Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Luận văn: Thực trạng về phòng chống bạo lực gia đình ở Quảng Trị hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn Quảng Trị dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Nguyên tắc phòng, chống bạo lực gia đình
- Theo quy định của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, nguyên tắc của phòng, chống bạo lực gia đình bao gồm:
Một là, kết hợp và thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng, chống bạo lực gia đình, lấy phòng ngừa là chính, chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục về gia đình, tư vấn, hoà giải phù hợp với truyền thống văn hoá, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
Đây là nguyên tắc chủ đạo trong phòng, chống bạo lực gia đình và được quán triệt xuyên suốt toàn bộ 46 điều luật, trong đó xác định rõ việc thực hiện công tác phòng, chống bạo lực gia đình phải được thực hiện trên cơ sở kết hợp và thực hiện một cách đồng bộ các giải pháp, lấy phòng ngừa làm nhiệm vụ trọng tâm.
Xuất phát từ thực tế quan hệ trong gia đình thường mang tính khép kín, với các thành viên gia đình cũng như những người xung quanh, việc trong gia đình thì người ngoài ít có cơ hội xen vào. Chính vì vậy, công tác tuyên truyền, giáo dục về gia đình, tư vấn, hoà giải trong vấn đề này là rất quan trọng, góp phần định hướng hành vi của mỗi người: nạn nhân được trang bị kiến thức để tự bảo vệ; người có thể có hành vi bạo lực thì nhận thức được tính chất, hậu quả của hành vi để tự kiềm chế tốt hơn; những người xung quanh biết được trách nhiệm tham gia phòng chống bạo lực gia đình và có ứng xử phù hợp.
Thể hiện qua điểm nhân đạo của pháp luật Việt Nam lý phải đi đôi với tình, bên cạnh việc thực hiện nguyên tắc kết hợp các biện pháp phòng ngừa theo quy định của pháp luật cần phải đáp ứng điều kiện “phù hợp với truyền thống văn hoá, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam”.
Pháp luật luôn hướng tới việc ngăn chặn các hành vi phạm tội trước khi xảy ra để giữ gìn trật tự, tránh những tổn thất cho cộng đồng và xã hội. Riêng trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình thì việc phòng ngừa càng có ý nghĩa quan trọng. Vì vậy, cần phải lấy phòng ngừa là chính trong hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình.
Hai là, hành vi bạo lực gia đình được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật. Luận văn: Thực trạng về phòng chống bạo lực gia đình ở Quảng Trị.
Đây là một trong những nguyên tắc chung của pháp luật. Riêng trong lĩnh vực bạo lực gia đình, việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi càng có ý nghĩa quan trọng. Nguyên tắc này xác nhận: BLGĐ không còn được coi là vấn đề “riêng tư” cần được giải quyết trong phạm vi gia đình nữa mà là vấn đề của xã hội và được điều chỉnh bằng pháp luật, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải có trách nhiệm xử lý khi BLGĐ xảy ra.
Bên cạnh đó, hành vi bạo lực càng kéo dài thì càng gây ra nhiều tổn thương cho nạn nhân, tổn hại tới mối quan hệ gia đình. Điều này sẽ được hạn chế rất nhiều nếu hành vi bị phát hiện và xử lý kịp thời.
Ba là, nạn nhân bạo lực gia đình được bảo vệ, giúp đỡ kịp thời phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của họ và điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước; ưu tiên bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, người cao tuổi, người tàn tật và phụ nữ.
Theo truyền thống văn hóa Việt Nam, con người sống để yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau, đặc biệt trong giai đoạn hoạn nạn là một việc làm cần thiết, tuy nhiên thực tế nạn nhân bạo lực gia đình thường không được giúp đỡ, bảo vệ bởi vì họ coi đấy là chuyện riêng, chuyện nội bộ của mỗi nhà. Từ đó, việc giúp đỡ nạn nhân trở nên hạn chế, nhất là khi họ còn phải lo sợ sự trả thù của người có hành vi bạo lực. Ngoài ra, việc giúp nạn nhân như thế nào, bằng những phương tiện gì cũng gây cho họ những lúng túng nhất định, do đó pháp luật cho phép họ tùy khả năng, tình hình mà đưa ra những xử sự hợp lý nhất, ưu tiên những đối tượng dễ bị tổn thương như trẻ em, phụ nữ, người già…
Bốn là, phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình.
Bạo lực gia đình từ lâu đã không còn là vấn đề của mỗi gia đình mà đã trở thành vấn đề nóng của xã hội, do đó việc phòng, chống bạo lực gia đình là trách nhiệm chung của cộng đồng chứ không chỉ là của nhà nước và những người có liên quan. Tuy nhiên nếu mỗi cá nhân, thành viên gia đình và cộng đồng, cơ quan, tổ không lên tiếng, không thể hiện được vai trò, trách nhiệm của mình trước bản thân mình, trước các thành viên của gia đình và trước xã hội thì vấn đề bạo lực gia đình vẫn mãi là chuyện của gia đình.
Trong điều kiện xã hội ta vẫn còn tồn tại những định kiến về giới, tư tưởng “đóng cửa bảo nhau” thì việc thực thi pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình vẫn còn nhiều thách thức. Do vậy, việc quy định nguyên tắc này một lần nữa khẳng định tầm quan trọng cũng như sự cần thiết của việc phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình.
2.2. Quyền, nghĩa vụ của các chủ thể của bạo lực gia đình Luận văn: Thực trạng về phòng chống bạo lực gia đình ở Quảng Trị.
2.2.1. Quyền, nghĩa vụ của nạn nhân
- Nạn nhân BLGĐ được pháp luật bảo vệ song họ cũng cần có trách nhiệm thực thi Luật PCBLGĐ.
Nạn nhân bạo lực gia đình mà chủ yếu là người phụ nữ bị bạo lực thường không dám chia sẻ cùng ai vì họ xấu hổ, sợ gia đình đổ vỡ. Những người sử dụng bạo lực trong gia đình cũng đã triệt để lợi dụng yếu điểm này để che đậy hành vi bạo lực của mình. Thái độ im lặng, âm thầm chịu đựng, né tránh tố cáo của người phụ nữ khi bị bạo lực chính là khe hở dung túng cho hành vi bạo lực tồn tại. Trong thực tế khi bạo lực trong một gia đình xẩy ra nghiêm trọng thì các tổ chức, cộng đồng mới có lý do để can thiệp và giúp đỡ.
Vì vậy để ngăn chặn bạo lực trong gia đình, nạn nhân bạo lực gia đình phải biết tự bảo vệ mình, phải ý thức được quyền và trách nhiệm của mình để được hỗ trợ, được giúp đỡ kịp thời.
Quyền và nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình được quy định cụ thể tại Điều 5, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, bao gồm:
“1. Nạn nhân bạo lực gia đình có các quyền sau đây:
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình;
- Yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc theo quy định của Luật này;
- Được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý, pháp luật;
- Được bố trí nơi tạm lánh, được giữ bí mật về nơi tạm lánh và thông tin khác theo quy định của Luật này;
- Các quyền khác theo quy định của pháp luật. Luận văn: Thực trạng về phòng chống bạo lực gia đình ở Quảng Trị.
2. Nạn nhân bạo lực gia đình có nghĩa vụ cung cấp thông tin liên quan đến bạo lực gia đình cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khi có yêu cầu.”
Nạn nhân bạo lực gia đình, những người đã bị chính người thân của mình gây ra những thương tổn nhất định, rất cần nhận được sự giúp đỡ của cộng đồng và xã hội. Họ được pháp luật trao cho các quyền cơ bản của con người là yêu cầu bảo vệ và được cung cấp, hỗ trợ các điều kiện thiết yếu để ngăn chặn bạo lực gia đình đang xảy ra. Quy định này một mặt khẳng định quyền của nạn nhân bạo lực gia đình nhằm nâng cao nhận thức của nạn nhân bạo lực gia đình đối với việc bảo vệ quyền lợi của mình, mặt khác cũng tác động tích cực đến thái độ của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bởi lẽ trước đây khi nạn nhân đến báo tin cho chính quyền địa phương về tình trạng bạo lực họ đang phải chịu, thường thì những khiếu nại hoặc đề nghị của họ không được coi trọng và họ chỉ miễn cưỡng can thiệp khi bạo lực xảy ra vì cho rằng bạo lực gia đình là vấn đề nội bộ trong gia đình, người ngoài không nên can thiệp nên vấn nạn bạo lực gia đình không được giải quyết một cách triệt để.
Bên cạnh những quyền lợi được pháp luật ghi nhận và bảo vệ, nạn nhân bạo lực gia đình cũng phải thực hiện nghĩa vụ nhất định, đó là: cung cấp thông tin liên quan đến bạo lực gia đình cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khi có yêu cầu. Bởi lẽ, xưa nay, người phụ nữ Việt Nam (nạn nhân chủ yếu của bạo lực gia đình) vẫn quen thói chịu đựng, quen lệ thuộc, truyền thống văn hoá Việt Nam là “đóng cửa bảo nhau”, tuy nhiên có những việc không giải quyết được trong nội bộ gia đình thì cần phải công bố cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền biết để giúp sức giải quyết. Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi cho mình, không ai khác ngoài nạn nhân bạo lực gia đình phải thực hiện một số nghĩa vụ cần thiết để các cơ quan bảo vệ giúp đỡ mình. Đây là việc làm chính đáng tự cứu mình thoát khỏi cảnh bạo lực gia đình.
2.2.2. Quyền và nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực gia đình Luận văn: Thực trạng về phòng chống bạo lực gia đình ở Quảng Trị.
Trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình, nghĩa vụ của họ được ghi nhận ở Điều 4, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình:
- Tôn trọng sự can thiệp hợp pháp của cộng đồng; chấm dứt ngay hành vi bạo lực.
- Chấp hành quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
- Kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu, điều trị; chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.
- Bồi thường thiệt hại cho nạn nhân bạo lực gia đình khi có yêu cầu và theo quy định của pháp luật.”
Người có hành vi bạo lực gia đình là người đã gây ra những tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại cho thành viên khác trong gia đình, đây được xác định là hành vi vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình. Vì vậy, người có hành vi bạo lực gia đình phải thực hiện các nghĩa vụ do luật quy định. Đó là phải “tôn trọng sự can thiệp hợp pháp của cộng đồng”, điều này rất quan trọng vì trong nhiều trường hợp, người có hành vi vi phạm không nhận thấy sai lầm của mình mà thậm chí còn trút giận sang những người can thiệp (chửi bới, xúc phạm và có khi là đánh đập, hành hung…), do đó đã làm hạn chế sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình. Ngược lại, những sự can thiệp bất hợp pháp, điển hình là việc dùng vũ lực để ngăn chặn hành vi bạo lực một cách không cần thiết cũng sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng: vừa không ngăn chặn có hiệu quả hành vi bạo lực gia đình, vừa tăng nguy cơ phát sinh tội phạm khác.
Chấp hành quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cũng là nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực gia đình. Trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình, những chủ thể có thẩm quyền có thể đưa ra những chế tài như: góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư; cấm tiếp xúc; áp dụng các biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn… Việc bị xử lý hành vi bạo lực gia đình vốn không quen thuộc với người Việt Nam, vì rất nhiều người vẫn nghĩ đó là quyền của họ. Do đó, quy định người có hành vi bạo lực có nghĩa vụ chấp hành quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền là cần thiết để tạo ra cơ sở pháp lý mạnh mẽ, buộc chủ thể phải thực hiện, đảm bảo hiệu quả của công tác phòng, chống bạo lực gia đình.
Với những trường hợp nạn nhân bị tổn thương về thể chất hoặc tinh thần, cần tới sự can thiệp của y tế thì người thực hiện hành bạo lực phải kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu, điều trị; chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối. Đây tưởng chừng là điều hiển nhiên, là ứng xử bắt buộc của các thành viên gia đình đối với nhau, nhưng lại là điều rất khó thực hiện khi một bên là chủ thể, một bên là nạn nhân của hành vi bạo lực. Người thực hiện hành vi khi đã nhẫn tâm ra tay thì rất khó có chuyện thương xót, lo lắng cho nạn nhân mà đưa họ đi chữa trị, chăm sóc; hoặc có khi hành vi là bột phát, họ nhận thấy sai lầm của mình nhưng do sợ bị phát hiện, sợ phải gánh trách nhiệm nên không dám đưa nạn nhân tới cơ sở chữa trị. Chính vì vậy, pháp luật cần quy định đây là nghĩa vụ, bắt buộc họ phải thực hiện để đảm bảo quyền lợi về sức khỏe cho nạn nhân. Trong trường hợp nạn nhân từ chối sự chăm sóc của người đã gây tổn thương cho mình – điều này là hoàn toàn phù hợp về tâm lý – thì người có hành vi bạo lực cũng phải tôn trọng và thực hiện điều đó.
Phù hợp với những quy định của pháp luật dân sự, người thực hiện hành vi bạo lực cũng phải bồi thường thiệt hại cho nạn nhân bạo lực gia đình khi có yêu cầu và theo quy định của pháp luật. Luận văn: Thực trạng về phòng chống bạo lực gia đình ở Quảng Trị.
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình không nhắc tới quyền mà chỉ quy định nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực gia đình. Điều này trước hết có lẽ bởi vì những người này đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, nên họ phải chịu những trách nhiệm nhất định và không được hưởng sự bảo vệ của pháp luật trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, người có hành vi BLGĐ có thể nhận được sự hỗ trợ như tư vấn về Luật PCBLGĐ, tham gia vào các hội thảo nâng cao nhận thức… nhằm thay đổi hành vi và suy nghĩ của mình. Người có hành vi BLGĐ có thể tới các trung tâm tư vấn, trung tâm bảo trợ xã hội… để nhận được sự trợ giúp. Họ cũng có thể tới gặp các cán bộ chức năng để nhận được sự giúp đỡ theo quy định của pháp luật về PCBLGĐ.
2.3. Trách nhiệm của cá nhân, gia đình và các cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình
2.3.1. Trách nhiệm của cá nhân, gia đình
Điều 32, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định về trách nhiệm gia đình và các thành viên gia đình trong phòng, chống bạo lực gia đình:
- Giáo dục, nhắc nhở thành viên gia đình thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác.
- Hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình; can ngăn người có hành vi bạo lực gia đình chấm dứt hành vi bạo lực; chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình.
- Phối hợp với cơ quan, tổ chức và cộng đồng dân cư trong phòng, chống bạo lực gia đình.
- Thực hiện các biện pháp khác về phòng, chống bạo lực gia đình theo quy định của Luật này.
Vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình không chỉ thực hiện khi có hành vi bạo lực xảy ra, mà nó phải được thực hiện ngay trong cuộc sống thường nhật của mỗi con người. Luật quy định cá nhân và thành viên gia đình phải có trách nhiệm “Giáo dục, nhắc nhở thành viên gia đình thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác”, “Hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình; can ngăn người có hành vi bạo lực gia đình chấm dứt hành vi bạo lực; chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình”. Thiết nghĩ đây là lẽ đương nhiên trong cuộc sống thường và khi có bạo lực xảy ra trong gia đình. Tuy nhiên, do có nhiều trường hợp khi bạo lực xảy ra trong gia đình, các thành viên không những không tiến hành hòa giải, can ngăn mà còn “thêm dầu vào lửa” làm cho bạo lực gia đình càng trở nên trầm trọng. Chính vì vậy, yêu cầu luật phải quy định rõ vấn đề này nhằm khẳng định rõ trách nhiệm của các thành viên trong gia đình đối với việc nâng cao nhận thức pháp luật nói chung và những kiến thức về phòng, chống bạo lực gia đình nói riêng và trách nhiệm của mỗi thành viên trong gia đình khi có bạo lực xảy ra trong gia đình mình nhằm phát huy hiệu quả công tác phòng, chống bạo lực ngay trong mỗi gia đình, không để phát sinh thành vấn đề của xã hội.
Mặc dù luật chỉ quy định đây là trách nhiệm chứ không phải nghĩa vụ của gia đình và các thành viên. Tuy nhiên, luật cũng quy định rõ các hành vi bị cấm trong phòng, chống bạo lực gia đình và khi có những hành vi này xảy ra thì họ phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Cụ thể: một số hành vi bị pháp luật nghiêm cấm, được quy định tại Điều 8, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình: Luận văn: Thực trạng về phòng chống bạo lực gia đình ở Quảng Trị.
- Các hành vi bạo lực gia đình quy định tại Điều 2 của Luật này.
- Cưỡng bức, kích động, xúi giục, giúp sức người khác thực hiện hành vi bạo lực gia đình.
- Sử dụng, truyền bá thông tin, hình ảnh, âm thanh nhằm kích động bạo lực gia đình.
- Trả thù, đe doạ trả thù người giúp đỡ nạn nhân bạo lực gia đình, người phát hiện, báo tin, ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình.
- Cản trở việc phát hiện, khai báo và xử lý hành vi bạo lực gia đình.
- Lợi dụng hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình để trục lợi hoặc thực hiện hoạt động trái pháp luật.
- Dung túng, bao che, không xử lý, xử lý không đúng quy định của pháp luật đối với hành vi bạo lực gia đình.
Những hành vi bị cấm này không chỉ áp dụng với thành viên gia đình mà còn áp dụng cả những các nhân không phải là thành viên gia đình. Bên cạnh đó, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình còn quy định rõ trách nhiệm của các cá nhân là: “1. Thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác; 2. Kịp thời ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình và thông báo cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền” (Điều 31). Những quy định này nhằm nâng cao tính chủ động, tích cực của các những cá nhân trong xã hội trong việc tham gia phòng, chống bạo lực gia đình cũng như giúp đỡ nạn nhân. Đây đều là những việc không quá khó khăn, chỉ đòi hỏi trách nhiệm với cộng đồng của mỗi công dân nên việc thực hiện như thế nào là hoàn toàn dựa trên ý chí của từng cá nhân. Những nghĩa vụ cụ thể của công dân được quy định trong những điều luật khác của Luật này.
2.3.2. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức khác Luận văn: Thực trạng về phòng chống bạo lực gia đình ở Quảng Trị.
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình đã nêu lên trách nhiệm của rất nhiều cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực này, trong đó có thể kể tới Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, bao gồm:
- Tuyên truyền, giáo dục, khuyến khích, động viên hội viên và nhân dân chấp hành pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác.
- Kiến nghị những biện pháp cần thiết với cơ quan nhà nước có liên quan để thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác; tham gia phòng, chống bạo lực gia đình, chăm sóc, hỗ trợ và bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình.
- Tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình. (Điều 33)
Bên cạnh đó, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam – một thành viên của Mặt trận cũng được giao một số trách nhiệm cụ thể:
- Thực hiện trách nhiệm quy định tại Điều 33 của Luật này.
- Tổ chức cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình, cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình.
- Tổ chức các hoạt động dạy nghề, tín dụng, tiết kiệm để hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình.
- Phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan để bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình. (Điều 34)
Ngoài ra, Luật cũng quy định: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình; Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình; Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình tại địa phương. Trách nhiệm của một số Bộ, ngành cũng được cụ thể hóa tại các quy định của Luật này (từ Điều 36 tới Điều 41).
Bạo lực gia đình là một vấn đề xã hội, do đó vấn đề này cần phải được giải quyết một cách đồng bộ, phối hợp nhiều hình thức với sự tham gia của nhiều người, nhiều ngành, nhiều tổ chức và các thiết chế xã hội. Tuy nhiên, bạo lực xảy ra trong phạm vi gia đình mà người gây ra bạo lực lại chính là thành viên trong gia đình đó, nên khi có cơ quan chức năng đến tìm hiểu về vấn đề này thường gặp khó khăn khi các thành viên trong gia đình, thậm chí, cả người bị bạo hành cố tình che giấu. Chính hành vi che giấu này đã vô tình góp phần làm cho BLGĐ duy trì âm thầm lặng lẽ. Muốn phát hiện được BLGĐ trong các trường hợp như thế phải có sự tham gia vào cuộc của chính quyền địa phương, của các tổ chức chính trị, chính trị- xã hội, xã hội nghề nghiệp, nhất là Hội phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh… Luận văn: Thực trạng về phòng chống bạo lực gia đình ở Quảng Trị.
Có thể thấy, Luật quy định rõ mỗi cá nhân trong xã hội phải thực hiện đúng quy định pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới… đồng thời kịp thời ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình và thông báo cho cơ quan, tổ chức và người có thể quyền để có biện pháp xử lý. Mỗi gia đình phải có trách nhiệm giáo dục, nhắc nhở thành viên gia đình thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình; phối hợp với các cơ quan, tổ chức và cộng đồng dân cư trong phòng, chống bạo lực gia đình.
Các cơ quan, tổ chức căn cứ và vai trò, chức năng của mình, chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa, nâng cao ý thức của nhân dân về pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình, đồng thời kết hợp công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình và tạo điều kiện, phối hợp với cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện công tác phòng, chống bạo lực gia đình.
2.4. Các biện pháp cơ bản để phòng ngừa và ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình, bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình Luận văn: Thực trạng về phòng chống bạo lực gia đình ở Quảng Trị.
2.4.1. Các biện pháp phòng ngừa hành vi bạo lực gia đình
Luật phòng, chống bạo lực gia đình được xây dựng trên quan điểm lấy biện pháp phòng ngừa bạo lực gia đình là chính, phải giải quyết mâu thuẫn, xích mích gia đình ngay từ khi mới phát sinh để hạn chế phát triển các xung đột gây hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe tính mạng và nhân phẩm, góp phần hạn chế ly hôn, bảo vệ sự bền vững của gia đình. Chính vì vậy, luật đã quy định các biện pháp cụ thể trong phòng ngừa bạo lực gia đình như: quy định về thông tin, tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình; hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình; tư vấn, góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư về phòng ngừa bạo lực gia đình (từ điều 9 đến điều 17). Đây là những biện pháp đã được áp dụng ở nhiều địa phương và mang đậm nét văn hóa Việt Nam.
Trong Chương II, mục 1 Luật PCBLGĐ (các điều 9, 10 và 11) quy định về công tác thông tin và truyền thông. Nội dung của những điều khoản này tập trung vào mục đích, yêu cầu, nội dung và hình thức thông tin, truyền thông về PCBLGĐ. Các điều khoản trong mục 1 Chương II của Luật PCBLGĐ là căn cứ pháp lý đầy đủ và toàn diện để thực hiện công tác thông tin và truyền thông chất lượng, đảm bảo tăng hiệu quả nhận thức và chủ động phòng ngừa và đấu tranh chống BLGĐ.
Hoà giải là một trong những phương thức can thiệp về BLGĐ bằng cách giải thích hoặc cung cấp thông tin về Luật PCBLGĐ cũng như các hành vi tích cực cho các thành viên gia đình để họ ngừng hoặc giảm hành vi tiêu cực trong gia đình. Một mặt, hòa giải giúp gia đình giải quyết các mâu thuẫn và tranh chấp giữa các thành viên gia đình mà có thể dẫn đến BLGĐ. Mặt khác hòa giải cũng giúp gia đình chấm dứt các hành vi BLGĐ giữa các thành viên trong gia đình. Tuy nhiên, Luật PCBLGĐ quy định những nguyên tắc hòa giải. Một trong số đó là nguyên tắc sự tự nguyện tiến hành hòa giải của các bên. Bởi vì nếu việc tham gia hòa giải của nạ nhân không dựa trên sự tự nguyện mà do bị người gây ra bạo lực đe dọa thì không nên tiến hành hòa giải. Luật cũng quy định một số trường hợp không tiến hành hòa giải như: vụ việc thuộc tội phạm hình sự hoặc vụ việc thuộc hành vi vi phạm pháp luật xử lý hành chính. Nói cách khác, Luật quy định rằng không áp dụng biện pháp hòa giải đối với trường hợp hành vi bạo lực diễn ra liên tục và nghiêm trọng, trừ trường hợp người bị hạn yêu cầu không xử lý theo quy định của pháp luật hình sự. Các cơ quan, tổ chức và tổ hòa giải không tiến hành hòa giải đối với hành vi được xác định là vi phạm pháp luật hình sự hoặc hành chính. Luận văn: Thực trạng về phòng chống bạo lực gia đình ở Quảng Trị.
Mục 3, Điều 16 và 17 quy định về việc tư vấn, góp ý và phê bình tại cộng đồng không chỉ cho người có hành vi mà có tác dụng cho cả người dân khác trong cộng đồng Điều 16 trong Chương II, Mục 3 có quy định về tư vấn gia đình ở địa phương như cung cấp kiến thức và kỹ năng trong giao tiếp trong gia đình và kiến thức về PCBLGĐ sẽ giúp cho mọi người hiểu về luật và tự phòng ngừa bạo lực xảy ra trong gia đình mình. Điều này giúp ngăn ngừa bạo lực trong gia đình hiệu quả hơn.
Cũng trong Chương II Mục 3 Điều 17 Luật có quy định về hoạt động góp ý và phê bình giữa các cộng đồng dân cư. Đối tượng được ghi nhận là những người từ 16 tuổi trở lên và người dân tham gia vào các buổi góp ý phê bình bao gồm đại diện các hộ gia đình, láng giềng, người đứng đầu cộng đồng dân cư. Biện pháp này không chỉ có ý nghĩa giáo dục và nhắc nhở người có hành vi BLGĐ mà còn hướng tới giáo dục nâng cao nhận thức cho người dân khác trong cộng đồng dân cư. Mục tiêu của việc góp ý và phê bình nhằm giúp người gây BLGĐ nhận thức được các suy nghĩ tiêu cực (ví dụ bất bình đẳng giới) hoặc hành vi BLGĐ bằng cách đưa ra ý kiến phê bình cho họ trước mặt những người khác. Trên cơ sở đó họ sẽ chấm dứt hay hạn chế hành vi BLGĐ.
Có thể thấy rằng, phòng ngừa là một biện pháp quan trọng và có tác dụng lớn trong việc ngăn chặn và đẩy lùi bạo lực gia đình. Thực hiện tốt công tác phòng ngừa bạo lực gia đình sẽ tránh những hậu quả, thiệt hại có thể xảy. Về cơ bản các quy định này thể hiện quan điểm coi trọng giải pháp ngăn ngừa bạo lực gia đình là chính và chú trọng tới các giải pháp giáo dục tại cộng đồng, phát huy hết khả năng và vai trò của dòng họ, quy định phát hiện và sớm xử lý sớm từ mâu thuẫn, xích mích nhỏ không để phát sinh thành mâu thuẫn lớn gây bạo lực gia đình
Quy định này rất quan trọng trong quá trình thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình nhằm phát huy có hiệu quả vai trò và trách nhiệm của cộng đồng đối với mỗi thành viên trong xã hội, phát huy được tính dân chủ trong nhân dân, từ đó góp phần thay đổi nhận thức và nâng cao ý thức pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, tiến tới xoá bỏ bạo lực gia đình, phát huy hơn nữa truyền thống tốt đẹp của con người, gia đình Việt Nam.
2.4.2. Các biện pháp ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình và bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình Luận văn: Thực trạng về phòng chống bạo lực gia đình ở Quảng Trị.
Bên cạnh nhấn mạnh các biện pháp phòng ngừa BLGĐ, Luật đã đưa ra những quy định cụ thể về việc bảo vệ trợ giúp nạn nhân, một số hành động can thiệp hành vi BLGĐ đã xảy ra nhằm làm dừng lại hành vi BLGĐ của người gây ra bạo lực gia đình và trợ giúp cho nạn nhân.
Các điều khoản liên quan đến việc bảo vệ và hỗ trợ cho các nạn nhân bạo lực gia đình được quy định từ Điều 18 đến 25 trong Mục 1 Chương III của Luật PCBLGĐ nhằm ứng phó với hành vi BLGĐ.
Nạn nhân bạo lực gia đình được bảo vệ ở mức cao nhất thông qua các biện pháp như: phát hiện, báo tin về bạo lực gia đình; biện pháp ngăn chặn, bảo vệ; cấm tiếp xúc theo quyết định của Chủ tịch UBND cấp xã, quyết định của Tòa án; biện pháp tư vấn; hỗ trợ khẩn cấp các nhu cầu thiết yếu cho nạn nhân. Những quy định này thể hiện sự quan tâm, bảo vệ quyền con người của Nhà nước ta, kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam nhằm ngăn chặn một cách có hiệu quả hành vi bạo lực gia đình có thể xảy ra, bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình.
Để làm sáng tỏ hơn các biện pháp biện pháp ngăn chặn, bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình được xác định là quan trọng và có hiệu quả, học viên chỉ đề cập tới một số biện pháp được cho là cơ bản nhất, bao gồm: biện pháp Buộc chấm dứt ngay hành vi bạo lực, Biện pháp cấp cứu nạn nhân và biện pháp Cấm tiếp xúc
- Buộc chấm dứt ngay hành vi bạo lực và Biện pháp cấp cứu nạn nhân
Đây là một trong những biện pháp ngăn chặn, bảo vệ được quy định tại Điều 19, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình với mục đích bảo vệ nạn nhân, chấm dứt hành vi bạo lực gia đình, giảm thiểu hậu quả do hành vi bạo lực gây ra.
Buộc chấm dứt hành vi bạo lực là tổng hợp những biện pháp, cách thức tác động vào người có hành vi bạo lực gia đình nhằm giải thoát nạn nhân khỏi tình trạng bạo lực. Việc chấm dứt hành vi và đưa nạn nhân đi cấp cứu là nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực gia đình. Tuy nhiên, trách nhiệm buộc người có hành vi chấm dứt hành vi bạo lực gia đình và cấp cứu nạn nhân được đề cập ở đây thuộc về người có mặt tại nơi xảy ra bạo lực. Luận văn: Thực trạng về phòng chống bạo lực gia đình ở Quảng Trị.
Luật quy định trách nhiệm của người có mặt tại nơi xảy ra bạo lực phải hành động ngay để ngăn chặn bạo lực tiếp tục xảy ra, bất kể người đó là ai. Đây là yêu cầu có vẻ như đơn giản nhưng sự thật khó thực hiện trong xã hội. Bởi lẽ hành vi bạo lực chủ yếu xảy ra giữa các thành viên với nhau như vợ và chồng, cha mẹ và con cái …hành vi bạo lực thường rất đa dạng và khó có thể nhìn thấy được nên những người có mặt thường có tư tưởng đó là việc đương nhiên, là chuyện riêng của gia đình không nên xen vào và chỉ do tò mò họ mới có mặt, hoặc chỉ vì nó diễn ra trong gia đình nên họ mới chứng kiến và chỉ khi những hành động bạo lực quá dã man, gây ra quá nhiều bức xúc thì mới có người can thiệp.
Tương tự, cấp cứu nạn nhân cũng là việc rất cần thiết khi mà họ đang lâm vào tình trạng sức khỏe nguy kịch do hành vi bạo lực gây nên. Tuy nhiên, người thực hiện hành vi cũng rất ít khi thực hiện nghĩa vụ này; còn những người xung quanh nếu không phải có quan hệ thân thiết với nạn nhân thì không có lý do gì can thiệp vào “chuyện gia đình” người khác, đưa nạn nhân đi cấp cứu. Dù đó là việc làm tốt thì họ cũng sẽ phải gánh chịu những lời dị nghị của dư luận xã hội, gặp phải sự phản đối của gia đình nạn nhân cũng như gia đình mình, thậm chí có thể chính người thực hiện hành vi bạo lực ngăn chặn, trả thù.
Chính vì những định kiến, những cản trở về mặt xã hội như vậy, pháp luật đã quy định: người có mặt tại nơi xảy ra bạo lực gia đình tuỳ theo tính chất, mức độ của hành vi bạo lực và khả năng của mình có trách nhiệm thực hiện các biện pháp buộc chấm dứt ngay hành vi bạo lực gia đình và cấp cứu nạn nhân bạo lực gia đình. Điều này không chỉ có ý nghĩa ràng buộc trách nhiệm của mọi cá nhân trong xã hội tham gia phòng, chống bạo lực gia đình, đảm bảo quyền lợi cho nạn nhân bị bạo lực cũng như người tham gia phòng, chống; mà còn thông qua đó nâng cao ý thức, giáo dục những người khác về sự cần thiết phải tham gia công tác này. Luận văn: Thực trạng về phòng chống bạo lực gia đình ở Quảng Trị.
Tuy nhiên, nếu chỉ quy định chung chung như vậy thì việc triển khai trên thực tế sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Chính vì vậy, pháp luật đã có những quy định chặt chẽ hơn về vấn đề này. Cụ thể: Điều 20, Nghị định số 110/2009/NĐ-CP ngày 10-12-2009 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình (sau đây gọi là Nghị định 110) đã quy định mức xử phạt với hành vi cố ý không ngăn chặn, báo tin và cản trở việc ngăn chặn, báo tin, xử lý hành vi bạo lực gia đình như sau:
- Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với với một trong các hành vi sau:
- Biết hành vi bạo lực gia đình, có điều kiện ngăn chặn mà không ngăn chặn dẫn đến hậu quả nghiêm trọng;
- Biết hành vi bạo lực gia đình mà không báo tin cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền;
- Có hành vi cản trở người khác phát hiện, khai báo hành vi bạo lực gia đình.
Ngược lại, những người trực tiếp tham gia phòng, chống bạo lực gia đình sẽ được hưởng các chế độ quy định tại Điều 5, Nghị định số 08/2009/NĐ-CP ngày 04/02/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (sau đây gọi là Nghị định 08) như sau:
- Người trực tiếp tham gia phòng, chống bạo lực gia đình mà có thành tích thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng;
- Người có hành vi dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân khi trực tiếp thực hiện việc ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình, nếu bị chết thì được xem xét để công nhận là liệt sĩ, nếu bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên thì được xem xét để được hưởng chính sách như thương binh theo quy định của pháp luật;
- Người trực tiếp tham gia phòng, chống bạo lực gia đình mà bị thiệt hại về tài sản thì được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra bạo lực gia đình hoàn trả thiệt hại trong trường hợp người gây thiệt hại không có khả năng bồi thường thiệt hại; kinh phí hoàn trả được lấy từ ngân sách của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh dành cho thực hiện nhiệm vụ phòng, chống bạo lực gia đình tại địa phương. Luận văn: Thực trạng về phòng chống bạo lực gia đình ở Quảng Trị.
Như vậy, những quy định này một mặt đã đưa ra những hình thức khen thưởng, kỷ luật phù hợp, có tác dụng động viên, khuyến khích, nâng cao trách nhiệm của mỗi công dân trong phòng, chống bạo lực gia đình. Tuy nhiên, mức xử phạt với hành vi cố ý không ngăn chặn, báo tin và cản trở việc ngăn chặn, báo tin, xử lý hành vi bạo lực gia đình còn thấp, chưa có tính răn đe, giáo dục, nhất là với những trường hợp tái phạm nhiều lần.
- Cấm tiếp xúc
Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình là việc không cho phép người có hành vi bạo lực gia đình thực hiện các hành vi sau đây: Đến gần nạn nhân trong khoảng cách dưới 30m, trừ trường hợp giữa người có hành vi bạo lực gia đình và nạn nhân có sự ngăn cách như tường, hàng rào hoặc các vật ngăn cách khác, bảo đảm đủ an toàn cho nạn nhân; Sử dụng điện thoại, fax, thư điện tử hoặc các phương tiện thông tin khác để thực hiện hành vi bạo lực với nạn nhân (Điều 8, Nghị định 08)
Thẩm quyền áp dụng biện pháp này thuộc về Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra bạo lực gia đình và Toà án đang thụ lý hoặc giải quyết vụ án dân sự giữa nạn nhân bạo lực gia đình và người có hành vi bạo lực gia đình. Quyết định cấm tiếp xúc có hiệu lực ngay sau khi ký.
Điều kiện để áp dụng biện pháp này bao gồm: Có đơn yêu cầu của nạn nhân bạo lực gia đình, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; trường hợp cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có đơn yêu cầu thì phải có sự đồng ý của nạn nhân bạo lực gia đình; Hành vi bạo lực gia đình gây tổn hại hoặc đe doạ gây tổn hại đến sức khỏe hoặc đe doạ tính mạng của nạn nhân bạo lực gia đình; Người có hành vi bạo lực gia đình và nạn nhân bạo lực gia đình có nơi ở khác nhau trong thời gian cấm tiếp xúc (Nơi ở này bao gồm nhà của người thân, bạn bè, địa chỉ tin cậy hoặc nơi ở khác mà nạn nhân bạo lực gia đình tự nguyện chuyển đến ở)
Người có hành vi bạo lực gia đình chỉ được tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình sau khi báo cáo với người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi cư trú của nạn nhân bạo lực gia đình trong một số trường hợp sau: Gia đình có việc tang lễ, cưới hỏi; Gia đình có người bị tai nạn, bị bệnh nặng; Luận văn: Thực trạng về phòng chống bạo lực gia đình ở Quảng Trị.
Khi nhận được quyết định cấm tiếp xúc của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc của Toà án có thẩm quyền thì người đứng đầu cộng đồng dân cư phối hợp với tổ chức có liên quan ở cơ sở để phân công người giám sát việc thực hiện quyết định cấm tiếp xúc.
Người có hành vi bạo lực gia đình vi phạm quyết định cấm tiếp xúc có thể bị áp dụng biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính trong các trường hợp: Có đơn đề nghị của nạn nhân bạo lực gia đình; Người vi phạm quyết định cấm tiếp xúc đã bị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nhắc nhở nhưng vẫn cố tình vi phạm.
Biện pháp cấm tiếp xúc được hủy bỏ trong các trường hợp sau đây: Có đơn yêu cầu của nạn nhân bạo lực gia đình; Biện pháp này không còn cần thiết; Phát hiện những thông tin sai lệch làm căn cứ ra quyết định. Quyết định hủy bỏ biện pháp cấm tiếp xúc có hiệu lực ngay sau khi ký.
Có thể nói các quy định về biện pháp cấm tiếp xúc rất chặt chẽ, không phải vụ bạo lực gia đình nào cũng áp dụng được biện pháp này mà yêu cầu cần phải có sự đồng ý của nạn nhân bạo lực gia đình. Thực tế cho thấy, một số trường hợp bạo lực gia đình gây hậu quả rất nghiêm trọng, đe dọa đến tính mạng của nạn nhân, nếu không có biện pháp cấm tiếp xúc để cách ly giữa họ thì sẽ có nguy cơ chuyển thành tội phạm hoặc thậm chí án mạng có thể xảy ra. Vì vậy, biện pháp cấm tiếp xúc được xem là một trong những biện pháp đặc biệt và có thể coi là quy định mang tính đột phá để đảm bảo sự an toàn cho nạn nhân, giảm thiểu hậu quả bạo lực gia đình, hạn chế phát sinh tội phạm. Tuy nhiên, xét trên bình diện phong tục tập quán của người Việt Nam thù tính khả thi của nó lại không cao và do đó khó có thể đạt được hiệu quả mong muốn trên thực tế.
2.5. Xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình Luận văn: Thực trạng về phòng chống bạo lực gia đình ở Quảng Trị.
Điều 42, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định về xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình như sau:
- Người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
- Cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân có hành vi bạo lực gia đình nếu bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định của khoản 1 Điều này thì bị thông báo cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người đó để giáo dục.
- Chính phủ quy định cụ thể các hành vi vi phạm hành chính về phòng, chống bạo lực gia đình, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.”
Như vậy, cũng như các loại vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực khác, khi chủ thể có hành vi vi phạm trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình, chủ thể phải chịu trách nhiệm pháp lý tùy theo mức tính chất và mức độ vi phạm. Quy định này sẽ giúp cho việc phòng, chống bạo lực gia đình đạt được kết quả cao hơn bởi trước đây, rất nhiều chủ thể chưa nhận thức được hậu quả mình phải gánh chịu khi thực hiện hành vi bạo lực gia đình, đồng thời là tiếng chuông cảnh tỉnh cho những ai có ý định, hành động bạo lực đối với những người thân của mình.
Theo quy định trên, người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình có thể bị xử lý bằng các biện pháp khác nhau, bao gồm:
2.5.1. Xử lý kỷ luật
Hình thức xử lý kỷ luật được áp dụng với những người là cán bộ, công chức theo quy định tại Điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2008, đã có hành vi vi phạm Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Các hình thức kỷ luật đối với cán bộ bao gồm: Khiển trách; Cảnh cáo; Cách chức; Bãi nhiệm. Các hình thức kỷ luật đối với công chức bao gồm: Khiển trách; Cảnh cáo; Hạ bậc lương; Giáng chức; Cách chức; Buộc thôi việc.
Việc áp dụng các hình thức kỷ luật với cán bộ, công chức tuân thủ theo những quy định của pháp luật. Hiện nay, chưa có văn bản pháp luật nào hướng dẫn việc xử lý kỷ luật với cán bộ, công chức có hành vi bạo lực gia đình; tuy nhiên các cơ quan, đơn vị có thẩm quyền có thể căn cứ vào Điều 42, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và Điều 78, Điều 79, Luật Cán bộ công chức để đưa ra hình thức kỷ luật hợp lý.
Cán bộ, công chức không chỉ chiếm số lượng lớn mà còn là đối tượng có khả năng gây ảnh hưởng tới đời sống xã hội. Việc pháp luật quy định về việc kỷ luật cán bộ, công chức có hành vi bạo lực gia đình là cơ sở để thực thi công tác phòng, chống bạo lực gia đình một cách có hiệu quả.
2.5.2. Xử lý hành chính Luận văn: Thực trạng về phòng chống bạo lực gia đình ở Quảng Trị.
Những quy định cụ thể về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình đã được ghi nhận tại Nghị định 110. Nghị định này quy định rất chi tiết về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, thẩm quyền, nguyên tắc, hình thức xử phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ… Theo đó:
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình là hành vi bạo lực gia đình và các hành vi khác do tổ chức, cá nhân thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.
Các hành vi vi phạm hành chính khác trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình không quy định tại Nghị định này thì áp dụng theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước có liên quan; hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em thì thực hiện xử phạt theo quy định của pháp luật xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Người có hành vi bạo lực gia đình có thể bị áp dụng các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
“1. Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình, cá nhân, tổ chức vi phạm bị áp dụng một trong các hình thức xử phạt chính sau:
- Cảnh cáo;
- Phạt tiền.
Mức phạt tiền cụ thể đối với từng hành vi vi phạm được quy định tại Chương II Nghị định này.
Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình có thể bị phạt tiền từ 100.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Luận văn: Thực trạng về phòng chống bạo lực gia đình ở Quảng Trị.
2. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau:
- Tước quyền sử dụng Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động, Chứng chỉ hành nghề;
- Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.
3. Ngoài các hình thức xử phạt được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả sau:
- Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra;
- Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh do vi phạm hành chính gây ra;
- Buộc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khoẻ con người, vật nuôi và cây trồng, văn hóa phẩm độc hại;
- Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu.
4. Người nước ngoài vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình trên lãnh thổ Việt Nam còn có thể bị xử phạt trục xuất. Trục xuất được áp dụng là hình thức xử phạt chính hoặc xử phạt bổ sung trong từng trường hợp cụ thể. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng hình thức xử phạt trục xuất thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành về xử phạt trục xuất theo thủ tục hành chính.” (Điều 4)
2.5.3. Xử lý theo pháp luật dân sự
Điều 4, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực gia đình là “Bồi thường thiệt hại cho nạn nhân bạo lực gia đình khi có yêu cầu và theo quy định của pháp luật”(Khoản 4). Điều 42 của Luật này cũng ghi nhận: “Người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình… nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật” (Khoản 1). Những quy định này là hoàn toàn phù hợp với quy định của Điều 604, Bộ luật Dân sự:
“Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” Luận văn: Thực trạng về phòng chống bạo lực gia đình ở Quảng Trị.
Các nguyên tắc bồi thường, xác định thiệt hại… được xác định theo quy định của pháp luật dân sự. Tuy nhiên, trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình, người gây ra thiệt hại phải bồi thường và người được bồi thường lại là những thành viên trong cùng một gia đình với những mối liên hệ chặt chẽ về tình cảm cũng như về kinh tế, nên vấn đề bồi thường trở nên rất nhạy cảm và tế nhị, có thể đe dọa phá vỡ hạnh phúc gia đình bất cứ lúc nào. Việc thực hiện quy định này khó có thể đạt được mục đích răn đe. Bởi lẽ thường thì vấn đề tài chính của người bị phạt và nạn nhân bạo lực gia đình là một và cũng có lúc người đứng ra nộp phạt giúp lại là nạn nhân. Từ đó tạo ra lối tư duy tiêu cực của những người tố giác hành vi bạo lực dẫn đến hệ quả là khó cải thiện được tình hình bạo lực đang diễn ra, cụ thể:
- Trường hợp bồi thường thiệt hại phát sinh giữa cha mẹ và con: Điều 606, Bộ luật Dân sự quy định:
Người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 621 của Bộ luật này.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
Điều 40, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng quy định: “Cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự gây ra”. Như vậy, thiệt hại do người chưa thành niên gây ra thì cha mẹ phải có trách nhiệm bồi thường. Trong trường hợp nếu người con này có hành vi bạo lực, gây thiệt hại cho chính cha mẹ mình thì xử lý như thế nào? Theo quy định của pháp luật thì người con nếu không có tài sản riêng thì cha mẹ phải dùng tài sản để bồi thường thay cho con. Như vậy, người trực tiếp phải bồi thường và người được bồi thường là một, người có hành vi vi phạm không phải chịu thiệt hại gì.
Ngược lại, nếu quan hệ bồi thường phát sinh giữa cha mẹ đối với con: khi cha mẹ có hành vi bạo lực với con, dù họ chỉ là thực hiện việc giáo dục con mà gây ra những tổn thất về thể chất, tinh thần cho trẻ thì cha mẹ cũng phải bồi thường. Nhưng đứa trẻ sống dưới sự chăm lo, nuôi dưỡng của cha mẹ thì việc cha mẹ bồi thường cho con thực hiện như thế nào? Với những người con chưa thành niên, chưa có khả năng quản lý tài sản thì số tiền này do người giám hộ của con là cha mẹ quản lý và được phép chi tiêu vào những hoạt động vì lợi ích của con. Điều này rất dễ dẫn tới những sự không rõ ràng khi mà cha mẹ vẫn là người nuôi dưỡng con, họ hoàn toàn có thể dùng tiền phạt của mình để thực hiện nuôi dưỡng và kết quả là họ hầu như không bị ảnh hưởng gì. Ngoài ra còn có những trường hợp những bậc cha mẹ già sống trong sự phụng dưỡng của các con nhưng lại có hành vi bạo lực với con cái, phải bồi thường theo quy định của pháp luật; nhưng họ không có gì để bồi thường ngoài số tiền được con cái cho, nên việc bồi thường về căn bản không được thực hiện trên thực tế.
Một trường hợp bồi thường trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình cũng khá phổ biến là bồi thường thiệt hại giữa vợ và chồng. Có những trường hợp người vợ hoặc người chồng không có thu nhập, không có tài sản riêng mà lại có hành vi bạo lực gia đình và phải bồi thường cho chồng hoặc vợ mình. Về nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung hợp nhất. Nên khi phát sinh nghĩa vụ bồi thường thì phải chia khối tài sản chung của vợ chồng, xác định phần tài sản tiền của mỗi người để thực hiện nghĩa vụ. Điều này có thể làm xáo trộn gia đình, ảnh hưởng tới kinh tế cũng như khả năng sản xuất kinh doanh của gia đình. Người được bồi thường lại phải gánh chịu những hậu quả bất lợi từ việc bồi thường gây ra, nên trong nhiều trường hợp họ cũng không muốn nhận, thậm chí còn phải thực hiện nghĩa vụ thay cho vợ, chồng mình để bảo toàn tài sản gia đình. Việc thi hành án trong những trường hợp này cũng rất lòng vòng và lãng phí. Đây là vấn đề vướng mắc cần được tiếp tục nghiên cứu giải quyết. Luận văn: Thực trạng về phòng chống bạo lực gia đình ở Quảng Trị.
Ngoài ra, một quy định khác của pháp luật hôn nhân có thể áp dụng trong phòng, chống bạo lực gia đình là hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
Khi cha, mẹ đã bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; phá tán tài sản của con; có lối sống đồi truỵ, xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội thì tuỳ từng trường hợp cụ thể Toà án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 42 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ một năm đến năm năm. Toà án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này (Điều 41, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000).
Với quy định này, khi người cha, mẹ có hành vi bạo lực gia đình với con thì có thể bị hạn chế quyền của cha mẹ đối với con. Khi bị áp dụng chế tài này có thể đảm bảo quyền lợi của đứa trẻ: hạn chế ảnh hưởng của người đã có hành vi bạo lực với chúng, ngăn chặn những hành vi tương tự xảy ra, bảo đảm sự an toàn, bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của chúng. Tuy nhiên, việc tách đứa trẻ ra khỏi bố mẹ có thể làm phát sinh những hậu quả nhất định, tác động xấu tới sự trưởng thành của chúng, do đó cần được xem xét và cân nhắc cẩn thận. Do pháp luật chưa có quy định cụ thể về “hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; phá tán tài sản của con; có lối sống đồi truỵ, xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội” người áp dụng pháp luật cần xem xét từng trường hợp cụ thể, hành vi bạo lực đã rơi vào quy định này hay chưa để đưa ra quyết định đúng đắn.
2.5.4. Xử lý theo pháp luật hình sự Luận văn: Thực trạng về phòng chống bạo lực gia đình ở Quảng Trị.
Hiện nay, Bộ luật Hình sự đã có phần riêng quy định về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình (Chương XV), trong đó có những tội liên quan tới bạo lực gia đình gồm:
Điều 146. Tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.
Cưỡng ép kết hôn là dùng mọi thủ đoạn bắt buộc người khác (bên nam, bên nữ hoặc cả hai bên) phải kết hôn trái với ý muốn của họ.
Cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ là dùng mọi thủ đoạn để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện kết hôn theo luật định hoặc có hành vi cản trở người khác duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc buộc họ phải cắt đứt quan hệ hôn nhân đó.
Hành vi cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ được thực hiện bằng nhiều thủ đoạn khác nhau như hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc thủ đoạn khác.
Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT/BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn áp dụng các quy định tại Chương XV “Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình” của Bộ luật Hình sự năm 1999: chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này khi người vi phạm đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. Nghĩa là trước đó người này đã bị xử phạt hành chính về một trong những hành vi được liệt kê trong Điều 146 này, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà lại thực hiện chính hành vi đó hoặc một trong những hành vi được liệt kê trong điều luật này.
Thông thường, chủ thể của tội này là bên nam hoặc bên nữ muốn kết hôn; người có ảnh hưởng nhất định trong gia đình của bên nam hay bên nữ (ông, bà, cha, mẹ, anh, chị…) người có ảnh hưởng trực tiếp đến bên nam hoặc bên nữ (người vợ cũ, chồng cũ, con sau khi ly hôn, người tình cũ…); người có ảnh hưởng trong công tác (thủ trưởng đối với nhân viên) hoặc về tín ngưỡng, tôn giáo (như: các chức sắc trong tôn giáo đối với tín đồ) Điều 151. Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình.
Người nào ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ, chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm Hành vi ngược đãi, hành hạ thông thường được hiểu là việc đối xử tồi tệ về ăn, mặc, ở và về các mặt sinh hoạt thường ngày khác đối với người thân như: nhiếc móc, bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, mặc rách một cách không bình thường hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm tới thân thể người bị hại như: đánh đập, giam hãm… làm cho người bị hại đau đớn về thể xác và tinh thần. Luận văn: Thực trạng về phòng chống bạo lực gia đình ở Quảng Trị.
Hành vi ngược đãi, hành hạ gây hậu quả nghiêm trọng, tức là làm cho người bị ngược đãi, hành hạ luôn luôn bị giày vò về mặt tình cảm, bị tổn thất về danh dự, đau khổ về tinh thần hoặc bị thương tích, tổn hại đến sức khỏe. Hậu quả thương tích hay tổn hại đến sức khỏe là do lỗi vô ý. Nếu làm chết người thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vô ý làm chết người.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình tại Quảng Trị

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
