Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn pháp luật an toàn lao động tại tỉnh Quảng Ninh hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn thực hiện pháp luật an toàn lao động tại tỉnh Quảng Ninh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Giới thiệu chung tỉnh Quảng Ninh và các đặc điểm ảnh hưởng đến triển khai và thực hiện pháp luật an toàn lao động
2.1.1. Giới thiệu chung về tỉnh Quảng Ninh
Điều kiện tự nhiên, dân số: Quảng Ninh là một tỉnh ở địa đầu phía Đông Bắc Việt Nam; có đường biên giới quốc gia dài 132,8 km với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa; phía Đông là vịnh Bắc bộ; phía Tây giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Dương; phía Nam giáp Hải Phòng. Bờ biển dài 250 km. Diện tích tự nhiên là 081,3 ha với dân số khoảng 1,2 triệu người, trong đó nữ chiếm 49%; mật độ dân số hiện là 188 người/km2.
- Tiềm năng kinh tế
Quảng Ninh với bờ biển dài 250 km, nên có nhiều điều kiện phát triển kinh tế biển;có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng, trữ lượng lớn, chất lượng tốt (trữ lượng than đá khoảng 3,6 tỷ tấn; các mỏ đá vôi, đất sét, cao lanh; các mỏ nước khoáng có nồng độ khoáng khá cao, nhiệt độ trên 350C, có thể dùng chữa bệnh); có tài nguyên du lịch đặc sắc vào loại nhất của cả nước (vịnh Hạ Long , vịnh Bái Tử Long); là tỉnh có cửa khẩu quốc tế Móng Cái và hai cửa khẩu quốc gia là Hoành Mô (Bình Liêu) và Bắc Phong Sinh (Hải Hà).
Quảng Ninh hiện có 15 đô thị (loại I – Tp Hạ Long; loại II – Tp Uông Bí; loại III: Tp Móng Cái, Cẩm Phả; loại IV: Thị xã Quảng Yên, thị trấn Mạo Khê; loại V: Thị trấn Quảng Hà, Đầm Hà, Ba Chẽ, Cô Tô, Đông Triều, Trới, Bình Liêu, Cái Rồng, Tiên Yên).
2.1.2 Đặc điểm của tỉnh Quảng Ninh ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật an toàn lao động
- Điều kiện tự nhiên
Về khí hậu: Quảng Ninh có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nền nhiệt độ thay đổi lớn theo các mùa; lượng mưa bình quân 1.995 mm, mưa lớn thường tập trung từ tháng 6 đến tháng 10 trong năm; với lượng mưa lớn sẽ làm tăng nguy cơ bục nước, ngập nước ở các mỏ hầm lò; sạt lở tầng khai thác, ngập mỏ ở các mỏ lộ thiên; sự thay đổi nhiệt độ lớn giữa các mùa tạo ra chênh lệch về áp suất khí quyển dẫn đến thay đổi độ suất khí ở các mỏ than hầm lò gây khó khăn cho công tác thông gió, tăng nguy cơ cháy nổ khí.
Về tài nguyên khoáng sản và vật liệu xây dựng phân bố không đồng đều nên rất khó khăn cho việc quy hoạch khai thác và áp dụng có hiệu quả các công nghệ khai thác hiện đại.
- Điều kiện kinh tế xã hội Luận văn: Thực tiễn pháp luật an toàn lao động tại tỉnh Quảng Ninh.
Quảng Ninh là một tỉnh công nghiệp nằm trong vùng động lực phát triển kinh tế phía Bắc của Tổ quốc với lực lượng lao động trên 745.000 người, tính đến hết năm 2018 trên địa bàn tỉnh có 17.200 doanh nghiệp, trong đó có trên 8.800 doanh nghiệp, hợp tác xã có sử dụng 400.000 lao động (tỉ lệ qua đào tạo đạt 68%, đào tạo nghề đạt 49,5%); đặc biệt tỉnh hiện có 11 khu công nghiệp với 59 doanh nghiệp đang hoạt động với tổng số 24.400 lao động [13,tr.1]; sự chuyển dịch lao động giữa các ngành nghề, địa phương lớn gây khó khăn cho việc đào tạo huấn luyện tay nghề, kỹ năng nghiệp vụ cho người lao động.
Quảng Ninh là tỉnh có nhiều ngành công nghiệp nặng: Trên địa bàn tỉnh có 45 đơn vị khai thác than, 87 đơn vị khai thác đá, sản xuất vật liệu xây dựng, 6 cơ sở đóng tàu lớn, 04 đơn vị sản xuất xi măng, 05 đơn vị sản xuất điện…Đây là những ngành, nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra tai nạn lao động đặc biệt là các vụ Tai nạn lao động nghiêm trọng làm chết và bị thương nhiều người [22,tr.15].
Những năm qua, cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế của tỉnh, đội ngũ công nhân lao động tỉnh Quảng Ninh luôn có sự phát triển, tăng nhanh về số lượng, nâng cao về chất lượng và chuyển dịch tích cực về cơ cấu. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có trên 400.000 công nhân lao động, tăng gần 90.000 người so với năm 2014. Trình độ học vấn, tay nghề được nâng lên, trình độ chuyên môn: Trên Đại học: 6.026; Đại học, Cao đẳng: 44.168; Trung cấp: 13.248. Trình độ chính trị: Cử nhân, cao cấp: 3.587; Trung cấp: 15.649. Tỷ lệ lao động qua đào tạo trên địa bàn tỉnh tăng từ 59% (năm 2014) lên 70,1% (năm 2017), trong đó đào tạo nghề đạt 49,5%; 100% công chức, viên chức, qua đào tạo chuyên môn nghiệp vụ. Tỉ lệ lao động nữ chiếm 39,7% [12,tr.2].
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật ATLĐ tại tỉnh Quảng Ninh Luận văn: Thực tiễn pháp luật an toàn lao động tại tỉnh Quảng Ninh.
2.2.1. Thực hiện quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể đối với an toàn lao động
Xác định an toàn lao động là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước; là yếu tố góp phần phát triển kinh tế, xã hội ổn định, bền vững vì vậy tỉnh Quảng Ninh xác định, thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả pháp luật an toàn lao động là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Ngành than, điện luôn là những doanh nghiệp đi đầu với những tiến bộ Khoa học kĩ thuật như: Hệ thống cảnh báo cháy nổ khí tự động; hệ thống thiết bị khoan thăm dò, phòng ngừa bục nước; hệ thống giàn chống thủy lực hiện đại trong các khu vực khai thác nhằm phòng ngừa sập đổ lò; công nghệ phòng chống điện giật khi làm việc trên lưới điện cao thế [21,tr.20].
Quyền và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động theo pháp luật an toàn lao động cũng được tỉnh quan tâm thông qua việc tổ chức các lớp tập huấn, huấn luyện an toàn lao động để không ngừng nâng cao nhận thức cho các đối tượng này, giúp họ nắm bắt để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình một cách nghiêm túc, góp phần hạn chế thấp nhất tranh chấp trong lĩnh vực an toàn lao động. Tỉnh Quảng Ninh có nhiều chính sách, chỉ đạo nhằm tăng cường tính chủ động phòng ngừa trong công tác an toàn lao động; triển khai thực hiện các quy định của pháp luật an toàn lao động một cách nề nếp, thực chất, hiệu quả (Chương trình hành động số 21-CTr/TU ngày 05/12/2013 của Tỉnh ủy về thực hiện Chỉ thị số 29-CT/TW, ngày 18/9/2013 của Ban Bí thư TW Đảng -khóa XI “về đẩy mạnh công tác an toàn vệ sinh lao động trong thời kỳ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế”; Quyết định số 2673/QĐ-UBND ngày 22/08/2016 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc phê duyệt Chương trình Quốc gia về An toàn- vệ sinh lao động trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016-2020; Kế hoạch số 3811/KH-UBND của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc triển khai một số nhiệm vụ, giải pháp tăng cường công tác quản lý, thực hiện pháp luật lao động và phòng ngừa Tai nạn lao động giai đoạn 2016 – 2020 trên địa bàn tỉnh; Công văn số 63/LĐLĐ ngày 23/3/2016 của Liên đoàn Lao động tỉnh Quảng Ninh về việc phối hợp rà soát công tác đảm bảo An toàn vệ sinh lao động trong hoạt động xây dựng và khai thác mỏ theo Công điện số 180/CĐ-TTG ngày 30/1/2016 của Thủ tướng Chính phủ…[24,tr.3]). Để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của người lao động trong công tác an toàn lao động, nhiều đơn vị, doanh nghiệp đã thực hiện tốt công tác cải thiện môi trường, điều kiện làm việc cho người lao động thông qua việc giải quyết trên 25.000 kiến nghị về ATLĐ; cùng với đó trên 5.000 người sử dụng lao động đã được tổ chức công đoàn cùng ngành Lao động, Bảo hiểm xã hội tỉnh trực tiếp đối thoại, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý về chính sách bảo hiểm xã hội, về Luật An toàn vệ sinh lao động nhằm tạo điều kiện để người sử dụng lao động cũng được đảm bảo thực hiện tốt quyền và nghĩ vụ của mình trong công tác an toàn lao động [14,tr.2]. Luận văn: Thực tiễn pháp luật an toàn lao động tại tỉnh Quảng Ninh.
Việc thực hiện quy định của pháp luật về bảo đảm an toàn lao động đối với cơ sở sản xuất kinh doanh được thực hiện khá tốt.
Tổ chức bộ phận an toàn lao động, bộ phận Y tế lao động: Qua tìm hiểu các loại hình doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, tác giả thấy rằng việc tổ chức bộ phận ATLĐ, bộ phận Y tế lao động trong các loại hình doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có thực hiện đều cơ bản đúng theo quy định của pháp luật.Về bố trí người làm công tác an toàn lao động, người làm công tác y tế theo chế độ chuyên trách, bán chuyên trách của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh với tiêu chuẩn bắt buộc về trình độ, bằng cấp thì các doanh nghiệp có tổ chức bộ phận an toàn lao động; bộ phận Y tế lao động đều thực hiện được. Tuy nhiên về tiêu chuẩn trình độ có thời gian kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của cơ sở từ 01 đến 05 năm thì chỉ các doanh nghiệp đã thành lập và đi vào hoạt động trên một năm và có kế hoạch, lộ trình đào tạo nhân lực cho các vị trí này mới thực hiện được, còn đối với các doanh nghiệp mới thành lập việc này là không thể thực hiện; hơn nữa để đạt được số lượng lao động phù hợp với việc tổ chức bộ phận an toàn lao động, bộ phận Y tế lao động theo quy định đa số các doanh nghiệp đều phải có một quá trình do đó khó có thể chủ động đào tạo người làm công tác an toàn lao động, người làm công tác y tế đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn “số năm kinh nghiệm” theo quy định của pháp luật an toàn lao động.
Tổ chức mạng lưới an toàn vệ sinh viên: Hiện nay tỉnh Quảng Ninh có 1.387/2.134 (65%) các doanh nghiệp có Công đoàn thành lập được mạng lưới An toàn vệ sinh viên và xây dựng, ban hành được quy chế hoạt động; 86 % An toàn vệ sinh viên có chế độ phụ cấp hàng tháng trên cơ sở phân loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ của từng An toàn vệ sinh viên. Các cấp công đoàn tỉnh Quảng Ninh đã phối hợp với chuyên môn đồng cấp căn cứ vào tình hình phát triển sản xuất và đặc điểm của doanh nghiệp để từng bước kiện toàn mạng lưới An toàn vệ sinh viên nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hoạt động và tăng cường vai trò giám sát của công đoàn trong thực hiện pháp luật ATLĐ. Quảng Ninh hiện có tổng số 833 An toàn vệ sinh viên, tăng 32 người = 0,3% so với năm 2017 (Số An toàn vệ sinh viên của địa phương là 2.842 người, tăng 14 người = 0,5%)[15,tr.7]. Hàng năm các công đoàn cơ sở đều phối hợp với chủ doanh nghiệp tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ và phương pháp hoạt động cho mạng lưới An toàn vệ sinh viên đồng thời quan tâm xây dựng, hoàn thiện quy chế hoạt động.
Tổ chức Hội đồng an toàn, vệ sinh lao động cơ sở: Tính đến tháng 12/2018 toàn tỉnh có 446 doanh nghiệp có Hội đồng an toàn, vệ sinh lao động cơ sở, tăng 11 doanh nghiệp so với năm 2017, bằng 2,5 %. Việc thành lập Hội đồng an toàn, vệ sinh lao động cơ sở; xây dựng chương trình công tác ATLĐ ở hầu hết các cơ sở, doanh nghiệp vừa và lớn đều thực hiện tốt. Hiện nay trên địa bàn tỉnh, chỉ có ngành than và ngành điện là có 100% đơn vị trực thuộc thành lập Hội đồng Bảo hộ lao động. Tuy nhiên với 446 doanh nghiệp có hội đồng an toàn, vệ sinh lao động cơ sở/620 doanh nghiệp phải thành lập trong toàn tỉnh thì số doanh nghiệp có Hội đồng An toàn vệ sinh lao động chỉ đạt 72 % [15, tr.5]. Luận văn: Thực tiễn pháp luật an toàn lao động tại tỉnh Quảng Ninh.
Thực hiện pháp luật lao động trong tổ chức bộ máy an toàn lao động đầy đủ (bộ phận an toàn lao động, bộ phận Y tế lao động, mạng lưới an toàn vệ sinh viên, Hội đồng an toàn, vệ sinh lao động) ở doanh nghiệp có thể coi là nền tảng cho việc thực hiện các quy định của pháp luật an toàn lao động, đây chính là bộ máy tham mưu, triển khai mọi hoạt động liên quan đến việc đảm bảo an toàn lao động tại các cơ sở sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, hiện nay quy định của pháp luật an toàn lao động chưa hề đề cập đến chế tài xử lý các doanh nghiệp không tổ chức bộ phận Y tế lao động, mạng lưới an toàn vệ sinh viên, Hội đồng an toàn, vệ sinh lao động cơ sở, tại Điều 16, Nghị định 95/2013/NĐ-CP về“xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng” mới chỉ đề cập đến việc “Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động không cử người làm công tác an toàn lao động”; tại Nghị định số 88/2015/NĐ-CP, ngày 07 tháng 10 năm 2015 về sửa đổi mội số nội dung của Nghị định 95/2013/NĐ-CP cũng chưa để cập, bổ sung nội dung này. Chính vì vậy nên số lượng doanh nghiệp thành lập Hội đồng an toàn, vệ sinh lao động cơ sở thấp và đặc biệt với 1.387 doanh nghiệp/ 8.800 doanh nghiệp phải thành lập mạng lưới an toàn vệ sinh viên là rất thấp chỉ đạt 15,8%.
Đối với trường hợp cơ sở sản xuất, kinh doanh không bố trí được người hoặc không thành lập được bộ phận an toàn lao động thì phải thuê các tổ chức có đủ năng lực theo quy định của pháp luật thực hiện các nhiệm vụ an toàn lao động nhưng hiện nay pháp luật an toàn lao động chưa có quy định nào quy định về năng lực của thực hiện các nhiệm vụ an toàn lao động của các tổ chức thực hiện các nhiệm vụ an toàn lao động gây khó khăn cho các đơn vị có nhu cầu.
Thực hiện các quy định của pháp luật về lập và thực hiện kế hoạch an toàn lao động; đánh giá nguy cơ rủi ro về an toàn lao động; kế hoạch ứng cứu khẩn cấp; tổ chức lực lượng ứng cứu; tự kiểm tra an toàn lao động: Tại Quảng Ninh, các đơn vị trong các ngành, nghề có nguy cơ tai nạn lao động cao; các đơn vị có thành lập đầy đủ bộ máy làm công tác an toàn lao động đã cơ bản thực hiện đúng các quy định của pháp luật về về lập và thực hiện kế hoạch an toàn lao động; đánh giá nguy cơ rủi ro về an toàn lao động; kế hoạch ứng cứu khẩn cấp; tổ chức lực lượng ứng cứu; tự kiểm tra an toàn lao động. Mặc dù về chất lượng các hoạt động này thì chỉ các đơn vị trong ngành than, ngành điện, xăng dầu là đảm bảo; một số các đơn vị còn lại việc lập và triển khai còn mang tính hình thức, chống đối.
Tại tỉnh Quảng Ninh, vai trò của Liên đoàn Lao động tỉnh về thực hiện quy định pháp luật an toàn lao động được thể hiện tương đối rõ nét, nhất là trong phối hợp với UBND tỉnh và các tổ chức đoàn thể quần chúng tham gia xây dựng pháp luật, chính sách, chế độ về an toàn lao động; phối hợp với Hội đồng nhân dân tỉnh và các sở, ngành của tỉnh kiểm tra, giám sát việc quản lý Nhà nước, việc thi hành các quy định pháp luật an toàn lao động; tham gia đoàn điều tra tai nạn lao động của tỉnh; phát động và triển khai thực hiện các phong trào quần chúng tham gia công tác ATLĐ, phong trào “Xanh – Sạch – Đẹp, bảo đảm An toàn vệ sinh lao động”, vận động người lao động chấp hành nghiêm chỉnh các qui định về an toàn lao động, phát huy sáng kiến cải thiện điều kiện làm việc; hướng dẫn, tổ chức hoạt động của mạng lưới an toàn vệ sinh viên; thay mặt tập thể người lao động ký thoả ước tập thể có nội dung công tác an toàn lao động; phối hợp xây dựng văn hóa an toàn lao động trong doanh nghiệp.
2.2.2. Thực hiện quy định của pháp luật về các biện pháp, phòng, chống các yếu tố nguy hiểm cho người lao động Luận văn: Thực tiễn pháp luật an toàn lao động tại tỉnh Quảng Ninh.
- Quy định về thông tin, tuyên truyền
Các quy định pháp luật về thông tin, tuyên truyền được các cơ quan quản lý nhà nước và cơ sở sử dụng lao động quan tâm, chỉ đạo, triển khai thực hiện một cách có hiệu quả. Cao điểm trong hoạt động tuyên truyền là việc tổ chức tốt các hoạt động hưởng ứng Tuần lễ quốc gia An toàn vệ sinh lao động – Phòng chống cháy nổ vào tháng 3 hàng năm (từ năm 2016 trở về trước); tháng hành động về an toàn vệ sinh lao động – tháng 5 hàng năm (từ năm 2017 trở lại đây) với rất nhiều hoạt động như: Mít tinh hưởng ứng, ký kết giao ước thi đua về ATLĐ…
- Bảng 2.1.Một số hoạt động tuyên truyền ATLĐ của Quảng Ninh từ 2016-2018
Việc thông tin tuyên truyền pháp luật ATLĐ từ tỉnh đến doanh nghiệp được thực hiện khá bài bản, nội dung và hình thức đa dạng, phong phú (bản tin, phóng sự, bài viết, tranh ảnh trực quan, video trên xe chở công nhân, tại các nhà giao ca, thi an toàn – vệ sinh viên giỏi, thi viết vẽ, sáng tác thơ,…); hoạt động tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về pháp luật ATLĐ ở một số doanh nghiệp đã được hệ thống hóa, nâng cao thành các chương trình, kế hoạch giáo dục “tự chủ an toàn”, xây dựng “văn hóa an toàn”…
Quy định pháp luật về huấn luyện an toàn lao động: Thực hiện có hiệu quả quy định trong việc huấn luyện ATLĐ là rất quan trọng, việc tổ chức huấn luyện đảm bảo chất lượng sẽ cung cấp kỹ năng, nghiệp vụ phòng tránh Tai nạn lao động cho người lao động; kết quả điều tra Tai nạn lao động trên đại bàn tỉnh Quảng Ninh cho thấy, nguyên nhân dẫn đến tai nạn lao động có 4 nhóm nguyên nhân trong đó có hai nhóm nguyên nhân chính xuất phát từ công tác huấn luyện ATLĐ, cụ thể: Do trình độ, kinh nghiệm, tác phong công nghiệp của công nhân còn hạn chế, thiếu thận trọng trong thao tác; chủ quan, vi phạm quy trình, quy định kỹ thuật an toàn; sự phối hợp công việc trong nhóm thợ chưa tốt dẫn đến tai nạn cho bản thân và đồng đội (chiếm 70 đến 80% số vụ); do công tác tuyên truyền, giáo dục, huấn luyện an toàn lao động; thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả (chiếm 40% số vụ) [21,tr.18]. Luận văn: Thực tiễn pháp luật an toàn lao động tại tỉnh Quảng Ninh.
Xác định được tầm quan trọng nêu trên, hàng năm tỉnh Quảng Ninh quan tâm triển khai quy định của pháp luật về nội dung huấn luyện an toàn lao động trong Chương trình Quốc gia về An toàn vệ sinh lao động; Đề án quan hệ lao động của tỉnh với 30-50 lớp/năm cho 70-80 người/lớp là người sử dụng lao động, cán bộ làm công tác ATLĐ thuộc các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh (100% kinh phí từ chương trình, đề án); hoạt động này được ưu tiên cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm phổ cập pháp luật ATLĐ cho các đối tượng nêu trên. Chương trình Quốc gia của tỉnh còn hỗ trợ 80% kinh phí cho 10-12 lớp/năm với 70 người/lớp cho các doanh nghiệp có nguy cơ cao về tai nạn lao động. Như vậy riêng huấn luyện theo chương trình Quốc gia về An toàn vệ sinh lao động của tỉnh, hàng năm đã huấn luyện cho 1.000 đến 1.500 người sử dụng lao động và cán bộ làm công tác An toàn vệ sinh lao động doanh nghiệp [5, tr.5]. Các doanh nghiệp ngành than, điện, xăng dầu, doanh nghiệp vừa và lớn đã quan tâm thực hiện nghiêm túc quy định về huấn luyện ATLĐ; nội dung và phương pháp huấn luyện ngày càng được đổi mới phù hợp với ngành, nghề và đối tượng huấn luyện; số cán bộ, người lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh được huấn luyện tăng từ 158.554 người năm 2016 đến 258.554 năm 2018[5, tr.6].
- Bảng 2.2. Số liệu công tác huấn luyện ATLĐ của Quảng Ninh từ 2016-2018
Đến hết năm 2018, trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có 16 đơn vị đủ điều kiện hoạt động huấn luyện ATLĐ (được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện huấn luyện ATLĐ của Cục an toàn – Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội), trong đó có 06 tổ chức hoạt động dịch vụ huấn luyện gồm: Trung tâm tư vấn pháp luật và Huấn luyện ATLĐ Công đoàn Quảng Ninh, Trường Cao đẳng nghề Than- Khoáng sản TKV, Công ty Cổ phần huấn luyện an toàn Quang Anh, Công ty HTH, Công ty Dịch vụ Huấn luyện ATLĐ Quảng Ninh; Công ty TNHH ASEAN; bên cạnh đó các đơn vị cung cấp dịch vụ huấn luyện ở các địa bàn Hà Nội,Hải Phòng, Hải Dương cũng mở rộng cung cấp dịch vụ huấn luyện ATLĐ trên đại bàn tỉnh Quảng Ninh.
Hiện nay, pháp luật an toàn lao động mới chỉ quy định về đối tượng huấn luyện, giáo trình huấn luyện, giảng viên huấn luyện, thời gian huấn luyện và đơn vị cung cấp dịch vụ huấn luyện tại Điều 14, Luật An toàn vệ sinh lao động và cụ thể hóa bằng Nghị định 44/2016/NĐ-CP, ngày 15/5/2016 của Chính phủ “Quy định chi tiết một số điều của Luật an toàn vệ sinh lao động về hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động, huấn luyện an toàn lao động và quan trắc môi trường lao động” có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 và Thông tư số 13/2016/TT-BLĐTBXH ngày 16/6/2016, Thông tư số 19/2017/TT-BLĐTBXH ngày 03/7/2017 có hiệu lực từ ngày 05/8/2017 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; chỉ trong hơn hai năm áp dụng, ngày 08/10/2018 Thủ tướng Chính phủ đã Ban hành Nghị định 140/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2016 sửa đổi một số nội dung trong công tác huấn luyện ATLĐ, cùng với đó là Thông tư số 31/2018/TT-BLĐTBXH, ngày 26/12/2018 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn chi tiết nội dung này của Nghị định 140/2018/NĐ-CP. Điều đó cho thấy việc các điều khoản của pháp luật về huấn luyện ATLĐ chưa sát và chưa đáp ứng thực tiễn. Luận văn: Thực tiễn pháp luật an toàn lao động tại tỉnh Quảng Ninh.
Tại Quảng Ninh việc thực hiện các quy định của pháp luật về huấn luyện an toàn lao động gặp rất nhiều bất cập, dẫn đến chất lượng huấn luyện an toàn lao động thấp; nguyên nhân là do số lượng đơn vị cung cấp dịch vụ huấn luyện nhiều dẫn đến việc cạnh tranh trong thị trường huấn luyện cao, trong khi pháp luật chưa quy định khung giá, khung chi phí tối thiểu cho việc huấn luyện từng nhóm đối tượng; cùng với việc một số người sử dụng lao động trong khối doanh nghiệp vừa và nhỏ lĩnh vực ít nguy cơ xảy ra Tai nạn lao động có xu hướng tiết giảm chi phí dẫn đến việc các đơn vị giảm giá huấn luyện xuống rất thấp để cạnh tranh làm ảnh hưởng đến chất lượng huấn luyện. Bên cạnh đó pháp luật chưa quy định trách nhiệm của đơn vị huấn luyện đối với chất lượng huấn luyện cho người lao động; đa số các đơn vị cung cấp dịch huấn luyện không năm bắt được công nghệ, quy trình sản xuất của đơn vị cần huấn huyện nên nội dung, giáo trình huấn luyện không sát thực tế. Trên một khía cạnh khác thì việc kiểm tra các đơn vị, doanh nghiệp có tổ chức huấn luyện thật hay không cũng rất khó khăn nên để tránh mất thời gian, nhiều người sở dụng lao động đã thỏa thuận với đơn vị cung cấp dịch vụ huấn luyện hoàn thiện hồ sơ hặc tiết giảm thời gian huấn luyện dẫn đến việc thực tiện pháp luật về huấn luyện an toàn lao động không đảm bảo.
- Về xây dựng và thực hiện các nội quy, quy trình an toàn lao động
Thực hiện nghiêm túc các quy trình, nội quy an toàn lao động chính là nền tảng của việc đảm bảo an toàn lao động ở doanh nghiệp. Nội dung của quy trình, nội quy an toàn chính là cơ sở để xây dựng các bài huấn luyện an toàn lao động cho công nhân để nâng cao kỹ năng và các thao tác trong quá trình sản xuất đảm bảo an toàn lao động đối với công việc mình thực hiện. Vì vậy phần lớn doanh nghiệp trong các ngành có nguy cơ cao về Tai nạn lao động (khai khoáng, khai thác đá, xây dựng,…) đã xây dựng và thực hiện tốt các nội quy, quy trình an toàn lao động. Một số các doanh nghiệp vừa và đa số các doanh nhỏ trên địa bàn tỉnh chưa quan tâm thực hiện các quy định của pháp luật về xây dựng và thực hiện nội quy, quy trình về an toàn lao động do nhiều doanh nghiệp này nằm ở lĩnh vực thương mại và dịch vụ – là lĩnh vực ít có nguy cơ xảy tai nạn lao động nên người sử dụng lao động ở các đơn vị này còn chủ quan chưa thực hiện các quy định về pháp luật an toàn lao động (tại Báo cáo chiến dịch thanh tra lao động năm 2016 của Sở LĐ-TB& Xã hội tỉnh có 49/49 đơn vị được thanh tra đều chưa xây dựng đầy đủ nội quy, quy trình theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đã được công bố, áp dụng).
- Về thực hiện quy định pháp luật trong quản lý máy, thiết bị, vật tư, chất, có nguy cơ cao về ATLĐ
Việc thực hiện các quy định của pháp luật từ khai báo, kiểm định, quản lý, sử dụng các máy, thiết bị, vật tư, chất, có nguy cơ cao về an toàn lao động nhìn chung được các doanh nghiệp ở Quảng Ninh thực hiện nghiêm túc do đây là lĩnh vực đặc biệt có thể xảy ra những sự cố, tai nạn nghiêm trọng đe dọa tính mạng của nhiều người nên đây cũng là lĩnh vực mà các cơ quan quản lý thuộc các ngành như Lao động – Thương Binh Xã Hội, Công Thương, Xây Dựng…và UBND các cấp thường xuyên kiểm tra, rà soát và xử phạt các vi phạm do đó đã tạo ra được những nhận thức tích cực của chủ doanh nghiệp trong lĩnh vực này.
2.2.3. Thực hiện quy định pháp luật về các biện pháp xử lý sự cố kỹ thuật gây mất an toàn và gây tai nạn lao động Luận văn: Thực tiễn pháp luật an toàn lao động tại tỉnh Quảng Ninh.
- Bảng 2.3. Số liệu tai nạn lao động trên địa bàn Quảng Ninh từ 2014-2018
Hàng năm, tại Quảng Ninh, số vụ tai nạn lao động liên quan đến máy, thiết bị, phương tiện vận tải cán cuốn, chèn ép, va đập chiếm tỷ lệ cao nhất (chiếm từ 30- 45%); sau đó là tai nạn lao động do thao tác sửa chữa điện; do bục túi nước, tràn bùn; do ngạt khí trong hầm lò; do nổ mìn; do ngã, va đập và ngã cao; do đuối nước; do bị vùi lấp, do bệnh lý của người lao động. Theo lĩnh vực ngành nghề thì hàng năm, ngành khai khoáng là lĩnh vực để xảy ra nhiều tai nạn lao động chết người nhất với bình quân 22 -25 vụ làm chết 26-30 người; sau đó là lĩnh vực xây dựng với bình quân khoảng 10 vụ làm chết 12-15 người, lĩnh vực điện, xăng dầu cũng để xảy ra 3-5 vụ làm chết 3-5 người; các lĩnh vực khác như vận tải, kho bãi, bốc xếp hàng hóa, chế biến lâm sản, cơ khí, san lấp mặt bằng, sản xuất vật liệu xây dựng…cũng để xảy ra từ 7-9 vụ [14,tr.3].
Các vụ Tai nạn lao động chết người hoặc Tai nạn lao động có từ hai nạn nhân bị thương nặng trở lên đều được khai báo kịp thời để Đoàn điều tra Tai nạn lao động cấp tỉnh tiến hành điều tra theo quy định. Đa số các doanh nghiệp đã kịp thời thành lập Đoàn điều tra cấp cơ sở tiến để hành điều tra các vụ Tai nạn lao động theo thẩm quyền để làm cơ sở pháp lý giải quyết chế độ cho người bị nạn và xác định rõ nguyên nhân để đề ra và thực hiện các biện pháp phòng tránh Tai nạn lao động tái diễn. Các quy định pháp luật trong thống kê, báo cáo định kỳ Tai nạn lao động chủ yếu được các doanh nghiệp nhà nước, các cơ sở có quy mô lớn thực hiện nghiêm túc; các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa thực hiện đầy đủ; định kỳ, chỉ có từ 3 – 6% số doanh nghiệp, cơ sở thực hiện chế độ báo cáo; một bộ phận các doanh nghiệp còn chưa thực hiện nghiêm túc pháp luật về khai báo tai nạn lao động hoặc báo cáo tai nạn lao động thành các hình thức tai nạn khác như tai nạn giao thông, tai nạn sinh hoạt. Trong công tác điều tra Tai nạn lao động nghiêm trọng (chết người) đã có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng trong đoàn điều tra Tai nạn lao động của tỉnh, giữa đoàn điều tra và Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân các địa phương. Tất cả các vụ Tai nạn lao động nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn tỉnh đều được tổ chức điều tra kịp thời, chính xác, khách quan, theo đúng quy định của pháp luật, đã giúp cơ sở nhanh chóng ổn định sản xuất, ổn định tư tưởng cho người lao động, sớm chỉ ra những thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm để làm cơ sở cho việc xử lý, rút kinh nghiệm phòng tránh Tai nạn lao động tương tự tái diễn. Định kỳ 6 tháng, 1 năm tỉnh đều có thông báo, phân tích nguyên nhân, đánh giá tình hình Tai nạn lao động trên địa bàn tỉnh để các cấp, các ngành, các cơ sở, doanh nghiệp cùng rút kinh nghiệm và chỉ đạo thực hiện các biện pháp phòng tránh. Việc sơ cấp cứu kịp thời các trường hợp bị tai nạn lao động được người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp để xẩy ra Tai nạn lao động ở Quảng Ninh thực hiện nghiêm túc, tuy nhiên có một số doanh nghiệp đã không cử người phối hợp với gia đình trong quá trình điều trị cho người bị Tai nạn lao động dẫn đến các tranh chấp trong phát sinh chi phí điều trị [21,tr19].
Ngày 06/7/2018 tại khu vực nhà kho, nhà xưởng sản xuất của Chi nhánh Công ty TNHH YAZAKI Hải Phòng Việt Nam tại Quảng Ninh (sau đây gọi tắt là Công ty) thuộc Khu công nghiệp Đông Mai nằm trên địa bàn phường Đông Mai, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xảy ra vụ việc làm 76 công nhân có triệu chứng khó thở, đau đầu, chóng mặt và bị ngất; ngay sau đó số công nhân trên được đưa tới Bệnh viện Việt Nam – Thuỵ Điển Uông Bí cấp cứu, điều trị; thời gian điều trị cho một số công nhân kéo dài từ 10 ngày đến trên 2 tháng, trong đó có 02 công nhân bị sẩy thai trong thời gian này. Ngày 20/9/2018, Đoàn điều tra Tai nạn lao động tỉnh Quảng Ninh kết luận đây là vụ tai nạn lao động nặng tại biên bản điều tra tai nạn lao động nặng số 212/BB-ĐT. Tuy nhiên đến nay 76 công nhân trên vẫn chưa được giải quyết được chế độ Tai nạn lao động do chưa giám định được tỷ lệ thương tật mặc dù Sở Y tế Quảng Ninh đã có đề nghị sự hỗ trợ của Cục Quản lý, khám chữa bệnh – Bộ Y tế tại Công văn số 131/SYT-NVY ngày 16/01/2019 và đề nghị sự hỗ trợ từ Viện trưởng – Viện Giám định Y khoa tại Công văn số 184/TTGĐYK ngày 16/11/2018. Ngày 03/4/2019,Bộ Y tế đã cử các thành phần mà Sở Y tế Quảng Ninh đề nghị hỗ trợ xuống làm việc với các cơ quan liên quan của tỉnh Quảng Ninh nhưng vẫn chưa có phương hướng giải quyết cụ thể [22,tr.1].
Cũng thực tế phát sinh tại Quảng Ninh đã xảy ra tranh chấp trong lĩnh vực giải quyết chế độ Tai nạn lao động theo Mục c, Khoản 1, Điều 6 Luật An toàn vệ sinh lao động quy định về quyền của người lao động “được hưởng đầy đủ chế độ đối với người bị tai nạn lao động” tuy nhiên tại Điều 48, Điều 49 của Luật an toàn vệ sinh lao động chỉ quy định người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên mới được hưởng trợ cấp tai nạn lao động. Như vậy, Luật an toàn vệ sinh lao động đang đề cập đến hai loại Tai nạn lao động (TNLĐ bất kì và Tai nạn lao động được hưởng trợ cấp) [13,tr.4]. Điều này ảnh hưởng đến sự thống nhất và tính triệt để của pháp luật an toàn lao động. Luận văn: Thực tiễn pháp luật an toàn lao động tại tỉnh Quảng Ninh.
2.2.4 Thực hiện quy định của pháp luật về đảm bảo an toàn lao động đối với một số lao động đặc thù
Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong các loại quan hệ lao động có tính đặc thù thì phổ biến là lao động nữ, với 265 người [12,tr.1] làm việc doanh nghiệp sản xuất thuộc lĩnh vực dệt may, lắp rát thiết bị, sản xuất gốm sứ, đồ thủ công mỹ nghệ và một số trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng như gạch, ngói…Cùng với đó là các doanh nghiệp cho thuê lại lao động làm việc trong các dự án, các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng của tỉnh như công trình xây dựng, giao thông….việc thực hiện các quy định của pháp luật an toàn lao động trong lĩnh vực này là tương đối phức tạp, nên còn lúng túng khi xác định bản chất quan hệ lao động trong trường hợp các bên không có hợp đồng lao động vì vậy khi xảy ra tai nạn lao động khó quy trách nhiệm cho các đối tượng liên quan đến vụ việc, giải quyết chế độ cho người bị Tai nạn lao động.
Ở Quảng Ninh, nhu cầu sử dụng lao động có tay nghề trong các lĩnh vực sản xuất là tương đối lớn và đòi hỏi chất lượng đào tạo nghiêm ngặt như ngành mỏ, ngành khai thác vật liệu xây dựng, các ngành nghề sản xuất kinh doanh trên biển. Các cơ sở giáo dục, cơ sở dạy nghề để thể hiện trách nhiệm bảo đảm các điều kiện về an toàn lao động cho học sinh, sinh viên, người học nghề trong thời gian thực hành, học nghề như đối với người lao động thông qua kế hoạch thực tập và hợp đồng tổ chức thực tập cho học viên, sinh viên như Trường Cao đẳng nghề Than – Khoáng sản Việt Nam; các doanh nghiệp có người học nghề, tập nghề, thử việc, người sử dụng lao động đã thực hiện các quy định về an toàn lao động đối với đối tượng kể cả trường hợp bị tai nạn lao động như Công ty Than Vàng Danh, Công ty Than Dương Huy và một số doanh nghiệp ngành than có học viên, người học nghề trong thời gian thực hành bị Tai nạn lao động dẫn đến tử vong.
2.2.5 Thực hiện quy định của pháp luật về quản lý Nhà nước đối với công tác an toàn lao động
Ủy Ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh phân công 01 Phó Chủ tịch UBND phụ trách công tác an toàn lao động và là Trưởng Ban chỉ đạo Tháng hành động về an toàn vệ sinh lao động của tỉnh. Cơ quan thường trực tham mưu cho UBND tỉnh là Sở Lao động thương binh và xã hội; các cơ quan khác tùy theo chức năng nhiệm vụ tham mưu cho UBND tỉnh trong lĩnh vực liên quan tới công tác ATLĐ. Từ tỉnh đến các địa phương không bố trí bộ phận hoặc cán bộ chuyên trách về công tác ATLĐ (1) Sở Lao động thương binh và xã hội tỉnh là cơ quan thường trực có nhiệm vụ: Tham mưu trực tiếp trong lĩnh vực an toàn lao động; tổng hợp, dự thảo các báo cáo về lĩnh vực ATLĐ; tổng hợp, dự thảo các văn bản chỉ đạo về lĩnh vực ATLĐ; là trưởng đoàn điều tra Tai nạn lao động của tỉnh; thường trực trong việc triển khai “Chương trình quốc gia về An toàn vệ sinh lao động” của tỉnh; thường trực Ban chỉ đạo Tháng hành động về an toàn vệ sinh lao động của tỉnh (2) Sở Y tế tham mưu cho UBND tỉnh trong lĩnh vực quản lý, khám, chăm sóc sức khỏe người lao động; giám định tỉ lệ suy giảm khả năng lao động đối với người bị tai nạn lao động; là thành viên đoàn điều tra Tai nạn lao động cấp tỉnh (3) Sở Công thương tham mưu cho UBND tỉnh về công tác ATLĐ trong lĩnh vực quản lý như: khai thác khoáng sản; máy, thiết bị, các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về kỹ thuật an toàn trong ngành công nghiệp; an toàn nạp khí, dầu mỏ hóa lỏng; an toàn điện; an toàn trong quản lý và sử dụng vật liệu nổ công nghiệp; an toàn trong kinh doanh xăng dầu; an toàn đối với máy móc, thiết bị công nghiệp…(4) Sở Thông tin truyền thông và Trung Tâm truyền thông tỉnh có trách nhiệm tuyên truyền các nội dung hoạt động, các chỉ đạo của UBND tỉnh về công tác ATLĐ trên các phương tiện thông tin đại chúng; phối hợp tổ chức các hoạt động tuyền; tham mưu việc đổi mới hoạt động tuyên truyền nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền đảm bảo ATLĐ tới người lao động (5) Ban quản lý các khu kinh tế có trách nhiệm quản lý, hướng dẫn các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp, khu kinh tế thực hiện các quy định của pháp luật ATLĐ (6) Công an tỉnh (phòng cảnh sát Phòng cháy chữa cháy, phòng hình sự) có trách nhiệm trong việc quản lý vật liệu nổ công nghiệp, phòng chống cháy nổ trong các doanh nghiệp; tham gia, chỉ đạo công an địa phương cấp huyện (theo phân cấp) phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp điều tra dấu hiệu tội phạm đối với các vụ tai nạn xảy ra tại các cơ sở lao động.
Hội đồng an toàn, vệ sinh lao động tỉnh Quảng Ninh có trách nhiệm tư vấn cho Ủy ban nhân dân trong việc tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật an toàn lao động tại địa phương. Hội đồng do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập, bao gồm đại diện Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Y tế, Liên đoàn Lao động, Hội nông dân, một số doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức và chuyên gia, nhà khoa học về lĩnh vực an toàn lao động tại địa phương. Hàng năm, Hội đồng an toàn, vệ sinh lao động của tỉnh đều tổ chức đối thoại nhằm chia sẻ thông tin, tăng cường sự hiểu biết giữa người sử dụng lao động, người lao động, tổ chức công đoàn, tổ chức đại diện người sử dụng lao động và các cơ quan nhà nước để thúc đẩy việc cải thiện các điều kiện làm việc công bằng, an toàn cho người lao động, nâng cao hiệu quả xây dựng, thực hiện chính sách, pháp luật an toàn lao động trên địa bàn tỉnh. Luận văn: Thực tiễn pháp luật an toàn lao động tại tỉnh Quảng Ninh.
Bình quân mỗi năm tỉnh Quảng Ninh tiến hành từ 100 đến 150 lần thanh tra, kiểm tra về lĩnh vực ATLĐ qua đó đã kiến nghị các doanh nghiệp thực hiện từ 800-1.200 kiến nghị; các hành vi vi phạm đều bị các cơ quan chức năng lập biên bản, xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Việc xử lý nghiêm các vi phạm sẽ góp phần làm giảm các hành vi dẫn đến Tai nạn lao động và BNN. Trong năm 2018, Đoàn điều tra Tai nạn lao động tỉnh đã yêu cầu các đơn vị thực hiện 141 kiến nghị; xử lý kỷ luật 191 người (trong đó có 18 Chánh phó Giám đốc, 45 Trưởng phó phòng ban, 32 cán bộ phòng ban, 59 Chánh phó Quản đốc, 18 lò trưởng, tổ trưởng sản xuất và 19 công nhân); các đơn vị đã khiển trách 153 người; cảnh cáo, kéo dài thời hạn lên lương, chuyển làm việc khác 14 người; cách chức 24 người [15,tr.12]. Các hình thức xử lý gồm: tạm đình chỉ, đình chỉ hoạt động đối với các vị trí, nơi làm việc, các máy móc, thiết bị không đảm bảo điều kiện ATLĐ; phạt tiền; xem xét trách nhiệm hình sự đối với các hành vi vi phạm quy định về ATLĐ dẫn đến Tai nạn lao động chết người, gây hậu quả nghiêm trọng. Tất cả các vụ Tai nạn lao động do cháy nổ khí gây chết nhiều người đều được điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của pháp luật hình sự.
- Tiểu kết chương 2
“Quảng Ninh như là một nước Việt Nam thu nhỏ”, từ những đặc điểm điều kiện tự nhiên, địa lý và kinh tế xã hội đến kết quả thực hiện pháp luật an toàn lao động cho thấy sự quan tâm của tỉnh Quảng Ninh trong việc chỉ đạo và triển khai thực hiện các nội dung cụ thể, quyết định đến việc đảm bảo an toàn cho người lao động như: thông tin, tuyên truyền, huấn luyện; tổ chức, bộ máy làm công tác ATLĐ từ tỉnh xuống cơ sở; thanh tra, kiểm tra, xử lý các hành vi pháp luật ATLĐ; khai báo điều tra tai nạn lao động, chi trả chế độ chính sách cho người bị tai nạn lao động…
Tuy nhiên từ thực tiên triển khai thực hiện pháp luật an toàn lao động tại Quảng Ninh cũng đã bộc lộ nhiều vấn đề tồn tại hạn chế của pháp luật an toàn lao động nhất là trong một số các nội dung quan trọng như: huấn luyện an toàn lao động; tổ chức bộ máy quản lý ATLĐ tại doanh nghiệp; chi trả chế độ tai nạn lao động…đây chính là cơ sở để tác giả đề nghị sửa đổi, bổ sung hoàn thiện pháp luật an toàn lao động từ thực tiễn Quảng Ninh được đề cập ở Chương 3. Luận văn: Thực tiễn pháp luật an toàn lao động tại tỉnh Quảng Ninh.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Hoàn thiện pháp luật an toàn lao động tỉnh Quảng Ninh

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: An toàn lao động theo pháp luật lao động Việt Nam