Luận văn: Giải pháp đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Giải pháp pháp lý nâng cao chất lượng hoạt động đấu thầu trong đầu tư mua sắm công tại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

Mặc dù Luật Đấu thầu 2013 có những bước cải tiến lớn, khắc phục được những nhược điểm của pháp luật đấu thầu trước đây, song bên cạnh những điểm tiến bộ, Luật Đấu thầu vẫn tồn tại những điểm còn hạn chế như tác giả đã phân tích ở các chương trên. Để khắc phục những bất cập này và nhằm mục đích nâng cao chất lượng hoạt động đấu thầu, tác giả xin đề xuất một số giải pháp pháp lý như sau:

3.1 Giải pháp về kiểm tra, giám sát hoạt động đấu thầu

Theo báo cáo 539/BC-UBTVQH13, ngày 28 tháng 10 năm 2013 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về dự án Luật Đấu thầu (sửa đổi), có ý kiến cho rằng: “dự án Luật đấu thầu mới quy định quyền của chủ đầu tư quá lớn, dẫn đến đấu thầu khép kín, dễ gây ra tiêu cực; đề nghị quy định việc kiểm tra của người có thẩm quyền về kết quả đấu thầu trước khi chủ đầu tư phê duyệt”. Tuy nhiên, Ủy ban thường vụ Quốc hội báo cáo rằng: vẫn tiếp tục thực hiện chủ trương phân cấp cho các chủ đầu tư nhằm đơn giản hóa thủ tục đấu thầu, đồng thời quy định chặt chẽ trách nhiệm của người có thẩm quyền, cơ quan quản lý nhà nước trong việc thực hiện các nhiệm vụ về thanh, kiểm tra.

Qua thực tế cho thấy, thanh kiểm tra chỉ xảy ra trong những trường hợp có đơn thư khiếu nại, khiếu kiện hoặc tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật trong đấu thầu mà thiếu đi một cơ chế giám sát, kiểm tra ngay từ những khâu bắt đầu thực hiện dự án. Dù pháp luật có quy định rằng, Người có thẩm quyền “phải cử cá nhân hoặc đơn vị có chức năng tham gia giám sát, theo dõi việc thực hiện của chủ đầu tư và bên mời thầu để bảo đảm quá trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư tuân thủ đúng các quy định”, song thực tế cho thấy, cấp thẩm quyền chỉ thường phê duyệt kế hoạch đấu thầu theo quy định tại Điều 73 Luật Đấu thầu và các công tác còn lại sẽ ủy quyền cho các chủ đầu tư tự chịu trách nhiệm nhằm rút ngắn thời gian và thủ tục trong quá trình triển khai. Do đó, cơ chế kiểm soát này lại trao về cho chính các chủ đầu tư tự kiểm soát, tự chịu trách nhiệm nên đã tạo quá nhiều cơ hội “linh hoạt” cho các Chủ đầu tư.

Mặt khác, đối với quy định về thẩm định HSMT và thẩm định kết quả lựa chọn nhà thầu, trên thực tế công tác này thường được thực hiện một cách hết sức qua loa bởi những doanh nghiệp có mối quan hệ thân hữu với Tư vấn QLDA hoặc Tư vấn đấu thầu, nhằm hỗ trợ hợp thức hóa cho nhau trong các công việc liên quan đến lĩnh vực tư vấn. Do đó, các quy định về thẩm tra hiện nay vẫn mang nặng về tính hình thức mà chưa phát huy được các nguyên tắc minh bạch, công khai như pháp luật đề ra. Chính vì thế, HSMT dù có được thẩm tra nhưng vẫn không phát hiện các thông số đặc thù, những tiêu chí thiếu minh bạch hoặc yêu cầu quá mức cần thiết.

Trong khi đó, đối với các Nhà thầu, sau khi phát hành HSMT, dù chỉ là người tham gia (người dự thi), được xem là không có chuyên môn cao như các đơn vị Tư vấn vẫn phát hiện ra rằng HSMT đang được quy hoạch trước theo những lợi thế có sẵn của một nhà thầu nào đó. Luận văn: Giải pháp đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.

So với những quy định về bảo đảm minh bạch trong các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn vay ODA, các bước thẩm định có vai trò hết sức quan trọng và trở thành điều kiện rất nghiêm ngặt trong bất kỳ quy trình tổ chức lựa chọn nhà thầu. Những tài liệu trước khi ban hành, dù Bên vay đã sử dụng toàn bộ các mẫu hồ sơ chuẩn do ngân hàng đề ra nhưng vẫn phải được bộ phận chuyên trách của Ngân hàng thẩm định một cách chặt chẽ. Bởi theo kinh nghiệm của các ngân hàng ADB và WB cho thấy, trong rất nhiều trường hợp các Báo cáo xét thầu của Bên vay (Cơ quan thực hiện dự án) và các chuyên gia tư vấn của họ lập thường không tuân thủ về nội dung lẫn hình thức. Những trường hợp như vậy, ADB yêu cầu các bên phải giải trình hoặc thu thập thêm thông tin để phân tích về các báo cáo. Những việc thế này có thể sẽ kéo dài thời gian cho các bên và đôi khi phải đề nghị nhà thầu gia hạn thêm thời hạn hiệu lực của HSDT. Tuy nhiên, đó là một việc hoàn toàn không mong muốn, bởi ADB xác định rằng, ADB phải chịu trách nhiệm cho các Bên vay không trả giá cao hơn so với mức đầu tư cần thiết. Để chấn chỉnh thực trạng trên, tác giả xin đề xuất một số biện pháp như sau:

Văn bản pháp luật: cần quy định rõ trách nhiệm giám sát, kiểm tra của Người có thẩm quyền và các cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực đấu thầu thành các quy định mang tính bắt buộc mà không nên mang tính tùy nghi “khi cần thiết”. Bên cạnh đó, cần khẳng định rằng đó là trách nhiệm bắt buộc để kiểm soát các nguồn vốn có hạn của nhà nước, theo đó, người có thẩm quyền buộc phải cử cán bộ có kinh nghiệm giám sát toàn bộ các công việc liên quan đến quá trình tổ chức lựa chọn nhà thầu, đặc biệt là những khâu phê duyệt và phát hành HSMT, các tiêu chí đánh giá tuyển chọn nhà thầu và thẩm tra kết quả lựa chọn trước khi công bố kết quả… nhằm xóa đi cơ chế đấu thầu khép kín, đảm bảo tính công khai, minh bạch của pháp luật đề ra.

Qua kinh nghiệm nghiên cứu pháp Luật Đấu thầu của Serbia cho thấy, đối với những gói thầu có giá trị lớn trên 1 tỷ RSD (tương đương 200 tỷ VND), các hồ sơ, thủ tục trong toàn bộ quy trình lựa chọn nhà thầu phải được giám sát bởi “Giám sát viên dân sự”. Giám sát viên dân sự là các chuyên gia nổi tiếng trong lĩnh vực mua sắm công hoặc lĩnh vực có liên quan đến đối tượng mua sắm và được bổ nhiệm bởi các Văn phòng mua sắm công trong vòng 30 ngày kể từ ngày kế hoạch mua sắm được thông qua. Giám sát viên dân sự sẽ có trách nhiệm giám sát toàn bộ các công việc liên quan đến quy trình mua sắm công cho đến khi kết thúc. Giám sát viên có trách nhiệm nộp báo cáo toàn bộ quá trình đấu thầu lên Ủy ban phụ trách tài chính của Quốc hội hoặc Chính quyền địa phương. Luận văn: Giải pháp đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.

Thành lập các đơn vị sự nghiệp công lập (Trung tâm dịch vụ đấu thầu): cung cấp các dịch vụ công về thẩm định HSMT và hỗ trợ tư vấn pháp luật về đấu thầu ở các tỉnh thành thường được cấp vốn đầu tư, hoặc thành lập Hội đồng đấu thầu theo từng dự án với các chuyên gia độc lập từ các sở ngành có liên quan. Hiện nay, ngoài 2 thành phố lớn Hà Nội và TP.HCM đã có trung tâm hỗ trợ đấu thầu thì các địa phương khác không có đơn vị chuyên môn nào hỗ trợ mà trách nhiệm này được giao về cho các Sở Kế hoạch Đầu tư tự đảm nhiệm. Trong khi đó, cán bộ một số địa phương còn hạn chế về kinh nghiệm, kiến thức đấu thầu dẫn đến chất lượng hoạt động đấu thầu chưa được hiệu quả.

Về cơ chế hậu kiểm: hậu kiểm đối với lĩnh vực đầu tư mua sắm công là quy định hết sức cần thiết trong hoạt động đấu thầu. Bởi hầu hết các chủ đầu tư đều là những cơ quan, tổ chức sử dụng nguồn vốn của nhà nước nhưng hạn chế kiến thức pháp luật, chuyên môn về lĩnh vực đấu thầu mà thường thuê mướn các tổ chức Tư vấn thực hiện thay. Do đó, hậu kiểm sẽ là một biện pháp nhằm kiểm soát chặt chẽ việc tuân thủ các quy trình và sử dụng đúng mục đích các nguồn vốn đầu tư. Vì thế, pháp luật cần giao trách nhiệm cho các cơ quan chuyên ngành, Kiểm toán nhà nước, các Cơ quan thanh tra của Chính phủ, của Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch Đầu tư phải có trách nhiệm thanh kiểm tra đột xuất hoặc theo kế hoạch thường niên, đặc biệt là các dự án có vốn đầu tư lớn. Bên cạnh đó, tăng cường minh bạch công khai các thông tin liên quan đến gói thầu cũng là một biện pháp tạo điều kiện cho giám sát cộng đồng và cơ quan chuyên ngành khác cùng giám sát kiểm tra.

3.2 Tăng cường và nâng cao các biện pháp chế tài Luận văn: Giải pháp đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.

Nghiên cứu pháp luật đấu thầu các nước cho thấy, có hai hình thức chính để xử lý các vi phạm trong lĩnh vực đấu thầu hiện nay, đó là biện pháp hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự nếu vi phạm đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm.

Đối với pháp luật Việt Nam, ngoài hai hình thức trên Nghị định 63/2014/NĐ-CP còn bổ sung hình thức “Cấm tham gia hoạt động đấu thầu” được áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm các hình vi bị cấm trong pháp luật đấu thầu, liệt kê tại Điều 89, Luật Đấu thầu 2013. Tuy nhiên, một vấn đề cần đáng nói chính là mức phạt hành chính hiện nay còn quá nhẹ nhàng, chưa đủ sức răn đe và mang tính phòng ngừa chung.

Đối với pháp luật các nước, vi phạm cạnh tranh trong lĩnh vực đấu thầu có thể bị phạt rất nặng và không bị giới hạn ở mức tối đa. Chẳng hạn như Luật cạnh tranh Canada, tại mục 2, khoản 47 quy định rằng: “Tham gia gian lận thầu sẽ là một tội phạm bị truy tố và chịu trách nhiệm phạt tiền theo phán quyết của Tòa án hoặc phạt tù có thời hạn nhưng không quá 14 năm, hoặc cả hai hình thức trên”.

Cùng hành vi này, Luật Cạnh tranh của Ấn độ quy định một mức phạt khá cao, có thể lên đến 10% doanh thu bình quân trong 3 năm tài chính gần nhất của doanh nghiệp. Trong khi đó, ở Mỹ, theo báo cáo thường niên về chính sách cạnh tranh và chống độc quyền của Bộ Tư pháp và Ủy ban thương mại liên bang cho thấy, mức phạt này dường như không có giới hạn khi dẫn chiếu một phán quyết của Bồi thẩm đoàn liên bang tại Birmingham, Alabama vào ngày 12 tháng 2 năm 2002 về gian lận thầu trong lĩnh vực xây dựng. Theo đó, phát hiện rằng ông Elmore Anderson, cựu Chủ tịch của Bilhar International Establishment đã phạm tội gian lận thầu trong các dự án xây dựng được tài trợ bằng vốn của Hoa Kỳ tại nước Cộng hòa A-rập Ai Cập với tội danh âm mưu lừa gạt các Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID). Công ty này đã bị đưa ra Tòa và chịu mức hình phạt lên đến 54 triệu Đô la về những âm mưu gian lận trên.

Đối với Ngân hàng Thế giới (WB), trong một dự án quốc gia về nâng cấp và quản lý đường bộ tại Philippines, khi phát hiện dấu hiệu thông thầu, WB đã huy động trên 20 điều tra viên, luật sư, tư vấn kỹ thuật, cán bộ hỗ trợ cùng vào cuộc tìm chứng cứ. Phán quyết được đưa ra sau 5 năm điều tra, với việc 9 nhà thầu bị xử lý, trong đó có 2 nhà thầu bị cấm vĩnh viễn và 7 nhà thầu bị cấm từ 4 đến 8 năm tham gia các gói thầu của WB. Luận văn: Giải pháp đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.

Qua nghiên cứu pháp luật các nước cho thấy, mặc dù chỉ là những ý tưởng, âm ưu gian lận trong đấu thầu cũng đã bị trừng phạt một cách thích đáng. Trong khi đó, đối với pháp luật Việt Nam ngay cả những hành vi vi phạm quan trọng nhất xâm phạm đến nguyên tắc xung đột lợi ích và triệt tiêu cơ chế cạnh tranh trong đấu thầu như hành vi về đánh giá hồ sơ dự thầu không đúng tiêu chuẩn dẫn đến làm thay đổi kết quả lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư hoặc cho phép Nhà thầu làm rõ hồ sơ dẫn đến thay đổi bản chất hồ sơ dự thầu, cũng chỉ phạt ở mức tối đa là 40.000.000 đồng, quy định tại khoản 5, Điều 20, Nghị định 50/2016/NĐ-CP. Hoặc hành vi “nêu các điều kiện nhằm hạn chế sự tham gia của các nhà thầu hoặc tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu gây ra cạnh tranh không bình đẳng” cũng chỉ bị phạt cao nhất là 20.000.000 đồng, tại khoản 3, Điều 19, Nghị định 50/2016/NĐ-CP. Do đó, những hành vi tương tự thế này vẫn thường xuyên xảy ra trong các dự án đầu tư mua sắm công. Trong khi đó, lợi ích mang lại từ những hành vi vi phạm là con số vô cùng lớn, thường chiếm trên 20% giá trị đầu tư như nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới. Vì thế, các Chủ đầu tư và Bên mời thầu thường có tâm lý coi thường hoặc đánh đổi rủi ro để thu được những khoảng lợi vô cùng lớn.

Mặt khác, đối với hình thức cấm tham gia hoạt động đấu thầu dường như cũng ít được áp dụng đối với các đơn vị Tư vấn hiện nay, mà đáng lẽ hình hình thức này sẽ là cần thiết để ngăn chặn những đơn vị Tư vấn không tuân thủ pháp luật, thiếu đạo đức nghề nghiệp và hoạt động chủ yếu với vai trò môi giới, lồng ghép những tiêu chí đặc thù làm cho hoạt động đấu thầu trở nên kém minh bạch trong quá trình tư vấn các Chủ đầu tư.

Về biện pháp chế tài hình sự, đây là một bước cải tiến lớn trong Luật Đấu thầu 2013 và càng trở nên hiệu quả hơn khi Bộ luật hình sự 2015 vừa mới quy định 7 tội danh liên quan đến lĩnh vực đấu thầu tại Điều 222, bao gồm: Can thiệp trái pháp luật vào hoạt động đấu thầu; Thông thầu; Gian lận; Cản trở hoạt động đấu thầu; Vi phạm quy định về bảo đảm công bằng, minh bạch; Chuyển nhượng thầu trái phép và Tổ chức lựa chọn nhà thầu khi nguồn vốn chưa được xác định dẫn đến nợ đọng vốn của nhà thầu. Đây là một bước cải tiến đáng kể và thể hiện tính đồng bộ trong hệ thống pháp luật của Việt Nam. Với mức hình phạt lên đến 20 năm tù, thể hiện sự quyết tâm trong công tác phòng chống tham nhũng. Biện pháp này sẽ được kỳ vọng rằng, các bên sẽ bùng bước và chấn chỉnh được các hiện tượng tiêu cực trong đấu thầu hiện nay.

3.3 Nâng cao trình độ năng lực các tổ chức tham gia hoạt động đấu thầu Luận văn: Giải pháp đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập luôn là vấn đề cấp bách đối với Việt Nam. Đặc biệt trong lĩnh vực đấu thầu, khi các cam kết mở cửa thị trường mua sắm công của Việt Nam chính thức đi vào hiệu lực, đòi hỏi Việt Nam phải chuẩn bị tốt một đội ngũ cán bộ lành nghề, chuyên nghiệp và am hiểu pháp luật Việt Nam lẫn quốc tế, có kiến thức rộng, công tâm và liêm chính mới hội đủ các điều kiện triển khai đấu thầu cạnh tranh trên phạm vi quốc tế.

Qua thực tế kiểm tra công tác đấu thầu cho thấy, cán bộ chuyên trách ở một số địa phương dù hết sức cố gắng song vẫn chưa đủ khả năng đáp ứng yêu cầu trong công tác mời thầu, một số Chủ đầu tư còn gặp nhiều lúng túng dẫn đến chất lượng HSMT chưa cao, chưa đạt yêu cầu và tuân thủ đúng quy định. Bên cạnh đó, công tác chấm thầu cũng thể hiện nhiều mặt còn hạn chế, dẫn đến một số hợp đồng trao không đúng cho các nhà thầu. Đặc biệt là lực lượng cán bộ công chức ở cấp huyện và xã hiện nay, tuy có dư thừa song vẫn thiếu một đội ngũ chuyên viên có trình độ nghiệp vụ giỏi.

Để khắc phục những vấn đề trên, pháp luật cần quy định rõ thành những điều kiện tiên quyết mà mỗi cá nhân, tổ chức muốn tham gia hoạt động đấu thầu cần phải đáp ứng, theo hướng nâng cao các chuẩn mực về trình độ chuyên môn, chú trọng về tính chuyên nghiệp, đạo đức và liêm chính của các đơn vị Tư vấn đấu thầu, xem đấu thầu thật sự là một nghề, đặc biệt là khả năng giao tiếp ngoại ngữ nhằm đáp ứng với tình hình mới.

Đối với các doanh nghiệp tư vấn, nhất thiết cần phải quy định thành những điều kiện kinh doanh nhất định, chẳng hạn như tối thiểu phải có 3 chứng chỉ hành nghề hoạt động đấu thầu (do Bộ Kế hoạch Đầu tư cấp); Tư vấn đấu thầu chuyên nghiệp phải có chứng chỉ hành nghề hoạt động đấu thầu với trình độ tối thiểu từ đại học thuộc các chuyên ngành phù hợp trở lên như luật học, kinh tế, xây dựng và phải mua bảo hiểm nghề nghiệp như một số ngành nghề khác. Bên cạnh đó, trình độ ngoại ngữ phải là tiêu chí bắt buộc, bởi Tư vấn chuyên nghiệp phải có khả năng tự mình tìm hiểu, nghiên cứu và tham khảo các tài liệu chuyên ngành máy móc kỹ thuật, catalogue của nhà sản xuất để có thể tự mình xây dựng các thông số kỹ thuật, các tiêu chuẩn đánh giá trong HSMT phù hợp với đối tượng cần mua sắm. Luận văn: Giải pháp đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.

Trên thực tế, các cơ sở đào tạo đấu thầu thời gian qua dù bùn phát khá nhiều nhưng có rất ít cơ sở đảm bảo được chất lượng, nếu không nói là chỉ đáp ứng nhu cầu hợp thức hóa chứng chỉ. Một phần do khung pháp lý đào tạo đang trong quá trình hoàn thiện, những chuẩn mực tối thiểu vẫn còn chung chung chưa cụ thể, làm cho các đơn vị đào tạo lúng túng trong cách thức tổ chức. Mặt khác, dù thời lượng đào tạo tối thiểu theo pháp luật quy định là 24 tiết (tương đương với 3 ngày) nhưng các cơ sở đào tạo vẫn thường xuyên cắt xén thành 3 buổi trong 03 ngày. Do đó, chất lượng kiến thức đào tạo chưa được đảm bảo, đặc biệt đối với công tác lựa chọn các nhà đầu tư. Vì thế, công tác đào tạo cũng cần phải được quan tâm đáng kể, bởi đây là đội ngũ trực tiếp tham gia và quyết định chất lượng hoạt động đấu thầu và hơn hết là quyết định việc sử dụng nguồn vốn hiệu quả.

Nhận thức được thực trạng này, Học viện Chính sách và Phát triển, trực thuộc Bộ Kế hoạch Đầu tư, đã chính thức thành lập Khoa Quản lý đấu thầu cung ứng lực lượng đấu thầu chuyên nghiệp nhằm đáp ứng với tình hình mới. Đây cũng là cơ sở duy nhất trong hệ thống giáo dục của Việt Nam hiện nay đào tạo bậc cử nhân về quản lý đấu thầu.

3.4 Triển khai hình thức đấu thầu qua mạng và mua sắm tập trung

Để khắc phục những nhược điểm theo phương thức đấu thầu hiện nay, đồng thời cũng là nghĩa vụ của các nước thành viên tham gia các Hiệp định thương mại, đấu thầu qua mạng nếu được quản lý tốt sẽ là phương thức tối ưu mang lại hiệu quả và góp phần nâng cao tính minh bạch công khai trong hoạt động đấu thầu. Hiểu một cách nôm na, đấu thầu qua mạng là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong hoạt động đấu thầu, thông qua đó, không chỉ có người bán (Nhà thầu) và người mua (bên mời thầu) dễ dàng tương tác với nhau mà còn tạo điều kiện cho các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác tham gia giám sát quá trình lựa chọn nhà thầu, đặc biệt là các dự án có sử dụng nguồn vốn nhà nước. Từ đó, sẽ ngăn chặn được các hiện tượng đấu thầu khép kín, phòng chống tham nhũng và tiết giảm chi phí trong đấu thầu, vì thế phương thức này đang trở thành xu thế tất yếu ở các quốc gia phát triển. Luận văn: Giải pháp đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.

Theo tính toán của các nước phát triển như Hàn Quốc, Nhật bản, Singapore, Úc… đấu thầu qua mạng có thể tiết kiệm từ 5% đến 20% chi phí so với phương thức đấu thầu hiện nay. Với tỷ lệ này, nếu xét tổng giá trị 153.955 gói thầu riêng năm 2015, ước tính khoảng 472.238 tỷ đồng trên phạm vi cả nước, thì Việt Nam đã tiết kiệm được gần 100 ngàn tỷ đồng, quả thật là một con số không nhỏ đối với một quốc gia có ngân sách thâm hụt như hiện nay.

Một điều quan trọng nữa, đấu thầu qua mạng cũng là một nhiệm vụ quan trọng trong chương trình xây dựng Chính phủ điện tử theo Nghị quyết 36a/NQ-CP, ngày 14 tháng 10 năm 2015. Đây cũng là công cụ giúp Đảng và Nhà nước tăng cường giám sát nhằm quyết tâm phòng chống tham nhũng theo cam kết với các tổ chức tài trợ quốc tế. Với những ưu điểm trên, đấu thầu qua mạng đã trở thành mục tiêu của Chính phủ và theo kế hoạch đề ra, đến 2025 tất cả các hoạt động mua sắm công đều phải triển khai dưới hình thức đấu thầu qua mạng. Tuy nhiên, để hình thức này thực sự mang lại hiệu quả, đòi hỏi phải đảm bảo một số điều kiện nhất định sau đây:

Yếu tố đầu tiên phải kể đến chính là con người. Theo ông Lê Văn Tăng, nguyên Cục trưởng cục quản lý đấu thầu, “ngay từ khi xây dựng quy định này, lãnh đạo nhiều đơn vị cũng băn khoăn, vì họ cảm thấy mất đi quyền lực hay một khoản ‘lợi ích’ nào đó”. Tuy nhiên, đối với các nhà thầu nước ngoài hay những nhà thầu làm ăn chân chính thì họ lại hoàn toàn ủng hộ.

Bên cạnh đó, trình độ năng lực của các cán bộ hiện nay để đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kỹ thuật công nghệ lẫn pháp luật về đấu thầu cũng là một vấn đề cần phải cân nhắc, đặc biệt trong hoàn cảnh tội phạm công nghệ ngày càng có xu hướng tin vi hơn, theo đó, tính bảo mật của các Hồ sơ mời thầu và Hồ sơ dự thầu sẽ là một vấn đề thách thức đối với tất cả các bên.

Về văn bản hướng dẫn: theo kế hoạch triển khai, đấu thầu qua mạng phải được áp dụng từ năm 2016 trở đi. Tuy nhiên, các thông tư hướng dẫn vẫn đang trong quá trình vừa áp dụng vừa xây dựng nên cần phải có độ trễ nhất định trong quá trình triển khai trên thực tế.

Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật: cần phải mạnh dạn đầu tư hệ thống thông tin đồng bộ và phần mềm liên quan đến việc xác thực và mã hoá các thông tin. Trong đó, chú trọng công tác duy trì và thiết lập cơ chế nhằm đảm bảo tính toàn vẹn và bảo mật thông tin được cung cấp, bao gồm cả các HSMT, HSDT và các thông tin cần bảo mật khác. Về hệ thống này, mặc dù được các tổ chức uy tín thế giới như Hàn Quốc, World bank hỗ trợ kinh nghiệm và công nghệ từ 2009, nhưng đến nay vẫn chưa thể áp dụng trên phương diện rộng rãi. Chính vì thế mà Việt Nam vẫn loay áp dụng mãi hình thức đấu thầu truyền thống.

Song song với hình thức trên, mua sắm tập trung cũng là hình thức mang lại hiệu quả cao và đang được áp dụng phổ biến ở các quốc gia phát triển, đặc biệt là ở các nước EU và Đông Âu dưới thời Xô viết trước đây. Phương thức này được áp dụng trong những trường hợp mua sắm với số lượng lớn, chủng loại hàng hóa sử dụng phổ biến ở nhiều đơn vị sử dụng như ô tô, thiết bị giáo dục, thiết bị văn phòng, công cụ hỗ trợ, quân trang quân phục chuyên ngành… Đơn vị mua sắm tập trung sẽ tổng hợp các nhu cầu và tiến hành lựa chọn nhà thầu theo quy trình được pháp luật quy định, theo đó, hợp đồng với nhà thầu sẽ được ký kết thông qua một trong hai cách thức sau đây: (i) ký kết thỏa thuận khung hoặc (ii) ký hợp đồng mua sắm trực tiếp.

Theo đánh giá của các nước EU, mua sắm tập trung sẽ tiếp kiệm được một phần chi phí đáng kể, bởi thay vì phải tổ chức lựa chọn nhà thầu ở từng đơn vị mua sắm khác nhau thì giờ đây tập trung về một đầu mối mua sắm. Hơn nữa, giá cả hàng hóa dịch vụ sau đấu thầu cũng sẽ tốt hơn, do có cơ hội tạo áp lực cho các Nhà thầu cạnh tranh gay gắt với nhau để có được một hợp đồng giá trị lớn. Cuối cùng, sẽ không cần một lượng nhân lực lớn để vận hành các hoạt động mua sắm.

Tuy nhiên, một lập luận chống lại phương thức mua sắm tập trung lại cho rằng, mua sắm tập trung có thể sẽ dẫn đến quan liêu trong quá trình kiểm soát các nhu cầu cần mua sắm. Bởi hàng hóa dịch vụ sẽ không phù hợp với những yêu cầu chi tiết của tất cả người dùng cuối cùng, đồng thời sẽ hạn chế các doanh nghiệp nhỏ tham gia các hoạt động mua sắm của Chính phủ. Vì thế, một mô hình tối ưu nhất đối với mọi quốc gia đó là vẫn phải duy trì 02 phương thức mua sắm khác nhau (mua sắm tập trung và mua sắm phân cấp). Theo đó, tùy thuộc vào những điều kiện của hàng hóa dịch vụ mà đơn vị mua sắm sẽ quyết định phương thức mua sắm nào mang lại hiệu quả tốt. Luận văn: Giải pháp đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.

Đối với Việt Nam, theo đại diện Cục Quản lý Công sản Bộ Tài chính cho biết, hiện cả nước có khoảng 140.000 đầu mối mua sắm công, nếu triển khai thành công phương thức mua sắm này thì số tiền tiết kiệm được có thể lên đến hơn 30.000 tỉ đồng mỗi năm và giúp các đơn vị thuận tiện hơn trong công tác quản lý tài sản.

Về lộ trình áp dụng, mua sắm công cũng đã được quy định rõ ràng trong luật đấu thầu và đồng thời cũng trở thành mục tiêu trong hoạt động mua sắm Chính phủ. Để khắc phục những hạn chế về chủng loại hàng hóa như quan điểm phản biện trên, Bộ Tài chính đã nghiên cứu ban hành cả danh mục đối tượng phù hợp để áp dụng hình thức MSTT. Tuy nhiên, cho đến nay hình thức mua sắm này vẫn chưa được các các đơn vị mua sắm đón nhận một cách đáng kể, ngoại trừ lĩnh vực thuốc y tế đã được cơ quan MSTT Bộ Y tế triển khai khá hiệu quả.

Cần nói thêm rằng, về lý thuyết, hai hình thức mua sắm này sẽ ngăn chặn được nạn tham nhũng và khắc phục được những yếu kém trong phương thức truyền thống hiện nay. Tuy nhiên, cũng không thể khẳng định rằng kết quả mong đợi sẽ là triệt để, bởi nếu thực hiện không tốt cũng sẽ là cơ hội mới để hình thành tiêu cực, tham nhũng cũng sẽ không mất đi mà chuyển từ nơi này sang nơi khác, từ những tiêu cực nhỏ, phân tán nay lại tập trung về một đầu mối với quy mô lớn hơn. Cụ thể là nguy cơ độc quyền mua, độc quyền bán sẽ dẫn đến móc nối với các công ty sân sau, lợi ích nhóm, thao túng giá cả và đặt ra những thỏa thuận ngầm khó kiểm soát. Nguy cơ này hoàn toàn có khả năng xảy ra khi quyền lực được tập trung vào một cơ quan chuyên biệt nào đó. Vì thế, nhất thiết phải có quy chế thực hiện rõ ràng, cách thức tổ chức công khai minh bạch mới có thể kỳ vọng đảm bảo các mục tiêu của pháp luật đề ra.

3.5 Hoàn chỉnh các quy phạm pháp luật Luận văn: Giải pháp đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.

Theo ông Trần Trung Kiên, chuyên gia lĩnh vực mua sắm công của Ngân hàng Thế giới cho biết, mỗi năm Việt Nam chi khoảng 21-22 tỷ USD cho mua sắm công. Một con số không hề nhỏ trong tổng ngân sách chi tiêu của Chính phủ. Trong khi đó, một số quy định bất cập của Luật Đấu thầu đã tạo điều kiện cho các Chủ đầu tư tiêu tiền nhà nước một cách lãng phí. Để hạn chế các hiện tượng trên, đồng thời nâng cao chất lượng hoạt động đấu thầu phù hợp với chuẩn mực chung của thế giới, Luật Đấu thầu cần xem xét hoàn chỉnh các quy định sau:

3.5.1 Về đảm bảo minh bạch trong hoạt động đấu thầu

Công khai, minh bạch là nguyên tắc cơ bản nhất trong pháp luật hầu hết các nước về đấu thầu. Bởi minh bạch công khai ngoài nhiệm vụ phòng chống tham nhũng còn giúp các nhà thầu tin tưởng vào một sự cạnh tranh công bằng nhằm thu hút số lượng tối đa nhà thầu tham gia để mang lại hiệu quả kinh tế. Do đó, để đạt được mục tiêu này, pháp luật đấu thầu cần hoàn thiện các quy định về nâng cao tính minh bạch trong các khâu cơ bản sau:

Về cơ chế kiểm soát đấu thầu: trước hết, pháp luật cần điều chỉnh các quy phạm theo hướng nâng cao vai trò giám sát của các Cơ quan quản lý nhà nước trong hoạt động đấu thầu; vai trò Người có thẩm quyền theo hướng bắt buộc phải thi hành các nhiệm vụ được giao. Bên cạnh đó, cần hoàn chỉnh các quy định theo hướng tăng cường cơ chế thẩm tra các hồ sơ, tài liệu liên quan đến quá trình tổ chức đấu thầu trước khi ban hành như kinh nghiệm của Ngân hàng phát triển Á Châu.

Về công tác mời thầu: tăng cường các biện pháp minh bạch, công khai thông tin quảng cáo mời thầu và các tiêu chuẩn đánh giá HSMT. Bên cạnh đó, Bộ Kế hoạch & Đầu tư cần nghiên cứu hướng dẫn chi tiết cách thức xác định công thức quy đổi giá đánh giá trong HSMT đối với các gói thầu mang tính phổ thông như lĩnh vực đầu tư xây dựng, mua sắm các hàng hóa thông thường, nhằm tạo điều kiện thuận lợi và nâng cao tính khách quan cho các bên trong quá trình thiết lập và phê duyệt hồ sơ. Ngoài ra, đối với phương pháp đánh giá kỹ thuật bằng hệ thống điểm đánh giá, đây là phương pháp dẫn đến cách đánh giá rất chủ quan và có thể bị lạm dụng bằng những tiêu chí xét thầu có thể thay đổi được tùy thuộc vào ý muốn. Theo khuyến cáo của các tổ chức WB, ADB và JBIC, bên mời thầu không nên áp dụng phương pháp chấm điểm để đánh giá. Trên thực tế, một số cơ quan lớn như Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) cũng có xu hướng không dùng phương pháp chấm điểm này để phù hợp với yêu cầu của WB và Do đó, cần nghiên cứu phương pháp đánh giá mới khách quan hoặc áp dụng phương pháp theo tiêu chí đạt/không đạt như các gói thầu của WB và ADB hiện nay.

Về quảng bá thông tin: đây là một vấn đề cấp thiết trong thực tiễn đấu thầu, khi có quá nhiều Chủ đầu tư, Bên mời thầu luôn tìm cách gây khó khăn cho các Nhà thầu thầu tiếp cận HSMT. Để khắc phục thực trạng này, nhất thiết cần quy định rõ việc bán HSMT phải thực hiện đồng thời qua cổng thông tin đấu thầu quốc gia và phương thức truyền thống như hiện nay và cũng là một bước chuẩn bị cho phương thức đấu thầu qua mạng trong tương lai.

3.5.2 Về hình thức lựa chọn nhà thầu Luận văn: Giải pháp đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.

Trong 8 hình thức lựa chọn nhà thầu trong Luật Đấu thầu hiện nay, chỉ có 3 hình thức đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế và chào giá cạnh tranh là đảm bảo cạnh tranh và phù hợp với thông lệ đấu thầu quốc tế. Các hình thức còn lại tỏ ra rất kém cạnh tranh và chỉ được áp dụng trong một số trường hợp nhất định. Trong đó, mua sắm trực tiếp là hình thức rất kém cạnh tranh và tiềm ẩn nhiều nguy cơ tham nhũng khi cho phép Chủ đầu tư thực hiện gói thầu với quy mô không quá 130% trong thời hạn không quá 12 tháng kể từ ngày ký hợp đồng của gói thầu trước đó, (Điều 24, Luật Đấu thầu 2013).

Đối với hình thức này, sẽ là khác biệt và mang tính đặc thù của pháp luật Việt Nam khi không phù hợp với bất kỳ hình thức chọn thầu nào trong pháp luật các nước. Những tiềm ẩn về rủi ro được thể hiện khi cho phép Chủ đầu tư xác định rõ ràng Nhà thầu cung cấp hàng hóa lần này cũng chính là Nhà thầu đã thực gói thầu trước đó trong thời hạn chưa quá 12 tháng, theo đơn giá không quá đơn giá phần việc tương ứng thuộc gói thầu tương tự trước đó. Bởi đối với các gói thầu mang tính kỹ thuật công nghệ cao hiện nay như máy vi tính, hệ thống server bảo mật, camera an ninh… sẽ nhanh chóng lỗi thời sau một khoảng thời hạn nhất định thường không quá 06 tháng. Do đó hình thức này cũng không khác gì hình thức chỉ định thầu nhưng những điều kiện Chỉ định thầu còn khắt khe hơn hình thức mua sắm trực tiếp đang quy định trong pháp luật hiện nay. Do đó, việc có nên tiếp tục thừa nhận hình thức này hay không, sẽ là một vấn đề cần phải suy xét.

Ngoài ra, đối với hình thức chỉ định thầu, cũng cần xem xét đánh giá lại ngưỡng chỉ định các gói thầu hiện nay để phù hợp với tình hình thực tế, có tính dự báo, ổn định lâu dài và đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ tham gia vào thị trường mua sắm công như mục tiêu của pháp luật đề ra. Luận văn: Giải pháp đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.

3.5.3 Về phương thức đấu thầu

Đối với phương thức đấu thầu “hai giai đoạn, hai túi hồ sơ”, đây là một phương thức đặc thù của pháp luật Việt Nam mà nhất thiết cần phải xem xét đánh giá lại tác động về phạm vi áp dụng cũng như quy trình tổ chức lựa chọn nhà thầu khi áp dụng phương thức này, bởi một số lý do như sau:

Thứ nhất, đây không phải là hình thức được áp dụng phổ biến trên phương diện đấu thầu quốc tế như tác giả đã phân tích ở Chương 1 (mục 1.3.4);

Thứ hai, sẽ gây nhiều khó khăn về thời gian lẫn công sức cho các Nhà thầu tham gia khi áp dụng hình thức này đối với các gói thầu mang tính kỹ thuật cao, đặc thù, công nghệ phức tạp và mang tính hỗn hợp.

Thứ ba, cần xác định bản chất khoa học pháp lý của Luật Đấu thầu Việt Nam theo hướng mang tính khả thi cao và cần thiết với thực tiễn hoạt động đấu thầu, chứ không phải là nơi tập hợp tất cả các phương thức lựa chọn nhà thầu đang có trên thực tế.

3.5.4 Đối với quy định về ưu đãi khi tham gia các hiệp định FTA

Cho đến hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa bao giờ phải đứng trước một áp lực hoặc giới hạn nào từ các quy định của đấu thầu trên phạm vi quốc tế. Song với sức ép hội nhập kinh tế như hiện nay, Việt Nam buộc phải tham gia các hiệp định thương mại tự do nhằm tối đa hóa các cơ hội thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Theo đó, Việt Nam đã cam kết mở cửa thị trường mua sắm công cho các doanh nghiệp từ các nước thành viên. Những cam kết này đã đặt Việt Nam đứng trước yêu cầu phải hoàn chỉnh các quy định pháp luật nhằm bảo đảm nguyên tắc minh bạch, cạnh tranh nhằm chuẩn bị triển khai các gói thầu ở tầm quốc tế.

Theo đó, một trong những quy định bị ảnh hưởng lớn nhất trong pháp luật Việt Nam hiện nay đó là nguyên tắc đảm bảo minh bạch, cạnh tranh mà cụ thể là nguyên tắc về ưu đãi và xung đột lợi ích. Đối với các Hiệp định thương mại quốc tế, “đối xử quốc gia và không phân biệt đối xử” (National treatment and Non-discrimination) là nguyên tắc chủ đạo thể hiện trong tất cả các hiệp định có quy định về lĩnh vực đấu thầu như Điều 3 của GPA; Điều 4 của Hiệp định EVFTA và Điều 15.4 của Hiệp định TPP. Theo nguyên tắc đó, mỗi nước thành viên sẽ đối xử, ngay lập tức và vô điều kiện cho các loại hàng hóa, dịch vụ và nhà thầu của các nước thành viên khác nhau không kém phần thuận lợi hơn so với hàng hóa, dịch vụ hoặc nhà thầu trong nước. Vì thế, những ưu đãi về cạnh tranh đối với hàng hóa sản xuất tại Việt Nam sẽ trở thành một rào cản thương mại, gây thiếu công bằng và vi phạm nguyên tắc mang lại hiệu quả kinh tế. Luận văn: Giải pháp đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.

Ngoài ra, Luật Đấu thầu Việt Nam còn phải điều chỉnh một số nội dung khác liên quan đến điều kiện tham dự gói thầu; giá gói thầu và thời gian tối thiểu trong đấu thầu cạnh tranh.

3.5.5 Về cơ chế giải quyết kiến nghị:

Qua thực tiễn áp dụng và nghiên cứu pháp luật đấu thầu các nước cho thấy, để cơ chế giải quyết kiến nghị thật sự mang lại hiệu quả, khách quan và giảm thiểu các hành vi tiêu cực, nhất thiết cần phải xây dựng một cơ chế giải quyết kiến nghị độc lập với các lợi ích của các cơ quan tổ chức lựa chọn đấu thầu. Để đạt mục tiêu này, thiết nghĩ pháp luật đấu thầu cần điều chỉnh theo hướng giao trách nhiệm và tăng thêm quyền lực cho Cục quản lý đấu thầu – cơ quan đầu mối của Chính phủ sẽ trực tiếp đứng ra giải quyết các khiếu kiện trên phạm vi toàn quốc. Có như thế mới đảm bảo được tính khách quan, tạo niềm tin và khuyến khích các nhà thầu tố giác những hành vi tiêu cực trong đấu thầu, góp phần chấn chỉnh và nâng cao chất lượng hoạt động đấu thầu hiện nay.

Kết luận Chương 3

Nghiên cứu các biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động đấu thầu là một công việc hết sức cấp thiết không chỉ đối với hoạt động đấu thầu ở Việt Nam. Trong phạm vi đề tài này, tác giả đã đóng góp một số ý kiến nhỏ rút ra từ quá trình nghiên cứu kỹ lưỡng các quy định của pháp luật đấu thầu và đúc kết thông qua quá trình áp dụng pháp luật đấu thầu trên thực tiễn, được tác giả phân thành các nhóm giải pháp như sau:

Nhóm giải pháp nhằm đảm bảo cơ chế minh bạch, cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu: để đảm bảo mục đích này, pháp luật đấu thầu cần quy định rõ trách nhiệm về giám sát, kiểm tra của người có thẩm quyền và các cơ quan quản lý nhà nước trong hoạt động đấu thầu thành những quy phạm mang tính bắt buộc, tránh mang tính tùy nghi “khi cần thiết”, đồng thời tăng cường trách nhiệm của những người đứng đầu các cơ quan giám sát kiểm tra. Bên cạnh đó, hình thành các đơn vị sự nghiệp công nhằm cung cấp các dịch vụ công tư vấn, thẩm tra các hồ sơ liên quan đến hoạt động đấu thầu, đặc biệt là đối với những gói thầu có vốn đầu tư lớn. Luận văn: Giải pháp đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.

Ngoài ra, để chuẩn bị cho hoạt động đấu thầu mở rộng trên phạm vi quốc tế khi Việt Nam mở cửa thị trường mua sắm công, nhất thiết cần phải rà soát hoàn chỉnh các quy định trong pháp luật đấu thầu để phù hợp với các hiệp định thương mại quốc tế như các chế định về ưu đãi trong đấu thầu, hình thức lựa chọn nhà thầu, phương thức lựa chọn nhà thầu, thời gian trong đấu thầu và tư cách hợp lệ của các nhà thầu tham gia…

Về các biện pháp chế tài: các biện pháp chế tài hành chính hiện nay còn quá nhẹ nhàng, chưa đủ sức răn đe để góp phần chấn chỉnh và nâng cao chất lượng hoạt động đấu thầu. Để khắc phục thực trạng này, cần xem xét điều chỉnh các mức phạt theo hướng không giới hạn ở mức tối đa, đặc biệt khi Luật Đấu thầu cũng đã quy định Cơ quan tư pháp tham gia vào quá trình giải quyết khiếu kiện của các nhà thầu. Bên cạnh đó, cần rà soát lại những nội dung hành vi vi phạm phải toàn diện đối với các bên.

Về phương thức đấu thầu: để khắc phục những vấn đề thiếu minh bạch trong cơ chế đấu thầu hiện nay, đấu thầu qua mạng sẽ là phương thức được kỳ vọng nhằm xóa bỏ những hạn chế, bất cập trong phương thức đấu thầu, đồng thời tiết kiệm thời gian và chi phí cho các bên, tránh được những hành vi cản trở, gây khó khăn, giúp Nhà thầu dễ dàng tiếp cận các thông tin, tiếp nhận HSMT và nộp HSDT một cách thuận lợi nhất. Đây cũng là phương thức đang được áp dụng phổ biến ở các nước phát triển đồng thời cũng là nghĩa vụ bắt buộc đối với các nước thành viên khi tham gia các hiệp định thương mại tự do. Tuy nhiên, đối với Việt Nam, đấu thầu qua mạng có phát huy được hết các ưu thế hay không cần phải có một quá trình kiểm chứng và điều chỉnh để phù hợp với điều kiện thực tiễn.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.

Qua nghiên cứu pháp luật đấu thầu cho thấy, không thể phủ nhận rằng pháp luật đấu thầu của Việt Nam ngày càng có những bước tiến bộ và tiệm cận hơn với các chuẩn mực đấu thầu của quốc tế. Cụ thể, Luật Đấu thầu cũng đã khắc phục được những hạn chế trước đây như: (i) phạm vi điều chỉnh đã bao quát khá toàn bộ các hoạt động đầu tư mua sắm công và lựa chọn nhà đầu tư (đặc biệt là hình thức PPP) nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn lực, tài nguyên của đất nước; (ii) thống nhất, tập trung các văn bản quy phạm pháp luật theo hướng Luật Đấu thầu là bộ luật gốc, khắc phục được tình trạng ban hành quá nhiều văn bản pháp luật chồng chéo, nội dung tương đồng nhưng thiếu nhất quán. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã thành lập một cơ quan quản lý độc lập, với mục tiêu và tôn chỉ rõ ràng, chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động đấu thầu trên phạm vi cả nước.

Song bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận trên, pháp luật đấu thầu vẫn tồn tại một số quy định còn bất cập và tỏ ra chưa theo sát với thực tiễn áp dụng pháp luật đấu thầu. Thực tế cho thấy, Luật được xây dựng trên nguyên tắc giao cho các Chủ đầu tư tự chịu trách nhiệm về hoạt động lựa chọn nhà thầu, đồng thời quy định trách nhiệm của Người có thẩm quyền thực hiện các nhiệm vụ về giám sát kiểm tra. Tuy nhiên, trong một số trường hợp cơ chế giám sát đã trở nên không bắt buộc, mang tính tùy nghi và nhiều quy định về đảm bảo cạnh tranh, minh bạch trong đấu thầu cũng chưa được thực hiện một cách nghiêm túc. Bên cạnh đó, các biện pháp chế tài hiện nay chưa đủ mạnh, chưa đủ sức răn đe đã dẫn đến một số hành vi tham nhũng vẫn thường diễn ra trong các dự án đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước. Thậm chí tính chất vi phạm ngày càng nghiêm trọng hơn khi xuất hiện cả các hành vi cướp bóc, cản trở sự tham gia của các nhà thầu, làm cho môi trường cạnh tranh càng trở nên bất ổn.

Xuất phát từ thực trạng trên và những câu hỏi cần nghiên cứu, đề tài đã giải quyết được các vấn đề như sau:

  1. Qua nghiên cứu các khái niệm trong pháp luật đấu thầu đầu tư mua sắm công, tác giả đã đề xuất thêm một khái niệm mới về “Mua sắm công” mà pháp luật đấu thầu Việt Nam hiện nay còn để ngỏ.
  2. Đề tài đã làm rõ một số quy định còn bất cập trong pháp luật đấu thầu hiện hành và chưa phù hợp với thông lệ đấu thầu quốc tế.
  3. Thông qua các ví dụ điển hình và các hồ sơ mời thầu trong thực tiễn, đề tài đã chỉ ra một nguyên nhân dẫn đến chất lượng hoạt động đấu thầu thấp kém như hiện nay, mà nhất thiết pháp luật đấu thầu cần phải điều chỉnh để khắc phục tình trạng đấu thầu hình thức; bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư và nâng cao chuẩn mực đấu thầu của Việt Nam phù hợp với thông lệ đấu thầu quốc tế. Đặc biệt là các quy định liên quan đến lĩnh vực mua sắm Chính phủ trong hai hiệp định thương mại quốc tế mà Việt Nam vừa mới tham gia. Trong đó, cần chú trọng đến các quy định về đảm bảo nguyên tắc cạnh tranh, minh bạch và hiệu quả trong đấu thầu; phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu; tư cách nhà thầu hợp lệ và tăng cường kiểm soát cơ chế giám sát hoạt động đấu thầu trên thực tiễn.
  4. Ngoài các giải pháp hoàn chỉnh về pháp luật, đề tài còn đề xuất một số biện pháp mới nhằm nâng cao tính minh bạch trong hoạt động đấu thầu, đảm bảo mục tiêu cạnh tranh và khắc phục tình trạng đấu thầu hình thức như hiện nay.

Nghiên cứu “Pháp luật đấu thầu và thực tiễn áp dụng trong dự án đầu tư mua sắm công” là một đề tài mới trong bối cảnh Luật Đấu thầu 2013 và Việt Nam đang chuẩn bị thực hiện các cam kết mở cửa thị trường mua sắm công. Do đó, các vấn đề đặt ra trong đề tài này là những vấn đề mang tính cấp thiết hoặc những vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật về đấu thầu. Để giải quyết các vấn đề trên, tác giả đã cố gắng vận dụng những kinh nghiệm thực tiễn tham gia trong các dự án đầu tư mua sắm công và nghiên cứu pháp luật đấu thầu của một số quốc gia, các tổ chức tài chính quốc tế cũng như tham vấn các ý kiến từ các chuyên gia đang công tác trong lĩnh vực đấu thầu. Đặc biệt là sự hướng dẫn rất tận tình, chu đáo và giàu kinh nghiệm của TS. Đoàn Thị Phương Diệp đã giúp tác giả hoàn thành tốt đề tài trên./. Luận văn: Giải pháp đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Pháp Luật Đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công

One thought on “Luận văn: Giải pháp đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công

  1. Pingback: Luận văn: Thực tiễn đấu thầu trong dự án đầu tư mua sắm công

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464