Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về tội cướp giật tài sản tại Đà Nẵng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Tình hình đặc điểm có liên quan và thực trạng áp dụng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cướp giật tài sản từ thực tiễn địa bàn thành phố Đà Nẵng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Đặc điểm tình hình có liên quan đến áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
2.1.1. Tình hình kinh tế – xã hội
Đà Nẵng là địa bàn có vị trí trọng yếu về quốc phòng – an ninh, kinh tế – xã hội ở khu vực miền Trung – Tây Nguyên và cả nước. Dân số ngày một gia tăng, đồng thời cũng là điểm đến hấp dẫn của số lượng lớn khách du lịch, đây là những đặc điểm khiến tình hình an ninh chính trị, trật tự trị an ở đây có những diễn biến phức tạp. Thành phố Đà Nẵng là thành phố tổng hợp đa ngành, đa lĩnh vực; trung tâm chính trị – kinh tế – xã hội với vai trò là trung tâm công nghiệp, tài chính, du lịch, dịch vụ, văn hóa, giáo dục – đào tạo, y tế chất lượng cao, khoa học – công nghệ, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo của khu vực Miền Trung – Tây Nguyên và cả nước; trung tâm tổ chức các sự kiện tầm khu vực và quốc tế. Thành phố Đà Nẵng có vị trí địa lý thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững khi nằm ở vị trí chính giữa của mảnh đất hình chữ S với các tuyến đường bộ, đường sắt, đường hàng không chạy qua trên trục giao thông Bắc Nam các khu công nghiệp và Vùng kinh tế được ưu đãi đầu tư và phát triển năng động.
Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 vẫn đang tiếp tục diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam, đang gây ra nhiều tác động rất lớn đến kinh tế – xã hội của Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng. Kinh tế thành phố Đà Nẵng trong năm 2026 không thể duy trì được mức tăng như những năm trước, nhiều chỉ tiêu kinh tế quan trọng của thành phố sụt giảm và có mức tăng trưởng khá thấp.
Trải qua hơn 32 năm phát triển, thành phố Đà Nẵng đã có sự thay đổi chuyển biến sâu sắc và toàn diện trên tất cả mọi mặt của đời sống xã hội và trong những năm gần đây, Đà Nẵng tích cực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cải thiện môi trường, nâng cao an sinh xã hội và được coi là “Thành phố đáng sống nhất Việt Nam”. Tuy nhiên song hành cùng với sự phát triển đi lên của nền kinh tế – xã hội, cũng như các địa phương khác trong cả nước. Tình hình vi phạm và tội phạm trong những năm gần đây của nước ta có chiều hướng gia tăng.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng Luận văn: Thực trạng pháp luật về tội cướp giật tài sản tại Đà Nẵng.
Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng hiện có 5 Toà chuyên trách, 03 Phòng nghiệp vụ và 07 Toà án quận huyện. Hệ thống Toà án nhân dân hai cấp thành phố Đà Nẵng bao gồm: Tòa án nhân dân cấp thành phố và 7 đơn vị trực thuộc trong đó có 6 Tòa án cấp Quận và 1 Tòa án cấp huyện với tổng biên chế hiện nay là 213 người (Trong đó Thẩm phán trung cấp 29 người, Thẩm phán sơ cấp 59 người, thẩm tra viên 09 người, thư ký tòa án 88 người và một số chức danh biên chế khác 28 người). (Nguồn: theo báo cáo của Phòng tổ chức cán bộ Toà án nhân dân TP Đà Nẵng cung cấp)
Được sự quan tâm của lãnh đạo Toà án nhân dân tối cao, sự hỗ trợ của lãnh đạo thành phố Đà Nẵng đến nay cơ sở vật chất của ngành Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác, từng bước hiện đại. Trụ sở của Toà án thành phố Đà Nẵng và Toà án các quận huyện được đầu tư xây mới, sửa chữa. Đặc biệt Công trình xây mới trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng được lãnh đạo Toà án nhân dân tối cao xác định là công trình trọng điểm ưu tiên về vốn xây dựng theo yêu cầu đảm bảo cơ sở vật chất cho hoạt động tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ chính trị. Công trình gồm khối nhà 6 tầng, diện tích sử dụng là 11.967m2, được xây dựng trên lô đất có diện tích 6.537m2 với trang thiết bị hiện đại. Sau gần 02 năm xây dựng Công trình đã hoàn thành đưa vào sử dụng từ đầu năm 2019. Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng sau nhiều năm đóng tại 38 Bạch Đằng – Đà Nẵng nay chuyển về địa chỉ mới tại 374 Núi Thành, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Với những thành tích đạt được trên các mặt công tác, Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng và các Toà án quận huyện nhiều năm được tặng Cờ Thi đua của Chính phủ, Cờ thi đua ngành của Bộ Tư pháp, Cờ thi đua ngành Toà án nhân dân nhân dân và của Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Nẵng và nhiều Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Nẵng. Đặc biệt, năm 2016, kỷ niệm 65 năm ngày thành lập ngành Toà án nhân dân, Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân Chương Lao động hạng I. Đến nay Toà án nhân dân quận Hải Châu, Toà án nhân dân quận Thanh Khê và Toà án nhân dân huyện Hoà Vang đã được tặng thưởng Huân Chương Lao động hạng II; Tòa Hình sự Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng và Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng III của Chủ tịch nước. Trong bối cảnh hội nhập, hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng của nước ta và trước yêu cầu nhiệm vụ cải cách tư pháp, nhiệm vụ đặt ra đối với ngành Toà án nhân dân ngày càng nặng nề, với yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao. Thẩm phán, cán bộ công chức ngành Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng quyết tâm phấn đấu, không ngừng học tập, rèn luyện để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ đặt ra, xứng đáng với vai trò, vị trí trung tâm trong hệ thống các cơ quan tư pháp, cơ quan thực hiện quyền tư pháp; kế thừa, nối tiếp truyền thống vẻ vang của ngành được xây dựng, cống hiến qua các thế hệ cán bộ lãnh đạo, công chức ngành Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng trước đây và Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng ngày nay. Luận văn: Thực trạng pháp luật về tội cướp giật tài sản tại Đà Nẵng.
2.1.3. Tình hình xét xử các vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Thực hiện Nghị quyết 08- NQ/TW ngày 02/01/2008 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” và đặc biệt là Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2011 của Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2026. Ngành Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã đạt được những kết quả tích cực. Toà án nhân dân thành phố và Toà án các quận huyện luôn chú trọng thực hiện cải cách thủ tục hành chính tư pháp trong việc tiếp nhận đơn khởi kiện và các thủ tục tư pháp tại Toà án; thực hiện công khai, đơn giản hoá thủ tục hành chính tư pháp. Trong công tác xét xử ngành Toà án thành phố Đà Nẵng đẩy mạnh thực hiện tranh tụng, lấy kết quả tranh tụng tại phiên toà làm căn cứ phán quyết của Hội đồng xét xử nhằm nâng cao chất lượng công tác xét xử, giải quyết án. Trong thời gian qua, Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng không để xảy ra trình trạng kết án oan người không phạm tội hay bỏ lọt tội phạm.
- Bảng 2.1. Số liệu về công tác giải quyết, xét xử án hình sự của tòa án nhân dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2021 đến hết tháng 6 năm 2026
Trong giai đoạn từ năm 2021-T6/2026, Tòa án hai cấp trên địa bàn TP Đà Nẵng đã đưa ra xét xử hình sự 3755 vụ án, xử phạt 5994 bị cáo.
Tỷ lệ giải quyết các vụ án hình sự trong giai đoạn 2021 – T6/2026 đạt 99,5% và vượt chỉ tiêu xét xử đã đề ra. Chất lượng giải quyết, xét xử các vụ án hình sự về cơ bản đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
2.1.4 Đặc điểm tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Trong thời gian vừa qua, tình hình tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói chung vẫn diễn biến phức tạp. Áp dụng pháp luật đối với tội cướp giật tài sản do các cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành bao gồm Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát và Tòa án. Tuy nhiên, để đánh giá đúng và sát thực trạng áp dụng pháp luật đối với tội cướp giật tài sản mang tính chính thống và chính thức của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, cần làm rõ một số đặc điểm điểm tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian (2021-T6/2026).
- Bảng 2.2. Mức độ tổng quan của tình hình tội CGTS trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2021 đến hết tháng 6/2026
Qua Bảng 2.2 có thể nhận thấy trong thời gian từ năm 2021 đến hết tháng 6/2026 Toà án nhân dân TP Đà Nẵng đã xét xử 102 vụ án với 287 bị cáo phạm tội cướp giật tài sản. Tính trung bình mỗi năm Toà án nhân dân TP Đà Nẵng xét xử khoản hơn 20 vụ với 49 bị cáo. Tình hình các tội xâm phạm sở hữu nói riêng tại TP Đà Nẵng được thể hiện ở Bảng 2.3 và Bảng 2.4
- Bảng 2.3. Tỷ lệ các tội CGTS trong tình hình tội phạm nói chung trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2021 đến tháng 6/2026 Luận văn: Thực trạng pháp luật về tội cướp giật tài sản tại Đà Nẵng.
- Bảng 2.4. Tỷ lệ các tội CGTS trong tình hình các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2021 đến tháng 6/2026
Theo số liệu tại Bảng 2.3 và Bảng 2.4 cho thấy, giai đoạn 2021 đến hết tháng 6/2026, tại TP Đà Nẵng có 112 vụ án CGTS được xét xử với 287 bị cáo (Trong đó, năm 2022 có số vụ phạm tội ít nhất với 17 vụ, ngược lại năm 2025 có số vụ án cướp giật nhiều nhất với 23 vụ). Bên cạnh đó, khi phân tích về số vụ/ bị cáo cũng phải xem xét đến tình hình xét xử 06 tháng đầu năm 2026. Bởi do tình hình diễn biến của dịch bệnh Covid-19 nên hầu hết các phiên tòa đều bị hoãn xét xử trong tháng 3 và tháng 4, tháng 1 mất khoảng 10 ngày nghỉ tết nên phần nào vẫn chưa phản ánh được hết kết quả xét xử của Tòa án.
Phân tích số liệu báo cáo về tình hình tội CGTS và tội phạm sở hữu tại TP Đà Nẵng trong thời gian qua cho thấy: Trong giai đoạn nghiên cứu số vụ án cướp giật là 102 vụ được đưa ra xét xử chiếm 7,97% tổng vụ án về tội phạm sở hữu (1.280 vụ). Trong khi đó, tỷ lệ bị cáo bị khởi tố trong giai đoạn này liên quan đến tội phạm về CGTS là 287 bị cáo chiếm 15,83%.
Trong khi đó, khi so sánh về tỷ lệ vụ án cướp giật so với tổng số vụ án khởi tố tại TP Đà Nẵng thì rõ ràng năm 2021, 2025 có tỷ lệ tương đối cao so với các năm còn lại. Tuy nhiên, về tiêu chí bị cáo thì tỷ lệ có xu hướng tăng từ năm 2021 đến năm 2025.
- Bảng 2.5. Cơ cấu về hình phạt được áp dụng đối với những người phạm tội CGTS trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2021 đến hết tháng 6/2026
Qua Bảng 2.5 số liệu cho thấy loại hình phạt chính được Tòa án áp dụng khi xét xử tội cướp giật tài sản chủ yếu là hình phạt tù, từ ba năm đến bảy năm là nhiều nhất (63,06%), đang ở giai đoạn nghiên cứu (từ năm 2021 đến hết tháng 6/2026) tổng số hình phạt được áp dụng đối với 181/287 bị cáo (đã xét xử có bản án) về tội này. Từ một năm đến dưới ba năm (29,27%), tương ứng với 84/287 bị cáo (đã xét xử có bản án) về tội này. Tiếp đến là hình phạt trên 07 năm đến 15 năm (7,67%) tổng số hình phạt được áp dụng đối với 22/287 bị cáo (đã xét xử có bản án) về tội này. Từ trên 15 năm và tù chung thân ở giai đoạn này (2021 đến hết tháng 6/2026), thì Toà án nhân dân các cấp tại TP Đà Nẵng không có áp dụng đối với khung hình phạt này.
- Đặc điểm nhân thân của người phạm tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Từ thực tiễn nghiên cứu trực tiếp khoảng 80 hồ sơ vụ án phạm tội Cướp giật tài sản đã có hiệu lực pháp luật thi hành tác giả nhận thấy Toà án nhân dân hai cấp thành phố Đà Ngẵng xét xử trong những năm qua học viên nhận thấy. Các cơ quan tiến hành tố tụng hai cấp thành phố Đà Nẵng (Cơ quan điều tra của Công an, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân), cũng như những người tiến hành tố tụng hai cấp của thành phố Đà Nẵng (Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán) đã thực hiện tốt việc định tội danh cướp giật tài sản, theo quy định tại Điều 171 Bộ luật hình sự 2021, cụ thể như sau:.
Qua nghiên cứu khảo sát đặc điểm nhân thân của các bị cáo được đưa ra xét xử về tội cướp giật tài sản trong thời gian từ năm 2021 đến 06 tháng đầu năm 2026 rút ra một số đặc điểm sau:
- Về giới tính Luận văn: Thực trạng pháp luật về tội cướp giật tài sản tại Đà Nẵng.
Qua nghiên cứu khảo sát 126 vụ án cướp giật tài sản thì số đối tượng là nam giới chiếm tỉ lệ cao 118/126 vụ (chiếm 93,65%), số đối tượng là nữ giới (08 đối tượng, chiếm 6,35%). Nam giới chiếm tỉ lệ cao hơn nữ giới trong cơ cấu tội cướp giật tài sản nên khi tiến hành các biện pháp phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản cần chú ý tập trung vào các đối tượng là nam.
- Về độ tuổi
Các bị cán, bị cáo phạm tội Cướp giật tài sản thường là người trẻ tuổi (dưới 30 tuổi, trong số này có một số là người dưới 18 tuổi) lười lao động, có lối sống phóng khoáng thích ăn chơi đua đòi, hay rủ nhau tụ tập uống rượu và chơi ma túy (để tìm cảm giác lạ). Sau khi hết tiền, để tiếp tục cuộc chơi những người này đã nảy sinh y định trộm cướp giật tài sản để lấy tiền tiêu sài. Phần lớn các bị can, bị cáo đều là người có có trình độ văn hóa thấp (có những trường hợp không được đi học và bỏ học từ khi con nhỏ tuổi), không có nghề nghiệp hoặc có nhưng lười lao động chân chính, không chịu tu dưỡng rèn luyện đạo đức, những ham muốn đua đòi như ăn nhậu, bài bạc, cá độ bóng đá.
- Về thời gian, địa điểm, phương pháp, thủ đoạn phạm tội:
Bọn tội phạm thường thực hiện ở các tuyến đường tập trung đông đúc, nhiều người dân và du khách, thông thường tại các khu vực du lịch dịch vụ như mua sắm, ăn uống,… du khách và người dân thường xuyên qua lại. Tài sản cướp giật thường là những tài sản gọn nhẹ, có giá trị như giỏ xách, điện thoại di động, dây chuyền. húng thường theo dõi những người có mang theo tài sản gọn nhẹ, có giá trị, dễ tiêu thụ (ĐTDĐ, máy chụp hình, nữ trang, túi xách, vàng, tiền mặt…), đáng chú ý là những khách hàng đến rút tiền, vàng tại ngân hàng, điểm giao dịch, tiệm vàng… Thủ đoạn hoạt động của bọn tội phạm này rất táo bạo, quyết liệt bất chấp mọi nguy hiểm đến tính mạng và sức khỏe của người khác. Sử dụng các loại xe nhỏ gọn có tốc độ cao, gắn bảng số giả đi trên đường phố, phát hiện sơ hở của nạn nhân liền áp sát gây án, nhanh chóng tẩu thoát khỏi hiện trường, khi bị truy đuổi sẵn sàng sử dụng hung khí mang theo chống trả. Địa bàn hoạt động chủ yếu là ở những nơi tập trung đông người (bến xe, nhà ga, chợ, trung tâm thương mại…); trong đó khu vực xung quanh trường học, ký túc xá sinh viên cũng là nơi các đối tượng thường xuyên gây án, thời gian hoạt động phần lớn trong khoảng từ 06h00 đến 11h00 và từ 13h00 đến 18h00.
2.2. Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Luận văn: Thực trạng pháp luật về tội cướp giật tài sản tại Đà Nẵng.
2.2.1. Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Trung bình một năm trong thời gian từ năm 2021 hết tháng 6/2026, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử 20,36 vụ án và 49,27 bị cáo về tội cướp giật tài sản. Về cơ bản Tòa án các cấp đã xét xử đúng người, đúng pháp luật và đúng tội. Tuy nhiên, trong thời gian này, việc thay đổi tội danh có 02 vụ án và 05 bị cáo, chiếm tỷ lệ tương đối ít là 1,78 % số vụ án và 1,84 % số bị cáo, cụ thể như sau:
- Tòa án cấp sơ thẩm xác định tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm xác định là tội cướp giật tài sản
Cụ thể, tại Bản án hình sự phúc thẩm số 201/2021/HSPT ngày 15/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Bùi Văn Th và đồng phạm về tội cướp giật tài sản. Nguyên nhân là do nhận thức không đúng về các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm của tội phạm cụ thể về sở hữu được quy định trong Bộ luật hình sự, áp dụng văn bản hướng dẫn chưa đầy đủ và do đánh giá không đúng các tình tiết vụ án, từ đó dẫn đến xác định không đúng tội danh của tòa án cấp sơ thẩm.
Theo hồ sơ vụ án, do có nhu cầu mua điện thoại, Th lên mạng và biết T. đang rao bán điện thoại nên liên hệ mua. Ngày 5/6/2021, Th rủ Đ đi cùng đến gặp T. trao đổi. T. nói bán với giá 1,6 triệu đồng, Thích trả giá 1,5 triệu, hai bên không đồng ý nên Th, Đ ra về.
Đi được khoảng 50 m thì Th nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại nên nói với Đ: “Để tao giả vờ mua điện thoại rồi lợi dụng sơ hở giật lấy điện thoại bỏ chạy”. Thích gọi điện thoại cho T. nói đồng ý mua điện thoại và gọi T. chạy đến giao hàng. Khi T. đến đưa điện thoại cho Thích, lợi dụng lúc nạn nhân đang cúi xuống, cả hai liền phóng xe bỏ chạy.
Với hành vi này, hai bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê truy tố về tội cướp giật tài sản. Xử sơ thẩm, Toà án nhân dân quận Thanh Khê nhận định dù hai bị cáo có thỏa thuận trước việc cướp giật nhưng ý thức của nạn nhân thì do tin tưởng các bị cáo sẽ mua nên mới đến giao dịch. Hành vi chiếm đoạt điện thoại của các bị cáo là dựa trên hợp đồng gian dối, nạn nhân tự nguyện đưa điện thoại chứ các bị cáo không có hành vi giật từ tay nạn nhân. Từ đó tòa xử Th 12 tháng tù, Đ chín tháng tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Luận văn: Thực trạng pháp luật về tội cướp giật tài sản tại Đà Nẵng.
Sau đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê kháng nghị yêu cầu tăng án và tuyên các bị cáo phạm tội cướp giật tài sản. Tại tòa, Viện kiểm sát nhân dân TP Đà Nẵng cho rằng khi nảy sinh ý định “cuỗm” điện thoại của nạn nhân, hai bị cáo đã thống nhất sẽ lợi dụng sơ hở để giật rồi bỏ chạy. Sau đó, nạn nhân đến điểm hẹn, đưa điện thoại cho Thích để nhờ Thích tháo SIM, lợi dụng sơ hở Th và Đ phóng xe bỏ chạy nên phải phạm tội cướp giật mới đúng. Lập luận này được tòa án cấp phúc thẩm đồng tình.
Việc áp dụng pháp luật tội cướp giật tài sản trên thực tế các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng còn phải gặp nhiều vướng mắc, khó khăn. Chủ yếu phát sinh đối với những vụ án hành vi phạm tội của bị cáo không thể hiện rõ ràng các yếu tố Cấu thành tội phạm.
- Tòa án cấp phúc thẩm định tội danh tội cướp giật tài sản theo cấu thành tội phạm tăng nặng và chuyển khung hình phạt:
Tại Bản án hình sự phúc thẩm số: 245/2023/HSPT ngày: 30/11/2023 của Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Huỳnh Khắc V với nội dung như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 05/6/2023, Huỳnh Khắc V mượn xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, BKS: 75E1-051.86 của Nguyễn Đình T (là bạn cùng học trường Đại học P, TP.H với Vinh) đi từ TP.Hội An ra Đà Nẵng thăm mẹ. Đi được một đoạn V nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác để tiêu xài cá nhân và trả nợ. V quay lại phòng trọ số 9C1 – Ký túc xá trường Đại học P chuẩn bị 01 túi xách da màu nâu, 01 đôi bao tay bằng vải, 01 khẩu trang y tế, 01 cuộn băng keo 2 mặt, 01 đôi giày thể thao, 01 con dao thái lan, xuống sân ký túc xá V nhặt thêm 01 cục đá granit cỡ 4 x 6 cm buộc vào đầu thanh gỗ dài khoảng 30cm rồi bỏ vào ba lô vải màu đen kẹp giữa xe chạy ra Đà Nẵng. Khi điều khiển xe đến đoạn Cầu Biện (thuộc P.Hòa Hải, Q. Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng), V phát hiện thấy hiệu vàng Đ đường Lê Văn Hiến vắng người nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của tiệm vàng Đ, V điều khiển xe chạy qua lại 2 vòng để quan sát. Đến khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày, khi thấy ông Huỳnh Phú P và bà Đoàn Thị Mỹ H (vợ chồng chủ hiệu vàng Đ) đi vào bên trong nhà, V liền dừng xe cách tiệm vàng khoảng 15 mét, mở ba lô lấy con dao thái lan bỏ vào túi xách đeo trước ngực, tay trái cầm thanh gỗ có cục đá đi vào hiệu vàng đập mạnh đầu có cục đá vào mặt trước tủ kính đựng trang sức làm kính vỡ. V dùng tay phải thò vào tủ hốt một nắm trang sức bằng vàng (không xác định số lượng) rồi bỏ chạy. Anh P phát hiện tri hô “cướp”, “cướp”. V hoảng quá cầm trang sức trên tay bỏ chạy bị anh P đuổi theo dùng ghế nhựa đánh vào lưng V nhưng không gây thương tích gì, V tiếp tục lên xe nổ máy bỏ chạy trên đường Lê Văn Hiến theo hướng về Quận Sơn Trà. Đến cầu Biện, thì bị anh Ngô M là người đi đường dùng chân đạp vào xe môtô của V làm V ngã xuống đường. V dựng xe tiếp tục chạy thì anh P chạy đến dùng tay kéo xe V lại, cùng lúc đó anh Trần Văn T cũng sử dụng xe mô tô của mình đâm thẳng vào xe của V. V tăng ga kéo theo anh P một đoạn buộc anh P buông tay rồi chạy trên đường Lê Văn Hiến theo hướng Sơn Trà. V điều khiển xe ra bãi đậu xe khu danh thắng Ngũ Hành Sơn, tháo bỏ găng tay bằng da và vải, khẩu trang bằng vải, áo khoác vải màu xám, túi xách da nhằm che dấu tung tích. Sau đó, V về lại TP. H, trả xe cho anh Nguyễn Đình Trồi về Ký túc xá ngủ. Theo lời khai của bị cáo Huỳnh Khắc V thì số trang sức mà Vinh chiếm đoạt của hiệu vàng Đ bị rơi tại hiện trường trong quá trình giằng co, tẩu thoát, còn theo bị hại Huỳnh Phú Phúc khai thì ngoài 2 chiếc bông tai trị giá 1.088.850 đồng đã nhận lại, hiệu vàng Đ còn bị mất 11 đôi bông tai bằng vàng tây trị giá 23.000.000đ. Qua điều tra, đấu tranh, truy xét, Huỳnh Khắc V còn khai nhận: Tối ngày 27/5/2023, V mượn xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, BKS: 73H1-310.17 của ông Trương Tuấn A để đi thăm và xin tiền mẹ tại đường Tôn Đản. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, khi quay về Vinh thấy hiệu vàng N trên đường Trường Chinh vắng người, bên trong chỉ có một nam và một nữ, V liền nảy sinh ý định đập tủ lấy vàng, nên chạy lòng vòng để tìm dụng cụ và quan sát. Trên đường đi V nhặt được thanh gỗ tre dài khoảng 40 cm rồi chạy quá hiệu vàng khoảng 15 mét thì dừng lại, tắt máy xe đi bộ lại hiệu vàng dùng 2 tay cầm đoạn cây tre đập mạnh vào kính tủ đựng vàng trang sức nhưng không bể. Người trong hiệu vàng phát hiện tri hô nên V vứt lại thanh tre, lên xe bỏ chạy về lại Hội An. Luận văn: Thực trạng pháp luật về tội cướp giật tài sản tại Đà Nẵng.
Với nội dung nêu trên tại bản án HSST số 31/2023/HSST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn đã quyết định: Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 136; Điểm g khoản 1 Điều 48; điểm b, p khoản 1 khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 2005. Xử phạt: Huỳnh Khắc V 05 (năm) năm tù về tội về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam 07/6/2023.
Ngày 12/10/2023 bị cáo Huỳnh Khắc V có đơn kháng cáo với nội dung: Án sơ thẩm xử nặng – xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa cho rằng: Trong vụ án này khi phạm tội bị cáo Huỳnh Khắc V có hành vi dùng cây tre, cây gỗ có gắn cục đá nhưng chỉ nhằm mục đích để đập vỡ tủ kính trưng bày vàng bạc nhằm chiếm đoạt tài sản của các tiệm vàng, không nhằm mục đích tấn công người bị hại. Tại thời điểm phạm tội bị cáo không sử dụng xe mô tô, sau khi phạm tội bị cáo mới sử dụng xe mô tô để tấu thoát nhưng lúc này thì tội phạm đã hoàn thành. Do đó bị cáo không phạm tội thuộc tình tiết định khung “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” theo điểm a khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự mà hành vi của bị cáo chỉ phạm tội ở khoản 1 Điều 136 Bộ luật Hình sự. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, chuyển khung hình phạt xét xử bị cáo ở khoản 1 Điều 136 Bộ luật Hình sự và giảm cho bị cáo một phần hình. Bị cáo Huỳnh Khắc V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo thừa nhận khi phạm tội có hành vi sử dụng cây tre, cây gỗ có gắn cục đá nhưng chỉ để đập vỡ tủ kính để chiếm đoạt, không nhằm mục đích tấn công người bị hại. Bị cáo cho rằng án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo Điều 136 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, chỉ xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
HĐXX phúc thẩm nhận định: Bản án sơ thẩm nhận định bị cáo sử dụng vật cứng để đập vỡ tủ kính trưng bày vàng bạc, để cướp giật tài sản, rồi dùng xe mô tô để tẩu thoát, trong quá trình tẩu thoát có sự giằng co với người bị hại nhưng bị cáo vẫn bất chấp điều khiển xe bỏ chạy nên đã phạm tội “Cướp giật tài sản” có tình tiết định khung “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự là chưa chính xác. Bởi lẽ bị cáo có hành vi dùng vật cứng như cây tre, cây gỗ có gắn cục đá nhưng chỉ nhằm mục đích đập vỡ tủ kính để cướp giật tài sản, không nhằm mục đích tấn công người bị hại và thực tế diễn biến khách quan của sự việc thể hiện hành vi này của bị cáo cũng không gây nguy hiểm đối với người bị hại và những người khác. Việc bị cáo sử dụng xe mô tô là để tẩu thoát và lúc này tội phạm đã hoàn thành. Do đó hành vi của bị cáo không thuộc trường hợp “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự mà hành vi của bị cáo chỉ phạm tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 136 Bộ luật Hình sự. Do đó, căn cứ giới hạn xét xử phúc thẩm, Hội đồng xét xử sẽ chuyển khung hình phạt, xét xử bị cáo ở khoản 1 Điều 136 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết định khung tăng nặng chưa chính xác. Qua nghiên cứu các vụ án CGTS trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, tác giả nhận thấy giá trị tài sản cướp giật được không lớn và việc áp dụng các tình tiết tăng nặng định khung không chính xác đối với Tội cướp giật tài sản. Việc hiểu không thống nhất về tình tiết định khung tăng nặng “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” trong vụ án nêu trên cũng như một số tình tiết định khung tăng nặng khác như: “Có tổ chức”, “Tái phạm nguy hiểm”, “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”, “Hành hung để tẩu thoát”, “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”, “Gây hậu quả nghiêm trọng”… dễ dẫn đến việc hủy án, sửa án. Luận văn: Thực trạng pháp luật về tội cướp giật tài sản tại Đà Nẵng.
- Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ Trách nhiệm hình sự mới để giảm án cho bị cáo:
Tại bản án hình sự phúc thẩm số: 71/2024/HS-PT ngày 27/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn A với nội dung như sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 06/10/2023, Nguyễn Văn A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 74L1-135.xx (do A làm chủ sở hữu) chạy trên đường B theo hướng Đà Nẵng – Huế thì phát hiện chị Lê Thị Thùy T đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 43K1-129.xx chạy cùng chiều phía trước nên nảy sinh ý định chọc ghẹo. A điều khiển xe chạy lên ngang với chị T rồi có lời chọc ghẹo và dùng tay sờ vào người chị T khiến chị T hoảng sợ nên điều khiển xe chạy vào đường số x Khu công nghiệp H theo hướng Hòa Hiệp Nam – Hòa Liên nhưng A vẫn đuổi theo và tiếp tục dùng tay phải đẩy vào vai của chị T. Khi chị T chạy đến khu dân cư N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng thì thấy có chốt bảo vệ bật đèn sáng nên chạy chậm lại, lúc này trên tay chị T đang cầm 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus màu hồng có ốp lưng màu đỏ trị giá 10.200.000đ. Nguyễn Văn A chạy phía sau chị T thấy chị T chạy xe chậm lại và trên tay có cầm chiếc điện thoại Iphone 6 Plus nên nảy sinh ý định cướp giật chiếc điện thoại này. A điều khiển xe áp sát xe chị T rồi dùng tay phải giật chiếc điện thoại trên tay chị T bỏ vào túi quần rồi tăng tốc xe bỏ chạy đến khu vực đường N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng thì bị lực lượng tuần tra Công an phường H phát hiện cùng với người dân truy đuổi đến khu vực đường B, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng thì bắt được 1 Chiếc điện thoại Iphone 6S Plus lấy của chị T trên đường bỏ chạy A đã làm rơi xuống đường, anh Nguyễn Văn T là người tham gia đuổi theo A đã phát hiện nhặt được và giao nộp Công an phường H. Đối với chị T, sau khi bị A giật điện thoại, chị T và xe của chị T ngã xuống đường nên chị T bị xây xát nhẹ. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn A đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản án sơ thẩm số 11/2024/HS-ST ngày 07/02/2024 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu đã quyết định: Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 2005; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2021. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn A 03 (Ba) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/10/2023. Bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo bản án.
Ngày 11/02/2024, bị cáo Nguyễn Văn A có đơn kháng cáo với nội dung: Án sơ thẩm xử nặng, xin được cứu xét để vụ án được đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngày 26/02/2024, người bị hại Lê Thị Thùy T có đơn kháng cáo với nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm buộc bị cáo bồi thường số tiền mà người bị hại đã sửa chữa chiếc điện thoại là 500.000đ và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Văn A. Luận văn: Thực trạng pháp luật về tội cướp giật tài sản tại Đà Nẵng.
HĐXX phúc thẩm nhận định: Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Vì vậy đối với bị cáo cần phải xử phạt thỏa đáng, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe,phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, trong suốt quá trình, điều tra, truy tố và xét xử bị cáo luôn khai báo thành khẩn, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải; gia đình bị cáo có công cách mạng; sau khi xử sơ thẩm bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho người bị hại số tiền chi phí sửa điện thoại là 500.000đ theo yêu cầu của người bị hại, người bị hại kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đồng thời, gia đình bị cáo cung cấp giấy tờ thể hiện quá trình công tác mẹ bị cáo có nhiều thành tích đóng góp cho địa phương và được tặng nhiều giấy khen. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của người bị hại cũng như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa, sửa án sơ thẩm, giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Tác giả luận văn cho rằng quyết định của Tòa án trong trường hợp này đã tuân thủ các quy định của pháp luật mà Tòa án áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Mức án 03 năm tù mà cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là quá nghiêm khắc. Sau khi xử sơ thẩm, bị cáo tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 500.000đ. Quá trình công tác mẹ bị cáo có nhiều đóng góp trong công tác xã hội tại địa phương và được tặng nhiều giấy khen, gia đình bị cáo có công cách mạng nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2021 đối với bị cáo và chấp nhận kháng cáo của bị cáo cũng như kháng cáo của người bị hại, sửa án sơ thẩm, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt là phù hợp.
2.2.2. Mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong giải quyết vụ án cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Để công tác giải quyết và kiểm sát việc giải quyết vụ án được tiến hành đúng pháp luật, thì cần có sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên và có hiệu quả giữa Viện KSND, Cơ quan điều tra và Tòa án nhân dân.
Tuy nhiên, trên thực tiễn tại nhiều quận huyện, Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (chủ yếu là Cơ quan Cảnh sát điều tra) đã phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm qua “hoạt động nghiệp vụ”, mặc dù đã tiến hành kiểm tra, xác minh nhưng không tiến hành thụ lý, phân công người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và không chuyển nguồn tin đến Viện kiểm sát để Viện kiểm sát thụ lý, phân công Kiểm sát viên theo quy định. Có một số vụ việc kéo dài, không giải quyết triệt để; một số vụ đã vi phạm nghiêm trọng trình tự, thủ tục tố tụng trong quá trình kiểm tra, xác minh, ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia tố tụng. Do pháp luật hiện hành (BLTTHS, TTLT số 01/2023) không quy định về trình tự, thủ tục thụ lý và giải quyết nguồn tin này nên Viện kiểm sát nhân dân cũng không có căn cứ để ban hành Kiến nghị khắc phục vi phạm và Yêu cầu Cơ quan CSĐT thụ lý, giải quyết theo đúng quy định của TTLT số 01/2023 và Bộ luật tố tụng hình sự về trình tự và thời hạn giải quyết theo Điều 147 Bộ luật tố tụng hình sự. Trong giai đoạn 2021 – đến hết tháng 6/2026, số lượng do tố giác tin báo, thông tin cung cấp có giá trị mà các cơ quan pháp luật đã tiến hành điều tra xử lý chỉ có tổng cộng 75 vụ. Tình trạng này cho thấy chỉ trong thời gian ngắn xảy ra nhiều hành vi cướp giật (có khi chỉ trong 1-2 giây cho hành vi CGTS) tác động nhiều nguyên nhân khác nhau như đối tượng ngụy trang phương tiện hóa trang người và đặc biệt dùng thủ đoạn giả vờ tiếp cận bị hại.
2.2.3 Nhận xét, đánh giá Luận văn: Thực trạng pháp luật về tội cướp giật tài sản tại Đà Nẵng.
- Về ưu điểm
Trong 05 năm qua, nhìn chung việc áp dụng pháp luật hình sự về tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng chưa có trường hợp nào xét xử oan người không có tội hoặc bỏ lọt tội phạm, thực hiện đúng và đầy đủ thủ tục tố tụng, không để án quá hạn luật định. Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng qua các bản án được nghiên cứu mà tác giả đã nêu đều cho thấy đa số các bản án đều áp dụng đúng quy định của Bộ luật hình sự về xác định tội danh, định khung và quyết định hình phạt đúng. Các hạn chế, sai sót chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số các vụ án được đưa ra xét xử. Tội cướp giật tài sản là tội phạm có tính phổ biến chiếm tỷ lệ so với các tội phạm khác nên những người tiến hành tố tụng thường xuyên nghiên cứu và vận dụng các quy định của pháp luật nên đều nắm vững các các dấu hiệu pháp lý của tội này.
- Về tồn tại, hạn chế
Bên cạnh các kết quả đã đạt được, trong thời gian qua, Toà án nhân dân hai cấp thành phố vẫn còn một số hạn chế như:
Cho bị cáo hưởng án treo không đúng Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 01/11/2019, Nghị quyết số 02/2024/NQ-HĐTP ngày 15/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trong công tác giải quyết, xét xử theo thủ tục sơ thẩm. Có trường hợp Tòa án lạm dụng áp dụng các tình tiết giảm nhẹ để xử phạt các bị cáo dưới khung hình phạt và giảm tới mức đủ điều kiện để cho các bị cáo được hưởng án Một số bản án không thể hiện rõ tên ủy ban nhân dân xã được giao giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách và không tuyên bị cáo bị áp dụng hình phạt tù theo khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, nếu vi phạm nghĩa vụ thi hành án.
Một số người tiến hành tố tụng chưa chú ý hết các quy định mới của Bộ luật hình sự năm 2021 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2021, dẫn đến nhầm lẫn trong quá trình áp dụng.
Trong công tác xét xử các vụ án hình sự, có một số vụ án còn cải sửa, phần lớn lý do cải sửa là do: Hội đồng xét xử sơ thẩm chưa xem xét, đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, đánh giá chứng cứ chưa toàn diện hoặc giải quyết bồi thường không đúng theo quy định của Bộ luật dân sự. Một số trường hợp hội đồng xét xử còn nặng, nhẹ, chưa đánh giá đầy đủ tính chất, đúng mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, chưa xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo.
- Nguyên nhân của các vướng mắc, hạn chế: Luận văn: Thực trạng pháp luật về tội cướp giật tài sản tại Đà Nẵng.
Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2021 (sửa đổi, bổ sung năm 2023) được ban hành đã đưa ra nhiều nội dung mới, trong đó có quy định về Tội cướp giật tài sản. Bốn tình tiết tăng nặng định khung đối với tội danh này đã được quy định mới, bao gồm: phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh; Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp. Bộ luật hình sự đã có hiệu lực thi hành nhưng cho đến nay, các tình tiết mới này vẫn chưa được cơ quan có thẩm quyền giải thích, hướng dẫn để tạo hành lang pháp lý rõ ràng, thống nhất cho việc áp dụng quy định.
Ngoài ra do sự phát triển của nền kinh tế xã hội nói chung và phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam nói riêng, đặc biệt là đối với Luật hình sự đã có sự thay thế từ Bộ luật hình sự 2005 sang Bộ luật hình sự 2021 nhưng một số các văn bản dưới luật dùng để hướng dẫn thi hành đối với Bộ luật hình sự 2005 đến nay đã lỗi thời, bộc lộ nhiều hạn chế nhưng vẫn chưa được thay thế bằng những văn bản dưới luật khác phù hợp với Bộ luật hình sự 2021, cụ thể như Thông tư liên tịch số 02/2007/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2007 của Liên ngành Trung Ương hướng dẫn áp dụng một số quy định về tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự về dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng” (điểm g khoản 2 Điều 133 Bộ luật hình sự 2005); “gây hậu quả rất nghiêm trọng” (điểm c khoản 3 Điều 133 Bộ luật hình sự 2005); “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” (điểm c khoản 4 Điều 133 Bộ luật hình sự) [51].
Hiện nay Liên ngành Trung vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể, chi tiết mới về trường hợp phạm tội cướp giật tài sản có tổ chức. Vì qua bảng 2 của luận văn đã thể hiện, trong những năm vừa qua mặc dù số lượng các vụ án hình sự phạm tội Cướp giật tài sản có chiều hướng giảm dần nhưng trên thực tế thì số lượng bị can, bị cáo (người thực hiện hành vi phạm tội Cướp giật tài sản) lại không giảm, thậm chí có những thời điểm có chiều hướng gia tăng nhanh về số người tham gia thực hiện tội phạm Cướp giật tài sản trong một vụ án hình sự. Điều đó thể hiện trong thời gian vừa qua địa bàn thành phố Đà Nẵng đã xuất hiện nhiều băng, ổ, nhóm thực hiện có tổ chức và có tính chất đồng phạm ngày càng nhiều và tính chuyên nghiệp trong hoạt động tội phạm hình sự nói chung và Tội Cướp giật tài sản nói riêng ngày càng cao.
Vẫn còn có một số trường hợp người tiến hành tố tụng như ĐTV, KSV, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân có trình chuyên môn, nghiệp vụ còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn, tiêu chí tuyển trọn vào ngành, vào các cơ quan tiến hành tố tụng hai cấp thành phố Đà Nẵng. Nhưng vì là con ông, cháu, cha nên vẫn có những sự ưu ái, tiêu cực trong công tác tuyển chon và bổ nhiệm vào những chức danh tư pháp dẫn đến một số trường hợp trong quá trình thực hiện công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự nói chung và Tội Cướp giật tài sản nói riêng còn để xảy ra sái sót trong hoạt động nghiệp vụ …
Một bộ phận nhân dân có đời sống chật chất tinh thần khó khăn, đặc biệt là thành phần dân nhập cư đến sinh sống làm việc tại thành phố, trong điều kiện làm ăn khó khăn dễ nảy sinh hành vi phạm tội.
Có một bộ phận nhỏ những người ở các địa phương lân cận như Quảng Nam, Huế về Đà Nẵng theo buổi sáng đi chiều về gây khó khăn cho việc nắm bắt thông tin các nhân. Theo đó nảy sinh các đối tượng có hành vi cướp giật tài sản đã lợi dụng địa hình giáp gianh thực hiện hành vi cướp giật tài sản xong bỏ trốn sang địa phương khác.
- Kết luận Chương 2
Kết quả nghiên cứu tại Chương 2 của luận văn được thể hiện qua một số nội dung sau: Đã phân tích khái quát về tình hình kinh tế, chính trị xã hội thành phố Đà Nẵng, tình hình xét xử tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong những năm gần đây. Bên cạnh những kết quả mà các cơ quan tiến hành tố tụng thành phố Đà Nẵng đã đạt được, vẫn còn những tồn tại, hạn chế, bất cập trong việc định tội danh và quyết định hình phạt các vụ án hình sự về tội cướp giật tài sản. Chương 2 của Luận văn cũng đã đánh giá chung về thực tiễn áp dụng pháp hình sự về tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, chỉ ra những tồn tại hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại hạn chế đó trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự về tội cướp giật tài sản. Từ đó, làm nền tảng cho các giải pháp áp dụng đúng pháp luật hình sự về tội cướp giật tài sản ở Chương 3. Luận văn: Thực trạng pháp luật về tội cướp giật tài sản tại Đà Nẵng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật về tội cướp giật tài sản tại Đà Nẵng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Tội cướp giật tài sản từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng