Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm đối với hành nghề y tư nhân

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm đối với hành nghề y tư nhân hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm đối với hoạt động hành nghề y tư nhân theo pháp luật Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. THỰC TRẠNG HÀNH NGHỀ Y TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM TỪ 2009 ĐẾN NAY

Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan có hiệu lực thi hành, công tác quản lý hệ thống Y tế tư nhân cũng như các cơ sở Y tế tư nhân có căn cứ để phát triển. Theo Báo cáo đánh giá thực trạng quản lý hệ thống hành nghề Khám bệnh, chữa bệnh tư nhân. Tính đến tháng 9 năm 2015 cả nước hiện có 27.253 cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh tư nhân được phép hoạt động, trong đó phòng khám chuyên khoa chiếm tỷ lệ cao nhất (63,9%); phòng chẩn trị y học cổ truyền chiếm 17,6%; cơ sở dịch vụ y tế 10,9%; bệnh viện tư nhân chỉ chiếm 0,63%; có 54.537 người hành nghề làm việc thường xuyên và 26.547 người hành nghề tại các cơ sở khám chữa bệnh nhà nước tham gia làm tư ngoài giờ không thường xuyên. Người hành nghề cơ sở khám chữa bệnh nhà nước tham gia làm tư ngoài giờ chiếm 11,57% tổng số người hành nghề trong cả nước; bác sỹ làm việc tư nhân ngoài giờ chiếm 52,3%, tỷ lệ này ở y sỹ 11,2%; điều dưỡng là 24,45%, hộ sinh viên là 6,2%; kỹ thuật viên là 4,9%. Cả nước hiện có 172 Bệnh viện tư nhân tại 41 tỉnh, thành phố, trong đó có 117 bệnh viện đa khoa chiếm 68,0%, 55 Bệnh viện chuyên khoa chiếm 32,0%, 165 Bệnh viện có vốn đầu tư trong nước chiếm 96,0%, 7 Bệnh viện có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 4,0%, 168 Bệnh viện có giường nội trú chiếm 98,0%. Quy mô của bệnh viện tư nhân không lớn, chỉ có 5 bệnh viện quy mô trên 200 đến 400 giường bệnh (chiếm 2,9%), 19 bệnh viện quy mô trên 100 gường (chiếm 11,0%). Bệnh viện chuyên khoa có số giường bệnh thấp, chủ yếu từ 10 đến 21 giường. Tổng số giường bệnh của bệnh viện tư nhân là 11.199, trung bình 66 giường/bệnh viện. Nhìn chung công tác quản lý Hành nghề y tư nhân đã đạt được những kết quả nhất định trong quản lý hành nghề, quản lý điều kiện cung ứng dịch vụ và quản lý hoạt động chuyên môn kỹ thuật của cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh tư nhân. Tuy nhiên, sau 6 năm triển khai, một số nội dung của Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009 chưa phù hợp với thực tế, chưa đáp ứng được với mục tiêu mong đợi, một số quy định còn chưa theo xu thế hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Quy định về đối tượng và phạm vi hành nghề chưa phù hợp, còn những đối tượng chưa được đề cập đến như thẩm mỹ, xông hơi, mát xa, kính thuốc mặc dù có can thiệp, thậm chí can thiệp xâm lấn đến cơ thể con người nhưng hiện nay không được quy định phải cấp phép hoạt động. Quy định cấp chứng chỉ và GPHĐ một lần gây khó khăn cho việc đánh giá năng lực khi cấp mới và theo dõi thường xuyên năng lực làm căn cứ cấp lại hoặc thu hồi Chứng chỉ hành nghề, khó có thể theo dõi, giám sát và thu hồi giấy phép của cơ sở KB, CB.

Những quy định về triển khai hoạt động KB, CB, áp dụng kỹ thuật mới, sai sót chuyên môn… cũng còn những điểm chưa phù hợp, khó thực hiện. Công tác thanh tra, kiểm tra ở các tuyến chưa được duy trì thường xuyên. Xử phạt vi phạm hành chính đối với các cơ sở Hành nghề y tư nhân còn gặp nhiều khó khăn. Mức xử phạt trong lĩnh vực y tế tại Nghị định 176/2013/NĐ-CP còn quá cao, khó áp dụng.

2.2. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CHẾ TÀI XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG HÀNH NGHỀ Y TƯ NHÂN Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm đối với hành nghề y tư nhân.

Chế tài xử lý vi phạm pháp luật trong Hành nghề y tư nhân được áp dụng đối với các nhóm hành vi sau: i) Vi phạm quy định về điều kiện Hành nghề y tư nhân; ii) Vi phạm về chuyên môn, kỹ thuật trong hoạt động Hành nghề y tư nhân; iii) Vi phạm các quy định khác về Hành nghề y tư nhân.

Thứ nhất, vi phạm quy định về điều kiện Hành nghề y tư nhân đó là vi phạm điều kiện giấy tờ pháp lý (giấy đăng ký kinh doanh, giấy phép đầu tư, giấy phép hoạt động và các giấy tờ có liên quan), vi phạm điều kiện cơ sở vật chất và trang thiết bị, vi phạm điều kiện nhân lực tham gia hành nghề, vi phạm điều về vệ sinh và quản lý chất thải y tế; vi phạm điều kiện về phòng cháy, chữa cháy.

Đối với cá nhân Hành nghề y tư nhân điều kiện đầu tiên phải có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với hộ kinh doanh cá thể. Điều 66 Nghị định 78/2015/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp quy định: Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. Đối với hộ kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh do cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện cấp.

Theo quy định tại Điều 74 Nghị định 78/2015/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp đối với hộ kinh doanh Hành nghề y tư nhân là kinh doanh có điều kiện chỉ được kinh doanh khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật và phải bảo đảm đáp ứng các điều kiện đó trong suốt quá trình hoạt động. Việc quản lý và kiểm tra việc chấp hành điều kiện kinh doanh của hộ kinh doanh có điều kiện thuộc thẩm quyền của cơ quan chuyên ngành theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Trường hợp cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện nhận được văn bản của cơ quan có thẩm quyền về việc hộ kinh doanh kinh doanh có điều kiện nhưng không đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện ra thông báo yêu cầu hộ kinh doanh tạm ngừng kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, đồng thời thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật. Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm đối với hành nghề y tư nhân.

Thực tế, nhiều hộ kinh doanh Hành nghề y tư nhân mới chỉ được giấp đăng ký kinh doanh đã đưa vào hoạt động khi chưa có giấy phép hoạt động. Họ cho rằng đã có giấy phép kinh doanh và đã thực hiện nghĩa vụ thuế cho Nhà nước có quyền hoạt động. Hệ thống phần mềm quản lý trong việc cấp giấy đăng ký kinh doanh ở các địa phương chưa đạt hiệu quả, có trường hợp cùng một cá nhân đăng ký kinh doanh cùng loại hình Hành nghề y tư nhân được đăng ký ở hai huyện khác nhau. Hành vi vi phạm này lại không quy định một chế tài nào để xử lý, chỉ giao quyền cho cơ quan chức năng chuyên môn khi kiểm tra phát hiện và có văn bản gửi đến cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện để thông báo rút giấy phép kinh doanh. Đối với tổ chức đăng ký kinh doanh theo thủ tục hành chính quy định Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Nghị định 78/2015/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp. Hiện nay, chưa có văn bản pháp luật quy định về sự phối hợp giữa cơ quan cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và cơ quan y tế trong việc quản lý ngành nghề kinh doanh có điều kiện.

  • Quy định về GPHĐ có rất nhiều bất cập:

Quy định về thời hạn của GPHĐ Điều 44 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009 là GPHĐ không có thời hạn. Quy định này không phù hợp với những thay đổi thường xuyên, liên tục về nhân lực và trang thiết bị của cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh.

Chưa có quy định cụ thể về thời gian được cấp GPHĐ trở lại đối với cơ sở bị thu hồi GPHĐ. Một số cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh khi đã bị thu hồi GPHĐ đã chuyển đổi hình thức tổ chức hành nghề, chuyển đổi chủ sở hữu nhưng thực chất vẫn hành nghề với một số nhân sự đã được cấp phép trước đó và hoạt động tại địa điểm với các cơ sở vật chất như cơ sở hành nghề đã bị thu hồi giấy phép. Điều này dẫn đến một số cơ sở không nghiêm túc trong việc chấp hành pháp luật, có hành vi gian dối và đối phó với cơ quan chức năng trong hành nghề Khám bệnh, chữa bệnh như cho thuê, mượn Chứng chỉ hành nghề, GPHN.

Thẩm quyền, thủ tục cấp cấp lại, thu hồi GPHĐ đối với cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh chưa mang tính phân cấp, phân quyền đảm bảo tính khách quan, minh bạch. Mặc dù Luật đã đề cập đến những vi phạm sẽ phải thu hồi GPHĐ nhưng lại thiếu quy định về thanh tra, giám sát hậu kiểm trong cấp phép hoạt động. Chưa có hướng dẫn cụ thể đối với trường hợp cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh đề nghị cấp lại GPHĐ do thay đổi loại hình kinh doanh từ hộ kinh doanh cá thể sang doanh nghiệp hoặc ngược lại, thay đổi tên nhưng không có tài liệu chứng minh tên cũ.

Chế tài xử lý hành vi Hành nghề y tư nhân không giấy phép chỉ dừng lại mức độ xử phạt vi phạm hành chính quy định tại điểm a, khoản 6, Điều 29, Nghị định 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y mức tiền phạt từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng và quy định chung cho tất cả các loại hình cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh. Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm đối với hành nghề y tư nhân.

Theo quy định Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009 điều kiện cấp phép hoạt động cơ sở HNYTTN phải đáp ứng về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh do Bộ Trưởng Bộ Y tế ban hành. Tuy nhiên, hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn về Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, hiện áp dụng theo Thông tư số 04/2015/TT-BYT ngày 17/3/2015 quy định về thừa nhận tiêu chuẩn quản lý chất lượng cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh, thừa nhận một số tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn nước ngoài về quản lý chất lượng cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh để áp dụng tại Việt Nam. Thực tế, có nhiều cơ sở chưa đảm bảo điều kiện Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và tiêu chuẩn nước ngoài khi thẩm định cấp GPHĐ cơ quan chức năng căn cứ vào các điều kiện cụ thể cơ sở vật chất và trang thiết bị phù hợp với từng hình thức tổ chức của cơ sở Hành nghề y tư nhân. Do đó, khi cơ quan chức năng tiến hành thanh tra, kiểm tra không thể xác định được điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết như thế nào là bảo đảm hoạt động. Chế tài xử lý vi phạm chỉ dừng lại mức độ xử lý vi phạm hành chính quy định tại Điều 29, Nghị định 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế quy định điều khoản xử phạt hành vi không bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất hoặc trang thiết bị y tế trong quá trình hoạt động. Thực tế, người có thẩm quyền xử phạt khó có thể áp dụng chế tài xử phạt này vì xác định hành vi vi phạm theo chủ quan của người đề nghị xử lý, không có cơ sở tiêu chuẩn nào để xác định có vi phạm hay không có vi phạm.

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tấn Hùng cho thấy: hầu hết các cơ sở Hành nghề y tư nhân có đủ trang thiết bị, dụng cụ y tế tối thiểu phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn cho phép. Các trang thiết bị y tế của các cơ sở Hành nghề y tư nhân có nguồn gốc rõ ràng: nước sản xuất, hãng sản xuất, năm sản xuất, ký hiệu máy. Trang thiết bị dụng cụ y tế đáp ứng nhiệm vụ cấp cứu, khám điều trị các bệnh thông thường về nội, ngoại, sản phụ khoa – Kế hoạch hóa gia đình, mắt, tai mũi họng, răng hàm mặt… Một số cơ sở đã mạnh dạn đầu tư trang thiết bị hiện đại trong chẩn đoán và điều trị như máy chụp cắt lớp điện toán (CT Scanner), máy chụp cộng hưởng từ (MRI), máy chẩn đoán phóng xạ, máy siêu âm Doppler màu, máy siêu âm 4 chiều, nội soi chẩn đoán, nội soi phẫu thuật, máy tán sỏi ngoài cơ thể, máy chạy thận nhân tạo… và ứng dụng các kỹ thuật cao như mổ Phaco, Laser excimer…. Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm đối với hành nghề y tư nhân.

Theo Báo cáo đanh giá 6 năm thi hành Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009 của Bộ Y tế, hiện còn một nội dung trong Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009 và Nghị định 87/2011/NĐ giao Bộ Y tế ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh chưa thực hiện được. Nguyên nhân là do nếu ban hành quy chuẩn kỹ thuật thì rất nhiều cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh khó có thể đáp ứng được. Thay vì ban hành quy chuẩn, Bộ Y tế đã trình Chính phủ ban hành Nghị định 109/2016/NĐ-CP trong đó quy định điều kiện hoạt động của cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh theo từng hình thức tổ chức hành nghề. Tuy nhiên, chủ yếu là các điều kiện chung mà chưa thể quy định cụ thể, chi tiết về điều kiện cơ sở vật chất và trang thiết bị.

Quy định về điều kiện người tham gia hành nghề thực tế có rất nhiều bất cập: quy định việc xác định thời gian thực hành để cấp Chứng chỉ hành nghề gây khó khăn cho các bác sĩ mới ra trường không xin được việc trong bệnh viện nhà nước, họ phải làm ở phòng khám tư nhân, mà phòng khám tư nhân không có quyền được xác nhận bác sỹ thực hành.

Các quy định về người xin cấp Chứng chỉ hành nghề hiện nay thì chưa bao quát hết các chức danh chuyên môn tham gia trong quy trình Khám bệnh, chữa bệnh. Hiện nay một số chức danh đã làm trong cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh nhưng chưa được cấp phép là cử nhân tâm lý, cử nhân tâm lý lâm sàng, cử nhân xạ trị, thư ký y khoa, cử nhân dinh dưỡng, kỹ sư sinh học, kỹ sư hóa học, thợ trồng răng. Người hành nghề thuộc Bộ Quốc phòng chưa được cấp Chứng chỉ hành nghề, dẫn đến tình trạng hành nghề Khám bệnh, chữa bệnh ngoài giờ không phép, gây khó khăn cho công tác quản lý.

Các đối tượng đã được cấp Chứng chỉ hành nghề và giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động khám chữa bệnh theo pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân mà cụ thể được quy định trong thông tư 07/2007/TT-BYT, nhưng lại không được quy định trong Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009 như dược sỹ, cử nhân sinh học, hóa học, thợ trồng răng (nha công) nhưng tại điểm a Khoản 3 Điều 30 Thông tư 41/2011/TT-BYT quy định: Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng xét nghiệm phải là bác sỹ hoặc cử nhân sinh học hoặc cử nhân hóa học hoặc dược sỹ đại học có Chứng chỉ hành nghề. Điều này gây khó khăn nhiều cho người hành nghề. Lương y là một trong những đối tượng được Luật quy đinh hành nghề phải có chứng chỉ. Tuy nhiên, điều kiện công nhận lương y cũng còn chưa rõ ràng, chưa có thông tư nào hướng dẫn. Trong thời gian qua, nhiều lương y đã hành nghề không có Chứng chỉ hành nghề và không có GPHĐ. Nghị định 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế quy định khung tiền phạt 02 hành vi vi phạm này cao, lương y không đủ điều kiện để thi hành quyết định xử phạt. Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm đối với hành nghề y tư nhân.

Điều kiện cấp Chứng chỉ hành nghề của Việt Nam cũng khác so với quốc tế là Việt Nam cấp phép hoàn toàn dựa trên hồ sơ, chưa đảm bảo được tính khách quan và đảm bảo được chất lượng đầu vào của nguồn nhân lực khám chữa bệnh các văn bằng chứng chỉ chứ không dựa trên việc đánh giá năng lực thông qua kỳ thi quốc gia để cấp phép như nhiều nước đang thực hiện. Quy định thu hồi Chứng chỉ hành nghề nếu không cập nhật kiến thức y khoa liên tục trong 02 năm là không khả thi. Theo Thông tư 19/2015/TT-BGDĐT về quy chế quản lý văn bằng chứng chỉ cũng như Thông tư 22/2013/TT-BYT hướng dẫn đào tạo liên tục trong lĩnh vực y tế chỉ quy định các chương trình đào tạo liên tục không quy định về thời gian cần thiết cho các loại hình đào tạo, tập huấn để được cấp chứng chỉ. Chưa có quy định về thu hồi, đình chỉ vĩnh viễn (không cấp lại Chứng chỉ hành nghề, GPHĐ) đối với người hành nghề hoặc cơ sở có vi phạm, tái phạm nhiều lần trong quá trình hoạt động.

Về thời hạn Chứng chỉ hành nghề, chỉ trừ Trung Quốc còn hầu hết các nước đã cấp phép thì thường cấp phép có thời hạn. Các nước GPHN thường có thời hạn là 1 năm, 2 năm hoặc 3 năm. Việc không quy định thời hạn dẫn đến việc khó giám sát được người hành nghề có còn đủ điều kiện hành nghề sau khi đã được cấp Chứng chỉ hành nghề. Theo Đinh Thị Thanh Thủy, việc xét cấp Chứng chỉ hành nghề chỉ căn cứ vào hồ sơ mà không tổ chức kiểm tra lý thuyết và thực hành, chưa căn cứ trên trình độ thực hành và sát hạch tay nghề, không gắn với đào tạo liên tục ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực chuyên môn về y tế và gây khó khăn cho việc đánh giá năng lực khi cấp mới hoặc cấp lại, thu hồi chứng chỉ hành nghề hoặc GPHĐ… nên thực chất việc cấp Chứng chỉ hành nghề chỉ mang tính hình thức.

Đối người nước ngoài khi tiến hành Khám bệnh, chữa bệnh tại Việt Nam cũng chỉ xem xét các tiêu dựa trên hồ sơ. Rõ ràng, với đặc thù riêng có của dịch vụ Khám bệnh, chữa bệnh liên quan trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của con người, việc nhiều bác sĩ, y tá thường khám và điều trị theo những thói quen, theo kinh nghiệm và những kiến thức cũ, không cập những kiến thức y khoa mới trong khi các mặt bệnh, diễn biến bệnh tật hiện nay đã trở nên rất phức tạp, làm người bệnh phải kéo dài thời gian điều trị, gây tốn kém về tiền bạc và thời gian, hoặc nguy hiểm về tính mạng cho người bệnh.

Vi phạm điều về vệ sinh và quản lý chất thải y tế: cơ sở để được cấp phép hoạt động khi đáp ứng các điều kiện vệ sinh theo quy định như đề án bảo vệ môi trường hoặc báo cáo bảo vệ môi trường … được cơ quan chức năng phê duyệt. Thực tế, các cơ sở Hành nghề y tư nhân để đủ điều kiện cấp phép hoạt động xây dựng đề án hoặc báo cáo bảo vệ môi trường gửi đến cơ quan chức năng phê duyệt với những nội dung không phù hợp với thực tế của cơ sở hoặc khi cơ sở được cấp phép thì không hề quan tâm đến nội dung đã đề ra để thực hiện. Việc quản lý chất thải y tế tại các cơ sở y tế tư nhân thực hiện theo Thông tư số 58/2015/TT-BYT-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2015. Thực tế, các cơ sở Hành nghề y tư nhân vi phạm việc xử lý rác thải y tế nguy hại vì không hợp đồng được các cơ sở có pháp nhân để xử lý, các cơ sở hợp đồng cơ y tế công lập đóng trên địa bàn để gửi xử lý. Chế tài xử lý chỉ dừng lại xử phạt vi phạm hành chính và thực tế hành vi vi phạm này của các cơ sở HNYTTN rất hiếm khi bị cơ quan chức năng xử phạt. Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm đối với hành nghề y tư nhân.

Chế tài xử lý vi phạm trong Hành nghề y tư nhân được áp dụng đối với nhóm đối tượng vi phạm quy định về điều kiện Hành nghề y tư nhân chỉ dừng lại hình thức xử phạt vi phạm hành chính và chỉ khi nào có thiệt hại về tính mạng hoặc thiệt hại nghiêm trọng về sức khỏe sẽ áp dụng chế tài hình sự. Đó cũng là lý do các cơ sở Hành nghề y tư nhân chấp hành không nghiêm các quy định pháp luật trong Hành nghề y tư nhân chấp nhận thi hành quyết định xử phạt và sau đó tái phạm. Theo quy định khoản 1, Điều 242 Bộ luật Hình sự năm 1999 “Người nào vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế, cấp phát thuốc, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 201 của Bộ luật này, gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ của người khác hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm”. Thực tế không thể xử lý hình sự trường hợp vi phạm quy định về Khám bệnh, chữa bệnh đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm.

  • Thứ hai, vi phạm về chuyên môn, kỹ thuật trong hoạt động Hành nghề y tư nhân.

Một trong các yêu cầu đặt ra đối với người hành nghề cũng như cơ sở Hành nghề y tư nhân khi tham gia Khám bệnh, chữa bệnh phải đáp ứng các yêu cầu như: được cấp Chứng chỉ hành nghề và GPHĐ. Để được cấp phép hoạt động, mỗi loại hình cơ sở Hành nghề y tư nhân còn phải đáp ứng các điều kiện cụ thể về quy mô, cơ sở vật chất, nhân lực cũng như phạm vi hoạt động chuyên môn theo luật định. Phạm vi hoạt động chuyên môn của các cơ sở Hành nghề y tư nhân cũng khác nhau, phụ thuộc vào quy mô, cơ sở vật chất, thiết bị y tế, cơ cấu tổ chức, nhân sự các kỹ thuật chuyên môn được Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở y tế phê duyệt.

Việc xác định phạm vi hoạt động của cơ sở Hành nghề y tư nhân phụ thuộc vào quy mô đầu tư, hình thức sở hữu và phạm vi hoạt động chuyên môn của cơ sở đó. Đối với mỗi loại hình cơ sở Hành nghề y tư nhân, phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở y tế đó được phép hoạt động được xác định theo phân hạng cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh và phân tuyến chuyên môn kỹ thuật. Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009 không đề cập đến nhóm đối tượng Hành nghề y tư nhân. Trước đây chưa có quy định phận hạng các cơ Hành nghề y tư nhân, việc xác định nguyên tắc và tiêu chuẩn xếp hạng của cơ sở Hành nghề y tư nhân dựa vào tiêu chuẩn tương tự theo Thông tư số 23/2005/TT-BYT ngày 25 tháng 8 năm 2005 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn tiêu chuẩn xếp hạng các đơn vị sự nghiệp y tế. Hiện tại dựa vào tiêu chí phân tuyến chuyên môn kỹ thuật và xếp hạng tương đương đối với các cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh tư nhân. Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm đối với hành nghề y tư nhân.

Quy định tại khoản 5, Điều 3 và Điều 6 Thông tư Số 43/2013/TT-BYT ngày 11 tháng 12 năm 2013 quy định chi tiết phân tuyến chuyên môn kỹ thuật đối với hệ thống cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh, phân tuyến chuyên môn kỹ thuật đối với cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh tư nhân căn cứ năng lực thực hiện kỹ thuật, phạm vi hoạt động chuyên môn, hình thức tổ chức, quy mô hoạt động, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực của cơ sở Hành nghề y tư nhân. Thẩm quyền phê duyệt Bộ trưởng Bộ Y tế: phê duyệt lần đầu và phê duyệt bổ sung Danh mục kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế, cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh của các Bộ, ngành khác và cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh tư nhân do Bộ Y tế cấp giấy phép hoạt động và Danh mục kỹ thuật thuộc thẩm quyền phê duyệt của Giám đốc Sở Y tế nhưng Sở Y tế chưa đủ khả năng thẩm định về chuyên môn thì đề nghị Bộ Y tế thẩm định, phê duyệt; Giám đốc Sở Y tế: phê duyệt Danh mục kỹ thuật lần đầu và Danh mục kỹ thuật bổ sung của cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh thuộc Sở Y tế, cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh của Bộ, ngành khác trên địa bàn và cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh tư nhân Sở Y tế cấp GPHĐ. Thực tế, nhiều cơ sở Hành nghề y tư nhân được phê duyệt danh mục kỹ thuật không tương xứng với điều năng lực thực hiện kỹ thuật, phạm vi hoạt động chuyên môn, hình thức tổ chức, quy mô hoạt động, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực của cơ sở Hành nghề y tư nhân và xếp hạng tương đương. Cơ quan chức năng có thẩm quyền xử lý khi tiến hành thanh tra, kiểm tra phát hiện vi phạm vẫn không xử lý được vì Danh mục kỹ thuật đã được phê duyệt theo đúng thẩm quyền. Lý giải vấn đề này, người có thẩm quyền phê duyệt danh mục kỹ thuật cho rằng việc áp dụng tiêu chuẩn xếp hạng tương tự khó có thể đánh giá chính xác.

Hiện nay, Bộ Y tế đã có Quyết định số 6062/QĐ-BYT ngày 29 tháng 12 năm 2017 về việc ban hành Tiêu chí phân tuyến chuyên môn kỹ thuật và xếp hạng tương đương đối với các cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh tư nhân nhưng chỉ áp dụng cho các cơ sở Y tế tư nhân mới được thẩm định cấp phép. Kết luận Thanh tra Bộ Y tế cho thấy tại Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh việc thẩm định còn mang tính hình thức, không đảm bảo chất lượng, như biên bản thẩm định chưa thể hiện hết các chi tiết cần thẩm định; người có tên trong biên bản thẩm định nhưng không có mặt, kể cả trưởng đoàn; thời gian thẩm định quá ngắn, có cơ sở chỉ thẩm định… 5 phút. Thậm chí, cùng một thời điểm đoàn thẩm định tại… ba cơ sở khác nhau. Ngoài ra, Sở Y tế còn cấp GPHĐ cho một số cơ sở mà không kiểm tra thực tế việc khắc phục những điểm chưa đúng, chưa đạt yêu cầu của cơ sở trong lần thẩm định trước, chỉ cấp theo báo cáo khắc phục của cơ sở hoặc Phòng Y tế. Không những thế, sở còn phê duyệt danh mục kỹ thuật chuyên môn cho một số cơ sở không đúng với phạm vi hoạt động chuyên môn đã được ban hành kèm theo GPHĐ….

Đối với những quy chế chuyên môn đã được Bộ Y tế ban hành không đầy đủ hoặc được ban hành trước khi có Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009 có hiệu lực. Các văn bản này đa số được ban hành từ năm 2009 trở về trước, trong đó có nhiều văn bản ban hành trước năm 2004. Đặc biệt, Quyết định số 1895/1997/QĐ-BYT quy định quy chế bệnh viện được ban hành từ năm 1997 đến nay đã là 20 năm và đây lại là một văn bản rất quan trọng của lĩnh vực Khám bệnh, chữa bệnh. Mặc khác, theo quy định của Luật ban hành văn bản hiện nay, hình thức Quyết định quy phạm pháp luật của Bộ trưởng không còn phù hợp. Các quy chế này lại áp dụng chung cho cả y tế công lập, y tế tư nhân. Chính vì thế, trong quá trình thanh tra, kiểm tra của cơ quan chức năng không thể làm căn cứ để xác định có vi phạm hay không vi phạm để xử lý.

Chế tài xử lý vi phạm pháp luật trong Hành nghề y tư nhân được áp dụng đối với nhóm đối tượng vi phạm quy định về chuyên môn, kỹ thuật trong hoạt động Hành nghề y tư nhân, tùy tính chất và mức độ vi phạm có thể áp dụng biện pháp xử phạt hành chính, biện pháp dân sự và biện pháp hình sự. Theo quy định tại khoản 1, Điều 243 Bộ luật Hình sự 1999 ‟ Người nào thực hiện việc phá thai trái phép cho người khác gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ của người đó hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ một năm đến năm năm”. Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm đối với hành nghề y tư nhân.

Vụ phá thai tại Phòng khám tư y sĩ Hồ Thị Thu Vân, trú tại xã Trà Đảnh, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, ngày 19/6/2013 đã pháp thai trai phép cho cô gái 20 tuổi vẫn đến tử vong do thủng dạ con, thủng ruột và đại tràng, gây nhiễm trùng, hoại tử. Y sĩ Hồ Thị Thu Vân bị Tòa án phúc thẩm tuyên phạt 12 tháng tù giam với tội phá thai trai phép và phải bồi thường thiệt hại 70 triệu đồng. Tuy nhiên, nhiều vụ tai biến khác do các cơ sở Hành nghề y tư nhân phá thai đã xảy ra chỉ xử phạt vi phạm hành chính. Vụ việc bệnh nhân M. T. M., 48 tuổi, ngụ tại Bình Dương, mang thai khoảng 16 – 17 tuần. Ngày 10/4/2015, bà M tìm đến 1 phòng khám đa khoa Quốc tế, số 221 Nguyễn Thị Minh Khai, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh để phá thai. Bà được bác sĩ nói tiếng Trung Quốc khám thông qua 1 nữ phiên dịch, cho bà uống 10 viên thuốc phá thai và sử dụng cả dụng cụ hút thai nhưng không được. Bà M bị rách tử cung và rách cả ruột non do thai nhi không ra ngoài mà chui vào tử cung và ổ bụng. Thấy tình trạng nguy kịch, phòng khám chủ động gọi taxi đưa bệnh nhân đi Bệnh viện Từ Dũ cấp cứu. Sau khi thăm khám, các bác sĩ của Bệnh viện Từ Dũ ghi nhận ổ bụng bà M. có nhiều máu, thai nhi đã bị cắt ngang, tử cung mặt sau bệnh nhân bị thủng. Để cứu sống bệnh nhân, bác sĩ đành cắt bỏ tử cung và một phần ruột, làm hậu môn tạm cho bà M.

Thanh tra Sở Y tế TP.HCM cũng cho biết, đơn vị này vừa tiến hành thanh tra Phòng khám Đa khoa Quốc tế về vụ việc tai biến xảy ra tại đây. Trong giấy phép hoạt động, phòng khám Quốc tế chỉ được cho phép thực hiện khám thai, khám phụ khoa; tuy nhiên phòng khám đã cố tình thực hiện nạo, phá thai. Ngoài ra, phòng khám này còn lén lút thực hiện xét nghiệm HIV dù không có trong giấy phép hoạt động. Với những hành vi hoạt động vượt quá phạm vi cho phép, Thanh tra Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành xử phạt Phòng khám Đa khoa quốc tế này 120 triệu đồng. Trường hợp này Phòng khám Đa khoa Quốc tế phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho Bà M. Thực tế, có rất nhiều cơ sở Y tế tư nhân trong quá trình hành nghề không tuân thủ các quy định về chuyên môn, kỹ thuật dẫn đến có sai sót gây tổn hại sức khỏe, tính mạng con người. Thông thường các cơ sở Hành nghề y tư nhân vì uy tín nên khi sự cố xãy ra đã chủ động thương lượng đền bù. Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm đối với hành nghề y tư nhân.

Thứ ba, vi phạm các quy định khác về Hành nghề y tư nhân như: quảng cáo không đúng chức năng và lĩnh vực Khám bệnh, chữa bệnh; thu giá Khám bệnh, chữa bệnh quá cao; lạm dụng chỉ định thêm các cận lâm sàng không cần thiết; kê thuốc đắc tiền; chuyển bệnh nhân từ cơ sở của mình sang cơ sở khác để hưởng hoa hồng, ghi chép sổ theo dõi Khám bệnh, chữa bệnh.

Điều kiện xác nhận và thẩm quyền xác nhận nội dung quảng cáo dịch vụ Khám bệnh, chữa bệnh được quy định tại Điều 11, Điều 12 Thông tư số 09/2015/TT-BYT ngày 25 tháng 5 năm 2015 của Bộ Y tế quy định xác nhận nội dung quảng cáo đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đặc biệt thuộc quản lý của Bộ Y tế, thẩm quyền gồm: Cục Quản lý khám, chữa bệnh; Cục Quản lý y, dược cổ truyền; Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, việc xác nhận nội dung quảng cáo phải tuân thủ theo quy định Luật Quảng cáo năm 2012 và Nghị định số 181/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định một số điều của Luật Quảng cáo. Thực tế, nhiều cơ sở Hành nghề y tư nhân vi phạm nhiều về nội dung này nhưng chưa được xử lý đến nơi đến chốn. Nghị định 158/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo và Nghị định số 28/2017/NĐ-CP ngày 20 tháng 3 năm 2017 của chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 131/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan và Nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo, thẩm quyền xử phạt gồm: Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp; Thanh tra viên chuyên ngành y tế, văn hóa thể thao và du lịch; Chánh thanh tra Sở Y tế và Chánh thanh tra Sở Văn hóa thể thao và du lịch; Chánh thanh tra Bộ Y tế và Chánh thanh tra Bộ Văn hóa thể thao và du lịch. Thế nhưng, về phía ngành văn hóa thể thao và du lịch cho rằng lĩnh vực quảng cáo dịch vụ Khám bệnh, chữa bệnh thuộc quản lý của ngành y tế nên không chú trọng công tác thanh tra và kiểm tra. Mặt khác, quy định Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 17 tháng 5 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc chấn chỉnh hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp, mỗi doanh nghiệp chỉ được thanh tra hoặc kiểm tra 01 lần đó cũng là lý do ngành văn hóa thể thao và du lịch ít tiến hành thanh tra, kiểm tra lĩnh vực quảng cáo tại các tổ chức Khám bệnh, chữa bệnh tư nhân. Đối với ngành y tế cho rằng việc quảng cáo thuộc về chuyên môn của ngành văn hóa thể thao và du lịch nên ngại trong kiểm tra và xác định vi phạm để xử lý theo thẩm quyền.

Vấn đề giá dịch vụ Khám bệnh, chữa bệnh cơ sở Hành nghề y tư nhân: tác giả Lê Vũ Anh nhận định: từ thực tiễn thực hiện quy định về giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trong thời gian qua cho thấy, việc quản lý giá Khám bệnh, chữa bệnh trong các cơ sở Y tế tư nhân vẫn nằm ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước. Quy định tại khoản 5, Điều 88 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009, các cơ sở Hành nghề y tư nhân được quyền quyết định giá dịch vụ và phải niêm yết công khai. Như vậy các cơ sở Hành nghề y tư nhân tự quyết định khung giá Khám bệnh, chữa bệnh, cơ chế xây dựng giá rất linh hoạt, thường các cơ sở Hành nghề y tư nhân dựa theo giá dịch vụ của các cơ sở y tế công lập để áp giá mức thấp hơn hoặc cao hơn tùy cơ sở và mức đầu tư mà cơ sở đó cho là phù hợp. Theo Đinh Thị Thanh Thủy “Việc áp giá không theo một quy chuẩn nào, thậm chí vô lý và người bệnh không biết giá trị thực của dịch vụ y tế mà họ phải chi trả khi sử dụng. Một thực tế hiện nay, đó là một số các cơ sở Y tế tư nhân tự định giá dịch vụ Khám bệnh, chữa bệnh khá cao nhưng không tương ứng với chất lượng dịch vụ y tế cung ứng”. Vấn đề xứ lý vi phạm chỉ có thể xử lý được hành vi thu giá dịch vụ cao hơn giá niêm yết. Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm đối với hành nghề y tư nhân.

Vấn đề lạm dụng chỉ định thêm các cận lâm sàng không cần thiết, thực tế diễn ra phức tạp và cũng không có quy chuẩn nào để xác định có vi phạm hay không vi phạm để xử lý. Đối với quy định về kê đơn thuốc đắc tiền nếu đảm bảo đúng quy chế kê đơn thuốc thì cũng không thể xử lý được. Trường chuyển bệnh nhân từ cơ sở của mình sang cơ sở khác để hưởng hoa hồng, nếu cơ sở thực hiện đúng quy chế chuyển trong chuyển bệnh thì cũng không thể xử lý được.

Vấn đề ghi chép sổ theo dõi Khám bệnh, chữa bệnh, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tấn Hùng cho thấy hình thức sai phạm về sổ theo dõi Khám bệnh, chữa bệnh thì xuất hiện phổ biến ở hầu hết các cơ sở từ những lỗi vi phạm nhỏ như: sổ không đầy đủ cột mục, có đầy đủ cột mục thì không ghi chép đầy đủ thông tin bệnh nhân, chẩn đoán điều trị còn ghi tắt và đặc biệt các cơ sở thường không ghi phần điều trị. Việc thực hiện các công tác về sổ sách, lưu trữ, bệnh án đối với các đơn vị thường bị cho là chiếm nhiều thời gian nhưng thực sự đây là công cụ pháp lý nếu có tai biến hoặc các sai sót chuyên môn xảy ra sẽ làm chứng cứ quan trọng. Mức xử phạt quy định tại Điều 30, Nghị định 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế quy định khung tiền phạt từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng với hành vi không lập hồ sơ, bệnh án, không ghi chép và không lưu giữ hồ sơ bệnh án, quá thấp không đủ tính chất răn đe. Mặt khác khi có hành vi vi phạm trong Khám bệnh, chữa bệnh phải chịu trách nhiệm pháp lý về hình sự hoặc chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, Hội đồng chuyên môn không có cơ sở để kết luận làm cơ sở cho Tòa án phán quyết.

Theo Trưởng Phòng Thanh tra khám chữa bệnh thuộc Thanh tra Bộ Y tế nhận xét tình hình vi phạm tại các cơ sở Hành nghề y tư nhân như sau: hầu hết các cơ sở được thanh tra vẫn còn bác sỹ, điều dưỡng, kỹ thuật viên chưa có Chứng chỉ hành nghề. Các cơ sở đều giải trình đang tiến hành các thủ tục xin cấp chứng chỉ hành nghề cho những người còn lại. Một số cơ sở vẫn chưa được Sở Y tế phê duyệt Danh mục kỹ thuật chuyên môn được thực hiện tại cơ sở. Một số cơ sở có Biển hiệu ghi chưa đúng với giấy phép hoạt động do Bộ Y tế, Sở Y tế cấp như: không có số GPHĐ, không đúng tên cơ sở đã được ghi trong giấy phép, không có tên người phụ trách chuyên môn. Một số cơ sở có Bảng giá dịch vụ nhưng không thực hiện niêm yết công khai hoặc niêm yết không đầy đủ. Hầu hết các cơ sở không có sổ theo dõi thống kê số lượng bệnh nhân hàng ngày mà theo dõi trên phần mềm vi tính riêng, hoặc nếu có thì việc ghi chép cũng không đầy đủ cột mục như: không có địa chỉ, chẩn đoán, điều trị. Một số cơ sở có diện tích phòng cấp cứu, Phòng khám chuyên khoa hoặc phòng tiểu phẫu không đảm bảo diện tích theo quy định. Phòng cấp cứu không đủ trang thiết bị dùng cho cấp cứu theo quy định: không có hộp chống shock hoặc có nhưng không đầy đủ; không có cáng, nẹp; tủ thuốc cấp cứu không có Danh mục thuốc. Việc thực hiện quy chế về hồ sơ bệnh án, kê đơn thuốc tại các bệnh viện tư nhân: Bệnh án làm theo mẫu của Bộ Y tế nhưng ghi chép trong bệnh án còn sơ sài, chưa đầy đủ cột mục, một số bệnh viện có bác sĩ kê đơn thuốc không đánh số thuốc kháng sinh, gây nghiện, hướng tâm thần theo quy định. Mẫu biên bản hội chẩn trước mổ không theo quy định. Một số bệnh viện Sổ ghi biên bản hội chẩn không theo mẫu của Bộ Y tế, việc ghi chép còn sơ sài không đầy đủ: không có tên bác sĩ tham gia hội chẩn, không có hoặc không đầy đủ chữ ký của các bác sĩ tham gia hội chẩn. Một số Phiếu xét nghiệm Sinh hoá, huyết học không có chữ ký của Trưởng Khoa Xét nghiện mà là do kỹ thuật viên ký. Một số nhân viên không đeo biển tên, nhân viên khoa X quang không đeo liều kế khi đang làm việc.

Theo số liệu báo cáo của các Sở Y tế tỉnh, thành phố trong năm 2017 đã triển khai thanh tra, kiểm tra Hành nghề y tư nhân với tổng số cơ số 9.332 cơ sở được thanh tra, kiểm tra, trong đó có 2.580 cơ sở bị vi phạm, đã xử lý vi phạm hành chính 2.580 cơ sở, với hình thức cảnh cáo 52 cơ sở, đình chỉ hành nghề không phép 28 phòng khám đa khoa, 16 phòng khám chuyên khoa, 03 bác sĩ Trung Quốc, tước quyền sử dụng GPHĐ có thời hạn 4,5 tháng 03 cơ sở, đình chỉ hoạt động có thời hạn 51 cơ sở, xử phạt vi phạm hành chính 549 cơ sở với số tiền phạt 14.728.550.000 đồng. Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm đối với hành nghề y tư nhân.

Thực tế, cho thấy các cơ sở HNYTTN trong thời gia có rất nhiều sai phạm và có nhiều trường hợp sai sót về chuyên môn, kỹ thuật dẫn đến thiệt hại về tính mạng và sức khỏe bệnh nhân nhưng chế tài xử lý vi phạm pháp luật trong Hành nghề y tư nhân chỉ dừng lại mức độ xử phạt hành chính. Một số cơ sở HNYTTN hành nghề sai về quy chế chuyên môn, kỹ thuật vẫn đến chết người. Đó là, Phòng khám đa khoa Maria vào ngày 14/7/2012 trong quá trình phẩu thuật điều trị viêm cổ tử cung cho bệnh nhân Nguyễn Thị Thu Phong, 35 tuổi, thường trú tại Phường La Kê, Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội. Phòng khám Maria do người Việt Nam đứng tên giấy phép, có bác sĩ Trung Quốc hành nghề. Trước đó Phòng khám đã nhiều lần vi phạm trong quá trình hành nghề đã vi bị xử phạt hành chính nhiều lần và tiếp tục vi phạm. Vụ án Thẩm mỹ Cát Tường gây chấn động dư luận xảy ra ngày 19/10/2013, nạn nhân là chị Lê Thị Thanh Huyền đến thẩm mỹ Cát Tường để giải phẩu thẩm mỹ và đã bị tử vong. Bác sĩ phẩu thuật Nguyễn Mạnh Tường đã cùng bảo vệ đã chở xác chị Huyền xuống sông phi tang. Nguyên nhân tử vong của chị Huyền do bác sĩ phẩu thuật không tuân thủ quy tình phẩu thuật. Theo quy định pháp luật chức năng giải phẩu thẩm mỹ này thuộc về bệnh viện và trung tâm phẩu thuật thẩm mỹ thuộc danh mục kỹ thuật được cấp phép. Tuy nhiên, cơ sở thẩm mỹ Cát Tường đã tồn tại và hoạt động trong 06 tháng liền mà không giấy phép.

Trong những năm gần đây các cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh tư nhân có sự phát triển mạnh về số lượng và chất lượng với nhiều dịch vụ đa dạng, phong phú. Tuy nhiên, hệ thống y tế tư nhân còn bộc lộ một số tồn tại và hạn chế. Đó là tình trạng coi trọng lợi nhuận, vi phạm pháp luật trong Khám bệnh, chữa bệnh gây ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người dân và khó khăn cho công tác quản lý. Công tác quản lý nhà nước trong Hành nghề y tư nhân còn nhiều khó khăn, bất cập. Hoạt động thẩm định, cấp phép chưa công khai, minh bạch và thiếu công bằng. Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009 là văn bản pháp lý cao nhất để thực hiện việc cấp Chứng chỉ hành nghề, cấp GPHĐ đối với các cơ sở Hành nghề y tư nhân.

Chính phủ thống nhất quản lý chung, Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước chính phủ thực hiện quản lý việc cấp, cấp lại thu hồi Chứng chỉ hành nghề và GPHĐ; xây dựng dữ liệu quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về cá nhân, tổ chức hành nghề; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về hành nghề Khám bệnh, chữa bệnh.

Quản lý nhà nước về hành nghề y tế tư nhân còn được phân cấp cơ quan chuyên môn từ trung ương đến địa phương. Cục Quản lý khám bệnh, chữa bệnh tham mưu Bộ Y tế Bộ Y tế thực hiện chức năng quản lý nhà nước về Hành nghề y tư nhân. Thanh tra Bộ Y tế thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra việc thực hiện quy định pháp luật và các quy định về chuyên môn, kỹ thuật của các cơ sở Hành nghề y tư nhân. Các Sở Y tế tỉnh, thành phố có bộ phận chuyên môn thuộc phòng Nghiệp vụ y hoặc Phòng quản lý hành nghề y, dược tư nhân giúp việc cho Giám đốc Sở Y tế quản lý hoạt động Hành nghề y tư nhân trên địa bàn.

Trưởng phòng Thanh tra khám bệnh, chữa bệnh thuộc Thanh tra Bộ Y tế nhận xét về công tác quản lý hệ thống y tế tư nhân của một số Sở Y tế như sau: Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm đối với hành nghề y tư nhân.

Biên bản thẩm định theo mẫu thống nhất của Sở, nhưng ghi chép chưa thể hiện hết các chi tiết về phạm vi chuyên môn, dụng cụ, trang thiết bị y tế, nhân lực, danh mục thuốc, xử lý chất thải, rác thải y tế…

Một số Giấy khám sức khoẻ lưu trong các hồ sơ đều không làm theo mẫu quy định tại Thông tư số 13/TT-BYT của Bộ Y tế. Một số hồ sơ cấp GPHĐ thiếu Hợp đồng lao động. Một số trường hợp, trong biên bản thẩm định yêu cầu cơ sở khắc phục những điểm chưa đạt hoặc chưa đúng, Sở Y tế không tổ chức thẩm định lại một cách chặt chẽ trước khi cấp GPHĐ mà chỉ có báo cáo khắc phục của cơ sở hoặc Phòng Y tế.

Một số hồ sơ xin cấp GPHĐ không có giấy xác nhận thời gian hành nghề của bác sỹ phụ trách chuyên môn, kỹ thuật tại cơ sở. Hồ sơ lưu chưa đầy đủ (không lưu Hợp đồng lao động, Giấy xác nhận thời gian hành nghề) nên không thuận lợi cho việc kiểm tra.

Công tác hậu kiểm của các Sở Y tế chưa thực hiện thường xuyên, liên tục nên chưa kịp thời phát hiện những cơ sở hành nghề GPHĐ đã quá hạn hoặc cơ sở đã tạm ngừng hoạt động.

Thanh tra Sở Y tế thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra việc thực hiện quy định pháp luật và các quy định về chuyên môn, kỹ thuật của các cơ sở Hành nghề y tư nhân. Ngoài ra trong công tác quản lý nhà nước về Hành nghề y tư nhân, vai tham mưu, quản lý thuộc Phòng Y tế huyện, thành phố, thị xã. Việc quản lý cấp, cấp lại và thu hồi Chứng chỉ hành nghề và GPHĐ còn nhiều bất cập. Cộng tác viên thanh tra tại các Phòng Y tế quận, huyện đều là kiêm nhiệm, một số cán bộ chưa được tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra nên còn hạn chế trong tác nghiệp. Tuyến quận, huyện và xã, phường công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm chấp hành chưa nghiêm, chủ yếu là nhắc nhở, giáo dục nên không có tính răn đe. Một số quận, huyện, xã, phường có số cơ sở kiểm tra còn thấp. Việc phát hiện các sai phạm đối với các cơ sở hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của một số đoàn kiểm tra còn thấp. Người hành nghề và các cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh chưa nắm bắt các quy định mới của pháp luật về cấp Chứng chỉ hành nghề và GPHĐ nên vẫn có một số cơ sở bố trí người chưa có chứng chỉ hành nghề tham gia Khám bệnh, chữa bệnh và hoạt động không phép. Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm đối với hành nghề y tư nhân.

Nghiên cứu của Nguyễn Tấn Hùng cho thấy: Công tác quản lý Hành nghề y tư nhân ở một số địa phương chưa thật sự được coi trọng, việc xét duyệt cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề của các cơ sở Y tế tư nhân chưa làm đúng các quy định của pháp luật, coi nhẹ khâu thẩm định các tiêu chuẩn và điều kiện. Một số nơi còn cấp giấy chứng nhận sai thẩm quyền hoặc không đúng với loại hình hành nghề theo quy định của pháp luật. Việc xét cấp giấy Chứng chỉ hành nghề và giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề còn để quá thời hạn hoặc gây khó khăn phiền hà thậm chí cả tiêu cực cho đối tượng xin hành nghề. Ngoại trừ thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, Thanh Hoá, Bình Dương… Có Phòng Quản lý Hành nghề Y, Dược tư nhân, còn các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác chỉ có 1 hoặc 2 cán bộ chuyên trách, phần lớn là cán bộ kiêm nhiệm nằm trong Phòng nghiệp vụ Y nên thiếu sự chỉ đạo tập trung và thường xuyên đối với công tác Hành nghề y tư nhân.

Kết luận Thanh tra Bộ Y tế tại Sở Y tế tỉnh Lâm Đồng cho thấy việc cấp phép trong lĩnh vực Hành nghề y tư nhân rất cẩu thả: 100% các hồ sơ không được lưu trữ riêng, không có phiếu lưu tiếp nhận… Ngoài ra, biên bản thẩm định một số hồ sơ chưa thể hiện chi tiết phần trang thiết bị y tế, điều kiện vệ sinh môi trường, mà chỉ ghi chung “có bản kê khai kèm theo”. Một số hồ sơ phần nhân lực chưa thể hiện chứng chỉ hành nghề của người đề nghị làm việc tại cơ sở xin cấp GPHĐ. Kết quả kiểm tra toàn bộ hồ sơ cấp Chứng chỉ hành nghề cho người hành nghề Khám bệnh, chữa bệnh cũng tương tự. Tổ thư ký cấp, cấp lại Chứng chỉ hành nghề chưa lưu biên bản thẩm định của riêng từng hồ sơ mà lưu chung danh sách hồ sơ của từng đợt thẩm định. Phạm vi chuyên môn được ghi trên Chứng chỉ hành nghề thể hiện chưa cụ thể theo hướng dẫn của Bộ Y tế.

Tại Hà Nội, trên nhiều đường phố chung quanh các bệnh viện công lập có uy tín đã hình thành một hệ thống các cơ sở HNYTTN “ăn theo” để mượn danh, mượn uy tín và tên tuổi của bác sĩ trong bệnh viện công lập nhằm lôi kéo người bệnh tới Khám bệnh, chữa bệnh. Trong bệnh viện có bác sĩ, chuyên khoa nào có uy tín, thì nhiều phòng khám tư nhân ngoài cổng bệnh viện cũng trưng biển y như vậy. Qua khảo sát, trên đường Bùi Thị Xuân, đoạn phía sau Bệnh viện Mắt Trung ương, đã có khoảng 20 cơ sở khám, chữa bệnh và trên một đoạn đường ngắn, đối diện với cổng Bệnh viện Bạch Mai đã có không dưới 50 cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh tư nhân. Nguy hiểm hơn, nhiều phòng khám, cơ sở hoạt động không có giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, thường xuyên phát tờ rơi, quảng cáo liên tục trên phương tiện thông tin đại chúng với nội dung: Có đội ngũ giáo sư, bác sĩ giỏi, trang thiết bị hiện đại, phương pháp tiên tiến có thể chữa được nhiều bệnh phức tạp, nan y… nhằm lừa bịp người bệnh.

Tương tự, Thành phố Hồ Chí Minh hệ thống hệ thống các cơ sở HNYTTN “ăn theo” này cũng khá nhiều. Hơn nữa, các cơ sở Hành nghề y tư nhân còn dùng cả danh tiếng của bệnh viện, viết trên bảng hiệu quảng cáo cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh tư nhân là “nhóm bác sĩ của bệnh viện A, bệnh viện B…”. Trong khi đó, việc ký kết với các bệnh viện công đưa bác sĩ giỏi về các bệnh viện tư, các cơ sở Y tế tư nhân để liên kết điều trị hiện luật vẫn chưa cho phép. Hiện nay, tình trạng sở HNYTTN “ăn theo” này đã xuất hiện tại một số tỉnh với tên gọi Phòng khám Nha khoa Sài Gòn, Nhi Sài Gòn … với chiêu trò mượn danh bác sĩ các bệnh lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh, quảng cáo không đúng thực tế hoặc sử dụng người hành nghề không có Chứng chỉ hành nghề hoặc hành nghề vượt quá phạm vi cho phép. Khi phát hiện các vi phạm tại các các cơ sở Hành nghề y tư nhân, cơ quan chức năng thường gặp phải những khó khăn trong việc xử phạt, do: Cơ sở vi phạm không chấp hành hình thức xử phạt, do chế tài không nghiêm, không chặt chẽ; quy định trong Nghị định số 176/2013/NĐ-CP khung phạt có chỗ quá cao, có chỗ quá thấp; cơ sở hành nghề chưa hiểu biết đầy đủ các quy định về hành nghề; các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật chưa đủ và kịp thời. Nhiều cá nhân cố trình sử dụng giấy xác nhận không hành nghề để được cấp phép hoạt động nhiều tỉnh khác nhau nhưng hệ thống dữ liệu chưa phát hiện được. Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh đã phát hiện và báo cáo về Cục khám bệnh, chữa bệnh, Bộ Y tế và thông báo các Sở Y tế có liên quan 03 trường hợp các bác sĩ đã sử dụng giấy xác nhận không thực hành tại Thành phố Hồ Chí Minh để được cấp giấy phép hoạt động tại Bến Tre, Đồng Tháp, Long An, Lâm Đồng, Bà Rịa-Vũng Tàu, Ninh Thuân, Đắc Lắc, Vĩnh Long, An Giang. Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành xử lý vi phạm hành chính các trường hợp trên với hành vi vi phạm: cho người khác thê mượn Chứng chỉ hành nghề và chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra về việc sử dụng giấy tờ giả.

Nhiều Phòng khám tư nhân có yếu tố nước ngoài tại TP.HCM đã bị xử phạt. Ông Nguyễn Tấn Bỉnh, Giám đốc Sở Y tế TP.HCM, cho biết hiện thành phố có 197 phòng khám đa khoa tư nhân, trong đó có 21 phòng khám đa khoa liên quan đến yếu tố nước ngoài. Năm 2016, qua kiểm tra 143 phòng khám đa khoa, Thanh tra Sở Y tế TP.HCM đã phát hiện 24 cơ sở vi phạm hành chính và bốn cơ sở bị tước giấy phép hoạt động. Kiểm tra 14 phòng khám có yếu tố nước ngoài thì phát hiện 100% cơ sở vi phạm, trong đó có 01 cơ sở bị tước giấy phép hoạt động. Trong bốn tháng đầu năm 2017, Sở Y tế TP tiến hành kiểm tra 11 phòng khám đa khoa tư nhân, phạt vi phạm hành chính 10 cơ sở và đình chỉ hoạt động 01 cơ sở. Kiểm tra 07 phòng khám có yếu tố nước ngoài, phạt vi phạm hành chính 06 cơ sở và đình chỉ hoạt động 01 cơ sở.

Những sai phạm trong một số cơ sở Hành nghề y tư nhân chưa được xử lý triệt để, gây bức xúc, phẫn nộ cho người bệnh và xã hội. Thực tế cho thấy, sau mỗi một vụ sai phạm, tại các cơ sở Hành nghề y tư nhân bị dư luận lên án thì công tác thanh tra, kiểm tra từ các cấp lại được siết chặt hơn nhưng sau đó đâu lại vào đấy, có nhiều phòng khám vừa bị phạt vì vi phạm lại thay biển hiệu tiếp tục hành nghề, tiếp tục sai phạm.

2.3. BẤT CẬP, HẠN CHẾ KHI XỬ LÝ VI PHẠM TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ Y TƯ NHÂN Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm đối với hành nghề y tư nhân.

2.3.1 Bất cập trong xử phạt hành chính

Có thể thấy, các cơ sở Hành nghề y tư nhân trong thời gian qua có nhiều sai phạm do các chế tài xử phạt còn thấp, chưa đủ sức răn đe, nhiều cơ sở hành nghề y tư nhân sẵn sàng nộp phạt, sau dó tìm mọi chiêu trò vẽ thêm bệnh và dịch vụ y tế để thu hồi tổn thất từ các bệnh nhân. Quy định pháp luật hiện hành chưa có quy định đóng cửa phòng khám cho dù phòng khám đó liên tái phạm. Phòng khám chỉ được phép đóng cửa khi có giấy phép nhưng không hoạt động trong 12 tháng hoặc là giấy phép hoạt động cấp không đúng thẩm quyền. Cơ sở Hành nghề y tư nhân nếu vi phạm về hành nghề nhiều lần cũng chỉ bị xử phạt hành chính và theo quy định Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 được xem là tình tiết tăng nặng.

Nghị định 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế có rất nhiều bất cập trong thực tiễn áp dụng, cụ thể như sau:

Nghị định quy định từng lỗi vi phạm sẽ bị xử phạt các mức khác nhau và không có hình phạt bổ sung là yêu cầu đóng cửa cơ sở. Vì vậy, việc thu hồi giấy phép hoạt động không thể áp dụng trong trường hợp cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh vi phạm, tái phạm liên quan đến công tác chuyên môn. Hình phạt bổ sung chỉ là tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề, GPHĐ có thời hạn, trong khi đó không có quy định đóng cửa cơ sở. Thực tế, các cơ sở bị tước quyền quyền sử dụng CHCH, GPHĐ vẫn tiến hành hoạt động bình thường. Nếu có kiểm tra, thanh tra đột xuất thì các cơ sở này cho rằng mở cửa nhưng không có hoạt động; Nghị định chưa quy định hành vi: người chịu trách nhiệm chuyên môn vắng mặt nhưng không ủy quyển hoặc cử người thay thế. Thực tế, có rất nhiều phòng khám đa khoa, và chuyên khoa răng, hàm, mặt vi phạm nội dung này. Khi có kiểm tra, thanh tra người chịu trách nhiệm chuyên môn vắng mặt, nhân viên phòng khám cho rằng bác sĩ đi vắng giao quản lý phòng khám và hẹn bệnh nhân, không có hoạt động.

Quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 28 Nghị định 176/2013/NĐ-CP, phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi: Sử dụng rượu, bia, thuốc lá trong khi đang hành nghề Khám bệnh, chữa bệnh. Thực tế, khó áp dụng bởi có thể hiểu vừa uống rượu vừa khám bệnh hoặc vừa uống bia vừa khám bệnh; Quy định tại điểm c, khoản 3, Điều 28 Nghị định 176/2013/NĐ-CP, hành vi: Lợi dụng nghề nghiệp để quấy rối tình dục người bệnh bị coi là vi phạm hành chính và mức xử phạt vi phạm đối với hành vi này là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Tuy nhiên, hiểu thế nào là quấy rối tình dục? Những hành vi nào bị coi là hành vi quấy rối tình dục người bệnh và phải bị xử phạt thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng chưa có ban hành văn bản để hướng dẫn thống nhất áp dụng.

Quy định tại khoản 2, Điều 28 Nghị định 176/2013/NĐ-CP, người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh có thể bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi: không tôn trọng quyền của người bệnh theo quy định của pháp luật. Thực tế khó áp dụng chưa có sự hướng dẫn cụ thể từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Quy định tại khoản 4, Điều 36 Nghị định 176/2013/NĐ-CP phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi: Gây tổn hại đến sức khỏe, đe dọa tính mạng của người hành nghề trong khi đang khám bệnh, chữa bệnh. Thực tế không thể áp dụng vì chưa có sự hướng dẫn thống nhất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm đối với hành nghề y tư nhân.

Nghị định quy định mức xử một số hành vi vi phạm về Khám bệnh, chữa bệnh quá cao nhiều cá nhân vi phạm là cơ sở hành nghề nhỏ lẽ khó có khả năng thực hiện, gây khó cho công tác đảm bảo thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Hành vi khám bệnh, chữa bệnh không giấy phép hoạt động quy định tại điểm a, khoản 6, Điều 29 phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng. Thực tế nhiều trường hợp khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền hoặc những y sĩ hành nghề Khám bệnh, chữa bệnh nhỏ lẽ ở địa phương không có khả năng để đóng phạt. Mặt khác, thẩm quyền xử phạt của Chánh Thanh tra sở trong Khám bệnh, chữa bệnh 50.000.000 đồng, vi phạm về Khám bệnh, chữa bệnh không giấy phép thuộc thẩm quyền Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh. Trường hợp này phải chuyển hồ sơ về Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh để ra quyết định xử phạt. Theo quy định Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thời hạn ra quyết định xử phạt 07 ngày kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính, trường hợp này có thể không tiến hành xử phạt được vì vi phạm thời hạn ra quyết định.

Nghị định quy định biện pháp khắc phục hậu quả chưa sát với thực tế và chưa có hướng dẫn cụ thể cách thức, quy trình cũng như sự phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong thực hiện. Như biện pháp buộc hoàn trả số tiền thu chênh lệch đối với các hành vi thu giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh cao hơn giá đã niêm yết buộc phải hoàn trả cho đối tượng, nếu không hoàn trả được thì nộp vào ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, hiện nay việc phối hợp giữa các cơ quan có liên quan như Sở Y tế, Kho bạc Nhà nước,… để thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả này còn nhiều lúng túng.

Nghị định quy định về các hình thức xử phạt bổ sung như tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề, tước quyền sử dụng Giấy phép hoạt động, tước quyền sử dụng đối với một số hành vi vi phạm về Khám bệnh, chữa bệnh, dược trong thời gian khá dài. Ví dụ như hành vi bác sỹ bán thuốc cho người bệnh, trừ người hành nghề y học cổ truyền. Đây là một thực trạng hiện nay rất phổ biến, trong khi các cơ quan quản lý chưa triển khai các biện pháp đồng bộ để cải thiện tình trạng này, thì việc xử phạt với mức 20.000.000 đến 30.000.000 triệu đồng và xử phạt bổ sung tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề từ 6 đến 12 tháng thực sự khó khăn cho các lực lượng xử phạt.

2.3.2 Bất cấp trong xử lý hình sự Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm đối với hành nghề y tư nhân.

Điều 6 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009 quy định các hành vi bị cấm trong hoạt động Khám bệnh, chữa bệnh gồm: “từ chối hoặc cố ý chậm cấp cứu người bệnh;… vi phạm quyền của người bệnh; không tuân thủ các quy định chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh; … gây tổn hại đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm của người hành nghề…”. Ngoài ra, tại Điều 36, Điều 37 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009 cũng quy định rõ nghĩa vụ của người hành nghề Khám bệnh, chữa bệnh như sau: “Kịp thời sơ cứu, cấp cứu, Khám bệnh, chữa bệnh cho người bệnh, trừ trường hợp quy định tại Điều 32 của Luật này; tôn trọng các quyền của người bệnh, có thái độ ân cần, hòa nhã với người bệnh; tư vấn, cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 1 Điều 7 và khoản 1 Điều 11 của Luật này; …thực hiện đúng quy định chuyên môn kỹ thuật; chịu trách nhiệm về việc Khám bệnh, chữa bệnh của mình;… tận tâm trong quá trình Khám bệnh, chữa bệnh…”. Như vậy, việc một số người hành nghề Khám bệnh, chữa bệnh do thiếu trách nhiệm hoặc thiếu trình độ chuyên môn dẫn đến việc “vô ý” làm chết bệnh nhân có thể đã vi phạm các quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm của người hành nghề Khám bệnh, chữa bệnh.

Theo quy định tại Điều 73, Điều 74 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009 khi xảy ra tai biến đối với người bệnh, việc xác định có hay không có sai sót chuyên môn kỹ thuật của người hành nghề Khám bệnh, chữa bệnh sẽ do một Hội đồng chuyên môn kết luận. Trong trường hợp vụ việc liên quan đến tai biến trong Khám bệnh, chữa bệnh được giải quyết theo thủ tục tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng có thể đề nghị cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về y tế thành lập hội đồng chuyên môn để tiến hành giám định. Hội đồng chuyên môn xác định người hành nghề Khám bệnh, chữa bệnh “có sai sót chuyên môn kỹ thuật” khi đã thực hiện một trong các hành vi sau đây: “a) Vi phạm trách nhiệm trong chăm sóc và điều trị người bệnh; b) Vi phạm các quy định chuyên môn kỹ thuật và đạo đức nghề nghiệp; c) Xâm phạm quyền của người bệnh”. Kết luận của hội đồng chuyên môn là cơ sở để giải quyết tranh chấp hoặc để cơ quan tiến hành tố tụng xem xét, quyết định hướng xử lý, giải quyết vụ việc.

Trong trường hợp xảy ra sai sót chuyên môn kỹ thuật gây ra tai biến cho người bệnh thì người hành nghề Khám bệnh, chữa bệnh có sai sót chuyên môn kỹ thuật gây ra tai biến cho người bệnh phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 129 Bộ luật Hình sự năm 2015: “1. Người nào vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm; 2. Phạm tội làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm; 3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Như vậy, kết quả hội đồng chuyên môn là cơ sở để cơ quan tiến hành tố tụng quyết định giải quyết vụ việc. Hội đồng chuyên môn theo quy định tại Điều 74 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009 gồm: Các chuyên gia thuộc lĩnh vực chuyên môn phù hợp; Các chuyên gia thuộc các chuyên khoa khác có liên quan đến tai biến trong khám bệnh, chữa bệnh; Luật gia hoặc luật sư. Hội đồng chuyên môn hoạt động theo nguyên tắc thảo luận tập thể, quyết định theo đa số và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận của mình. Hội đồng chuyên môn đánh giá trên cơ sở các dữ liệu lâm sàng và cận lâm sàng được ghi nhận trong hồ hồ sơ bệnh án và lời trình bày của y, bác sĩ điều trị… Hồ sơ bệnh án là yếu tố quan trọng nhất nhưng đa số các cơ sở HNYTTN ghi nhận không đầy đủ, không rõ ràng và không đúng quy định. Mặt khác, nếu như quá trình cơ quan chức năng vào cuộc không kịp thời hồ sơ bệnh án có thể bị sữa đổi. Hội đồng chuyên môn do cơ quan quản lý Nhà nước Sở Y tế hoặc Bộ Y tế thành lập là cơ quan chức năng quản lý các cơ sở Hành nghề y tư nhân và thành viên Hội đồng là các chuyên gia đánh giá chính các đồng nghiệp của họ liệu có khách quan không? Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm đối với hành nghề y tư nhân.

Có lẽ, đó là lý do các vụ tai biến trong Khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở Hành nghề y tư nhân trong thời gian qua ít có vụ việc phải xử lý hình sự. Vụ chết người tại Phòng khám Maria Hà Nội chỉ dừng lại mức độ khởi tố vụ án vi phạm về “tội vi phạm về quy định khám chữa bệnh” theo điều 242 Bộ luật Hình sự năm 1999. Vụ án Cát Tường nếu như Bác sĩ Nguyễn Mạnh Tường không có hành vi mang xác nạn nhân dứt xuống sông liệu Bác sĩ Nguyễn Cát Tường có phải chị án hình sự 19 năm tù về hai tội danh Vi phạm các quy định về khám chữa bệnh và Xâm phạm thi thể.

Khoản 117, Điều 1 Luật sữa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2017 đã sữa đổi, bổ sung Điều 315 Bộ luật Hình sự 2015 như sau: ‟1. Người nào vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế, cấp phát, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 259 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Làm chết người; b) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; c) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: a) Làm chết 02 người; b) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%; c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Làm chết 03 người trở lên; b) Gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên; c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên. 4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”. Khoản 118, Điều 1 Luật sữa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2017 đã sữa đổi, bổ sung khoản 1, khoản 2, khoản 3, Điều 316 Bộ luật Hình sự 2015 như sau: “1. Người nào thực hiện việc phá thai trái phép cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm: a) Làm chết người; b) Gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; c) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; d) Đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: a) Làm chết 02 người; b) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Làm chết 03 người trở lên; b) Gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên.”. Các quy định này có điểm mới hơn so với quy định tại Điều 241 Điều 243 Bộ luật Hình sự 1999, có quy định cụ thể tỉ lệ tổn thương về sức khỏe. Để cơ quan chức năng quyết định có xử lý hình sự theo quy định tại khoản 117, khoản 118, Điều 1 Luật sữa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2017 thì phải căn cứ vào kết luận Hội đồng chuyên môn và như phân tích ở nội dung trên việc kết luận Hội đồng chuyên môn liệu có khách quan đánh giá đúng bản chất sự việc không? Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm đối với hành nghề y tư nhân.

2.3.3. Bất cấp trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Theo quy định tại Điều 76 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009 trường hợp xảy ra sai sót chuyên môn kỹ thuật gây ra tai biến cho người bệnh hoặc trong trường hợp cấp cứu nhưng do thiếu phương tiện, thiết bị kỹ thuật, thiếu người hành nghề theo quy định của pháp luật mà không thể khắc phục được hoặc bệnh đó chưa có quy định chuyên môn để thực hiện dẫn đến xảy ra tai biến đối với người bệnh hoặc các trường hợp bất khả kháng khác dẫn đến xảy ra tai biến đối với người bệnh thì doanh nghiệp bảo hiểm mà cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh đã mua bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bệnh theo hợp đồng bảo hiểm đã ký với cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh đó.

Trường hợp cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh chưa mua bảo hiểm thì phải tự bồi thường thiệt hại cho người bệnh theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại Điều 73 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009, người hành nghề được xác định là có sai sót chuyên môn kỹ thuật khi có một trong các hành vi: vi phạm trách nhiệm trong chăm sóc điều trị người bệnh; vi phạm các quy định về chuyên môn kỹ thuật và đạo đức nghề nghiệp; xâm phạm quyền của người bệnh.

Tuy nhiên, việc xác định sai sót chuyên môn kỹ thuật phải do Hội đồng chuyên môn được quy định tại Điều 74 và 75 của Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009 xác định. Hội đồng chuyên môn do người đứng đầu cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh thành lập trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp, nếu không tự thành lập được thì đề nghị cơ quan quản lý Nhà nước về y tế quản lý trực tiếp thành lập. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thành lập, Hội đồng chuyên môn phải họp và mời các bên liên quan tranh chấp tham gia một số phiên họp và phiên kết luận.

Các tai biến có tỷ lệ rất cao tại các cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh. Câu hỏi mà dư luận thường đặt ra là Hội đồng chuyên môn do chính bệnh viện lập ra liệu có thật sự khách quan trong đánh giá hay không. Chưa kể đến thực tế một số cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh đã dùng Hội đồng khoa học kỹ thuật của đơn vị mình thay cho việc thành lập một Hội đồng chuyên môn đúng thành phần Luật định để giải quyết tranh chấp vì cũng không có chế tài hoặc cơ chế kiểm tra nào cho vấn đề này. Đa số kết luận của các Hội đồng chuyên môn do cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh thành lập đều theo hướng không có sai sót. Các vụ việc đòi bồi thường khi có tai biến Khám bệnh, chữa bệnh rất ít khi dừng lại khi có kết luận của Hội đồng chuyên môn ở cấp này. Các bên, tranh chấp nếu không nhất trí với kết luận của Hội đồng chuyên môn cấp cơ sở, Bộ Y tế sẽ thành lập Hội đồng chuyên môn cấp Bộ. Đây là bộ phận có thẩm quyền đưa ra kết luận cuối cùng về sai sót chuyên môn kỹ thuật.

Khi ra Tòa, kết luận của Hội đồng chuyên môn cũng là căn cứ để Tòa ra phán quyết. Tuy nhiên, phát sinh một số vấn đề từ thực tiễn thi hành. Thứ nhất, khi không nhất trí với kết luận của Hội đồng chuyên môn cấp cơ sở, người bệnh sẽ yêu cầu Bộ thành lập Hội đồng chuyên môn theo trình tự thủ tục gì, vì không thể sử dụng thủ tục khiếu nại theo Luật khiếu nại và Bộ không phải là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong Khám bệnh, chữa bệnh mà là Toà án. Thứ hai, dù Hội đồng chuyên môn phải chịu trách nhiệm về kết luận của mình theo luật định nhưng kết luận của Hội đồng chuyên môn cấp Bộ đồng thời là kết luận cuối cùng về sai sót chuyên môn kỹ thuật, cộng thêm tính lâm thời của Hội đồng sẽ rất khó để quy trách nhiệm. Do đó tính độc lập và khách quan trong các quyết định của Hội đồng chuyên môn dễ gây băn khoăn trong dư luận.

Trong khi đó, người bệnh New Zealand có thể khiếu nại trực tiếp về sai sót y tế với một Uỷ viên phụ trách về sức khoẻ, uỷ viên này sẽ xem xét để hòa giải hoặc chuyển đến Hội đồng y khoa quốc gia nếu thấy có dấu hiệu của sự vi phạm nghĩa vụ trong hành nghề. Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm đối với hành nghề y tư nhân.

Tại Anh, Canada, Hoa Kỳ đều có quy định về Y sĩ đoàn hoặc Hội đồng quốc gia là nơi tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại của người bệnh. Hội đồng y khoa hoặc Y sĩ đoàn với tư cách hội nghề nghiệp hoạt động độc lập, thường có chức năng cấp chứng chỉ hành nghề, hướng dẫn và quản ý hoạt động chuyên môn, xử ý các khiếu nại của người bệnh đối với người hành nghề để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của thành viên và quyền được hưởng sự chăm sóc y tế có chất lượng cho người bệnh. Với thành phần gồm những chuyên gia nhiều kinh nghiệm và có uy tín trong lĩnh vực y tế, họ thuận lợi và nhanh chông hơn một hội đồng âm thời của cơ quan Nhà nước trong tiến hành điều tra và xem xét hành vi của người hành nghề một cách toàn diện. Nếu thấy có sai sót họ có thể xem xét kỷ luật, hạn chế hành nghề và đưa ra các khuyến nghị để hạn chế những sai sót tương tự cho cộng đồng những người hành nghề. Ngoài ra, khi không là cơ quan quản lý Nhà nước, Hội đồng y khoa còn giúp giảm bớt nguy cơ che giấu sai sót do sợ bị Nhà nước chế tài. Do vậy, việc xem xét thường mang tính khách quan và chuyên nghiệp hơn. Đồng thời, Y sĩ Đoàn hoặc Hội đồng y khoa còn có thể hòa giải, tư vấn giúp các bên thỏa thuận mức bồi thường không tốn thời gian ra Tòa.

2.3.4 Bất cập trong cơ quan quản lý nhà nước

Số lượng biên chế Thanh tra Sở Y tế rất ít so với khối công việc theo chức năng, nhiệm vụ nhiều. Do đó, công tác thanh tra, kiểm tra, hậu kiểm sau cấp phép chưa thường xuyên và liên tục và đó cũng là lý do các cơ cơ sở hành nghề y tư nhân có nhiều sai phạm trong thời gian qua. Thực hiện chủ trương hạn chế tăng biên chế dù Bộ Y tế đã có Đề án nâng cao năng lực thanh tra y tế đến năm 2020 đước Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2176/QĐ-TTg ngày 04/12/2014, số lượng nhân sự thanh tra Sở Y tế không được phân bổ biên chế đúng theo vị trí việc làm. Một số tỉnh như Thanh tra Sở Y tế Tây Ninh chỉ có 02 biên chế; Thanh tra Sở Y tế Bình Dương, Thanh tra Sở Y tế Bến Tre và Thanh tra Sở Y tế Đồng Tháp …. chỉ có 03 biên chế. Nghiên cứu tác giả Nguyễn Tấn Hùng cho thấy: “Hệ thống thanh tra y tế còn bất cập, cán bộ thanh tra không đủ, có tỉnh chỉ có 1 – 2 người, nơi nhiều nhất như thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cũng chỉ có khoảng 40 người nhưng lại phải quản lý trên một địa bàn rộng. Số cơ sở hành nghề y tư nhân quá nhiều hoặc địa bàn xa xôi, đi lại khó khăn nên tỷ lệ số lần thanh tra còn thấp. Đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra của một số địa phương còn hạn chế về trình độ chuyên môn và kỹ thuật, nghiệp vụ thanh tra, chưa có kinh nghiệm về tổ chức thanh tra gây ảnh hưởng tới chất lượng thanh tra. Tình trạng xử lý sai hành vi vi phạm, đôi khi vượt quá thẩm quyền, có trường hợp xử lý không nghiêm minh, không dứt khoát nên tình trạng vi phạm vẫn còn kéo dài”.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm đối với hành nghề y tư nhân.

Nghiên cứu “Thực trạng xử lý vi phạm đối với hoạt động Hành nghề y tư nhân theo pháp luật Việt Nam”, cho phép rút ra một số kết luận sau:

  1. Pháp luật Việt Nam về Hành nghề y tư nhân còn nhiều bất cập trong quy định cũng như thực tiễn áp dụng. Quy định về cấp GPHĐ và cấp Chứng chỉ hành nghề không thời hạn cho cho cơ sở Hành nghề y tư nhân và người Hành nghề y tư nhân chưa thể hiện vai trò kiểm soát pháp luật. Thiếu cơ sở pháp lý là bộ Quy chuẩn quốc gia về các cơ sở Hành nghề y tư nhân làm căn cứ đánh giá, xếp hạng chất lượng Khám bệnh, chữa bệnh của các cơ Hành nghề y tư nhân. Các quy định về quy chế chuyên môn, kỹ thuật chưa được ban hành đầy đủ hoặc có ban hành nhưng không phù hợp với thực tế áp dụng. Quy định về giá dịch vụ của các cơ sở Hành nghề y tư nhân chưa được kiểm soát của Nhà nước …
  2. Xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động Hành nghề y tư nhân còn nhiều bất cập và hạn chế:

Thứ nhất, trong xử phạt vi phạm hành chính: Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động Hành nghề y tư nhân còn nhiều bất cập trong thực tiễn áp dụng như chưa tiên lượng hết các hành vi vi phạm trong hoạt động Hành nghề y tư nhân hoặc có quy định nhưng thực tế không thể áp dụng xử phạt được vì chưa có sự hướng dẫn cụ thể từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Chưa có quy định cách thức, quy trình cũng như sự phối hợp giữa các cơ quan có liên quan việc tổ chức thi hành biện pháp cưỡng chế thực hiện Quyết định xữ phạt và biện pháp khắc phục hậu quả …

Thứ hai, trong xử lý hình sự: Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định việc xác định có hay không có sai sót chuyên môn kỹ thuật của người hành nghề Khám bệnh, chữa bệnh sẽ do Hội đồng chuyên môn kết luận và đó cũng là cơ sở để cơ quan tiến hành tố tụng xem xét, quyết định hướng xử lý, giải quyết vụ việc. Hội đồng chuyên môn do cơ quan quản lý Nhà nước trực tiếp các cơ sở Hành nghề y tư nhân thành lập và giải tán khi hoàn thành nhiệm vụ thiếu tính độc lập và khách quan. Mặt khác, chứng cứ và dữ liệu để Hội đồng chuyên môn đánh giá có thể sai lệch và không đầy đủ.

Thứ ba, trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Trách nhiệm bồi thường hại của cơ sở Hành nghề y tư nhân xãy ra tai biến được Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009 quy định rõ ràng, đặc biệt là với tai biến do sai sót chuyên môn, kỹ thuật. Sai sót chuyên môn kỹ thuật phải do Hội đồng chuyên môn do cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh hoặc cơ quan quản lý Nhà nước về y tế lập ra mang tính lâm thời xác định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Thực tế cũng cho thấy cơ chế này có nhiều khiếm khuyết. Phương thức giải quyết tranh chấp trong Khám bệnh, chữa bệnh là tự hòa giải, nếu hòa giải không thành có quyền khởi kiện tại Tòa án. Quy định này có phần mâu thuẫn với các quy định về tố tụng dân sự vì không nhất thiết phải hoà giải mới có quyền khởi kiện. Ngoài ra, vì Luật không quy định quyền khiếu nại của người bệnh đối với cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh nên nhiều khiếu nại của người bệnh được hiểu là khiếu nại hành chính để giải quyết theo trình tự hành chính. Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm đối với hành nghề y tư nhân.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp xử lý vi phạm trong hành nghề y tư nhân

One thought on “Luận văn: Thực trạng xử lý vi phạm đối với hành nghề y tư nhân”

  1. Pingback: Luận văn: Xử lý vi phạm trong hoạt động hành nghề y tư nhân

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464