Luận văn: Quy định về hết quyền sở hữu trí tuệ trong nhập khẩu

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quy định về hết quyền sở hữu trí tuệ trong nhập khẩu hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quy định về hết quyền sở hữu trí tuệ trong nhập khẩu song song theo pháp luật Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1 Khái quát những quy định chung của pháp luật Việt Nam về hết quyền SHTT và nhập khẩu song song

Trong xu hướng toàn cầu hóa, Việt Nam luôn tích cực và nỗ lực để tham gia vào các điều ước quốc tế cũng như các tổ chức quốc tế trong nhiều lĩnh vực, trong đó có các khuôn khổ về SHTT. Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia để phù hợp với pháp luật quốc tế. Cụ thể trong vấn đề nhập khẩu song song, Việt Nam đã ban hành được các văn bản pháp luật nhằm cụ thể hóa các cam kết quốc tế trong khuôn khổ Hiệp định TRIPS và các điều ước quốc tế về SHTT khác.

Hết quyền SHTT, với tư cách là tiền đề của nhập khẩu song song được quy định lần đầu trong Bộ luật dân sự 1995 với các đối tượng sở hữu công nghiệp là sáng chế, giải pháp hữu ích và kiểu dáng công nghiệp. Đối với quyền sở hữu công nghiệp, Điều 796 Bộ luật Dân sự 1995 chỉ quy định một cách chung nhất quyền của chủ sở hữu sáng chế cũng như giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu hàng hóa, đó là quyền độc quyền sở dụng sáng chế hay đối tượng sở hữu công nghiệp nói chung chứ chưa đề cập đến quyền độc quyền nhập khẩu. Tuy nhiên Điều 805 quy định một trong các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp là nhập khẩu (hoặc bán, chào bán hay lưu thông) sản phẩm chứa đựng quyền sở hữu công nghiệp được bảo hộ tại Việt Nam trên thị trường Việt Nam. Như vậy, quyền độc quyền của chủ sở hữu quyền ở đây phải được hiểu bao gồm quyền nhập khẩu sản phẩm chứa đựng quyền sở hữu công nghiệp. Trong khi đó, Điều 803 Bộ luật Dân sự 1995 quy định các trường hợp ngoại lệ của quyền độc quyền nêu trên (bên cạnh ngoại lệ sử dụng trước được quy định tại Điều 801), trong đó có ngoại lệ “lưu thông và sử dụng các sản phẩm đó do chủ sở hữu, người có quyền sử dụng trước, người được chuyển giao quyền sử dụng đưa ra thị trường”. Như vậy, Điều 803 đã thừa nhận nguyên tắc hết quyền sở hữu công nghiệp sau lần bán sản phẩm chứa đựng quyền bởi chủ sở hữu quyền hoặc với sự cho phép của người này, hoặc thậm chí bởi người có quyền sử dụng trước nhưng không đề cập đến phạm vi địa lí hết quyền quốc gia hay hết quyền quốc tế. Quy định về hết quyền như vậy, nhất là quy định cả trường hợp đối với người sử dụng trước, đặt trong bối cảnh chủ sở hữu quyền có quyền độc quyền nhập khẩu cho thấy Điều 803 Bộ luật Dân sự 1995 không quy định rõ về tính hợp pháp của nhập khẩu song song, thậm chí có thể giải thích theo hướng không thừa nhận nhập khẩu song song. Luận văn: Quy định về hết quyền sở hữu trí tuệ trong nhập khẩu.

Ngoài Bộ luật Dân sự 1995, một số văn bản dưới luật cũng quy định về vấn đề này bao gồm (i) thông tư số 3055/TT-SHCN ngày 31/12/1996 của Bộ Khoa học, Công nghệ, Môi trường hướng dẫn thi hành các quy định về thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp và một số thủ tục khác của Nghị định số 63/CP ngày 24/10/1996 của Chính phủ quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp; (ii) Thông tư số 825/2000/TT-BKHCNMT ngày 3/5/2000 về hướng dẫn thi hành nghị định số 12/1999/NĐ-CP ngày 6/3/1999 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp; (iii) Nghị định số 06/2001/NĐ-CP ngày 1/2/2001 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 63/CP ngày 24/10/1996 ; (iv) Quyết định số 1906/2004/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế về nhập khẩu song song thuốc phòng, chữa bệnh cho người. Trong số các văn bản kể trên thì Thông tư 3055/TT-SHCN, Thông tư 825/2000/TT-BKHCNMT, Nghị định 06/2001/NĐ-CP đã hết hiệu lực.

Hiện nay, vấn đề hết quyền SHTT và nhập khẩu song song được điều chỉnh bởi Luật SHTT 2005 với định hướng thừa nhận tính hợp pháp của hành vi nhập khẩu song song, cụ thể tại điểm b khoản 2 Điều 125 “chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp và tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng hoặc quyền quản lí chỉ dẫn địa lí không có quyền cấm người khác thực hiện hành vi thuộc trường hợp: lưu thông, nhập khẩu, khai thác công dụng của sản phẩm được đưa ra thị trường, kể cả thị trường nước ngoài một cách hợp pháp, trừ sản phẩm không phải do chính chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người được phép của chủ sỡ hữu nhãn hiệu đưa ra thị trường nước ngoài”. Một số văn bản pháp luật khác cũng điều chỉnh vấn đề này là Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về sở hữu công nghiệp và Thông tư số 37/2011/TT-BKHCN. Hiện nay Thông tư 37 đã hết hiệu lực nên ta chỉ xét đến các văn bản pháp luật còn lại.

Nhìn chung, pháp luật Việt Nam hiện hành cho phép hành vi nhập khẩu song song và đã ban hành được các quy định cụ thể về quyền SHTT trong hoạt động nhập khẩu song song trong điều kiện sản phẩm được đưa ra thị trường là sản phẩm do chính chủ sở hữu của đối tượng SHTT hoặc cá nhân, tổ chức được chủ sở hữu đó cho phép đưa ra thị trường. Nói cách khác, hành vi nhập khẩu song song không bị coi là xâm phạm quyền SHTT.

2.2  Những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hết quyền SHTT trong nhập khẩu song song Luận văn: Quy định về hết quyền sở hữu trí tuệ trong nhập khẩu.

2.2.1 Những quy định của pháp luật Việt Nam về hết quyền sở hữu công nghiệp trong nhập khẩu song song

Quyền sở hữu công nghiệp, theo cách định nghĩa của Luật SHTT thì được hiểu là “quyền của tổ chúc, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp, bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lí, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh”.

Đối với quyền sở hữu công nghiệp, Điều 123 Luật SHTT 2005 trao cho chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp quyền độc quyền sử dụng cũng như cho phép người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp. Trong khi đó, Điều 124 Luật này giải thích khái niệm “sử dụng” ở đây, nhất là đối với sáng chế và nhãn hiệu, tương tự như TRIPS, bao gồm: sản xuất, áp dụng, khai thác, lưu thông, quảng cáo, chào hàng, tàng trữ và nhập khẩu. Tuy nhiên, điểm b khoản 125 Luật SHTT quy định chủ sở hữu đó “không có quyền cấm người khác thực hiện hành vi… lưu thông, nhập khẩu, khai thác công dụng của sản phẩm được đưa ra thị trường, kể cả thị trường nước ngoài, một cách hợp pháp, trừ sản phẩm không phải do chính chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu đưa ra thị trường nước ngoài”. Tuy nhiên điểm b khoản 2 Điều 125 có thêm cụm từ “trừ sản phẩm không phải do chính chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu đưa ra thị trường nước ngoài” khiến cho quy định về hết quyền sau lần bán đầu tiên theo quy định này có thể được hiểu chỉ áp dụng đối với nhãn hiệu chứ không phải tất cả các đối tượng sở hữu công nghiệp.

Điều này có thể làm cho một số vụ việc trên thực tế trở nên phức tạp. Hiện nay hãng điện thoại Apple và Samsung đang có nhiều tranh chấp liên quan đến sáng chế áp dụng cho điên thoại thông minh ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Hoa Kì và Hàn Quốc, với một số phán quyết ủng hộ Apple và một số phán quyết ủng hộ Samsung. Theo quy định trên của Việt Nam về hết quyền sở hữu công nghiệp thì nếu chỉ xét đơn thuần về khía cạnh nhãn hiệu, hành vi nhập khẩu song song điện thoại thông minh mang nhãn hiệu Apple và Samsung vào Việt Nam là hợp pháp; nhưng nếu xét tổng thể, hành vi đó có thể vi phạm pháp luật SHTT trong lĩnh vực sáng chế của Việt Nam. Luận văn: Quy định về hết quyền sở hữu trí tuệ trong nhập khẩu.

Tuy nhiên, Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về sở hữu công nghiệp (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 11/2010/NĐ-CP ngày 31/12/2010) đã loại bỏ điểm vướng mắc trên. Khoản 2 Điều 21 Nghị định 103/2006/NĐ-CP đã giải thích “sản phẩm được đưa ra thị trường, kể cả thị trường nước ngoài một cách hợp pháp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 125 của Luật SHTT được hiểu là sản phẩm do chính chủ sở hữu, người được chuyển giao quyền sử dụng, kể cả chuyển giao quyền sử dụng theo quyết định bắt buộc, người có quyền sử dụng trước đối tượng sở hữu công nghiệp đã đưa ra thị trường trong nước hoặc nước ngoài”.

Bên cạnh đó, Nghị định số 97/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp (khoản 2 Điều 28) khẳng định thêm nguyên tắc hết quyền sau lần bán đầu tiên trong phạm vi quốc tế khi quy định hàng nhập khẩu song song chứa đựng đối tượng sở hữu công nghiệp không phải là hàng vi phạm quyền sở hữu công nghiệp. Khoản 2 Điều 28 Nghị định số 97/2010/NĐ-CP quy định khi nhận được yêu cầu xử lí vi phạm hành chính liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp của người yêu cầu xử lí vi phạm, cơ quan có thẩm quyền xử lí vi phạm có thể yêu cầu người này cung cấp chứng cứ, thông tin để xác định “hàng nhập khẩu không phải là hàng nhập khẩu song song”. Cần lưu ý là Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 28/9/2013 nhằm thay thế Nghị định số 97/2010/NĐ-CP theo quy định của Luật xử lí vi phạm hành chính năm 2012, nhưng khoản 2 Điều 26 Nghị định mới này lại tương tự quy định tại khoản 2 Điều 28 Nghị định số 97/2010/NĐ-CP.

Như vậy, mặc dù Luật SHTT còn quy định chưa chính xác về vấn đề hết quyền quốc tế đối với đối tượng sở hữu công nghiệp, Luật này và các văn bản hướng dẫn thi hành đã khẳng định nguyên tắc hết quyền quốc tế đối với tất cả các đối tượng sở hữu công nghiệp, trong đó có sáng chế và nhãn hiệu. Việc nhập khẩu song song sản phẩm chứa đựng đối tượng sở hữu công nghiệp vào Việt Nam là hoàn toàn hợp pháp. Tuy nhiên, Nghị định số 103/2006/NĐ-CP quy định hành vi nhập khẩu song song là hợp pháp đối với cả sản phẩm được sản xuất theo:

  • “chuyển giao quyền sử dụng theo quyết định bắt buộc”
  • “quyền sử dụng trước đối tượng sở hữu công nghiệp”

Có thể là chưa hợp lí theo nguyên tắc hết quyền sau lần bán đầu tiên, vì về bản chất trong hai trường hợp này sản phẩm được đưa ra thị trường nước ngoài không có sự đồng ý hay cho phép của chủ sở hữu đối tượng công nghiệp.

2.2.2 Những quy định của pháp luật Việt Nam về hết quyền tác giả, quyền liên quan trong nhập khẩu song song Luận văn: Quy định về hết quyền sở hữu trí tuệ trong nhập khẩu.

Một trong những quyền tài sản của quyền tác giả là “quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm” được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 20 Luật SHTT. Bên cạnh đó, các cá nhân, tổ chức được phép “nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng riêng” mà không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút theo quy định tại điểm k khoản 1 Điều 25 Luật SHTT.

Thêm nữa, Điều 15 và Điều 16 Nghị định số 131/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan quy định xử phạt đối với các hành vi dưới đây:

  • xâm phạm quyền phân phối tác phẩm; và
  • xâm phạm quyền nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm.

Điều này được hiểu là bất kì hành vi nhập khẩu hay phân phối bất cứ sản phẩm nào chứa đựng quyền tác giả mà không được sự đồng ý hay cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả đều được coi là vi phạm. Ở đây không đề cập đến ngoại lệ rằng hành vi nhập khẩu hay phân phối sản phẩm chứa đựng quyền tác giả là được phép sau lần bán hợp pháp đầu tiên. Chính vì vậy, Luật SHTT và các văn bản liên quan có thể được giải thích theo hướng là quyền SHTT của các tác giả nước ngoài đều có quyền kiểm soát trong việc phát hành và phân phối tác phẩm của họ, theo đó nhập khẩu song song các sản phẩm chứa đựng quyền tác giả là không được phép.

Hiệp định WCT cho phép các quốc gia quyền quy định về giới hạn quyền SHTT cũng như xác định cơ chế hết quyền nào, từ đó là cơ sở để xác định hành vi nhập khẩu song song có hợp pháp hay không. Hơn nữa, Công ước Berne không quy định rõ ràng về vấn đề hết quyền, vì vậy có thể khẳng định rằng pháp luật Việt Nam về vấn đề này không trái với các điều ước quốc tế có liên quan. Luận văn: Quy định về hết quyền sở hữu trí tuệ trong nhập khẩu.

Đối với phần quy định về quyền liên quan, chúng ta xem xét quy định tại Điều 29 và Điều 30 Luật SHTT về quyền của người biểu diễn và quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình. Điều 29 không đề cập đến quyền nhập khẩu và phân phối sau khi nhập khẩu bản gốc và bản sao bản ghi âm, ghi mình cuộc biểu diễn của người biểu diễn. Điều 30 thừa nhận nhà sản xuất có độc quyền trong việc “nhập khẩu, phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao bản ghi âm, ghi hình của mình”. Về các hành vi xâm phạm quyền liên quan, khoản 9 Điều 35 Luật SHTT liệt kê hành vi “nhập khẩu để phân phối đến công chúng cuộc biểu diễn, bản sao cuộc biểu diễn đã được định hình hoặc bản ghi âm, ghi hình khi biết hoặc có cơ sở để biết thông tin quản lí quyền dưới hình thức điện tử hoặc bị dỡ bỏ hoặc đã bị thay đổi mà không được phép của chủ sở hữu quyền liên quan”. Điều này được hiểu là một hành vi chỉ cấu thành vi phạm khi xâm phạm đến thông tin quản lí quyền chứ không phải hành vi nhập khẩu bản ghi âm, ghi hình nói chung. Ngoài ra, các trường hợp được sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan không phải xin phép, không phải trả thù lao (Điều 23 Luật SHTT) và được sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan không phải xin phép nhưng phải trả tiền thù lao (Điều 33 Luật SHTT) không đề cập đến hành vi nhập khẩu và phân phối sau nhập khẩu bản ghi âm, ghi hình.

Như vậy có thể kết luận rằng, tương tự như quyền tác giả, pháp luật Việt Nam về SHTT không có quy định rõ ràng về quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình cũng như người biểu diễn. Vì vậy ta có thể giải thích theo hướng pháp luật không thừa nhận tính hợp pháp của hành vi nhập khẩu song song các sản phẩm chứa đựng quyền liên quan. Hiệp định WPPT cho phép các quốc gia tự quyết định giới hạn quyền SHTT và lựa chọn cơ chế hết quyền nên các quy định của pháp luật Việt Nam nhìn chung đã tuân thủ các cam kết trong các điều ước quốc tế.

2.2.3 Những quy định của pháp luật Việt Nam về hết quyền đối với giống cây trồng trong nhập khẩu song song

Một nhánh nữa của quyền SHTT chính là quyền đối với giống cây trồng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 190 Luật SHTT thì nguyên tắc hết quyền quốc tế được thừa nhận cho quyền đối với giống cây trồng. Cụ thể:

“Quyền đối với giống cây trồng không được áp dụng đối với các hành vi liên quan đến vật liệu của giống cây trồng được bảo hộ do chủ bằng bảo hộ hoặc người được chủ bằng bảo hộ cho phép bán hoặc bằng cách khác đưa ra thị trường Việt Nam hoặc thị trường nước ngoài, trừ khác hành vi sau đây: Luận văn: Quy định về hết quyền sở hữu trí tuệ trong nhập khẩu.

  1. liên quan đến việc nhân tiếp giống cây trồng đó;
  2. liên quan đến việc xuất khẩu các vật liệu của giống cây trồng có khả năng nhân giống vào những nước không bảo hộ các chi hoặc loại cây trồng đó, trừ trường hợp xuất khẩu vật liệu nhằm mục đích tiêu dùng.

Như vậy ta nhận thấy Luật SHTT không quy định cụ thể về vấn đề hết quyền trong nhập khẩu song song đối với trường hợp vật liệu nhân giống được bán lần đầu tiên, nhưng nếu đặt trong quy định của khoản 2 Điều 190 và việc hạn chế quyền của chủ sở hữu, thì Luật SHTT đã công nhận nguyên tắc hết quyền quốc tế đối với giống cây trồng, tức là thừa nhận hành vi nhập khẩu song song là hợp pháp. Tức là, nhà nhập khẩu song song có quyền khai thác, sử dụng, phân phối vật liệu nhân giống cây trồng trừ hai trường hợp đã được giới hạn tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 190 là (i) nhân giống tiếp cây trồng đó và (ii) xuất khẩu các vật liệu của giống cây trồng có khả năng nhân giống vào những nước không bảo hộ các chi hoặc loài cây trồng đó, trừ trường hợp xuất khẩu những vật liệu này nhằm mục đích tiêu dùng.

Tuy nhiên công ước UPOV thừa nhận cơ chế hết quyền quốc gia đối với giống cây trồng mới. Như vậy quy định của pháp luật Việt Nam và công ước UOPV không tương thích với nhau khi hai hệ thống pháp luật này thừa nhận hai cơ chế hết quyền khác nhau. Tuy nhiên quy định này của pháp luật Việt Nam nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn về phát triển nông nghiệp, giúp người nông dân tiếp cận được với các loại giống cây trồng với giá hợp lí.

Kết luận chương 2

Pháp luật Việt Nam thừa nhận cơ chế hết quyền quốc tế, tức là khi chủ thể nắm quyền SHTT trực tiếp đưa sản phẩm mang đối tượng SHTT ra thị trường hoặc đồng ý cho chủ thể khác được đưa sản phẩm mang đối tượng sở hữu ra thị trường thì “quyền” đối với sản phẩm cụ thể đó với tư cách là tài sản đã hết trên phạm vi quốc tế. Điều này dẫn đến hệ quả pháp lí là Việt Nam cho phép hoạt động nhập khẩu song song. Dưới góc độ so sánh với các hệ thống pháp luật khác, ta nhận thấy pháp luật Việt Nam về cơ bản là tương thích với các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên cách quy định của pháp luật Việt Nam vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng, phải cần đến sự kết hợp của nhiều văn bản pháp luật mới có thể định nghĩa được một khải niệm hoặc giải quyết một vấn đề. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải có sự linh hoạt trong việc ban hành các chính sách với từng đối tác cụ thể, từ việc công nhận và đăng kí bảo hộ các đối tượng SHTT, cho đến việc quy định cụ thể về nhượng quyền, nhập khẩu hàng hóa… Luận văn: Quy định về hết quyền sở hữu trí tuệ trong nhập khẩu.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Hoàn thiện PL hết quyền sở hữu trí tuệ trong nhập khẩu

One thought on “Luận văn: Quy định về hết quyền sở hữu trí tuệ trong nhập khẩu

  1. Pingback: Luận văn: Pháp luật về hết quyền sở hữu trí tuệ trong nhập khẩu

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464