Luận văn: Quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh Quảng Ninh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự về tội mua bán người thể hiện trên nhiều nội dung (phương diện). Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn thạc sĩ, tác giả luận văn chỉ dừng lại phân tích, đánh giá hai nội dung quan trọng là định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội này tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Mặt khác, Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật từ 01/012018 trong khi đó thời gian nghiên cứu là 05 năm, từ năm 2014-2018. Bởi vậy, khi phân tích, đánh giá thực tiễn, từng trường hợp học viên sử dụng Bộ luật hình sự năm 1999 hoặc Bộ luật hình sự năm 2015

2.1. Định tội danh tội mua bán người tại tỉnh Quảng Ninh

2.1.1 Khái quát lý luận định tội danh

Định tội danh là hoạt động nhận thức, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của cơ quan chức năng, có thẩm quyền nhằm đi tới chân lý khách quan trên cơ sở áp dụng pháp luật một cách đúng đắn, đầy đủ nhất các tình tiết, hành vi phạm tội cụ thể, được thực hiện nhận thức đúng nội dung quy phạm pháp luật hình sự, cấu thành tội phạm tương ứng và mối liên hệ tương đồng giữa các dấu hiệu cấu thành tội phạm với các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội bằng các phương pháp và thông qua các giai đoạn nhất định [27,tr.26-27].

Như vậy, theo quy định của pháp luật trong tố tụng hình sự hoạt động của định tội danh là hoạt động quan trọng của các cơ quan có thẩm quyền. Xét về thực chất, định tội danh là hoạt động áp dụng pháp luật, quá trình áp dụng quy phạm pháp luật hình sự diễn ra rất đa dạng và phức tạp, được thực hiện ở ba giai đoạn: định tội danh, định khung hình phạt và quyết định hình phạt. Trong toàn bộ quá trình áp dụng pháp luật hình sự, định tội danh là hoạt động quan trọng nhất trong ba giai đoạn. Bởi vậy, các giai đoạn trong quá trình tố tụng hình sự định tội danh được tiến hành thực hiện ở tất cả từ giai đoạn khởi tố đến giai đoạn thi hành án. Trong khi đó, ở giai đoạn xét xử là bước quyết định hình phạt được tiến hành thực hiện.

Đặc điểm của định tội danh : định tội danh được tiến hành ở tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự từ giai đoạn khởi tố đến gia đoạn xét xử. Đường lối chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta đã đưa định tội danh là một trong những biện pháp của bộ luật hình sự vào đời sống xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm. Định tội danh là sự xác nhận về mặt pháp lý sự phù hợp, thống nhất giữa dấu hiệu trong cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự với các tình tiết của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra trên thực tế. Hiểu theo cách khác, định tội danh tội mua bán người là công việc xác định hành vi phạm tội cụ thể đã thực hiện thỏa mãn đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội mua bán người đã được quy định trong Bộ luật hình sự. Định tội danh chủ yếu là sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, diễn dịch, quy nạp và quan trọng là phương pháp loại trừ. Từ đó cho thấy định tội danh có 04 đặc điểm cơ bản:

Thứ nhất, định tội danh là hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án) và một số cơ quan có thẩm quyền khác. Trên cơ sở xác định đầy đủ những tình tiết của hành vi phạm tội, tính chất và mức độ nguy hiểm người phạm tội gây ra cho xã hội đã thực hiện và sự nhận thức đầy đủ, đúng đắn nội dung của các quy phạm pháp luật.

Thứ hai, định tội danh là quá trình nhận thức có tính logic giữa lý luận và thực tiễn đưa ra sự đánh giá nhất định về mặt pháp lý hình sự đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra trong thực tiễn và xác định xem hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện có phù hợp với dấu hiệu cấu thành tội phạm tội cụ thể quy định tại điều luật thuộc Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự 2015. Luận văn: Quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh.

Thứ ba, định tội danh tội là hoạt động phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy phạm pháp luật, được quy định trong Bộ luật hình sự 2015 cũng như Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Thứ tư, định tội danh là hoạt động đối chiếu sự phù hợp giữa các dấu hiệu thực tế và dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm cụ thể được mô tả trong Bộ luật hình sự.

Thứ năm, về hình thức sau khi đối chiếu sự phù hợp giữa dấu hiệu thực tế của cấu thành tội phạm và dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm sau khi đối chiếu sự phù hợp được mô tả trong Bộ luật hình sự thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ đưa ra kết luận người đó có phạm tội theo điều luật của Bộ luật hình sự bằng một số quyết định tố tụng cụ thể.

Cơ sở pháp lý của định tội danh : Bộ luật hình sự là cơ sở pháp lý trực tiếp cho toàn bộ quá trình định tội danh theo quan điểm của các nhà nghiên cứu khoa học. Bản chất hoạt động định tội danh là xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu CTTP tương ứng do luật Hình sự quy định với các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện [27,tr.61].

Các nhà làm luật khi xây dựng các quy phạm pháp luật hình sự đã tìm xem các dấu hiệu nào là cơ bản, đặc trưng, phổ biến nhất và hay được lặp lại nhiều trong những hành vi ấy, sau đó quy định chúng trong Bộ luật hình sự với tính chất là các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm. Trong Bộ luật hình sự đã có những điều luật về từng tội phạm cụ thể đã chứa đựng đầy đủ các dấu hiệu đặc trưng, điển hình bắt buộc của một loại CTTP. Đó là một hệ thống liên quan chặt chẽ tất cả các dấu hiệu đó tập hợp thành với nhau trở thành một khuôn mẫu pháp lý (mô hình tội phạm), làm cơ sở cho người định tội danh so sánh, đối chiếu với hành vi phạm tội đã xảy ra.

Pháp luật hình sự liệt kê, tất cả các hành vi phạm tội nguy hiểm cho xã hội quy định trong Bộ luật hình sự và các đạo luật hình sự khác là cơ sở pháp lý của định tội danh. Đó là thể hiện nguyên tắc “chỉ người nào phạm tội đã được luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”.[27,tr.61].

Bên cạnh đó Bộ luật Tố tụng hình sự được coi là cơ sở pháp lý gián tiếp, bổ trợ cho hoạt động định tội danh là cơ sở pháp lý chủ yếu, bởi lẽ đã chứa đựng những quy phạm pháp luật quy định về thời hạn, trình tự, thủ tục, chứng cứ để đảm bảo cho quá trình định tội danh diễn ra hợp pháp, chính xác và đúng đắn. Luận văn: Quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh.

Các văn bản pháp luật khác như: Nghị định, Nghị quyết, Thông tư văn bản pháp luật liên ngành có tính chất là cơ sở pháp lý bô trợ cho quá trình định tội danh, chứa đựng nội dung các quy phạm pháp luật chỉ là sự tiếp tục, cụ thể hóa các quy phạm đã được quy định trong Bộ luật hình sự là mô hình CTTP.

  • Ý nghĩa của định tội danh

Việc áp dụng QPPL hình sự bao gồm cả giai đoạn cơ bản là định tội danh. Kết quả định tội danh của các chủ thể chủ thể của hoạt động định tội danh có thể là: định tội danh sai hoặc định tội danh đúng. Bởi vậy ý nghĩa tùy thuộc vào kết quả định tội danh.

Đối với hoạt động định tội danh đúng: định tội danh đúng đồng nghĩa với thực hiện đúng biện pháp chính trị, thực thi đúng chính trị, thực thi đúng ý chí của nhân dân được thực hiện trong luật, bảo vệ một cách công minh và có căn cứ pháp luật thực hiện một cách có nguyên tắc, có hiệu quả các lợi ích của xã hội, của Nhà nước pháp quyền và của con người.

Định tội danh đúng còn là cơ sở để áp dụng chính xác các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự về thẩm quyền điều tra, xét xử, tạm giam là định tội danh đúng, qua đó góp phân bảo vệ các quyền và lợi ích của công dân trong lĩnh vực tư pháp hình sự, thể hiện hoạt động có hiệu quả, ý thức thủ pháp triệt để và ý thức trách nhiệm trong hoạt động nghề nghiệp của cơ quan có thẩm quyền.

Đối với hoạt động định tội danh sai: định tội danh sai sẽ không đảm bảo được tính công minh có căn cứ đúng pháp luật, làm mất uy tín, hiệu lực và sự nghiêm minh của bản án, không thuyết phục được người phạm tội về tính đúng đắn, bản án sai sẽ làm mất lòng tin đối với quần chúng nhân dân đồng thời làm làm hiệu quả giáo dục. Những vụ việc oan sai bắt nguồn từ việc đánh giá chứng cứ một cách phiến diện, thiếu thận trọng, nôn nóng khởi tố, bắt tạm giam, suy diễn chủ quan. Mặt khác, định tội danh sai sẽ dẫn đến một loạt các hậu quả tiêu cực như: bỏ lọt tội phạm, truy cứu trách nhiệm hình sự sai.

2.1.2 Thực trạng định tội danh tội mua bán người tại tỉnh Quảng Ninh Luận văn: Quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh.

2.1.2.1 Thực trạng định tội danh tội mua bán người tại tỉnh Quảng Ninh theo cấu thành tội phạm cơ bản

Định tội danh tội mua bán người theo cấu thành tội phạm cơ bản là định tội danh tội này theo khoản 1 Điều 150 Bộ luật hình sự 2015.

Đây là CTTP mà trong đó bao gồm những dấu hiệu đặc trưng bắt buộc đối với tội phạm, các dấu hiệu đặc trưng đó phản ánh bản chất của loại tội phạm và cho phép phân biệt nó với những loại tội phạm khác. Như vậy, người phạm tội thực hiện hành vi mua hoặc bán, trao đổi con người để lấy tiền, hàng hóa hoặc các lợi ích khác thì sẽ bị áp dụng hình phạt từ 05 năm đến 10 năm được quy định tại khoản 1 Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015.

Từ năm 2014 – 2018, theo số liệu thống kê của phòng Thống kê tội phạm và Công nghệ thông tin – Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã xét xử 21 vụ/31 bị cáo về tội mua bán người.

  • Bảng 2.1 Số bị cáo bị xét xử theo cấu thành tội phạm địa bàn tỉnh Quảng Ninh (2014 – 2018)

Nhìn vào bảng số liệu (Bảng 2.1) số bị cáo bị định tội danh tội mua bán người theo cấu thành tội phạm cơ bản theo khoản 1 là không nhiều mà tập trung chủ yếu ở khoản 2, khoản 3 Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015. Cụ thể là trong 21 vụ án với 31 bị cáo bị xét xử thì có 6 vụ án với 9 bị cáo bị xét xử theo khoản 1, theo cấu thành tội phạm cơ bản. Hầu hết các bị cáo đều thành khẩn khai báo và được điều tra, truy tố, xét xử theo đúng người, đúng tội và đúng theo quy định của pháp luật. Thực tiễn định tội danh tội mua bán người theo cấu thành tội phạm cơ bản cho thấy không có trường hợp định tội danh sai. Bởi lẽ, tội mua bán người thường được thực hiện bằng đồng phạm, mặt khác các nạn nhân bị bán ra nước ngoài khi quay trở về thường tố cáo hành vi của người phạm tội với cơ quan có thẩm quyền, các đối tượng đều thành khẩn khai nhận về hành vi của mình gây ra do vậy việc điều tra, truy tố, xét xử không gặp nhiều vướng mắc. Mức hình phạt của người phạm tội này ở khoản 1 là từ 05 năm đến 10 năm tù. Sau khi tuyên án loại tội phạm này được đánh giá là nghiêm trọng nên đa phần không cho hưởng án treo, các bị cáo đều nhận tội, không có trường hợp nào kháng cáo, kháng nghị.

Điển hình là vụ án Lương Thị Trang, Lương Thị Ngọc, Moong Văn Tuyên, Vi Thị Hồng trú tại cột 8, thành phố Hạ Long phạm tội mua bán người có nội dung cụ thể như sau: Đầu tháng 4/2016, qua một thời gian quen biết Vi Thị Hồng được người phụ nữ tên Yến (một người mua bán người qua biên giới) đưa sang Trung Quốc với giá 100 triệu đồng/người. Một thời gian sau đó, Yến đã gọi điện trao đổi với Lương Thị Ngọc hỏi có ai muốn lao động Trung Quốc không, nếu có thì giới thiệu và Yến hứa sẽ trả tiền môi giới cho Ngọc là 30 triệu đồng/người. Lương Thị Ngọc sau đó gọi cho em chồng của mình là Lương Thị Trang trình bày sự việc. Do khả năng hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên thấy cách làm này “nhàn hạ” mà lại được thêm thu nhập, Trang liền nói rằng có em gái ruột là Lương Thị Hà, khi đó mới 17 tuổi chưa có công ăn việc làm, sẽ cho đi nếu cho Yến đồng ý cho ứng trước 20 triệu đồng. Ngọc về trao đổi lại với Hồng, cô này gọi điện báo cho người phụ nữ trên Yến và được người này chấp thuận. Sau đó không lâu ngày 18/4/2016, Ngọc và Trang bắt taxi vào nhà của vợ chồng Vi Thị Hồng và Moong Văn Tuyên để trao đổi và bàn bạc công việc. Khoảng 19h30 ngày 7/5/2016, khi vợ chồng Tuyên đang tìm cách đưa Hà đi để giao cho Yến thì bị Công an thành phố Móng Cái phát hiện và bắt giữ. Luận văn: Quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh.

Sau khi xem xét các tình tiết liên quan của vụ án, hội đồng xét xử TAND tỉnh Quảng Ninh áp dụng khoản 1 Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 tuyên phạt Lương Thị Ngọc và Lương Thị Trang 7 năm 6 tháng tù, Vi Thị Hồng 6 năm tù, Moong Văn Tuyên 36 tháng tù về tội mua bán người. TAND tỉnh Quảng Ninh đã áp dụng quy định tại khoản 1, Điều 150 Bộ luật hình sự. Như vậy, hành vi của bị cáo Lương Thị Trang vì tiền đã nhẫn tâm bán em của mình cho người khác.

2.1.2.2 Thực trạng định tội danh tội mua bán người tại tỉnh Quảng Ninh, theo cấu thành tăng nặng

Trong những năm qua (từ 2014 đến 2018) tại tỉnh Quảng Ninh, trong tổng số bị cáo bị xét xử vụ 21 vụ/31 bị cáo bị xét xử về tội mua bán người có 15 vụ án với 22 bị cáo bị xét xử theo cấu thành tội phạm tăng nặng . Số bị cáo bị xét xử theo cấu thành tăng nặng chủ yếu tập trung tại các điểm c, điểm d khoản 2 và điểm b, điểm d khoản 3 Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 đó là “gây thương tích tổn hại sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lên tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%,”;“ đưa nạn nhân ra khỏi biên giới nước CHXHCNVN”; “đã lấy bộ phận trên cơ thể của nạn nhân” và làm nạn nhân chết hoặc tự sát” vì Quảng Ninh là tỉnh có nhiều cửa khẩu giáp với biên giới Trung Quốc do đó nắm bắt được tình hình trên nhóm đối tượng mua bán người thường đưa các nạn nhân sang Trung Quốc bán vì mục đích tư lợi.

Các bị cáo thường sử dụng thủ đoạn, phương tiện phạm tội tinh vi và nguy hiểm: Nghiên cứu bản án số 43/2018/HSST ngày 30/9/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử hình sự sơ thẩm đối với các bị cáo Đặng Minh Thắng và Tạ Thành Luân trú tại khu 5, phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả, cho thấy người phạm tội đã sử dụng thủ đoạn phạm tội rất tinh vi, lừa nạn nhân để bán họ. Qua bản án cho thấy, từ trước đó, Luân và Nguyễn Thị Phượng đã quen nhau từ trước đó, bị cáo Thắng và Luân đã lợi dụng sự nhẹ dạ cà tin của bị hại là Nguyễn Thị Phượng đang là sinh viên năm 2 khoa du lịch, trường đại học Hạ Long rồi lừa bán sang Trung Quốc, khi nghe Thắng nói có quen biết người bên Trung Quốc muốn phụ nữ với giá 30 triệu đồng một người. Ngay sau đó, Luân đã chủ ý gặp Phượng và nói rằng bịa chuyện cãi nhau với bố mẹ, không muốn ở nhà và muốn rủ Dung đi Trung Quốc để chơi cho khuây khỏa. Dung vốn có tình cảm với Luân từ trước nên đã không nghi ngờ và đồng ý. Trên quãng đường đi từ Hạ Long đến cửa khẩu Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, khi gần đến nơi người lái xe Taxi tên Trung thấy đối tượng Luân, Thắng có biểu hiện nghi vấn, cứ lòng vòng và nên đã cho xe dừng lại và đã báo thông tin với lực lượng cơ quan chức năng. Luân, Thắng đã bị lực lượng chức năng bắt giữ tại cửa khẩu Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

Qua phương thức thủ đoạn trên, có thế thấy người phạm tội đã sử dụng rất nhiều thủ đoạn khác nhau để lừa dối nạn nhân vì lợi dụng sự quen biết từ trước đó, với mục đích kiếm tiền, và thu lợi bất chính các đối tượng không từ thủ đoạn nào để lừa dối nạn nhân, qua tìm hiểu các vụ án cho thấy việc bắt cóc, cưỡng hiếp chiếm tỉ lệ rất thấp, ngoài ra còn có một số trường hợp là tự nguyện. Luận văn: Quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh.

Thực tiễn định tội danh tội mua bán người tại tỉnh Quảng Ninh cho thấy có nhiều trường hợp nạn nhân bị lừa dối bằng các thủ đoạn tinh vi rồi đưa nạn nhân qua biên giới làm gái mại dâm. Điển hình như vụ bị cáo Triệu Văn Điệp trú tại thị xã Đông Triều bị xét xử tại bản án số 29/2016/HSST ngày 10/03/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh. Nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đầu năm 2015, bị cáo Điệp cùng người anh họ tên là Vũ Văn Dũng sang Trung Quốc làm thuê cho người phụ nữ tên Hồng ở Đông Hưng, Trung Quốc. Sau đó, Điệp đã trở về Việt Nam còn anh Vũ Văn Dũng vẫn ở đó. Trước đó, Điệp còn nợ tiền chị Hồng 10.000NDT nên chị Hồng đã giữ Dũng làm tin nên không cho về, chị Hồng yêu cầu Điệp trả tiền hoặc là phải đưa một người con gái Việt Nam sang bán dâm trừ nợ và hứa sẽ trả cho Điệp 2.000NDT/ người. Điệp biết chị Nga là người ở địa phương nơi mình sinh sống, do chị Nga không có công ăn việc làm nên Điệp đã hứa xin cho chị Nga công việc ở bên kia biên giới để lừa bán chị Nga sang Trung Quốc. Khi đến đường biên Móng Cái, Quảng Ninh thì bị bộ đội biên phòng bắt quả tang ngày 07/10/2015 Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã tuyên bố bị cáo Triệu Văn Điệp phạm tội mua bán người theo quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 150 Bộ luật hình sự 2015.

Theo quan điểm của tác giả, hành vi của bị cáo là lợi dụng sự cả tin của bị hại và hứa rằng sẽ xin việc có thu nhập cao ở khu vực bên kia biên giới với hành động, thủ đoạn rất tinh vi làm quen với bị hại nhằm thể hiện sự thân tình rồi đưa nạn nhân sang biên giới với mục đích tư lợi. Hành vi của các bị cáo đã coi thường pháp luật, xâm hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của nạn nhân ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy thuộc trường hợp rất nghiêm trọng về tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm.

2.1.2.3 Thực trạng định tội danh tội mua bán người tại tỉnh Quảng Ninh, trong trường hợp đặc biệt

Việc phân tích thực tiễn định tội danh tội mua bán người trong trường hợp đặc biệt tại tỉnh Quảng Ninh cho thấy chỉ có các trường hợp đồng phạm và phạm nhiều tội. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015 Luận văn: Quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh.

Khái niệm pháp lý đồng phạm nói lên quy mô một tổ chức tội phạm, được thể hiện trong một vụ án có nhiều người tham gia. Tuy nhiên, không phải cứ có nhiều người tham gia là đồng phạm mà vai trò nhiều người tham gia đó phải cùng cố ý thực hiện một tội phạm, trường hợp không gọi là đồng phạm nếu có nhiều người phạm tội nhưng không cùng thực hiện một tội phạm. Đã có những chế định đồng phạm quy định trong Bộ luật hình sự, khoa học luật hình sự quy định có hai loại gọi là: đồng phạm giản đơn và đồng phạm phức tạp, trong đó đồng phạm nguy hiểm nhất là phạm tội có tổ chức.

Phạm tội mua bán người trong trường hợp đồng phạm là trường hợp nhiều người cố ý cùng bàn bạc, cấu kết chặt chẽ có tổ chức, có sự phân công nhiệm sắp đặt vai trò của từng người tham gia với nhau, vạch ra kế hoạch để từ trước thực hiện một tội phạm, dưới sự điều khiển thống nhất của người cầm đầu. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm được quy định tại khoản 2 Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tội mua bán người tại tỉnh Quảng Ninh đa số người phạm tội thực hiện bằng hình thức đồng phạm. Qua tìm hiểu, nghiên cứu hồ sơ vụ án mua bán người, trong tổng số 21 vụ án có 31 bị cáo. 13 vụ án được thực hiện bằng hình thức đồng phạm, chiếm tỷ lệ 61%, phạm tội thực hiện bằng hình thức đơn lẻ (không có đồng phạm) có 8 vụ, chiếm tỷ lệ 36%. Như vậy, thể hiện xu hướng tội phạm mua bán người nói chung hiện nay là tội phạm có tổ chức, hoạt động theo băng nhóm với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, có tính chuyên nghiệp. Số vụ án được thực hiện bằng hình thức đồng phạm chiếm tỉ lệ rất lớn.

Chẳng hạn, theo bản án hình sự sơ thẩm số 45/2018HSST ngày 23/4/2018 của TAND tỉnh Quảng Ninh thì các bị cáo Nguyễn Thị Tình, Trần Văn Bình, Đoàn Thị Hoa, Bùi Thị Hợp đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp nhau, phù hợp với đơn tố giác của chị Đặng Thị Hồng. Lời khai của các bị cáo thể hiện do quan hệ quen biết nên Đoàn thị Hoa biết Đặng Thị Hồng có ý định sang Trung Quốc lấy chồng. Hoa có nói với Hồng có người bạn ở Móng Cái có thể đưa Hồng qua bên kia biên giới Trung Quốc. Hồng có nói với Hoa nếu Hồng sang Trung Quốc thì Hoa sẽ có trách nhiệm đưa cho mẹ Hồng 40.000.000 triệu đồng. Sau đó, Hoa đưa cho Hồng số điện thoại của Nguyễn Thị Tình, Trần Văn Bình và Bùi Thị Hợp để Hồng liên lạc. Hồng chủ động bắt xe từ Hoành Bồ ra Móng Cái để gặp Tình, Bình và Hợp để sang Trung Quốc lấy chồng. Việc sang Trung Quốc là do Hồng hoàn toàn tự nguyện không bị ai ép buộc. Sau khi dưa được Hồng sang Trung Quốc thì một người tên Trung (chưa rõ lai lịch) giao cho Tình 90.000.000đ, Tình giữ lại 5.000.000đ, số còn lại Tình đưa cho Hợp, Bình chia nhau mỗi người được 15.000.000đ, Bình giữ lại 2.250.000đ là tiền đã mua đồ dùng cá nhân cho Hồng còn lại 52.750.000đ, Bình chuyển khoản qua ngân hàng agribank cho Hoa. Hoa đã đưa cho mẹ và anh trai của Hồng tổng số 32.500.000đ nói là tiền của Hồng đi làm gửi về, 5.000.000đ Hoa mua thẻ điện thoại gửi sang cho Hồng, còn lại Hoa dùng vào việc tiêu sài cá nhân.

Xét trong vụ án này, vai trò của các bị cáo là đồng phạm thực hiện hành vi phạm ở các giai đoạn khác nhau, bị cáo Đoàn Thị Hoa là người cầm đầu, vạch ra kế hoạch, người chủ động lôi kéo trực tiếp liên lạc dẫn đường để đưa phụ nữ Việt Nam để bán sang Trung Quốc. Với vai trò đồng phạm bị cáo Tình, Bình và Hợp đã đưa nạn nhân sang Trung Quốc, nhằm đạt được mục đích của mình đã dùng thủ đoạn lừa dối người bị hại khiến cho người bị hại tin tưởng.

Định tội danh tội mua bán người trong trường hợp phạm nhiều tội là trường hợp hành vi mua bán người cùng một lúc cấu thành nhiều tội khác nhau (chẳng hạn trong vụ án có một người từ 16 tuổi trở lên và 01 người dưới 16 tuổi) hoặc trường hợp ngoài hành vi mua bán người, người phạm tội bị định tội danh về một hoặc một số hành vi phạm tội khác đã thực hiện, chưa hết thời hiệu truy cứu Trách nhiệm hình sự và nay đưa ra xét xử cùng một lần. Về nguyên tắc, các tội phải được định tội danh một cách độc lập. Vụ án dưới đây là một chứng minh, nội dung vụ án được tóm tắt như sau : Khoảng tháng 4 năm 2017, Lư Văn Tình đến thành phố Móng Cái làm bốc vác thuê và quen biết một người tên Viên sinh năm 1983 là người quê Nam Định ( Không xác định được họ, tên đệm và địa chỉ cụ thể). Viên bàn với Tình về địa phương tìm các cô gái trẻ đưa đến Móng Cái để Viên đưa sang Trung Quốc bán cho chủ quán hát và hứa sẽ trả cho Tình 60.000.000đồng/ một người, Tình đồng ý. Đến đầu tháng 9/2017, Tình đến nhà em gái họ là chị Nông Thị Phần (sinh ngày 02/9/1999) ở thôn Nạm Dàng, huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh, Tình gặp Phần và bạn của Phần là cháu Mã Thị Hoa (sinh ngày 06/02/2002). Do có ý định lừa chị Phần và cháu Hoa đi thành phố Móng Cái để giao cho Viên đem đi Trung Quốc bán lấy tiền ăn tiêu nên Tình rủ Phần và cháu Hoa cùng Tình đi Móng Cái chơi và hứa các chi phí đi đường và ăn uống Tình và bạn của Tình sẽ lo. Chị Phần và cháu Hoa đã đồng ý. Tình ra quán internet để lấy ảnh của chị Phần và cháu Hoa gửi cho Viên xem ảnh và được Viên đồng ý. Chiều ngày 08/9/2017, Tình gặp chị Phần và cháu Hoa cùng nhau đi xe khách ra Móng Cái và dùng điện thoại gọi điện và nhắn tin cho Viên ra bên xe khách thành phố Móng Cái đón và trả tiền cho nhà xe. Do Viên chưa xác định được phòng trọ nên Viên bảo Tình đưa chị Phần và cháu Hoa đi chơi loanh quanh ra khi vực trung tâm thành phố Móng Cái thì bị Công an thành phố Móng Cái nghi vấn kiểm tra và bắt giữ Tình, thu giữ của tình một chiếc điện thoại và số tiền 220.000đ. Tại bản án số 28/2018/ HS-ST ngày 10-04-2018 Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh quyết định xét xử Lư Văn Tình về tội “mua bán người” và tội “ Mua bán người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 150 và điểm đ khoản 2 Điều 151 Bộ luật hình sự năm 2015. Luận văn: Quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh.

2.1.2.4 Những khó khăn trong định tội danh tội mua bán người và nguyên nhân

Vấn đề rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự là định tội danh đối với người phạm tội. Đây là tiền đề cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự, cá thể hóa hình phạt một cách chính xác, công minh nhất. Hậu quả rất lớn nếu như định tội danh sai, đặc biệt là không bảo đảm được tính có căn cứ của vụ án, mất đi lòng tin người dân đối với pháp luật, bản án xét xử không đúng người, không đúng tội, không đúng pháp luật.

Thực tiễn định tội danh tội mua bán người tại tỉnh Quảng Ninh cho thấy các cơ quan tiến hành tố tụng còn có những quan điểm chưa thống nhất trong định tội danh khi có các tình tiết định khung tăng nặng, cấu thành tội phạm tăng nặng “mua bán nhiều lần”, “có tính chất chuyên nghiệp”, “dùng thủ đoạn xảo quyệt”… Một số ý kiến cho rằng trên thực tế thì rất khó thiết lập chứng cứ để định tội danh khi có các tình tiết tăng nặng định khung đối với loại tội mua bán người như tình tiết “vì mục đích mại dâm”. Thực tiễn định tội danh về tội mua bán người, hầu hết các vụ án mua bán người mà chủ yếu là mua bán phụ nữ, nạn nhân khi trở về Việt Nam đều khai với cơ quan điều tra về việc bị ép bán dâm nhưng người phạm tội lại từ chối không thừa nhận hành vi trong khi những chứng cứ bổ trợ để củng cố thì thiếu cũng như không xác định được điểm bán dâm, người mua dâm nên rất khó trong công tác điều tra. Vì vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng khó có thể kết luận được là có tình tiết “vì mục đích mại dâm”.

Điển hình như vụ bị cáo Phạm Hải Linh bị TAND tỉnh Quảng Ninh xét xử tại bản án số 47/2015 ngày 20/9/2015 về tội mua bán người. Nội dung vụ án như sau: Năm 2015, bị cáo Phạm Hải Linh đến huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh chơi và có quan hệ yêu đương với Vũ Văn Hiếu. Qua Hiếu, Linh quen với Trịnh Thị Trang từ đó Linh hay đến nhà Trang chơi. Ngày 10 tháng 12 năm 2011, Linh bị một thanh niên tên Trung trú tại huyện Bình Liêu đưa sang Trung Quốc bán cho một người một người phụ nữ tên Phương (không biết họ) là người Việt Nam đã có một thời gian làm việc tại Quảng Châu, Trung Quốc là chủ chứa mại dâm. Tháng 8 năm 2012, sau một khoảng thời gian Linh biết mình bị lừa bán sang trung quốc vì mục đích mại dâm, đã tìm đủ mọi cách bỏ về Việt Nam đến thị trấn Bình Liêu tìm Vũ Văn Hiếu, để tố giác Hiếu về hành vi mua bán người nhưng được biết Vũ Văn Hiếu đã bị bắt về tội mua bán trái phép chất ma túy. Về Việt Nam một khoảng thời gian Linh không tìm được công việc để kiếm thêm thu nhập nên đã quyết định quay lại Trung Quốc tiếp tục hành nghề mại dâm. Sau đó, một thời gian quen biết Linh quen và sống chung như vợ chồng A.Thuận với một người đàn ông Trung Quốc. Trước khi về sống với A Thuận, Phương cho Linh số điện thoại và dặn Linh khi nào về Việt Nam tìm phụ nữ trẻ đẹp đưa sang bán cho Phương, tùy trường hợp Phương sẽ trả tiền hoa hồng cho Linh và Linh đồng ý. Một thời gian sau, Linh về Việt Nam đã lừa được qua những quan hệ của mình đã lừa được Trịnh Thu Trang sang Trung Quốc và bán cho Phương. Tại bản án số 47/2015, ngày 20/9/2015, TAND tỉnh Quảng Ninh đã tuyên bố bị cáo Phạm Hải Linh phạm tội mua bán người theo quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015. Theo quan điểm của tác giả luận văn này, trong vụ án nêu trên do hiểu biết về pháp luật còn hạn chế, Phạm Hải Linh biết rõ lừa bán Trịnh Thị Trang sang Trung Quốc cho chủ chứa mại dâm nhưng vẫn thực hiện hành vi, tuy nhiên khi trở về tố cáo hành vi của Trịnh Thu Trang, Trang khai báo về việc bị ép bán dâm nhưng Phạm Hải Linh không thừa nhận về hành vi của mình. Do đó, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các cơ quan tiến hành tố tụng gặp rất nhiều khó khăn do thiếu chứng cứ để củng cố hành vi do không xác định được đối tượng đã mua dâm và chủ chứa dâm vì vậy các cơ quan tiến hành tố tụng khó có thể định tội danh mua bán người của vì mục đích mại dâm nên đã áp dụng điểm d khoản 2, Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 về tội “đưa nạn nhân ra khỏi biên giới nước CHXHCNVN” đối với bị cáo Phạm Hải Linh. Luận văn: Quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh.

Thực tiễn điều tra truy tố, xét xử tội mua bán người trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh những năm qua cho thấy khó khăn, vướng mắc trong định tội danh tội mua bán người, tập trung vào một số vấn đề sau:

Một là, Điều 150 Bộ luật hình sự 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017) tội mua bán người được quy định, nội hàm “mua” và “bán” quy định trong điều luật đã được chỉ rõ bằng những hành vi cụ thể mà tội phạm thường hay thực hiện như: “Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc bằng các thủ đoạn khác” để có được nạn nhân trong quá trình: “Tuyển mộ”, “vận chuyển”, “chứa chấp” và “chuyển giao”, “tiếp nhận người” nhằm thực hiện hành vi mua bán người. Đây là những thay đổi mang tính cơ bản, phản ánh đúng thực tế khách quan những hành vi phổ biến mà tội phạm mua bán người thường thực hiện trong quá trình phạm tội. Quy định là như vậy, nhưng đã có những khó khăn nhất định trong việc phát hiện, điều tra, vì việc tìm ra các chứng cứ để chứng minh đối tượng có hành vi phạm tội không phải là dễ dàng . Có một số trường hợp, cơ quan điều tra giải cứu được nạn nhân bị bắt cóc, lừa gạt, mua bán nhiều lần khỏi cơ sở mại dâm, nạn nhân khai đã bị bắt cóc và bị đưa sang một cơ sở mại dâm bên kia biên giới ít khi biết mình bị bán với giá bao nhiêu tiền và bị buộc phải bán dâm (tức là có dấu hiệu của hành vi tuyển mộ, vận chuyển, bóc lột nạn nhân), nhưng vì nạn nhân không có bằng chứng chứng minh việc trao người – nhận tiền nên không xử lý được về tội mua bán người nên cơ quan điều tra chỉ có thể xử lý về một số tội khác có mức hình phạt nhẹ hơn tội mua bán người ( đưa nạn nhân ra khỏi biên giới nước CHXHCNVN, chứa mại dâm, bắt giữ hoặc giam người trái pháp luật,…).

Hai là, Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 những yếu tố quan trọng giúp phân biệt giữa hành vi mua bán người với một số hành vi vi phạm pháp luật hình sự khác không quy định thủ đoạn, phương thức mà tội phạm sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội (Ví dụ: tổ chức đưa người ra nước ngoài, chứa mại dâm, môi giới mại dâm,…) cũng như một số hành vi vi phạm không bị coi là tội phạm (Ví dụ: môi giới kết hôn, môi giới lao động, môi giới nhận nuôi con nuôi…), vì giữa các hành vi này có nhiều điểm khá tương đồng (đều là chuyển giao người để lấy tiền hoặc lợi ích vật chất khác). Bên cạnh đó, việc Bộ luật hình sự không quy định thủ đoạn, phương thức phạm tội mà đối tượng được mua bán hoàn toàn tự nguyện đã khiến cho các cơ quan chức năng còn có nhiều quan điểm chưa thống nhất với nhau khi xử lý những trường hợp mua bán người. (Ví dụ: một cô gái vì muốn được ra sinh sống ở nước ngoài và có một khoản tiền phụ giúp bố mẹ nên đã đồng ý để một người môi giới đưa mình sang Hàn Quốc kết hôn; người môi giới và bố mẹ cô gái đều nhận được một khoản tiền người đàn ông Hàn Quốc). Trong trường hợp này, các cơ quan có thẩm quyền chưa thống nhất với nhau về việc định tội danh và quyết định hình phạt, có nên xử lý người đó về tội mua bán người hay không. Luận văn: Quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh.

Ba là, yếu tố để phân biệt tội mua bán người và tội mua bán người dưới 16 tuổi theo Điều 150 Bộ luật hình sự và Điều 151 Bộ luật hình sự 2015 chỉ là sự khác biệt về độ tuổi của người bị mua bán, trong khi mức độ nguy hiểm của những người phạm tội nhằm vào người dưới 16 tuổi còn thể hiện ở cả cách thức thực hiện tội phạm ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội.

Bốn là, trong khi mục đích “bóc lột” chính là yếu tố lột tả bản chất nguy hiểm của loại tội phạm buôn bán người tại Điều 150 và Điều 151 Bộ luật hình sự 2015 không quy định mục đích “bóc lột” là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm, với tính chất là tội phạm này vì mục tư lợi mà không từ thủ đoạn nhằm vào con người, xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhân phẩm, danh dự và quyền tự do của con người. Cái “lợi” mà bọn tội phạm hướng tới khi thực hiện loại tội phạm này không phải chỉ là khoản tiền lợi ích thu được từ việc mua bán người mà là những lợi ích lớn và lâu dài thu được từ việc bóc lột nạn nhân (bóc lột mại dâm, cưỡng bức lao động, lấy các bộ phận cơ thể,..). Mặt khác, mục đích “bóc lột” còn là một trong những dấu hiệu quan trọng để phân biệt tội phạm mua bán người với một số tội phạm khác (Ví dụ: tội tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép).

Qua thời gian tìm hiểu, nghiên cứu hồ sơ vụ án cũng cho thấy có những trường hợp môi giới lao động, môi giới kết hôn có yếu tố nước ngoài, cho nhận con nuôi (người nhận nuôi có đưa cho bố mẹ đẻ của đứa trẻ một số tiền), Thực tế điều tra, truy tố, xét xử về hình thức thì hoàn toàn đủ dấu hiệu cấu thành tội mua bán người quy định tại Điều 150 hoặc Điều 151 Bộ luật hình sự năm 2015, nhưng “nạn nhân” trong những trường hợp này lại có một cuộc sống đầy đủ hơn trước khi bị bán, không bị thiệt hại gì. Đối với những trường hợp này, người bị mua bán không bị bóc lột, tổn thất về tinh thần, sức khỏe như vậy nếu xử lý về tội mua bán người hay mua bán trẻ em có phần chưa kiên quyết và không phục vụ được mục đích đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Các cơ quan tiến hành tố tụng gặp phải một trong những khó khăn trong việc định tội danh tội mua bán người là chứng minh yếu tố tư lợi. Bộ luật hình sự không mô tả hành vi khách quan của tội mua bán người, nhưng theo hướng dẫn của Nghị quyết số 02 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì “mua bán người được hiểu là vì mục đích tư lợi”. Từ đó từ đó được hiểu rằng mua bán người cũng là việc mua bán vì mục đích tư lợi. Tuy nhiên việc tìm hiểu chứng minh có yếu tố tư lợi là điều không phải dễ dàng. Trong những vụ án chứng cứ buộc tội chủ yếu là lời khai cua người bị hại mà nạn nhân không thể biết được kẻ phạm tội đã tư lợi bao nhiêu hoặc có thỏa thuận về việc hưởng lợi hay không, không nhìn thấy việc giao người, nhận tiền bạc giữa người mua và người bán, còn người phạm tội thì một mực quanh co chối tội, không thừa nhận hành vi của mình về việc hưởng lợi thì không thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người gây khó khăn cho công tác điều tra, mà chỉ có thể xử lý hình sự về tội tổ chức đưa người khác ra nước ngoài trái phép hoặc môi giới mại dâm, cơ quan tiến hành tố tụng cũng còn có điểm chưa thống nhất cấu thành tội phạm mua bán người trong quá trình định tội danh. Có cơ quan tiến hành tố tụng cho rằng đã cấu thành tội mua bán người chỉ cần có sự thỏa mãn dấu hiệu về việc đổi người lấy lợi ích vật chất, nhưng thực tế lại có cơ quan cho rằng cần làm rõ các đối tượng hưởng lợi. Các cơ quan tiến hành tố tụng về việc xử lý đối với trưởng hợp việc mua bán chưa có quan điểm thống nhất. Luận văn: Quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh.

Hiện nay, vấn đề xác định độ tuổi của nạn nhân còn gặp nhiều khó khăn, để cơ quan điều tra định tội danh đúng đối với người phạm tội là buôn bán người hay buôn bán trẻ em. Bởi vì, việc đăng ký khai sinh còn nhiều vấn đề bất cập, chưa kịp thời, chưa chính xác đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số chưa có nhận thức đầy đủ về pháp luật. Nên đã có vụ án mất nhiều thời gian phải đi trưng cầu giám định độ tuổi của nạn nhân nhưng đúng sai có thể đến 6 tháng. Nếu áp dụng pháp luật có lợi cho bị can thì sẽ bất lợi cho bị hại, nhiều trường hợp có thể dẫn đến bỏ lọt tội phạm.

Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh qua thực tiễn điều tra truy tố, xét xử tội mua bán người nhưng năm qua cho thấy nhiều nguyên nhân khó khăn vướng mắc trong việc định tội danh tội mua bán người còn một số bất cập, hạn chế như:

Thứ nhất, do một số quy định của Bộ luật hình sự hiện hành yếu tố cấu thành tội mua bán người còn chưa hợp lý theo quy định của pháp luật hiện hành ý chí của đối tượng mua bán không có ảnh hưởng đến việc định tội, điều này có những bất hợp lý gây chồng chéo giữa tội mua bán người với tội môi giới mại dâm. Ví dụ, trong trường hợp giới thiệu tuyển mộ phụ nữ vào những tụ điểm mại dâm trong nội địa. Sự chồng chéo thể hiện rất rõ giữa tội “tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài” với “tội mua bán người”. Cơ quan tiến hành tố tụng gặp nhiều khó khăn khi chứng minh yếu yếu tố tư lợi và cấu thành tội phạm, nên chưa phản ánh được bản chất của tội mua bán người nói chung.

Bên cạnh đó, việc nạn nhân có bị đặt trước nguy cơ bị xâm hại, lạm dụng, bóc lột hay không, có ý nghĩa trong việc định tội theo quy định của pháp luật hiện hành. Qua nghiên cứu hồ cơ vụ án, có những trường hợp môi giới lao động, môi giới kết hôn có yếu tố nước ngoài cho nhận con nuôi về hình thức thực tế điều tra, truy tố, xét xử cho thấy hoàn toàn đủ dấu hiệu cấu thành tội mua bán người nhưng đối tượng được trao đổi không hề bị thiệt hại gì.

2.2. Quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh Quảng Ninh Luận văn: Quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh.

2.2.1 Khái quát lý luận về quyết định hình phạt

Một công việc quan trọng trong hoạt động xét xử được thực hiện sau khi đã định tội danh trên cơ sở quy định của Bộ luật hình sự là quyết định hình phạt đối với người phạm tội. Nếu quyết định áp dụng hình phạt thì Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể đã được quy định đối với tội phạm tương ứng để áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên, gắn với quyết định hình phạt là có thể miễn Trách nhiệm hình sự hoặc có thể là miễn hình phạt.

Quyết định hình phạt của Hội đồng xét xử là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự. Hoạt động này của Tòa án được tiến hành trên cơ sở tuân thủ nghiêm ngặt những trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, cần lưu ý rằng nghĩa vụ và Trách nhiệm hình sự của người phạm tội không tự nhiên phát sinh nếu không có thủ tục chứng minh người đó phạm tội và áp dụng các biện pháp chế tài của Luật hình sự với người phạm tội. Vì vậy, quyết định hình phạt đối với tội phạm và người phạm tội mua bán người luôn là hoạt động nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự do Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân tiến hành trên cơ sở tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt đối với người phạm tội mua bán người [28,tr.386].

Quyết định hình phạt đối với người phạm tội trường hợp luật quy định là pháp nhân thương mại phạm tội có lỗi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm tại thời điểm thực hiện, phạm tội trong điều kiện có năng lực Trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định đối với cá nhân. Hình phạt mà Tòa án tuyên phạt không ai có thể chấp hành thay, dù là tự nguyện. Do đó, nếu chủ thể là cá nhân thì đối tượng của quyết định hình phạt là cá nhân và chính người này sẽ chấp hành bản án. Có như vậy, hình phạt đúng người đúng tội có sự công minh, chính xác, mới đủ sức răn đe, đạt được mục đích trừng trị và giáo dục, cải tạo người phạm tội.

Quyết định hình phạt được tiến hành sau khi đã định tội danh. Trong quyết định hình phạt, Tòa án có thể quyết định miễn hình phạt hoặc xác định khung hình phạt, biện pháp tư pháp thay thế hình phạt cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự để áp dụng đối với người phạm tội thể hiện trong bản án kết tội của Tòa án.

  • Nội dung của quyết định hình phạt tội mua bán người thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, Tòa án lựa chọn một trong những hình phạt quy định trong Bộ luật hình sự để quyết định đối với bị cáo đã phạm tội cụ thể. Luận văn: Quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh.

Thứ hai, nội dung đó được hội đồng xét xử tiến hành theo trình tự, thủ tục đã nêu ở trên và việc xác định một mức hình phạt cụ thể đối với bị cáo được áp dụng cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Mức hình phạt được áp dụng đối với bị cáo được thể hiện trong bản án của Tóa án buộc tội theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và được công bố một cách công khai sau khi tuyên án [28, tr.385].

Các nguyên tắc quyết định hình phạt: là một trong những vấn đề quan trọng của chế định quyết định hình phạt là các nguyên tắc quyết định hình phạt đối với tội phạm và người phạm tội, bởi vì tính quyết định hình phạt đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, công bằng và hợp lý hay không tùy thuộc rất nhiều vào việc áp dụng các nguyên tắc đó trong thực tiễn xét xử của Tòa án. Trong số các nguyên tắc quyết định hình phạt có thể kể đến như:

Thứ nhất, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa nguyên tắc này đòi hỏi khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, Tòa án phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định, chế định của Bộ luật hình sự về quyết định hình phạt.

Thứ hai, nguyên tắc nhân đạo trong quyết định hình phạt thể hiện ở chỗ quyết định hình phạt phải thể hiện sự khoan hồng của pháp luật hình sự đối với người phạm tội nhằm nhanh chóng cải tạo họ, giáo dục họ trở thành người lương thiện. Khi quyết định hình phạt Tòa án phải cân nhắc lợi ích xã hội, của Nhà nước Nhưng dù có khoan hồng thì vẫn phải bảo đảm là hình phạt đã quy định phải được quyết định ở mức cần và đủ đối với người phạm tội trong một thể thống nhất, hài hòa và hợp lý.

Thứ ba, nguyên tắc cá thể hóa khi quyết định hình phạt đối. Nội dung của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ khi quyết định hình phạt, Tòa án cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, căn cứ nhân thân người phạm tội và xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của người phạm tội để quyết định hình phạt.

Thứ tư, nguyên tắc công bằng trong quyết định hình phạt nghĩa là hình phạt bao giờ cũng được áp dụng đối với người phạm tội cụ thể mà tất yếu những người đó có những đặc điểm, tính cách, địa vị, xã hội khác nhau, loại và mức hình phạt do Tòa án tuyên phạt đối với người phạm tội mua bán người cũng phải tương xứng được quy định trong Bộ luật hình sự. Mức độ tội phạm càng nghiêm trọng và trong những điều kiện khác nhau, thì hình phạt càng nghiêm khắc và ngược lại [28, Tr.386-394].

Các căn cứ quyết định hình phạt: tại Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về căn cứ quyết định hình phạt: “khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự” đòi hỏi phải tuân thủ theo những nguyên tắc quan trọng sau: Luận văn: Quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh.

Thứ nhất, căn cứ vào các quy định của phần chung và phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, (điều luật quy định tội phạm mà các bị cáo đã phạm).

Thứ hai, một trong những nguyên tắc của Bộ luật hình sự Việt Nam là nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự, theo đó khi quyết định hình phạt Tòa án phải cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Nói cách khác, người phạm tội sẽ phải gánh chịu một bản án cần và đủ do pháp luật hình sự quy định. Chính vì vậy, Tòa án khi quyết định hình phạt phải căn cứ vào hành vi, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của người phạm tội.

Thứ ba, cân nhắc nhân thân người phạm tội khi quyết định hình phạt là một biểu hiện của nhân đạo, công bằng, vừa như phương thức bảo đảm cải tạo, giáo dục người phạm tội, phòng ngừa họ phạm tội mới.

Thứ tư, khi tòa án quyết định hình phạt, luật quy định (Điều 50 Bộ luật hình sự 2015) không những cần phải cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của người phạm tội gây ra cho xã hội, nhân thân người phạm tội mà còn phải cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự trong vụ án hình sự. tức là một trong những điều kiện quan trọng của việc cá thể hóa hình phạt, đó là một trong những căn cứ của quyết định hình phạt [28, tr. 395-441].

Ý nghĩa của quyết định hình phạt [28,tr.386] quyết định hình phạt có ý nghĩa về chính trị và pháp luật đặc biệt quan trọng. Chỉ khi quyết định hình phạt một cách chính xác và công bằng thì mục đích của hình phạt mới có tác dụng cải tạo và giáo dục người phạm tội, ngăn ngừa người phạm tội mới và giáo dục người khác. Quyết định hình phạt quá nặng so với tính chất, và mức độ nguy hiểm của người phạm tội sẽ tạo tâm lý không công bằng gây ra ở người bị án không tin tưởng vào tính chính xác, công minh của pháp luật và sự công bằng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Quyết định hình phạt quá nhẹ, người phạm tội và ở những người khác sẽ có thái độ xem thường pháp luật. Cả hai tình trạng đó đều dẫn đến hậu quả là làm giảm ý nghĩa phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung về tính răn đe, giáo dục của hình phạt. Do đó, hội đồng xét xử phải đưa ra bản án có quyết đình hình phạt đúng đắn pháp luật cho từng trường hợp cụ thể, sẽ góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, trật tự và kỷ cương xã hội.

2.2.2 Thực trạng quyết định hình phạt đối với tội mua bán người theo khoản 1 (khoản cơ bản) Luận văn: Quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh.

Việc phân tích thực trạng quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh Quảng Ninh, tác giả luận văn dựa vào số liệu bị cáo bị xét xử từng năm và theo tỷ lệ từng mức phạt, cụ thể:

  • Bảng 2.2. Cơ cấu mức hình phạt ở cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với các bị cáo phạm tội mua bán người từ năm 2014 đến năm 2018

Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 đã dự liệu tội mua bán người là loại tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Hình phạt được áp dụng đối với tội mua bán người trong những năm qua trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh phản ánh “đời sống” của pháp luật hình sự. Tuy vậy, xét theo cơ cấu hình phạt trong một số trưởng hợp cần phải làm rõ, cụ thể mức độ nghiêm trọng trong vụ án như thế nào thông qua những vụ án xét xử và nhận một mức phạt tù tương thích.

Việc phân tích hình phạt được thể hiện trong các bản án đối với tội mua bán người từ năm 2014- 2018 mà Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh cho thấy có ít trường hợp áp dụng khoản 1 Điều 150 Bộ luật hình sự 2015. Điều đó cho thấy dù số lượng án về loại tội này không phải là lớn nhưng mức độ nghiêm trọng lại cao.

Chẳng hạn tại bản án hình sự sơ thẩm số 30/HSST/2015 ngày 19/9/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã áp dụng điểm s khoản 1 điều 51; khoản 1, Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt. Vụ án cụ thể như sau: Ngày 21/02/2015 Nguyễn Trường Sơn đến quán bia của Nguyễn Thị Dương chủ quán bia (chị họ của Sơn) để chơi, trong lúc ngồi uống nước Sơn gặp và có làm quen với chị Quách Thị Nga trú tại Trần Phú, thành phố Cẩm Phả, bản thân chị Nga là đang người đi tìm việc làm nhưng do Nga lại không có giấy tờ tùy thân nên chị Dương không nhận. Đến ngày 24/02/2015, Sơn đã giới thiệu Nga đến quán cà phê Chiều Tím chủ quán là Nguyễn Thị Phương, sau một thời gian thử việc chị Phương để Nga làm thuê tại quán cà phê này. Sáng ngày 25/2 Phương bàn với Sơn do Nga không có giấy tờ tùy thân, cũng không làm ở đây được hiện Phương có mẹ nuôi là Chu Thị Yến là chủ chứa mại dâm. Phương và Sơn thống nhất đưa Nga đi bán cho Yến. Trước đó, bà Yến đã thống nhất chia tiền môi giới cho Phương là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Phương chia cho Sơn 3.000.000 đồng.

Phân tích thực tiễn quyết định hình phạt theo khoản cơ bản đối với tội mua bán người tại tỉnh Quảng Ninh cho thấy Tòa án nhân dân các cấp ở tỉnh Quảng Ninh đã đánh giá một cách toàn diện, khách quan, đầy đủ chứng cứ và các tình tiết trong vụ án.

2.2.3 Thực tiễn quyết định hình phạt đối với tội mua bán người theo cấu thành tăng nặng

Việc phân tích nội dung của các vụ án về mua bán người trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong thời gian từ năm 2014 đến năm 2018 cho thấy đa phần người phạm tội về thủ đoạn, phương thức phạm tội của tội phạm mua bán người rất tinh vi, có tính chuyên nghiệp, họ đều nhẫn tâm đưa nạn nhân ra khỏi biên giới nước CHXHCN Việt Nam để bán vì mục đích tư lợi hoặc người phạm tội thực hiện trót lọt hành vi mua bán nhiều người, mua bán nhiều lần. Các vụ án đưa ra xét xử, Hội đồng xét xử thường áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại khoản 2 Điều 150 của Bộ luật hình sự 2015 quy định về tội mua bán người theo đó “ người phạm tội một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ năm năm tù đến hai mười năm tù”, tức là loại tội rất nghiêm trọng. Luận văn: Quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh.

Qua nghiên cứu 23 hồ sơ vụ án với 31 bị cáo đã bị xét xử về tội mua bán người thì trường hợp phạm tội theo khoản 2 có khoảng 13 vụ với 20 bị cáo, hầu hết các bị cáo đều được xét xử theo đúng quy định của pháp luật. Không có trường hợp kháng nghị, kháng cáo. Chẳng hạn, theo bản án về tội mua bán người, hình sự sơ thẩm số 18/2015/HSST ngày 26/5/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh thì Đinh Văn Hùng khi Hùng làm quen với Cao Mỹ Linh khi họ cùng tham dự đám cưới người họ hàng của Mỹ Linh. Hai người đã có một thời gian làm quen với nhau và Mỹ Linh không ngần ngại cho Hùng số điện thoại để tiện liên lạc, sau một thời gian tìm hiểu và họ đã hẹn hò nhau đi chơi. Vì thời gian đó Hùng đã túng thiếu tiền bạc nên đã bàn lên kế hoạch với Nguyễn Mạnh Trường, trú tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh bằng mọi cách lừa đưa Mỹ Linh sang biên giới Trung Quốc bán cho Phạm Hoài Dương để lấy tiền tiêu xài. Sau đó, Hùng gọi cho đối tượng Nguyễn Anh Tài, Nguyễn Mạnh Trường tham gia cùng và đến nhà nghỉ Duy Khánh, cọc 6, thành phố Cẩm Phả để gặp nhau. Tại nhà nghỉ Duy Khánh, Hùng gọi điện trao đổi với Dương, được Dương đồng ý và nói cứ đưa “con mồi” sang Trung Quốc. Trưa ngày 21/6/2013, bằng kế hoạch đã được bàn bạc từ trước với Tài, Trường mục đích là đi thăm quan du lịch Hùng chủ động gọi xe đến đón Mỹ Linh. Sau đó cả nhóm đi đến cửa khẩu Hoành Mô, thị trấn Bình Liêu đi theo đường mòn biên giới sang Quảng Tây, Trung Quốc gặp Dương và một người phụ nữ tên Hằng chờ sẵn ở đó. Hùng, Tài đã bán Mỹ Linh cho Dương được 30.300.000đ (ba mươi triệu ba trăm nghìn đồng). Dương sau khi mua Mỹ Linh thì lại bán tiếp Mỹ Linh cho một người phụ nữ tên Bình để lấy tiền chênh lệch ở Quảng Tây, Trung Quốc. Thời gian ở Trung Quốc. Sau đó một khoảng thời gian, Mỹ Linh đã biết rằng mình bị lừa bán vào “ổ chứa” và bị các đối tượng ép bán dâm, tìm mọi cách trở về Việt Nam và đã trình báo sự việc với cơ quan chức năng. Tại bản án nói trên, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh tuyên bố các bị cáo Phạm Hoài Dương, Đinh Văn Hùng, Nguyễn Anh Tài, Nguyễn Mạnh Trường phạm tội mua bán người. Áp dụng điểm d, e khoản 2 Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt các bị cáo Phạm Hoài Dương 08 năm tù, bị cáo Định Văn Hùng 09 năm 6 tháng tù, Áp dụng điểm d, e khoản 2 Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Anh Tài, Nguyễn Mạnh Trường 05 năm tù.

Theo quan điểm của tác giả luận, hành vi của các bị cáo là rất tinh vi, với thủ đoạn làm quen sau đó xin số điện thoại và thỉnh thoảng gọi cho nhau để nhằm thể hiện sự thân tình với các bị hại sau đó lợi dụng sự cả tin của các bị hại lừa dối rủ đi nhà người quen chơi sau đó tìm cách liên lạc với đầu mối đưa sang Trung Quốc bán, xét tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo vì động cơ tư lợi, coi con người như một món hàng đem trao đổi mua bán thu lợi đã xâm hại đến danh dự, nhân phẩm thỏa mãn nhu cầu vật chất tầm thường của bản thân, gây ra bao đau khổ cho chính những nạn nhân và gia đình của họ. Luận văn: Quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh.

Cũng có một số trường hợp phạm tội mua bán người, người phạm tội bị xét xử theo khoản 2 Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015. Chẳng hạn, nội dung vụ án như sau: Bị cáo Nguyễn Ngọc Yến trú tại Mông Dương, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã thành khẩn khai báo do một khoảng thời gian lấy chồng bên Đông Hưng, Trung Quốc, Yến đã quen biết người đàn ông tên A.Chân sống gần đó (đang độc thân), sau một thời gian gần gũi chia sẻ mới biết được A.Chân có nhu cầu muốn tìm vợ người Việt Nam và thỏa thuận với Yến, nếu đưa được người sang Trung Quốc lấy làm vợ thì sẽ trả cho Yến 5.000NDT/người, cho nên bị cáo Yến đã chợt nảy sinh ý định tìm phụ nữ Việt Nam giới thiệu bán cho người có nhu cầu để được hưởng một khoản tiền môi giới nhất định từ người mua. Để thực hiện ý định trên, thông qua Ngô Thị Bích Liên giới thiệu Yến làm quen với Đỗ Lan Hương một chủ chứa mại dâm trú tại tại phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh và Yến trao đổi với Hương nếu Hương giới thiệu được cho Yến thì mỗi người Yến sẽ chia cho Hương từ 2.000.000 triệu đồng đến 5.000.000 đồng, Yến sẽ chịu mọi chi phí ban đầu để đưa người sang Trung Quốc. Để tìm được người đi Trung Quốc như Yến nói thì không phải là khó đối với Hương, bản thân Hương đã đưa ra thông tin tìm kiếm trên nhiều trang mạng xã hội như Facebook, zalo rằng có mối cho phụ nữ đi xuất khẩu lao động hoặc lấy chồng bên Trung Quốc. Vì thế, chị Lý Thị Cẩm Vân đã có chồng, là một người hàng xóm quen biết với Hương đã đọc thông tin và muốn sang Trung Quốc kiếm việc nên đã tìm gặp Hương, đặt vấn đề nhờ Hương tìm việc làm bên kia biên giới. Tuy nhiên, trong lúc chờ để làm thủ tục chuẩn bị sang Trung Quốc thì Vân gặp trao đổi Hương và Yến, hai người này nói mục đích chính đưa sang Trung Quốc khác nhau thấy vậy nên Vân từ chối khéo. Với cách thức thực hiện như vậy Yến và Hương đã đưa được Hoàng Anh Tâm và Đinh Thu Hường trú tại Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh bán cho A.Chân người đàn ông Trung Quốc. Và sau khi bán được thành công hai người, Yến đã nhận được tiền hoa hồng và chia cho Hương 15.000.000đ (mười năm triệu đồng).

Tại bản án số 29/2015/HSST ngày 24/10/2018 Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc Yến và Đỗ Lan Hương phạm tội mua bán người. Áp dụng điểm r, s khoản 1 Điều 46; Điều 53 Bộ luật hình sự; điểm d,đ,e khoản 2 Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Yến 15 (mười năm) năm tù; xử phạt bị cáo Đỗ Lan Hương 12 (mười hai) năm tù thời gian tù tính từ ngày bị bắt 28/4/2019 .

Tuy nhiên, theo ý kiến tác giả, mức hình phạt 15 (mười năm) năm tù giam được áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Yến và 12 năm tù đối với bị cáo Đỗ Lan Hương. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của các bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, các bị cáo đã có vai trò rất tích cực tham gia thực hiện phạm tội của mình, Hội đồng xét xử đã xử lý một bản án đối với các bị cáo có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Vì vậy, mức án trên tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.

2.2.4 Thực trạng quyết định hình phạt đối với tội mua bán người trong trường hợp đặc biệt Luận văn: Quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh.

Thực tiễn xét xử các vụ án về tội mua bán người tại tỉnh Quảng Ninh cho thấy phần lớn được thực hiện dưới hình thức đồng phạm. Do tính chất đặc thù đó, tổ chức đồng phạm có nhiều người tham gia phạm tội cho nên hành động có phần liều lĩnh hơn, có điều kiện che giấu tội phạm, có khả năng gây hậu quả lớn hơn, chống lại việc phát hiện của cơ quan chức năng, cho nên về nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự của từng đối tượng tham gia và quyết định hình phạt của Tòa án đối với trường hợp đặc biệt này không giống phạm tội riêng lẻ.

Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm ngoài việc tuân thủ tại Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về căn cứ quyết định hình phạt, Tòa án tỉnh Quảng Ninh còn phải tuân thủ tại Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm. Khi quyết định hình phạt đối với những người tham gia đồng phạm cụ thể Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh dựa vào các căn cứ cụ thể sau:

Thứ nhất, về tính chất đồng phạm thường gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng hơn trường hợp một người phạm tội riêng lẻ, số người tham gia hoạt động thực hiện tội phạm nhiều hơn, những người cùng phạm tội có điều kiện giúp đỡ nhau về vật chất và tinh thần, do đó làm cho hoạt động phạm tội kiên quyết và táo bạo hơn. Một trong những minh chứng là bản án số 52/HSST ngày 02/12/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử Phạm Thái Phong và Nguyễn Văn Mạnh phạm tội mua bán người theo quy định tại khoản 2 Điều 150 Bộ luật hình sự 2015. Nội dung bản án như sau: khoảng thời gian tháng 8/2015 Phạm Thái Phong làm thuê cho một người đàn ông tên A.Bình bên biên giới Trung Quốc. Người này trao đổi đặt vấn đề giúp Phong kiếm thêm thu nhập. A.Bình nói rằng ở bên này đang tuyển thêm nhân công, về tìm người Việt Nam đưa sang Trung Quốc bán cho A.Bình đưa đi làm thuê tại một công ty xuất nhập khẩu hoặc đưa đi lấy chồng và rồi hứa sẽ trả tiền công. Sau đó, Phong về Việt Nam và làm quen với Nguyễn Văn Mạnh trú tại thành phố Cẩm Phả và hỏi Mạnh xem có biết ai có thể đem bán sang Trung Quốc. Do hoàn cảnh gia đình, và nhận thức pháp luật còn hạn chế, Mạnh đã nảy sinh ý định bán em gái của mình là Hoàng Ngọc Trang. Ngày 04/5/2016, Mạnh gọi điện trao đổi cho Nhung nói là có người môi giới công việc bên Trung Quốc lấy. Trang đã đồng ý và nói đi làm bên đó thì được trả bao nhiêu tiền (thực chất là lừa dối bán Trang sang Trung Quốc). Do trước đó Phong trả Mạnh 80.000.000 (tám mươi triệu đồng/người), vì thế Mạnh đã đưa Trang trước 25.000.000 đồng (hai mươi năm triệu đồng) là tiền đi lại. Sau đó, Trang có nói với Mạnh là đưa cả em gái là Bùi Thanh Nga muốn đi làm cùng. Mạnh gọi điện cho Phong về việc đã tìm được 02 người và thống nhất chương trình hẹn ngày đi. Sau khi đưa thành công hai phụ nữ đến bên kia biên giới các bị cáo đã bị lực lượng chức năng bắt giữ tại khu vực mốc 12 thuộc cửa khẩu Bắc Phong Sinh, tỉnh Quảng Nịnh.

Thứ hai, khi Tòa án quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm phải căn cứ vào tính chất tham gia hành động phạm tội của từng người đồng phạm được quyết định bởi vai trò của từng đồng phạm thực hiện, bởi tính đặc thù về chức năng của người đó trong hoạt động cùng chung phạm tội [28,tr.420]. Luận văn: Quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh.

Thứ ba, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của riêng từng đồng phạm, khi Tòa án quyết định hình phạt đối với từng người đồng phạm, phải cân nhắc tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự riêng của người phạm tội. Điều đó có nghĩa rằng, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề cập riêng đến người đồng phạm nào, thì chỉ được cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với người đó, xác định rõ vai trò đồng phạm của từng người, ai là người tổ chức, người thực hành, người xúi giục. Điều đó thể hiện tư tưởng sự cá thể hóa sâu sắc khi quyết định hình phạt đối với từng đồng phạm. Chẳng hạn, về tính chất và mức độ nguy hiểm của vụ án cần xác định rõ nếu như người thực hành có án tích hoặc tái phạm, thì những tình tiết đó sẽ là tình tiết tăng nặng chỉ được cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với người đó, chứ không được cân nhắc để quyết định hình phạt đối với người phạm tội khác [28,tr.421].

Phân tích bản án hình sự sơ thẩm số 38/2017/HS-ST ngày 2/6/2017 của TAND tỉnh Quảng Ninh, nội dung bản án như sau: ngày 20/04/2017 Trần Đức Anh sau một thời gian liên lạc và đã quen biết Phùng Thị Thùy Linh trú tại huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh qua mạng xã hội zalo, facebook, Trần Đức Anh đã tìm đủ cách mọi cách lừa bán hai chị em Phùng Thị Thùy Linh và Phùng Mạnh Quân sang Trung Quốc, Trần Đức Anh đã thuê xe taxi đến đón Phùng Thị Thùy Linh và Phùng Mạnh Quân ở huyện Tiên Yên đến thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh và gọi cho Nguyễn Thị Lan cùng bàn bạc – Một người phụ nữ đã quen Trần Đức Anh từ năm 2013 và để lừa bán nạn nhân sang Trung Quốc. Đến ngày 21/04/2017 Nguyễn Thị Lan cùng một người đàn ông Trung Quốc đến nhà nghỉ Bình Yên tại thành phố Móng Cái gặp Trần Đức Anh, sau đó cả hai vào phòng nghỉ của Phùng Thị Thùy Linh chụp ảnh gửi sang cho người đàn ông Trung Quốc xem mặt, người đàn ông Trung Quốc đã đưa cho Lan hai cọc tiền mệnh giá 100 NDT ( nhân dân tệ). Nguyễn Thị Lan nói với Trần Đức Anh bán Phùng Thị Thùy Linh với giá 80.000.000 đồng, khi nào giao Phùng Thị Thùy Linh sang Trung Quốc xong Lan sẽ chia cho Trần Đức Anh 40.000.000 đồng. Lan cùng với người đàn ông Trung Quốc đến nhà nghỉ Bình Yên đón Phùng Thị Thùy Linh đưa ra bến đò thuộc phường Ka Long để đi sang Trung Quốc. Khi thuê được Nguyễn Ngọc Cường trở Linh sang Trung Quốc. Sang đến Trung Quốc, Linh được người đàn ông đi xe ôm đến đón và chờ đi sâu vào trong nội địa Trung Quốc đi được khoảng 30 phút thì thấy người đàn ông Trung Quốc có điện thoại đến, sau khi nghe điện thoại xong người đàn ông Trung Quốc chở Linh quay lại khu vực cửa khẩu. Linh gọi điện lại cho Lan thì được Lan thông báo Trần Đức Anh và Phùng Mạnh Quân được công an Móng Cái mời lên làm việc, biết mình bị lừa bán sang Trung Quốc nên Phùng Thị Thùy Linh đã đến Trạm biên phòng Ka Long trình báo và được trao trả về Việt Nam và có đơn tố cáo Trần Đức Anh và Nguyễn Thị Lan.

Qua bản án có thể thấy hành vi lừa, đưa người sang Trung Quốc của Trần Đức Anh đã cấu thành “Tội mua bán người” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 150 Bộ luật hình sự 2015 hành vi phạm tội của Trần Đức Anh thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố Móng Cái. Hội đồng xét xử đã xử phạt bị cáo Trần Đức Anh 07 năm 6 tù, yêu cầu bồi thường cho người bị hại số tiền 35.000.000đ (ba mươi năm triệu đồng).

Ngoài các dấu hiệu vi phạm trên của tội mua bán người, trong thời gian gần đây, khi đời sống xã hội ngày càng phát triển, lợi dụng quy định về hiến ghép tạng còn chưa chặt chẽ tội phạm mua bán người còn thực hiện hành vi mua bán người để lấy nội tạng như thận, gan. Đây đều là những hành vi có yếu tố cấu thành tăng nặng khi định tội danh này. Luận văn: Quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh.

Việc phân tích quyết định hình phạt đối với tội mua bán người trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh từ năm 2014 – 2018 cho thấy Tòa án quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội. Minh chứng dưới đây là vụ án Lư Văn Tình bị xét xử về hai tội “mua bán người” và “tội mua bán trẻ em”. Nội dung vụ án như sau : Lư Văn Tình đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, với mục đích đưa phụ nữ ra thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, để giao cho một đối tượng tên là Viên (không rõ lai lịch) đưa sang Trung Quốc bán cho các chủ quán hát, Tình sẽ được trả công là 60.000.000đ/1 người, ngày 08/9/2017 tại Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh, Lư Văn Tình đã lừa rủ chị Nông Thị Phần sinh năm 1999 và cháu Mã Thị Hoa sinh ngày 06/02/2002, đi thành phố Móng Cái chơi, chị Phấn và cháu Hoa tưởng thật nên đã đồng ý đi chơi, đến ngày 09/09/2017 tại khu vực chợ Trung tâm thành phố Móng Cái, Lư Văn Tình đang chờ Viên đến đón chị Phần và cháu Hoa đi Trung Quốc để bán thì bị phát hiện bắt giữ. Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lư Văn Tình phạm tội “Mua bán người” và tội “Mua bán trẻ em”. Áp dụng khoản 1 Điều 119; khoản 1 Điều 120; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 69; khoản 1 Điều 74; khoản 1 Điều 75; Điều 18 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Lư Văn Tình 02 năm tù về tội ‘Mua bán người” và 04 năm tù về tội “Mua bán người dưới 16 tuổi”; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 06 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 09/9/2017.

2.2.5 Những vi phạm, sai lầm, khó khăn, bất cập trong quyết định hình phạt đối với tội mua bán người và nguyên nhân

Bên cạnh những quy định mới của Bộ luật hình sự được sửa đổi, bổ sung góp phần hoàn thiện pháp luật, thực tiễn việc áp dụng các quy định pháp luật về quyết định hình phạt đối với tội mua bàn người còn gặp những vi phạm, sai lầm, khó khăn, bất cập, cụ thể:

Thứ nhất, khó khăn trong việc xác định, sử dụng chứng cứ chứng minh trong việc giải quyết các vụ án về tội mua bán người,thực tiễn xét xử cho thấy, tội phạm mua bán người thường mang tính truy xét, rất ít trường hợp bị bắt quả tang. Do vậy, đối với các vụ án không thuộc trường hợp phạm tội quả tang thì chỉ khi người bị hại trốn được về địa phương và có đơn tố cáo thì đối tượng phạm tội mới bị phát hiện nên khi điều tra thì việc thu thập chứng cứ chỉ dựa vào lời khai của người bị hại cũng như lời khai nhận tội của đối tượng phạm tội; nếu người bị hại khai bản thân mình và nhiều người khác bị lừa bán chứ không phải chỉ một mình người bị hại đã tố giác, thì rất khó chứng minh nếu đối tượng phạm tội không thừa nhận. Chính vì vậy dễ dẫn đến việc xử lý oan cho người phạm tội hoặc bỏ lọt hành vi phạm tội. Trong trường hợp xác định được người phạm tội, xác định được chứng cứ chứng minh người phạm tội thực hiện hành vi mua bán người nhưng không xác định được người bị hại do người bị hại vẫn đang ở nước ngoài, trường hợp này khi Viện kiểm sát chuyển hồ sơ sang Tòa án thì các Tòa án có cách giải quyết không thống nhất; có Tòa án thụ lý vụ án tiến hành xét xử vắng mặt người bị hại theo thủ tục chung, nhưng cũng có Tòa án cho rằng việc chưa xác định được người bị hại dẫn đến chưa làm rõ được hành vi phạm tội nên áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị can Tòa đã trả hồ sơ điều tra bổ sung yêu cầu xác định và đưa người bị hại vào tham gia tố tụng; việc này là không thể thực hiện được nên các vụ án thường bị tạm đình chỉ kéo dài.

Đối với các vụ án truy xét rất khó xác định tình tiết định khung tăng nặng hình phạt tại khoản 3 Điều 150 Bộ luật hình sự 2015 “Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” vì trong trường hợp này, chúng ta chỉ xác định được trong trường hợp nạn nhân trở về và tố cáo với cơ quan công an thì mới xác định được còn trong trường hợp có đủ chứng cứ đề chứng minh đối tượng phạm tội có hành vi mua bán nhiều người nhưng có những người chưa trở về, chưa xác định được địa chỉ họ đang ở đâu nếu họ đã bị lấy đi bộ phận cơ thể nào đó thì xử lý thế nào? Tương tự như vậy, tình tiết làm nạn nhân tự sát cũng rất khó xác định trong trường hợp không xác định được người bị hại đang ở đâu nếu họ tự sát do bị làm nhục thì cũng không có căn cứ để xử lý đối với người phạm tội. Luận văn: Quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh.

Việc xác định thiệt hại, giá trị vụ lợi là rất khó khăn trong thực tiễn, bởi việc mua bán được thỏa thuận thực hiện giữa người mua và người bán mà người bị hại có thể biết hoặc không thể biết được giá trị mua bán của bản thân mình, dẫn đến việc không thể xác định được giá trị của vụ lợi; đặc biệt trong trường hợp người mua ở nước ngoài thì cơ quan điều tra chỉ có thể căn cứ vào lời khai của người phạm tội để xác định, việc chỉ dựa vào lời khai của người phạm tội có giá trị chứng minh thấp và không khách quan.

  • Thứ hai, một số điểm chưa rõ ràng, khó hiểu của Bộ luật hình sự về tội mua bán người

Một là: Hiện nay, Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định nhiều tội phạm mới có tình tiết định tội tương tự hay sử dụng tình tiết định khung hình phạt của tội mua bán người là tình tiết định tội riêng biệt. Kể từ ngày 01/01/2018, khi Bộ luật hình sự 2015 có hiệu lực, việc áp dụng các Điều luật này để xử lý các hành vi phạm tội được dự báo rất khó khăn, nhiều ý kiến trái chiều không thống nhất trong việc định tội danh đối với các tội tương tự như tội mua bán người như: Tội mua bán người quy định tại Điều 150 Bộ luật hình sự 2015: “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác…..” với tội cưỡng bức lao động Điều 297 Bộ luật hình sự 2015: “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác ép buộc người khác phải lao động……”;

Tội mua bán người với tình tiết “đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” điểm b khoản 3 Điều 150 Bộ luật hình sự và tội giết người điểm h khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự. Ví dụ: Người phạm tội mua bán người nhằm mục đích lấy đi bộ phận là “quả tim” của nạn nhân. Như vậy, trường hợp này người phạm tội biết rõ “quả tim” là bộ phận không thể thiếu trong việc duy trì sự sống của con người, nếu không có quả tim thì nạn nhân sẽ chết; người phạm tội vẫn thực hiện dẫn đến nạn nhân chết thì việc định tội danh trong trường hợp này hiện có rất nhiều quan điểm trái chiều:

Quan điểm 1: Trong trường hợp trên chỉ được truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người với 02 tình tiết tăng nặng là đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân và làm nạn nhân chết điểm b, d khoản 2 Điều 150 Bộ luật hình sự 2015. Bởi người phạm tội trên thực hiện hành vi phạm tội với mục đích lấy quả tim nên dấu hiệu định tội về tội mua bán người được thể hiện rõ ràng xuyên suốt trong toàn bộ quá trình thực hiện hành vi phạm tội, khi xử lý hình sự về tội mua bán người với 02 tình tiết định khung tăng nặng đã làm rõ đầy đủ hành vi phạm tội của người phạm tội.

Quan điểm 2: Cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự về 02 tội là tội giết người và tội mua bán người. Đối với tội mua bán người thì áp dụng tình tiết “đã lấy đi bộ phận cơ thể của nạn nhân” còn tội giết người thì không áp dụng tình tiết “để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân”. Luận văn: Quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh.

Quan điểm 3: Cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự về 02 tội là tội giết người và tội mua bán người tương tự như quan điểm 2 nhưng đối với tội giết người thì áp dụng tình tiết “để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” còn tội mua bán người thì không áp dụng tình tiết “đã lấy đi bộ phận cơ thể của nạn nhân”.

  • Một số tình tiết trong cấu thành cơ bản rất dễ nhầm lẫn đối với các tội khác như:

Tội mua bán người với Tội chứa mại dâm Điều 327 Bộ luật hình sự 2015, thực tế hiện này trong các vụ án chứa mại dâm cũng có những trường hợp họ tự nguyện làm người bán dâm nhưng cũng có những trường hợp họ bị bắt rồi đem bán vào các ổ mại dâm và bị ép bán dâm nhưng chúng ta không chứng minh được hành vi mua bán người nên chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chứa mại dâm;

Tội mua bán người với Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người Điều 154 Bộ luật hình sự 2015. Trong hành vi chiếm đoạt bộ phận cơ thể người thì người phạm tội có thể có hành vi trộm cắp, lừa đảo và cũng có thể có hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để thực hiện hành vi chiếm đoạt bộ phận cơ thể người, thì truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều luật nào Điều 150, 151 hay Điều 154 Bộ luật hình sự 2015

Hai là: Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định hậu quả của hành vi mua bán người là “gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân” là một tình tiết định khung tăng nặng hình phạt mới trong nhiều tội trong đó có tội phạm mua bán người. Tuy nhiên, Bộ luật hình sự 2015 không hề giải thích hay định nghĩa “gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân” được hiểu như thế nào khiến việc vận dụng trong thực tiễn là khó khăn và thiếu thống nhất.

Ba là: Cấu thành cơ bản tại khoản 1 Điều 150 Bộ luật hình sự mô tả các hành vi khách quan: “a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này”. Điểm c khoản 1 Điều 150 Bộ luật hình sự hiện nay cũng có nhiều cách hiểu khác nhau:

Cách hiểu thứ nhất: Nội hàm điểm a, b khoản 1 Điều 150 Bộ luật hình sự quy định 02 nội dung chính là mô tả hành vi “Chuyển giao hoặc tiếp nhận người” và mục đích người phạm tội “để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác”. Như vậy, theo điểm c khoản 1 Điều 150 hành vi Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện Chuyển giao hoặc tiếp nhận người là đã thỏa mãn cấu thành tội mua bán người. Luận văn: Quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh.

Cách hiểu thứ hai: Hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác phải nhằm chuyển giao hoặc tiếp nhận người để thực hiện các mục đích giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác hoặc để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác khi có đầy đủ các dấu hiệu trên mới thỏa mãn cấu thành tội mua bán người.

Bốn là: Điều 150 Bộ luật hình sự 2015 mô tả hành vi “đe dọa dùng vũ lực” là tình tiết định tội trong cấu thành cơ bản của tội mua bán người. Liên hệ các tội được quy định trong Bộ luật hình sự thì tình tiết đe dọa dùng vũ lực được sử dụng đặc trưng trong tội cướp tài sản (Điều 168 Bộ luật hình sự) và tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170 Bộ luật hình sự) thể hiện rõ bản chất và mức độ nguy hiểm của hành vi này. Đối với tội cướp tài sản, hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc được thể hiện dưới các dạng như bằng lời đe dọa không vũ lực (Ví dụ: Mày không nghe tao, tao sẽ giết…); bằng hành động (dí dao vào cổ, dùng tay bóp cổ); và dạng phổ biến nhất trong thực tiễn hiện nay là kết hợp giữa đe dọa và hành động (dí súng vào đầu và đe dọa không nghe sẽ bị bắn chết ngay) bằng các hành động quyết liệt trên người phạm tội đã khống chế được ý chí và làm tê liệt ý chí kháng cự lại của nạn nhân. Người phạm tội sẵn sàng thực hiện các hành vi xâm phạm sức khỏe, tính mạng nạn nhân một cách ngay tức khắc. Đối với tội cưỡng đoạt tài sản, hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực đã thể hiện rõ được việc đe dọa không quyết liệt gay gắt như tội cướp tài sản và hành vi sử dụng vũ lực có thể sẽ được thực hiện ngay hoặc sau một khoảng thời gian nhất định, hậu quả của hành vi này làm nạn nhân lo sợ nhưng chưa đến mức tê liệt hoàn toàn ý chí kháng cự, phản kháng. Như vậy, hành vi đe dọa dùng vũ lực nêu trên với ý định chiếm đoạt tài sản đã diễn tả được mức độ nguy hiểm của hành vi này trong các tội xâm phạm sở hữu. Vấn đề đặt ra trong tội mua bán người thì hành vi đe dọa dùng vũ lực được thực hiện như thế nào? Mức độ nguy hiểm ra sao? Có phải là ngay tức khắc hay kéo dài cả quá trình vận chuyển nạn nhân? Mà khiến nạn nhân phải nghe theo dẫn đến hậu quả có thể bị xâm phạm trực tiếp đến danh dự, nhân phẩm, sức khỏe của chính bản thân nạn nhân

Tiểu kết chương Luận văn: Quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh.

Chương 2: Tác giả đã phân tích làm rõ một số vấn đề về định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội mua bán người trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Tác giả đã ra khái quát lý luận định tội danh, những đặc điểm cơ bản tình hình định tội danh, cơ sở pháp lý định tội danh và quyết định hình phạt. Từ đó cho thấy, trong giải quyết vụ án hình sự định tội danh là vấn đề quan trọng là tiền đề cho phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thế hóa hình phạt một cách chính xác. Luận văn đã tiến hành nghiên cứu thực trạng cấu thành cơ bản, cấu thành tăng nặng định tội danh và quyết định hình phạt trong trường hợp có đồng phạm và trường hợp đặc biệt tại tỉnh Quảng Ninh, nêu ra nguyên nhân, sai lầm, khó khăn, hạn chế, bất cập của pháp luật hình sự.

Mặt khác, từ thực tiễn việc các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Quảng Ninh tác giả đã làm rõ khái niệm, các nguyên tắc cơ bàn, căn cứ khi tiến hành quyết định hình phạt đối với tội mua bán người. Mục đích việc quyết định hình phạt đúng ý có nghĩa là cơ sở pháp lý để đạt được mục đích của hình phạt và tính nghiêm minh của pháp luật, hình phạt có đạt được hay không phụ thuộc vào quyết định hình phạt của Hội đồng xét xử. Quyết định hình phạt đúng tác động đến ý thức của mỗi cá nhân để họ thấy được và từ đó chấp hành đúng pháp luật một cách nghiêm túc. Luận văn: Quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp Tội buôn bán người theo pháp luật hình sự

One thought on “Luận văn: Quyết định hình phạt đối với tội mua bán người tại tỉnh”

  1. Pingback: Luận văn: Tội buôn bán người theo pháp luật hình sự Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464