Luận văn: Thực trạng pháp luật quản lý lao động nước ngoài ở tỉnh

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật quản lý lao động nước ngoài ở tỉnh hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý lao động nước ngoài ở tỉnh Quảng Ngãi dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Tình hình lao động nước ngoài và quản lý lao động nước ngoài ở tỉnh Quảng Ngãi

Tỉnh Quảng Ngãi nằm ở duyên hải Nam Trung Bộ, có diện tích tự nhiên 5.131,5km2, bằng 1,7% diện tích tự nhiên cả nước, bao gồm 14 huyện, thành phố, trong đó có 1 thành phố, 6 huyện đồng bằng ven biển, 6 huyện miền núi và 1 huyện đảo. Là tỉnh có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, số thời gian nắng và mưa trong năm dài, hàng năm thường xuyên chịu các thiên tai bão lụt.

Mặc dù trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn còn nhiều khó khăn, nền kinh tế cả nước và của tỉnh vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức bất lợi, thế nhưng trong những năm qua kinh tế-xã hội của Quảng Ngãi có nhiều khởi sắc đáng kể. Trên lĩnh vực kinh tế, đến năm 2026, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) ước đạt 21.710 tỷ đồng, tăng 4,4 so với cùng kỳ và đạt 49,4% kế hoạch năm. Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2026 trên địa bàn đạt 8.989 tỷ đồng, đạt 40,4% so dự toán năm 35.000 tỷ đồng. GDP bình quân đầu người tăng từ 1.728 USD năm 2022 lên 2.040 USD năm 2026.[41] Việc thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) vào tỉnh đạt kết quả tích cực; nổi bật là sự kiện khởi công dự án Khu Công nghiệp, Đô thị và Dịch vụ VSIP Quảng Ngãi, mở ra triển vọng mới cho sự phát triển kinh tế – xã hội tỉnh nhà.

Những đặc điểm, tiềm năng, lợi thế của các nhân tố tự nhiên, kinh tế, văn hoá, xã hội đã tác động vừa gián tiếp, vừa trực tiếp đến tình hình lao động nước ngoài và quản lý lao động nước ngoài của tỉnh Quảng Ngãi.

Trong giai đoạn 2024 – 2026, số lao động nước ngoài làm việc tại tỉnh Quảng Ngãi có sự thay đổi lớn qua các năm cũng như qua các quý trong năm. Sự thay đổi này là do nhu cầu vị trí công việc cần phải có lao động nước ngoài đảm nhận của các đơn vị, tổ chức có vốn đầu tư FDI. Tính đến tháng 12/2026, trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi 382 lao động và 40 tổ chức, đơn vị được cấp phép, số lao động nước ngoài tại tỉnh Quảng Ngãi tập trung làm việc tại Khu kinh tế Dung Quất và Khu công nghiệp VSIP Quảng Ngãi.

2.2 Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý lao động nước ngoài ở tỉnh Quảng Ngãi Luận văn: Thực trạng pháp luật quản lý lao động nước ngoài ở tỉnh.

2.2.1. Các phương diện đánh giá

  • Thực hiện quy định về đối tượng, tiêu chuẩn, điều kiện người nước ngoài làm việc tại Việt Nam

Căn cứ Nghị định số 11/2026/NĐ-CP ngày 03/02/2026 của Chính phủ quy định về tuyển dụng và quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam; Công văn số 5233/LĐTBXH-VL ngày 29/12/2026 của Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội về tăng cường công tác quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Theo đó, UBND tỉnh Quảng Ngãi ban hành Công văn số 321/UBND-KGVX ngày 18/01/2027 yêu cầu các sở, ban, ngành liên quan, các tổ chức, doanh nghiệp, các nhà thầu trên địa bàn tỉnh có sử dụng lao động là người nước ngoài triển khai thực hiện các nội dung sau:

Đối với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tổ chức tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn các quy định của pháp luật về người nước ngoài làm việc tại Việt Nam được quy định tại Bộ luật Lao động, Nghị định số 11/2026/NĐ-CP ngày 03/02/2026 của Chính phủ. Tổ chức giới thiệu, cung ứng lao động Việt Nam cho nhà thầu nước ngoài theo đề nghị của nhà thầu nước ngoài trên địa bàn. Trường hợp không giới thiệu hoặc cung ứng được lao động Việt Nam cho nhà thầu nước ngoài thì báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh xem xét, quyết định cho phép nhà thầu nước ngoài được tuyển người nước ngoài vào các vị trí công việc không tuyển được lao động Việt Nam.

Thực hiện công tác tuyên truyền thực hiện pháp luật về quản lý và sử dụng lao động nước ngoài tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh được Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Ngãi thực hiện thông qua sao gửi và hướng dẫn đến các tổ chức, đơn vị trên địa bàn tỉnh các văn bản quy định của Chính phủ và các Bộ ngành Trung ương về công tác tuyển dụng, quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Đồng thời ban hành các văn bản chỉ đạo các tổ chức, đơn vị thực hiện nghiêm túc công tác tuyển dụng, quản lý, cấp giấy phép lao động, báo cáo định kỳ và đột xuất về việc sử dụng người nước ngoài làm việc tại tổ chức, đơn vị. Luận văn: Thực trạng pháp luật quản lý lao động nước ngoài ở tỉnh.

Bên cạnh đó, hàng năm, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Ngãi đều mở lớp tập huấn cho cán bộ quản lý và chủ doanh nghiệp có sử dụng Lao động nước ngoài trên địa bàn tỉnh về công tác sử dụng lao động nước ngoài nhằm đảm bảo lợi ích cho các doanh nghiệp cũng như người lao động nước ngoài làm việc trên địa bàn tỉnh.

Qua theo dõi, hầu hết các đơn vị, doanh nghiệp có sử dụng lao động người nước ngoài tại Quảng Ngãi đều được UBND tỉnh, Ban Quản lý khu kinh tế Dung Quất, Ban Quản lý các khu công nghiệp, Sở Kế hoạch và đầu tư cấp giấy chứng nhận và hoạt động bình thường và thực hiện tương đối đầy đủ các quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý người nước ngoài, được UBND tỉnh chấp thuận việc sử dụng lao động trước khi tiến hành làm thủ tục xin cấp giấy phép lao động. Theo số liệu thống kê từ năm 2024-2026 thể hiện:

  • Bảng 2.1. Tình hình số lao động nước ngoài ở tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2024 – 2026

Qua số liệu bảng 2.1 có thể thấy, số lao động nước ngoài tại tỉnh Quảng Ngãi nói chung và số lao động nước ngoài được cấp giấy phép nói riêng trên địa bàn tỉnh có xu hướng tăng do các doanh nghiệp FDI được thành lập từ khi Khu Công nghiệp VSIP Quảng Ngãi được hình thành năm 2024. Số lượng lao động người nước ngoài có tăng nhưng không nhiều vì những doanh nghiệp tại Khu kinh tế Dung quất có xu hướng sử dụng lao động trí thức Việt Nam. Điều này chứng tỏ nền giáo dục Việt Nam đang có những bước tiến lớn về chất lượng đào tạo, cũng như trình độ khoa học công nghệ đang trên đà phát triển cùng với thế giới.

  • Xét về cơ cấu giới tính:
  • Bảng 2.2. Thống kê số lao động nước ngoài tại tỉnh Quảng Ngãi theo giới tính giai đoạn 2024 – 2026

Qua số liệu bảng 2.2 có thể thấy, trong giai đoạn 2024 – 2026, số lao động nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi chủ yếu là nam giới, chiếm tới từ 88,4% đến 93% tổng số lao động nước ngoài tại Tỉnh. Sở dĩ có kết quả trên là do tính chất công việc của lao động nước ngoài sang Việt Nam đa phần là ngành nghề kỹ thuật các công việc có khối lượng làm việc lớn như: Xây dựng, cơ khí, công nghiệp nặng…tỷ lệ lao động nước ngoài là nữ giới tại Quảng Ngãi thấp chiếm từ 7%-11,6% chủ yếu tập trung làm việc tại các trung tâm dạy ngoại ngữ. Luận văn: Thực trạng pháp luật quản lý lao động nước ngoài ở tỉnh.

  • Về cơ cấu độ tuổi:
  • Bảng 2.3. Thống kê số lao động nước ngoài tại tỉnh Quảng Ngãi theo độ tuổi giai đoạn 2024 – 2026

Theo số liệu bảng 2.3 cho thấy, trong giai đoạn 2024 – 2026, số lao động nước ngoài làm việc tại tỉnh Quảng Ngãi chủ yếu ở độ tuổi từ 31 – 50 tuổi chiếm trên 60%. Đây là độ tuổi lý tưởng bởi ở độ tuổi này con người thường đầy đủ sức khỏe, đã có kinh nghiệm thực tế trong công việc, mang lại hiệu quả lớn nhất.

Phần lớn lao động nước ngoài sang làm việc tại tỉnh Quảng Ngãi đa số là lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, là nam giới họ làm việc tại các doanh nghiệp FDI, dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất, đây là những ngành nghề nặng nhọc về xây dựng, cơ khí, lọc hóa dầu… đáp ứng được nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp đầu tư tại tỉnh Quảng Ngãi.

  • Về quốc tịch:

Trong giai đoạn 2024 – 2026, lao động nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đa dạng quốc tịch (20 quốc tịch), quốc tịch chủ yếu là Hàn Quốc, Ấn Độ và Trung Quốc. Lực lượng lao động này thường là các chuyên gia, kỹ sư, thạc sĩ, tiến sĩ trong lĩnh vực xây dựng và công nghiệp nặng làm việc tại các khu công nghiệp của tỉnh. Đối với người lao động nước ngoài ở các quốc gia phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, Rumani… còn khá ít. Đây là một trong những hạn chế đối với công tác thu hút và quản lý lao động nước ngoài tại tỉnh Quảng Ngãi.

  • Bảng 2.4. Thống kê số lao động nước ngoài tại tỉnh Quảng Ngãi theo quốc tịch giai đoạn 2024 – 2026
  • Về hình thức lao động:

Hình thức lao động nước ngoài làm việc tại tại tỉnh Quảng Ngãi chủ yếu theo Hợp đồng lao động, theo hợp đồng kinh tế, di chuyển nội bộ doanh nghiệp và một số hình thức khác. Trong giai đoạn 2024 – 2026, hình thức lao động theo di chuyển nội bộ doanh nghiệp chiếm khoảng 30%, thực hiện hợp đồng kinh tế 10%.

  • Bảng 2.5. Thống kê số lao động nước ngoài tại tỉnh Quảng Ngãi theo hình thức lao động giai đoạn 2024 – 2026

Về trình độ chuyên môn:

  • Bảng 2.6. Thống kê số lao động nước ngoài tại tỉnh Quảng Ngãi theo trình độ chuyên môn giai đoạn 2024 – 2026

Nhìn chung, trình độ chuyên môn của đội ngũ lao động nước ngoài đang làm việc tại tỉnh Quảng Ngãi có trình độ chuyên môn cao, đây chính là lực lượng góp phần phát triển kinh tế – xã hội, cũng như phát triển khoa học, công nghệ của tỉnh theo hướng hiện đại hóa. Luận văn: Thực trạng pháp luật quản lý lao động nước ngoài ở tỉnh.

  • Hạn chế:
  • Hạn chế trong việc thực hiện các quy định của pháp luật::

Đối với quy định về đối tượng, tiêu chuẩn, điều kiện người nước ngoài làm việc tại Việt Nam chưa đảm bảo theo quy định như: Về tuyển dụng lao động Việt Nam đối với nhà thầu trước khi tuyển lao động người nước ngoài, mặc dù quy trình thủ tục có thông báo tuyển dụng nhưng chỉ là hình thức dẫn đến cơ quan quản lý lao động tại địa phương không kiểm soát được.

Nhiều dự án kinh tế lớn có vốn đầu tư nước ngoài, chịu nhiều áp lực về tiến độ, nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài với số lượng lớn. Tuy nhiên quy định của pháp luật yêu cầu phải thẩm định từng vị trí công việc mà doanh nghiệp thật sự có nhu cầu và không tuyển được lao động Việt Nam, điều đó gây mất thời gian trong quá trình thực hiện thủ tục cấp phép lao động.

Theo quy định, người lao động nước ngoài được cấp giấy phép lao động trước rồi mới được nhập cảnh vào làm việc. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp đã nhập cảnh vào làm việc tại doanh nghiệp rồi mới thực hiện thủ tục cấp giấy phép lao động. Trong trường hợp này các doanh nghiệp đã lợi dụng kẻ hở trong quy định của pháp luật, thực hiện việc bảo lãnh cho người lao động nước ngoài dưới hình thức làm việc ngắn hạn dưới 3 tháng. Chính vì điều này đã ảnh hưởng đến công tác quản lý của địa phương, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây mất an ninh- ổn định chính trị tại tỉnh. Nhưng pháp luật chưa quy định chế tài trong xử lý vi phạm của doanh nghiệp.

Không ít nhà thầu, đặc biệt là nhà thầu Trung Quốc lấy lý do đảm bảo tiến độ, chất lượng kỹ thuật và hiệu quả của việc thi công các dự án do nhà thầu nước ngoài trúng thầu không quan tâm đúng mức tới việc tuyển lao động Việt Nam thay thế vị trí công việc dự kiến tuyển lao động nước ngoài. Luận văn: Thực trạng pháp luật quản lý lao động nước ngoài ở tỉnh.

Một số đơn vị chưa quan tâm đến kế hoạch đào tạo người lao động tại Tỉnh để chuẩn bị thay thế cho công việc mà người nước ngoài đang đảm nhận; chưa báo cáo danh sách và hồ sơ kịp thời theo quy định tại khoản 6, Điều 9, Nghị định số 102/2023/NĐ-CP ngày 05/9/2023 của Chính phủ đối với lao động người nước ngoài làm việc thời hạn dưới 3 tháng cho Sở Lao động -Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Ngãi, như: Công ty TNHH Xindadong Textiles Việt Nam, Công ty TNHH King Riches (Việt Nam) Footwear, Công ty TNHH MTV Dịch vụ công trình Việt Hưng (Khu công nghiệp VSIP Quảng Ngãi và Khu kinh tế Dung Quất ).

Các đơn vị thực hiện các loại hợp đồng về kinh tế, thương mại thuộc đối tượng áp dụng tại điểm c, khoản 1, điều 1, Nghị định số 102/2023/NĐ-CP ngày 05/9/2023 của Chính phủ, phía đối tác nước ngoài có sử dụng lao động người nước ngoài làm việc tại các đơn vị, tổ chức trên địa bàn tỉnh đã có hợp đồng kinh tế, nhưng không kèm theo hợp đồng ký kết với đối tác nước ngoài về việc thỏa thuận người nước ngoài đến làm việc tại Việt Nam theo quy định tại khoản 1, điều 6, Nghị định số 102/2023/NĐ-CP ngày 05/9/2023 của Chính phủ, như: Nhà máy lọc dầu Dung Quất, Công ty Cổ phần Dịch vụ dầu khí PTSC Quảng Ngãi.

Công tác khai báo, đăng ký người nước ngoài tạm trú tại một số địa phương, cơ sở không báo cáo kịp thời cho Công an cấp trên, dẫn đến việc quản lý, theo dõi công tác tạm trú của người nước ngoài làm việc trên địa bàn tỉnh chưa đầy đủ, thiếu chặt chẽ như Công ty Hải sản Nghi Bông.

Về thực hiện quy định về hồ sơ, thủ tục pháp lý đảm bảo cho người nước ngoài khi làm việc tại Việt Nam

  • Mặt đạt được:

Người sử dụng thực hiện đầy đủ các nội dung về hồ sơ cấp giấy phép lao động cho Lao động nước ngoài theo quy định tại Điều 6 và Điều 8 của Thông tư số 40/2026/TT-BLĐTBXH nên việc đảm bảo về hồ sơ pháp lý và thủ tục cho Lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam gặp nhiều thuận lợi. Hầu hết các doanh nghiệp, nhà thầu đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi có sử dụng lao động người nước ngoài đều thực hiện tốt các quy định như: đảm bảo về mặt thời gian, đảm bảo về hồ sơ cấp phép, đều có ý kiến chấp thuận đồng ý cho phép sử dụng lao động nước ngoài của UBND tỉnh, sau khi các doanh nghiệp nhận giấy phép lao động và tiến hành ký kết hợp đồng lao động với người lao động nước ngoài thì nộp bản sao hợp đồng lao động cho Sở Lao động – TB&XH tỉnh để quản lý, khi kết thúc hợp đồng hoặc nghỉ việc theo quy định thì đều tiến hành trả lại giấy phép lao động cho Sở.

  • Mặt hạn chế: Luận văn: Thực trạng pháp luật quản lý lao động nước ngoài ở tỉnh.

Trong thực tế quản lý, người sử dụng lao động ít quan tâm đến việc thực hiện thủ tục trả lại giấy phép lao động hoặc gửi bản sao hợp đồng cho Sở. Khi được kiểm tra nhắc nhở thì mới tiến hành thực hiện.

Nhiều chủ sử dụng lao động thỏa thuận với nhau trong việc chuyển nhượng lao động nước ngoài làm việc trong thời gian ngắn vì mục đích kinh doanh phổ biến ở các Trung tâm ngoại ngữ, gây khó khăn trong công tác quản lý.

Trình tự, thủ tục thực hiện đề nghị cấp giấy phép lao động còn rườm rà trong khi nhu cầu thực tế của từng doanh nghiệp khác nhau, tùy thuộc vào tính chất công việc và tình hình kinh doanh của doanh nghiệp. Việc ban hành văn bản chấp thuận của UBND tỉnh đôi lúc còn chậm so với quy định.

Về thủ tục pháp lý, hồ sơ đảm bảo cho người nước ngoài khi làm việc tại Việt Nam áp dụng cho từng đối tượng Lao động nước ngoài khi làm việc tại Việt Nam được quy định tại Điều 2 của Nghị định số 11/2026/NĐ-CP. Theo đó, Lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc với hình thức nào thì phải chứng minh các văn bản liên quan đến hình thức đó được quy định tại Khoản 7 Điều 10 Nghị định số 11/2026/NĐ-CP nên người sử dụng Lao động nước ngoài chưa cập nhật kịp thời.

  • Về cấp giấy phép lao động, cấp lại giấy phép lao động, việc sử dụng giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam

Ngày 23/02/2027, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi ban hành Quyết định số 269/QĐ-UBND về việc công bố Bộ thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Ngãi. Theo đó, thủ tục cấp, cấp lại giấy phép lao động cho Lao động nước ngoài được thực hiện tại các địa chỉ sau: dichvucong.soldtbxh.quangngai.; dichvucong. quangngai.; dvc.vieclamvietnam..

Bảng 2.7 Thống kê số lao động nước ngoài tại tỉnh Quảng Ngãi được cấp và cấp lại giấy phép lao động giai đoạn 2024 – 2026

  • Mặt đạt được:

Trong giai đoạn 2024-2026 không có hồ sơ cấp giấy phép lao động trễ hẹn, hầu hết các kết quả giải quyết thủ tục hành chính về cấp giấy phép lao động được trả kết quả sớm hơn so với ngày quy định nhưng hồ sơ vẫn đảm bảo theo quy định tại Điều 11, 12,15,16 của Nghị định số 11/2026/NĐ-CP. Luận văn: Thực trạng pháp luật quản lý lao động nước ngoài ở tỉnh.

  • Mặt hạn chế:

Theo quy định tại Khoản 9 Điều 10 của Nghị định số 11/2026/NĐ-CP thì các loại giấy tờ, các văn bản chứng minh kèm theo hồ sơ cấp giấy phép lao động phải được hợp pháp hóa lãnh sự và dịch công chứng trừ các trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo điều ước quốc tế hoặc nguyên tắc có đi có lại theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp thực hiện thủ tục công chứng các loại giấy tờ tại các cơ quan khác còn chậm nhận kết quả nên dẫn đến tốn nhiều thời gian cho doanh nghiệp trong khâu hoàn thiện hồ sơ cấp giấy phép lao động.

Việc sử dụng giấy phép lao động cho Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam: Pháp luật quy định việc quản lý, sử dụng giấy phép lao động được giao cho người nước ngoài dẫn đến rất nhiều trường hợp lao động nước ngoài nghĩ việc không có lý do và sử dụng giấy phép lao động đã được cấp đến các tỉnh khác để làm việc ảnh hưởng đến công tác quản lý của địa phương và nhu cầu sử dụng lao động của người sử dụng lao động.

Trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước và người sử dụng lao động trong việc quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam.

  • Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước Mặt đạt được:

Với quan điểm hỗ trợ hết mình cho doanh nghiệp, khi thực hiện nhiệm vụ cấp giấy phép cho người lao động nước ngoài, thời gian qua, Sở Lao động – TB và XH đã thực hiện công khai, minh bạch, niêm yết quy định cụ thể. Đồng thời, Sở đã áp dụng phần mềm cấp giấy phép trên mạng để các doanh nghiệp nộp qua mạng nhằm hạn chế thấp nhất việc trục lợi trung gian, tránh việc gây khó khăn, nhũng nhiễu cho doanh. Hơn nữa, tạo cơ hội cho lao động nước ngoài vào tỉnh làm việc, nhất là đội ngũ chuyên gia, kỹ sư có trình độ cao. Luận văn: Thực trạng pháp luật quản lý lao động nước ngoài ở tỉnh.

Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trong lĩnh vực xuất nhập cảnh, thời gian qua, Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh đã thực hiện nhiều giải pháp trong công tác quản lý lưu trú lao động nước ngoài, qua đó góp phần đảm bảo an ninh trật tự, phục vụ nhiệm vụ phát triển KT-XH trên địa bàn tỉnh.

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội xây dựng quy chế phối hợp cụ thể với các Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Công an tỉnh nhằm siết chặt công tác quản lý, cấp phép cho lao động nước ngoài, bảo đảm sự thống nhất, tránh chồng chéo hoặc bỏ sót nhiệm vụ, ảnh hưởng đến hiệu quả công tác quản lý nhà nước với đối tượng lao động đặc biệt này.

Sở cùng các cơ quan chức năng thường xuyên tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật tới các doanh nghiệp; tăng cường thanh, kiểm tra về tình hình sử dụng lao động, nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); yêu cầu phải thường xuyên báo cáo tình hình sử dụng lao động là người nước ngoài theo định kỳ. Nếu doanh nghiệp hoặc người nước ngoài nào cố tình không báo cáo sẽ có chế tài xử lý nghiêm.

Thủ tục cấp phép cho lao động là người nước ngoài đến làm việc tại tỉnh cũng được đổi mới theo hướng đơn giản, gọn nhẹ hơn. Sở Lao động- TB và XH có trách thẩm định nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp và ngoài khu công nghiệp trình UBND tỉnh chấp thuận, đồng thời tiến hành các thủ tục cấp phép. Thời gian cấp mới giấy phép giảm từ 07 ngày xuống còn 03 ngày và cấp lại giảm từ 3 ngày xuống còn 01 ngày. Nhờ đó, những năm gần đây công tác quản lý lao động nước ngoài có sự chuyển biến tích cực, đi vào nề nếp, ổn định.

Thời gian Chủ tịch UBND tỉnh có văn bản chấp thuận cho người sử dụng lao động về việc sử dụng người lao động nước ngoài đối với từng vị trí công việc đã được thẩm định tương đối đúng quy định.

  • Mặt hạn chế:

Công tác quản lý lao động nước ngoài hiện vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn. Trên thực tế vẫn tồn tại tình trạng lao động là người nước ngoài lợi dụng kẽ hở pháp luật làm việc “chui”, không đăng ký, cấp phép theo quy định. Số lao động này không dễ để quản lý bởi hiện chưa có một cơ quan nào có thể thống kê hay báo cáo đầy đủ số lượng lao động nước ngoài làm việc cụ thể. Những số liệu thống kê có được cũng từ các tổ chức nhà thầu, doanh nghiệp đưa ra, còn các cơ quan chức năng chưa thể kiểm tra, rà soát hết được. Luận văn: Thực trạng pháp luật quản lý lao động nước ngoài ở tỉnh.

Một số huyện trên địa bàn tỉnh chưa chủ động, tích cực và quyết liệt trong việc rà soát, phát hiện lao động nước ngoài làm việc bất hợp pháp trên địa bàn, chưa thực hiện các biện pháp xử lý kiên quyết đối với lực lượng lao động này.

Công tác phối hợp, trao đổi thông tin trong quản lý lao động nước ngoài giữa các cơ quan chuyên môn ở địa phương còn thiếu chặt chẽ, chưa kịp thời và đồng bộ. Còn nhiều đầu mối, nhiều cơ quan cùng quản lý nên thông tin không tập trung, thống nhất. Nhiều doanh nghiệp, nhà thầu chưa thực hiện nghiêm túc báo cáo tình hình tuyển và sử dụng lao động nước ngoài định kỳ theo quy định.

Đối với người sử dụng lao động:

  • Mặt đạt được:

Các doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động nước ngoài chủ động báo cáo tình hình sử dụng lao động theo định kỳ; nâng cao ý thức, tự giác chấp hành việc đăng ký sử dụng lao động, gia hạn theo đúng quy định của pháp luật…

Doanh nghiệp sử dụng lao động nước ngoài, người nước ngoài làm việc, cư trú trên địa bàn tỉnh đã cơ bản nghiêm túc chấp hành khai báo, đăng ký cư trú đúng quy định. Đặc biệt, nhiều năm trở lại đây, không xảy ra tình trạng người nước ngoài gây rối, làm mất an ninh trật tự, vi phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh.

  • Mặt hạn chế:

Đã có trường hợp doanh nghiệp còn chậm trễ hoặc chưa chú trọng trong việc làm thủ tục cấp giấy phép lao động cho lao động là người nước ngoài làm việc tại đơn vị mình. Một số doanh nghiệp lợi dụng quy định về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, quy định lao động nước ngoài làm việc dưới 3 tháng không phải xin cấp giấy phép lao động để “lách luật”, đưa lao động vào làm việc dưới 3 tháng và luân phiên thay lao động khiến công tác quản lý gặp khó khăn. Có trường hợp lao động nước ngoài vào tỉnh với danh nghĩa khách du lịch, thăm người thân nhưng thực chất ở lại để dạy ngoại ngữ và làm các công việc khác. Luận văn: Thực trạng pháp luật quản lý lao động nước ngoài ở tỉnh.

Do ý thức chấp hành pháp luật của các nhà thầu, do yếu tố địa lý có chung đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc nên vẫn còn tình trạng lao động Trung Quốc vào địa bàn tỉnh để làm chui.

Lao động nước ngoài gia tăng là do yêu cầu thực hiện một số dự án cần thêm lao động nước ngoài và các dự án do nhà thầu nước ngoài trúng thầu đều đưa nhiều lao động vào Việt Nam làm việc.

  • Thực hiện quy định về việc thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm liên quan tới người nước ngoài làm việc tại Việt Nam

Công tác kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách quản lý Lao động nước ngoài tại tỉnh Quảng Ngãi được các cấp chính quyền phối hợp thực hiện nhằm nắm vững tình hình; nhận xét, đánh giá việc chấp hành các Luật, các Nghị quyết, chỉ thị, các quy định, quyết định của Chính phủ và tỉnh tại các doanh nghiệp có sử dụng Lao động nước ngoài trên địa bàn tỉnh. Qua công tác kiểm tra, giám sát thực tế, các cấp chính quyền tỉnh có giải pháp kịp thời nhằm chấn chỉnh sử dụng Lao động nước ngoài trên địa bàn tỉnh. Chính vì vậy, công tác kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách quản lý Lao động nước ngoài được các cấp chính quyền tỉnh Quảng Ngãi đặc biệt quan tâm thực hiện, đảm bảo mục tiêu quản lý nhà nước đối với Lao động nước ngoài đề ra.

Trong giai đoạn 2024 – 2026, hàng năm, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Ngãi đều ban hành Quyết định thành lập 01 Đoàn kiểm tra công tác tuyển dụng, quản lý người nước ngoài làm việc trên địa bàn tỉnh và trong năm 2026, Sở đã ban hành Quyết định thành lập 01 Đoàn thanh tra do Thanh tra Sở chủ trì phối hợp với các phòng chuyên môn trong đó có phòng Việc làm – An toàn lao động tiến hành thanh tra công tác quản lý đối tượng là người lao động nước ngoài tại 10 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Qua kết quả thanh tra, kiểm tra nhận thấy hồ sơ pháp lý, giấy phép kinh doanh, giấy phép hoạt động của các tổ chức, đơn vị đầy đủ và đảm bảo theo quy định của pháp luật. Công tác quản lý hồ sơ lao động là người nước ngoài được các đơn vị, tổ chức thực hiện khá chặt chẽ và khoa học.

Các đơn vị, doanh nghiệp, nhà thầu thực hiện tương đối đầy đủ các qui định của Luật Xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam (Luật Xuất nhập cảnh) về bảo lãnh người nước ngoài (NNN) nhập cảnh, hướng dẫn Người nước ngoài hoạt động đúng mục đích nhập cảnh, khai báo tạm trú cho Người nước ngoài…

  • Ngoài ra còn phát hiện một số sai phạm trong việc sử dụng lao động nước ngoài trên địa bàn tỉnh như sau:

Các đơn vị, doanh nghiệp chưa báo cáo định kỳ về tình hình tuyển dụng và sử dụng lao động người nước ngoài theo qui định cho Sở Lao động-Thương binh và Xã hội, cụ thể: Công ty TNHH MTV TM và DV Thái Minh, Công ty TNHH MTV DV Công trình Việt Hưng, Công ty TNHH FOCECA Việt Nam, Công ty Cổ phần Song Phong, Công ty CP Phát triển Giáo dục Bảo Linh, Công ty TNHH Đào tạo IEC, Công ty TNHH Hải Sản Nghi Bông. Luận văn: Thực trạng pháp luật quản lý lao động nước ngoài ở tỉnh.

Lực lượng Quản lý xuất nhập cảnh đã kịp thời phát hiện, chấn chỉnh và hướng dẫn cho 10 doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc các quy định về xuất nhập cảnh. Vẫn còn một số doanh nghiệp chưa quan tâm trong việc nắm bắt đầy đủ các quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp và Người nước ngoài trong quá trình mời, bảo lãnh Người nước ngoài nhập cảnh, lưu trú và làm việc, báo cáo khi có sự thay đổi hồ sơ pháp nhân; quy định về khai báo tạm trú cho Người nước ngoài; cũng như việc thông báo thông tin các đoàn, cá nhân người nước ngoài đến làm việc tại doanh nghiệp theo Quyết định số 22/2023/QĐ-UBND ngày 10/05/2023 của UBND tỉnh Quảng Ngãi ban hành Quy chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Đáng chú ý, trong quá trình kiểm tra tại Công ty TNHH Hải sản Nghi Bông, lực lượng quản lý xuất nhập cảnh đã phát hiện và lập biên bản, ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với một nhân viên quốc tịch Trung Quốc với hình thức xử phạt: 2.000.000 đ vì đã có hành vi “Người nước ngoài không khai báo tạm trú theo quy định từ 15 ngày trở xuống mà không được cơ quan có thẩm quyền cho phép” [36]

Số lao động là người nước ngoài làm việc thời hạn trên 3 tháng tại các tổ chức, đơn vị chưa được cấp giấy phép lao động theo quy định tại Nghị định số 102/2023/NĐ-CP ngày 05/9/2023 của Chính phủ còn nhiều.

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên, Đoàn kiểm tra đã lập biên bản nhắc nhở và yêu cầu các đơn vị kịp thời khắc phục và thực hiện đúng theo quy định của pháp luật hiện hành trong thời gian 01 tháng (tính từ ngày được kiểm tra). Riêng đối với những lao động người nước ngoài làm việc với thời gian trên 3 tháng Đoàn kiểm tra đã yêu cầu các đơn vị, tổ chức sau 01 tháng (tính từ ngày được kiểm tra) phải hoàn chỉnh thủ tục, hồ sơ đề nghị cơ quan chức năng cấp giấy phép theo quy định tại Nghị định số 102/2023/NĐ-CP ngày 05/9/2023 của Chính phủ. Nếu đơn vị, tổ chức nào không thực hiện hoặc thực hiện không đảm bảo theo quy định thì liên ngành Sở Lao động – Thương binh và Xã hội và Công an tỉnh Quảng Ngãi sẽ xử lý hoặc đề nghị xử lý theo thẩm quyền và quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, Đoàn kiểm tra đề nghị các đơn vị bổ sung các loại giấy tờ, thủ tục còn thiếu, đặc biệt giấy xác nhận không phạm tội do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp gửi về Sở Lao động – Thương binh và Xã hội để bổ sung vào hồ sơ người Lao động nước ngoài.

Việc triển khai thực hiện các quy định về thanh tra, kiểm tra người lao động nước ngoài làm việc tại địa phương với tần suất nêu trên là quá ít so với số lao động nước ngoài đang làm việc tại địa phương hiện nay. Kết quả các cuộc kiểm tra và thanh tra cho thấy chưa chú trọng đến chất lượng các cuộc thanh tra chuyên ngành, kết luận thanh tra còn sơ sài và thiếu chính xác. Việc thực hiện pháp luật lao động của các chủ sử dụng lao động người nước ngoài chưa nghiêm, còn trốn tránh vì vậy nhiều vi phạm chưa được phát hiện kịp thời. Lực lượng thực hiện chức năng thanh tra và kiểm tra còn quá ít, trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa đáp ứng được yêu cầu, thời gian tiến hành thanh tra, kiểm tra tại doanh nghiệp quá ít chỉ 1 ngày/ 01 doanh nghiệp nên ảnh hưởng rất nhiều đến kết quả thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực này. Mặt khác, công tác phối hợp của các cơ quan chưa chặt chẽ, thiếu thống nhất đồng bộ.

2.2.2. Đánh giá chung Luận văn: Thực trạng pháp luật quản lý lao động nước ngoài ở tỉnh.

2.2.2.1 Kết quả đạt được

Người nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Ngãi nói riêng là một vấn đề phức tạp liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật, đặc biệt là pháp luật lao động. Số lượng người nước ngoài đến Quảng Ngãi làm việc tăng dần qua các năm và theo nhiều hình thức khác nhau (Theo Báo cáo về tình hình sử dụng lao động nước ngoài qua các năm của Sở Lao động -Thương binh và Xã hội Quảng Ngãi). Các quy định pháp luật về lao động nước ngoài làm việc tại Quảng Ngãi phải đảm bảo được những yêu cầu:

Một là, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp, tổ chức trong tuyển và sử dụng lao động nước ngoài. Nhu cầu sử dụng đối tượng này là một tất yếu vì vậy các quy định về việc sử dụng lao động nước ngoài không được là rào cản.

Hai là, tạo thuận lợi cho người lao động nước ngoài, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và khuyến khích những điều kiện có lợi hơn cho họ nhưng cũng không ảnh hưởng đến an ninh việc làm trong nước. Các biện pháp xử lý vi phạm cần mềm dẻo, linh hoạt nhưng vẫn phải đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa.

Ba là, tạo thuận lợi cho các cơ quan nhà nước trong việc quản lý lao động nước ngoài. Cần bổ sung trách nhiệm và cụ thể hóa nhiệm vụ của những cơ quan chức năng, đồng thời có sự phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan này, kiểm soát chặt chẽ các vi phạm.

Bốn là, phù hợp với pháp luật các nước, thông lệ quốc tế và đặc biệt, với những cam kết của Việt Nam tại các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Trong tiến trình hội nhập, Việt Nam phải có những thay đổi trong quy định pháp luật để không trái với cam kết đã ký.

Năm là, tình hình thực hiện pháp luật đối với lao động nước ngoài làm việc tại tỉnh Quảng Ngãi, qua các đợt kiểm tra, nhận thấy: Các doanh nghiệp đã nhận thức, hiểu rõ các quy định pháp luật của Nhà nước về quản lý và tuyển dụng lao động người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, tổ chức quản lý và sử dụng lao động đảm bảo đúng quy trình, thủ tục theo quy định pháp luật.

2.2.2.2 Mặt hạn chế Luận văn: Thực trạng pháp luật quản lý lao động nước ngoài ở tỉnh.

  • Một là, hạn chế trong quy định của pháp luật:

Quy định về trình tự, thủ tục phải tuyển lao động Việt Nam vào các vị trí công việc dự kiến tuyển người lao động nước ngoài trước khi tuyển lao động nước ngoài, trong khi pháp luật về đấu thầu quy định các điều kiện để nhà thầu tham gia dự thầu phải có năng lực và kinh nghiệm đã từng thực hiện các dự án tương tự về kỹ thuật và quy mô, thực tế nhà thầu đã có sẵn đội ngũ lao động kỹ thuật, chuyên môn lành nghề và kinh nghiệm để thực hiện dự án trúng thầu; Quy định về điều kiện là chuyên gia và lao động kỹ thuật quá chặt chẽ chưa phù hợp với thông lệ, gây khó khăn cho nhà thầu nước ngoài trong việc tuyển và sử dụng lao động;

Về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động còn quy định một số giấy tờ mà người lao động nước ngoài làm việc cho các nhà thầu trong thời gian rất ngắn (từ 1 đến 3 tháng, tối đa 6 tháng) khó thực hiện như phiếu lý lịch tư pháp, hợp pháp hóa lãnh sự các giấy tờ, bằng cấp chứng chỉ; Quy định cho phép được chuyển đổi mục đích nhập cảnh nên xảy ra tình trạng người nước ngoài xin thị thực du lịch vào Việt Nam lao động gây khó khăn trong công tác theo dõi, kiểm tra, quản lý;

Về chế tài xử phạt hành chính trong vi phạm pháp luật về quản lý lao động nước ngoài chưa đủ mức răn đe và buộc người sử dụng lao động và người lao động phải thực hiện; các biện pháp cưỡng chế chưa kiên quyết; chưa có nhiều biện pháp xử lý triệt để đối với các doanh nghiệp, nhà thầu hay cá nhân lao động nước ngoài cố tình vi phạm pháp luật Việt Nam; Những quy định về điều kiện cấp giấy phép lao động mặt tích cực là bảo vệ việc làm cho lao động Việt Nam, tuy nhiên trong xu thế hội nhập có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đầu tư và hạn chế sức cạnh tranh của lao động Việt Nam với lao động nước ngoài;

Chưa có quy định riêng về lao động nước ngoài làm việc cho các nhà thầu nước ngoài, quy định thời hạn của hợp đồng lao động chưa phù hợp với thời hạn của giấy phép lao động đối với lao động nước ngoài.

Theo quy định mới thì lao động nước ngoài sang Việt Nam làm việc phải có đủ 2 điều kiện là vừa phải có bằng đại học, vừa phải có kinh nghiệm, đảm nhận các vị trí công việc như: Chuyên gia, giám đốc điều hành, nhà quản lý và lao động kỹ thuật. Trong khi, lĩnh vực giầy da, dệt sợi, túi xách có nhiều chuyên gia nước ngoài đã có kinh nghiệm làm việc 15-20 năm, nhưng trình độ chỉ ở mức giấy chứng nhận kinh nghiệm. Vì thế, áp dụng quy định này rất khó cho các doanh nghiệp. Thực tế có nhiều ngành nghề trên địa bàn tỉnh có các chuyên gia nước ngoài sang làm việc rất giỏi nhưng về thủ tục chưa đáp ứng được vì lao động làm việc ở lĩnh vực ngành nghề thủ công, truyền thống vì những lao động này không thể có bằng cấp.

Công tác quản lý của các cơ quan được giao nhiệm vụ quản lý lao động nước ngoài chưa phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, nhiều đơn vị cùng quản lý nên thông tin không tập trung thống nhất.

Việc xử lý vi phạm pháp luật về lao động nước ngoài làm việc không có giấy phép chưa được xử lý triệt để vì sợ ảnh hưởng đến công tác thu hút đầu tư của tỉnh. Luận văn: Thực trạng pháp luật quản lý lao động nước ngoài ở tỉnh.

Hai là, thực hiện các nội dung pháp luật về quản lý lao động nước ngoài tại tỉnh Quảng Ngãi

Một số đơn vị chưa quan tâm đúng mức đến công tác này, chưa báo cáo định kỳ, đột xuất danh sách lao động người nước ngoài đến công tác, làm việc dưới ba tháng cho cơ quan quản lý lao động tại địa phương.

Ý thức tự giác chấp hành pháp luật của một số nhà thầu và người lao động nước ngoài trong việc tuyển, sử dụng và thực hiện cấp giấy phép lao động; xuất nhập cảnh và cư trú còn hạn chế.

  • Nguyên nhân chủ yếu của những bất cập của pháp luật quản lý lao động nước ngoài

Như trên đã nghiên cứu, pháp luật quản lý lao động nước ngoài không chỉ bao gồm tổng thể các nguyên tắc, qui tắc được chứa đựng trong các nguồn pháp luật khác nhau, mà còn bao gồm cả việc thi hành và tổ chức thi hành bởi các nguyên tắc, qui tắc chỉ có thể được xem là pháp luật nếu chúng được đem ra thi hành. Nói cách khác thi hành là một vế quan trọng để minh chứng cho việc các nguyên tắc và qui tắc được xã hội chấp nhận để điều tiết các ứng xử. Vì vậy khi nói tới nguyên nhân của các bất cập của pháp luật quản lý lao động nước ngoài, cần nói tới nguyên nhân của các bất cập về xây dựng các nguyên tắc, qui tắc xử sự, đồng thời nói tới nguyên nhân của các bất cập trong việc thi hành và tổ chức thi hành các nguyên tắc và qui tắc đã được tạo dựng.

  • Về các nguyên nhân của các bất cập về xây dựng pháp luật quản lý lao động nước ngoài

Nguyên nhân thứ nhất, cơ quan làm luật chưa xác định được đầy đủ các nguyên tắc của pháp luật quản lý lao động nước ngoài, trong khi các nguyên tắc chung của luật lao động không thể áp dụng vừa khớp đối với các quan hệ quản lý lao động nước ngoài bởi mục tiêu sử dụng lao động trong nước và mục tiêu sử dụng lao động nước ngoài không đồng nhất với nhau, đôi khi trái ngược nhau. Biểu hiện của các bất cập này là Bộ luật Lao động 2022 và các văn bản hướng dẫn thi hành không nêu ra các nguyên tắc của lĩnh vực pháp luật này. Do đó rất ít các qui định nói về hành vi quản lý phải hướng tới bảo vệ quyền con người. Chưa lường hết điều kiện thực tế và việc hội nhập quốc tế. Chậm được sửa đổi, bổ sung, hướng dần chưa kỹ.

Nguyên nhân thứ hai, những mối liên hệ giữa các chủ thể quản lý lao động nước ngoài chưa được cụ thể hóa ở tầm văn bản có giá trị pháp lý cao. Việc phối hợp giữa cơ quan quản lý lao động với cơ quan công an bị nhường thẩm quyền cho thông tư liên bộ. Luận văn: Thực trạng pháp luật quản lý lao động nước ngoài ở tỉnh.

Nguyên nhân thứ ba, thiếu coi trọng vai trò của tư pháp trong hoạt động hỗ trợ quản lý. Hầu hết các chế tài được xác định bởi các văn bản pháp luật hiện hành về quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam chỉ xác định chế tài hành chính. Đây cũng là hệ quả không hay của việc giao việc soạn thảo luật cho cơ quản quản lý chuyên ngành. Do đó lợi ích cục bộ trong việc xây dựng vai trò và vị trí quan trọng của chuyên ngành lấn át.

  • Về các nguyên nhân của các bất cập về thi hành pháp luật quản lý lao động nước ngoài

Việc thực hiện các quy định của pháp luật về lao động nước ngoài ở địa phương chưa nghiêm, theo dõi và quản lý lao động nước ngoài chưa được thực hiện thường xuyên, kịp thời và thiếu sự phối hợp, hỗ trợ giữa Sở Lao động – TB&XH, Công an tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư…, Một số huyện ở địa phương thực hiện chế độ báo cáo không đầy đủ, không đúng quy định, kiểm tra, thanh tra và xử lý các vi phạm còn rất hạn chế, chưa có nhiều đề xuất với Uỷ ban nhân dân tỉnh, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và các cơ quan có liên quan để có những giải pháp quản lý lao động nước ngoài.

Người sử dụng lao động nước ngoài chưa thực hiện đúng pháp luật, không làm thủ tục đề nghị cấp, cấp lại giấy phép lao động kịp thời cho lao động nước ngoài, không báo cáo đầy đủ, kịp thời việc sử dụng lao động nước ngoài theo quy định.

Người lao động nước ngoài chưa nghiên cứu đầy đủ các quy định của pháp luật lao động Việt Nam do người sử dụng lao động cung cấp; chưa chuẩn bị các giấy tờ cần thiết để làm các thủ tục đề nghị cấp giấy phép lao động [14].

Như vậy các nguyên nhân này được nêu ra khá đầy đủ kể cả về phía người quản lý và người bị quản lý (người sử dụng lao động và người lao động nước ngoài).

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

Trong chương 2 của luận văn, tác giả đã đề cập đến thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý lao động nước ngoài ở tỉnh Quảng Ngãi, tình hình lao động nước ngoài và quản lý lao động nước ngoài qua đó đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý lao động nước ngoài… thống kê về số lượng lao động, cơ cấu giới tính, cơ cấu độ tuổi, hình thức lao động của Lao động nước ngoài, vị trí việc làm và giới tính, trình độ chuyên môn của Lao động nước ngoài theo quy định trong công tác thực hiện pháp luật đối với lao động người nước ngoài trên địa bàn tỉnh. Luận văn: Thực trạng pháp luật quản lý lao động nước ngoài ở tỉnh.

Những vấn đề lý luận được đề cập trong chương 2 là luận cứ khoa học giúp tác giả luận văn phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật quản lý lao động nước ngoài tại tỉnh Quảng Ngãi trong chương 3 cũng như đề xuất phương hướng, mục tiêu, giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về quản lý lao động nước ngoài ở tỉnh Quảng Ngãi trong chương 3 của luận văn.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật quản lý lao động nước ngoài ở tỉnh

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464