Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoàn thiện PL hết quyền sở hữu trí tuệ trong nhập khẩu hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hết quyền sở hữu trí tuệ trong nhập khẩu song song dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1 Đánh giá chung về thực trạng xử lí các vụ việc về nhập khẩu song song ở Việt Nam hiện nay
Khi tìm hiểu thực tiễn xử lí các vụ việc về nhập khẩu song song tại Việt Nam hiện nay, một trong những khó khăn là không có số liệu thống kê về nhập khẩu song song. Nguyên nhân xuất phát từ việc công nhận nhập khẩu song song là hợp pháp đồng nghĩa với việc nhập khẩu song song cũng được coi như các hoạt động nhập khẩu bình thường khác. Vì vậy chưa có số liệu thống kê riêng trong mảng nhập khẩu song song.
Quyền SHTT là một loại tài sản đặc biệt, vì vậy vấn đề bảo hộ quyền SHTT cũng có nhiều điểm khác biệt so với bảo hộ các quyền tài sản khác. Đối với quyền SHTT, cách thức bảo hộ có thể được thực hiện bằng nhiều phương án, bao gồm: tự bảo vệ; biện pháp dân sự; biện pháp hành chính; biện pháp hình sự; kiểm soát biên giới. Đối với việc bảo hộ quyền SHTT trong lĩnh vực nhập khẩu song song thì kiểm soát tại biên giới là biện pháp hữu hiệu nhất vì đây là công cụ trực tiếp ngăn chặn hàng nhập khẩu, trong đó có hàng nhập khẩu song song vi phạm quyền SHTT của nước nhập khẩu. Tuy nhiên như đã trình bày ở các Chương trước, Điều 6 Hiệp định TRIPS trao cho các nước thành viên WTO quyền tự quyết định về cơ chế hết quyền SHTT. Thực tiễn các nước thành viên đã tùy ý lựa chọn những cơ chế hết quyền khác nhau. Do đó, Hiệp định TRIPS chỉ quy định các thành viên WTO có nghĩa vụ ban hành và áp dụng các thủ tục cho phép chủ sở hữu quyền SHTT khi có những căn cứ hợp lí nghi ngờ hàng hóa nhập khẩu mang nhãn hiệu giả mạo hoặc vi phạm quyền tác giả có thể nộp đơn tới các cơ quan có thẩm quyền nhằm yêu cầu đình chỉ thông quan tại cơ quan hải quan để ngăn chặn hàng hóa đó vào lưu thông tự do trong nước. Tuy nhiên, Hiệp định TRIPS cũng lưu ý rằng các thành viên có quyền không thực hiện nghĩa vụ nêu trên nếu hàng hóa nhập khẩu đã được đưa ra thị trường nước ngoài bởi chính chủ sở hữu quyền SHTT hay với sự đồng ý của người này. Không những thế, Hiệp định TRIPS còn giải thích khái niệm hàng mang nhãn hiệu giả mạo theo hướng không phải là hàng thật (hàng chính hãng) và hàng vi phạm quyền tác giả là hàng tạo ra ở nước ngoài mà không có sự đồng ý hay cho phép của chủ sở hữu quyền ở nước sản xuất. Đối với các đối tượng SHTT khác (ví dụ sáng chế), Hiệp định TRIPS trao cho các thành viên quyền áp dụng các thủ tục tương tự để kiểm soát tại biên giới vì trên thực tế nếu chỉ nhìn bề ngoài thì rất khó cho chủ sở hữu quyền SHTT, và kể cả các cơ quan nhà nước, trừ trường hợp nhãn hiệu và quyền tác giả, có thể kết luận được hàng nhập khẩu vi phạm quyền SHTT.
Trong khi đó, Luật SHTT cũng như Luật Hải quan 2014 định việc tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu bị nghi ngờ xâm phạm quyền SHTT (cũng như giám sát để phát hiện hàng hóa có dấu hiệu xâm phạm quyền SHTT) nói chung chứ không giới hạn ở hàng nhập khẩu vi phạm nhãn hiệu và quyền tác giả như quy định của Hiệp định TRIPS. Thông tư số 44/2011/TT-BTC ngày 1/4/2011 (được thay thế bởi Thông tư số 13/2015/TT- BTC ngày 30/1/2015 sau khi Luật Hải quan 2014 ra đời) của Bộ Tài chính hướng dẫn về công tác chống hàng giả và bảo vệ quyền SHTT trong lĩnh vực hải quan – văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành Luật SHTT và Luật Hải quan về việc kiểm soát hàng nhập khẩu liên quan đến quyền SHTT tại biên giới – bên cạnh việc nhấn mạnh đến việc kiểm soát hàng giả nhập khẩu còn đề cập cả việc kiểm soát hàng nhập khẩu xâm phạm quyền SHTT nói chung. Điều đó có nghĩa là việc kiểm soát tại biên giới không chỉ giới hạn ở hàng giả mạo nhãn hiệu, hàng giả mạo chỉ dẫn địa lí (có những nét tương đồng với giả mạo nhãn hiệu) và hàng hóa sao chép lậu quyền tác giả. Trong khi đó, các quy định này hoàn toàn không đề cập đến vấn đề liệu rằng hàng nhập khẩu song song có thể bị áp dụng biện pháp kiểm soát tại biên giới hay không, nhất là khi cơ chế hết quyền tác giả và quyền liên quan trong Luật Sở hữu tri tuệ là chưa rõ ràng. Thực tế, các cơ quan hải quan chủ yếu tiếp nhận và xử lí các đơn yêu cầu kiểm soát hàng nhập khẩu liên quan đến hàng giả, nhất là đối với nhãn hiệu. Luận văn: Hoàn thiện PL hết quyền sở hữu trí tuệ trong nhập khẩu.
Năm 2006-2008, Cơ quan Hải quan đã tiếp nhận và xử lý trên 53 đơn yêu cầu kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu, đơn gia hạn kiểm tra, giám sát có liên quan đến SHTT. Cơ quan Hải quan đã ra thông báo tạm thời dừng làm thủ tục hải quan và xử lý 31 trường hợp, trong đó hầu hết là các trường hợp được xác định là có giả mạo về SHTT (điện thoại và linh kiện điện thoại di động, thuốc lá điếu, linh kiện máy tính, túi xách…). Cơ quan Hải quan đã xử phạt vi phạm hành chính với số tiền khoảng 1,3 tỷ đồng.
Năm 2009, Cơ quan Hải quan tập trung nhiều vào công tác chống hàng giả, đã xử lý nhiều vụ xâm phạm nhãn hiệu, tịch thu và tiêu hủy số lượng lớn hàng giả, số tiền phạt hành chính gần 2 tỷ đồng. Tổng Cục Hải quan đã tham gia với hải quan các nước trong khu vực (Thái Lan, Cambodia, Lào, Myanmar, Indonesia, Trung Quốc) triển khai chuyên án Storm (2009-2011) do Tổ chức Y tế Thế giới kết hợp với Interpol chủ trì với mục đích là đấu tranh với các hành vi sản xuất, mua bán và vận chuyển các loại thuốc giả trong khu vực. Lực lượng hải quan đã tổ chức một số cuộc gặp gỡ với đại diện một số doanh nghiệp (Puma, Tyco…) để thảo luận xây dựng những biện pháp phối hợp đấu tranh chống hàng giả.
Năm 2012, Cơ quan Hải quan cũng đã tiếp nhận và xử lý gần 100 yêu cầu của các chủ thể quyền SHTT đề nghị kiểm tra, giám sát tại biên giới. Tính đến thời điểm năm 2012 ngành hải quan có tất cả 106 đơn yêu cầu bảo vệ quyền SHTT tại biên giới với khoảng gần 300 nhãn hiệu hàng hóa các loại. Cơ quan Hải quan đã xử lý 101 vụ, xử phạt với số tiền khoảng 300 triệu đồng, đồng thời đã tịch thu xử lý hàng chục ngàn sản phẩm vi phạm các loại (như: rượu, thuốc lá, mỹ phẩm, quần áo, điện thoại di động… xâm phạm các nhãn hiệu đang được bảo hộ tại Việt Nam). Hải quan Việt Nam đã chủ động phát hiện được một số vụ xâm phạm quyền SHTT. Điển hình là vụ lô hàng quá cảnh thuốc lá JET và hình đầu con sư tử do Hải quan Đà Nẵng phát hiện; vụ nhập khẩu linh kiện, phụ tùng xe máy vi phạm nhãn hiệu của hãng HONDA do Hải quan Lạng Sơn phát hiện; vụ ngăn chặn xâm phạm nhãn hiệu bóng đèn OSRAM, giả nhãn hiệu W và WILSON (sản phẩm dụng cụ thể thao của Công ty WILSON) do Hải quan TP Hồ Chí Minh phối hợp với chủ sở hữu thực hiện… Ngoài ra, các Chi cục Hải quan cửa khẩu thông qua công tác kiểm tra kiểm soát hàng hóa xuất, nhập khẩu đã chủ động phát hiện nhiều vụ xâm phạm về chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp và nhiều băng đĩa nhạc lậu… Con số này trong giai đoạn 2012 – 2015, cụ thể riêng năm 2015 tăng lên 250 đối tượng SHTT các loại.
Thực tế hiện nay cơ quan hải quan của Việt Nam chưa có hệ thống cơ sở dữ liệu về SHTT để cập nhật thông tin, phản ánh thông lệ quốc tế về kiểm soát biên giới. Hàng hóa xuất, nhập khẩu đa dạng, khó phân biệt, hoạt động buôn lậu, buôn bán hàng giả, hàng vi phạm nhãn hiệu diễn ra ngày càng phức tạp và tinh vi, trong khi đó cơ quan Hải quan đang chịu áp lực phải đẩy mạnh cải cách thủ tục, đơn giản hóa thủ tục thông quan. Bên cạnh đó, việc kiểm tra kiểm soát của hải quan thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, đảm bảo vừa quản lý hiệu quả vừa tạo thuận lợi cho thương mại hợp pháp cũng là thách thức lớn đối với hải quan trong thực thi bảo vệ quyền SHTT.
3.2 Một số vụ việc liên quan đến nhập khẩu song song ở Việt Nam hiện nay Luận văn: Hoàn thiện PL hết quyền sở hữu trí tuệ trong nhập khẩu.
Thực tế khi xem xét các vụ việc để làm rõ các khía cạnh liên quan đến nhập khẩu song song, trong bối cảnh hành vi nhập khẩu song song nhìn chung là hợp pháp tại Việt Nam, thì ta tập trung vào làm rõ liệu hành vi nhập khẩu đã thỏa mãn các điều kiện của hành vi nhập khẩu song song hay chưa, đó là hàng hóa đã được đưa ra thị trường, và việc đưa ra thị trường này phải được tiến hành bởi chủ thể nắm giữ quyền hoặc được sự đồng ý của chủ thể này.
- Vụ việc 1: Nhãn hiệu Rebeloc
Ngày 22/2/2006, Công ti TNHH Tầm nhìn và Liên danh – Vision & Associates gửi đơn đề nghị đến Cục SHTT yêu cầu xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu “RABELOC” của Công ti Cadila Pharmaceuticals Limited.
Công ti Cadila Pharmaceuticals Limited là chủ sở hữu nhãn hiệu “RABELOC” tại Việt Nam, đã được cấp Giấy chứng nhận Đăng ký NHHH số 67750 ngày 02/11/2005 bảo hộ cho các sản phẩm thuộc Nhóm 05 theo Bảng phân loại quốc tế hàng hoá/dịch vụ, cụ thể là “Dược phẩm”.
Công ty Cổ phần Dược – Vật tư Y tế Đắk Lắk có địa chỉ tại Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk được Công ty Dược phẩm Phạm Anh có địa chỉ tại Quận 11, thành phố Hồ Chí Minh ủy thác nhập khẩu sản phẩm dược mang nhãn hiệu “RABELOC” tại Việt Nam. Sản phẩm dược này do Công ty Siraigo Pharma Ptv. Ltd, có địa chỉ tại Plot No. 13, Sector 17, Koparkhairane, Navi Mumbai- 400709, India sản xuất mà không được sự cho phép hay ủy quyền của Công ty Cadila.
Công văn trả lời số 390/SHTT-TTKN ngày 8/3/2006 của Cục SHTT xác định rằng Công ty Cổ phần Dược – Vật tư Y tế Đăk Lăk đã vi phạm quyền sở hữu công nghiệp khi thực hiện hành vi nhập khẩu và lưu hành sản phẩm khi sản phẩm này chưa được bất kì sự cấp phép hay ủy quyền nào. Luận văn: Hoàn thiện PL hết quyền sở hữu trí tuệ trong nhập khẩu.
Đây là vụ việc mà dấu hiệu sai phạm nằm ở điểm hàng hóa nhập khẩu không phải là hàng hóa “chính hiệu”, hay nói cách khác là sản phẩm sản xuất ra không dưới sự cho phép của chủ sở hữu nhãn hiệu. Hành vi nhập khẩu song song sản phẩm nói trên theo pháp luật Việt Nam là được phép, tuy nhiên ở đây chủ thể nhập khẩu không chứng minh được hàng hóa mình nhập khẩu là hàng hóa “hợp pháp”. Trong khi đó, hành vi nhập khẩu song song đòi hỏi rằng việc sản xuất phải được cho phép, còn việc nhập khẩu thì không. Như vậy có thể thấy rằng hành vi này chưa đủ để thỏa mãn các điều kiện của nhập khẩu song song.
- Vụ việc 2: Nhãn hiệu SKF
Tập đoàn AKTIEBOLAGET SKF -Thụy Điển (sau đây gọi tắt là SKF) là tập đoàn hàng đầu thế giới trong lĩnh vực sản xuất vòng bi dân dụng và vòng bi kỹ thuật, các sản phẩm của SKF được sử dụng rộng rãi trên thị trường Việt Nam và có được uy tín đối với người tiêu dùng. Hiện nay SKF có 06 nhãn hiệu được bảo hộ tại Việt Nam.
Ngày 21/6/2010, Phòng PC46-CATP Hà Nội (Đội 8) nhận được đơn của Công ty TNHH tư vấn SHTT Việt (Việt IP CO.LTD) đề nghị Cơ quan công an điều tra ngăn chặn, xử lý hành vi buôn bán hàng giả là vòng bi SKF đối với Công ty Thương mại và chuyển giao Công nghệ Ánh Dương-(Công ty này có trụ sở ở Hà Nội, sau đây gọi tắt là Công ty Ánh Dương).
Theo Công ty Ánh Dương: các sản phẩm gắn các nhãn hiệu “SKF”, “SKF & hình” “SKF EXPLORER” do Công ty nhập về từ nhiều nguồn khác nhau (trong đó có nhập khẩu từ HongKong, cụ thể từ công ty United Bearings Limited, có địa chỉ: RMLO 262/F Taishing IND BLDS 273-279 UN Chau Stcheng SHA Wan KL HongKong), các sản phẩm này có giấy tờ nhập khẩu, mua bán hợp lệ và cho rằng đây không phải là hàng giả. Tuy nhiên, theo đại diện SKF thì toàn bộ sản phẩm đang bị tạm giữ không phải do SKF sản xuất hoặc cho phép sản xuất tại Việt Nam cũng như trên toàn thế giới.
Giải quyết vụ việc, Thanh tra Bộ Khoa học và công nghệ khẳng định: Công ty Ánh Dương có hành vi nhập khẩu, tàng trữ, buôn bán sản phẩm vòng bi sử dụng (gắn) dấu hiệu “SKF”, “SKF & hình” “SKF EXPLORER” giả mạo nhãn hiệu “SKF”, “SKF & hình” “SKF EXPLORER” đang được bảo hộ tại Việt Nam cho ANTIEBOLAGET SKF (Thụy Điển) theo Đăng ký nhãn hiệu số 3019 (cấp ngày 28/6/1991), 3317 (cấp ngày 4/9/1991), 42274 (cấp ngày 23/7/2002), 72084 (cấp ngày 15/7/2006), 165474 (cấp ngày 13/6/2011) bảo hộ các sản phẩm, dịch vụ, trong đó có sản phẩm vòng bi, vòng bi các loại…thuộc nhóm 4, 6, 7, 8, 9, 12, 16, 17, 35, 37, 39, 40, 41, 42. Chính vì vậy, việc nhập khẩu vòng bi SKF của Công ty Ánh Dương không phải là nhập khẩu song song và bị xử phạt theo quy định tại Điều 12 của Nghị định 97/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính Phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp. Luận văn: Hoàn thiện PL hết quyền sở hữu trí tuệ trong nhập khẩu.
- Vụ việc 3: Oppo Việt Nam – FPT Trading
Oppo Việt Nam là nhà phân phối chính thức và độc quyền tại Việt Nam do Oppo toàn cầu chỉ định.
Ngày 13/4/2016, thông tin trên thị trường cho biết FPT Trading sẽ phân phối di động Oppo. FPT trực tiếp nhập khẩu smartphone thương hiệu này và bán ra thị trường với mức cạnh tranh hơn so với giá của Oppo Việt Nam. Tiếp đó, Oppo Việt Nam ra văn bản gửi đến đại lý. Theo đó, công ty này khẳng định chỉ có ba nhà phân phối chính thức tại Việt Nam gồm Oppo Việt Nam, Công ty TNHH Di Động Thông Minh và Công ty TNHH NN MTV TM & XNK Viettel. Thông báo này gián tiếp nói FPT Trading không phải nhà phân phối chính thức.
Sau đó, Oppo Việt Nam gửi văn bản đến đại lý, lên tiếng cho rằng FPT Trading đã vi phạm chính sách sử dụng thương quyền của Oppo tại Việt Nam, tuyên bố từ chối bảo hành bất kỳ chiếc điện thoại Oppo nào do FPT phân phối và bán ra. Đồng thời, họ yêu cầu các đại lý và cửa hàng nhỏ không nhập nguồn hàng từ FPT. Oppo VN sẵn sàng chi tiền thu mua lại toàn bộ để tránh gây loạn thị trường. Vụ việc diễn biến đến ngày 19/4/2016, FPT Trading chính thức lên tiếng phản bác. Công ty này cho biết nguồn gốc lô hàng Oppo F1 là từ Singapore. Đây là hàng chính hãng Oppo sản xuất, mới 100%, phiên bản quốc tế (không bị khóa mạng) và được cài sẵn ngôn ngữ tiếng Việt. Bên cạnh đó, FPT cũng khẳng định lô hàng trên có đầy đủ giấy chứng nhận hợp quy, hợp chuẩn, phù hợp với các tiêu chuẩn kỹ thuật để kinh doanh tại Việt Nam.
Vụ việc Oppo Việt Nam – FPT Trading chưa xảy ra các sự kiện pháp lí cụ thể, các bên chưa có động thái viện dẫn đến các quy định pháp luật để yêu cầu được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nhưng thực tiễn này cho thấy các trường hợp như vậy xảy ra trên thị trường là rất nhiều, đặt ra nghĩa vụ chứng minh nguồn gốc của hàng hóa cho nhà nhập khẩu là rất cần thiết.
Qua những vụ việc trên ta thấy những vụ việc liên quan đến nhập khẩu song song có thể do bên doanh nghiệp khởi xướng, cũng có thể do các cơ quan quản lí nhà nước khi nhận thấy có dấu hiệu sai phạm sẽ khởi xướng. Nhưng dù với sự khởi đầu nào, một vụ việc liên quan đến hàng nhập khẩu song song cũng sẽ được xem xét hai trường hợp:
- hàng hoá giả mạo về nhãn hiệu;
- hàng hoá nhập khẩu song
Trong những trường hợp này, điểm cốt yếu là nghĩa vụ chứng minh của nhà nhập khẩu song song. Nhà nhập khẩu phải chứng minh hàng nhập khẩu là hàng chính hiệu. Cụ thể, nhà nhập khẩu phải xuất trình chứng cứ xác định hàng hoá được nhập khẩu từ nguồn nào, ai đưa hàng hoá ra thị trường. Đối với nhãn hiệu, nhà nhập khẩu phải chứng minh hàng hóa được nhập khẩu là hàng hoá được đưa ra thị trường bởi chính chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người được chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép. Tức là, hết quyền đối với nhãn hiệu đã xảy ra và chủ sở hữu nhãn hiệu không còn quyền kiểm soát các giao dịch liên quan đến hàng hoá mang nhãn hiệu nữa. Nếu nhà nhập khẩu chứng minh thành công, hàng hoá được coi là hàng nhập khẩu song song và được công nhận hợp pháp. Ngược lại, hàng hoá nhập khẩu bị coi là hàng giả mạo về nhãn hiệu.
Trên thực tế, nhà nhập khẩu không dễ dàng chứng minh hàng hoá được đưa ra thị trường bởi chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu. Bởi vì, khi nhập khẩu, nhà nhập khẩu ít quan tâm đến yếu tố SHTT mà quan tâm nhiều hơn đến bản thân hàng hoá nhập khẩu. Do đó, trong nhiều trường hợp, xác định chủ sở hữu nhãn hiệu và người được chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu thực sự là gánh nặng đối với nhà nhập khẩu. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, hàng hoá có thể đi qua nhiều quốc gia với nhiều nhà kinh doanh khác nhau trước khi đến với người tiêu dùng. Đối với những sản phẩm mang nhãn hiệu nổi tiếng, nhà nhập khẩu song song có thể thuận lợi hơn trong thực hiện nghĩa vụ chứng minh. Tuy nhiên, điều này không dễ dàng với những nhãn hiệu mới và không được nhiều người biết đến. Cho nên, có thể xảy ra trường hợp hàng hoá bị coi là giả mạo nhãn hiệu do nhà nhập khẩu song song không chứng minh được hàng hoá đã được đưa ra thị trường bởi chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu.
3.3. Định hướng hoàn thiện pháp luật về hết quyền SHTT trong nhập khẩu song song Luận văn: Hoàn thiện PL hết quyền sở hữu trí tuệ trong nhập khẩu.
Đầu tiên, Việt Nam cần tuân thủ những tiêu chuẩn tối thiểu do Hiệp định TRIPS thiết lập, đồng thời sử dụng hiệu quả các quy định tùy nghi của Hiệp định này về các vấn đề liên quan đến cơ chế hết quyền. Thực tế Hiệp định TRIPS không đưa ra những quy định cứng về vấn đề này mà chỉ thiết lập những tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu và yêu cầu các nước thành viên tuân thủ bằng cách quy định chi tiết trong pháp luật quốc gia. Trước hết, về các tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu, hiệp định TRIPS đưa ra các nội dung, cụ thể đối với nhãn hiệu có thể tóm tắt như sau:
- sự đồng ý của chủ thể nắm giữ quyền SHTT với việc đưa hàng hóa mang đối tượng được bảo hộ nhãn hiệu ra thị trường là điều kiện quyết định hết quyền đối với nhãn hiệu
- chủ sở hữu nhãn hiệu mất quyền sử dụng, bán, nhập khẩu và các hình thức phân phối hàng hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ khác được coi như hệ quả pháp lí của hết quyền đối với nhãn hiệu
- xuất phát từ hệ quả pháp lí của hết quyền đối với nhãn hiệu, sửa chữa hàng hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ được coi là hợp pháp Luận văn: Hoàn thiện PL hết quyền sở hữu trí tuệ trong nhập khẩu.
- pháp luật cạnh tranh điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền SHTT phải thỏa mãn hai điều kiện là sự phù hợp và sự thích hợp
- các nước thành viên phải có nghĩa vụ thương lượng và hợp tác trong ngăn chặn hành vi hạn chế cạnh tranh phát sinh từ hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng đối tượng SHTT
Bên cạnh đó, nước ta nên nắm bắt được những quy định tùy nghi của TRIPS về hết quyền SHTT bằng cách lựa chọn việc sử dụng ở mức độ đầy đủ nhất những quy định này cho phù hợp với chiến lược và lợi ích quốc gia.
Thứ hai, Việt Nam nên xây dựng pháp luật về hết quyền đối với các quyền sở hữu công nghiệp xuất phát từ thực tiễn của đất nước đồng thời tiếp thu kinh nghiệm quốc tế.
Bài học từ các quốc gia đang phát triển cho thấy vấn đề lớn nhất mà các nước này gặp phải là tình trạng thiếu chuyên gia pháp lí và nguồn tài chính hạn hẹp nên hầu hết đều dựa vào sự hỗ trợ pháp lí, hỗ trợ kĩ thuật cũng như tài chính từ các nước khác và các tổ chức hợp tác song phương và đa phương trong quá trình đổi mới pháp luật SHTT. Chính vì thực tế này, trong quá trình hỗ trợ pháp lí cũng như hỗ trợ kĩ thuật, rất có thể việc vận dụng kinh nghiệm quốc tế sẽ trở nên máy móc và không phù hợp. Cách thức triển khai ở các nước phát triển có thể tốn kém về tiền bạc, về tổ chức bộ máy, về năng lực con người mà có thể các nước đang phát triển không đáp ứng được.
Đối với Việt Nam, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hết quyền phải dựa trên những điều kiện cụ thể của đất nước. Kinh nghiệm của các quốc gia khác là cần thiết nhưng phải được lựa chọn cẩn thận; việc sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật cần cân nhắc kĩ lưỡng. Ví dụ với hệ thống pháp luật của Hoa Kì và EU về vấn đề hết quyền SHTT đã được hình thành từ lâu, ở mức độ phát triển cao nhưng với quan điểm về cơ chế hết quyền của họ khác với Việt Nam trên trong trường hợp áp dụng chúng ta cần linh hoạt chứ không thể triển khai các quy định hoàn toàn giống họ.
Thứ ba, nước ta nên xây dựng quy định pháp luật về hết quyền thỏa mãn các điều kiện về tính toàn diện, thống nhất và khả thi. Chế định pháp luật này cần đảm bảo được:
- phản ánh đầy đủ sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và đạt được mục tiêu quốc gia;
- được đặt trong mối quan hệ với các lĩnh vực pháp luật liên quan khác như pháp luật cạnh tranh, hợp đồng, xuất nhập khẩu, quản lí chất lượng và quản lí giá;
- đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu theo TRIPS và các điều ước quốc tế khác;
- có tính đến chức năng của các đối tượng sở hữu công nghiệp.
Trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hết quyền, việc song song với đó hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh là cần thiết. Vì SHTT, xuất phát từ bản chất và chức năng của nó, gắn liền với cạnh tranh. SHTT sẽ hoạt động hoàn hảo chỉ khi như một phương tiện cạnh tranh trong môi trường có kết cấu mang tính cạnh tranh.
Thứ tư, Việt Nam nên đẩy mạnh sự phối hợp giữa các cơ quan và huy động ý kiến cộng đồng trong soạn thảo và ban hành pháp luật về hết quyền đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp. Luận văn: Hoàn thiện PL hết quyền sở hữu trí tuệ trong nhập khẩu.
Khi một văn bản pháp luật được ban hành ra, các chủ thể có liên quan sẽ phải chịu sự điều chỉnh của nó. Nhưng bên cạnh đó, có rất nhiều đối tượng khác cũng chịu sự ảnh hưởng của các quy định pháp luật này. Vì thế khi ban hành pháp luật, nhà làm luật cần lưu ý đến quan điểm, ý kiến của các đối tượng chịu ảnh hưởng trong xã hội. Cụ thể đối với pháp luật về hết quyền và nhập khẩu song song, nội dung chế định này ảnh hưởng đến nông nghiệp, công nghiệp, y tế, tài chính, hải quan, quản lí thị trường, khoa học và công nghệ… vì thế những chủ thể như chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp, người tiêu dùng, nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu sẽ nên được đưa ra tham vấn. Những ý kiến đó sẽ giúp cho các quy định phát luật được hoàn thiện hơn và có khả năng áp dụng trên thực tế cao hơn.
Thứ năm, Việt Nam cần tăng cường hợp tác quốc tế trong quá trình ban hành văn bản pháp luật.
Trong bối cảnh hội nhập như hiện nay, vấn đề xung đột pháp luật được đặt ra nhiều hơn bao giờ hết. Mỗi quốc gia có hệ thống pháp luật riêng và có quan điểm lập pháp riêng cho phù hợp với tình hình thực tiễn của quốc gia mình. Tuy vậy, trong dòng chảy thương mại, đặc biệt là liên quan đến SHTT, thì Việt Nam vẫn cần học hỏi kinh nghiệm từ các tổ chức quốc tế, chính phủ, tổ chức phi chính phủ. Hiện nay vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam phát triển ở mức độ trung bình, so với các quốc gia trên thế giới và trong khu vực là còn yếu kém hơn, vì thế học hỏi kinh nghiệm và vận dụng vào thực tiễn của Việt Nam là điều cần thiết.
Cuối cùng, Việt Nam cần xây dựng nguồn nhân lực cho những cơ quan liên quan đến xây dựng và thực thi pháp luật về hết quyền.
Như đã nói trong ý phối hợp giữa các cơ quan hữu quan khi xây dựng pháp luật, thì ở đây đặt ra vấn đề muốn có sự phối hợp ăn ý và hiệu quả thì nguồn nhân lực của các cơ quan này phải đảm bảo nhu cầu, đòi hỏi của thực tiễn. Để có thể nắm bắt và giải quyết một vụ việc liên quan đến nhập khẩu song song, cơ quan thực thi cần được trang bị kiến thức về SHTT, ngoài ra còn một số lĩnh vực pháp luật khác như pháp luật cạnh tranh, pháp luật hợp đồng, pháp luật xuất nhập khẩu, pháp luật kiểm soát chất lượng, pháp luật quản lí giá… Như vậy có thể thấy nguồn nhân lực cần đáp ứng rất nhiều yêu cầu mới đáp ứng được đòi hỏi thực tiễn. Luận văn: Hoàn thiện PL hết quyền sở hữu trí tuệ trong nhập khẩu.
3.4 Những kiến nghị hoàn thiện pháp luật
3.4.1. Đề xuất quy định về định nghĩa hết quyền SHTT
Trong Luật SHTT cần quy định cụ thể về khái niệm, cách hiểu về hết quyền. Lời văn của điều luật có thể diễn đạt như sau: “Chủ sở hữu quyền SHTT không còn quyền ngăn cản chủ thể khác lưu thông, nhập khẩu, khai thác công dụng sản phẩm được bảo hộ quyền SHTT khi chủ thể này đồng ý hoặc trực tiếp đưa sản phẩm ra thị trường”. Tiếp theo, việc pháp luật Việt Nam thừa nhận cơ chế hết quyền nào cũng cần được nêu rõ để cơ sở pháp lí thêm vững chắc. Cụ thể hiện nay pháp luật Việt Nam công nhận cơ chế hết quyền quốc tế, vì vậy có thể quy định chi tiết hơn là “chủ sở hữu quyền SHTT không còn quyền ngăn cản […] khi chủ thể này đồng ý hoặc trực tiếp đưa sản phẩm ra thị trường, kể cả thị trường nước ngoài”, nghĩa là quyền này của chủ sở hữu quyền SHTT sẽ hết trên phạm vi quốc tế.
3.4.2 Đề xuất sửa đổi điểm b khoản 2 Điều 125 Luật SHTT
Ngoài quy định về hết quyền, cần có thêm các quy định chi tiết về hệ quả của hết quyền, cơ chế hết quyền đối với từng đối tượng sở hữu công nghiệp (nếu có). Theo điểm b khoản 2 Điều 125 Luật SHTT: “2. Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp và tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng hoặc quyền quản lý chỉ dẫn địa lý không có quyền cấm người khác thực hiện hành vi thuộc các trường hợp sau đây: b) Lưu thông, nhập khẩu, khai thác công dụng của sản phẩm được đưa ra thị trường, kể cả thị trường nước ngoài một cách hợp pháp, trừ sản phẩm không phải do chính chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu đưa ra thị trường nước ngoài;”
Ở khoản 2 điều luật này nhắc đến các đối tượng sở hữu công nghiệp và chỉ dẫn địa lí, nhưng ở điểm b lại nhấn mạnh đến sản phẩm mang nhãn hiệu được bảo hộ nên có thể dẫn đến hai cách hiểu của quy định này. Vì vậy, thiết nghĩ điều luật này nên được sửa đổi theo hướng quy định điểm b đối với tất cả các sản phẩm chứ không chỉ là sản phẩm mang nhãn hiệu được bảo hộ. Cụ thể điểm b có thể được sửa đổi như sau: “Lưu thông, nhập khẩu, khai thác công dụng của sản phẩm được đưa ra thị trường, kể cả thị trường nước ngoài một cách hợp pháp, trừ khi đó không phải sản phẩm được sự cho phép của chủ sở hữu đối tượng công nghiệp hoặc người được cho phép sử dụng hoặc quản lí chỉ dẫn địa lí”.
3.4.3 Đề xuất sửa đổi quy định về nghĩa vụ chứng minh trong các vụ việc nhập khẩu song song Luận văn: Hoàn thiện PL hết quyền sở hữu trí tuệ trong nhập khẩu.
Thực tế cho thấy, việc cho phép nhập khẩu song song dẫn đến rất nhiều hệ quả không tốt đối với người tiêu dùng và nền kinh tế như vấn đề hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không còn nhiều thời hạn sử dụng, hàng không kiểm soát được giá… Ngược lại, nhà nhập khẩu song song cũng gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình chứng minh nguồn gốc hàng hóa của mình là chính hiệu, tức là do chính chủ sở hữu quyền SHTT hoặc được chủ sở hữu quyền SHTT cho phép đưa ra thị trường. Nội dung của văn bản này ngoài việc quy định thống nhất cách hiểu về nhập khẩu song song, cần quy định thêm nghĩa vụ chứng minh trong các vụ việc liên quan đến hàng hóa nhập khẩu song song. Đây là một nội dung pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự, vì thế nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự. Tức là nhà nhập khẩu đương nhiên phải có nghĩa vụ chứng minh hàng hóa của mình là hàng hóa chính hiệu chứ không phải giả mạo. Bên cạnh đó, chủ sở hữu quyền SHTT, trong trường hợp khiếu nại về hàng nhập khẩu song song, cũng cần có nghĩa vụ chứng minh hàng hóa đó là giả mạo, không do mình hoặc dưới sự ủy quyền/cho phép của mình được đưa ra thị trường. Như tất cả các vụ việc dân sự khác, thời hạn để xử lí một vụ việc cũng cần được quy định chi tiết tránh dẫn đến việc tồn đọng vụ việc, làm lãng phí của cải và thiệt hại cho các bên đương sự.
3.4.4 Đề xuất sửa đổi một số quy định về nhập khẩu song song đối với các mặt hàng quan trọng
Đối với thực tiễn nền kinh tế của nước ta, hoạt động nhập khẩu song song là một nguồn quan trọng nhằm đảm bảo đáp ứng nhu cầu của thị trường và người tiêu dùng. Nhập khẩu song song có thể diễn ra với rất nhiều loại hàng hóa, đối với thị trường là nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam thì các ngành hàng gây tranh cãi nhiều có thể nói đến dược phẩm và ô tô. Với những quy định hiện hành về nhập khẩu song song đối với các loại hàng hóa này, thực tế cho thấy còn một số vướng mắc gây cản trở hoạt động nhập khẩu. Luận văn: Hoàn thiện PL hết quyền sở hữu trí tuệ trong nhập khẩu.
Cụ thể, đối với mặt hàng ô tô, Thông tư số 20/2011/TT-BCT ngày 12/5/2011 của Bộ Công Thương về quy định bổ sung thủ tục nhập khẩu xe ô tô chở người loại từ 09 chỗ ngồi trở xuống đặt ra yêu cầu với các thương nhân muốn nhập khẩu ô tô từ 9 chỗ ngồi trở xuống phải có giấy chỉ định hoặc giấy ủy quyền là nhà nhập khẩu, nhà phân phối của chính hãng sản xuất, kinh doanh loại ô tô đó hoặc hợp đồng đại lý của chính hãng sản xuất, kinh doanh loại ô tô đó. Trên thực tế, hành vi nhập khẩu song song chỉ đòi hỏi hàng hóa bán ra thị trường là hàng hóa hợp pháp và giữa nhà nhập khẩu và nhà sản xuất không bắt buộc phải có mối quan hệ hợp đồng nào. Vì vậy yêu cầu nhà nhập khẩu phải có giấy chỉ định hoặc giấy ủy quyền là một đòi hỏi thiếu cơ sở thực tế. Tuy nhiên như đã nói ở Chương trước, việc chứng minh tính hợp pháp của hàng hóa nhập khẩu song song là nghĩa vụ của nhà nhập khẩu, do đó, thay vì quy định như Thông tư 20/2011/TT-BCT thì yêu cầu đối với nhà nhập khẩu nên dừng lại ở đòi hỏi phải xuất trình được giấy chứng nhận chất lượng của nhà sản xuất cấp cho xe cơ giới thực tế nhập khẩu hoặc phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng. Quy định này có thể đưa vào Thông tư quy định về kiểm tra chất lượng an toàn kĩ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới nhập khẩu của Bộ Giao thông vận tải.
Một loại hàng hóa nữa trên thị trường cần được lưu ý đó chính là dược phẩm. Hiện nay dự thảo hướng dẫn Luật Dược đang trong quá trình soạn thảo, tại Điều 70 Nghị định này đòi hỏi các loại thuốc muốn được nhập khẩu song song phải được cơ quan y tế có thẩm quyền tại nước nhập khẩu cấp giấy phép nhập khẩu hoặc cấp giấy đăng kí lưu hành. Song song trong Nghị định đó, Điều 76 đưa ra một điều kiện nữa đặt ra đối với thuốc nhập khẩu song song là thuốc phải được nghiên cứu độ ổn định trong vùng khí hậu 4b (là vùng khí hậu nóng ẩm, tương ứng với Việt Nam). Cả hai điều kiện này khi kết hợp lại sẽ dẫn đến một thực tế là các loại thuốc nhập khẩu song song vào Việt Nam chỉ có thể đáp ứng được một trong hai điều kiện chứ không thể cùng lúc đạt được cả hai, nguyên nhân là do các quốc gia cấp đăng kí lưu hành đáp ứng đủ tiêu chuẩn thì không nằm trong khu vực khí hậu 4b (mà chủ yếu là các quốc gia ôn đới với điều kiện khí hậu khác biệt với Việt Nam). Tóm lại, với hai điều kiện này thì mục đích nhập khẩu song song thuốc để giảm giá thành, người dân được tiếp cận với dược phẩm giá rẻ là không đạt được. Vì vậy, để các quy định tránh gây trở ngại trên thực tế, Dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Dược nên loại bỏ một trong hai điều kiện nói trên.
Kết luận chương 3
Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hết quyền SHTT là điều cần thiết nhưng chưa đủ. Điều quan trọng là làm thế nào để thực thi pháp luật một cách hiệu quả. Tiến trình hoàn thiện pháp luật về hết quyền SHTT phụ thuộc và nhận thức về tầm quan trọng của vấn đề này của các chủ thể có liên quan. Pháp luật về hết quyền chỉ là công cụ hữu ích phục vụ cho mục tiêu quốc gia khi cơ chế thực thi được thiết lập và duy trì. Đối với Việt Nam, thực thi pháp luật nói chung là điểm yếu nhất. Do đó, bên cạnh hoàn thiện pháp luật, nhiệm vụ đặt ra là xây dựng cơ chế thực thi pháp luật thích đáng, nâng cao nhận thức về giá trị của hết quyền SHTT và những vấn đề có liên quan. Bên cạnh đó, những khác biệt trong hệ thống pháp luật Việt Nam với các quốc gia khác trên thế giới sẽ tạo ra những rào cản cho thương mại quốc tế và ảnh hưởng xấu đến cạnh tranh. Do đó, đẩy mạnh hợp tác quốc tế về những vấn đề liên quan đến hết quyền SHTT thực sự cần thiết và các thỏa thuận song phương hoặc các thỏa thuận khu vực có thể là một trong các giải pháp giúp hài hòa hóa các khác biệt còn tồn tại.
KẾT LUẬN Luận văn: Hoàn thiện PL hết quyền sở hữu trí tuệ trong nhập khẩu.
Hết quyền SHTT không còn là vấn đề mới đối với hầu hết các nước trên thế giới, tuy nhiên đây vẫn là một trong những đề tài liên quan đến SHTT gây tranh luận gay gắt nhất và có lẽ là một trong những vấn đề SHTT liên quan nhiều nhất đến thương mại. Do đó, vấn đề này cần được nghiên cứu không chỉ dưới góc độ pháp luật mà còn là kinh tế, cạnh tranh… Thuyết hết quyền được hình thành từ những phán quyết của Tòa án và hiện nay được các quốc gia chuyển tải vào hệ thống các quy định pháp luật. Thuyết hết quyền được tạo ra nhằm kiểm soát tính độc quyền của quyền SHTT. Thuyết này xác định thời điểm chấm dứt quyền SHTT của chủ thể nắm giữ quyền SHTT đối với sản phẩm cụ thể được bảo hộ quyền SHTT. Theo thuyết hết quyền SHTT, hết quyền SHTT xảy ra khi sản phẩm được đưa ra thị trường bởi chính chủ thể nắm giữ quyền SHTT hoặc với sự đồng ý của chủ thể này. Hệ quả là, chủ thể nắm giữ quyền SHTT mất quyền kiểm soát sự lưu thông tiếp theo của sản phẩm, bao gồm việc sử dụng, tặng cho, bán lại sản phẩm… Bên cạnh đó, quyền kiểm soát hoạt động xuất – nhập khẩu sản phẩm của chủ thể nắm giữ quyền SHTT về nguyên tắc cũng không còn khi cơ chế hết quyền khu vực hoặc hết quyền quốc tế được áp dụng.
Đi sâu vào tìm hiểu pháp luật Việt Nam về vấn đề này, ta nhận thấy Việt Nam công nhận thuyết hết quyền quốc tế, hệ quả tiếp theo là thừa nhận hoạt động nhập khẩu song song. Cụ thể pháp luật Việt Nam có các quy định không ngăn cản hoạt động nhập khẩu song song với các đối tượng sở hữu công nghiệp, chỉ dẫn địa lí; đối với quyền tác giả thì pháp luật Việt Nam chưa có các quy định cụ thể. Ngoài những đối tượng SHTT đó, Việt Nam cũng như các nước đang phát triển khác đều rất quan tâm đến một số loại hàng hóa đặc biệt như dược phẩm. Việc đưa ra các quy định riêng đối với lĩnh vực nhập khẩu song song dược phẩm thể hiện rằng đây là lĩnh vực đặc thù và rất nhạy cảm, có tác động rõ rệt đến nền kinh tế và đời sống nên cần có quy định riêng. Tuy nhiên các văn bản nói trên vẫn chưa đầy đủ và cần hoàn thiện hơn nữa để cân bằng quyền lợi tốt hơn giữa chủ thể nắm giữ quyền SHTT (trong lĩnh vực dược phẩm là sáng chế, nhãn hiệu…) với người tiêu dùng.
Thực tế đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện pháp luật, và đặc biệt là hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật toàn diện, thống nhất và khả thi hơn. Việc hoàn thiện này phải phù hợp với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, nhằm đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội. Bên cạnh đó, hoạt động này cũng cần đáp ứng được các yêu cầu hội nhập quốc tế, làm cho pháp luật quốc gia hoàn toàn tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đặc biệt là Hiệp định TRIPS. Luận văn: Hoàn thiện PL hết quyền sở hữu trí tuệ trong nhập khẩu.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật về hết quyền sở hữu trí tuệ trong nhập khẩu

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Quy định về hết quyền sở hữu trí tuệ trong nhập khẩu