Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng tại tỉnh Cà Mau

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng tại tỉnh Cà Mau hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng qua thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Cà Mau và kiến nghị hoàn thiện dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng qua thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Cà Mau

2.1.1. Quy định về chủ thể có trách nhiệm bảo vệ rừng

Rừng với vị trí quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển bền vững, theo đó mọi chủ thể tồn tại trong xã hội đều thụ hưởng lợi ích từ rừng dưới nhiều mức độ và hình thức khác nhau. Cho nên tất cả các chủ thể tồn tại trong xã hội đều có trách nhiệm bảo vệ rừng. Điều kiện thực tiễn bảo vệ rừng của tỉnh Cà Mau bên cạnh thực thi quy định pháp luật chung về trách nhiệm bảo vệ rừng của các chủ thể, trong đó, có những chủ thể chính và chủ thể bổ trợ trong bảo vệ rừng. Căn cứ vào các văn bản của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau, Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 cho thấy:

Đối với chủ thể bổ trợ có thể thấy, cơ quan Nhà nước, tổ chức, cộng đồng dân cư thôn, hộ gia đình, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ rừng, thực hiện nghiêm chỉnh các quy định về bảo vệ rừng theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy, pháp luật về bảo vệ và kiểm dịch thực vật, pháp luật về thú y và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Đối với các chủ thể chính trong bảo vệ rừng, gồm: Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân hoạt động trong rừng, ven rừng có trách nhiệm thực hiện các quy định về bảo vệ rừng; thông báo kịp thời cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc chủ rừng về cháy rừng, sinh vật gây hại rừng và hành vi vi phạm quyết định về quản lý, bảo vệ rừng; chấp hành sự huy động về nhân lực, phương tiện của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi xảy ra cháy rừng.

Bên cạnh đó, chủ rừng có trách nhiệm bảo vệ rừng của mình; xây dựng và thực hiện phương án, biện pháp bảo vệ hệ sinh thái rừng; phòng, chống chặt phá rừng, phòng, chống săn, bắt, bẫy động vật rừng trái phép; phòng cháy, chữa cháy rừng; phòng, trừ sinh vật gây hại rừng theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng, pháp luật về đất đai, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy, pháp luật về bảo vệ và kiểm dịch thực vật, pháp luật về thú y và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Chủ rừng không thực hiện các quy định trên mà để mất rừng được Nhà nước giao, cho thuê thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 (Điều 38) quy định trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc bảo vệ rừng như sau: Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng tại tỉnh Cà Mau.

Uỷ ban nhân dân tỉnh cấp tỉnh có trách nhiệm: Ban hành các văn bản thuộc thẩm quyền về quản lý, bảo vệ rừng trong phạm vi địa phương; tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; tổ chức, chỉ đạo việc phòng cháy, chữa cháy rừng, phòng trừ sinh vật hại rừng ở địa phương; chỉ đạo thực hiện và kiểm tra việc bảo vệ rừng đặc dụng, rừng phòng hộ; tổ chức việc khai thác rừng theo quy định của Chính phủ; chỉ đạo việc tổ chức mạng lưới bảo vệ rừng, huy động và phối hợp các lực lượng để ngăn chặn mọi hành vi gây thiệt hại đến rừng trên địa bàn; kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn; xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng theo quy định của pháp luật.

Uỷ ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm: Hướng dẫn, chỉ đạo việc thực hiện pháp luật, chính sách, chế độ của Nhà nước về quản lý, bảo vệ, khai thác rừng trong phạm vi địa phương mình; chỉ đạo, tổ chức công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; chỉ đạo Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, khai thác lâm sản theo quy định của pháp luật; huy động và phối hợp các lực lượng trên địa bàn để ngăn chặn mọi hành vi gây thiệt hại đến rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng, phòng trừ sinh vật hại rừng; kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật, chính sách, chế độ về quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn; xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng theo quy định của pháp luật.

Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm: Hướng dẫn, chỉ đạo việc thực hiện pháp luật, chính sách, chế độ của Nhà nước về quản lý, bảo vệ, khai thác rừng trong phạm vi địa phương mình; chỉ đạo các thôn, bản và đơn vị tương đương xây dựng và thực hiện quy ước, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn phù hợp với quy định của pháp luật; phối hợp với các lực lượng kiểm lâm, công an, quân đội, tổ chức lực lượng quần chúng bảo vệ rừng trên địa bàn; phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hành vi xâm phạm, huỷ hoại rừng; tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng, hướng dẫn nhân dân thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng, huy động các lượng chữa cháy rừng trên địa bàn; trình Uỷ ban nhân dân cấp trên đưa rừng vào sử dụng đối với những diện tích rừng Nhà nước chưa giao, chưa cho thuê; hướng dẫn nhân dân thực hiện quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, sản xuất lâm nghiệp – nông nghiệp – ngư nghiệp kết hợp, làm nương rẫy, định canh, thâm canh, luân canh, chăn thả gia súc theo quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã được phê duyệt; kiểm tra việc chấp hành pháp luật, chính sách, chế độ về quản lý, bảo vệ rừng đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn trên địa bàn; xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng theo quy định của pháp luật. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp dưới chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp trên, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ khi để xảy ra phá rừng, cháy rừng ở địa phương.

Tuy nhiên, quá trình áp dụng luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 vẫn còn một số vấn đề bất cập đó là: công tác phối hợp giữa các ngành đôi lúc chưa được chặt chẽ cụ thể trong việc giao đất, giao rừng cho người dân quản lý sản xuất ổn định lâu dài còn có sự chồng chéo, không đảm bảo theo quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã được phê duyệt; Trách nhiệm của chính quyền địa phương chưa được quy định cụ thể trong công tác bảo vệ rừng nếu xảy ra tình trạng phá rừng, cháy rừng,…; Nhà nước có chính sách giao đất, giao rừng cho người dân nhưng việc tăng biên chế cho địa phương (Ủy ban nhân dân cấp xã) làm công tác bảo vệ rừng chưa được quy định rõ ràng từ đó ảnh hưởng rất lớn đến công tác bảo vệ rừng ở địa phương.

2.1.2. Quy định về bảo vệ hệ sinh thái rừng Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng tại tỉnh Cà Mau.

  • Điều 40 của Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 đã chỉ rõ về bảo vệ hệ sinh thái rừng, gồm:

Một là, khi tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc có những hoạt động khác ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái rừng, sinh trưởng và phát triển của các loài sinh vật rừng phải tuân theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng, pháp luật về bảo vệ môi trường, pháp luật về bảo vệ và kiểm dịch thực vật, pháp luật về thú y và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Hai là, khi xây dựng mới, thay đổi hoặc phá bỏ các công trình có ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng, sinh trưởng và phát triển của các loài sinh vật rừng phải thực hiện việc đánh giá tác động môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và chỉ được thực hiện các hoạt động đó sau khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép.

Đặc thù tỉnh Cà Mau có hệ sinh thái đa dạng, bao gồm hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rừng ngập lợ, ngoài ra còn có hệ sinh thái rừng đảo, có tính đa dạng sinh học cao, đặc thù cho vùng đất ngập nước. Mức độ đa dạng sinh học cao và các cơ quan chức năng các cấp của tỉnh rất quan tâm đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học, trong đó có ban hành các văn bản điều chỉnh liên quan đến bảo vệ hệ sinh thái rừng.

Nổi bật là việc tập trung chỉ đạo quản lý bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản; thực hiện các nghiên cứu khoa học về đa dạng sinh học; thành lập các Vườn Quốc gia (Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau, Vườn Quốc gia U Minh hạ); sắp xếp chuyển đổi các lâm trường quốc doanh: từ 13 lâm ngư trường ở khu vực rừng ngập mặn năm 2004 được sắp xếp lại hoàn chỉnh vào tháng 6 năm 2010 và ổn định đến nay (07 Ban quản lý rừng phòng hộ, 01 công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Ngọc Hiển); tăng cường công tác bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và điều tra vùng ngập nước phục vụ phát triển bền vững.

Các khu rừng đặc dụng hiện có, gồm: Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau; Vườn Quốc gia U Minh Hạ; Sân chim Đầm Dơi; Rừng cụm đảo Hòn Khoai; Rừng nghiên cứu khoa học (Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm lâm nghiệp Tây Nam Bộ);

  • Bảng 2.1: Sắp xếp, phân loại quy hoạch rừng đặc dụng Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng tại tỉnh Cà Mau.

Mỗi loại khu rừng trên đều có quy chế tổ chức và hoạt động, do đó, quy định bảo vệ hệ sinh thái rừng của tỉnh Cà Mau thể hiện dưới hệ thống quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Bất cập lớn nhất trong việc bảo vệ hệ sinh thái rừng tại tỉnh Cà Mau đã qua thể hiện ở những vấn đề trong tâm như: tình trạng săn bắt động vật hoang dã, nguy cấp quý hiếm thuộc nhóm IB trong những năm gần đây có điều hướng gia tăng;

Tình trạng đưa giống cây lâm nghiệp vào Cà Mau tiêu thụ chưa được kiểm định diễn ra hết sức phức tạp. Tuy nhiên, chế tài xử ý cho những vấn đề trên còn rất nhiều chồng chéo giữa các văn bản dưới Luật.

2.1.3. Quy định về bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng

Hiện nay, tỉnh Cà Mau chưa có quy định riêng về bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng. Tuy nhiên, hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước của tỉnh đã triển khai quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, phổ biến Nghị định số 32/2006/NĐ-CP, ngày 30/3/2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; Nghị định số 66/2016/NĐ-CP, ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện đầu tư kinh doanh về bảo vệ và kiểm dịch thực vật; giống cây trồng; nuôi động vật rừng thông thường; chăn nuôi; thủy sản; thực phẩm.

Theo đó, việc khai thác thực vật rừng phải thực hiện theo Quy chế quản lý rừng do Thủ tướng Chính phủ quy định và quy trình, quy phạm về khai thác rừng do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành. Việc săn, bắt, bẫy, nuôi nhốt động vật rừng phải được phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và tuân theo các quy định của pháp luật về bảo tồn động vật hoang dã. Những loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm; nguồn gen thực vật rừng, động vật rừng quý, hiếm phải được quản lý bảo vệ theo chế độ đặc biệt. Chính phủ quy định chế độ quản lý, bảo vệ những loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và danh mục những loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định việc khai thác thực vật rừng, săn bắt động vật rừng, công cụ và phương tiện bị cấm sử dụng hoặc bị hạn chế sử dụng; chủng loài, kích cỡ tối thiểu thực vật rừng, động vật rừng và mùa vụ được phép khai thác, săn bắt; khu vực cấm khai thác rừng.

Ngày 08/02/2014, Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau ban hành Quyết định số 03/2014/QĐ-UBND về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về quản lý và bảo vệ động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh Cà Mau ban hành kèm theo Quyết định số 20/2010/QĐ-UBND, ngày 23/9/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau. Đây là một căn cứ pháp lý chính để các cơ quan chức năng của tỉnh tổ chức bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng nhưng cũng cần thấy đây là hạn chế của tỉnh chưa có ban hành văn bản pháp quy thuộc thẩm quyền để quản lý thực vật rừng và động vật rừng nói chung được chặt chẽ hơn, nhất là trong điều kiện của tỉnh có hệ sinh thái rừng đa dạng và gắn với đó là sự thích nghi của thực vật rừng và động vật rừng. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng tại tỉnh Cà Mau.

Bên cạnh đó cần thấy rằng, Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau ban hành Quyết định số 54/2005/QĐ-UBND, ngày 07/5/2005 về chế độ quản lý và bảo vệ động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh Cà Mau; Quyết định số 57/QĐ-UBND, ngày 25/01/2006 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh về ban hành danh mục động vật hoang dã quý, hiếm trên địa bàn tỉnh Cà Mau; Quyết định số 03/2014/QĐ-UBND, ngày 08/02/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định về quản lý và bảo vệ động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh Cà Mau ban hành kèm theo Quyết định số 20/2010/QĐ-UBND, ngày 23/9/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau. Việc quản lý động vật hoang dã, quý hiếm tuy có quan tâm nhưng chưa tương xứng với thực vật quý hiếm, đến nay chưa có văn bản quy định về quản lý thực vật rừng. Đây là hạn chế của tỉnh, từ đó, công tác điều tra, thống kê thực vật rừng quý, hiếm khó thực hiện. Đặc biệt trong năm 2010 và 2014, Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau đã ban hành Quyết định số 20/2010/QĐ-UBND, ngày 23/9/2010 và Quyết định số 03/2014/QĐ-UBND, ngày 08/02/2014 nêu trên có một số điểm trái với văn bản nguồn của Chính phủ, của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, do đó hiện nay Ủy ban nhân dân tỉnh đã đình chỉ đối với 02 Quyết định này, đồng thời chưa có Quyết định mới thay thế, điều chỉnh lĩnh vực này.

Mặt khác, quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên lĩnh vực bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng chưa được hiểu thống nhất trên địa bàn tỉnh Cà Mau. Theo Thông tư số 47/2012/TT-BNNPTNT, ngày 25/9/2012 của Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về quản lý, khai thác từ tự nhiên và nuôi động vật rừng thông thường. Thông tư này quy định không đồng nhất hai cụm từ động vật rừng và động vật hoang dã nên địa phương rất khó xử lý trong trường hợp có vi phạm phát sinh. Chẳng hạn, là cùng một loài chim ở trong rừng và ở ngoài đồng ruộng, vuông tôm thì việc xác định động vật rừng hay động vật hoang dã là hết sức khó khăn; Một số loài động vật khác như: chim, bò sát không nằm trong Danh mục theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP được sống hoang dã trong những khu vực rừng đặc dụng, rừng phòng hộ có nguy cơ bị tuyệt chủng nhưng hiện nay chưa có văn bản nào quy định Danh mục cấm săn bắt, nuôi nhốt,… và hiện tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chưa có văn bản chỉ đạo để các địa phương thống nhất áp dụng thực hiện. Do đó gây khó khăn trong công tác xử lý vi phạm.

2.1.4. Quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng tại tỉnh Cà Mau.

Nhằm triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị định số 09/2006/NĐ-CP ngày 16 tháng 1 năm 2006 của Chính phủ quy định về phòng cháy chữa cháy (sau đây gọi là Nghị định số 09/2006/NĐ-CP), Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau đã ban hành nhiều văn bản áp dụng trên địa bàn tỉnh Cà Mau như: Quyết định số 29/2010/QĐ-UBND, ngày 15/11/2010 quy định về phòng cháy và chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh Cà Mau (thay thế Quyết định số 55/2005/QĐ-UBND, ngày 21/12/2005 ban hành quy định về phòng cháy và chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh Cà Mau). Tuy nhiên, việc triển khai một số nhiệm vụ trong việc thực hiện Nghị định số 09/2006/NĐ-CP về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng đôi lúc còn chậm.

Việc phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh Cà Mau diễn biến phức tạp, tuy diện tích cháy rừng có xu hướng giảm nhưng kiểm soát các vụ cháy chưa chặt chẽ, thực thi pháp luật còn chung chung, chưa thống nhất, xử lý chậm khi rừng bị cháy, áp dụng các quy định phòng cháy còn buông lổng và không thường xuyên. Bên cạnh đó, tình hình thời tiết diễn biến phức tạp trước sự tác động của biến đổi khí hậu theo chiều hướng vượt giá trị trung bình nhiều năm cả về nhiệt độ và lượng mưa… làm cho mực nước một số tuyến kênh bị cạn gây khó khăn cho việc lưu thông, vận chuyển phương tiện và lượng nước phục vụ cho công tác chữa cháy, những tuyến kinh đào lâu năm chưa được nạo vét không có nguồn nước bổ sung dự trữ.

Việc quy định phòng cháy, chữa cháy rừng chưa có biện pháp đặc thù địa phương, nội dung chủ yếu là quy định ở những khu rừng tập trung, rừng dễ cháy, chủ rừng phải có phương án phòng cháy, chữa cháy rừng; khi trồng rừng mới tập trung phải thiết kế và xây dựng đường rãnh, kênh, mương ngăn lửa, chòi canh lửa, biển báo, hệ thống thông tin theo quy định của pháp luật về phòng cháy, chữa cháy; chấp hành sự hướng dẫn, kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trường hợp được đốt lửa trong rừng, gần rừng để dọn nương rẫy, dọn đồng ruộng, chuẩn bị đất trồng rừng, đốt trước mùa khô hanh hoặc dùng lửa trong sinh hoạt thì người đốt lửa phải thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân xây dựng, tiến hành các hoạt động trên các công trình đi qua rừng, ở trong rừng, ven rừng phải chấp hành các quy định về phòng cháy, chữa cháy; tuân thủ các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và chủ rừng. Khi xảy ra cháy rừng, chủ rừng phải kịp thời chữa cháy rừng, báo ngay cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền; trong trường hợp cần thiết Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm và thẩm quyền huy động mọi lực lượng, phương tiện cần thiết ở địa phương, điều hành sự phối hợp giữa các lực lượng để kịp thời chữa cháy rừng có hiệu quả. Trong trường hợp cháy rừng xảy ra trên diện rộng có nguy cơ gây thảm hoạ dẫn đến tình trạng khẩn cấp thì việc chữa cháy rừng phải tuân theo các quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng tại tỉnh Cà Mau.

Trong công tác quản lý bảo vệ rừng phòng hộ của tỉnh hiện nay gặp nhiều khó khăn, phức tạp do áp lực của dân di cư tự do, họ khai thác chặt phá cây rừng để phục vụ sản xuất, sử dụng cho sinh hoạt gia đình và hầm than trái phép, mặc dù các chủ rừng, chính quyền địa phương và lực lượng Kiểm lâm thực hiện nhiều biện pháp ngăn chặn nhưng không giải quyết triệt để vì điều kiện đời sống phần đông dân cư còn nghèo, ý thức tuân thủ pháp luật còn hạn chế, pháp luật chưa có quy định và chưa có chính sách hỗ trợ đối tượng đặc thù này.

Dân cư được giao đất, giao rừng, nhận khoán sống xen kẻ trong rừng, phần đông đời sống còn gặp nhiều khó khăn, nhiều hộ còn dựa vào rừng để giải quyết nhu cầu cuộc sống hằng ngày. Một số hộ dân chưa thật sự nhận thức đầy đủ về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, nên họ tùy tiện đốt đất nông nghiệp, đất rừng sau thai thác, vào rừng cấm để lấy mật ong trong mùa khô …từ đó dẫn đến gây ra các vụ cháy rừng.

Trên cơ sở quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng vẫn còn những bất cập nhất định cụ thể là: chế tài xử lý hành vi vi phạm phòng cháy, chữa cháy rừng vẫn còn chồng chéo cụ thể như: Năm 2015 trên địa bàn tỉnh Cà Mau xảy ra 01 vụ cháy rừng sản xuất là rừng trồng do người dân gây ra, diện tích thiệt hại: 39.000m2. Quy định của pháp luật bảo vệ và phát triển rừng mà cụ thể quy định tại Nghị đinh 157/2013/NĐ-CP, ngày 11/11/2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản thì diện tích xử phạt tối đa cháy rừng sản xuất đến 10.000 m2, do đó hành vi trên chuyển cơ quan chức năng để khởi tố hình sự. Tuy nhiên Điều 313 Bộ luật Hình sự số 132/2015/L-CTN, ngày 09/12/2015 quy định tội hủy hoại rừng thì phải đáp ứng được diện tích và giá trị rừng bị thiệt hại (Vụ cháy rừng nêu trên được cơ quan chức năng giám định thiệt hại 76.000.000 đồng). Do đó cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp có lợi cho người vi phạm nên không khởi tố hình sự.

Qua đó cho thấy giữa Luật bảo vệ và phát triển rừng mà chế tài được quy định xử lý tại Nghị định 157/2013/NĐ-CP của Chính phủ và Bộ luật Hình sự 2015 chưa có sự thống nhất nhau.

Kinh phí đầu tư cho địa phương để thực hiện nhiệm vụ phòng cháy, chữa cháy rừng chưa được quy định cụ thể. Do đó đã qua phần nào ảnh hưởng rất nhiều đến việc thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh Cà Mau.

2.1.5. Quy định về phòng trừ sinh vật gây hại rừng Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng tại tỉnh Cà Mau.

Tại mục 2.1.3 đã đề cập, chính quyền Cà Mau chưa có quy định về bảo vệ thực vật rừng và động vật rừng, theo đó cũng không có quy định về phòng trừ sinh vật hại rừng. Điều này dễ thấy trong điều kiện môi trường sinh thái có nhiều biến đổi, dễ phát sinh nhiều sinh vật gây hại rừng; việc không ban hành quy định về phòng trừ sinh vật hại rừng, kéo theo các biện pháp chăm sóc rừng không được thực thi, cơ quan chức năng hướng dẫn kỹ thuật cho chủ rừng còn bỏ sót.

Cần thấy là diện tích rừng trên địa bàn tỉnh chủ yếu là rừng trồng và được giao khoán cho dân quản lý, bảo vệ và sản xuất kết hợp dưới tán rừng, nên diện tích rừng bị manh muốn, nhỏ lẻ, có một số ít diện tích rừng tập trung nằm ở các khu rừng đặc dụng và khu vực rừng phòng hộ rất xung yếu thuộc các Ban quản lý rừng quản lý. Đối với rừng ngập mặn của tỉnh chủ yếu đều nằm trong các đầm nuôi tôm nên đã làm thay đổi quy luật tự nhiên, từ đó làm cho chất lượng rừng bị suy giảm, mặt khác do nhu cầu kinh tế người dân chỉ trồng một loài cây đước, điều này đã làm giảm sự đa dạng hệ sinh thái của rừng, bên cạnh đó trong quá trình sản xuất do nhu cầu mưu sinh và lợi ích từ nuôi tôm đem lại sinh kế hàng ngày cho người dân, nên người dân chủ yếu chú trọng đến con tôm, vì vậy công tác chăm sóc, phòng trừ sinh vật gây hại rừng, quản lý bảo vệ rừng chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến chất lượng rừng bị suy giảm. Tình trạng di dân tự do đến rừng ngập mặn Cà Mau sinh sống vẫn còn diễn ra, dẫn đến áp lực từ cộng đồng dân cư vào rừng và làm suy thoái đa dạng sinh học ở khu vực rừng ngập mặn, chính sự áp lực từ xã hội vào rừng nên các đơn vị quản lý rừng chủ yếu phải tập trung làm công tác quản lý bảo vệ rừng hơn là thực thi các hoạt động bảo tồn và phát triển hệ sinh thái rừng và quần thể sinh vật rừng. Đối với khu vực rừng tràm có một số nơi người dân tự ý đưa nước mặn vào rừng để nuôi tôm cũng gây ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng tràm, hàng năm đến mùa khô khu vực rừng tràm phải đắp đập giữ nước để làm công tác phòng cháy, chữa cháy rừng làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của rừng. Bên cạnh đó việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác không phải là lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh cũng là nguyên nhân làm suy giảm và ảnh hưởng đến đa dạng sinh thái rừng, phát sinh nhiều sinh vật gây hại rừng.

Sự quan tâm thể hiện vai trò, trách nhiệm của chính quyền địa phương, các ngành có liên quan trên địa bàn tỉnh đối với phòng trừ sinh vật gây hại rừng, thực hiện công tác bảo tồn đa dạng tài nguyên rừng còn hạn chế. Bên cạnh đó với khung luật pháp hiện nay, các khu rừng đặc dụng chịu sự điều chỉnh quản lý bởi nhiều luật khác nhau như: Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, Luật Đa dạng Sinh học đã được Quốc hội thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 (sau đây gọi là Luật Đa dạng sinh học năm 2008), Luật Đất đai đã được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2013 (sau đây gọi là Luật Đất đai năm 2013), Luật Bảo vệ Môi trường đã được Quốc hội thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2014 (sau đây gọi là Luật Bảo vệ môi trường năm 2014) với nhiều quy định chồng chéo, mâu thuẫn, thậm chí ít có giá trị thực thi. Theo đó, mỗi khu rừng đặc dụng lại chịu sự quản lý của nhiều cơ quan khác nhau, ở những mức độ khác nhau theo ngành dọc tương ứng. Điều này không chỉ thách thức năng lực thực hiện của đơn vị quản lý rừng đặc dụng mà còn giảm tính nhất quán trong các quyết định bảo tồn đa dạng sinh học tài nguyên rừng trên địa bàn tỉnh. Nguồn nhân lực có trình độ kỹ thuật phòng trừ sinh vật hại rừng, trong lĩnh vực bảo tồn ở các khu rừng đặc dụng trên địa bàn tỉnh còn hạn chế, nguồn lực đầu tư cho bảo tồn là chưa tương xứng với nhu cầu thực tế, chưa đáp ứng được nhu cầu để tổ chức quản lý bảo tồn hiệu quả, nhất là việc ngăn chặn các hoạt động trái phép. Các dự án bảo tồn lớn và kinh phí đầu tư phát triển cho các Vườn quốc gia vẫn chủ yếu từ nguồn vốn Trung ương hoặc hỗ trợ quốc tế (ODA). Tuy nhiên, các đầu tư này còn dàn trải, chủ yếu chú trọng vào cơ sở hạ tầng hơn là mục tiêu bảo tồn do thiếu một cơ quan điều phối thống nhất. Các khu rừng đặc dụng trên địa bàn tỉnh có quy mô nhỏ ít được chú ý và không có nhiều cơ hội tiếp cận, hưởng lợi từ các chính sách đầu tư của nhà nước. Đời sống của người dân sống ven rừng chủ yếu không có nghề nghiệp, chỉ sống dựa vào tài nguyên rừng, do đó các đối tượng này cũng ảnh hưởng đến công tác bảo vệ rừng, cơ chế chính sách cho các đối tượng này chưa được giải quyết triệt để. Hệ sinh thái rừng ngập nước có tính đặc thù, có giá trị về sinh thái, môi trường cao nhưng chưa có cơ chế đặc thù để bảo vệ và phát triển bền vững hệ sinh thái này. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng tại tỉnh Cà Mau.

Hiện nay, thực hiện các quy định về phòng trừ sinh vật gây hại rừng được căn cứ Điều 48 của Nghị định số 23/2006/NĐ-CP, ngày 03/3/2006 của Chính phủ hướng dẫn về thi hành Luật bảo vệ và phát triển rừng. Việc trồng cây rừng, nuôi hoặc chăn, thả động vật vào rừng phải thực hiện theo đúng pháp lệnh về bảo vệ và kiểm dịch thực vật và pháp lệnh về thú y; không được sử dụng thuốc phòng, trừ sinh vật hại rừng không đúng theo danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam. Chủ rừng phải chấp hành đầy đủ các biện pháp về phòng, trừ sinh vật hại rừng, chủ động thực hiện các biện pháp phòng, trừ sinh vật hại rừng và phải chịu trách nhiệm khi không thực hiện các biện pháp phòng, trừ theo hướng dẫn của cơ quan chức năng có thẩm quyền. Các biện pháp lâm sinh hoặc sinh học để phòng, trừ sinh vật gây hại rừng được khuyến khích bao gồm: Gieo trồng các loại cây có khả năng chống chịu sinh vật gây hại. Diệt trừ hoặc ngăn chặn sinh vật hại rừng bằng việc sử dụng các nhân tố sinh vật, như: Động vật ký sinh, động vật ăn thịt. Nhân hoặc thả những loài sâu hại đã bị diệt dục hoặc những loài sâu hại đã được tác động để làm mất khả năng di truyền. Diệt trừ hoặc ngăn chặn sự phát triển của các quần thể sinh vật hại bằng cách phối hợp, sử dụng một cách hợp lý hai hoặc nhiều biện pháp để duy trì mật độ sinh vật hại bằng hoặc dưới ngưỡng kinh tế. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm dự báo tình hình dịch bệnh, hướng dẫn các biện pháp phòng, trừ sinh vật hại rừng. Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo các lực lượng để diệt trừ sinh vật hại rừng trong phạm vi địa phương, không để sinh vật gây hại rừng lây lan sang các địa phương khác.

Như đã nêu những bất cập mục 2.1.2 về tình trạng giống cây lâm nghiệp bán đại trà trên địa bàn tỉnh Cà Mau chưa được cơ quan chức năng kiểm định, đây là nguyên nhân chính làm bùn phát những loài sinh vật gây hại bệnh cho cây rừng, vấn đề thiệt hại cây rừng này có thể lan rộng sang khu vực khác nếu người dân không thôn tin báo cáo kịp thời đến cơ quan chức năng để dập dịch. Nhưng hiện nay quy định của pháp luật về hành vi này còn bất cập đặc biệt là việc áp dụng chế tài xử lý đối với hành vi trên chưa được cơ quan chức năng thực hiện một cách nghiêm túc. Nguyên nhân là do mức phạt dao động của hành vi vi phạm này được quy định tại Khoản 1, 2, Điều 18, Nghị định 157/2013/NĐ-CP tương đối cao.

2.1.6. Quy định về kinh doanh, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu thực vật rừng, động vật rừng

Hệ thống quy định về kinh doanh, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu thực vật rừng, động vật rừng nước ta hiện nay căn cứ vào quy định tại Nghị định số 32/2006/NĐ-CP, ngày 30/3/2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; Nghị định số 82/2006/NĐ-CP, ngày 10/8/2006 của Chính phủ về quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm; Nghị định số 98/2011/NĐ-CP, ngày 26/10/2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về nông nghiệp; Thông tư số 90/2008/TT-BNN, ngày 28/8/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn xử lý tang vật là động vật rừng sau khi xử lý tịch thu; Thông tư số 01/2012/TT-BNNPTNT, ngày 04/01/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản; Thông tư số 42/2012/TT-BNNPTNT, ngày 21/8/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 01/2012/TT-BNNPTNT; và Thông tư số 47/2012/TT-BNNPTNT, ngày 25/9/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về quản lý khai thác từ tự nhiên và nuôi động vật rừng thông thường. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng tại tỉnh Cà Mau.

Các văn bản trên quy định về kinh doanh, vận chuyển, nhập khẩu, xuất khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, quá cảnh thực vật rừng, động vật rừng được thực hiện như sau: Việc kinh doanh, vận chuyển thực vật rừng, động vật rừng và các sản phẩm của chúng phải tuân theo quy định của pháp luật. Việc xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, quá cảnh thực vật rừng, động vật rừng và các sản phẩm của chúng phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập. Việc nhập nội giống thực vật rừng, động vật rừng phải tuân theo quy định của pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học, pháp luật về bảo vệ và kiểm dịch thực vật, pháp luật về thú y, pháp luật giống cây trồng, pháp luật về giống vật nuôi.

Trên cơ sở các văn bản nêu trên, Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau đã ban hành Quyết định số 03/2014/QĐ-UBND, ngày 08/02/2014 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về quản lý và bảo vệ động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh Cà Mau ban hành kèm theo Quyết định số 20/2010/QĐ-UBND ngày 23/9/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau.

Nội dung quy định tại Quyết định trên của tỉnh Cà Mau là căn cứ pháp lý quan trọng và duy nhất để các chủ thể trên địa bàn tỉnh kinh doanh, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu thực vật rừng, động vật rừng. Tuy nhiên, trong Quyết định còn một số vấn đề chưa điều chỉnh hoặc có điều chỉnh nhưng chưa phù hợp với điều kiện cải cách công vụ mới, chưa theo kịp với quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nhất là hoạt động kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu.

Trong những năm qua, bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng và thực thi CITES; kiểm tra, kiểm soát lâm sản trên địa bàn tỉnh còn nhiều hạn chế. Hiện nay còn một bộ phận người dân chưa chấp hành việc đăng ký gây nuôi các loài động vật rừng theo quy định của pháp luật, nhất là các hộ gia đình nuôi trăn, cá sấu… nhỏ lẻ họ không đến đăng ký với cơ quan Kiểm lâm, khi cần tiêu thụ thì gặp khó khăn hồ sơ thủ tục, bị thương lái ép giá hoặc khi cơ quan chức năng kiểm tra thường bị phản ứng, nếu phát hiện vi phạm thì khó xử lý, do hoàn cảnh kinh tế, dư luận xã hội ít đồng tình do thực tế một số loài không có trong môi trường tự nhiên mà do người dân tự tìm mua từ tỉnh khác về nuôi giống như các loài gia cầm, gia súc hộ gia đình thường nuôi.

Hiện nay đối với các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm có 03 Luật điều chỉnh, gồm: Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Luật đa dạng sinh học ngày 13 tháng 11 năm 2008 và Luật đầu tư ngày 26 tháng 11 năm 2014. Những văn bản dưới Luật, gồm: Nghị định 32/2006/NĐ-CP; Nghị định 160/2013/NĐ-CP và rất nhiều văn bản hướng dẫn thi hành của các cơ quan chuyên môn, cơ quan chủ quản. Do đó việc áp dụng các văn bản pháp luật gặp khó khăn, thiếu thống nhất khó cho cơ quan thực thi công vụ cơ sở.

Mặt khác, hiện nay Nhà nước chưa có ban hành cơ chế cho phép thu phí và lệ phí cho đội ngũ cán bộ làm nhiệm vụ chuyên trách để bổ sung thêm kinh phí sử dụng phục vụ đi lại kiểm tra lập hồ sơ thủ tục cho người dân theo quy định, từ trước đến nay hoạt động này chủ yếu là sử dụng từ nguồn kinh phí tự chủ của đơn vị nên gặp nhiều khó khăn về kinh phí hoạt động.

2.1.7. Quy định về xử lý đối với hành vi, vi phạm pháp luật bảo vệ rừng Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng tại tỉnh Cà Mau.

Xử lý vi phạm trách nhiệm bảo vệ rừng tuy được hệ thống chính trị và nhân dân tỉnh Cà Mau quan tâm nhưng văn bản ban hành thuộc thẩm quyền trách nhiệm của tỉnh chưa được thực hiện, đồng thời đây là vấn đề phân cấp thẩm quyền, trách nhiệm nên thuộc nhiều cơ quan, đơn vị, chức năng, cơ quan cấp trên và cấp dưới, do đó, xử lý vi phạm trách nhiệm bảo vệ rừng đối với tỉnh Cà Mau trong những năm qua còn rất nhiều hạn chế, thiếu sót. Căn cứ pháp lý không chặt chẽ, thiếu thống nhất, tính nghiêm minh thực thi công vụ không cao.

Báo Tuổi trẻ, ngày 30/5/2016 thông tin về công bố kết luận Thanh tra Chính phủ đối với trách nhiệm Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau, trong đó đã đề cập đến trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh trong xử lý vi phạm bảo vệ rừng, có dấu hiệu sai phạm khá nghiêm trọng, nổi cộm là thiếu trách nhiệm trong xử lý sai phạm trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại Vườn quốc gia Mũi Cà Mau, Thanh tra Chính phủ phát hiện nhiều sai phạm nhưng việc xử lý chưa nghiêm.

Để xử lý vi phạm trách nhiệm bảo vệ rừng, cơ quan chức năng, người có thẩm quyền của tỉnh bên cạnh căn cứ vào Luật bảo vệ và phát triển rừng thì căn cứ chủ yếu vào Nghị định số 157/2011/NĐ-CP, ngày 11/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT-BNN-BTP-BCA-VKSNDTC-TANDTC, ngày 08/3/2007 hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; Chỉ thị số 1685/CT-TTg, ngày 27/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ.

Theo đó, người phá rừng, đốt rừng, huỷ hoại tài nguyên rừng; khai thác rừng trái phép; săn, bắn, bắt, bẫy, nuôi nhốt, giết mổ động vật rừng trái phép; mua bán, kinh doanh, vận chuyển trái phép lâm sản hoặc vi phạm các quy định khác của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng tại tỉnh Cà Mau.

Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm quy định của pháp luật trong việc giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng, cho phép sử dụng rừng, khai thác lâm sản; thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong việc thi hành pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; bao che cho người vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng hoặc có hành vi khác vi phạm quy định của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

  • Quá trình áp dụng pháp luật trong việc phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng phát sinh một số bất cập sau:

Một là, đối với chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất, giao rừng sản xuất quản lý, bảo vệ và phát triển rừng theo quy định pháp luật sau khi khai thác rừng họ phải tổ chức trồng lại rừng sau 12 tháng. Tuy nhiên, họ không thực hiện mà hiện nay chế tài xử lý hành vi này chưa được pháp luật điều chỉnh.

Hai là, mức phạt tiền được quy định tại Khoản 1, Điều 21, Nghị định số 157/2013/NĐ-CP, ngày 11/11/2013 của Chính phủ, dao động mức phạt tiền tối thiểu đến tối đa quá lớn (từ 500.000 đồng đến 10.000.000 đồng). Từ đó cho thấy việc áp dụng để xử lý hành chính còn gặp nhiều khó khăn.

Ví dụ hành vi bắt, nhốt 01 cá thể trăn trong lượng từ 01 – 02 kg, thì giá thị trường hiện nay dao động của cá thể trăn này từ 200.000 – 300.000 đồng. Nếu quy định của pháp luật về nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính thì hành vi này có thể phạt ở mức thấp nhất của khung hình phạt (nếu có tình tiết giảm nhẹ) hoặc hết khung (nếu có tình tiết tăng nặng) và trung bình khung nếu không có 1 trong 2 tình tiết vừa nêu. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng tại tỉnh Cà Mau.

Như vậy nếu đối tượng vi phạm không có tình tiết giảm nhẹ thì hành vi vi phạm nói trên được xử phạt với số tiền: 5.250.000 đồng (nếu không có tình tiết tăng nặng) hoặc 10 triệu đồng (nếu có tình tiết tăng nặng). Từ đó cho thấy việc xử lý của cơ quan chức năng chưa được mang tính thuyết phục cao so với giá trị tang vật mà họ đã vi phạm, thêm vào đó việc thực hiện Quyết định xử phạt cũng gặp nhiều khó khăn, bởi vì hành vi này thường họ không có phương tiện vi phạm.

Ba là, rừng ở tỉnh Cà Mau chủ yếu là rừng đước và rừng tràm, loài cây này được xếp vào nhóm gỗ tạp (nhóm 8), vì giá trị kinh tế gỗ này không cao, theo giá trị thị trường tại địa phương thì dao đồng từ 300.000 – 2.500.000 đồng/m3.

Theo quy định tại điểm b, khoản 11, Điều 22, Nghị định 157/2013/NĐ-CP, ngày 11/11/2013 của Chính phủ quy định: “Tịch thu phương tiện đối với hành vi vi phạm hành chính quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3, khoản 4, khoản 5, khoản 6, khoản 7, khoản 8, khoản 9, khoản 10 Điều này (trừ trường hợp quy định tại khoản 7, khoản 8, Điều 3 Nghị định này), thuộc một trong các trường hợp sau: vận chuyển gỗ không thuộc loài nguy cấp, quý hiếm từ 1,5m3 trở lên.

Đối với chế tài xử lý hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật được quy định như trên là rất nghiêm minh, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất hành vi vi phạm này.

Tuy nhiên, vấn đề này áp dụng trên địa bàn tỉnh Cà Mau hiện nay còn rất nhiều khó khăn bất cập ở chỗ: Rừng Cà Mau chủ yếu là gỗ tạp, giá trị kinh tế thấp; phương tiện vận chuyển chủ yếu bằng đường thủy (ghe, tàu); đối tượng vi phạm lần đầu; đối với khối lượng gỗ 1,5m3 mức phạt hành chính quy định từ 5 – 10 triệu đồng… Do đó việc xử phạt hành chính bằng tiền, tịch thu tang vật, phương tiện là không phù hợp. Bởi vì đối tượng vi phạm sẽ không thực hiện việc nộp tiền phạt. Từ đó cho thấy pháp luật sẽ không được thực hiện nghiêm túc thêm vào đó tính giáo dục, thuyết phục đối với người vi phạm chưa cao.

Bốn là, hành vi khai thác rừng trái phép được quy định tại Điều 12, Nghị định 157/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, mức phạt tiền ở các khoản còn rất cao trong quá trình áp dụng xử phạt đối với hành vi vi phạm này trên địa bàn tình Cà Mau. Từ đó dẫn đến việc chấp hành của người vi phạm đối với các Quyết định của cơ quan có thẩm quyền chưa được nghiêm túc.

2.2 Sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về bảo vệ rừng Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng tại tỉnh Cà Mau.

Với cách tiếp cận từ việc thống kê hệ thống văn bản quy định về bảo vệ rừng còn quá nhiều bất cập như nêu trên, tác giả nhận thấy sự hoàn thiện pháp luật về vấn đề này có tính cấp thiết, nhất là trong điều kiện tỉnh Cà Mau có trình độ phát triển ở mức trung bình và chỉ số năng lực cạnh tranh ở mức thấp nhất nhì cả nước thì sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về bảo vệ rừng có mười lý do sau:

Một là, hệ thống quy định bảo vệ rừng, kể cả các quy định trực tiếp đến bảo vệ rừng và các quy định pháp luật khác có liên quan đến bảo vệ và phát triển rừng còn thiếu đồng bộ, chồng chéo, mâu thuẫn, nhất là những quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của chủ thể quản lý rừng, về phân loại đất, phân loại rừng, quản lý đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng, quản lý hệ thống bảo tồn thiên nhiên là rừng đặc dụng,… thiếu thống nhất với một số Luật khác như: Luật Dân sự năm 2015, Luật Đa dạng sinh học năm 2008.

Hai là, pháp luật bảo vệ rừng hiện nay chưa quy định rõ, đầy đủ các quá trình, các khâu của bảo vệ và phát triển rừng, từ quản lý, bảo vệ, phát triển rừng đến khai thác, vận chuyển, chế biến, kinh doanh, thương mại lâm sản, từ đó, dẫn đến những khó khăn, vướng mắc trong hoạch định và phân tích chính sách, đầu tư phát triển, nâng cao giá trị kinh tế của rừng.

Ba là, thực hiện quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng chưa thống nhất, chất lượng và hiệu quả thấp, chưa đồng bộ với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, nhất là quy hoạch sử dụng đất, chưa sát với thực tiễn và không ổn định, việc điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng có lúc sai mục đích, kém hiệu quả.

Bốn là, công tác thanh tra, giám sát thi hành pháp luật bảo vệ rừng chưa nghiêm, trong khi chế tài xử lý vi phạm còn nhiều khoảng trống và chưa đủ mạnh để ngăn chặn các hành vi vi phạm, từ đó kéo theo tình trạng phá rừng, khai thác vận chuyển lâm sản trái phép, lấn chiếm, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và đất lâm nghiệp trái pháp luật còn diễn ra phức tạp ở nhiều địa phương gây bức xúc tiêu cực trong xã hội, làm suy giảm tài nguyên rừng, nhất là rừng tự nhiên.

Năm là, các quy định về bảo vệ rừng, nhất là phát triển rừng chưa tạo ra được những động lực, bước tiến mới trong kinh doanh rừng trồng, năng suất, chất lượng, giá trị rừng sản xuất vẫn còn thấp, chủ yếu là trồng rừng gỗ nhỏ, chưa đáp ứng nhu cầu cơ bản về nguyên liệu gỗ lớn cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu, chưa đem lại hiệu quả kinh tế để rút ngắn khoảng cách giữa thu nhập so với các cây trồng và ngành nghề khác, phần đông người dân làm nghề rừng có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế.

Sáu là, quy định của pháp luật chưa xác định rõ cơ chế thực hiện các quyền định đoạt của Nhà nước với vai trò là đại diện chủ sở hữu đối với rừng tự nhiên và các quyền, nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân khi được Nhà nước giao, cho thuê rừng tự nhiên; từ đó chưa tạo điều kiện phát huy tính tự chủ trong sản xuất kinh doanh và thu hút các nguồn lực đầu tư vào nghề rừng, nhất là thành phần kinh tế tư nhân; mặt khác, cơ chế chính sách thụ hưởng lợi từ rừng còn nhiều bất cập, chung chung và chưa xác định đến các giá trị dịch vụ môi trường rừng. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng tại tỉnh Cà Mau.

Bảy là, quy định chưa toàn diện, thiếu đồng bộ trong tổ chức quản lý Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng mà chỉ quy định lực lượng Kiểm lâm, dẫn đến hệ thống tổ chức quản lý rừng, tổ chức của lực lượng Kiểm lâm, lực lượng bảo vệ rừng ở địa phương thiếu thống nhất, không phát huy được sức mạnh tổng hợp và phân định rõ chức năng, nhiệm vụ quản lý rừng tập trung một đầu mối.

Tám là, pháp luật bảo vệ rừng chưa quy định cụ thể về hệ thống tổ chức sản xuất và dịch vụ rừng ở cấp cơ sở. Các lâm trường quốc doanh trước đây, sau khi có quy định đã sắp xếp lại, chuyển thành công ty lâm nghiệp, chưa có sự thay đổi căn bản về cơ chế quản lý, quản trị doanh nghiệp, chưa tạo điều kiện để công ty phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh; trong khi đó, phần lớn đất đai và rừng chưa được rà soát, đo đạc trên thực địa, chưa lập bản đồ địa chính, diện tích đất được cấp sổ đỏ chiếm tỷ lệ thấp, còn có biểu hiện vi phạm pháp luật đất đai với nhiều hình thức khác nhau; nhiều công ty lâm nghiệp hiệu quả sản xuất kinh doanh và thu nhập của người lao động thấp.

Chín là, pháp luật chưa có quy định chặt chẽ về chế biến và thương mại lâm sản, nhất là cơ chế ưu đãi đầu tư và tín dụng cần thiết cho hoạt động chế biến gỗ và lâm sản để tạo động lực phát triển rừng, phát triển nguồn nguyên liệu. Thực tiễn cho thấy, quản trị doanh nghiệp, công nghệ chế biến, chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh thấp, cũng như giá trị gia tăng của lâm sản thấp và sự tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng, quy mô sản xuất nhỏ, manh mún, chưa tổ chức sản xuất liên kết, kết cấu hạ tầng phục vụ chế biến yếu kém, thị trường trong nước chưa được quan tâm đúng mức, chưa hình thành hệ thống phân phối lưu thông, thiếu gắn kết giữa nhà máy chế biến và vùng nguyên liệu.

Mười là, pháp luật chưa có quy định cụ thể về khoa học và công nghệ, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, hợp tác quốc tế trong bảo vệ và phát triển rừng. Ở Cà Mau cũng như thực trạng cả nước nói chung có trình độ tay nghề lao động lĩnh vực lâm nghiệp thấp, kỹ thuật canh tác lạc hậu, trồng rừng chủ yếu là quảng canh, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ vào sản xuất còn nhiều bất cập, công nghệ sinh học và công tác tạo giống ứng dụng trên quy mô nhỏ, đặc biệt pháp luật bảo vệ và phát triển rừng nước ta có những quy định chưa phù hợp hoặc thiếu cụ thể với một số công ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, dẫn đến một số khó khăn, hạn chế trong thực thi và hội nhập quốc tế.

2.2.1. Nguyên tắc cơ bản trong việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ rừng Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng tại tỉnh Cà Mau.

Với vai trò đặc biệt quan trọng của pháp luật trong bảo vệ rừng, việc bảo vệ rừng được thực hiện có hiệu quả bền vững, điều quan trọng hàng đầu trong hoàn thiện pháp luật là phải tuân thủ nguyên tắc, những nguyên tắc này, một mặt vừa thống nhất với các nguyên tắc chung trong hoàn thiện pháp luật, đồng thời phải đảm bảo tính thống nhất trong hoàn thiện thể chế, quá trình cải cách công vụ, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và cân đối, đảm bảo điều kiện thực hiện giữa người quản lý và người dân, giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý, quá trình hoàn thiện pháp luật định hướng cho bảo vệ rừng được thực hiện khả thi cao hơn; theo đó, hoàn thiện pháp luật bảo vệ rừng có những nguyên tắc cơ bản sau:

Một là, thực hiện thống nhất với Hiến pháp và pháp luật hiện hành, trực tiếp là chấp hành điều 9, Luật bảo vệ và phát triển rừng, gồm: Hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải bảo đảm phát triển bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, chiến lược phát triển lâm nghiệp; đúng quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của cả nước và địa phương; tuân theo quy chế quản lý rừng do Thủ tướng Chính phủ quy định. Bảo vệ rừng là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải bảo đảm nguyên tắc quản lý rừng bền vững; kết hợp bảo vệ và phát triển rừng với khai thác hợp lý để phát huy hiệu quả tài nguyên rừng; kết hợp chặt chẽ giữa trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh phục hồi rừng, làm giàu rừng với bảo vệ diện tích rừng hiện có; kết hợp lâm nghiệp với nông nghiệp và ngư nghiệp; đẩy mạnh trồng rừng kinh tế gắn với phát triển công nghiệp chế biến lâm sản nhằm nâng cao giá trị sản phẩm rừng. Việc bảo vệ và phát triển rừng phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Việc giao, cho thuê, thu hồi, chuyển mục đích sử dụng rừng và đất phải tuân theo các quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng, Luật đất đai và các quy định khác của pháp luật có liên quan, bảo đảm ổn định lâu dài theo hướng xã hội hoá nghề rừng. Bảo đảm hài hoà lợi ích giữa Nhà nước với chủ rừng; giữa lợi ích kinh tế của rừng với lợi ích phòng hộ, bảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên; giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; bảo đảm cho người làm nghề rừng sống chủ yếu bằng nghề rừng. Chủ rừng thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng rừng theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng và các quy định khác của pháp luật, không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của chủ rừng khác. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng tại tỉnh Cà Mau.

Hai là, quá trình hoàn thiện pháp luật phải hướng tới quy định sự bình đẳng giữa các chủ thể trong sử dụng tài nguyên rừng và gắn trách nhiệm bảo vệ rừng, trong đó, trách nhiệm bảo vệ rừng thực hiện trước, bảo đảm năng suất và các điều kiện tái sinh của nguồn tài nguyên rừng có khả năng tái tạo rừng, tỷ lệ sử dụng lâm sản không được vượt quá khả năng tái sinh của rừng.

Ba là, pháp luật điều chỉnh trong bảo vệ rừng cần có sự dự phòng quá trình vận động và phát triển xã hội mà pháp luật quy định tại thời điểm đó chưa có sự lường hết được khả năng có thể xảy ra trong bảo vệ rừng.

Bốn là, hoàn thiện pháp luật hướng đến hiệu lực và hiệu quả, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa không chỉ công bằng đối với mọi chủ thể mà đảm bảo mọi chủ thể phải chấp hành và điều kiện đảm bảo được thực thi nhằm đạt hiệu lực và hiệu quả cao trong bảo vệ rừng; theo đó, giá trị của rừng được sử dụng hợp lý và hiệu quả các mặt, nhất là về kinh tế và sinh thái.

2.2.2. Căn cứ pháp lý thực tế cần hoàn thiện pháp luật về bảo vệ rừng

Thực tiễn chỉ ra, bên cạnh những thành tựu quan trọng trong từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật nước ta, từng bước tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nhưng hệ thống pháp luật nước ta còn nhiều vấn đề cần hoàn thiện, trong đó cần đánh giá đúng thực chất. Tuy có nhiều luật và văn bản dưới luật điều chỉnh về cùng một lĩnh vực nhưng hiệu lực và hiệu quả thực thi không đảm bảo vững chắc yêu cầu thực tiễn quản lý phát triển xã hội bền vững đặt ra, trong đó lĩnh vực bảo vệ rừng có thể nói có hệ thống văn bản luật quy định đang xen nhau nhưng áp dụng thực thi chồng chéo nhau như rừng luật.

Có những quy định không còn phù hợp thực tiễn hoặc khó thực hiện, có những quy định có nội dung phủ định nhau, có những quy định này thay thế quy định khác mà không có quyết định hủy quy định khác, đặc biệt cũng có cả những quy định không phù hợp tự nhiên. Trong quá trình thực hiện có những trường hợp một số cơ quan, chức năng đùn đẩy trách nhiệm hoặc lạm dụng quyền lực, trước hết xuất phát từ quy định chưa thống nhất và điều chỉnh chưa khả thi với điều kiện thực tiễn.

Một số văn bản không phù hợp thực tiễn, như: Đối với Chính phủ, ba văn bản được đề nghị hết hiệu lực thi hành là do đưa ra quá nhiều quy định không còn phù hợp với thực tiễn hoặc rất khó thực hiện. Nghị định số 159/2007/NĐ-CP, ngày 30/10/2007 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (được thay thế bởi Nghị định số 99/2009/NĐ-CP, ngày 02/11/2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản); Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg, ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp. Quyết định số 304/2005/QĐ-TTg, ngày 23/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc thí điểm giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng trong buôn, làng là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở các tỉnh Tây Nguyên cũng được đề nghị hết hiệu lực, do quy định là trên thực tế, các tỉnh vùng Tây Nguyên đã chấm dứt thực hiện giao, khoán bảo vệ rừng theo Quyết định này từ cuối năm 2010, chủ yếu do các tỉnh không bố trí được kinh phí để tiếp tục giao, khoán bảo vệ rừng; nhiều nơi không bố trí được diện tích rừng sản xuất để giao cho dân theo quy định. Nhiều thôn, xã thuộc khu vực thực hiện Quyết định này cũng nằm trong các huyện nghèo và đang thực hiện Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP, ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng tại tỉnh Cà Mau.

Một số văn bản phủ định nhau, như Nghị định số 23/2006/NĐ-CP, ngày 03/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật bảo vệ và phát triển rừng. Điều 53 quy định, đối với rừng sản xuất là rừng trồng, được sử dụng không quá 30% diện tích đất chưa có rừng để sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp kết hợp; trong khi đó Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg, ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành quy chế quản lý rừng lại quy định (Điều 33, Điều 42) đối với rừng phòng hộ, được sử dụng không quá 40% diện tích đất không có rừng trên đất rừng ngập mặn hoặc không quá 30% diện tích không có rừng đối với các khu vực khác để sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp kết hợp. Khoản 5, Điều 39 quy định hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn có nhu cầu khai thác gỗ rừng tự nhiên chỉ cần báo cáo cho Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận và quản lý nhưng tại Điều 7, Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg, ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp quy định khi khai thác gỗ rừng tự nhiên phục vụ nhu cầu gia dụng, hộ gia đình, cá nhân phải làm đơn gửi Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận, trình Ủy ban nhân dân cấp huyện xét duyệt, cấp phép khai thác.

Một số văn bản có nội dung không hợp lý, như Quyết định số 34/2011/QĐ-TTg, ngày 24/6/2011 của Thủ tướng Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg, 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó chỉnh sửa khoản 3, Điều 39 về khai thác lâm sản trong rừng sản xuất là rừng tự nhiên, quy định của Thủ tướng Chính phủ quyết định tổng hạn mức khai thác hàng năm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thông báo sản lượng khai thác hàng năm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao kế hoạch khai thác cho chủ rừng là tổ chức và cho Ủy ban nhân dân cấp huyện theo kế hoạch của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao cho địa phương, Ủy ban nhân dân cấp huyện giao kế hoạch khai thác cho chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn; theo quy định này, chủ rừng không được tự chủ, tự quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh trên diện tích rừng đã được Nhà nước giao, chỉ tiêu giao khai thác gỗ hàng năm không căn cứ vào khả năng thực tế của rừng mà theo ý muốn chủ quan của nhà quản lý, việc hạn chế khai thác gỗ (có địa phương đóng cửa rừng) đã dẫn đến chính sách hưởng lợi từ rừng bị vô hiệu hóa, chủ rừng và Nhà nước không có nguồn thu để tái đầu tư cho rừng; mặt khác, việc cấm khai thác không phù hợp với quy luật phát triển của cây rừng, do khai thác sử dụng hợp lý rừng cũng là một biện pháp lâm sinh để tái tạo và cải tạo chất lượng rừng. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng tại tỉnh Cà Mau.

Một số văn bản đối với các hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ và khuyến lâm, thì hiện nay chưa có quy định rõ ràng nhất là ứng dụng công nghệ trong chọn tạo giống, nhất là khâu tạo giống cây trồng có chu kỳ ngắn, chất lượng tốt, năng xuất cao, quản lý rừng, khai thác, chế biến lâm sản để làm gia tăng giá trị của sản phẩm lâm nghiệp; Chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện về cơ cấu cây trồng theo kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, giai đoạn 2012-2020. Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg, ngày 14/8/2006 về Quy chế quản lý rừng, ở Điều 38 quy định Nhà nước có chính sách hỗ trợ đầu tư bảo vệ rừng tự nhiên nghèo, trồng các loài cây quý hiếm, trồng các loài cây có chu kỳ kinh doanh từ 15 năm trở lên nhưng đến nay chưa có văn bản quy định riêng về chính sách này mà được đề cập chung chung trong một số văn bản liên quan đến đầu tư, tín dụng; Thông tư số 25/2011/TT-BNNPTNT, ngày 06/4/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về thủ tục hành chính trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng theo Nghị quyết số 57/NQ-CP, ngày 15/12/2010 của Chính phủ, ở Điều 1 quy định về thủ tục đăng ký trại nuôi sinh sản, sinh trưởng động vật hoang dã thông thường, nhưng chưa quy định cụ thể về điều kiện khai thác và gây nuôi một số loài động vật rừng thông thường; hoặc Nghị định số 23/2006/NĐ-CP, ngày 03/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật bảo vệ và phát triển rừng, ở Điều 46 quy định Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành quy định khu vực, loài động vật rừng được phép săn, bắt, phương tiện, dụng cụ cấm hoặc hạn chế sử dụng trong săn, bắt động vật rừng và việc săn, bắt, bẫy, nuôi nhốt động vật rừng nhưng đến nay chưa có văn bản quy định vấn đề này; đặc biệt, Thông tư số 35/2011/TT-BNNPTNT, ngày 20/5/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện khai thác, tận thu gỗ và lâm sản ngoài gỗ quy định phải có phương án điều chế rừng hoặc phương án quản lý rừng bền vững, thiết kế khai thác nhưng đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn về xây dựng phương án quản lý rừng bền vững. Bên cạnh đó, cần thấy hiện nay cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước chưa ban hành quy định về tiêu chí quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng; về bồi hoàn giá trị đa dạng sinh học của rừng bị chuyển đổi, quản lý việc chuyển mục đích sử dụng rừng; về hướng dẫn đánh giá môi trường chiến lược và đánh giá tác động môi trường trong lâm nghiệp; về hướng dẫn cụ thể đối với các hộ gia đình, cá nhân có nguyện vọng thực hiện quyền thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng rừng để liên doanh trong bảo vệ và phát triển rừng.

2.2.3. Kiến nghị cụ thể hoàn thiện pháp luật về bảo vệ rừng Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng tại tỉnh Cà Mau.

Qua phân tích Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, cũng như thực tiễn công tác đã qua cho thấy pháp luật vẫn còn nhiều bất cập cận phải hoàn thiện. Để Luật được thực hiện nghiêm túc và hiệu quả hơn nữa trong thời gian tới, tác giả mạng phép đề xuất những kiến nghị hoàn thiện sau đây:

  • Về quy định về chủ thể có trách nhiệm bảo vệ rừng

Thứ nhất, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cần phối hợp với các Bộ như: Bộ Tài Nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính, thống nhất trong việc giao đất, giao rừng trên cơ sở quy định của pháp luật nhằm tránh sự chồng chéo nhau trong việc thực hiện Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Thứ hai, hiện nay cán bộ chuyên môn làm công tác lâm nghiệp ở các xã có rừng được giao đất, giao rừng theo Nghị định 43/2014/NĐ-CP chủ yếu là do cơ quan Kiểm lâm phân công về xã để tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp. Ngoài ra ở cấp xã hầu hết không có biên chế cán bộ lâm nghiệp chuyên trách từ đó ở địa phương gặp rất nhiều khó khăn trong công tác bảo vệ rừng. Vì vậy Chính phủ cần quy định cho địa phương thành lập Ban lâm nghiệp cấp xã đề làm cơ sở cho địa phương bổ sung thêm biên chế hoạt động.

Thứ ba, mặc dù Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 có quy định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp trong việc bảo vệ rừng nhưng trong quá trình thực hiện pháp luật về bảo vệ rừng ở tỉnh Cà Mau, tác giả nhận thấy trách nhiệm ở một số địa phương (Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã) còn để xảy ra phá rừng, cháy rừng, chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp… nhưng việc xử lý trách nhiệm đối với những người đứng đầu địa phương này chưa được nghiêm túc. Nguyên nhân từ nhiều lý do khác nhau nhưng chủ yếu ở đây là Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 chưa quy định rõ ràng. Do đó, Chính phủ sớm ban hành văn bản quy định cụ thể hơn trong việc xử lý trách nhiệm đối với Ủy ban nhân dân các địa phương có rừng nếu để xảy ra tình trạng phá rừng, cháy rừng…

  • Về quy định về bảo vệ hệ sinh thái rừng Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng tại tỉnh Cà Mau.

Để hạn chế việc săn bắt, nuôi nhốt động vật hoang dã quý hiếm nhóm IB, Chính phủ nên điều chỉnh Điểm d, Khoản 5, Điều 21 Nghị định 157/2013/NĐ-CP bằng cách bỏ mức phạt tiền từ 50 – 100 triệu đồng đối với hành vi nuôi trái phép 02 cá thể động vật rừng thuộc loài nguy cấp, quy hiếm nhóm IB mà chuyển sang xử lý hình sự đối với các hành vi này nếu vi phạm nuôi nhốt từ 02 cá thể trở lên.

Chính phủ cần quy định rõ ràng trách nhiệm người đứng đầu cơ quan đơn vị nếu để xảy ra tình trạng mua bán giống cây lâm nghiệp chưa qua kiểm định cũng như xử lý hành vi vi phạm này.

  • Về bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng

Để khắc phục những bất cập trong công tác bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng đã nêu trên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cần có văn bản quy định rõ cụm từ “Động vật rừng” và “Động vật hoang dã” để tỉnh Cà Mau làm cơ sở thực hiện. Đồng thời cần có cơ chế đặc thù cho tỉnh Cà Mau ban hành Danh mục động vật rừng, thực vật rừng chỉ có ở địa phương và quy định việc săn bắt nuôi nhốt…(những loài không nằm trong quy định theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP) nhằm làm căn cứ xử lý góp phần bảo vệ những loài động vật hoang dã hiện có.

  • Về quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng

Quốc hội sớm sửa đổi Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 bổ sung giá trị thiệt hại do hành vi gây cháy rừng, từ đó tạo sự thống nhất với Bộ luật hình sự năm 2015 để hành vi vi phạm này được xử lý nghiêm minh trước pháp luật, góp phần hạn chế đến mức thấp nhất số vụ cháy rừng của tỉnh Cà Mau trong thời gian tới.

Trên cơ sở diện tích rừng hiện có trên địa bàn tỉnh Cà Mau, Chính phủ cần có quy định cụ thể kinh phí phòng cháy, chữa cháy rừng hàng năm để địa phương làm căn cứ tổ chức thực hiện.

  • Về quy định về phòng trừ sinh vật gây hại rừng Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng tại tỉnh Cà Mau.

Chính phủ sớm điều chỉnh Khoản 1, 2, Điều 18, Nghị định 157/2013/NĐ-CP về việc xử lý các hành vi vi phạm quy định về phòng trừ sinh vật hại rừng bằng cách chia thành nhiều khoản nhằm giảm mức xử lý phạt tiền từ tối thiểu đến tối đa cụ thể như: mức phạt ở Khoản 1, phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng – 1.000.000 đồng; Khoản 2 từ trên 1.000.000 đồng – 3.000.000 đồng…; đồng thời cần quy định rõ diện tích rừng bị dịch bệnh đề làm căn cứ cho việc áp dụng xử lý.

  • Về kinh doanh, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu thực vật, động vật rừng

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan sớm ban hành Thông tư liên tịch tạo cơ chế thống nhất trong quá trình kiểm tra việc kinh doanh, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu thực vật rừng, động vật rừng, đồng thời có quy định mức thu lệ phí hỗ trợ cho cán bộ làm công tác này nhằm hạn chế đến mức thấp nhất có thể trong việc sử dụng ngân sách Nhà nước.

  • Về xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng

Chính phủ sớm bổ sung chế tài xử lý hành chính đối với chủ rừng, hộ gia đình, cá nhân không thực hiện công tác trồng rừng sau khai thác 12 tháng bằng hình thức cảnh cáo, phạt tiền hoặc thu hồi lại diện tích rừng để giao cho đối tượng khác tùy theo diện tích vi phạm, nhằm góp phần quản lý, bảo vệ được diện tích rừng đúng theo Quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt.

Chính phủ sớm điều chỉnh khoản 1, Điều 21 của Nghị định số 157/2013/NĐ-CP đối với hành vi vi phạm các quy định về quản lý bảo vệ động vật rừng cụ thể:

Đối với mức phạt tiền ở khoản 1 nên điều chỉnh thêm nhiều khoản nhằm giảm mức dao động từ mức phạt tối thiểu đến tối đa. Phạt tiền từ 500.000 – 2.000.000 đồng đối với động vật rừng hoặc bộ phận của chúng không thuộc loài nguy cấp, quý hiếm có giá trị 1.000.000 đồng; phạt tiền từ 2.000.000 – 3.000.000 đồng đối với giá trị động vật rừng đến 2.000.000 đồng.

Chính phủ cần điều chỉnh lại điểm b, khoản 11, Điều 22 của Nghị định 157/2013/NĐ-CP về tịch thu phương tiện đối với việc vận chuyển gỗ không thuộc loài nguy cấp, quý hiếm từ 1,5m3 trở lên bằng cách tăng khối lượng vi phạm đối với hành vi này từ 10m3 trở lên. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng tại tỉnh Cà Mau.

Kết luận chương 2

Trên cơ sở tiếp cận lý chung về pháp luật bảo vệ rừng, tổng hợp, phân tích đánh giá thực tiễn khách quan trên địa bàn tỉnh Cà Mau về bảo vệ rừng, tác giả đã tập trung làm sáng tỏ hai vấn đề lớn. Đó là thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng qua thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Cà Mau và đề xuất, kiến nghị hoàn chỉnh pháp luật bảo vệ rừng.

Đối với thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng qua thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Cà Mau, tác giả đi sâu phân tích bảy vấn đề. Quy định về chủ thể có trách nhiệm bảo vệ rừng, chỉ ra được trách nhiệm của từng chủ thể, đồng thời nêu bật được trách nhiệm chính và phối hợp của từng chủ thể. Song song với đó, tác giả đề cập đến quy định về bảo vệ hệ sinh thái rừng; quy định về bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng; quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng; quy định về phòng trừ sinh vật gây hại rừng; quy định về kinh doanh, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu thực vật rừng, động vật rừng; quy định về xử lý vi phạm trách nhiệm bảo vệ rừng. Từ cách tiếp cận quy định bảo vệ rừng có tính bao quát và nội hàm cụ thể, tác giả đã phân tích làm rõ những tồn tại, hạn chế quy định của tỉnh Cà Mau và trên bình diện chung cả nước, tạo tiền đề quan trọng trực tiếp cho kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ rừng.

Tác giả đã xem xét, tiếp cận trong điều kiện cụ thể của tỉnh Cà Mau, đồng thời hệ thống pháp luật những hạn chế, bất cập trong bảo vệ rừng. Trước khi đề xuất hai nhóm kiến nghị có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc để hoàn thiện pháp luật bảo vệ rừng trong thời gian tới, tác giả đã chỉ ra sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về bảo vệ rừng và nguyên tắc cơ bản trong việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ rừng (hài hòa giữa pháp luật, người quản lý, người dân). Đối với kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo vệ rừng, tác giả đã tập trung hai nhóm kiến nghị sau: Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng tại tỉnh Cà Mau.

Kết hợp hoàn thiện pháp luật bảo vệ rừng với hoàn thiện các lĩnh vực quy định liên quan trực tiếp đến tổ chức và hoạt động bảo vệ rừng. Đây là nhóm kiến nghị có tính đặc thù của tỉnh Cà Mau, theo đó, tác giả đã phân tích rõ tám đề xuất, từ hoàn thiện pháp luật gắn với hoàn thiện cơ chế, chính sách đến hoàn thiện xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch và kế hoạch bảo vệ rừng; trong hoàn thiện pháp luật cần tập trung xác định rõ trách nhiệm và quyền lợi của chủ thể quản lý Nhà nước và chủ rừng; hoàn thiện pháp luật gắn với giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật; pháp luật quy định chặt chẽ về tổ chức thực hiện xử lý hành vi vi phạm đến bảo vệ, phát triển rừng và khai thác nguồn lợi thủy nội địa trái quy định; pháp luật ban hành xác định thiết chế giải quyết tốt đời sống cư dân lâm phần thống nhất với hoàn thiện cơ chế, chính sách; hoàn thiện pháp luật bảo vệ rừng tiếp tục quy định cụ thể về thị trường, cơ sở chế biến lâm sản; thông tin, xúc tiến thương mại, khoa học kỹ thuật, công nghệ, hợp tác quốc tế; cây giống, chăm sóc, bảo vệ, khai thác, phát triển rừng và kết hợp với mô hình nông-ngư nghiệp; hoàn thiện pháp luật đặt trong sự lãnh đạo chặt chẽ của các cấp ủy Đảng.

Hoàn thiện pháp luật bảo vệ rừng đối với những quy định cụ thể. Đây là sự nghiên cứu, phân tích hệ thống pháp luật trên bình diện chung về bảo vệ và phát triển rừng, tạo tiền đề hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này cho thực tiễn từng địa phương áp dụng. Tác giả đã đi sâu đề xuất kiến nghị từng khía cạnh, trong đó, tập trung vào chín đề xuất, gồm xác định rõ hơn về khái niệm rừng, quy định bổ sung tiêu chí xác định thành phần rừng trồng; quy định chặt chẽ về quản lý Nhà nước về rừng và nghề rừng do Nhà nước là chủ thể quản lý và quản lý rừng do các chủ rừng là chủ thể quản lý; quy định phân loại rừng phù hợp với tổ chức quản lý rừng; quy định về phân khu chức năng trong rừng đặc dụng, khu bảo tồn rừng; quy định hoàn chỉnh quy hoạch, kế hoạch bảo vệ rừng; quy định cụ thể về giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng; hoàn chỉnh quy định về thống kê rừng, kiểm kê rừng, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng, định giá rừng; quy định chặt chẽ về giá rừng; hoàn chỉnh quy định bảo vệ rừng với bảo tồn đa dạng sinh học. Chín đề xuất này có mối quan hệ chặt chẽ trong tổng thể hệ thống quy định pháp luật về bảo vệ rừng, theo đó, thực hiện những đề xuất này cần có sự đồng bộ, thống nhất và phù hợp với thực tiễn quản lý rừng trong định hướng chiến lược bảo vệ và phát triển rừng bền vững.

KẾT LUẬN Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng tại tỉnh Cà Mau.

Pháp luật ngày càng có vị trí quan trọng đối với sự pháp triển bền vững xã hội, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa đang được thực hiện mạnh mẽ, rừng luôn cần được bảo vệ tuân theo pháp luật, theo đó, đề tài “Pháp luật về bảo vệ rừng qua thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Cà Mau” là công trình nghiên cứu có tính phổ biến, cơ bản, cấp bách ở hiện tại và lâu dài sau này, đồng thời mang tính đặc thù địa phương trong hoàn thiện pháp luật về bảo vệ rừng. Tác giả đã giải quyết cơ bản được mục đích, yêu cầu đặt ra của đề tài, chỉ ra được thực tiễn địa phương, hệ thống lý luận và pháp lý trong bảo vệ rùng.

Qua lý luận, pháp lý và thực tiễn, tác giả chỉ ra tồn tại, yếu kém, nguyên nhân của pháp luật về bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Cà Mau. Từ đó nghiên cứu, đề xuất 07 kiến nghị cơ bản cần thiết phù hợp trong bảo vệ rừng tràm, rừng đước và hoàn thiện pháp luật lĩnh vực này theo lộ trình, bước đi định hướng phát triển của tỉnh và khu vực.

Pháp luật về bảo vệ rừng là một cấu thành quan trọng của pháp luật bảo vệ và phát triển rừng và là phương diện hoạt động của quản lý nhà nước, nó là yếu tố cần thiết cho tiến hành các hoạt động bảo vệ rừng được diễn ra có hiệu lực và hiệu quả, đồng thời góp phần to lớn vào tạo sự ổn định và thúc đẩy xã hội phát triển bền vững theo đúng định hướng. Hiệu lực, hiệu quả bảo vệ rừng, sự ổn định, phát triển kinh tế-xã hội không thể diễn ra được ở bất kỳ đâu và bất kỳ khi nào mà môi trường sinh thái, cũng như công tác bảo vệ rừng không được thực hiện đúng mức, pháp luật không hoàn thiện và chấp hành pháp luật không được thực thi hiệu quả.

Đối tượng của pháp luật bảo vệ rừng, quy định pháp luật về lĩnh vực này luôn có sự vận động, biến đổi theo hướng ngày càng phức tạp và phát sinh những vấn đề mới đặt ra, liên quan đến những vấn đề đặc thù địa phương và những vấn đề mà pháp luật chưa có điều kiện điều chỉnh, tác động đến.

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về pháp luật bảo vệ rừng, mỗi công trình có những đóng góp khác nhau và tất nhiên các công trình nghiên cứu khó có thể đưa ra được cùng lúc tính bao quát và tính cụ thể đặc thù các địa phương hết được, để áp dụng trong lộ trình định hướng hoàn thiện pháp luật. Vì không có một mô hình chung cho tất cả mọi lĩnh vực, mọi địa phương ở mọi giai đoạn. Chính vì vậy, trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó, tiếp thu quan điểm, tri thức tiến bộ phù hợp thực tiễn của tỉnh Cà Mau, tác giả đã mạnh dạn đề xuất thực hiện một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ rừng trong thời gian tới. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng tại tỉnh Cà Mau.

Tính phức tạp của hoàn thiện pháp luật về bảo vệ rừng bị quy định bởi chính sự phức tạp của đối tượng của hoạt động bảo vệ rừng, nó liên quan trực tiếp đến lợi ích của con người, chủ thể quản lý, trình độ phát triển xã hội và sự cố gắng phấn đấu vươn lên trong cuộc sống của nhân dân, nhất là ý thức chấp hành pháp luật. Cho nên trong giới hạn của tác giả chưa có khả năng tìm ra được một hệ thống các giải pháp hoàn toàn căn cơ, đầy đủ và áp dụng chung trong phạm vi cả nước được đối với quy định về lĩnh vực đặc thù và phức tạp này. Cũng chính điều này, tác giả cố gắng tìm ra chỉ một số giải pháp vừa có tính áp dụng chung về bảo vệ rừng và áp dụng đặc thù địa phương tỉnh Cà Mau. Trong một số giải pháp, kiến nghị tác giả nêu ra, tập trung xoay quanh cơ bản đồng bộ quy định pháp luật về tổ chức bộ máy, cơ chế, chính sách, con người, vật lực, quy hoạch, nâng cao tính tự giác của chủ rừng thông qua tăng cường giáo dục, hỗ trợ của Nhà nước, ổn định đời sống cư dân lâm phần… Chính giới hạn của tác giả là điều cần thiết để các nhà nghiên cứu tiếp tục bổ sung, xây dựng cho hoàn chỉnh hơn đối với hoàn thiện quy định pháp luật về lĩnh vực này.

Quá trình đổi mới và phát triển của đất nước luôn gắn liền với vai trò của Nhà nước, của hoàn thiện pháp luật, pháp luật ngày càng giữ vai trò quyết định sự phát triển xã hội theo đúng định hướng, ở những lĩnh vực và nhu cầu thực tiễn đặt ra cần có sự quản lý của Nhà nước thì Nhà nước cần tiến hành hoạt động quản lý ở nơi đó và khi đó. Hoàn thiện pháp luật bảo vệ rừng luôn là yêu cầu thực tiễn đặt ra trong mọi xã hội, xã hội càng phát triển thì yêu cầu này càng cao hơn. Thực hiện tốt được điều này, chỉ khi xây dựng được hệ thống giải pháp toàn diện và phù hợp thực tiễn nhất, đồng thời triển khai cho bằng được giải pháp đó đi vào cuộc sống kịp thời, khi đó nhất định sẽ góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đất nước ta./. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ rừng tại tỉnh Cà Mau.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Pháp luật về bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Cà Mau

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464