thực hiện một trong những hành vi mua, bán hoặc trao đổi một người thuộc một trong các trường hợp sau, người phạm tội bị phạt tù từ 05 năm đến 20 năm:
- Vì mục đích mại dâm: người phạm tội phải biết được nạn nhân mà mình mua, bán hoặc trao đổi dùng vào mục đích mại dâm (bất kể là có dùng người vào mục đích mại dâm hay chưa).
- Có tổ chức: là trường hợp thực hiện đồng phạm có sự bàn bạc từ hai tội phạm người trở lên có sự bàn bạc từ trước.
- Có tính chất chuyên nghiệp: là một hình thức phức tạp của người phạm tội đã làm theo một cách thuần thục có tính chất chuyên nghiệp, mưu mô, dự tính việc mua, bán người làm phương tiện kiếm sống cho mình.
- Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân: người phạm tội đã mua bán nhằm mục đích lấy nội tạng hoặc một phần các bộ phận trên cơ thể cơ thể của nạn nhân.
- Để đưa ra nước ngoài: theo điểu luật này là chứng minh người phạm tội đưa đã nạn nhân ra khỏi địa phận nước CHXHCNVN bán cho các tổ chức xuyên quốc gia
- Phạm tội với nhiều người: ở đây là người phạm tội đã mua bán từ hai trở lên.
- Phạm tội nhiều lần: trường hợp này, người phạm tội thực hiện phạm tội mua bán nạn nhân nhiều lần.
1.2.2 Quy định của pháp luật hình sự hiện hành về tội mua bán người Luận văn: Tội buôn bán người theo pháp luật hình sự Việt Nam.
Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có hiệu lực pháp luật từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 quy định về tội mua bán người tại Điều 150 Bộ luật hình sự với nhiều sửa đổi, bổ sung, vì vậy hoàn thiện hơn theo hướng nhân đạo hóa, phân hóa và quốc tế hóa. Cụ thể, Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội mua bán người :
Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc bằng thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
- Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;
- Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;
- Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm:
- Có tổ chức;
- Vì động cơ đê hèn;
- Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều này;
- Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
- Đối với từ 02 đến 05 người;
- Phạm tội 02 lần trở lên;
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
- Có tính chất chuyên nghiệp;
- Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
- Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;
- Làm nạn nhân chết hoặc tự sát; đ) Đối với 06 người trở lên;
- Tái phạm nguy hiểm. Luận văn: Tội buôn bán người theo pháp luật hình sự Việt Nam.
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 000.000đ (hai mươi triệu đồng) đến 100.000.000đ (một trăm triệu đồng), phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản do phạm tội mà có.
Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội mua bán người đã làm rõ hơn các hành vi được xem là mua bán người đồng thời tăng hình phạt tù đối với tội mua bán người một cách phù hợp với sự phát triển của kinh tế xã hội. Ngoài việc sửa đổi hình phạt Bộ luật hình sự năm 2015 cấu thành tăng nặng của tội mua bán người thành hai khoản là khoản 2 và khoản 3. Tại khoản 2, quy định phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm:
Có tổ chức: phạm tội mua bán người có tổ chức là trường hợp phạm tội đồng phạm có nhiều đối tượng tham gia, về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội hơn trường hợp phạm tội không có tổ chức, vì phạm tội có tổ chức kết cấu một cách chặt chẽ giữa những người thực hiện tội phạm nên chúng dễ dàng bao che cho nhau, thực hiện hành vi phạm tội có sự phân công rõ ràng, có người chủ mưu, có người chỉ huy xúi giục, có người trực tiếp thực hiện tội phạm, hoặc giúp sức, nhưng tất cả đều đạt chung một mục đích là làm thế nào thực hiện hành vi phạm tội mua bán người.
Vì động cơ đê hèn trong trường hợp là người phạm tội bằng những thủ đoạn đê hèn để trả thù, phản trắc, bội bạc, tạo lòng tin với những người thân quen trong gia đình, trong cơ quan hoặc nơi sinh sống đã nhẫn tâm mua bán họ nhằm mục đích phạm tội của mình.
Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, trừ trường hợp đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân.
Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam người phạm tội được coi là hành vi phạm tội rất nghiêm trọng. Thực tiễn xét xử hình sự tại tỉnh Quảng Ninh trong những năm qua cho thấy hầu hết các vụ mua bán người để đưa nạn nhân sang bên kia biên giới Trung Quốc. Tại khoản 3 Điều 3 NQ số 02/2019 của Hội đồng thẩm phán TANDTC có hướng dẫn: Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới nước CHXHCN Việt Nam là trường hợp người phạm tội đã hoặc đang đưa nạn nhân ra khỏi biên giới quốc gia trên đất liền, trên biển, trên không và trong lòng đất của nước CHXHCN Việt Nam. Cũng được coi là Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới nước CHXHCN Việt Nam nếu đã thực hiện thủ thục xuất cảnh đối với nạn nhân.
Đối với từ 02 đến 05 người đây là trường hợp mua bán người từ 02 đến 05 người, trong đó nạn nhân có thể có người bị đưa ra nước ngoài, có người không bị đưa ra nước ngoài. Nếu có người bị đưa ra nước ngoài thì người phạm tội bị coi là vừa đưa nhiều người ra nước ngoài vừa mua bán nhiều người (hai tình tiết định khung).
Phạm tội 02 lần trở lên là trường hợp người phạm tội đã nhiều lần thực hiện hành vi mua bán người và mỗi lần phạm tội hành vi mua bán đã cấu thành tội mua bán người Theo khoản 3 Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 (khoản tăng nặng thứ hai) thì phạm tội mua bán người thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
Có tính chất chuyên nghiệp bị coi là phạm tội mua bán người có tính chất chuyên nghiệp nếu người phạm tội lấy việc mua bán người làm nguồn sống chính cho mình; Luận văn: Tội buôn bán người theo pháp luật hình sự Việt Nam.
Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân là trường hợp mua bán người nhằm lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân là một phần của cơ thể được hình thành hoặc từ nhiều loại mô khác nhau để thực hiện chức năng sinh lý nhất định (như tim, gan, thận, nhãn cầu, tay, chân,…);
- Gây thương tích tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể là 61% trở lên;
- Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;
- Đối với 06 người trở lên;
Tái phạm nguy hiểm là trước đó người phạm tội đã bị kết án về một danh rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do lỗi cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội một khác. Hoặc trường hợp đã tái phạm, nhưng chưa được xóa án tích mà lại phạm tội khác cũng sẽ bị kết án tái phạm nguy hiểm;
Cũng theo khoản 4 Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) đến 100.000.000đ (một trăm triệu đồng), phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Nghị quyết số 02/2019/NQ – HĐTP ngày 11/1/2019 có hiệu lực ngày 15/03/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng điều 150 về tội mua bán người và điều 151 về tội mua bán người dưới 16 tuổi của Bộ luật hình sự năm 2015. Luận văn: Tội buôn bán người theo pháp luật hình sự Việt Nam.
Tại Điều 2 của Nghị quyết, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tôi cao hướng dẫn áp dụng một số tình tiết định tội như sau:
Mua bán người là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác thưc hiện một trong các hành vi sau đây:
- Chuyển giao người để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;
- Tiếp nhận người để giao tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;
- Chuyển giao người khác để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận trên cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;
- Tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận trên cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;
- Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi chuyển giao người theo hướng dẫn tại điểm a và điểm c của khoản này;
Mua bán người dưới 16 tuổi là thực hiện một trong các hành vi sau đây:
- Chuyển giao người dưới 16 tuổi đẻ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;
- Tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;
- Chuyển giao người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo;
- Tiếp nhận người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo;
- Tuyển mộ, vận chuyển, chưa chấp người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vi chuyển giao người theo hướng dẫn tại điểm a và điểm c của điều này;
Thủ đoạn phạm tội được quy định tại khoản 1 Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 là các thủ đoạn như bắt cóc, cho nạn nhân uống thuốc ngủ, thuốc gây mê, uống bia, rượu hoặc chất kích thích mạnh khác làm nạn nhân lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức, khả năng điều chỉnh hành vi, đầu độc nạn nhân; lợi dụng việc môi giới hôn nhân, môi giới người đi lao động nước ngoài, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lợi dụng tình thế bị lệ thuộc, lợi dụng tình thế dễ bị tổn thương hoặc tình trạng quẫn bách của nạn nhân ( ví dụ lợi dụng tình trạng nạn nhân có người thân bị bệnh hiểm nghèo cần tiền chữa trị ngay, nếu không sẽ bị nguy hiểm đến tính mạng) để thực hiện một trong các hành vi hướng dẫn tại khoản 1 điều này.
Để bóc lột tình dục quy định tại điểm b khoản 1 Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 là trường hợp chuyển giao tiếp nhận hoặc tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp nạn nhân nhằm chuyển giao cho người khác thực hiện các hoạt động bóc lột tình dục (như tổ chức cho nạn nhân bán dâm, đưa nạn nhân đến các cơ sở chứa mại dâm để bán dâm, sử dụng nạn nhân để sản xuất ấn phẩm khiêu dâm …) hoặc tiếp cận nạn nhân để thực hiện phục vụ cho nhu cầu tình dục của chính mình.
Để cưỡng bức lao động quy định tại điểm b khoản 1 Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 là việc dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác nhằm nạn nhân lao động trái với ý muốn của họ. Luận văn: Tội buôn bán người theo pháp luật hình sự Việt Nam.
Để lấy bộ phận trên cơ thể của nạn nhân quy định tại điểm b khoản 1 Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 là trường hợp chuyển giao, tiếp nhận hoặc tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp nạn nhân để chuyển giao nhằm lấy bộ phận trên cơ thể của nạn nhân. Bộ phận trên cơ thể của nạn nhân được hình thành từ nhiều loại mô khác nhau để thực hiện các chức năng sinh lý nhất định của con người.
Vì mục đích vô nhân đạo khác quy định tại điểm b khoản 1 Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 là sử dụng nạn nhân để làm thì nghiệm, buộc nạn nhân phải đi ăn xin hoặc sử dụng nạn nhân vào các mục đích tàn ác khác.
Tại Điều 3 của Nghị quyết 02/2019 NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thảm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về áp dụng một số tình tiết định khung hình phạt, theo đó:
- Có tổ chức quy định tại điểm a khoản 2 điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 là hình thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ và phân công, sắp đặt vai trò của những người cùng thực hiện tội phạm.
- Vì động cơ đê hèn quy định tại điểm b khoản 2 Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội để trả thù, phạm tội để trốn tránh trách nhiệm của bản thân, phạm tội đối với người mà mình mang ơn hoặc những hành vi phạm tội khác thể hiện sự bội bạc, phản trắc.
- Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới nước CHXHCNVN quy định tại điểm b khoản 2 Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 là trường hợp người phạm tội đã hoặc đang lừa nạn nhân ra khỏi biên giới quốc gia trên đất liền, trên biển, trên không và trong lòng đất của nước CHXHCN Việt Nam. Cũng được coi là đưa nạn nhân ra khỏi biên giới nước CHXHCN Việt Nam nếu đã được thực hiện thủ tục xuất cảnh đối với nạn nhân.
- Phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm e khoản 2 Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội mua bán người từ 02 lần trở lên nhưng đều chưa bị truy cứu Trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu Trách nhiệm hình sự.
- Có tính chất chuyên nghiệp quy định tại điểm a khoản 3 Điều 150 của Bộ luật hình sự năm 2015 là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi mua bán người từ 05 lần trở lên (không phân biệt đã bị truy cứu Trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu Trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu Trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích) và người phạm tội lấy khoản lợi bất chính thu được từ việc mua bán người làm nguồn sống chính.
- Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân quy định tại điểm b khoản 3 Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 là trường hợp người phạm tội mua bán người sau đó đã lấy đi bộ phận trên cơ thể của nạn nhân.
Tại Nghị quyết nêu trên, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc áp dụng tại Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 để truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp sử dụng thủ đoạn môi giới hôn nhân đối với người nước ngoài, theo đó :
1 Người sử dụng thủ đoạn môi giới hôn nhân với người nước ngoài bị truy cứu Trách nhiệm hình sự về tội mua bán người theo quy định tại Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 nếu hành vi thuộc một trong các trường hợp sau:
- Cưỡng bức, đe dọa hoặc lừa gạt để buộc người khác kết hôn với người nước ngoài và chuyển giao người đó cho người nước ngoài để nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác; Luận văn: Tội buôn bán người theo pháp luật hình sự Việt Nam.
- Cưỡng bức, đe dọa hoặc lừa gạt để buộc người khác kết hôn với người nước ngoài và chuyên giao người đó cho người nước ngoài bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;
- Lợi dụng thủ đoạn môi giới hôn nhân với người nước ngoài đẻ tuyền mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để chuyển giao cho người nước ngoài bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;
- Trường hợp người môi giới biết mục đích của người nước ngoài là thông qua hoạt động xem mặt, chọn vợ ( hoặc chồng) hoặc kết hôn để đưa người được chọn ra nước ngoài bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân bán cho người khác hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác nhưng vẫn thực hiện hành vi môi giới để nhận tiền hoặc lợi ích vật chất khác của người nước ngoài thì bị truy cứu Trách nhiệm hình sự về tội mua bán người theo quy định tại Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015
Việc truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp sử dụng thủ đoạn đưa người đi lao động nước ngoài, được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn tại Điều 5 Nghị quyết 02/2019 như sau :
- Người sử dụng thủ đoạn đưa người đi lao động nước ngoài bị truy tố Trách nhiệm hình sự về tôi mua bán người theo quy định tại Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 nếu thuộc một trong các hành vi sau đây:
- Biết người lao động ( từ đủ 16 tuổi trở lên) ra nước ngoài sẽ bị bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác nhưng vẫn lừa gạt hoặc ép buộc người lao động và chuyển giao họ cho phía nước ngoài để lấy tiền hoặc lợi ích vật chất khác;
- Chuyển giao người lao động ( từ đủ 16 tuổi trở lên) để chuyển giao cho phía nước ngoài bán người lao động cho người khác;
- Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người lao động ( từ 16 tuổi trở lên ) để chuyên giao cho phía nước ngoài bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;
- Người sử dụng thủ đoạn môi giới đưa người lao động ở nước ngoài để lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như: sau khi nhận tiền của người lao động đã chiếm đoạt và bỏ trốn, không thực hiện việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài) thì không bị truy cứu Trách nhiệm hình sự về tội mua bán người nhưng tùy thuộc từng trường hợp cụ thể mà bị truy cứu Trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
- Người tổ chức, cưỡng ép người khác ở lại nước ngoài không nhằm mục đích bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc không vì mục đích vô nhân đạo khác thì không bị truy cứu Trách nhiệm hình sự về tội mua bán người nhưng tùy từng trường hợp cụ thể mà bị truy cứu Trách nhiệm hình sự về tội tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép hoặc tội cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép. Luận văn: Tội buôn bán người theo pháp luật hình sự Việt Nam.
Đối với việc truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp người phạm tội đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân, Nghị quyết 02/2019 nêu rõ:
- Người phạm tội đã lấy bộ phận cơ thể của quyết định sự sống của nạn nhân, làm nạn nhân chết thì bị truy cứu Trách nhiệm hình sự về tội giết người theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015
- Người phạm tội đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân nhưng không thuộc trường hợp hướng dẫn tại khoản 1 Điều này thì bị truy cứu Trách nhiệm hình sự về tội mua bán người theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015. Trong trường hợp này, nếu gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe, gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tổn thương cơ thể tỷ lệ là 61% trở lên hoặc làm nạn nhân chết do bị nhiễm trùng hoặc tự sát thì tùy từng trường hợp cụ thể người phạm tội còn bị truy cứu Trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm c hoặc điểm d khoản 3 Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 Điều 7 Truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp sử dụng thủ đoạn nuôi con nuôi.
Người nào sử dụng thủ đoạn môi giới nuôi con nuôi dưới 16 tuổi bị truy cứu Trách nhiệm hình sự về tội mua bán người dưới 16 tuổi theo quy định tại điều 151 Bộ luật hình sự năm 2015 nếu thuộc trường hợp sau đây:
- Biết mục đích của người nhận nuôi con nuôi dưới 16 tuổi là để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận trên cơ thể, bán cho người khác hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác nhưng vẫn chuyển giao nạn nhân để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;
- Lợi dụng việc con nhận nuôi để tiếp nhận con nuôi là người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;
- Lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để môi giới nhận nuôi con nuôi dưới 16 tuổi trái pháp luật hoặc tạo điều kiện cho việc môi giới, nhận nuôi con nuôi trái pháp luật mà biết mục đích của người nhận nuôi con nuôi là nhằm mục đích bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; Luận văn: Tội buôn bán người theo pháp luật hình sự Việt Nam.
Người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để môi giới nhận nuôi con nuôi trái pháp luật hoặc tạo điều kiện cho việc môi giới, nhận nuôi con nuôi trái pháp luật, nhưng không biết người nhận nuôi con nuôi nhằm bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác thì không bị truy cứu Trách nhiệm hình sự về tội mua bán người dưới 16 tuổi, nhưng tùy từng trường hợp cụ thể mà truy cứu Trách nhiệm hình sự về tội tương ứng theo quy định của Bộ luật hình sự 2015.
Người biết người khác thực sự có nhu cầu nuôi con nuôi (do hiếm muộn hoặc có lòng yêu trẻ) đã môi giới cho người này xin con nuôi của người khác vì hoàn cảnh gia đình khó khăn không có điều kiện nuôi con muốn cho con đẻ của mình đi làm con nuôi và có nhận một khoản tiền từ việc cho con và việc môi giới. Đây là trường hợp vì mục đích nhân đạo nên người môi giới, người cho con mình đi làm con nuôi và người nhận con không bị truy cứu Trách nhiệm hình sự về tội mua bán người dưới 16 tuổi Nghị quyết 02/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cũng hướng dẫn tại Điều 8 về việc truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp có nhiều hành vi phạm tội.
Theo đó, trong quá trình thực hiện hành vi mua bán người, người phạm tội còn thực hiện các hành vi phạm tội khác thì ngoài việc bị truy cứu Trách nhiệm hình sự về tội mua bán người, người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội khác tương ứng theo quy định của Bộ luật hình sự.
Tiểu kết chương Luận văn: Tội buôn bán người theo pháp luật hình sự Việt Nam.
Trong chương 1 của Luận văn, tác giả đã nghiên cứu, phân tích những vấn đề mang tính lý luận chung như khái niệm, các dấu hiệu pháp lý của tội mua bán người, các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội mua bán người qua các thời kỳ, giai đoạn lịch sử, qua đó thấy được sự phát triển, hoàn thiện trong nội dung và kỹ thuật lập pháp hình sự về tội mua bán người của nhà làm luật Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả luận văn làm rõ các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành và Nghị quyết số 02/2019 NQ – HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 về tội mua bán người.
Thông qua việc phân tích các quy định của pháp luật hình sự nước ta qua các thời kỳ phát triển về tội mua bán người, luận văn làm rõ xu hướng nhân đạo hóa, phân hóa, quốc tế hóa trong sự phát triển của các quy định của pháp luật hình sự nước ta về tội mua bán người. Luận văn: Tội buôn bán người theo pháp luật hình sự Việt Nam.
Những kết quả nghiên cứu tại chương 1 của luận văn là tiền đề cho việc nghiên cứu làm rõ định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh Quảng Ninh ở chương 2 luận văn này.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp Tội buôn bán người theo pháp luật hình sự