Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất và thực tiễn thi hành tại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất
2.1.1. Các loại vi phạm hành chính trong sử dụng đất
Căn cứ Luật Đất đai 2013, Nghị định 91/2019/NĐ-CP về xử phạt Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, hành vi Vi phạm hành chính được pháp luật quy định bao gồm:
- Hành vi sử dụng đất không đúng mục đích
Theo quy định tại Luật Đất đai 2013 thì người Sử dụng đất có nghĩa vụ phải Sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất, đúng quy định về sử dụng độ sâu trong lòng đất và chiều cao trên không, bảo vệ các công trình công cộng trong lòng đất và tuân theo các quy định khác của pháp luật có liên quan.
SDĐ không đúng mục đích là hành vi đưa đất thuộc quyền sử dụng và sở hữu của mình vào sử dụng trái với mục đích Sử dụng đất đã được ghi trong Giấy chứng nhận hoặc quyết định giao, cho thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Mục đích Sử dụng đất là cách thức nhà nước phân loại đất đai và yêu cầu người quản lý phải tuân thủ các quy định khi giao đất, cho thuê đất, cấp Giấy chứng nhận quyền Sử dụng đất… người Sử dụng đất có nghĩa vụ phải sử dụng đúng mục đích đất được giao ghi trong quyết định giao đất, cho thuê đất.
Căn cứ để xác định mục đích Sử dụng đất, ta dựa theo một trong các căn cứ tại Điều 11 Luật Đất đai 2013 sau đây: Giấy chứng nhận quyền Sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền Sử dụng đất ở; Giấy chứng nhận quyền Sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Giấy tờ về quyền Sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật Đất đai 2013 đối với trường hợp chưa được cấp Giấy chứng nhận; Quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích Sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Cụ thể từ Điều 9 đến Điều 12 Nghị định 91/2019/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai, quy định các trường hợp coi là Sử dụng đất không đúng mục đích gồm:
Một là, chuyển mục đích Sử dụng đất trồng lúa không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép;
Hai là, chuyển mục đích Sử dụng đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép;
Ba là, chuyển mục đích Sử dụng đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép;
Bốn là, chuyển mục đích Sử dụng đất phi nông nghiệp sang mục đích khác trong nhóm đất phi nông nghiệp mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất.
- Vi phạm về ranh giới, địa giới hành chính
Điều 14, Nghị định 91/2019/NĐ-CP quy định về xử phạt Vi phạm hành chính đối với hành vi lấn, chiếm đất.
Khái niệm “lấn đất”, “chiếm đất” ở Nghị định 91 đã được bổ sung chi tiết hơn so với khái niệm ở Nghị định 102/2014 trước đó. Hành vi lấn chiếm đất, có bao gồm cả việc Sử dụng đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác không; hay chưa làm công việc nào của thủ tục bị coi là lấn chiếm, tự khai hoang đất có bị coi là chiếm đất không; lấn chiếm đất chưa sử dụng có bị coi là Vi phạm hành chính hay không thì tại Nghị định 91/2019/NĐ-CP đã quy định rõ. Trước đây khi chưa có quy định cụ thể thì chính quyền cấp xã còn lúng túng trong xử lý, hầu hết các địa phương mới chỉ lập biên bản sự việc ghi nhận lại quá trình lấn chiếm của cá nhân, tổ chức để làm cơ sở thực hiện các bước tiếp theo.
- Điều 3 Nghị định 91/2019/NĐ-CP quy định:
Lấn đất là việc người đang Sử dụng đất tự chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất sử dụng mà không được cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cho phép hoặc không được người sử dụng hợp pháp diện tích đất bị lấn đó cho phép.
Chiếm đất là việc Sử dụng đất thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Tự ý Sử dụng đất mà không được cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cho phép;
- Tự ý Sử dụng đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác mà không được tổ chức, cá nhân đó cho phép;
- SDĐ được Nhà nước giao, cho thuê đất đã hết thời hạn sử dụng mà không được Nhà nước gia hạn sử dụng (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp Sử dụng đất nông nghiệp);
- SDĐ trên thực địa mà chưa hoàn thành các thủ tục giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật.
Điều 12 Luật Đất đai 2013 quy định rõ hành vi lấn, chiếm hoặc hủy hoại đất đai là hành vi bị nghiêm cấm. Nghị định 102/2014/NĐ-CP không quy định xử phạt Vi phạm hành chính đối với hành vi cố ý hủy hoại đất, nhưng đến Nghị định 91 lần đầu tiên quy định rõ hành vi hủy hoại đất, cụ thể tại Khoản 3 Điều 3 Nghị định 91/2019/NĐ-CP, hủy hoại đất là hành vi làm biến dạng địa hình hoặc làm suy giảm chất lượng đất hoặc gây ô nhiễm đất mà làm mất hoặc giảm khả năng Sử dụng đất theo mục đích đã được xác định. Trong đó chỉ rõ các hành vi hủy hoại đất như sau:
Một là, làm biến dạng địa hình trong các trường hợp:
- Thay đổi độ dốc bề mặt đất;
- Hạ thấp bề mặt đất do lấy đất mặt dùng vào việc khác hoặc làm cho bề mặt đất thấp hơn so với thửa đất liền kề;
- San lấp đất có mặt nước chuyên dùng, kênh, mương tưới, tiêu nước hoặc san lấp nâng cao bề mặt của đất sản xuất nông nghiệp so với các thửa đất liền kề. Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất.
Trừ trường hợp cải tạo đất nông nghiệp thành ruộng bậc thang và hình thức cải tạo đất khác phù hợp với mục đích Sử dụng đất được giao, được thuê hoặc phù hợp với dự án đầu tư đã được Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất phê duyệt hoặc chấp thuận.
Hai là, làm suy giảm chất lượng đất trong các trường hợp:
- Làm mất hoặc giảm độ dầy tầng đất đang canh tác;
- Làm thay đổi lớp mặt của đất sản xuất nông nghiệp bằng các loại vật liệu, chất thải hoặc đất lẫn sỏi, đá hay loại đất có thành phần khác với loại đất đang sử dụng;
- Gây xói mòn, rửa trôi đất nông nghiệp.
Ba là, gây ô nhiễm đất là trường hợp đưa vào trong đất các chất độc hại hoặc vi sinh vật, ký sinh trùng có hại cho cây trồng, vật nuôi, con người.
Bốn là, làm mất khả năng Sử dụng đất theo mục đích đã được xác định.
Năm là, làm giảm khả năng Sử dụng đất theo mục đích đã được xác định.
- Hành vi vi phạm liên quan đến nghĩa vụ bồi bổ, cải tạo, bảo vệ đất
Khoản 6, Điều 170 Luật Đất đai 2013 quy định các nghĩa vụ chung của người Sử dụng đất, yêu cầu người Sử dụng đất phải “Tuân theo các quy định về bảo vệ môi trường, không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của người Sử dụng đất có liên quan”. Cụ thể hóa Điều luật trên, Điều 16 Nghị định 91/2019/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính đối với: Hành vi gây cản trở cho việc Sử dụng đất của người khác, bao gồm các hành vi: đưa chất thải, chất độc hại, vật liệu xây dựng hoặc các vật khác lên thửa đất của người khác hoặc thửa đất của mình gây cản trở cho việc Sử dụng đất của người khác; đào bới, xây tường, làm hàng rào gây cản trở hoặc gây thiệt hại cho việc Sử dụng đất của người khác;
Hành vi vi phạm về thực hiện các thủ tục hành chính khi chuyển quyền Sử dụng đất:
- (i) Hành vi không đăng ký đất đai Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất.
Điều 17 Nghị định 91/2019/NĐ-CP quy định xử phạt Vi phạm hành chính đối với hành vi không đăng ký đất đai lần đầu và trường hợp không đăng ký biến động đất đai. Cụ thể, Điểm a, b, h, i, k và l Khoản 4 Điều 95 Luật Đất đai quy định các trường hợp người Sử dụng đất phải thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai, bao gồm:
- Người Sử dụng đất, chủ sở hữu tài gắn liền với đất thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền Sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất;
- Người Sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được phép đổi tên;
- Chuyển quyền Sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của vợ hoặc của chồng thành quyền sử dụng đất chung, quyền sở hữu tài sản chung của vợ và chồng;
- Chia tách quyền Sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của tổ chức hoặc của hộ gia đình hoặc của vợ và chồng hoặc của nhóm người Sử dụng đất chung, nhóm chủ sở hữu tài sản chung gắn liền với đất;
- Thay đổi quyền Sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo kết quả hào giải thành về tranh chấp đất đai được Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền công nhận; thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp để xử lý nợ; quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai, khiếu nại, tố cáo về đất đai, quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án; văn bản công nhận kết quả đấu giá quyền sử dụng đất phù hợp với pháp luật;
- Xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền sử dụng hạn chế thửa đất liền kề.
Luật Đất đai quy định người đang Sử dụng đất bắt buộc phải đăng ký lần đầu; việc xác định thời hạn bắt buộc phải thực hiện được quy định tại Điều 17 Nghị định 91. Đây là một trong những điểm mới của Nghị định 91 so với Nghị định 102 chưa quy định rõ ràng khiến cho người Sử dụng đất chây ỳ không đăng ký, có thể gây thất thu cho ngân sách nhà nước, đặc biệt là với những trường hợp phức tạp.
- (ii) Hành vi tự ý chuyển quyền sử dụng đất
Luật Đất đai 2013 quy định tại điều 188 về điều kiện chuyển quyền Sử dụng đất gồm: Có giấy chứng nhận; Trong thời hạn Sử dụng đất; Không tranh chấp; và Không bị kê biên để đảm bảo thi hành án.
Ngoài ra, người nhận quyền Sử dụng đất phải đáp ứng các yêu cầu, điều kiện riêng biệt như: nhận chuyển quyền Sử dụng đất trồng lúa phải là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp; người nhận quyền Sử dụng đất không thuộc trường hợp không được nhận chuyển quyền Sử dụng đất…
Luật Đất đai 2013 quy định về trường hợp đặc biệt của chuyển quyền Sử dụng đất nông nghiệp tại điều 190 là hộ gia đình, cá nhân để thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp có thể được chuyển đổi quyền Sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân khác trong cùng xã, phường, thị trấn, cụ thể: Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất.
Hộ gia đình, cá nhân Sử dụng đất nông nghiệp do được Nhà nước giao đất, do chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho quyền Sử dụng đất hợp pháp từ người khác thì chỉ được chuyển đổi quyền Sử dụng đất nông nghiệp trong cùng xã, phường, thị trấn cho hộ gia đình, cá nhân khác để thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và không phải nộp thuế thu nhập từ việc chuyển đổi quyền Sử dụng đất và lệ phí trước bạ.
Như vậy, có thể nhận định rằng tự ý chuyển quyền Sử dụng đất khi không đủ điều kiện theo quy định pháp luật là việc người Sử dụng đất tự ý chuyển quyền Sử dụng đất cho người khác khi chưa đảm bảo đủ các điều kiện theo quy định tại điều 188 Luật Đất đai 2013 và các quy định khác như điều 190, điều 191….
Nghị định 91/2019/NĐ-CP quy định các hành vi tự ý chuyển quyền Sử dụng đất được coi là Vi phạm hành chính và phải gánh chịu trách nhiệm hành chính tương ứng đó là:
Thứ nhất, người Sử dụng đất tự ý chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp, góp vốn bằng quyền Sử dụng đất khi chưa có Giấy chứng nhận quyền Sử dụng đất, đất đang có tranh chấp, đất đang bị kê biên để bảo đảm thi hành án, đất đã hết thời hạn sử dụng nhưng không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền gia hạn.
Thứ hai, hành vi hộ gia đình, cá nhân tự ý chuyển đổi quyền Sử dụng đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân khác trong cùng xã, phường, thị trấn khi chưa có Giấy chứng nhận quyền Sử dụng đất hoặc quyết định giao đất, đất đang có tranh chấp, đất đang bị kê biên để bảo đảm thi hành án, đất đã hết thời hạn sử dụng nhưng không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền gia hạn.
Thứ ba, hành vi hộ gia đình, cá nhân tự ý chuyển đổi quyền Sử dụng đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân khác không trong cùng xã, phường, thị trấn.
Thứ tư, tự ý chuyển nhượng quyền Sử dụng đất bằng hình thức phân lô, bán nền trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở.
Căn cứ theo Luật Đất đai 2013 thì một trong những căn cứ được nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích Sử dụng đất là khi có nhu cầu Sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích Sử dụng đất. Khi đó, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch Sử dụng đất hàng năm của tỉnh để cho phép chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng. Như vậy, chủ đầu tư phải được Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cho phép thì mới có thể tiến hành thực hiện dự án.
Trên thực tế, một số công ty, doanh nghiệp, hộ gia đình kinh doanh lập dự án đầu tư xây dựng để xin thuê đất. Nhưng khi được phê duyệt dự án và cấp đất lại không thực hiện dự án mà tự ý phân lô, chuyển quyền sử dụng diện tích đất được giao trái phép.
Hiện nay, ở nhiều nơi có tình trạng một số tổ chức, cá nhân tự ý phân lô, mua bán, đặt tên dự án cho các khu đất nông nghiệp. Việc này khiến nhiều người có nhu cầu mua đất nhầm tưởng đây là dự án đầu tư xây dựng nhà ở đã được cơ quan có thẩm quyền cấp phép. Tuy nhiên, đây hoàn toàn là hành vi tự phát. Đất phân lô không có quy hoạch chi tiết, không được cấp có thẩm quyền phê duyệt sẽ không có hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và đường giao thông kết nối. Các khu đất này có nguồn gốc là đất nông nghiệp, được đối tượng nhận chuyển nhượng, sau đó tách thửa, chuyển đổi mục đích sử dụng sang đất ở để bán cho khách mua. Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất.
Điển hình phải kể đến vụ án xảy ra tại Công ty cổ phần địa ốc Alibaba có trụ sở tại quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
Trong cơn „sốt ảo‟ giá đất tại Thành phố Hồ Chí Minh, lợi dụng tâm lý hám lời, làm giàu nhanh của khách hàng, nhiều đối tượng đã lập công ty kinh doanh bất động sản, mua đất nông nghiệp, chạy giấy tờ hợp thức hóa để chuyển đổi mục đích Sử dụng đất, tiến hành san lấp mặt bằng, phân lô bán nền khi chưa được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, cho phép.
Nguyễn Thái Luyện cùng Nguyễn Thái Lĩnh thành lập ra Công ty cổ phần địa ốc Alibaba và các công ty thành viên (quy mô hơn 2.600 nhân viên) đã thu gom mua số lượng lớn đất nông nghiệp với tổng diện tích khoảng hơn 600ha, giao cho các cá nhân đứng tên và tự vẽ ra 43 „dự án‟ không có thật tại Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu và Bình Thuận. Các dự án này chưa làm thủ tục pháp lý, chưa được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, cấp phép. Thế nhưng, Công ty cổ phần địa ốc Alibaba đã quảng cáo là đất nền dự án, lừa bán cho hơn 6.700 khách hàng, thu được 2.500 tỷ đồng.
Căn cứ Luật Đất đai có thể thấy, Alibaba chưa thỏa mãn quy định “chuyển nhượng quyền Sử dụng đất trong dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở”, quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 194, Luật Đất đai năm 2013.
Đối với các vi phạm nêu trên của Địa ốc Alibaba, các cơ quan có thẩm quyền có thể căn cứ vào các quy định của pháp luật để điều chỉnh bằng biện pháp xử phạt Vi phạm hành chính và cả hình sự tùy theo tính chất, mức độ. Điều 206 Luật Đất đai năm 2013 có quy định Xử lý đối với người có hành vi Vi phạm pháp luật về đất đai, cụ thể: (1) Người có hành vi Vi phạm pháp luật về đất đai thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật; và (2) Người có hành vi Vi phạm pháp luật về đất đai mà gây thiệt hại cho Nhà nước, cho người khác, ngoài việc bị xử lý theo quy định của pháp luật còn phải bồi thường theo mức thiệt hại thực tế cho Nhà nước hoặc cho người bị thiệt hại.
Liên quan đến mức xử phạt hành chính trong Sử dụng đất đối với sai phạm nêu trên của Công ty địa ốc Alibaba, căn cứ Điều 31 Nghị định 91/2019/NĐ-CP mức xử phạt lên tới 1 tỷ đồng. Ngoài ra, Địa ốc Alibaba có thể bị tước quyền sử dụng giấy phép, bị buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đối với đất nông nghiệp mà Địa ốc Alibaba san lấp, xây dựng trái phép.
Thứ năm, Tự ý chuyển nhượng quyền Sử dụng đất gắn với chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở hoặc dự án xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê mà không đủ điều kiện.
Điều kiện chuyển nhượng quyền Sử dụng đất gắn với chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở bao gồm: có Giấy chứng nhận quyền Sử dụng đất; đất không tranh chấp; không bị kê biên để đảm bảo thi hành án; trong thời hạn sử dụng; đã hoàn thành các nghĩa vụ tài chính liên quan đến đất đai trong dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở; đã xây dựng xong các công trình hạ tầng kỹ thuật tương ứng theo tiến độ ghi trong dự án đã được phê duyệt.
Người nhận chuyển nhượng khi nhận chuyển nhượng quyền Sử dụng đất gắn với chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở phải: (i) có ngành nghề kinh doanh phù hợp; (ii) thực hiện ký quỹ theo quy định của pháp luật về đầu tư; (iii) có đủ năng lực tài chính theo quy định tại Khoản 2 Điều 14 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP.
Thứ sáu, Tự ý bán, mua, cho thuê tài sản gắn liền với đất được Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất hàng năm mà không đủ điều kiện. Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất.
- Hành vi tự ý bán tài sản gắn liền với đất được Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất hàng năm mà tài sản gắn liền với đất thuê được tạo lập không hợp pháp, chưa hoàn thành việc xây dựng theo đúng quy hoạch xây dựng chi tiết và dự án đầu tư đã được phê duyệt, chấp thuận hoặc tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập có hành vi tự ý cho thuê tài sản gắn liền với đất được Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất hàng năm.
- Hành vi tự ý mua tài sản gắn liền với đất được Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất hàng năm khi người mua tài sản gắn liền với đất thuê có ngành nghề kinh doanh không phù hợp với dự án đầu tư, không đủ năng lực tài chính để thực hiện dự án đầu tư, vi phạm quy định của pháp luật về đất đai đối với trường hợp đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án trước đó.
- Hành vi tự ý cho thuê tài sản gằn liền với đất được Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất hàng năm.
Một trường hợp cụ thể cho hành vi là vụ việc xảy ra ở Quận 10 TP. Hồ Chí Minh như sau: Công ty cổ phần Giày Sài Gòn (GSG) được Uỷ ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh cho thuê khu “đất vàng” rộng gần 11.000m2 ở số 419 đường Lê Hồng Phong để làm văn phòng, nhà kho, nhà xưởng sản xuất giày, túi xách.
Tuy nhiên công ty GSG hiện không còn hoạt động sản xuất tại khu “đất vàng” được thuê, mà lấy mặt bằng này cho nhiều đơn vị khác thuê lại. Hành vi tự ý cho thuê “đất vàng” của Công ty GSG là không đúng quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức kinh tế được Nhà nước cho thuê đất và trả tiền thuê đất hằng năm (Điều 175 Luật Đất đai), vi phạm điều 24 Nghị định 91/2019.
Thứ bảy, Tự ý chuyển nhượng, tặng cho quyền Sử dụng đất có điều kiện mà không đủ điều kiện của hộ gia đình, cá nhân
Hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống xen kẽ trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng nhưng chưa có điều kiện chuyển ra khỏi phân khu đó tự ý chuyển nhượng, tặng cho quyền Sử dụng đất ở, đất rừng kết hợp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản cho hộ gia đình, cá nhân sinh sống ngoài phân khu đó;
Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất ở, đất sản xuất nông nghiệp trong khu vực rừng phòng hộ tự ý chuyển nhượng, tặng cho quyền Sử dụng đất ở, đất sản xuất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân không sinh sống trong khu vực rừng phòng hộ đó;
Hộ gia đình, cá nhân là dân tộc thiểu số Sử dụng đất do Nhà nước giao đất theo chính sách hỗ trợ của Nhà nước tự ý chuyển nhượng, tặng cho quyền Sử dụng đất trước 10 năm, kể từ ngày có quyết định giao đất hoặc sau 10 năm kể từ ngày có quyết định giao đất nhưng chưa được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận không còn nhu cầu sử dụng do chuyển khỏi địa bàn xã, phường, thị trấn nơi cư trú để đến nơi khác hoặc do chuyển sang làm nghề khác hoặc không còn khả năng lao động.
- Hành vi tự ý nhận chuyển quyền sử dụng đất
Thứ nhất, Tự ý nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền Sử dụng đất mà không đủ điều kiện đối với đất có điều kiện
Một là, hộ gia đình, cá nhân không sinh sống trong khu vực rừng phòng hộ, rừng đặc dụng có hành vi tự ý nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền Sử dụng đất ở, đất nông nghiệp trong khu vực rừng phòng hộ, trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng.
Hai là, hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp mà tự ý nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền Sử dụng đất trồng lúa. Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất.
Ba là, tổ chức có hành vi tự ý nhận chuyển nhượng quyền Sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng của hộ gia đình, cá nhân; trừ trường hợp được chuyển mục đích Sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch Sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Thứ hai, Tự ý chuyển quyền và nhận chuyển quyền Sử dụng đất đối với cơ sở tôn giáo
Một là, cơ sở tôn giáo có hành vi tự ý chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho quyền Sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền Sử dụng đất.
Hai là, cơ sở tôn giáo có hành vi tự ý nhận chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho quyền Sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền Sử dụng đất.
Thứ ba, Tự ý nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn, thuê quyền Sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp mà không đủ điều kiện, cụ thể:
Hành vi tự ý nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn, thuê quyền Sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp khi chưa có văn bản chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc khi mà mục đích sử dụng đối với diện tích đất nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn, thuê quyền Sử dụng đất không phù hợp với quy hoạch, kế hoạch Sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Hành vi tự ý nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn, thuê quyền Sử dụng đất trồng lúa để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp mà chưa nộp một khoản tiền theo quy định của Chính phủ về quản lý Sử dụng đất trồng lúa
Thứ tư, Tự ý nhận chuyển quyền vượt hạn mức nhận chuyển quyền Sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
Thứ năm, Tự ý nhận quyền Sử dụng đất không đúng quy định tại Điều 169 của Luật Đất đai
Một là, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam tự ý nhận chuyển quyền Sử dụng đất ở nhưng chưa xây dựng nhà ở không nằm trong các dự án phát triển nhà ở.
Hai là, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tự ý nhận chuyển nhượng vốn đầu tư là giá trị quyền Sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp của doanh nghiệp đang Sử dụng đất có nguồn gốc được Nhà nước giao đất có thu tiền Sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê mà giá trị quyền Sử dụng đất đã được vốn hóa vào vốn của doanh nghiệp.
- Chậm làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho người mua nhà ở, người nhận quyền Sử dụng đất ở
Trường hợp tổ chức được Nhà nước giao đất xây dựng nhà ở để bán nhận trách nhiệm làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho người mua nhà ở, người nhận quyền Sử dụng đất ở mà chậm làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận kể từ ngày bàn giao nhà ở, đất ở thì tùy thuộc vào thời gian chậm và số hộ gia đình, cá nhân bị chậm làm thủ tục mà Pháp luật quy định các mức phạt tương ứng.
- Vi phạm quy định về quản lý chỉ giới Sử dụng đất, mốc địa giới hành chính
Mỗi mảnh đất đều có một mốc địa giới hành chính. Mốc địa giới này nhằm đánh dấu vị trí của mỗi thửa đất, và được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Việc đo đạc ranh giới, mốc giới nhằm quản lý, bảo vệ mốc giới, đồng thời khai thác, sử dụng đúng quy định, đảm bảo không lấn chiếm hoặc làm sai lệch ranh giới bảo vệ này nhất là đối với các công trình lớn như hồ Đại Lải – Vĩnh Phúc hay sân golf Đồng Mô – Sơn Tây… phải đặc biệt quan tâm… Việc thay đổi mốc giới phải được Nhà nước cho phép, nếu không sẽ vi phạm quy định về quản lý chỉ giới Sử dụng đất, mốc địa giới hành chính và bị xử phạt.
Các hành vi vi phạm quy định về quản lý chỉ giới Sử dụng đất, mốc địa giới hành chính bao gồm:
- Thứ nhất, hành vi di chuyển, làm sai lệch mốc chỉ giới Sử dụng đất, mốc địa giới hành chính.
- Thứ hai, hành vi làm hư hỏng mốc chỉ giới Sử dụng đất, mốc địa giới hành chính.
Vi phạm quy định về giấy tờ, chứng từ trong việc Sử dụng đất:
Thứ nhất, hành vi tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, chứng từ trong việc Sử dụng đất.
Thứ hai, hành vi tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, chứng từ trong việc Sử dụng đất dẫn đến việc cấp Giấy chứng nhận và việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền Sử dụng đất bị sai lệch mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất.
Thứ ba, hành vi sử dụng giấy tờ giả trong hồ sơ xin giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích Sử dụng đất, thu hồi đất, cấp Giấy chứng nhận mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Vi phạm quy định về cung cấp thông tin đất đai liên quan đến thanh tra, kiểm tra, thu thập chứng cứ để giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân
Thứ nhất, hành vi chậm cung cấp thông tin, giấy tờ, tài liệu có liên quan đến việc thanh tra, kiểm tra về đất đai sau 07 ngày kể từ ngày công bố quyết định thanh tra hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của cơ quan, người có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra, thu thập chứng cứ để giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân.
Thứ hai, hành vi cung cấp thông tin đất đai không chính xác, không đầy đủ của người có trách nhiệm liên quan đến việc thanh tra, kiểm tra, thu thập chứng cứ để giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân.
Thứ ba, hành vi không cung cấp thông tin, giấy tờ, tài liệu có liên quan đến việc thanh tra, kiểm tra, thu thập chứng cứ để giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân.
- Các nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất Một là, nguyên tắc pháp chế.
Luật Đất đai năm 2013 với 17 Điều luật cụ thể về quy hoạch và kế hoạch Sử dụng đất đã chính thức luật hóa các quy định trước đây ở tầm Nghị định của Chính phủ là cơ sở để thực hiện chiến lược tổng thể phát triển kinh tế – xã hội của đất nước từ nay đến 2020. Đồng thời với các quy định hiện hành của Luật Đất đai 2013 đã có sự phân công, phân nhiệm một cách rõ ràng, cụ thể thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước và cơ quan chuyên môn trong quản lí nhà nước về đất đai từ trung ương đến địa phương, góp phần cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai. Bên cạnh đó, việc xác lập các quyền cụ thể của cá nhân, tổ chức Sử dụng đất trong Luật Đất đai năm 2013 là nền tảng pháp lí cho việc thực hiện các giao dịch dân sự về đất đai, các quyền về chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn liên doanh… Như vậy, pháp Luật Đất đai hiện hành đã xây dựng hành lang pháp lí cho việc mở rộng tối đa các quyền năng của người sử dụng đất, đồng thời cho phép họ được thực hiện đầy đủ các giao dịch dân sự về đất đai theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ, phù hợp với nhu cầu chuyển dịch và tích tụ đất đai trong nền kinh tế hàng hóa có điều tiêt từ phía Nhà nước. Điều 6 Luật Đất đai 2013 nêu rõ: “Người sử dụng đất thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng đất theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan”.
Hai là, nguyên tắc công minh triệt để, nhanh chóng kịp thời. Điều 3 Luật xử lý Vi phạm hành chính 2012 về các nguyên tắc xử lý Vi phạm hành chính có quy định: (a) Mọi Vi phạm hành chính chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do Vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật; (b) Việc xử phạt Vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, Luật Đất đai 2013 tại điều 196 cũng có quy định về vấn đề công khai thủ tục hành chính về đất đai, chỉ rõ một số thủ tục cần tiến hành công khai bằng hình thức niêm yết thường xuyên tại trụ sở cơ quan tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả; đăng trên trang thông tin điện tử cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính, trang thông tin điện tử của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Uỷ ban nhân dân cấp huyện. Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất.
Như vậy, nhận thấy Luật Đất đai 2013 mới chỉ luật hóa nguyên tắc công khai, kịp thời này ở một số điều luật riêng lẻ, mà chưa pháp điển hóa thành một nguyên tắc rõ ràng.
Ba là, xử phạt tăng nặng, giảm nhẹ: Xử phạt Vi phạm hành chính trong Sử dụng đất bên cạnh mục đích trừng trị người vi phạm còn hướng đến mục tiêu giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật cho họ và thể hiện tính nhân văn của pháp luật. Luật Xử lý Vi phạm hành chính năm 2012 quy định nguyên tắc xử phạt như sau: “Việc xử phạt Vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng” [5]. Luật Xử lý Vi phạm hành chính năm 2012 quy định tình tiết giảm nhẹ là bảo đảm tính nhân đạo và khuyến khích người vi phạm tự giác hợp tác tích cực trong khắc phục hậu quả hoặc thành thật khai báo. Trong khi đó, các tình tiết tăng nặng nhằm trừng trị nghiêm khắc những đối tượng nguy hiểm hơn, hành vi nguy hại cho xã hội cao hơn [6].
Theo Điều 9 Luật Xử lý Vi phạm hành chính năm 2012, người Vi phạm hành chính trong Sử dụng đất nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây thì được giảm nhẹ hình phạt: Người Vi phạm hành chính đã có hành vi ngăn chặn, làm giảm bớt hậu quả của vi phạm hoặc tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại; Người Vi phạm hành chính đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi; tích cực giúp đỡ cơ quan chức năng phát hiện Vi phạm hành chính, xử lý Vi phạm hành chính; …
Theo Điều 10 Luật xử lý Vi phạm hành chính 2012 thì Chủ thể Vi phạm hành chính trong sử dụng đất mà có thêm các tình tiết sau đây thì sẽ bị phạt nặng hơn: Vi phạm hành chính có tổ chức; Vi phạm hành chính nhiều lần; tái phạm; Xúi giục, lôi kéo, sử dụng người chưa thành niên vi phạm; ép buộc người bị lệ thuộc vào mình về vật chất, tinh thần thực hiện hành vi Vi phạm hành chính; Sử dụng người biết rõ là đang bị tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi để Vi phạm hành chính; Lăng mạ, phỉ báng người đang thi hành công vụ; Vi phạm hành chính có tính chất côn đồ; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để Vi phạm hành chính; Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, thiên tai, thảm họa, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để Vi phạm hành chính; …
Nhận thấy, quy định về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trong Luật Xử lý Vi phạm hành chính hiện hành mang tính chất liệt kê, chưa xây dựng được nguyên tắc chung để xác định mức phạt cụ thể đối với các hình thức xử phạt trong trường hợp Vi phạm hành chính có tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng
Xem xét một cách cụ thể, ở góc độ của luật hành chính, nguyên tắc trong quản lý nhà nước là tổng thể các quy phạm pháp luật hành chính có nội dung là những tư tưởng chủ đạo làm cơ sở để tổ chức thực hiện hoạt động quản lý nhà nước. Việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trong hoạt động xử phạt Vi phạm hành chính cũng cần phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định để việc áp dụng các tình tiết này đạt được hiệu quả như mong đợi. Đáng tiếc rằng, Luật Xử lý Vi phạm hành chính năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành vẫn chưa xây dựng được các nguyên tắc chung để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ khi tiến hành xử phạt, từ đó tạo ra nhiều khoảng trống pháp lý khi áp dụng các tình tiết này trong thực tiễn xử phạt.
Hiện nay, Luật xử lý Vi phạm hành chính năm 2012 chỉ quy định về nguyên tắc xác định mức phạt cụ thể trong trường hợp có tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng đối với hình thức xử phạt tiền. Trong khi đó, đối với các hình thức xử phạt khác như tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn thì Luật chưa quy định nguyên tắc xác định mức phạt cụ thể. Đối với hình thức xử phạt tiền, khoản 4 Điều 23 Luật Xử lý Vi phạm hành chính năm 2012 quy định: “Mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi Vi phạm hành chính là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó; nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tiền phạt tối đa của khung tiền phạt”. Tuy nhiên, quy định này còn chung chung nên việc áp dụng không thống nhất trong thực tế.
Bốn là, nguyên tắc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người Sử dụng đất, tôn trọng danh dự nhân phẩm của họ. Khoản 1 Điều 3 Luật xử phạt Vi phạm hành chính 2012 quy định: Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh Vi phạm hành chính. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không Vi phạm hành chính.
Năm là, các nguyên tắc mang tính kĩ thuật
Luật xử lý Vi phạm hành chính 2012 cũng có quy định rõ về các nguyên tắc này tại Điều 3 như sau: Chỉ xử phạt Vi phạm hành chính khi có hành vi Vi phạm hành chính do pháp luật quy định; Một hành vi Vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần; Nhiều người cùng thực hiện một hành vi Vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi Vi phạm hành chính đó; Một người thực hiện nhiều hành vi Vi phạm hành chính hoặc Vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm; … Đối với cùng một hành vi Vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
2.1.3. Đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất. Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất.
Nghị định 91/2019/NĐ-CP chia đối tượng bị xử phạt Vi phạm hành chính trong việc Sử dụng đất làm 2 nhóm: cá nhân và tổ chức.
Thứ nhất, đối tượng bị xử lý Vi phạm hành chính trong Sử dụng đất là cá nhân gồm có: Hộ gia đình, cộng đồng dân cư, cá nhân trong nước, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài (sau đây gọi chung là cá nhân);
Thứ hai, tổ chức bị xử lý Vi phạm hành chính trong Sử dụng đất bao gồm: Tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Cơ sở tôn giáo. (sau đây gọi chung là tổ chức)
Như vậy ở Nghị định 91/2019/NĐ-CP thì cơ sở tôn giáo đã được đưa vào nhóm tổ chức chứ không tách riêng thành đối tượng áp dụng như Nghị định 102/2014/NĐ-CP.
Tuy nhiên, không phải bất cứ người Sử dụng đất nào có hành vi Vi phạm hành chính trong Sử dụng đất cũng là đối tượng bị xử phạt Vi phạm hành chính, do đó, pháp luật có quy định ngoại lệ đối với trường hợp này, cụ thể: “Tổ chức, cá nhân được áp dụng quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự nước ngoài và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam theo quy định của pháp luật không thuộc đối tượng bị xử phạt Vi phạm hành chính”.
Xuất phát từ nguyên tắc “Đối với cùng một hành vi Vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân”, việc xác định rõ đối tượng Vi phạm hành chính cá nhân hay tổ chức trong Sử dụng đất có ý nghĩa rất quan trọng. Do đó, mặc dù các quy định của Luật chung là Luật xử lý Vi phạm hành chính 2012 và Luật Đất đai 2013 không khẳng định ai là là cá nhân, và như thế nào thì được coi là tổ chức, nhưng Nghị định 91/2019/NĐ-CP đã có quy định rõ ràng về vấn đề này, giúp cho các chủ thể có thẩm quyền xử phạt có thể dễ dàng hơn trong việc lựa chọn áp dụng hình phạt, mức phạt cho phù hợp, đảm bảo nguyên tắc theo luật định.
2.1.4. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong sử dụng đất
- Thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp trong việc xử phạt vi phạm hành chính
Thứ nhất, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã có quyền: (i) Phạt cảnh cáo; (ii) Phạt tiền đến 5.000.000 đồng; (iii) Tịch thu các giấy tờ đã bị tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung; giấy tờ giả đã sử dụng trong việc sử dụng đất; (iv) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm.
Nhận thấy ở Nghị định 91 đã thu hẹp thẩm quyền của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã trong áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, không có thẩm quyền “buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm” như ở Nghị định 102, khiến cho việc xử lý không được triệt để, không đủ răn đe. Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất.
Thứ hai, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện có quyền: (i) Phạt cảnh cáo; (ii) Phạt tiền đến 50.000.000 đồng; (iii)) Tịch thu các giấy tờ đã bị tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung; giấy tờ giả đã sử dụng trong việc Sử dụng đất; (iv) Tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động dịch vụ tư vấn trong lĩnh vực đất đai có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động dịch vụ tư vấn trong lĩnh vực đất đai có thời hạn; (v) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả bao gồm 17 biện pháp tại Khoản 3 Điều 5. Có thể thấy thẩm quyền của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện được mở rộng hơn trong việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hơn so với Nghị định 102 chỉ có 6 biện pháp.
Thứ ba, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có các thẩm quyền của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, tuy nhiên có quyền Phạt tiền đến 500.000.000 đồng.
- Thẩm quyền của thanh tra chuyên ngành đất đai trong việc xử phạt vi phạm hành chính
Thứ nhất, Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành đang thi hành công vụ có quyền: (i)Phạt cảnh cáo; (ii) Phạt tiền đến 500.000 đồng; (iii) Tịch thu các giấy tờ đã bị tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung; giấy tờ giả đã sử dụng trong việc Sử dụng đất; (iv) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm;
Thứ hai, Chánh Thanh tra Sở, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành do Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai, Giám đốc Sở, Chánh Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra có thẩm quyền giống với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện.
Thứ ba, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp Bộ có thẩm quyền tương tự Chánh Thanh tra Sở, ngoại trừ có quyền Phạt tiền đến 250.000.000 đồng; và Tịch thu các tang vật, phương tiện Vi phạm hành chính không vượt quá mức tiền phạt là 250.000.000 đồng.
Thứ tư, Chánh Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai có tương tự Chánh Thanh tra Sở, ngoại trừ có quyền Phạt tiền đến 500.000.000 đồng; và Tịch thu các tang vật, phương tiện Vi phạm hành chính không phụ thuộc vào giá trị của tang vật và phương tiện Vi phạm hành chính.
- Thẩm quyền xử phạt Vi phạm hành chính của các cơ quan khác
Ngoài Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp, thanh tra chuyên ngành đất đai, Nghị định 91 bổ sung thêm thẩm quyền của Thanh tra xây dựng, Thanh tra Bộ Quốc phòng, Thanh tra Bộ công an khi phát hiện các hành vi Vi phạm hành chính trong Sử dụng đất thuộc quản lý của ngành mình thì cũng có quyền xử phạt, cụ thể:
Thanh tra xây dựng có thẩm quyền xử phạt Vi phạm hành chính đối với các hành vi không nộp hồ sơ, không cung cấp, cung cấp không đầy đủ giấy tờ để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho người mua, thuê mua nhà, công trình xây dựng, nhận chuyển quyền Sử dụng đất tại dự án kinh doanh bất động sản.
- Thanh tra Bộ Quốc phòng có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi Vi phạm hành chính trong Sử dụng đất quốc phòng.
- Thanh tra Bộ Công an có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi Vi phạm hành chính trong Sử dụng đất an ninh.
2.1.5. Các hình thức, biện pháp xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất.
Các hình thức xử phạt Vi phạm hành chính trong Sử dụng đất bao gồm hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung. Trong đó:
- Thứ nhất, các hình thức xử phạt chính bao gồm: Cảnh cáo; Phạt tiền.
Cảnh cáo được áp dụng đối với hành vi vi phạm sau đây: (1) Chuyển mục đích Sử dụng đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép; (2) Đưa chất thải, chất độc hại, vật liệu xây dựng hoặc các vật khác lên thửa đất của người khác hoặc thửa đất của mình gây cản trở cho việc Sử dụng đất của người khác; (3) Không đăng ký đất đai lần đầu; (4) Tự ý chuyển đổi quyền Sử dụng đất nông nghiệp mà không đủ điều kiện quy định; (5) Tự ý chuyển nhượng, tặng cho quyền Sử dụng đất có điều kiện mà không đủ điều kiện của hộ gia đình, cá nhân; (6) Cơ sở tôn giáo có hành vi tự ý nhận chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho quyền Sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền Sử dụng đất; (7) Tự ý nhận chuyển quyền Sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức nhận chuyển quyền đối với trường hợp giá trị quyền Sử dụng đất nhận chuyển quyền vượt hạn mức thuộc mức 1; (8) hành vi chậm cung cấp thông tin, giấy tờ, tài liệu có liên quan đến việc thanh tra, kiểm tra về đất đai sau 07 ngày kể từ ngày công bố quyết định thanh tra hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của cơ quan, người có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra, thu thập chứng cứ để giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân.
Ở Nghị định 91, hình phạt tiền được tách ra thành một điều riêng, không quy định chung chung mà rất chi tiết mức phạt tiền trong trường hợp nào đối với cá nhân, mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 2 lần mức phạt tiền đối với cá nhân có cùng một hành vi Vi phạm hành chính; mức phạt tiền trong trường hợp nào áp dụng với các tổ chức, thẩm quyền xử phạt cá nhân, tổ chức.
Nhìn chung mức phạt tiền ở Nghị định 91 cao hơn mức phạt ở Nghị định 102, chẳng hạn như tại Điều 9 Nghị định 91, chuyển đất trồng lúa sang đất phi nông nghiệp (trong đó có đất ở) tại khu vực nông thôn và đô thị mà không được cơ quan có thẩm quyền cho phép thì phạt tiền theo diện tích tự ý chuyển, mức phạt ở đô thị cao gấp 2 lần ở nông thôn, tối đa 500 triệu đồng đối với cá nhân, 1 tỷ đối với tổ chức. Điều 17 Nghị định 91 trường hợp không thực hiện đăng ký biến động đất đai mức phạt cao nhất là 10 triệu đồng đối với cá nhân, 20 triệu đồng đối với tổ chức, trong khi ở Nghị định 102 mức phạt cao nhất là 5 triệu đồng đối với cá nhân, 10 triệu đồng đối với tổ chức; Điều 18 trường hợp chuyển quyền, cho thuê, thế chấp bằng quyền Sử dụng đất khi không đủ điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai, mức phạt cao nhất lên tới 40 triệu đồng đối với tổ chức, cao gấp 4 lần so với quy định ở Nghị định 102…Một trong những nội dung đáng chú ý nhất của Nghị định 91 là hành vi không Sử dụng đất trồng cây hàng năm trong thời hạn 12 tháng liên tục, đất trồng cây lâu năm trong thời hạn 18 tháng liên tục, đất trồng rừng trong thời hạn 24 tháng liên tục mà không thuộc trường hợp bất khả kháng, nói cách khác bỏ hoang đất cũng bị xử phạt tiền tối đa là 10 triệu đồng với cá nhân, 20 triệu đồng với tổ chức. Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất.
Có thể thấy phạt tiền là hình thức tác động trực tiếp đến kinh tế người vi phạm, do vậy nó có tác dụng lớn trong việc phòng, chống, răn đe người vi phạm. Bởi xét cho cùng, mọi hành vi Vi phạm pháp luật của con người đều xuất phát từ lợi ích của chính bản thân họ, mà vấn đề kinh tế là một trong các nguyên nhân chủ yếu chi phối đến lợi ích đó.
- Thứ hai, hình thức xử phạt bổ sung bao gồm:
Một là, tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động dịch vụ tư vấn trong lĩnh vực đất đai từ 06 tháng đến 09 tháng hoặc đình chỉ hoạt động dịch vụ tư vấn trong lĩnh vực đất đai từ 09 tháng đến 12 tháng.
Hai là, tịch thu các giấy tờ đã bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung; giấy tờ đã sử dụng trong việc Sử dụng đất. Hình thức này khác với hình thức được quy định ở Nghị định 102 là tịch thu tang vật Vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Về biện pháp khắc phục hậu quả, Nghị định 102/2014/NĐ-CP không có điều khoản quy định riêng về các biện pháp khắc phục hậu quả khi vi phạm mà quy định biện pháp khắc phục hậu quả theo từng hành vi vi phạm. Trong đó, chủ yếu gồm 03 biện pháp: Buộc khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm; bộc nộp lại số lợi bất hợp pháp; buộc trả lại diện tích đất đã nhận. Nghị định 91/2019/NĐ-CP đã khắc phục được thiếu sót của Nghị định 102/2014/NĐ-CP, quy định rõ hơn và được bổ sung thêm nhiều biện pháp, cụ thể tại Khoản 3 Điều 5:
- Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm;
- Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm;
- Buộc thực hiện thủ tục hành chính về đất đai;
- Buộc trả lại đất sử dụng không đúng quy định;
- Buộc chấm dứt hợp đồng thế chấp bằng quyền Sử dụng đất;
- Buộc hoàn trả tiền chuyển nhượng, tiền cho thuê, tiền cho thuê lại đất không đúng quy định của pháp luật trong thời gian Sử dụng đất còn lại;
- Buộc hoàn thành nghĩa vụ tài chính liên quan đến đất đai;
- Buộc hoàn thành việc đầu tư xây dựng theo đúng quy định;
- Buộc chấm dứt hợp đồng mua, bán, cho thuê tài sản gắn liền với đất không đủ điều kiện quy định;
- Buộc sử dụng đất đúng theo mục đích được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền Sử dụng đất;
- Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của chỉ giới Sử dụng đất, mốc địa giới hành chính như trước khi vi phạm;
- Buộc cung cấp hoặc cung cấp lại thông tin, giấy tờ, tài liệu theo yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp đất đai;
- Buộc thực hiện đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản;
- Buộc nộp Giấy chứng nhận đã cấp;
- Hủy bỏ kết quả thực hiện thủ tục hành chính về đất đai đã thực hiện đối với trường hợp sử dụng giấy tờ giả để thực hiện thủ tục hành chính và các công việc khác liên quan đến đất đai mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
- Xử lý tài sản tạo lập không hợp pháp
- Thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai đối với các trường hợp phải thu hồi đất
Đặc biệt, tại Nghị định 102/2014 có quy định về buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp nhưng không hướng dẫn cách xác định. Tuy nhiên, Nghị định 91/2019 đã hướng dẫn cụ thể công thức tính số lợi bất hợp pháp trong trường hợp Sử dụng đất sang mục đích khác mà không được cơ quan có thẩm quyền cho phép; trường hợp Sử dụng đất do lấn, chiếm; trường hợp chuyển nhượng, góp vốn bằng quyền Sử dụng đất không đủ điều kiện; trường hợp cho thuê, cho thuê lại quyền Sử dụng đất không đủ điều kiện…
Bên cạnh đó Nghị định 91 cũng bổ sung cách xác định diện tích vi phạm: Trường hợp vi phạm toàn bộ diện tích thửa đất thì xác định theo diện tích ghi trên giấy tờ về quyền Sử dụng đất. Trường hợp vi phạm toàn bộ diện tích thửa đất không có giấy tờ về quyền Sử dụng đất mà đã có bản đồ địa chính thì sử dụng bản đồ địa chính để xác định; trường hợp không có bản đồ địa chính mà có bản đồ khác đã, đang sử dụng quản lý đất đai tại địa phương thì sử dụng bản đồ đó để xác định… Điểm mới của Nghị định 91 là đã đề cập đến việc sử dụng bản đồ địa chính (tài liệu kỹ thuật phổ biết nhất và bảo đảm độ chính xác nhất hiện nay) để xác định nhằm hạn chế bớt trường hợp phải đo đạc lại. Bên cạnh đó, quy định trường hợp người Sử dụng đất không đồng ý với diện tích mà Đoàn thanh tra xác định thì được quyền thuê đơn vị có chức năng đo đạc xác định lại diện tích đất vi phạm. Chi phí trưng cầu đo đạc để xác định diện tích đất vi phạm do người vi phạm chi trả. Điểm này tạo điều kiện cho người Sử dụng đất được chủ động, sẽ rút ngắn thời gian và thủ tục thực hiện so với trước đây.
2.1.6. Trình tự, thủ tục xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất.
Trình tự, thủ tục xử lý Vi phạm hành chính trong sử dụng đất được quy định tại Mục 1 Chương III Luật Xử lý Vi phạm hành chính 2012, bao gồm các bước như sau:
Bước 1: Buộc chấm dứt hành vi Vi phạm hành chính
Buộc chấm dứt hành vi Vi phạm hành chính nh được người có thẩm quyền đang thi hành công vụ áp dụng đối với hành vi Vi phạm hành chính đang diễn ra nhằm chấm dứt ngay hành vi vi phạm. Buộc chấm dứt hành vi Vi phạm hành chính được thực hiện bằng lời nói, còi, hiệu lệnh, văn bản hoặc hình thức khác theo quy định của pháp luật.
Bước 2. Hình thức xử phạt Vi phạm hành chính
- Xử phạt Vi phạm hành chính không lập biên bản
Áp dụng trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức và người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ.
Trường hợp Vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì phải lập biên bản.
- Xử phạt Vi phạm hành chính có lập biên bản, hồ sơ xử phạt Vi phạm hành chính
Đối với các hành vi Vi phạm hành chính trong Sử dụng đất không thuộc trường hợp xử phạt cảnh cáo nêu trên thì cần tiến hành lập biên bản. Việc xử phạt Vi phạm hành chính có lập biên bản phải được người có thẩm quyền xử phạt lập thành hồ sơ xử phạt Vi phạm hành chính. Hồ sơ bao gồm biên bản Vi phạm hành chính, quyết định xử phạt hành chính, các tài liệu, giấy tờ có liên quan và phải được đánh bút lục. Hồ sơ phải được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ.
Bước 3. Xác minh tình tiết của vụ việc Vi phạm hành chính
Trong trường hợp cần thiết người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm xác minh các tình tiết sau đây và thể hiện bằng văn bản:
- Có hay không có Vi phạm hành chính;
- Cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi Vi phạm hành chính, lỗi, nhân thân của cá nhân Vi phạm hành chính;
- Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ;
- Tính chất, mức độ thiệt hại do Vi phạm hành chính gây ra;
- Trường hợp không ra quyết định xử phạt Vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 65 của Luật Xử lý Vi phạm hành chính năm 2012;
- Tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc xem xét, quyết định xử phạt.
Trong quá trình xem xét, ra quyết định xử phạt, người có thẩm quyền xử phạt có thể trưng cầu giám định. Việc trưng cầu giám định được thực hiện theo quy định của pháp luật về giám định.
Bước 4: Giải trình Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất.
Giải trình là việc cơ quan nhà nước cung cấp, giải thích, làm rõ các thông tin về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Quyền giải trình của người Vi phạm hành chính được quy định trong Luật xử lý Vi phạm hành chính thể hiện rõ ý nghĩa trong việc hạn chế bớt khiếu nại, cũng như cho các chủ thể có liên quan được quyền thể hiện quan điểm của mình, tạo cơ chế để người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có cơ hội để tự bảo vệ quyền và lợi ích của mình hoặc nhờ người đại diện hoặc luật sư. Cụ thể thủ tục giải trình được thực hiện theo điều 61 Luật xử lý Vi phạm hành chính năm 2012.
Bước 5: Chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính hoặc nếu có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự.
Khi xem xét vụ vi phạm để quyết định xử phạt Vi phạm hành chính, nếu xét thấy hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm, thì người có thẩm quyền xử phạt phải chuyển ngay hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.
Đối với vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó lại có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án, nếu hành vi có dấu hiệu Vi phạm hành chính, thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra quyết định, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển các quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử phạt Vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt Vi phạm hành chính
Bước 6: Ra quyết định xử phạt Vi phạm hành chính
Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản Vi phạm hành chính người có thẩm quyền xử phạt Vi phạm hành chính phải ra quyết định xử phạt Vi phạm hành chính. Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp hoặc đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 ngày, kể từ ngày lập biên bản. Trường hợp vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp và thuộc trường hợp giải trình mà cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp xin gia hạn, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày. Nếu quá thời hạn người có thẩm quyền xử phạt không ra quyết định xử phạt nhưng vẫn quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Quyết định xử phạt có hiệu lực kể từ ngày ký, trừ trường hợp trong quyết định có quy định ngày có hiệu lực khác (Điều 67, 68 Luật Xử lý Vi phạm hành chính 2012) và được dựa theo mẫu Quyết định số 02 ban hành kèm Nghị định 81/2013/NĐ-CP.
Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định xử phạt Vi phạm hành chính, người có thẩm quyền đã ra quyết định xử phạt phải gửi quyết định xử phạt cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt, cơ quan thu tiền phạt và cơ quan liên quan khác (nếu có) để thi hành (Điều 70 Luật Xử lý Vi phạm hành chính).
Trong trường hợp gửi quyết định xử phạt và gặp vấn đề phát sinh về thời gian nhận quyết định thì sẽ liên quan đến trường hợp bị cưỡng chế. Vì theo quy định thì thời hạn thì hành quyết định là 10 ngày kể từ ngày nhận quyết định xử phạt, trưởng hợp nếu người vi phạm không nhận đc sẽ khiến việc xử lý bị trì hoãn. Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất.
2.1.7. Về vấn đề chuyển tiếp
Về quy định chuyển tiếp, tại Nghị định 102 quy định hành vi vi phạm xảy ra trước thời điểm Nghị định 102 có hiệu lực, được áp dụng theo quy định xử phạt tại thời điểm xảy ra vi phạm hoặc theo Nghị định này nêu có lợi cho đối tượng vi phạm. Do đó, quy định này gây bất hợp lý và khó khăn, mất thời gian vì phải lập 2 phương án xử phạt theo hai thời điểm khác nhau để so sánh. Để tránh xung đột trong việc áp dụng Nghị định cũ hay Nghị định mới thay thế, Nghị định 91 đã quy định cụ thể từng trường hợp để áp dụng cho phù hợp:
Thứ nhất, Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai xảy ra trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì áp dụng quy định về xử phạt Vi phạm hành chính như sau:
- Trường hợp đã lập biên bản vi phạm nhưng chưa có quyết định xử phạt trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành mà hành vi đó đã hết thời hiệu xử phạt hoặc không thuộc trường hợp xử phạt theo quy định tại Nghị định này thì không thực hiện việc xử phạt đối với hành vi vi phạm đó;
- Trường hợp đã lập biên bản vi phạm nhưng chưa có quyết định xử phạt trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành mà hành vi đó còn trong thời hiệu xử phạt theo quy định tại Nghị định này thì tiếp tục thực hiện xử phạt hành vi vi phạm đó.
Việc xử phạt Vi phạm hành chính đối với trường hợp này được thực hiện theo quy định về xử phạt Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai có hiệu lực thi hành tại thời điểm lập biên bản Vi phạm hành chính đó; trường hợp áp dụng Nghị định 91 để xử phạt có lợi hơn cho đối tượng vi phạm thì thực hiện xử phạt theo Nghị định 91;
- Trường hợp đã có quyết định xử phạt Vi phạm hành chính nhưng chưa thực hiện hoặc chưa thực hiện xong thì tiếp tục thực hiện theo quyết định xử phạt đó;
- Trường hợp đã thực hiện xử phạt Vi phạm hành chính mà vẫn tiếp tục vi phạm và các trường hợp ngoài quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì áp dụng Nghị định 91 để xử phạt vi phạm.
Thứ hai, trường hợp quyết định xử phạt Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đã ban hành nhưng chưa thực hiện hoặc đã thực hiện xong trước thời điểm Nghị định 91 có hiệu lực thi hành mà cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm còn khiếu nại thì áp dụng quy định của pháp luật về xử phạt Vi phạm hành chính đang có hiệu lực tại thời điểm ban hành quyết định xử phạt để giải quyết.
2.1.8. Xử lý các hành vi vi phạm trong thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất.
Điều 207 Luật Đất đai 2013 quy định việc xử lý đối với người có hành vi Vi phạm pháp luật về đất đai khi thi hành công vụ trong lĩnh vực đất đai như sau:
Người có hành vi Vi phạm pháp luật về đất đai khi thi hành công vụ thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật đối với các hành vi vi phạm sau đây:
Thứ nhất, lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái với quy định của pháp luật trong giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích Sử dụng đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, chuyển quyền Sử dụng đất, thực hiện quy hoạch, kế hoạch Sử dụng đất, xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai, quản lý hồ sơ địa chính, ra quyết định hành chính trong quản lý đất đai;
Thứ hai, thiếu trách nhiệm trong quản lý để xảy ra Vi phạm pháp luật về đất đai hoặc có hành vi khác gây thiệt hại đến tài nguyên đất đai, quyền và nghĩa vụ của người Sử dụng đất;
Thứ ba, vi phạm quy định về lấy ý kiến, công bố, công khai thông tin; vi phạm quy định trình tự, thủ tục hành chính; vi phạm quy định về báo cáo trong quản lý đất đai.
Nghị định 43/2014/NĐ-CP đã cụ thể hóa các quy định này tại Điều 96, 97, 98, theo đó việc xử lý đối với người có hành vi Vi phạm pháp luật về đất đai khi thi hành công vụ được áp dụng theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức.
Trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt Vi phạm hành chính trong Sử dụng đất không chấp hành quyết định xử phạt theo quy định tại Điều 73 Luật xử lý Vi phạm hành chính năm 2012 thì sẽ bị cưỡng chế cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt.
Các biện pháp cưỡng chế được quy định tại Điều 86 Luật xử lý Vi phạm hành chính 2012 bao gồm:
- Một là, khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản của cá nhân, tổ chức vi phạm;
- Hai là, kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá;
- Ba là, thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt Vi phạm hành chính do cá nhân, tổ chức khác đang giữ trong trường hợp cá nhân, tổ chức sau khi vi phạm cố tình tẩu tán tài sản.
- Bốn là, buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả
Điều 199 Luật Đất đai quy định: Công dân có quyền giám sát hoạt động quản lý và Sử dụng đất đai thông qua việc phản ánh, gửi đơn kiến nghị đến các cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết; gửi đơn kiến nghị đến các tổ chức đại diện được pháp luật công nhận để các tổ chức này thực hiện việc giám sát.
Trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi nhận được ý kiến của công dân và tổ chức đại diện cho người dân là phải kiểm tra, xử lý, trả lời bằng văn bản theo thẩm quyền; Chuyển đơn đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết trong trường hợp không thuộc thẩm quyền; Thông báo kết quả cho tổ chức, cá nhân đã phản ánh.
2.2. Thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất ở Việt Nam giai đoạn Nghị định 102/2014/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai có hiệu lực thi hành
2.2.1. Một số kết quả đạt được
Một là, Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật (TTPBGDPL), bồi dưỡng, tập huấn, hướng dẫn về kỹ năng, nghiệp vụ trong việc triển khai thi hành và áp dụng pháp luật về xử lý Vi phạm hành chính trong Sử dụng đất cũng được đặc biệt chú trọng; các cơ quan, đơn vị, địa phương đã tích cực triển khai công tác TTPBGDPL với quy mô cấp bộ, ngành, tỉnh, quan tâm cả những đối tượng có nguy cơ vi phạm, người có thẩm quyền xử lý và mọi tầng lớp nhân dân để giám sát việc thực hiện. Hình thức tuyên truyền thực hiện đa dạng, phong phú, lồng ghép phổ biến, quán triệt Luật, các Nghị định và các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan đến Luật trong các buổi hội nghị, cuộc họp, tập huấn, buổi nói chuyện; tuyên truyền trên chuyên trang, chuyên mục báo, tạp chí, Đài PTTH; mua và cấp phát sách pháp luật; in ấn, phát hành tài liệu, tờ gấp, đĩa hình, băng đĩa tiếng; tuyên truyền qua hệ thống loa truyền thanh ở cơ sở, đài truyền thanh cấp huyện, cấp xã; tổ chức thi tìm hiểu pháp luật.
Hai là, công tác ban hành các văn bản chỉ đạo, điều hành; kiểm tra, thanh tra việc thi hành pháp luật về xử lý Vi phạm hành chính trong Sử dụng đất cũng như việc đảm bảo các điều kiện cho công tác thi hành pháp luật về xử lý Vi phạm hành chính trong Sử dụng đất cũng đã được quan tâm triển khai. Ngoài ra, các tổ chức thanh tra đã tăng cường thanh tra, kiểm tra ở các cấp từ trung ương tới địa phương về công tác Xử lý Vi phạm hành chính trong Sử dụng đất thuộc phạm vi quản lý. Qua thanh tra, kiểm tra đã phát hiện những thiếu sót, hạn chế trong công tác xử lý Vi phạm hành chính trong Sử dụng đất và đã kiến nghị, xử lý những thiếu sót, góp phần tăng cường hiệu quả của công tác phát hiện, xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm.
Theo báo cáo của Thanh tra thành phố Hà Nội, năm 2019 các cơ quan hành chính của thành phố triển khai 355 cuộc thanh tra, riêng trong lĩnh vực đất đai đã thực hiện 114 cuộc, kết luận 34 cuộc, phát hiện sai phạm kiến nghị thu hồi 0,68 tỷ đồng, những sai phạm chủ yếu là: giao đất trái thẩm quyền, các hộ dân tự chuyển đổi mục đích Sử dụng đất, chuyển nhượng trái quy định, lấn chiếm đất, xây dựng trái phép trên đất công, việc quản lý, Sử dụng đất chưa đúng quy định
Thanh tra, kiểm tra tại 30 quận, huyện, thị xã, các đoàn thanh tra liên ngành của thành phố Hà Nội đã phát hiện hơn 62.600 trường hợp vi phạm trên đất nông nghiệp, đất nông nghiệp công ích, đất công với tổng diện tích gần 1.900ha. Nhằm nâng cao hiệu quả Sử dụng đất nông nghiệp, thành phố cùng các sở, ngành chức năng và các địa phương đang triển khai nhiều giải pháp để ngăn chặn, xử lý dứt điểm tình trạng vi phạm pháp luật đất đai. Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất.
Ba là, về cơ bản, việc xử lý Vi phạm hành chính trong Sử dụng đất cũng như trình tự, thủ tục, thẩm quyền xử lý vi phạm được các cấp, ban, ngành và các địa phương thực hiện dựa theo quy định của pháp luật về đất đai
Bốn là, công tác tiếp dân, xử lý và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân nói chung và khiếu nại, tố cáo về đất đai được quan tâm. Ở các cấp chính quyền từ cấp tỉnh, cấp huyện đến cấp xã đều tổ chức địa điểm tiếp công dân, công khai địa chỉ, số điện thoại, thời gian và bố trí cán bộ lãnh đạo, cán bộ chuyên môn trực để tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân theo đúng quy định. Điều này góp phần tháo gỡ, giải tỏa những bức xúc của người dân, không để phát sinh trở thành mâu thuẫn, xung đột xã hội.
Theo báo cáo của Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường, 6 tháng đầu năm 2019 đã nhận được 1.756 lượt đơn khiếu nại, tố cáo, trong đó có tới 1.684 đơn thuộc lĩnh vực đất đai, chiếm 95,9%. Nội dung khiếu nại công dân đến trình bày chủ yếu liên quan đến việc thu hồi, bồi thường, hỗ trợ về đất; cấp Giấy chứng nhận quyền Sử dụng đất và một số trường hợp tố cáo sai phạm của chính quyền địa phương trong quản lý đất đai. Bên cạnh đó, Các Sở Tài nguyên và Môi trường cũng đã thực hiện 167 cuộc thanh tra, kiểm tra về đất đai đối với 738 tổ chức, cá nhân; phát hiện 17% số đối tượng được thanh tra có Vi phạm pháp luật đất đai. Căn cứ kết quả thanh tra, kiểm tra, đã xử phạt Vi phạm hành chính 36 tổ chức, cá nhân với số tiền 815 triệu đồng; kiến nghị truy thu 2.450 triệu đồng; kiến nghị thu hồi 5 ha đất.
2.2.2. Những tồn tại, yếu kém
Quá trình đô thị hóa, dân cư biến động cơ học dẫn đến nhu cầu về đất phi nông nghiệp (đất xây dựng nhà ở, nhà xưởng) tăng mạnh, việc quản lý, Sử dụng đất có diễn biến phức tạp. Việc lấn, chiếm, mua bán, chuyển đổi mục đích Sử dụng đất công, đất nông nghiệp trái pháp luật dưới nhiều hình thức, diễn ra trên nhiều địa bàn, nhất là tại các vùng ven đô, khu vực được quy hoạch phát triển đô thị, phát triển công nghiệp.
- Ở một số địa phường trên địa bàn Hà Nội:
Huyện Quốc Oai có 1.668 trường hợp tự ý chuyển đổi mục đích Sử dụng đất, xây công trình trái phép… tồn tại nhiều năm. Chỉ tính từ tháng 11-2018 đến tháng 12-2019, toàn huyện có 104 trường hợp vi phạm xây công trình trên đất nông nghiệp. Điển hình là trường hợp gia đình ông Kiều Duy Dân ở thôn Đông Hạ (xã Đông Yên) xây nhà ở và tường bao trên đất nông nghiệp tại khu vực Đồng Tròn với các hạng mục: Nhà 1 và 2 tầng khung bê tông cốt thép; tường bao cao 1,5m, dài 100m; sân, lối đi đổ bê tông kết hợp mái che bằng tôn… trên tổng diện tích 300m2.
Xã Hữu Bằng (huyện Thạch Thất), thời điểm nghỉ Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019 đã có 19 trường hợp vi phạm xây dựng lán xưởng trên đất nông nghiệp ở khu đồng Bùi và Bờ Cọc. Các công trình được làm bằng khung kèo sắt, lợp mái và quây xung quanh bằng tôn với diện tích từ hơn 100m2 đến 300m2. Từ tháng 1 đến tháng 5-2019, Uỷ ban nhân dân xã Hữu Bằng, Uỷ ban nhân dân huyện Thạch Thất đã thực hiện các biện pháp: Lập biên bản Vi phạm hành chính, yêu cầu các hộ tự tháo dỡ vi phạm, ra các quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, quyết định cưỡng chế khắc phục… nhưng vì nhiều lý do, các hộ này vẫn chưa chấp hành. Hiện, trên địa bàn huyện vẫn còn hơn 1.200 trường hợp vi phạm khác, chủ yếu tồn tại từ năm 2014 trở về trước. Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất.
Tại Quận Long Biên, Sở TN&MT phát hiện tổng số trường hợp vi phạm đất nông nghiệp giao theo Nghị định số 64 là 304 trường hợp với tổng diện tích đất vi phạm là 13,7144 ha. Trong đó, sử dụng không đúng mục đích, xây dựng trái phép là 286 trường hợp, diện tích 13,2939 ha và chuyển nhượng trái quy định 14 trường hợp, diện tích 0,1725 ha… Dù là đất công do Uỷ ban nhân dân các phường quản lý nhưng việc xử lý sai phạm lại rất hạn chế, mới có 53 trường hợp được xử lý, còn lại 201 trường hợp, với diện tích 7,0578 ha gồm nhà ở trái phép, nhà kho, bến bãi, cơ sở sinh thái… đang tồn tại, chưa biết đến bao giờ bị tháo dỡ.
Long Biên là đô thị trẻ ở phía Đông thành phố Hà Nội với nguồn lực đất đai dồi dào, vị trí đắc địa, giá cả ngày càng đắt đỏ. Do giá trị của đất cao, cùng với năng lực quản lý hạn chế, một số cán bộ địa phương quận Long Biên đã bỏ qua quy định của pháp luật, buông lỏng quản lý khiến cho những vi phạm đối với đất nông nghiệp, đất công trên địa bàn Long Biên diễn biến phức tạp.
Từ trước những năm 2014, chính quyền một số phường như: Bồ Đề, Long Biên, Giang Biên, Ngọc Lâm, Gia Thụy cho một số hộ cá nhân thuê đất làm mô hình sinh thái với giá rẻ giật mình, chỉ khoảng 500 đồng/năm/m2 đất bãi bồi ven sông. Nhìn chung, các hợp đồng thuê đất tại các địa phương kể trên đều đăng ký ban đầu là sử dụng vào mục đích sản xuất, trồng cây ăn quả kết hợp với kinh tế trang trại hộ gia đình. Tuy nhiên, thực tế, tất cả những ô đất thuê này đều sử dụng không đúng mục đích. Nhiều chủ đầu tư, sau khi thuê đất đã lập hàng rào quây kín. Phía bên trong cải tạo, xây dựng hạ tầng, tạo cảnh quan rất đẹp gồm sân vườn, đường dạo, tiểu cảnh.
Một “cò” chuyên môi giới làm các thủ tục hợp thức hóa đất công bật mí, công thức chung là: Sau một thời gian, người thuê sẽ có đơn trình bày với chính quyền sở tại cho phép được quây tường rào, nhà tạm để trông nom bảo quản tài sản cây trồng, vật nuôi trên đất. Theo quy trình như vậy, nhiều chủ đầu tư đã gom được hàng nghìn mét vuông đất công, đất nông nghiệp, đất bãi bồi ven sông “bờ xôi ruộng mật” ở Long Biên với giá rẻ bèo, chờ thời chuyển đổi sang các loại đất khác có giá trị cao hơn để thu lời, nguy cơ gây thất thu ngân sách Nhà nước. Bởi lẽ, nếu đất đó đem ra đấu giá công khai, Nhà nước sẽ thu được giá cao gấp hàng trăm lần và nhiều người có nhu cầu đấu giá chứ không bị bó hẹp đối tượng như thời gian qua.
Công ty Phúc Long từ nhiều năm nay đã gom đất nông nghiệp, bãi bồi ven sông Đuống của hàng chục hộ dân quận Long Biên với diện tích vài nghìn mét vuông để làm bãi trung chuyển, tập kết vật liệu. Chính quyền đã liên tiếp xử phạt hành chính, yêu cầu Công ty Phúc Long dừng hoạt động, vận chuyển toàn bộ vật liệu xây dựng ra khỏi bãi tập kết do vi phạm trong Sử dụng đất, quản lý đê điều. Tuy nhiên, đến nay, công ty Phúc Long vẫn tái diễn hành vi Vi phạm pháp luật của mình, bất chấp các quy định cấm của cơ quan chức năng.
Theo kết quả thanh tra, kiểm tra của các đoàn thanh tra liên ngành thành phố Hà Nội, mặc dù các địa phương đã hạn chế được vi phạm mới phát sinh, nhưng nhiều quận, huyện vẫn còn từ 900 đến 4.000 trường hợp vi phạm tồn tại từ trước năm 2014 chưa được xử lý, như: Thanh Xuân, Tây Hồ, Nam Từ Liêm, Bắc Từ Liêm, Hoàng Mai, Phú Xuyên…
Tại Cần Thơ xảy ra vụ việc sai phạm nghiêm trọng trong Sử dụng đất tại Quận Bình Thủy. Qua kết quả thanh tra cho thấy, công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn Quận Bình Thủy trong thời gian qua có nhiều sơ hở, yếu kém; cho phép điều chỉnh loại đất, chuyển mục đích Sử dụng đất sai quy định; tách thửa, chia lô, bán nền, xây dựng nhà không phép, sai phép; san lấp kênh rạch, lấn chiếm đất, hình thành nhiều khu dân cư tự phát có cơ sở hạ tầng thấp kém…, nhất là tại địa bàn phường Long Hòa, làm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, phát triển đô thị của Quận Bình Thủy và của Thành phố Cần Thơ; vi phạm Luật Đất đai năm 2013 và các Nghị định hướng dẫn thi hành. Tại phường Long Hòa, qua xác minh, cho thấy các ngành chức năng của Quận Bình Thủy đã buông lỏng quản lý, ưu ái, dễ dàng để 2 hộ dân, là ông Sử Quang Thái và bà Nguyên Thị Thanh Tuyền được chuyển mục đích Sử dụng đất, tách thửa, chia lô, bán nền, cấp phép xây dựng trái với quy hoạch được duyệt; để xây dựng nhà sai phép, không phép nhưng không kiên quyết xử lý, san lấp rạch Mù U trái phép để làm đường đi tại khu vực Bình Nhựt (phường Long Hòa)… hình thành nên các khu dân cư tự phát có cơ sở hạ tầng thấp kém, xuống cấp, ảnh hưởng nghiêm trọng đối với công tác triển khai, thực hiện đề án khai thác quỹ đất Thành phố Cần Thơ, do phải bồi thường giá đất thổ cư, bồi thường nhà, vật kiến trúc và tái định cư cho các hộ dân. Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất.
Ngoài ra còn nhiều vụ việc vi phạm trong Sử dụng đất điển hình trong thời gian gần đây như vụ việc Đinh Ngọc Hệ (Út “trọc”), Vũ “nhôm”, Thủ Thiêm cụ thể là không sử dụng, Sử dụng đất không đúng mục đích. Điều này thể hiện ở tình trạng để đất hoang hóa, chậm triển khai dự án, giao đất không qua đấu giá, chuyển nhượng dự án sai phép… Tình trạng Sử dụng đất không đúng mục đích nghiêm trọng nhất là biến đất nông nghiệp, đất rừng thành đất ở, đất sản xuất kinh doanh trái pháp luật. Đây là sai phạm gây tổn thất nhiều nhất cho sự phát triển kinh tế – xã hội. Bên cạnh đó, một vi phạm điển hình là không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước như: tiền Sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất có thu tiền Sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích Sử dụng đất, công nhận quyền Sử dụng đất; tiền thuê đất khi được Nhà nước cho thuê; thuế Sử dụng đất…
Khoản chênh lệch rất lớn giữa giá trị quyền Sử dụng đất trước và sau khi chuyển đổi mục đích sử dụng, trước và sau khi thực hiện cổ phần hoá Doanh nghiệp Nhà nước, trước và sau khi bán tài sản Nhà nước có gắn với đất đai, trước và sau khi giao đất thực hiện dự án theo hình thức BT,… gây thất thoát rất lớn cho ngân sách nhà nước, biến tài sản Nhà nước thành tài sản cá nhân hay một nhóm cá nhân, tạo môi trường thuận lợi cho tham nhũng, hối lộ, lợi ích nhóm, chiếm đoạt tài sản của Nhà nước.
2.2.3. Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất giai đoạn Nghị định 102/2014/NĐ-CP có hiệu lực
- Nguyên nhân chủ quan
Một là, việc xử lý Vi phạm hành chính của các cấp, các ngành chưa kiên quyết, triệt để. Một số trường hợp quen thân với cán bộ xử lý, hoặc là thông đồng lợi ích vật chất giữa người Sử dụng đất và cán bộ thực thi pháp luật để được dung túng bao che, “giơ cao đánh khẽ” trong việc xử lý vi phạm. Vì vậy, hiện tượng tái phạm hoặc phát sinh Vi phạm hành chính tiếp vẫn xảy ra bởi lợi ích họ đạt được lớn hơn nhiều so với đồng tiền, vật chất mà họ bỏ ra.
Hai là, năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ sự hiểu biết pháp Luật Đất đai, kỹ năng áp dụng pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước làm nhiệm vụ quản lý đất đai còn hạn chế, không đồng đều. Do vậy, khi có hành vi Vi phạm pháp luật trong việc Sử dụng đất xảy ra, một số cán bộ bị động, lúng túng, có trường hợp còn áp dụng không đúng văn bản pháp luật hoặc áp dụng văn bản đã hết hiệu lực để xử lý. Số cán bộ địa chính mới tiếp nhận nhiệm vụ không nắm rõ, đầy đủ, nguồn gốc đầy đủ của từng thửa đất nên tham mưu không có hiệu quả cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn trong xử lý Vi phạm hành chính trong Sử dụng đất. Ngoài ra, một số cán bộ, công chức khi thi hành còn có thái độ phục vụ ứng xử chưa phù hợp, thiếu văn hóa. Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất.
Ba là, công tác quản lý nhà nước về đất đai bị buông lỏng. Khi Vi phạm pháp luật đất đai xảy ra không được phát hiện kịp thời và xử lý dứt điểm tại cơ sở. Do đó dã dẫn đến vi phạm kéo dài và gây hậu quả nghiêm trọng như xây dựng nhà kiên cố, trái phép trên đất nông nghiệp, đất phần trăm, lấn chiếm đất đai… rất khó xử lý, khắc phục. Hơn nữa trong xử lý vi phạm còn có tình trạng nể nang, thiếu kiên quyết với những chế tài áp dụng chưa đủ sức răn đe, giáo dục tổ chức, hộ gia đình, cá nhân vi phạm.
Bốn là, do hạn chế về kinh phí, đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước ở cấp xã mỏng lại phải đảm đương cùng lúc nhiều nhiệm vụ cụ thể phát sinh trong quản lý nhà nước ở cơ sở nên việc thi hành pháp luật về xử lý Vi phạm hành chính trong Sử dụng đất đôi khi không đạt hiệu quả như mong muốn.
- Nguyên nhân khách quan
Một là, nhiều quy định của Luật xử lý Vi phạm hành chính 2012, Luật Đất đai 2013 và pháp luật khác có liên quan quy định thiếu cụ thể, chưa rõ ràng, chưa được hướng dẫn hoặc sửa đổi bổ sung kịp thời. Hơn nữa cơ chế chính sách về đất đai có nhiều thay đổi, lại được chi phối tại nhiều văn bản trong thời gian ngắn. Điều này tiềm ẩn nguy cơ áp dụng pháp luật không thống nhất; vi phạm nguyên tắc công bằng khi xử lý các vụ việc trên thực tế giữa các địa phương trên cả nước.
Chẳng hạn như: Nghị định 102 chưa quy định đầy đủ các trường hợp lấn, chiếm đất theo mục đích sử dụng quy định tại Điều 10 Luật Đất đai 2013. Đơn cử như hành vi lấn, chiếm đất chưa sử dụng để xây dựng nhà ở và các công trình khác vẫn chưa được đề cập, dẫn tới cơ quan có thẩm quyền lúng túng vì không có căn cứ để xử lý.
Nghị định 102 thiếu hướng dẫn chi tiết về xử lý Vi phạm hành chính trong trường hợp “người Sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước”, đã được quy định tại Điều 64 Luật Đất đai 2013. Do vậy, câu hỏi đặt ra là cơ sở nào để “xử phạt Vi phạm hành chính” trong trường hợp này, căn cứ nào để chứng minh “người Sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt Vi phạm hành chính mà không chấp hành” để ra quyết định thu hồi đất khi Vi phạm pháp luật về đất đai.
Không chỉ vậy, nhiều trường hợp đã được giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền Sử dụng đất để xây dựng nhà ở, người được cấp giấy chứng nhận quyền Sử dụng đất loại đất ở, nhưng không xây nhà ở mà lại xây nhà thờ, đặt tượng Phật trên diện tích đất nêu trên. Đáng nói là Nghị định 102 không quy định việc xử lý vi phạm đối với hành vi này.
Hai là, xử lý Vi phạm hành chính trong Sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân còn nhẹ chưa đủ sức giáo dục, răn đe người vi phạm.
Ba là, đất đai có nguồn gốc lịch sử phức tạp lại thay đổi qua nhiều thời kỳ, đến nay, chủ trương, chính sách pháp luật về đất đai còn một số nội dung chưa đủ rõ, chưa phù hợp, việc thể chế hóa còn chậm, chưa thật đồng bộ. Mặt khác, đội ngũ cán bộ địa chính cấp xã, phường, thị trấn luôn có sự biến động, qua mỗi nhiệm kỳ lại có sự thay đổi, luân chuyển nên công tác bàn giao hồ sơ, tài liệu địa chính về đất đai… khó tránh khỏi sự thất lạc, không đầy đủ, kịp thời.
Bốn là, mặt trái của nền kinh tế thị trường, sức mạnh của đồng tiền, lợi ích vật chất đã tác động tiêu cực, dung túng cho một bộ phận cán bộ, công chức trong quản lý nhà nước về Sử dụng đất, lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi, tham nhũng.
Do tính chất phức tạp của các vi phạm, sự chây ỳ của người Sử dụng đất và sự không quyết liệt của cơ quan có thẩm quyền dẫn đến vi phạm kéo dài, khó xử lý. Hơn nữa, việc thay đổi mô hình quản lý trật tự đô thị cũng ảnh hưởng đến công tác quản lý đất công, đất nông nghiệp trên địa bàn. Với những vi phạm tồn tại nêu trên, cần thiết phải làm rõ trách nhiệm cho những cá nhân, tập thể tiếp tay cho sai phạm.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất.
Xử lý Vi phạm hành chính trong Sử dụng đất được thực hiện dựa trên hai đạo luật chủ yếu và trực tiếp là Luật Đất đai năm 2013 và Luật xử lý Vi phạm hành chính với những quy định cụ thể về thẩm quyền xử lý, mức phạt, trình tự thủ tục xử lý, các hình thức và biện pháp xử lý đã được tác giả đề cập chi tiết tại tiểu mục 2.1 của chương 2 của Luận văn.
Dựa trên nền tảng những vấn đề lý luận về xử lý Vi phạm hành chính trong Sử dụng đất ở Chương 1, tại Chương 2 tác giả đã làm rõ một số vấn đề sau:
Phân tích thực trạng pháp luật về xử lý Vi phạm hành chính trong Sử dụng đất, đánh giá những ưu điểm của Nghị định 91/2019/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai so với Nghị định 102/2014/NĐ-CP của Chính phủ đã được thay thế.
Đánh giá thực trạng thi hành pháp luật về xử lý Vi phạm hành chính trong Sử dụng đất giai đoạn Nghị định 102/2014 có hiệu lực thi hành (từ 25/12/2014 đến 04/1/2020) trên các khía cạnh những kết quả đạt được, hạn chế, bất cập và nguyên nhân của kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế trong công tác xử lý Vi phạm hành chính tại một số địa phương ở Việt Đây là cơ sở quan trọng để đưa ra định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về xử lý Vi phạm hành chính trong việc Sử dụng đất kể từ thời điểm Nghị định 91/2019/NĐ-CP có hiệu lực thi hành (05/01/2020) tại Chương 3 của Luận văn. Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong sử dụng đất

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
