Luận văn: Thực trạng pháp luật về quản lý môi trường tỉnh Đắk Lắk

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về quản lý môi trường tỉnh Đắk Lắk hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về quản lý môi trường (từ thực tiễn huyện Cư Kuin) tỉnh Đắk Lắk dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về quản lý môi trường

Pháp luật về quản lý môi trường ở Việt Nam xuất hiện khá muộn so với các ngành luật khác. Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về quản lý môi trường có thể khái quát thành hai giai đoạn chính như sau:

2.1.1. Giai đoạn trước năm 1986

Đây là giai đoạn đất nước phải tập trung giải quyết những vấn đề đặc biệt quan trọng, mà trước hết là phải tiến hành cuộc cách mạng giải phóng đất nước, giành độc lập dân tộc. Sau khi giải phóng miền Nam, hoàn toàn thống nhất đất nước cũng như chiến thắng những cuộc tiến công xâm lược sau đó thì vấn đề quan tâm tiếp theo của Đảng và Nhà nước là việc hàn gắn vết thương sau chiến tranh, tập trung thúc đẩy mọi nguồn lực sản xuất để phát triển kinh tế nhằm thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội. Bên cạnh đó, vấn đề ô nhiễm, suy thoái môi trường trong thời kỳ này chưa biểu hiện một cách rõ ràng, chưa đến mức báo động; hệ thống pháp luật của Việt Nam thời kỳ này cũng chưa phải là hệ thống pháp luật hoàn thiện.

Chính vì vậy, pháp luật về quản lý môi trường ở giai đoạn này chưa xuất hiện với tư cách là một lĩnh vực độc lập, riêng biệt mà chỉ bước đầu thể hiện những ý tưởng của Nhà nước về vấn đề quản lý, bảo vệ môi trường. Biểu hiện rõ rệt là không có văn bản pháp luật nào quy định riêng về vấn đề quản lý môi trường. Các quy định liên quan đến vấn đề môi trường ở giai đoạn này được ban hành lồng ghép trong các văn bản pháp luật điều chỉnh đối với các lĩnh vực khác, có thể kể đến là Sắc lệnh số 142/SL được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 21/12/1949 quy định việc kiểm soát lập biên bản các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng, Nghị quyết số 36/CP ngày 11/3/1961 của Hội đồng Chính phủ về việc quản lý, bảo vệ tài nguyên dưới lòng đất, Chỉ thị số 07-TTg ngày 16/01/1964 của Thủ tướng Chính phủ về việc thu tiền bán khoán lâm sản và chi về nuôi rừng, Chỉ thị số 15-TTg ngày 11/02/1964 của Thủ tướng Chính phủ về việc chống xói mòn, giữ đất, giữ mầu, giữ nước, Nghị quyết số 183/CP ngày 25/9/1966 của Hội đồng Chính phủ về công tác trồng cây gây rừng, Chỉ thị số 127/CP ngày 24/5/1971 của Hội đồng Chính phủ về công tác điều tra cơ bản tài nguyên và điều kiện thiên nhiên, Pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 06/9/1972. Điều đặc biệt, đáng chú ý nhất trong giai đoạn này, vấn đề quản lý môi trường đã được quy định tại Điều 36 Hiến pháp năm 1980 “Các cơ quan Nhà nước, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân đều có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và cải thiện môi trường sống”.

Khái quát lịch sử pháp luật về quản lý môi trường Việt Nam trong giai đoạn này có thể rút ra một số đặc điểm như sau:

  • Một là, các quy định của pháp luật chỉ liên quan đến một số khía cạnh về môi trường xuất phát từ yêu cầu công tác quản lý nhà nước, chưa trực tiếp hướng đến việc bảo vệ các thành phần môi trường.
  • Hai là, các quy định liên quan đến môi trường được ban hành lồng ghép trong các văn bản pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội khác nhau. Vấn đề môi trường chỉ là nội dung thứ yếu, phái sinh trong các văn bản đó.
  • Ba là, các quy định pháp luật về môi trường được ban hành chủ yếu bằng hình thức văn bản dưới luật, ngoại trừ Điều 36 Hiến pháp năm 1980.

2.1.2. Giai đoạn từ năm 1986 đến nay Luận văn: Thực trạng pháp luật về quản lý môi trường tỉnh Đắk Lắk.

Khủng hoảng kinh tế – xã hội cuối những năm 70 và đầu những năm 80 đã dẫn đến những cuộc cải cách kinh tế sâu sắc với việc xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp và chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã làm thay đổi nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội và mang lại những kết quả tốt đẹp. Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường cũng là nguyên nhân của nhiều hiện tượng kinh tế – xã hội tiêu cực, trong đó có vấn đề suy thoái, ô nhiễm môi trường. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc chỉ nghĩ đến lợi ích riêng, trước mắt, chạy theo lợi nhuận, làm giàu bằng mọi giá đã dẫn đến việc khai thác bừa bãi các nguồn tài nguyên thiên nhiên, xả các loại chất thải trực tiếp ra môi trường làm cho môi trường ở nhiều nơi bị suy thoái, ô nhiễm nghiêm trọng; quá trình đô thị hóa dưới tác động của kinh tế thị trường diễn ra khá nhanh chóng cùng với số lượng máy móc thiết bị, phương tiện giao thông ngày càng tăng cũng đã làm cho môi trường, nhất là môi trường đô thị bị ô nhiễm; việc lạm dụng, sử dụng tràn lan phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật, các chất cấm trong sản xuất nông nghiệp đã làm cho môi trường nông thôn ngày càng bị ô nhiễm… Tất cả những nguyên nhân nêu trên đã làm cho vấn đề quản lý, bảo vệ môi trường trở thành một thách thức lớn của xã hội.

Từ năm 1986 đến nay, vấn đề quản lý, bảo vệ môi trường ở nước ta đã trở thành một nguyên tắc hiến định, là bộ phận cấu thành không thể tách rời của Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, Chiến lược phát triển bền vững đất nước. Hệ thống pháp luật về quản lý môi trường được coi là một lĩnh vực quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam và ngày càng được củng cố, hoàn thiện, có sự phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng. Đáng chú ý là việc Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường ngày 27/12/1993, Luật Bảo vệ môi trường ngày 29/11/2005 và gần đây nhất là Luật Bảo vệ môi trường ngày 23/6/2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015. Đây chính là đạo luật điều chỉnh trực tiếp các vấn đề cụ thể về môi trường, là nguồn cơ bản và là trung tâm của hệ thống pháp luật về quản lý môi trường, là công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm giữ gìn, bảo vệ môi trường phục vụ cho phát triển bền vững, bảo đảm quyền mọi người được sống và yêu cầu được sống trong môi trường trong lành. Sự phát triển, hoàn thiện của Luật Bảo vệ môi trường giai đoạn này biểu hiện cụ thể như sau: Luận văn: Thực trạng pháp luật về quản lý môi trường tỉnh Đắk Lắk.

Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, gồm có 7 chương và 55 điều quy định về những vấn đề chung; hoạt động phòng, chống và khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường; quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường; quan hệ quốc tế về bảo vệ môi trường; khen thưởng và xử lý vi phạm; điều khoản thi hành. Đây chính là đạo luật đặt nền móng cho việc hình thành hệ thống pháp luật về môi trường ở nước ta và lần đầu tiên, các khái niệm cơ bản về môi trường, bảo vệ môi trường được định nghĩa một cách chuẩn tắc, quyền và nghĩa vụ bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá nhân được quy định cụ thể và rõ ràng.

Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, gồm 15 chương và 136 điều, tăng 8 chương và 81 điều so với Luật Bảo vệ môi trường năm 1993. Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định ở mức khá chi tiết, một cách có hệ thống và rõ ràng hơn về các nội dung liên quan đến việc quản lý môi trường, thể hiện ở việc mở rộng và cụ thể hóa hơn về phạm vi, đối tượng điều chỉnh, nguyên tắc bảo vệ môi trường, chính sách nhà nước về bảo vệ môi trường, các hành vi nghiêm cấm; quy định một chương riêng về tiêu chuẩn môi trường với các nội dung cụ thể, nhằm làm căn cứ xây dựng, ban hành, công bố và áp dụng hệ thống tiêu chuẩn môi trường; kế thừa, quy định bổ sung vấn đề đánh giá tác động môi trường, bảo đảm phù hợp với thông lệ chung trên thế giới, đồng thời quy định mới vấn đề lập và đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường, nhằm nâng cao và ràng buộc trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; vấn đề bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên được quy định thành một chương riêng, với nội dung cụ thể, trong đó việc xây dựng thói quen tiêu dùng thân thiện với môi trường là một điểm mới, bảo đảm cho phát triển bền vững, phù hợp với xu hướng chung của thế giới; quy định thành chương riêng đối với việc bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư với các yêu cầu cụ thể về bảo vệ môi trường đối với các hoạt động, ngành, lĩnh vực có ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường, trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân liên quan, các biện pháp chế tài trong việc gây ô nhiễm môi trường cũng như phân định rõ trách nhiệm và thẩm quyền quyết định việc xử lý của cơ quan có thẩm quyền, xã hội hóa mạnh mẽ hoạt động bảo vệ môi trường; quy định bảo vệ môi trường biển, nước sông và các nguồn nước khác, quản lý chất thải thành chương mới để bảo vệ hữu hiệu tài nguyên nước, tăng hiệu quả kinh tế gắn với bảo vệ môi trường, cụ thể hóa quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm, chính sách ưu đãi trong hoạt động quản lý chất thải; kế thừa và cụ thể hơn quy định về phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân liên quan; lần đầu tiên quy định về vấn đề quan trắc và thông tin về môi trường nhằm xã hội hóa mạnh mẽ, nâng cao vai trò của tổ chức, cá nhân trong hoạt động bảo vệ môi trường; quy định cụ thể và đầy đủ hơn các nguồn lực bảo vệ môi trường; kế thừa, bổ sung và cụ thể hóa quy định hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế gắn với bảo vệ môi trường; phân công, phân cấp rõ ràng, cụ thể về trách nhiệm, quyền hạn giữa cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương, giữa cơ quan quản lý chung và cơ quan chuyên môn, bổ sung quy định về trách nhiệm của Mặt trận tổ quốc và các thành viên trong việc bảo vệ môi trường; quy định cụ thể về vấn đề thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo và bồi thường thiệt hại về môi trường, bổ sung chế tài bắt buộc mua bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường đối với tổ chức, cá nhân có hoạt động tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại lớn cho môi trường. Luận văn: Thực trạng pháp luật về quản lý môi trường tỉnh Đắk Lắk.

Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, gồm 20 chương và 170 điều, tăng 05 chương và 34 điều so với Luật Bảo vệ môi trường năm 2005. Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 được xây dựng trên tinh thần của Hiến pháp năm 2013, có sự kế thừa các nội dung, đồng thời khắc phục một số hạn chế, bất cập của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, luật hóa các chủ trương của Đảng, bổ sung một số nội dung mới về bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường trong giai đoạn hiện nay. Cụ thể, đã bổ sung thêm cụm từ “cơ quan” vào phạm vi điều chỉnh để làm rõ vai trò, trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong thực thi pháp luật; bổ sung thêm một số khái niệm mới (như: Quy hoạch bảo vệ môi trường, khí nhà kính, ứng phó biến đổi khí hậu, an ninh môi trường…), đồng thời chỉnh sửa, bổ sung một số khái niệm về môi trường, ô nhiễm môi trường, sức chịu tải của môi trường…; bổ sung thêm nguyên tắc “bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế, an sinh xã hội, bảo đảm quyền trẻ em, thúc đẩy giới và phát triển, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu để bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành” và một số chính sách về bảo vệ môi trường (tại các Khoản 5, 9 và 10 Điều 5); quy định mới về nội dung quy hoạch bảo vệ môi trường, chỉnh sửa, bổ sung một số quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường; quy định mới về việc đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường thay cho việc đăng ký bản cam kết môi trường như quy định tại Luật Bảo vệ môi trường năm 2005; luật hóa và quy định thành một chương riêng về vấn đề ứng phó với biến đổi khí hậu, nhằm làm cơ sở pháp lý để xây dựng các chương trình, kế hoạch, dự án cụ thể về ứng phó với biến đổi khí hậu trong mối quan hệ với bảo vệ môi trường; quy định cụ thể hơn về vấn đề bảo vệ môi trường nước sông, đất và không khí, bổ sung quy định về bảo vệ môi trường đối với khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp, khu kinh doanh dịch vụ tập trung; chỉnh sửa, bổ sung quy định về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu, tàu biển đã qua sử dụng, bảo vệ môi trường làng nghề, thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ để bảo đảm tính khả thi; kế thừa và quy định rõ hơn về vấn đề quản lý chất thải, đặc biệt là việc quản lý chất thải nguy hại; kế thừa và bổ sung một số nội dung quy định về xử lý ô nhiễm, phục hồi và cải thiện môi trường, quan trắc môi trường, thông tin môi trường, chỉ thị môi trường, thống kê môi trường và báo cáo môi trường; bổ sung quy định về quy chuẩn kỹ thuật môi trường để phù hợp với Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật năm 2006; quy định về trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức thành các chương riêng, đồng thời với việc mở rộng về trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan này; quy định bổ sung thêm về nguồn lực bảo vệ môi trường để tránh chồng chéo, trùng lắp với các luật liên quan, hạn chế sự lạm dụng ngân sách sự nghiệp bảo vệ môi trường; mở rộng thời hiệu khởi kiện về môi trường đến mức không có giới hạn. Luận văn: Thực trạng pháp luật về quản lý môi trường tỉnh Đắk Lắk.

Bên cạnh đó là các đạo luật đơn hành về lĩnh vực khác như Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, Luật Đa dạng sinh học năm 2008, Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2010, Luật Khoáng sản năm 2010, Luật Tài nguyên nước năm 2012, Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 2013, Luật Đất đai năm 2013, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015, các Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội như Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi năm 2001, Pháp lệnh về giống cây trồng năm 2004, Pháp lệnh giống vật nuôi năm 2004, Pháp lệnh Cảnh sát môi trường năm 2014 và hàng loạt các văn bản của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành dưới những khía cạnh nhất định cũng có các quy định liên quan đến vấn đề môi trường.

Nhìn chung, hệ thống pháp luật về quản lý môi trường Việt Nam từ năm 1986 đến nay đã cơ bản đáp ứng các yêu cầu về quản lý môi trường, thể hiện ở một số đặc điểm chính sau đây:

  • Một là, đã có một đạo luật riêng điều chỉnh các quan hệ xã hội gắn với yếu tố môi trường, các quy định của pháp luật có nội dung cụ thể và trực tiếp hơn về các vấn đề môi trường, xác định cụ thể và chi tiết quyền, nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong vấn đề quản lý môi trường. Các chính sách phát triển kinh tế – xã hội đều được gắn kết với vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
  • Hai là, hệ thống pháp luật về quản lý môi trường đã thể hiện tính toàn diện và hệ thống. Các quy định của pháp luật đã đề cập đến hầu hết các vấn đề của môi trường và quản lý môi trường, từ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường đến quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong khai thác, sử dụng và bảo vệ các thành phần môi trường. Hệ thống các tiêu chuẩn về môi trường cũng đã được ban hành và ngày càng hoàn thiện để làm cơ sở pháp lý cho việc xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật về môi trường.
  • Ba là, các quy định của pháp luật về môi trường đã chú trọng đến khía cạnh toàn cầu của vấn đề môi trường, thể hiện sự hài hòa và mang tính tương đồng với các cam kết quốc tế về môi trường thể hiện tại các điều ước quốc tế về môi trường mà Việt Nam đã ký kết, tham gia.

Hệ thống pháp luật về quản lý môi trường ngày càng hoàn thiện đã tạo điều kiện thuận lợi đối với công tác quản lý môi trường nói chung, hoạt động đăng ký, xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường, quản lý chất thải, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về môi trường nói riêng trên địa bàn huyện Cư Kuin. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, vẫn còn một số bất cập, tồn tại trong các quy định của pháp luật về quản lý môi trường, đã ảnh hưởng phần nào đến hiệu quả quản lý môi trường trên địa bàn huyện.

2.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý môi trường ở huyện Cư Kuin Luận văn: Thực trạng pháp luật về quản lý môi trường tỉnh Đắk Lắk.

2.2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội

Huyện Cư Kuin được thành lập theo Nghị định số 137/2007/NĐ-CP, ngày 27/8/2007 của Chính phủ trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính huyện Krông Ana, với tổng diện tích tự nhiên là 28.830 ha, bao gồm 08 xã và 113 thôn, buôn, trung tâm hành chính đặt tại thôn Kim Châu, xã Dray Bhăng; dân số toàn huyện đến cuối năm 2015 là 103.842 người [3], với khoảng 20 dân tộc cùng sinh sống; dân số theo các tôn giáo chiếm tỷ lệ khá cao với khoảng 50% dân số trên toàn địa bàn.

  • Bảng 2.1: Bản đồ hành chính huyện Cư Kuin

Huyện có vị trí ở phía Đông Nam tỉnh Đắk Lắk, cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột 15 km và có vị trí tiếp giáp: Phía Đông giáp huyện Krông Pắc, huyện Krông Bông. Phía Tây giáp thành phố Buôn Ma Thuột, huyện Krông Ana. Phía Nam giáp huyện Krông Ana, huyện Krông Bông. Phía Bắc giáp thành phố Buôn Ma Thuột, huyện Krông Pắc.

Là một huyện có tuyến đường Quốc lộ 27 chạy qua nối liền tỉnh Đắk Lắk với tỉnh Lâm Đồng, cách sân bay Buôn Ma Thuột khoảng 10 km và tiếp giáp với thành phố Buôn Ma Thuột – trung tâm kinh tế, chính trị quan trọng của tỉnh Đắk Lắk và vùng Tây Nguyên, tạo điều kiện thuận lợi trong giao lưu kinh tế, văn hoá, khoa học công nghệ, đồng thời cung ứng nguồn lao động dồi dào và hàng hoá nông sản có giá trị kinh tế cao cho thị trường.

2.2.1.1. Điều kiện tự nhiên Luận văn: Thực trạng pháp luật về quản lý môi trường tỉnh Đắk Lắk.

Huyện nằm trong địa hình chuyển tiếp giữa cao nguyên Buôn Ma Thuột và vùng trũng Đắk Lắk, nên cấu tạo địa hình vừa có đồi núi, vừa có các thung lũng trũng, đồng bằng và thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam do bị chi phối bởi hệ thống sông suối trong vùng. Khí hậu chịu ảnh hưởng chung của chế độ khí hậu gió mùa Tây Nam mang tính chất khí hậu cao nguyên nhiệt đới ẩm, ít biến động trong năm, phân bố nhiệt theo không gian khá đồng đều. Khí hậu có hai mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến hết tháng 10, chiếm trên 84% lượng mưa cả năm; mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến hết tháng 4 năm sau, lượng mưa không đáng kể, trong đó tháng 2 và tháng 3 hầu như không mưa. Lượng mưa trung bình năm của huyện từ 1.800 – 1.900 mm. Tổng tích ôn cả năm khoảng 8.000 – 8.5000C; nguồn ánh sáng dồi dào, bình quân giờ chiếu sáng/năm 1.700 – 2.400 h; nhiệt độ trung bình năm từ 240C – 250C, biên độ dao động ngày đêm từ 12 – 140C [20].

Diện tích đất tự nhiên năm 2015 của huyện Cư Kuin là 28.830 ha, trong đó nhóm đất nông nghiệp có diện tích 25.024,1 ha, chiếm 86,80% tổng diện tích hành chính; nhóm đất phi nông nghiệp có diện tích 3.763,8 ha, chiếm 13,06% tổng diện tích hành chính; nhóm đất chưa sử dụng có diện tích 42,1 ha, chiếm 0,15% tổng diện tích hành chính [3].

Nguồn nước mặt trên địa bàn huyện khá phong phú với con sông Krông Ana chảy dọc theo ranh giới phía Nam có chiều dài 20 km, dòng chảy bình quân 125m3/s, đổ vào sông Sêrêpốk và hệ thống suối, ao, hồ, công trình thủy lợi dày đặc, cơ bản đáp ứng lượng nước phục vụ sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó là nguồn nước ngầm có chất lượng còn tốt với độ khoáng hóa đặc trưng từ 0,03 – 0,27 g/l, pH 5,7 – 6,8, có thể khai thác, xử lý và cung cấp cho các nhu cầu dân sinh, kinh tế [20]. Tuy nhiên, những năm gần đây, do việc khai thác, sử dụng nước ngầm bừa bãi, không đúng quy định đã làm mực nước ngầm ngày càng giảm thấp và xuống rất nhanh vào mùa khô, ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.

Diện tích rừng trên địa bàn huyện thấp hơn so với các huyện khác trong tỉnh, chỉ với 754,15 ha [20]. Hiện nay, các cấp, các ngành đang tập trung chỉ đạo, tăng cường công tác quản lý, trồng và bảo vệ rừng nhằm tăng độ che phủ, hạn chế xói mòn, rửa trôi, bảo vệ hệ sinh thái, nguồn nước và phòng, chống thiên tai.

Nguồn khoáng sản khá khiêm tốn, theo Quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 [26], trên địa bàn huyện chỉ có 04 loại khoáng sản là sắt, cát, đá và sét với trữ lượng không lớn và tập trung tại 04 xã Ea Bhốk, Hòa Hiệp, Cư Êwi và Ea Hu. Trong 04 loại khoáng sản trên thì có khoáng sản cát, đá và sét đã được đánh giá trữ lượng, còn khoáng sản sắt chưa được đánh giá trữ lượng. Nguồn khoáng sản này đang được các tổ chức, cá nhân đầu tư khai thác để phục vụ cho hoạt động xây dựng, góp phần phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh đó là sự tác động không nhỏ đến vấn đề môi trường mà trước hết là sự suy thoái tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường từ hoạt động khai thác, chế biến. Luận văn: Thực trạng pháp luật về quản lý môi trường tỉnh Đắk Lắk.

  • Bảng 2.2: Tổng hợp các loại khoáng sản trên địa bàn huyện Cư Kuin

2.2.1.2. Điều kiện kinh tế

Kinh tế trên địa bàn huyện có sự phát triển khá toàn diện, năm sau luôn cao hơn năm trước. Theo báo cáo kết quả tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội huyện Cư Kuin năm 2016, tốc độ tăng trưởng nông, lâm, ngư nghiệp đạt 3.275 tỷ đồng, tăng 7,09% so với năm 2015. Giá trị công nghiệp – xây dựng tiếp tục tăng trưởng khá, đạt 1.259 tỷ đồng, tăng 25,77% so với năm 2015. Giá trị thương mại – dịch vụ tiếp tục được mở rộng, đạt 1.298 tỷ đồng, tăng 12,77% so với năm 2015. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ năm 2016 ước đạt 1.629 tỷ đồng, tăng 6,82% so với năm 2015. Các thành phần kinh tế tư nhân phát triển khá ổn định đã góp phần giải quyết việc làm, tăng thu ngân sách, phát triển kinh tế – xã hội [24].

Kinh tế phát triển đã góp phần nâng cao đời sống vật chất của nhân dân, từ đó tăng cường sự tin tưởng của nhân dân vào đường lối kinh tế, chính sách pháp luật, vào sự lãnh đạo của Đảng và hoạt động quản lý, điều hành của Nhà nước. Kinh tế phát triển sẽ giúp cho nhân dân hiểu rõ hơn về giá trị của cuộc sống hiện đại và quan tâm đến các quyền của mình, trong đó có quyền bảo đảm được sống trong môi trường trong lành. Kinh tế phát triển sẽ tạo nguồn ngân sách để phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ quản lý môi trường và có các chế độ thỏa đáng hơn cho cán bộ làm công tác quản lý môi trường để họ yên tâm công tác, phục vụ… Chính những điều trên sẽ góp phần tạo điều kiện cho vấn đề quản lý môi trường ngày càng có hiệu quả, pháp luật dần đi vào cuộc sống. Tuy nhiên, việc phát triển kinh tế sẽ làm gia tăng lượng chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của người dân, tác động nhất định đến tình hình môi trường trên địa bàn huyện.

2.2.1.3. Điều kiện xã hội Luận văn: Thực trạng pháp luật về quản lý môi trường tỉnh Đắk Lắk.

Việc giải quyết các vấn đề xã hội trên địa bàn huyện trong thời gian qua luôn được quan tâm, chú trọng và đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng – an ninh. Hệ thống đường giao thông luôn được nâng cấp, cải tạo, sửa chữa và cơ bản đáp ứng nhu cầu đi lại, sản xuất, kinh doanh của nhân dân; tỷ lệ hộ gia đình dùng điện đạt 99,8%, phủ sóng phát thanh, truyền hình đạt 100%; toàn huyện có 20/55 trường đạt chuẩn quốc gia, phổ cập giáo dục được duy trì bền vững, chất lượng giáo dục tương đối ổn định; công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân và phòng, chống dịch bệnh có nhiều chuyển biến tích cực, 08/08 xã có Trạm y tế đạt chuẩn quốc gia về y tế, tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 89,39%; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm xuống còn 1,14%, trẻ em bị suy dinh dưỡng giảm xuống còn 16,40%; bình quân số hộ nghèo giảm hàng năm là 609 hộ, tỷ lệ giảm 2,87%; đào tạo nghề và giải quyết việc làm luôn được chú trọng và gắn với nhu cầu thực tế; các chính sách đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số luôn được thực hiện đầy đủ, kịp thời [23], [24]. Những kết quả đạt được nêu trên đã góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, cải thiện đời sống nhân dân, giảm thiểu sự gia tăng tác động đối với môi trường. Tuy nhiên, với đặc trưng của lối sống nông thôn, người dân thường ít quan tâm đến vấn đề môi trường, cùng với đó là hoạt động sản xuất chủ yếu vẫn mang tính chất nhỏ lẻ, tự phát với quy mô hộ gia đình, cá nhân, thiếu sự đầu tư cho vấn đề xử lý chất thải…, đã và đang gây nhiều trở ngại cho công tác quản lý môi trường trên địa bàn.

2.2.2. Kết quả thực hiện pháp luật về quản lý môi trường ở huyện Cư Kuin

2.2.2.1 Tình hình tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý môi trường

Thực hiện các quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước và văn bản chỉ đạo của cấp trên; cấp ủy Đảng, chính quyền huyện Cư Kuin đã xây dựng và ban hành các văn bản quan trọng để tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý môi trường gắn với tình hình phát triển kinh tế – xã hội và yêu cầu quản lý môi trường trên địa bàn, cụ thể:

Một là, Huyện ủy Cư Kuin đã ban hành Kế hoạch số 11-KH/HU ngày 29/5/2009 triển khai thực hiện Kế hoạch số 68-KH/TU ngày 17/4/2009 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc “Bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Kế hoạch đã xác định 04 nhiệm vụ chung (một là, tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và trách nhiệm về bảo vệ môi trường; hai là, tăng cường công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường; ba là, đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường; bốn là, kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải) và 03 nhiệm vụ cụ thể (một là, bảo vệ môi trường nông thôn; hai là, triển khai hoạt động công tác vệ sinh môi trường trên địa bàn; ba là, khai thác và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên). Đồng thời, ban hành Chương trình hành động số 07-CTr/HU ngày 17/8/2016 thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng với các nhiệm vụ chủ yếu về quản lý môi trường: Tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng tránh thiên tai. Đảm bảo giảm thiểu mức độ gia tăng ô nhiễm và suy thoái môi trường, tiến tới nâng cao chất lượng môi trường để phát triển bền vững. Khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên phục vụ phát triển kinh tế – xã hội gắn với bảo vệ môi trường sinh thái; tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, đẩy mạnh công tác trồng rừng; quản lý chặt chẽ tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sinh thái. Nâng cao chất lượng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, đề án cải tạo, phục hồi môi trường của các dự án đầu tư trên địa bàn theo phân cấp. Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý đối với các tổ chức và cá nhân vi phạm các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường trên địa bàn. Luận văn: Thực trạng pháp luật về quản lý môi trường tỉnh Đắk Lắk.

Hai là, Ủy ban nhân dân huyện đã ban hành Kế hoạch số 973/KH-UBND ngày 10/5/2013 triển khai thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 18/3/2013 của Chính phủ về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, theo đó đã xác định 05 nhiệm vụ tập trung chỉ đạo thực hiện, đó là: Tăng cường công tác bảo vệ môi trường tại các khu, cụm công nghiệp; nâng cao chất lượng thẩm định yêu cầu bảo vệ môi trường trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển. Chú trọng bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản. Tập trung khắc phục ô nhiễm, cải thiện môi trường nông thôn. Ngăn chặn có hiệu quả sự suy thoái của các hệ sinh thái, suy giảm các loài. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường.

Bên cạnh đó là việc ban hành Quyết định số 3352/QĐ-UBND ngày 29/7/2014 về việc phê duyệt Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Cư Kuin giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020, với việc xác định các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cụ thể về quản lý môi trường theo tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Kế hoạch số 2945/KH-UBND ngày 12/12/2015 hành động ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa bàn huyện Cư Kuin đến năm 2020 với các nhiệm vụ chủ yếu như nâng cao năng lực quản lý nhà nước, nhận thức của cộng đồng về biến đổi khí hậu; tăng cường việc quản lý tài nguyên nước trên địa bàn huyện, ứng phó với tình trạng thiếu nước trong điều kiện biến đổi khí hậu; tăng cường việc quản lý tài nguyên đất trong điều kiện biến đổi khí hậu; bảo vệ hệ sinh thái và đa dạng sinh học; phát triển sản xuất nông – lâm – công nghiệp trong điều kiện biến đổi khí hậu; sử dụng các nguồn năng lượng mới theo tiêu chí xanh và sạch; xây dựng các công trình giao thông trong điều kiện biến đổi khí hậu, giảm phát thải khí nhà kính; phát triển du lịch, y tế và sức khỏe cộng đồng trong điều kiện biến đổi khí hậu. Đặc biệt quan trọng là Chỉ thị số 01/2015/CT-UBND ngày 21/7/2015 về việc tăng cường công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn, được ban hành sau khi Ủy ban nhân dân huyện có Báo cáo số 106/BC-UBND ngày 15/6/2015 tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị, Chỉ thị đã khái quát một số kết quả đạt được, dự báo tình hình, hạn chế và nguyên nhân để từ đó đưa ra nội dung chỉ đạo một cách tương đối toàn diện, đầy đủ và sát với tình hình thực tế về các nhiệm vụ quản lý môi trường cần phải tập trung thực hiện và trách nhiệm của từng cơ quan, ban ngành, tổ chức, cá nhân trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Luận văn: Thực trạng pháp luật về quản lý môi trường tỉnh Đắk Lắk.

Ba là, Phòng Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu Ủy ban nhân dân huyện ban hành Quyết định số 4146/QĐ-UBND ngày 15/12/2015 về việc ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Cư Kuin, đây chính là văn bản pháp lý quan trọng và là cơ sở bảo đảm để Phòng Tài nguyên và Môi trường thực hiện các nhiệm vụ quản lý môi trường trên địa bàn huyện. Bên cạnh đó, để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ quản lý môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu Ủy ban nhân dân huyện xây dựng và phê duyệt Kế hoạch bảo vệ môi trường hàng năm, với việc xác định các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể để chủ động trong việc tổ chức thực hiện; ban hành Quy chế làm việc, thông báo phân công nhiệm vụ cụ thể cho Lãnh đạo và Chuyên viên của phòng, theo đó thì nhiệm vụ quản lý môi trường được giao cho 01 đồng chí Phó Trưởng phòng phụ trách cùng với 02 Chuyên viên tham mưu giúp việc.

2.2.2.2. Kết quả đạt được

  • Đăng ký, xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường:

Thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý môi trường trong hoạt động đăng ký, xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường. Ủy ban nhân dân huyện đã ban hành các văn bản triển khai, phổ biến nội dung quy định của Luật Bảo vệ môi trường, Nghị định số 35/2014/NĐ-CP ngày 29/4/2014 và Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ, Thông tư số 22/2014/TT-BTNMT ngày 05/5/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định và hướng dẫn thi hành Nghị định số 35/2014/NĐ-CP ngày 29/4/2014 của Chính phủ, Thông tư số 26/2015/TT-BTNMT ngày 28/5/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định đề án bảo vệ môi trường chi tiết, đề án bảo vệ môi trường đơn giản và Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT ngày 29/5/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường. Chỉ đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường và Ủy ban nhân dân các xã tăng cường công tác quản lý hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn để kịp thời phát hiện, hướng dẫn và yêu cầu chủ các dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thực hiện việc lập và đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường với cơ quan có thẩm quyền để được xác nhận, phê duyệt theo quy định trước khi tiến hành triển khai đầu tư; tổ chức rà soát, xác định đối tượng, đồng thời hướng dẫn, yêu cầu và đôn đốc các dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đang hoạt động nhưng chưa có quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, giấy đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường, cam kết bảo vệ môi trường, quyết định phê duyệt hoặc giấy xác nhận đề án bảo vệ môi trường, phải thực hiện việc lập và đăng ký đề án bảo vệ môi trường theo quy định; thực hiện tốt việc hướng dẫn, tiếp nhận, thẩm định và xác nhận đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường, đề án bảo vệ môi trường đơn giản theo quy định. Luận văn: Thực trạng pháp luật về quản lý môi trường tỉnh Đắk Lắk.

Trong thời gian qua, hoạt động đăng ký, xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện Cư Kuin đã có sự chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả nhất định. Nhìn chung, chủ các dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đã có sự quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường, thực hiện việc lập và đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường, đề án bảo vệ môi trường với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được xác nhận, phê duyệt theo quy định với số lượng hồ sơ đăng ký có xu hướng tăng cao trong những năm gần đây; chất lượng thẩm định, xác nhận hồ sơ bảo vệ môi trường ngày càng được chú trọng và nâng cao; chủ dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cơ quan thẩm định cơ bản đã nhận diện được đầy đủ các yếu tố tác động đến môi trường và đề xuất các biện pháp quản lý, xử lý phù hợp với quy định của pháp luật. Theo kết quả rà soát, tổng hợp và phân loại của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Cư Kuin đến thời điểm tháng 10/2016, trong tổng số 2.090 cơ sở đang hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ (sau đây gọi chung là cơ sở) thì có 987 cơ sở thuộc đối tượng phải lập và đăng ký hồ sơ bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật [11]. Đến hết tháng 01/2017, đã có 246/987 cơ sở được cơ quan có thẩm quyền xác nhận đăng ký hồ sơ bảo vệ môi trường, đạt tỷ lệ 25%, cụ thể: 08 phiếu xác nhận bản kê khai các hoạt động sản xuất, kinh doanh có ảnh hưởng đến môi trường; 99 giấy xác nhận đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường; 07 giấy xác nhận đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường; 132 thông báo chấp nhận đề án bảo vệ môi trường đơn giản.

Riêng giai đoạn từ năm 2011 đến nay, Ủy ban nhân dân huyện Cư Kuin đã thẩm định và xác nhận đăng ký 204 hồ sơ bảo vệ môi trường. Cụ thể:

  • Năm 2011, giải quyết 09 bản cam kết bảo vệ môi trường.
  • Năm 2012, giải quyết 16 bản cam kết bảo vệ môi trường, 01 đề án bảo vệ môi trường.
  • Năm 2013, giải quyết 14 bản cam kết bảo vệ môi trường, 11 đề án bảo vệ môi trường.
  • Năm 2014, giải quyết 18 bản cam kết bảo vệ môi trường, 31 đề án bảo vệ môi trường.
  • Năm 2015, giải quyết 08 bản cam kết bảo vệ môi trường, 33 đề án bảo vệ môi trường.
  • Năm 2016, giải quyết 06 kế hoạch bảo vệ môi trường, 49 đề án bảo vệ môi trường.
  • Tháng 01/2017, giải quyết 01 kế hoạch bảo vệ môi trường, 07 đề án bảo vệ môi trường.

Qua những số liệu trên cho thấy, chủ các dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ bước đầu đã có sự quan tâm, thực hiện quy định về đăng ký hồ sơ bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, số lượng cơ sở chấp hành đạt tỷ lệ còn thấp; phần lớn các cơ sở không chấp hành việc đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường để được xác nhận trước khi triển khai dự án đầu tư, mà chỉ đến khi đi vào hoạt động chính thức và được cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, yêu cầu khắc phục hành vi vi phạm thì mới tiến hành lập và đăng ký đề án bảo vệ môi trường. Điều này đã ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện pháp luật về đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường và việc quản lý các loại chất thải phát sinh, bảo vệ môi trường trong giai đoạn thi công xây dựng công trình.

  • Quản lý chất thải: Luận văn: Thực trạng pháp luật về quản lý môi trường tỉnh Đắk Lắk.

Quản lý chất thải là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý môi trường, nhằm phòng ngừa, kiểm soát, giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Do đó, công tác quản lý chất thải trên địa bàn huyện trong thời gian qua luôn được quan tâm, chú trọng và bước đầu đã kiểm soát được mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường. Điều này được thể hiện qua các hoạt động sau:

Một là, công tác quy hoạch: Ủy ban nhân dân huyện đã thực hiện việc quy hoạch các khu vực xử lý chất thải rắn lồng ghép với quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 – 2015) của huyện Cư Kuin, gồm Khu xử lý rác thải tập trung của huyện và 06 Bãi chôn lấp, xử lý rác thải tại các xã, với tổng diện tích là 28,90 ha [25]. Bên cạnh đó, các quy hoạch xây dựng nông thôn mới, quy hoạch phát triển kinh tế trang trại, quy hoạch khu đô thị, quy hoạch nghĩa trang… trên địa bàn huyện đều được lập và phê duyệt sau khi đánh giá các yếu tố tác động đến môi trường.

Hai là, công tác chỉ đạo, điều hành: Triển khai các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và văn bản chỉ đạo của cấp trên, Ủy ban nhân dân huyện đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn có nội dung trọng tâm, thiết thực và sát với tình hình thực tế nhằm tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác quản lý chất thải trên địa bàn. Điển hình có thể kể đến một số văn bản quan trọng như Chỉ thị số 01/2015/CT-UBND ngày 21/7/2015 về việc tăng cường công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện; Kế hoạch số 973/KH-UBND ngày 10/5/2013 triển khai thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 18/3/2013 của Chính phủ về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Kế hoạch số 2945/KH-UBND ngày 12/12/2015 hành động ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa bàn huyện Cư Kuin đến năm 2020; Hướng dẫn số 2142/HD-UBND ngày 08/10/2012 hướng dẫn thu gom, xử lý chất thải rắn hộ gia đình; Công văn về việc tăng cường công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt, chất thải nguy hại, quản lý nhà nước về tài nguyên nước, quản lý hoạt động đốt than trên địa bàn, bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch, tổ chức lễ hội, bảo vệ và phát huy giá trị di tích, bảo vệ môi trường trong hoạt động chăn nuôi và kinh doanh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật…

Ba là, công tác tập huấn, phổ biến, giáo dục pháp luật: Truyền thông, phổ biến, giáo dục chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường là một nhiệm vụ quan trọng của công tác quản lý môi trường. Đây là nội dung có ý nghĩa quan trọng nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật về quản lý môi trường, góp phần đưa pháp luật đi vào cuộc sống. Chính vì vậy, trong thời gian qua Ủy ban nhân dân huyện đã tổ chức 05 Hội nghị tập huấn pháp luật về bảo vệ môi trường cho các cơ quan, đơn vị và toàn thể cán bộ ngành tài nguyên và môi trường cấp huyện, cấp xã; thường xuyên phát sóng trên hệ thống phát thanh huyện về các quy định của pháp luật bảo vệ môi trường, công tác thu gom, xử lý rác thải, vệ sinh môi trường nông thôn; hàng năm đều tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày môi trường thế giới, Ngày nước thế giới, Ngày khí tượng thế giới, Ngày đa dạng sinh học, Chương trình làm cho thế giới sạch hơn, Giờ trái đất, lắp đặt panô, băng rôn, cấp phát tờ rơi tuyên truyền. Nhận thức và trách nhiệm trong việc quản lý chất thải, bảo vệ môi trường trên địa bàn toàn huyện đã có sự chuyển biến tích cực. Luận văn: Thực trạng pháp luật về quản lý môi trường tỉnh Đắk Lắk.

Bốn là, công tác tổ chức thực hiện: Để thực hiện tốt công tác quản lý môi trường, hàng năm Ủy ban nhân dân huyện đều xây dựng và ban hành kế hoạch bảo vệ môi trường, bố trí nguồn kinh phí chi cho sự nghiệp môi trường luôn bảo đảm tỷ lệ 1%/năm trong tổng chi ngân sách nhà nước [21]; hoàn thiện và đưa vào vận hành chính thức Công trình Bãi chôn lấp, xử lý chất thải rắn tập trung của huyện tại xã Ea Tiêu, đầu tư mua 03 xe chở rác chuyên dụng, các trang thiết bị phục vụ thu gom rác thải, đồng thời giao cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên quản lý môi trường đô thị Cư Kuin thực hiện nhiệm vụ dịch vụ công ích vệ sinh môi trường trên địa bàn, tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn tập trung đến tháng 12/2016 đã đạt 75,02% [22], luôn hoàn thành và vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra hàng năm. Công tác quản lý nước thải, khí thải trên địa bàn huyện đã có sự quan tâm nhất định, kết quả quan trắc các chỉ tiêu thông số trong nước thải, khí thải tại cụm công nghiệp huyện và các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thuộc đối tượng phải quan trắc, giám sát môi trường do các tổ chức được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường thực hiện nhìn chung đều nằm trong giới hạn quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia cho phép.

  • Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về môi trường:

Một là, công tác thanh tra, kiểm tra: Trong thời gian qua, hoạt động thanh tra, kiểm tra luôn được các cấp, các ngành quan tâm, triển khai thực hiện thường xuyên. Trên cơ sở các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và khoáng sản, Thông tư liên tịch số 02/2009/TTLT-BCA-BTNMT ngày 06/02/2009 của Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn quan hệ phối hợp công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, Chương trình số 405/CTr-STNMT-CAT ngày 25/5/2009 của Sở Tài nguyên và Môi trường và Công an tỉnh về phối hợp thực hiện công tác bảo vệ môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường và Công an huyện đã xây dựng và ký kết Chương trình số 01/CTr-PTNMT-CA ngày 20/11/2009 phối hợp thực hiện công tác bảo vệ môi trường và tài nguyên khoáng sản. Ủy ban nhân dân huyện luôn quan tâm, chỉ đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường, Công an huyện, Ủy ban nhân dân các xã và các ban ngành liên quan tăng cường công tác kiểm tra, xử lý vi phạm cũng như phối hợp chặt chẽ với Sở Tài nguyên và Môi trường và các Sở ngành liên quan trong công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường đối với các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn, đặc biệt là trong các hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản, sản xuất than, vật liệu xây dựng, chăn nuôi, chế biến nông sản. Từ năm 2011 đến năm 2016, Ủy ban nhân dân huyện đã thành lập các Đoàn kiểm tra liên ngành tổ chức kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường đối với khoảng 400 cơ sở và đã xử phạt vi phạm hành chính với số tiền phạt là 159.750.000 đồng, đồng thời buộc áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định [23]. Các hành vi vi phạm chủ yếu được phát hiện qua công tác kiểm tra là thực hiện không đúng, không đầy đủ nội dung trong bản cam kết bảo vệ môi trường, đề án bảo vệ môi trường đã được cơ quan có thẩm quyền xác nhận; không có bản cam kết bảo vệ môi trường theo quy định; xả nước thải, rác thải trực tiếp ra môi trường; không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ chương trình quan trắc, giám sát môi trường; không có hệ thống xử lý chất thải đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường; vi phạm trong việc quản lý chất thải nguy hại… Luận văn: Thực trạng pháp luật về quản lý môi trường tỉnh Đắk Lắk.

Hai là, công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về môi trường: Số lượng các vụ việc tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về môi trường trên địa bàn huyện chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số đơn thư tranh chấp, khiếu nại, tố cáo được tiếp nhận và giải quyết. Tuy nhiên, tính chất vụ việc luôn phức tạp, khó khăn trong công tác kiểm tra, xác định hậu quả và nguyên nhân, nếu không giải quyết kịp thời và dứt điểm sẽ dễ phát sinh thành điểm nóng, khiếu kiện đông người, vượt cấp, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn. Theo số liệu báo cáo tổng hợp kết quả công tác tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện hàng năm của Phòng Tài nguyên và Môi trường, từ năm 2011 đến năm 2016 đã tiếp nhận 26 vụ việc liên quan đến môi trường (gồm: tố cáo 01 vụ; phản ánh 19 vụ; kiến nghị 06 vụ). Căn cứ quy định của pháp luật về quản lý môi trường và kết quả kiểm tra, Sở Tài nguyên và Môi trường đã xử lý vi phạm hành chính về hành vi không có văn bản báo cáo cơ quan đã phê duyệt đề án bảo vệ môi trường về việc hoàn thành các biện pháp bảo vệ môi trường theo quy định, đồng thời tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo xử lý nội dung phản ánh việc xả thải gây ô nhiễm môi trường của Nhà máy chế biến cà phê hòa tan thuộc Công ty trách nhiệm hữu hạn cà phê Ngon tại Cụm công nghiệp huyện Cư Kuin; Ủy ban nhân dân huyện đã ban hành văn bản buộc chấm dứt hoạt động đối với 05 cơ sở (gồm: 02 cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm, 01 cơ sở sản xuất than, 01 cơ sở thu mua, sơ chế phế liệu và 01 cơ sở sấy cà phê, nông sản) do vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, ảnh hưởng đến môi trường sống khu dân cư và không thể thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, xử lý vi phạm hành chính và yêu cầu 20 cơ sở sản xuất, kinh doanh khác chấm dứt hành vi xả thải gây ô nhiễm môi trường và phải thực hiện việc lắp đặt, vận hành các công trình xử lý môi trường theo quy định trong thời hạn quy định. Đến thời điểm hiện nay, 26 vụ việc nêu trên đã được giải quyết dứt điểm, không còn phát sinh đơn thư đến các cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

2.2.2.3. Hạn chế và nguyên nhân

  • Hạn chế: Luận văn: Thực trạng pháp luật về quản lý môi trường tỉnh Đắk Lắk.

Hoạt động đăng ký, xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường, quản lý chất thải, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về môi trường trên địa bàn huyện trong thời gian qua đã đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đã đạt được, vẫn còn một số hạn chế nhất định, cụ thể:

  • Một là, hoạt động đăng ký, xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường:

Mặc dù pháp luật về quản lý môi trường đã quy định phải lập và đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường gửi cơ quan có thẩm quyền để xem xét, xác nhận trước khi triển khai đầu tư mới, đầu tư mở rộng quy mô, nâng công suất hoặc phải lập và đăng ký đề án bảo vệ môi trường đơn giản nếu đã đi vào vận hành chính thức, hoàn thành việc đầu tư mở rộng quy mô, nâng công suất; Ủy ban nhân dân huyện đã thông tin tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, các cơ quan quản lý nhà nước, các đoàn kiểm tra liên tục đôn đốc, nhắc nhở, thậm chí phải xử lý vi phạm hành chính và yêu cầu khắc phục hành vi vi phạm. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay vẫn còn 741/987 cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không thực hiện việc lập và đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường, đề án bảo vệ môi trường theo quy định, chiếm tỷ lệ 75%; số lượng cơ sở nắm bắt các quy định và chấp hành việc lập, đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường trước khi triển khai đầu tư mới, đầu tư mở rộng quy mô, nâng công suất đạt tỷ lệ thấp, chủ yếu đã đi vào hoạt động chính thức mới tìm hiểu hoặc được biết các quy định về lập hồ sơ bảo vệ môi trường; phần lớn các cơ sở không thể tự lập được đề án bảo vệ môi trường theo đúng cấu trúc, nội dung quy định; không thực hiện nghiêm túc các nội dung trong kế hoạch bảo vệ môi trường, đề án bảo vệ môi trường sau khi được cơ quan có thẩm quyền xác nhận, đặc biệt là việc xây dựng, vận hành hệ thống công trình xử lý chất thải đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường, việc thực hiện các biện pháp quản lý môi trường, quan trắc, giám sát chất lượng môi trường định kỳ.

Công tác thẩm định, xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường, đề án bảo vệ môi trường đôi lúc vẫn còn thiếu chặt chẽ, chưa đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường, dẫn đến khó khăn cho công tác kiểm tra, xử lý. Năng lực thẩm định của một số cán bộ chuyên môn còn hạn chế, chưa nắm bắt đầy đủ các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường và quy định của pháp luật về quản lý môi trường, chưa nhận diện đầy đủ các yếu tố tác động đến môi trường và các biện pháp quản lý, xử lý môi trường thích hợp, đã ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định, xác nhận hồ sơ bảo vệ môi trường. Công tác kiểm tra việc tổ chức thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường theo kế hoạch bảo vệ môi trường, đề án bảo vệ môi trường đã được xác nhận chưa được thực hiện thường xuyên, phần nào đã ảnh hưởng đến việc quản lý môi trường.

Pháp luật về quản lý môi trường đối với hoạt động đăng ký, xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường vẫn còn thiếu sự chặt chẽ, chưa thực sự phù hợp với thực tiễn và yêu cầu của công tác quản lý môi trường. Quy định về cấu trúc và nội dung của kế hoạch bảo vệ môi trường thì khá đơn giản, thuận lợi cho việc lập và đăng ký, nhưng không ràng buộc được trách nhiệm của chủ cơ sở trong việc thực hiện các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường, khó khăn trong việc xử lý các hành vi vi phạm; còn quy định về cấu trúc và nội dung của đề án bảo vệ môi trường thì khá phức tạp, mang tính chất chuyên môn kỹ thuật, dẫn đến khó khăn trong việc lập và đăng ký của chủ cơ sở. Chế tài xử lý đối với các hành vi vi phạm quy định về thực hiện kế hoạch bảo vệ môi trường, đề án bảo vệ môi trường đã được xác nhận hoặc vi phạm không có kế hoạch bảo vệ môi trường còn thấp, không có tính chất răn đe và bắt buộc phải thực hiện việc khắc phục hành vi vi phạm, điều này dẫn đến việc chủ cơ sở sẵn sàng chấp nhận bị xử lý vi phạm thay vì phải bỏ ra nhiều chi phí để thực hiện đúng các quy định của pháp luật về quản lý môi trường. Quy định về danh mục các dự án thuộc thẩm quyền xác nhận đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường của Sở Tài nguyên và Môi trường tại Phụ lục 5.1 ban hành kèm theo Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT ngày 29/5/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường chưa thật sự cụ thể về quy mô dự án, dẫn đến khó khăn trong công tác tiếp nhận, hướng dẫn việc đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường của cơ quan quản lý nhà nước, chủ cơ sở gặp nhiều lúng túng trong việc lập và xác định cơ quan có thẩm quyền xác nhận đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường. Một số quy định tại Thông tư số 26/2015/TT-BTNMT ngày 28/5/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường có một số nội dung không phù hợp với thực tế và đến nay vẫn chưa được điều chỉnh, gây nhiều khó khăn nhất định cho các cơ quan quản lý và chủ cơ sở trong việc thực hiện các quy định về lập và đăng ký đề án môi trường đơn giản, cụ thể là tại Điều 10 quy định về đối tượng phải lập đề án đơn giản là cơ sở đã đi vào hoạt động trước ngày 01/4/2015, không điều chỉnh đối với các cơ sở đã đi vào hoạt động sau ngày 01/4/2015 trong khi trên thực tế thì việc vi phạm quy định về lập và đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường vẫn còn diễn ra tương đối phổ biến; Phụ lục 14 và 14b ban hành kèm theo Thông tư số 26/2015/TT-BTNMT nêu trên hướng dẫn phải nêu rõ “tình trạng hiện tại của cơ sở thuộc loại nào theo quy định tại Khoản 1 Điều 15 và Khoản 1 Điều 14”, trong khi Điều 15 không có Khoản 1 và chỉ quy định về chế độ tài chính đối với việc lập, thẩm định và phê duyệt đề án bảo vệ môi trường, còn Khoản 1 Điều 14 thì quy định về trách nhiệm của chủ cơ sở trong việc thực hiện đề án đơn giản. Quy định về việc lập và đăng ký lại kế hoạch bảo vệ môi trường tại Khoản 4 Điều 33 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 chưa thực sự đầy đủ, phù hợp với tình hình thực tế, khó khăn trong công tác quản lý của cơ quan chức năng và việc thực hiện của chủ cơ sở, cụ thể là không điều chỉnh đối với trường hợp có tăng quy mô, công suất hoặc thay đổi công nghệ làm tăng tác động xấu đến môi trường nhưng chưa đến mức phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường; nhiều trường hợp chủ cơ sở đề nghị được lập và đăng ký lại theo nhu cầu của mình thì không thể thực hiện được (điển hình như đề nghị được lập và đăng ký lại vì có sự thay đổi thông tin liên quan đến cơ sở do mua bán, thuê lại dự án hoặc bị mất hồ sơ môi trường đã được cơ quan có thẩm quyền xác nhận). Luận văn: Thực trạng pháp luật về quản lý môi trường tỉnh Đắk Lắk.

  • Hai là, hoạt động quản lý chất thải:

Ủy ban nhân dân huyện chưa lập và phê duyệt quy hoạch hạ tầng kỹ thuật xử lý chất thải trên địa bàn; việc lập, thẩm định, phê duyệt một số quy hoạch vẫn còn mang nặng tư tưởng chú trọng đến phát triển kinh tế, xem nhẹ vấn đề quản lý môi trường, chưa đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện các yếu tố tác động đến môi trường và đưa ra các biện pháp quản lý, xử lý môi trường. Công tác ban hành các văn bản chỉ đạo thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý chất thải vẫn còn một số hạn chế, chưa kịp thời; một bộ phận tổ chức, cá nhân chưa thực hiện nghiêm túc các yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước, một số phòng ban chuyên môn, Ủy ban nhân dân cấp xã chưa chấp hành đầy đủ ý kiến chỉ đạo của cơ quan cấp trên. Công tác tập huấn pháp luật còn có mặt hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước, phần lớn cán bộ tham gia công tác quản lý môi trường cấp xã chưa hiểu một cách đầy đủ các quy định của pháp luật về quản lý môi trường, chưa thể chủ động tham mưu quản lý môi trường trên địa bàn; việc phổ biến, giáo dục pháp luật vẫn còn mang tính hình thức, chưa thực sự đi vào cuộc sống, chủ yếu thông qua hệ thống loa phát thanh, panô, băng rôn, tờ rơi, thông tin một chiều nên nhận thức và trách nhiệm trong công tác bảo vệ môi trường của một bộ phận cơ quan, doanh nghiệp, nhân dân và thậm chí cả cán bộ, đảng viên còn nhiều hạn chế. Việc lập, phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch bảo vệ môi trường hàng năm của huyện chưa đánh giá được đầy đủ các nguồn lực thực hiện, dẫn đến nhiều nội dung không thể thực hiện. Hệ thống công trình lưu giữ chất thải nguy hại từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, xử lý nước thải tập trung tại các khu dân cư, cụm công nghiệp huyện vẫn chưa được đầu tư xây dựng; công tác quản lý các nguồn thu, xã hội hóa, khuyến khích, kêu gọi các thành phần kinh tế tham gia các dịch vụ xử lý rác thải, nước thải, sản xuất nông nghiệp sạch đạt hiệu quả thấp; Mặt trận tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp và cộng đồng dân cư chưa thực sự tích cực tham gia vào hoạt động quản lý chất thải; tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn tập trung đạt hiệu quả chưa cao. Vi phạm pháp luật về quản lý chất thải, tình trạng thải chất thải rắn thông thường, nước thải, khí thải trong sinh hoạt, hoạt động sản xuất, kinh doanh chưa được xử lý đạt quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường ra môi trường xung quanh vẫn còn diễn ra tương đối phổ biến, đặc biệt là việc thải chất thải phát sinh từ các hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm, chế biến (sấy, xay xát) nông sản, đốt than, bao bì thuốc bảo vệ thực vật đã qua sử dụng ra môi trường mà không được xử lý theo quy định; chất thải nguy hại chưa được thu gom, phân loại, lưu giữ và xử lý theo quy định của pháp luật; tình trạng lạm dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp còn phổ biến đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng môi trường đất, nước, không khí và sức khỏe con người, hệ sinh thái; tình trạng khai thác, sử dụng nước ngầm tràn lan cũng như không thực hiện việc trám lấp giếng đối với những giếng không còn sử dụng đang tiềm ẩn nguy cơ gia tăng sự suy thoái, ô nhiễm và cạn kiệt nguồn nước ngầm trong tương lai. Hầu hết Ủy ban nhân dân cấp xã không xây dựng kế hoạch, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh môi trường trên địa bàn; không tổ chức đánh giá và lập báo cáo công tác bảo vệ môi trường hàng năm; công tác kiểm tra, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm quy định của pháp luật về quản lý chất thải chưa được quan tâm thực hiện thường xuyên, còn thụ động, chủ yếu chỉ tiến hành kiểm tra, xử lý vi phạm khi có đơn thư khiếu kiện của tổ chức, công dân. Luận văn: Thực trạng pháp luật về quản lý môi trường tỉnh Đắk Lắk.

Pháp luật về quản lý môi trường đối với hoạt động quản lý chất thải vẫn còn một số hạn chế, chưa hoàn thiện và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về quản lý môi trường trong thực tế. Mặc dù pháp luật về quản lý môi trường đã quy định các cơ sở sản xuất (thuộc một trong các trường hợp sau: có chất dễ cháy, dễ nổ; có chất độc hại đối với người và sinh vật; phát tán bụi, mùi, tiếng ồn ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người; gây ô nhiễm nguồn nước) phải có khoảng cách bảo đảm không có tác động xấu đối với khu dân cư, tuy nhiên đến thời điểm hiện nay vẫn chưa có quy định về khoảng cách bảo đảm an toàn khu dân cư đối với một số hoạt động sấy, xay xát nông sản, sản xuất mỡ động vật…, đã ảnh hưởng phần nào đến công tác quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh gắn với bảo vệ môi trường cũng như xử lý các hành vi vi phạm. Quy hoạch bảo vệ môi trường và quan trắc môi trường có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quản lý chất thải, nhưng hiện nay pháp luật mới chỉ giao trách nhiệm thực hiện các nội dung này cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà chưa giao cho Ủy ban nhân dân cấp huyện, là cơ quan trực tiếp chịu trách nhiệm quản lý chất thải trên địa bàn nên đã tạo không ít khó khăn, sự chủ động trong việc thực hiện các biện pháp, quy định của pháp luật về quản lý chất thải trên địa bàn huyện. Quy định về phân công, phân cấp quản lý còn chồng chéo, rời rạc, trách nhiệm quản lý chất thải được giao theo từng ngành, lĩnh vực chuyên môn nên khó khăn trong việc xác định cơ quan chịu trách nhiệm chính về quản lý chất thải. Mặc dù, Điều 83 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã quy định về vấn đề tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường tại nơi sinh sống, nhưng đến nay vẫn chưa có quy định hướng dẫn về trình tự, thủ tục, thẩm quyền thành lập, tổ chức và hoạt động của tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường, điều này đã dẫn đến lúng túng trong việc tổ chức thực hiện tại địa phương.

  • Ba là, hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về môi trường:

Công tác thanh tra, kiểm tra trên địa bàn huyện đã được quan tâm, chú trọng tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, kết quả thanh tra, kiểm tra trong thời gian qua chủ yếu mới chỉ phát hiện được các hành vi vi phạm thông qua việc kiểm tra hồ sơ, tài liệu và đánh giá trực tiếp, chưa phát hiện và xử lý vi phạm thông qua các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, trong khi đó việc xả chất thải, nước thải, khí thải, bụi, mùi hôi, tiếng ồn không được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường ra môi trường xung quanh vẫn diễn ra tương đối phổ biến trong thực tế. Hầu hết các cơ sở đều vi phạm pháp luật về quản lý môi trường, nhưng biện pháp xử lý của các cơ quan chức năng chủ yếu chỉ mang tính chất nhắc nhở, còn việc xử phạt vi phạm hành chính chỉ áp dụng đối với các cơ sở cố tình không thực hiện, tiếp tục vi phạm mặc dù đã được cơ quan chức năng nhắc nhở, yêu cầu chấp hành các quy định của pháp luật. Một số Ủy ban nhân dân xã không tổ chức kiểm tra, phát hiện và xử lý theo thẩm quyền các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trên địa bàn theo quy định, điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả công tác quản lý môi trường cũng như kết quả thực hiện tiêu chí môi trường theo Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ kiểm tra của đội ngũ cán bộ tham mưu công tác kiểm tra, đặc biệt là tại cấp xã còn nhiều hạn chế, còn nhiều trường hợp xác định không đúng hành vi vi phạm, dẫn đến áp dụng sai quy định của pháp luật nên đã ảnh hưởng đến chất lượng công tác kiểm tra, xử lý vi phạm. Luận văn: Thực trạng pháp luật về quản lý môi trường tỉnh Đắk Lắk.

Công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về môi trường trong thời gian qua đối với một số vụ việc vẫn chưa kịp thời; nhiều vụ việc đơn giản, có thể giải quyết dứt điểm ngay từ cấp xã nhưng do thiếu trách nhiệm, không nắm vững các quy định của pháp luật, không tìm hiểu cụ thể nguyên nhân phát sinh vụ việc để kịp thời giải thích, hòa giải, điều này đã gây bức xúc trong nhân dân và phát sinh đơn thư vượt cấp lên cấp huyện và các cơ quan chức năng. Nhiều cơ sở sản xuất chỉ nghĩ đến lợi ích của mình, không quan tâm đến vấn đề quản lý môi trường, thải chất thải bừa bãi làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, sinh hoạt của mọi người xung quanh đã gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân, phát sinh đơn thư khiếu kiện; vẫn còn tình trạng một bộ phận tổ chức, cá nhân cố tình chây ỳ, không chấp hành các quy định của pháp luật, quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền, thậm chí còn chống đối, thách thức. Hầu hết các vụ việc khiếu kiện đều liên quan đến hành vi xả nước thải, khí thải độc hại, bụi, mùi hôi, tiếng ồn nhưng do không có các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phục vụ cho việc thu thập, đo đạc, phân tích các thông số môi trường để làm cơ sở xử lý, bên cạnh đó là sự thiếu hợp tác, trốn tránh, che giấu hành vi vi phạm của một số cơ sở đã gây không ít khó khăn cho công tác kiểm tra, giải quyết vụ việc. Đội ngũ cán bộ tham mưu giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về môi trường còn nhiều hạn chế về năng lực, chuyên môn nghiệp vụ, hiểu biết chưa đầy đủ các quy định của pháp luật liên quan, đặc biệt là pháp luật về môi trường, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, tố tụng dân sự, điều này đã ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết đơn thư trên địa bàn.

Pháp luật về quản lý môi trường đối với hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về môi trường vẫn còn một số hạn chế, cụ thể là theo quy định tại Nghị định số 165/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng và danh mục phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được sử dụng để phát hiện vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông và bảo vệ môi trường thì lực lượng thực hiện công tác bảo vệ môi trường cấp huyện và cấp xã không được trang bị phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường; không quy định về trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp môi trường tại cấp xã. Chế tài, biện pháp xử lý đối với một số hành vi vi phạm theo quy định tại Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường còn thấp, chưa tương xứng với hành vi vi phạm và không đủ tính răn đe để ngăn ngừa các hành vi vi phạm (như: vi phạm các quy định về thực hiện kế hoạch bảo vệ môi trường, đề án bảo vệ môi trường; vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ mà không có kế hoạch bảo vệ môi trường; vi phạm quy định về thực hiện giám sát môi trường; vi phạm các quy định về xả nước thải, bụi, khí thải, tiếng ồn, độ rung); một số hành vi vi phạm hành chính chỉ mới quy định hình thức xử phạt tiền, không quy định hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả, gây nhiều khó khăn cho cơ quan quản lý nhà nước trong việc yêu cầu tổ chức, cá nhân vi phạm thực hiện biện pháp khắc phục hành vi vi phạm hoặc tổ chức cưỡng chế thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính (như: vi phạm quy định không có kế hoạch bảo vệ môi trường). Không quy định việc xử lý vi phạm hành chính đối với hoạt động sản xuất, kho tàng không thực hiện đúng quy định về khoảng cách an toàn bảo vệ môi trường đối với khu dân cư, hành vi không chấp hành việc lập báo cáo kết quả quan trắc môi trường theo nội dung, cấu trúc quy định, mặc dù pháp luật về quản lý môi trường đã có các quy định điều chỉnh đối với các nội dung này. Luận văn: Thực trạng pháp luật về quản lý môi trường tỉnh Đắk Lắk.

  • Nguyên nhân của những hạn chế:

Từ những hạn chế trên, có thể đưa ra một số nguyên nhân chủ yếu sau:

  • Nguyên nhân khách quan:

Pháp luật về quản lý môi trường vẫn chưa hoàn thiện, một số quy định còn sai sót, bộc lộ sự hạn chế, bất cập, không phù hợp với thực tiễn, chế tài xử lý vi phạm còn thấp, chưa tương xứng với hành vi vi phạm và bảo đảm tính răn đe, phòng ngừa vi phạm; còn có sự chồng chéo, chưa thống nhất, ràng buộc và bổ trợ cho nhau giữa quy định của pháp luật về quản lý môi trường với các quy định của pháp luật khác có liên quan như pháp luật về đầu tư, đăng ký kinh doanh, xây dựng, đặc biệt là yêu cầu của việc lập, đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường trước khi tiến hành các hoạt động đầu tư xây dựng, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; quy định về phân công, phân cấp trong quản lý môi trường còn có sự chồng chéo giữa các cơ quan chức năng, khó khăn trong việc xác định cơ quan chịu trách nhiệm chính về quản lý chất thải; quy định về trang bị phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ sử dụng để phát hiện vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường còn bất hợp lý; thiếu các quy định cụ thể về chính sách, chế độ đãi ngộ, đào tạo, bồi dưỡng và thu hút nguồn nhân lực có chất lượng tham gia vào công tác quản lý môi trường. Những hạn chế nêu trên đã ảnh hưởng đáng kể đến công tác quản lý môi trường trên địa bàn huyện trong thời gian qua.

Ảnh hưởng của tình hình phát triển kinh tế – xã hội, khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã dẫn đến vấn đề đầu tư cho công tác quản lý môi trường của nhà nước và xã hội giảm sút.

Thiên tai, dịch bệnh diễn ra thường xuyên cùng với sự gia tăng biến đổi khí hậu đã làm phát sinh các loại chất thải, gây ra những hậu quả nghiêm trọng về môi trường.

  • Nguyên nhân chủ quan:

Hoạt động xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật của các cấp, các ngành trong thời gian qua còn một số hạn chế, chưa thực hiện tốt việc khảo sát, lấy ý kiến, tiếp nhận, nghiên cứu, đánh giá phản hồi ý kiến, kiến nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức nên đã dẫn đến một số vướng mắc, bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện.

Cấp ủy, chính quyền một số ngành, địa phương mà đặc biệt là cấp xã chưa quan tâm và nhận thức đúng mức, đầy đủ tầm quan trọng của vấn đề quản lý môi trường gắn với phát triển bền vững; chưa nghiêm túc trong việc quán triệt, tổ chức thực hiện các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước và ý kiến chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan cấp trên về quản lý môi trường; một số nơi vẫn còn tư tưởng coi việc quản lý môi trường là trách nhiệm của riêng ngành tài nguyên và môi trường, không phải là trách nhiệm của địa phương, đơn vị mình.

Công tác tập huấn, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý môi trường còn nhiều tồn tại, bất cập và mang tính hình thức, thông tin một chiều, chưa đáp ứng với yêu cầu quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và chưa có sự khảo sát, tiếp nhận, đánh giá hiệu quả chất lượng đối với công tác này. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ tham mưu công tác quản lý môi trường nói chung và quản lý hoạt động đăng ký, thẩm định, xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường, quản lý chất thải, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về môi trường nói riêng chưa được quan tâm, chú trọng. Luận văn: Thực trạng pháp luật về quản lý môi trường tỉnh Đắk Lắk.

Nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật về quản lý môi trường của một bộ phận cơ quan, doanh nghiệp và người dân, thậm chí là cán bộ, đảng viên còn nhiều hạn chế. Trách nhiệm tham gia công tác quản lý môi trường của Mặt trận tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp và cộng đồng dân cư, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chưa cao.

Tổ chức bộ máy thực hiện công tác quản lý môi trường ở cấp huyện và cấp xã chưa được kiện toàn, chuyên trách, còn thiếu về số lượng, hạn chế về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, kinh nghiệm xã hội và sự hiểu biết đầy đủ các quy định của pháp luật. Số lượng công chức tham mưu quản lý môi trường cấp huyện hiện nay chỉ có 02 người nhưng phải kiêm nhiệm thêm công tác tham mưu quản lý nhà nước về tài nguyên nước, khoáng sản, biến đổi khí hậu, đa dạng sinh học; còn việc quản lý môi trường cấp xã hiện nay chủ yếu được giao cho 01 công chức địa chính, không có trình độ chuyên môn về quản lý môi trường kiêm nhiệm. Một bộ phận cán bộ, công chức còn thiếu trách nhiệm, không tận tâm, tận lực với công việc; không tiếp thu, chủ động nghiên cứu, học hỏi để nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

Nguồn ngân sách chi hoạt động sự nghiệp bảo vệ môi trường còn thấp, dàn trải; quản lý các nguồn thu và công tác xã hội hóa, khuyến khích, huy động mọi nguồn lực tham gia hoạt động bảo vệ môi trường chưa thực sự hiệu quả.

Kết luận chương 2 Luận văn: Thực trạng pháp luật về quản lý môi trường tỉnh Đắk Lắk.

Pháp luật về quản lý môi trường đối với hoạt động đăng ký, xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường, quản lý chất thải, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về môi trường từ thực tiễn huyện Cư Kuin đã đạt được những kết quả nhất định; pháp luật đã phát huy vai trò là công cụ quan trọng trong hoạt động quản lý môi trường. Các cấp, các ngành đã có sự quan tâm, chú trọng đến công tác quản lý môi trường thể hiện qua việc thường xuyên quán triệt, phổ biến, giáo dục pháp luật, chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Nhận thức, ý thức tuân thủ pháp luật và trách nhiệm bảo vệ môi trường trong xã hội đã có sự chuyển biến tích cực. Hoạt động đăng ký, xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường đã có nhiều tiến bộ với số lượng hồ sơ đăng ký và được giải quyết ngày càng tăng. Chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và sinh hoạt được quản lý tương đối tốt, bước đầu đã kiểm soát, giảm thiểu sự gia tăng ô nhiễm môi trường. Công tác thanh tra, kiểm tra được triển khai thường xuyên, liên tục đã góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, hoạt động bảo vệ môi trường dần đi vào nề nếp; việc giải quyết đơn thư tranh chấp, khiếu nại, tố cáo khá kịp thời, góp phần bảo đảm tình hình an ninh trật tự trên địa bàn.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, pháp luật về quản lý môi trường vẫn chưa thực sự hoàn thiện; một số quy định đã bộc lộ những thiếu sót, bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn và yêu cầu của công tác quản lý môi trường; chế tài xử lý còn thấp, chưa đủ sức răn đe nhằm phòng ngừa các hành vi vi phạm. Quy định của pháp luật về đăng ký, xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường, đề án bảo vệ môi trường đơn giản vẫn chưa được tuân thủ một cách nghiêm túc. Quản lý chất thải vẫn còn thiếu chặt chẽ, chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về quản lý môi trường và quy định của pháp luật, tình trạng vi phạm pháp luật trong việc thu gom, phân loại, quản lý và xử lý chất thải vẫn diễn ra tương đối phổ biến. Hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về môi trường vẫn còn nhiều mặt hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của pháp luật.

Tất cả những vấn đề nêu trên cần phải được tiếp tục nghiên cứu một cách nghiêm túc nhằm hoàn thiện và tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý môi trường trong thời gian tới, để pháp luật thực sự là công cụ quan trọng trong công tác quản lý môi trường. Luận văn: Thực trạng pháp luật về quản lý môi trường tỉnh Đắk Lắk.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật về quản lý môi trường tỉnh Đắk Lắk

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464