Luận văn: Quản lý giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quản lý giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quản lý giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh các trường Trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trong những năm qua công tác phổ biến, giáo dục pháp luật luôn được sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và các cấp, các ngành. Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, Nhà nước giữ vai trò nòng cốt; khuyến khích, tạo điều kiện và huy động mọi nguồn lực xã hội tham gia; đề cao trách nhiệm và từng bước hình thành thói quen chủ động học tập, tự giác tuân thủ, chấp hành pháp luật của lãnh đạo nhà trường, công chức, viên chức và nhân dân. Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành nhiều văn bản để chỉ đạo công tác giáo dục pháp luật trong nhà trường, các trường trung học phổ thông đã tập trung triển khai các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho học sinh và đạt được những kết quả quan trọng, góp phần cho học sinh chuyển biến nhận thức về pháp luật, dần có thói quen xử sự theo pháp luật.

Tuy nhiên công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu, như: Nhận thức về tầm quan trọng về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho học sinh của một số Hiệu trưởng, giáo viên làm công tác này chưa cao nên công tác quản lý phổ biến, giáo dục pháp luật cho học sinh ở nhiều trường chưa được coi trọng, chưa được quan tâm đúng mức; giáo viên phụ trách công tác giáo dục pháp luật ở các nhà trường chủ yếu là kiêm nhiệm, ít được bồi dưỡng về kiến thức pháp luật cũng như kỹ năng, phương pháp giáo dục pháp luật cho học sinh; cơ sở, vật chất, trang thiết bị chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác giáo dục pháp luật cho học sinh; các hình thức giáo dục pháp luật còn đơn điệu, rập khuôn, thiếu sự hấp dẫn; hiện tượng dạy học nặng về kiến thức, nhẹ về rèn luyện kỹ năng cho người học còn khá phổ biến; các hình thức kiểm tra, đánh giá hiện nay mới đánh giá ở mức độ ghi nhớ, chưa đánh giá sự chuyển biến về ý thức, về kỹ năng áp dụng pháp luật cho người học. Các tồn tại trên dẫn đến nhận thức pháp luật và ý thức tuân thủ pháp luật của học sinh, đặc biệt là học sinh dân tộc thiểu số, học sinh vùng sâu, vùng xa còn thấp và không đồng đều; một bộ phận không nhỏ học sinh vẫn chưa nhận thức đúng và coi trọng vai trò pháp luật nên còn xảy ra hiện tượng học sinh vi phạm pháp luật.

Cao Bằng là tỉnh miền núi, biên giới, điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khoa khăn; ở nhiều vùng, trình độ hiểu biết, dân trí còn hạn chế, chịu ảnh hưởng nhiểu bởi các hủ tục lạc hậu nên việc thực hiện các quy định chế độ hôn nhân và gia đình; chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử giữa các thành viên gia đình; trách nhiệm của cá nhân, tổ chức và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình chưa tốt, như: học sinh trung học phổ thông bỏ học để lấy vợ, lấy chồng (xảy ra tình trạng tảo hôn) còn khá phổ biến ở một số trường hay việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con và ngược lại có những điều bị xã hội đáng lên án…

Trước tình hình đó, đòi hỏi Ngành Giáo dục và Đào tạo và các cơ quan liên quan tỉnh Cao Bằng phải tăng cường hơn nữa công tác giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông, trang bị kiến thức, hiểu biết pháp luật nói chung và Giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình nói riêng để giúp họ nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, biết sử dụng pháp luật như là một phương tiện quan trọng để giải quyết những mâu thuẫn, công việc trong cuộc sống có liên quan đến pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của bản thân, gia đình và xã hội. Trong Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật 2012 đã có các điều, khoản quy định về phổ biến, giáo dục pháp luật các cơ sở giáo dục, điều đó nói lên sự quan tâm Nhà nước ta đối với công tác giáo dục pháp luật cho học sinh. Vấn đề quan trọng được đặt ra hiện nay là cần có những biện pháp để đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông đi vào thực tiễn cuộc sống, nâng cao hiểu biết pháp luật cho học sinh, giảm thiểu tình trạng học sinh trung học phổ thông bỏ học vì lý do tảo hôn đòi hỏi cần có một công trình nghiên cứu nghiêm túc, có hệ thống để tìm ra các giải pháp giúp Ngành Giáo dục & Đào tạo Cao Bằng quản lí tốt công tác giáo dục pháp luật, đặc biệt là giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh trung học phổ thông.

Xuất phát từ những vấn đề đặt ra, tác giả lựa chọn vấn đề “Quản lý giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh các trường Trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng” để làm đề tài nghiên cứu.

2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Quản lý giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Nghiên cứu lý luận và thực tiễn Quản lý giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh các trường Trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục học sinh trong các nhà trường.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

  • Công tác giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh Trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

  • Biện pháp quản lý giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh các trường Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Xây dựng cơ sở lý luận về quản lý giáo dục luật hôn nhân và gia đình cho học sinh Trung học phổ thông.
  • Nghiên cứu thực trạng công tác giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.
  • Đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục luật hôn nhân và gia đình cho học sinh các trường Trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng.

5. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

5.1. Phạm vi nội dung Luận văn: Quản lý giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Nghiên cứu biện pháp quản lý giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh các trường Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Cao Bằng trong phạm vi hoạt động giáo dục trường học.

5.2. Phạm vi không gian

  • Luận văn tiến hành điều tra, khảo sát tại các trường Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.

5.3. Phạm vi thời gian

  • Từ tháng 12 năm 2018 đến tháng 4 năm 2019.

6. Giả thuyết khoa học

Giáo dục luật hôn nhân và gia đình cho học sinh Trung học phổ thông là vấn đề rất cấp thiết hiện nay. Tuy nhiên công tác quản lý giáo dục luật hôn nhân và gia đình cho học sinh các trường Trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng còn nhiều hạn chế như: Kỹ năng giáo dục luật hôn nhân và gia đình của giáo viên còn yếu, chưa có sự phối hợp giữa các lực lượng trong việc tổ chức hoạt động giáo dục luật hôn nhân và gia đình cho học sinh… Chính vì thế, nếu đề xuất được biện pháp tốt, phù hợp với tình hình ở tỉnh Cao Băng sẽ nâng cao được chất lượng công tác giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh ở các trường Trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng trong tương lai.

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

Thu thập, đọc tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Phân tích, so sánh, hệ thống hóa lý thuyết để xác định cơ sở lý luận và quan điểm về vấn đề Quản lý giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh Trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng.

7.2. Phương pháp nghiêm cứu thực tiễn

Điều tra bằng bảng hỏi để khảo sát đánh giá thực trạng dạy học và thực trạng quản lý giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh Trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng. Luận văn: Quản lý giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Phương pháp phỏng vấn sâu: Trao đổi phỏng vấn Hiệu trưởng, Phó Hiệu trường, giáo viên, học sinh để làm rõ về thực trạng quản lý giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh Trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng.

Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: Nghiên cứu hồ sơ quản lý công tác phổ biến, giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình của các nhà trường để làm rõ thực trạng.

Phương pháp quan sát hoạt động để làm rõ thực trạng giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh Trung học phổ thông.

Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn. Lấy ý kiến lãnh đạo, giáo viên trong trường trung học phổ thông.

7.3. Phương pháp bổ trợ

Xử lý số liệu điều tra bằng phương pháp toán học thống kê.

8. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn được trình bày trong 3 chương:

  • Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh Trung học phổ thông.
  • Chương 2. Thực trạng quản lý giáo dục Luật hôn nhân và gia đình cho học sinh các trường trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng.
  • Chương 3. Biện pháp quản lý giáo dục luật hôn nhân và gia đình cho học sinh các trường Trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng.

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Nghiên cứu trên thế giới

Giáo dục pháp luật (GDPL) là một trong những nội dung quan trọng của khoa học Lý luận về Nhà nước và pháp luật nên nhận được sự quan tâm nghiên cứu các nhà khoa học. Xuất phát từ vị trí, vai trò của giáo dục pháp luật trong sự tồn tại của người và xã hội cho nên ở góc độ nghiên cứu đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học từ các khoa học khác nhau như: luật học, tâm lý học, xã hội học, giáo dục học… Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu liên quan đến giáo dục pháp luật, như:

John A.Sebert (2002), The American Bar Association and Legal Education in the United States of America (Liên đoàn Luật sư và giáo dục pháp luật ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ). Cuốn sách này cho thấy cách đào tạo và quản lý luật sư ở Mỹ là rất khác với ở Việt Nam, trong đó đặc biệt là phương pháp dạy luật thông qua các tình huống pháp luật làm cho việc học luật trở lên hấp dẫn, dễ nhớ, dễ hiểu hơn (dẫn theo [26]). Luận văn: Quản lý giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Edward Rubin, Legal Education in the Digital Age (Giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số), Nhà xuất bản Đại học Cambridge – 2012 Theo tác giả, trong những thập kỷ tới, cuộc cách mạng kỹ thuật số sẽ biến đổi rất nhiều thế giới của chúng ta, Giáo dục pháp luật vì thế cũng sẽ biến đổi theo. Việc sản xuất và phân phối tài liệu kỹ thuật số sẽ làm thay đổi mạnh mẽ nội dung và phương pháp Giáo dục pháp luật trong các nhà trường và qua các mạng xã hội. Cuốn sách này gồm tập hợp các bài tiểu luận, các nghiên cứu của những chuyên gia pháp lý hàng đầu thế giới, trong đó thảo luận cách thức các tài liệu số sẽ được tạo ra và làm thế nào họ sẽ thay đổi các khái niệm về quyền tác giả cũng như các phương pháp sản xuất và phân phối các nguồn tài liệu pháp luật khổng lồ. Bên cạnh đó các tác giả còn khảo sát tác động của các tài liệu số đối với lớp học, với thư viện của trường luật và xem xét sự chuyển đổi tiềm năng của chương trình giảng dạy mà các tài liệu kỹ thuật số có thể tạo ra. Cùng với đó, những bài tiểu luận này cung cấp hướng dẫn cho những thay đổi quan trọng mà mọi giáo viên và học giả pháp luật cần phải hiểu. Các video clip và cảnh quay hoạt hình với thế giới 3-D, các thông tin pháp luật đồ sộ, tình huống pháp luật phong phú sẽ làm thay đổi hình thức và phương pháp Giáo dục pháp luật truyền thống (dẫn theo [26]).

Trường đại học Westininster London (Anh) năm 2011 công bố “nghiên cứu về giáo dục pháp luật trong bối cảnh toàn cầu” các nghiên cứu tập trung vào thách thức mà giáo dục pháp luật đối mặt với toàn cầu, các quan hệ và sự thay đổi hệ thống pháp luật của Chính phủ. Kết quả nghiên cứu cho thấy cần có sự thay đổi chiến lược giáo dục pháp luật cho phù hợp với tình hình mới (dẫn theo [18]).

A.B. Vengerop, B.Đ Perevalop trong các cuốn sách mang tên: Lý luận nhà nước và pháp luật, (2005, 2009) đã bàn về các lý luận về nhà nước và pháp luật, trong đó nhấn mạnh đến hệ thống pháp luật của Nhà nước: khái niệm, đặc điểm, cấu trúc… hệ thống pháp luật của nhànước (dẫn theo [18]).

Khaxanova X.A đã đưa ra các nghiên cứu lý luận về giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông ở Liên Bang Nga, tác giả nêu ra: mô hình giáo dục pháp luật phù hợp với giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông, chỉ ra các điều kiện, các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục pháp luật và đưa ra các kiến nghị đổi mới cách thức, hình thức, phương pháp dạy học pháp luật ở trường phổ thông (dẫn theo [26]). Luận văn: Quản lý giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Lý luận nhà nước và pháp luật, Giáo dục pháp luật ở Liên bang Nga, trong công trình dưới tiêu đề “Khái niệm giáo dục pháp luật và ý thức pháp luật, ý nghĩa của chúng trong xã hội hiện đại”, các tác giả đã tập trung bàn sâu về khái niệm Giáo dục pháp luật trên cơ sở những định nghĩa Giáo dục pháp luật được đưa ra bởi những nhà nghiên cứu khác nhau. Chẳng hạn, “GDPL là sự tác động có định hướng, có tổ chức, mang tính hệ thống lên các cá nhân nhằm làm hình thành ý thức pháp luật, tri thức pháp luật, thói quen, hành vi xử sự tích cực theo pháp luật, văn hóa pháp luật” (T.I. Akimova); hoặc “GDPL có thể định nghĩa như là một hệ thống các biện pháp định hướng làm hình thành tư tưởng pháp luật, các nguyên tắc, chuẩn mực pháp luật – những nhân tố làm nên các giá trị văn hóa pháp luật của dân tộc và nhân loại” (K.V. Naumenkova)… (dẫn theo [21]).

NaKinSung và Wonlee của trường đại học quốc gia Seunl (Hàn Quốc) công bố nghiên cứu về giáo dục pháp luật trong bối cảnh toàn cầu hóa: mục tiêu giáo dục pháp luật; cách thức, con đường… giáo dục pháp luật (dẫn theo [26]).

Tại Seunl (Hàn Quốc) năm 2012 hội thảo khoa học quốc tế “giáo dục pháp luật ở Châu á trong bối cảnh toàn cầu hóa và nhà nước pháp quyền”. Các bản tham luận tham gia hội thảo đều có nhận định chung về vai trò giáo dục pháp luật trong việc thúc đẩy xây dựng thị trường ổn định, tạo cơ sở pháp lý cho sự bình đẳng về cơ hội phát triển con người, phúc lợi và công bằng xã hội (dẫn theo [26]).

Kanwei trên cơ sở so sánh hoạt động giáo dục pháp luật ở vương quốc Anh và Trung Quốc đi đến kết luận về sự khác biệt giáo dục so sánh giữa hai nước, chỉ ra sự khác biệt và chi phối của các yếu tố văn hóa đến hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh như: Trung Quốc thiên về truyền tải tri thức, kinh nghiệm giáo dục pháp luật, ở vương quốc Anh tập trung vào các giá trị và thực hiện nhiều các hình thức trao đổi pháp luật ở trên lớp… (dẫn theo [26]).

1.1.2. Những nghiên cứu trong nước Luận văn: Quản lý giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Giáo dục pháp luật trong Ngành Giáo dục & Đào tạo là một nhiệm vụ quan trọng, cần thiết được Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định và triển khai từ những năm đầu của Thập kỷ 80, Thế kỷ XX. Công tác này đòi hỏi ứng dụng thành tựu của nhiều ngành khoa học như: Luật học, Tâm lý học, Xã hội học… Những năm gần đây, một số cơ quan quản lý, nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu nhiều khía cạnh khác nhau của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và phổ biến, giáo dục pháp luật trong Ngành Giáo dục & Đào tạo nói riêng. Trong Luật Phổ biến, Giáo dục pháp luật năm 2012 đã dành một Mục riêng nói về Giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân.

Quản lý Giáo dục pháp luật (GDPL) là một trong những nội dung quan trọng của khoa học quản lý, thu hút sự được quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học, thể hiện ở những đề tài khoa học, bài báo khoa học đã được công bố; đồng thời, là đề tài nghiên cứu của nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục.

Những công trình nghiên cứu, đề tài khoa học, bài báo trên các tạp chí liên quan đến các vấn đề lý luận chung về Giáo dục pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì chúng tạo cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu về Giáo dục pháp luật cho các đối tượng xã hội cụ thể, có một số công trình sau:

“Bàn về giáo dục pháp luật” của Trần Ngọc Đường và Dương Thanh Mai, đây là cuốn sách chuyên khảo đề cập các vấn đề liên quan đến Giáo dục pháp luật trên phương diện lý luận: khái niệm Giáo dục pháp luật, các khái niệm có liên quan đến Giáo dục pháp luật, như chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp, hình thức Giáo dục pháp luật… Từ những vấn đề lý luận cơ bản, các tác giả bàn luận một số giải pháp nâng cao hiệu quả Giáo dục pháp luật ở nước ta. Cuốn sách có giá trị tham khảo đối với tác giả trong quá trình viết luận văn khi phân tích, bàn luận về các khải niệm có liên quan đến hoạt động Giáo dục pháp luật [4].

“Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật” của Trường Đại học Luật Hà Nội, trong cuốn giáo trình này, các tác giả có dành một tiết thuộc Chương XVIII – Ý thức pháp luật để viết về vấn đề bồi dưỡng và giáo dục nâng cao ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa; theo đó, Giáo dục pháp luật là sự tác động một cách có hệ thống, có mục đích và thường xuyên tới nhận thức của con người nhằm trang bị cho mỗi người một trình độ kiến thức pháp lý nhất định để từ đó có ý thức đúng đắn về pháp luật, tôn trọng và tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật. Các tác giả cho rằng, mục tiêu cụ thể của Giáo dục pháp luật thể hiện ở ba điểm cơ bản: Thứ nhất, Giáo dục pháp luật nhằm hình thành, làm sâu sắc và mở rộng hệ thống tri thức pháp luật của công dân (mục tiêu nhận thức); Thứ hai, Giáo dục pháp luật nhằm hình thành tình cảm và lòng tin đối với pháp luật (mục đích cảm xúc); Thứ ba, Giáo dục pháp luật nhằm làm hình thành động cơ, hành vi và thói quen xử sự hợp pháp, tích cực (mục đích hành vi). Trên cơ sở đó, các tác giả nêu lên một số biện pháp giáo dục để nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân, như đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giải thích pháp luật; kết hợp Giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức, văn hóa… [22].

“Giáo dục pháp luật góp phần nâng cao ý thức và nghĩa vụ tuân thủ pháp luật” của Tống Đức Thảo bàn đến vai trò, tác động của giáo dục pháp luật đối với việc hình thành phát triển ý thức pháp luật cho các tầng lớp lao động trong xã hội, đặc biệt phân tích những đặc điểm cơ bản của ý thức pháp luật [16]. Luận văn: Quản lý giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Luận án “Giáo dục pháp luật cho học sinh trong trường trung học phổ thông ở Việt Nam” (2012) của Trần Thị Sáu, luận án này phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác Giáo dục pháp luật cho học sinh trong các trường trung học phổ thông ở Việt Nam. Tác giả cho rằng các trường trung học phổ thông tuy là một kênh quan trọng thực hiện Giáo dục pháp luật cho người dân, cụ thể là cho học sinh, song công tác này chưa được chú ý đúng mức, thể hiện ở những bất cập, hạn chế trong việc lồng ghép kiến thức pháp luật vào môn học giáo dục công dân. Từ thực trạng đó, tác giả đề xuất những quan điểm, giải pháp nâng cao chất lượng Giáo dục pháp luật cho học sinh trong các trường trung học phổ thông ở Việt Nam trong thời gian tới [14].

Nghiên cứu về giáo dục pháp luật có thể kể đến các công trình khoa học khác như: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới” của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp 1994 [9]; “Một số vấn đề về giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay” của Vụ phổ biến giáo dục pháp luật – Bộ Tư pháp 1997 [2]; “Đổi mới giáo dục pháp luật trong hệ thống các trường chính trị ở nước ta hiện nay” của Khoa Nhà nước pháp luật

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh 1999, triển khai nghiên cứu đề tài khoa học cấp Bộ, Những đề tài này đã chỉ rõ tầm quan trọng của giáo dục pháp luật, chỉ ra những nội dung cơ bản về pháp luật cần được giáo dục, phổ biến cho mọi người và những đòi hỏi của thực tiễn đối với hoạt động giáo dục pháp luật cho mọi người trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay… [7].

Về vấn đề giáo dục pháp luật trong nhà trường có cuốn “Giáo dục pháp luật trong nhà trường” của Nguyễn Đình Đặng Lục xuất bản năm 2000; cuốn “Giáo dục pháp luật trong trường phổ thông” luận văn thạc sỹ của Ngô Thị Thu Hà năm 1997; “Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật của nước ta – Thực trạng và giải pháp” luận văn thạc sỹ của Hồ Quốc Dũng năm 1997; “Giáo dục pháp luật thông qua hoạt động báo chí” luận văn thạc sỹ của Nguyễn Hùng năm 2003; “Vai trò của pháp luật trong hình thành nhân cách” của Nguyễn Đình Đặng Lục, xuất bản năm 2005.

Nhìn chung các tác giả đã tập trung nghiên cứu các vấn đề rất cơ bản cả về lý luận và thực tiễn trong công tác giáo dục pháp luật trên nhiều phương diện, sự cần thiết phải quan tâm đến vấn đề giáo dục pháp luật cho công dân nói chung, cho học sinh nói riêng; đề cập đến công tác quản lý và giải pháp nâng cao chất lượng công tác phổ biến giáo dục pháp luật trong trường trung học phổ thông còn công tác quản lý giáo dục pháp luật về một nội dung cụ thể cũng như hình thức tổ chức giáo dục pháp luật trong trường trung học phổ thông nói chung và quản lý giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng thì chưa có công trình nào nghiên cứu. Do đó, tác giả tập trung nghiên cứu các nội dung, biện pháp quản lý của nhà trường để giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh các trường Trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng nhằm nghiên cứu hoàn thiện, có hệ thống nội dung, các biện pháp giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh trong trường trung học phổ thông cho phù hợp với điều kiện hiện nay của tỉnh Cao Bằng.

1.2. Những khái niệm cơ bản của đề tài Luận văn: Quản lý giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

1.2.1. Quản lý

Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý để thực hiện những hoạt động kết hợp những con người, người trong nhóm, các tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu chung, hay nói cách khác quản lý là một yếu tố cần thiết để đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân để thực hiện các mục tiêu chung.

  • Thuật ngữ quản lý được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau trên cơ sở những tiếp cận khác nhau.

Theo F.W. Taylor: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” (dẫn theo [3, tr.5]).

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” [13, tr.22].

Tác giả Nguyễn Thị Tính đưa ra quan niệm: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục tiêu đã đề ra”. Hay nói một cách khác: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng việc thực hiện các chức năng quản lý, lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [19, tr.3,4].

Những quan niệm trên có khác nhau, song có thể khái quát: Quản lý (một tổ chức (hệ thống)) là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm phát huy tiềm năng của các yếu tố, các mối quan hệ chức năng, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và cơ hội của tổ chức (hệ thống) trên cơ sở đó đảm bảo cho tổ chức, hệ thống vận hành (hoạt động) tốt, đạt được các mục tiêu đã đặt ra với chất lượng và hiệu quả tối ưu trong các điều kiện biến động của môi trường. Luận văn: Quản lý giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Hiệu quả quản lý phụ thuộc vào các yếu tố: chủ thể, khách thể, mục tiêu, phương pháp và công cụ quản lý. Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm, hay một tổ chức; còn khách thể quản lý là một người hay một nhóm người bị quản lý; công cụ quản lý là phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý; phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể đến khách thể. Mục tiêu quản lý là trạng thái tương lai của tổ chức sau khi có các tác động quản lý của chủ thể quản lý. Môi trường quản lý là các yếu tố hoặc tập hợp các yếu tố bên ngoài hệ thống quản lý, tác động và ảnh hưởng tới sự vận động, biến đổi và phát triển của hệ thống quản lý.

1.2.2. Quản lý giáo dục

  • Khái niệm quản lý giáo dục cũng có nhiều cách diễn đạt:

Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn: “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp tổ chức, phương pháp giáo dục, kế hoạch hoá tài chính, cung tiêu… nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng, cũng như về chất lượng” [20, tr.29].

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý giáo dục thực chất là tác Thông tin Chỉ đạo Kiểm tra Tổ chức Tổ chức Kế hoạch động đến nhà trường, làm cho nó tổ chức tối ưu được quá trình dạy học, giáo dục thể chất theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt được những tính chất trường Trung học phổ thông xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bằng cách đó tiến tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới” [12, tr.32].

Dựa vào phạm vi quản lý, người ta chia ra hai loại Quản lý giáo dục: cấp độ hệ thống và cấp độ trường học.

Ở cấp độ hệ thống (cấp độ vĩ mô) có thể hiểu: Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo cho hệ thống giáo dục vận hành bình thường và liên tục phát triển, mở rộng cả về số lượng cũng như chất lượng.

Ở cấp độ trường học (cấp độ vi mô): là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhà trường làm cho nhà trường vận hành theo đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục, đưa nhà trường tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất, góp phần thực hiện mục tiêu chung của giáo dục nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp CNH – HĐH đất nước.

Từ đây ta có thể khái quát Quản lý giáo dục là: là hệ thống những tác động có chủ đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, nhân viên, học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục.

1.2.3. Pháp luật Luận văn: Quản lý giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Pháp luật là một khái niệm phức tạp, trải qua các thời đại, các khu vực trên thế giới, những vấn đề như bản chất, nguồn gốc, vai trò phạm vi điều chỉnh của pháp luật… được nhận thức một cách khác nhau. Ở Trung Quốc cổ đại, trường phái Nho gia (Đại biểu là Khổng Tử) cho rằng, người cai trị chủ yếu dùng “lễ”, “nhạc” để sửa đổi tinh thần tính nết con người nhằm duy trì trật tự xã hội. Theo quan điện niệm của các tác giả này, pháp luật được đồng nhất với “hình pháp” (sự trừng phạt), nó chỉ được đặt ra cho những người không hiểu và không theo được “lễ”. Sách Lễ kí viết: “Lễ không đi xuống đến người dân thường. Hình pháp không đi lên đến giờ đại phu”. Theo các nhà nho “lễ” là một loại quy tắc xử sự vừa mang tính chất luân lí, đạo đức, tôn giáo, phong tục tập quán, vừa mang tính chất chính trị, pháp lí mà những người cầm quyền phải tin theo, giữ gìn để thiết lập, duy trì quan hệ danh phận đẳng cấp trong xã hội. Cũng ở Trung Quốc thời kì này, trường phái Pháp gia (đại biểu là Hàn Phi Tử) quan niệm, Pháp luật “Là cái biên soạn thành sách đặt ở nơi công đường và nói rõ cùng trăm họ… cho nên bậc minh chúa nói pháp luật thì mọi kẻ hèn trong nước, không ai không nghe thấy”. Mặc dù trực diện đề cập nội hàm khái niệm pháp luật, tuy nhiên theo Hàn Phi Tử, pháp luật phải thành văn và phải được công khai cho mọi người đề biết. Hàn Phi Tử cho rằng, bản chất của con người là tham lam, ích kỷ (bản tính ác), vì vậy, để thiết lập trật tự xã hội, nắm giữ quyền lực dài lâu, người cầm quyền không thể dựa vào lễ, nhạc mà phải sử dụng luật pháp, luật pháp đó phải công khai, minh bạch để mọi người đều biết và tuân thủ nghiêm chỉnh.

Ở phương Tây, quan niệm về pháp luật tương đối phức tạp, tuy nhiên, tựu trung lại có thể chia thành hai trường phái, trường phái pháp luật thực định và trường phái pháp luật tự nhiên. Luận văn: Quản lý giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Theo quan niệm của trường phái pháp luật thực định, pháp luật là những quy tắc do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm thiết lập trật tự xã hội. Đó là những quy phạm cụ thể, hiện hữu, xác định, thể hiện rõ ràng, chúng được ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội trong một phạm vi không gian xác định.

Theo quan niệm của trường phái pháp luật tự nhiên, pháp luật là những quy tắc tất yếu hình thành một cách tự nhiên trong đời sống của con người xuất phát từ bản chất của con người với tư cách là một bộ phận của giới tự nhiên, tương tự như việc con người đói thì ăn, khát thì uống, tìm kiếm thức ăn để duy trì sự tồn tại của mình, kết hôn, sinh con để duy trì nòi giống… Pháp luật do nhà nước ban hành phải dựa trên cơ sở của pháp luật tự nhiên và phải phù hợp với pháp luật tự nhiên. Những đại biểu xuất sắc của trường phái này là Aristote, Ciceron, Grotius, Montesqueieu… Chẳng hạn, Montesqueieu cho rằng, “Luật, theo nghĩa rộng nhất là những quan hệ tất yếu từ trong bản chất của sự vật. Với nghĩa này thì mọi vật đều có luật của nó. Thế giới thần linh, thế giới vật chất, những trí tuệ siêu việt, cho đến các loài vật, và loài người đều có luật của mình” (dẫn theo [4]).

Ngày nay, cả trong lí luận cũng như thực tiễn, pháp luật đều được tiếp cận theo quan điểm pháp luật thực định, nhưng có tiếp thu những giá trị của quan điểm pháp luật tự nhiên. Theo đó, pháp luật do nhà nước ban hành nhưng phù hợp với thực tiễn khách quan, phù hợp với quy luật vận động và phát triển của đời sống, pháp luật phải dựa trên cơ sở công lí. Chính vì vậy, danh từ pháp luật trong ngôn ngữ của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phản chiếu ý niệm công lí. Thực tế cho thấy, pháp luật của nhiều nước đương đại đã thừa nhận quyền con người với tư cách là quyền tự nhiên, bẩm sinh mà tạo hóa đem lại cho họ.

Ở Việt Nam hiện nay, trong giáo trình của các cơ sở đào tạo luật học cũng như trong sách báo pháp lí tồn tại nhiều định nghĩa về pháp luật, tuy nhiên, có thể nói, các định nghĩa đó cơ bản chỉ khác nhau về câu chữ. Với tư cách là một loại quy tắc ứng xử của con người, một loại chuẩn mực xã hội, pháp luật có những điểm khác biệt cơ bản so với các loại chuẩn mực xã hội khác như đạo đức, phong tục tập quán… Vì vậy có thể hiểu: Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng của nhà nước [23, tr.207, 208, 209].

1.2.4. Luật Luận văn: Quản lý giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

  • Luật là văn bản quy phạm pháp luật.

Nguồn (hình thức) pháp luật gồm tập quán, tiền lệ pháp và văn bản quy phạm pháp luật. Nhà nước ta vẫn thừa nhận tập quán, truyền thống tiến bộ bằng cách thể chế hóa chúng trong các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL). Tiền lệ pháp không phải do hoạt động của cơ quan lập pháp mà là do hoạt động của cơ quan xét xử và hành chính, Trên thực tế khi hệ thống pháp luật chưa được hoàn chỉnh, trước yêu cầu để giải quyết các vụ việc để bảo vệ trật tự xã hội, các cơ quan xét xử và hành chính đã sử dụng hình thức này. Đó là vận dụng linh hoạt những nguyên tắc của pháp luật. Khi hệ thống pháp luật đã hoàn chỉnh thì hình thức này được thu hẹp dần phạm vi sử dụng [23, tr.294].

Nguồn gốc quan trọng nhất, có bản nhất của nhà nước ta hiện nay là văn bản quy phạm pháp luật. “Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015”.

Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện.

1.2.5. Luật Hôn nhân và gia đình

Là văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, do Quốc hội ban hành để quy định chế độ hôn nhân và gia đình; chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử giữa các thành viên gia đình; trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình. Trong luận văn nói về Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

1.2.6. Giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình

Giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình là một quá trình xã hội được tổ chức có mục đích, có kế hoạch. Trong đó, dưới vai trò chủ đạo của nhà giáo dục, đối tượng giáo dục tích cực, chủ động tiếp nhận, bổ sung và hoàn thiện hệ kiến thức về luật Hôn nhân và gia đình, từ đó có hành vi đúng chuẩn mực, đúng qui định của Nhà nước.

Giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh là quá trình giáo viên xây dựng nội dung, sử dụng phương pháp, biện pháp giáo dục phù hợp để nâng cao nhận thức; hình thành thái độ, tình cảm tích cực; hình thành và phát triển hành vi phù hợp với quy định của pháp luật về Luật Hôn nhân và gia đình. Luận văn: Quản lý giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Trong phạm vi luận văn này, tác giả tập trung xem xét khái niệm Giáo dục pháp luật theo nghĩa hẹp, theo đó khái niệm GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh trung học phổ thông được hiểu như sau: Giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh trung học phổ thông là hoạt động Giáo dục pháp luật, có tổ chức, có chủ định của các nhà sư phạm trong trường trung học phổ thông nhằm cung cấp cho học sinh trung học phổ thông những tri thức pháp luật về Hôn nhân và gia đình, bồi dưỡng tình cảm và hành vi pháp luật chuẩn mực về hôn nhân và gia đình cho học sinh thông qua những hình thức, phương pháp, phương tiện giáo dục nhất định.

1.2.7. Quản lý giáo dục Luật Hôn nhân và Gia đình cho học sinh Trung học phổ thông

Quản lý giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh Trung học phổ thông là quá trình tác động có tổ chức, có mục đích của Hiệu trưởng lên giáo viên, học sinh, các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường Trung học phổ thông nhằm huy động họ tham gia, cộng tác phối hợp trong các hoạt động của nhà trường giúp học sinh có những hiểu biết về Luật Hôn nhân và Gia đình.

Quản lý giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh Trung học phổ thông là những biện pháp tác động của chủ thể quản lý tới các quá trình giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình, giáo viên, học sinh, các lực lượng liên đới nhằm điều chỉnh hành vi của học sinh, giúp các em thực hiện đúng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Quản lý GD Luật Hôn nhân và gia đình là những tác động có mục đích, có kế hoạch của hiệu trưởng nhà trường tới quá trình GD Luật Hôn nhân và gia đình nhằm đưa hoạt động GD Luật Hôn nhân và gia đình đạt kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất. Đó chính là việc trang bị, bồi dưỡng và nâng cao tri thức pháp luật về hôn nhân và gia đình; hình thành, tạo dựng lòng tin vào pháp luật; xây dựng thói quen vững chắc, xử sự theo những đòi hỏi của pháp luật về Hôn nhân và gia đình cho học sinh Trung học phổ thông.

Như vậy, từ tổng quan trên có thể hiểu: Quản lý giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh Trung học phổ thông là việc đẩy mạnh các biện pháp lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra các hoạt động giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh Trung học phổ thông phù hợp với tâm lý, tình cảm của từng lứa tuổi thông qua các buổi hội thảo, sinh hoạt, hoạt động ngoại khoá, các hội thi, hội diễn văn hóa,… nhằm trang bị cho học sinh kiến thức, xây dựng thói quen và hành vi đúng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

1.3. Lý luận chung về giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh trường Trung học phổ thông Luận văn: Quản lý giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

1.3.1. Mục đích GD Luật Hôn nhân và gia đình

GD Luật Hôn nhân và gia đình nhằm cung cấp các kiến thức về pháp luật và GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh.

Giúp học sinh nhận thức giá trị, ý nghĩa, sự cần thiết của các qui định Luật Hôn nhân và gia đình phù hợp với học sinh.

Giúp học sinh hình thành và nâng cao thái độ, tình cảm, tôn trọng Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh, hình thành niềm tin vào pháp luật của học sinh để giúp cho học sinh có động lực bộc lộ các hành vi pháp luật của cá nhân trước các quy định pháp luật của nhà nước về Hôn nhân và gia đình.

Trên cơ sở cung cấp nhận thức, hình thành niềm tin, thái độ, tình cảm đối với pháp luật của nhà nước nói chung và Luật Hôn nhân và gia đình nói riêng. Công tác GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh trong nhà trường cần phải hình thành cho học sinh thói quen, xử sự và thực hiện, áp dung các hành vi đúng pháp luật, theo pháp luật của nhà nước qui định về Hôn nhân và gia đình đối với học sinh trung học phổ thông. Luận văn: Quản lý giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

1.3.2. Nội dung giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình

Nội dung Giáo dục pháp luật nói chung trong chương trình giáo dục trung học phổ thông trang bị kiến thức ban đầu về quyền, nghĩa vụ của công dân, rèn luyện thói quen, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật.

Đối với giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh trung học phổ thông cần tập trung để: Giáo dục, trang bị cho học sinh một số một số kiến thức trong các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi, nhận thức của các em; các điều, khoản liên quan và có ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ hợp pháp, chính đáng cũng như trách nhiệm của các em trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cụ thể:

Cho học sinh biết được những hiểu biết chung về Hôn nhân và gia đình: Khái niệm Hôn nhân và gia đình; Đối tượng điều chỉnh, phạm vi điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình; Nguyên tắc quy định chế độ hôn nhân và gia đình; Trách nhiệm của Nhà nước và xã hội đối với hôn nhân và gia đình; Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình;

  • Cung cấp các kiến thức pháp luật về hôn nhân:

Điều kiện kết hôn: Tuổi kết hôn của nam, của nữ là bao nhiêu, điều này có tác dụng rất lớn để góp phần tránh tình trạng tảo hôn, nhất là ở khu vực miền núi, tình trạng tảo hôn còn khá phổ biến ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Các điều kiện đi kèm khác khi kết hôn.

Kết hôn trái pháp luật: Cung cấp cho các em những quy định của kết hôn trái pháp luật để tình thành cho các em những hiểu biết về quyền và nghĩa vụ của mình trong việc xử lý kết hôn trái pháp luật; những hậu quả có thể xảy ra nếu kết hôn trái pháp luật.

  • Cung cấp các kiến thức pháp luật về gia đình: Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con gồm: Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ; Quyền và nghĩa vụ của con; Quyền, nghĩa vụ giữa các thành viên khác của gia đình; Quyền, nghĩa vụ của ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; Quyền, nghĩa vụ của anh, chị, em; Quyền, nghĩa vụ của cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột.
  • Cung cấp một số kiến thức pháp luật về: thụ tinh trong ống nghiệm, mang thai hộ, kết hôn có yếu tố người nước ngoài.

1.3.3. Các con đường giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình

Giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh trung học phổ thông được thực hiện thông qua các con đường sau:

  • a) Thông qua hoạt động dạy học Luận văn: Quản lý giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Thông qua môn học giáo dục công dân được thực hiện trong phân phối chương trình:

Lớp 10, Bài 12 – Công dân với tình yêu, Hôn nhân và gia đình: Cho học sinh hiểu khái niệm về Hôn nhân, gia đình; biết các đặc trưng tốt đẹp, tiến bộ của chế độ hôn nhân và gia đình ở nước ta hiện nay; nêu được các chức năng cơ bản của gia đình; phân tích được các mối quan hệ và trách nhiệm của các thành viên trong gia đình.

Lớp 12, Bài 4 – Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội: nội dung quyền bình đẳng của công dân trong lĩnh vực Hôn nhân và gia đình; biết được trách của Nhà nước trong việc đảm bảo quyền bình đẳng của công dân trong lĩnh vực Hôn nhân và gia đình. Đồng thời căn cứ vào nội dung của GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh trung học phổ thông các kiến thức pháp luật về Hôn nhân và gia đình có thể được dạy tích hợp trong các môn học khác như ngữ văn, lịch sử, địa lý, sinh học và các hoạt động ngoại khóa pháp luật để cung cấp, trang bị các nội dung kiến thức về Hôn nhân và gia đình đã nêu ở trên

  • b) Thông qua các hoạt động ngoại khóa (sinh hoạt câu lạc bộ pháp luật, các cuộc thi tìm hiểu pháp luật, tư vấn pháp luật…)

Hoạt động thi tìm hiểu pháp luật trên sân khấu (sân khấu hóa cuộc thi tìm hiểu pháp luật), như: thi giữa các đội, hay các GameShow truyền hình (Rung Chuông vàng, Đường lên đỉnh Olympia…). Đây là hình thức thường được các trường trung học phổ thông sử dụng trong công tác phổ biến, Giáo dục pháp luật. Với hình thức này tạo được không khí vui tươi, phấn khởi và đưa kiến thức pháp luật đến học sinh một cách nhẹ nhàng, không ngượng ép; nội dung Giáo dục pháp luật được nhiều và số lượng học sinh được tìm hiểu, Giáo dục pháp luật đông đảo.

Tổ chức ngoại khóa để xử lí tình huống pháp luật: Đây là hình thức hoạt động giáo viên đưa ra những tình huống pháp luật cụ thể thường gặp phải trong đời sống hàng ngày và yêu cầu học sinh xác định cách giải quyết, xử lí tình huống đó. Việc tổ chức cho học sinh xử lí các tình huống pháp luật sẽ có tác dụng phát triển ở học sinh kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề, giúp các em có thể ứng phó tích cực và phù hợp với các quy định của pháp luật trong các tình huống đa dạng của cuộc sống.

Tư vấn pháp luật cho học sinh: Là hình thức nhà trường hoặc Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phối hợp với các cơ quan như: Tư pháp, Công an, Tòa án, Hội Luật sư địa phương đến nhà trường hoặc các giáo viên với sự hiểu biết của mình, đọc nghiên cứu, trao đổi với người có sự hiểu biết, trình độ chuyên môn về Luật để tư vấn trực tiếp pháp luật cho học sinh góp phần giáo dục, nâng cao hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật học sinh, giúp các em tự nhận diện và bảo vệ mình trước các hành vi vi phạm pháp luật.

  • c) Truyền thông về giáo dục pháp luật (Luật HN & GĐ) cho học sinh

Là hình thức Hiệu trưởng, giáo viên nhà trường trao đổi, chia sẻ thông tin, kiến thức, thái độ và tình cảm giữa thầy, cô giáo và học sinh về Luật Hôn nhân và gia đình, với mục đích làm tăng kiến thức, sự hiểu biết của học sinh để làm thay đổi thái độ và hành vi của học sinh về Hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

  • d) Tủ sách pháp luật trong nhà trường

Tủ sách pháp luật trong trường học là một trong các hình thức giáo dục pháp luật, là một công cụ hữu ích hỗ trợ trong việc tìm hiểu pháp luật, áp dụng pháp luật trong nhà trường cũng như nâng cao hiểu biết, ý thức chấp hành pháp luật cho tất cả mọi người. Việc xây dựng, quản lý, khai thác tủ sách pháp luật rất cần thiết, góp phần nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật của giáo viên, nhân viên và học sinh. Nó cũng là phương tiện cung cấp tư liệu cho giáo viên, học sinh nghiên cứu sử dụng, giải quyết công việc.

1.4. Quản lý GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh trường Trung học phổ thông Luận văn: Quản lý giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

1.4.1. Mục tiêu quản lý GD Luật Hôn nhân và gia đình

Quản lý mục tiêu GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh là làm cho quá trình GD Luật Hôn nhân và gia đình vận hành đồng bộ, theo đúng hướng để đạt mục tiêu đã đề ra nhằm nâng cao chất lượng Giáo dục pháp luật nói chung và GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh nói riêng.

Muốn vậy, phải làm sao cho các đối tượng của quá trình Giáo dục pháp luật (cả chủ thể và khách thể) nắm vững mục tiêu GD Luật Hôn nhân và gia đình của nhà trường, có thái độ ủng hộ và cùng nhau thực hiện để đạt được mục tiêu, các tiêu chí đã đề ra.

1.4.2. Nội dung quản lý GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh Trung học phổ thông

  • Lập kế hoạch GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh Trung học phổ thông

Ở trường trung học phổ thông có nhiều chủ thể tham gia quản lý Giáo dục pháp luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh và giữ các vị trí, với nội dung quản lý khác nhau. Hiệu trưởng nhà trường là chủ thể quản lý chính về công tác Giáo dục pháp luật Hôn nhân và gia đình, thực hiện các chức năng của quản lý: chỉ đạo toàn bộ công tác Giáo dục pháp luật Hôn nhân và gia đình từ lập kế hoạch Giáo dục pháp luật năm học; kế hoạch Giáo dục pháp luật Hôn nhân và gia đình thông qua dạy học các môn học và kế hoạch Giáo dục pháp luật Hôn nhân và gia đình thông qua hoạt động ngoại khóa, hoạt động xã hội.

Xây dựng kế hoạch giáo dục luật Hôn nhân và gia đình là nội dung quản lý đầu tiên, rất quan trọng đối với Hiệu trưởng trường trung học phổ thông khi tổ chức GD Luật Hôn nhân và gia đình. Cần xác định chức năng của kế hoạch, nó có vai trò khởi đầu, định hướng cho toàn bộ hoạt động của quá trình quản lý và là cơ sở huy động tối đa các nguồn lực cho việc thực hiện các mục tiêu GD Luật Hôn nhân và gia đình và là căn cứ để đánh giá quan trọng thực hiện các mục tiêu đó. Chức năng kế hoạch được thể hiện ở 4 hoạt động: Luận văn: Quản lý giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

  • Xác định mục tiêu và phân tích mục tiêu giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình;
  • Xây dựng kế hoạch thực hiện mục tiêu giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình;
  • Triển khai thực hiện kế hoạch giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình;
  • Kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình;

Hiệu trưởng nhà trường chia quá trình thực hiện các nội dung trên thành các bước:

  • Giai đoạn xác định mục tiêu của GD Luật Hôn nhân và gia đình;
  • Giai đoạn lập kế hoạch GD Luật Hôn nhân và gia đình: Đánh giá đúng thực trạng công tác GD Luật Hôn nhân và gia đình của nhà trường để xây dựng mục tiêu và giải pháp thực hiện các mục tiêu đã đề ra;
  • Giai đoạn thực hiện kế hoạch GD Luật Hôn nhân và gia đình: Xem xét khi thực hiện có cần điều chỉnh không? Nếu có thì điều chỉnh như thế nào? Mục tiêu nào cần hạ thấp, mục tiêu nào cần nâng cao? Giải pháp thực hiện có cần thay thế? Nguồn lực nào cần bổ sung?
  • Giai đoạn đánh giá, tổng kết thực hiện kế hoạch GD Luật Hôn nhân và gia đình của Hiệu trưởng: So sánh mục tiêu của kế hoạch với kết quả đã đạt được? Những kết quả nào chưa đạt được? Những điểm cần rút kinh nghiệm khi thực hiện kế hoạch?

Tổ chức GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh Trung học phổ thông:

Tổ chức GD Luật Hôn nhân và gia đình của HT là quá trình xác định các thành phần tham gia GD Luật Hôn nhân và gia đình, xác định mối quan hệ giữa các thành phần tham gia GD Luật Hôn nhân và gia đình, nhằm làm cho hoạt động GD Luật Hôn nhân và gia đình thực hiện có hiệu quả, đạt được mục tiêu GD Luật Hôn nhân và gia đình đặt ra.

  • Nội dung công tác tổ chức bộ máy GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh trung học phổ thông bao gồm:

Xác định các lực lượng tham gia quản lý GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh trong nhà trường bao gồm: các lực lượng trong nhà trường, như HT cùng Ban Giám hiệu, các tổ chức chính trị trong nhà trường như: công đoàn, đoàn thành niên… và các lực lượng ngoài nhà trường như: công an, tư pháp, các ban ngành đoàn thể…

Xây dựng nhiệm vụ của từng bộ phận trong cơ cấu tổ chức tham gia GD Luật Hôn nhân và gia đình. Xác định nhiệm vụ cụ thể của HT cùng Ban giám hiệu. Nhiệm vụ và nội dung công việc cụ thể của tác tổ chức chính trị trong nhà trường trong công tác GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh: Hiệu trưởng là lãnh đạo cao nhất của nhà trường trực tiếp quản lý GD Luật Hôn nhân và gia đình trong nhà trường phổ thông; triển khai các chủ trương, chính sách về Giáo dục pháp luật nói chung và GD Luật Hôn nhân và gia đình nói riêng của Đảng và Nhà nước; giao nhiệm vụ cho các lực lượng tham gia GD Luật Hôn nhân và gia đình trong nhà trường. Các PHT giúp việc cho HT và thừa ủy quyền của HT tổ chức GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh. Các tổ chức chính trị như công đoàn, đoàn thanh niên, thông qua sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền, tham gia GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh, tổ chức GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh.

Xây dựng cơ chế làm việc, tổ chức phối hợp điều hành hoạt động GD Luật Hôn nhân và gia đình: Cơ chế làm việc giữa các bộ phận giáo dục trong nhà trường: HT – PHT – Tổ trưởng chuyên môn – GV chủ nhiệm lớp; cơ chế làm việc với các tổ chức chính trị trong nhà trường. Việc xác định được chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận cụ thể và thiết lập được cơ chế làm việc, quản lý GD Luật Hôn nhân và gia đình trong nhà trường và với ngoài nhà trường sẽ là điều kiện đảm bảo để hoạt động GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh đạt kết quả. Luận văn: Quản lý giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Xác định các lực lượng tham gia công tác GD Luật Hôn nhân và gia đình và tổ chức tập huấn cho giáo viên cùng các lực lượng tham gia GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh về các nội dung, hình thức, phương pháp… GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh.

  • Chỉ đạo GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh Trung học phổ thông

Trên cơ sở các nội dung GD Luật Hôn nhân và gia đình học sinh đó là: Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Giáo dục, Luật Trẻ em… khi tổ chức GD Luật Hôn nhân và gia đình, chủ thể quản lý chịu trách nhiệm chính trong công tác lập kế hoạch. Việc lập kế hoạch giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình được thực hiện theo từng năm học trên cơ sở định hướng và chỉ đạo Sở Giáo dục và Đào tạo, xây dựng kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện nhà trường. Trong quá trình thực hiện cần thực hiện tổ chức chỉ đạo một số nội dung:

  • a) Chỉ đạo các hình thức giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình

Chỉ đạo hình thức và phương pháp giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình nhằm làm cho việc tổ chức và triển khai các hoạt động giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình diễn ra một cách khoa học, phù hợp với điều kiện thực tế, đảm bảo thực hiện nội dung giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình để đạt mục tiêu.

Việc lựa chọn hình thức và phương pháp giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình phải được dựa trên mục tiêu và nội dung đã xác định, đồng thời phải đảm bảo đúng nguyên tắc giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình.

1.4.3 Chỉ đạo các lực lượng trong giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình

  • Cơ sở vật chất Luận văn: Quản lý giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Chỉ đạo cơ sở vật chất gồm các nội dung chủ yếu sau: phân tích thực trạng; đánh giá nhu cầu; xây dựng kế hoạch sử dụng, bảo quản, bổ sung, mua sắm mới; chỉ đạo việc sử dụng có hiệu quả thiết bị dạy học, công năng phòng học bộ môn… nhằm tổ chức hoạt động giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình đạt mục tiêu, nội dung đề ra.

  • Tài chính

Chỉ đạo lập kế hoạch về kinh phí phục vụ cho giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình bao gồm: xác định các mục cần sử dụng kinh phí trong giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình; đánh giá thực tiễn việc sử dụng kinh phí trong công tác giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình của nhà trường hiện nay (mặt mạnh, yếu và nguyên nhân); lập các bảng kế hoạch cụ thể về sử dụng kinh phí thu chi trong giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình…

Chỉ đạo sử dụng kinh phí và cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình: ra các quyết định, văn bản chi tiêu nội bộ về kinh phí và cơ sở vật chất cho giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình; xác định các bộ phận, các hạng mục với các nội dung kinh phí và cơ sở vật chất khác ..

Hiệu trưởng phải trực tiếp phụ trách công tác này (chủ tài khoản). Kế toán nhà trường phối hợp với Thủ quỹ và Bí thư Đoàn trường giúp việc cho Hiệu trưởng.

  • Nguồn nhân lực tham gia giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình

Nguồn nhân lực của trường phổ thông là lực lượng giáo viên, nhân viên với năng lực chuyên môn của từng người tham gia vào các hoạt động của nhà trường và công tác giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh.

Chỉ đạo phân công và giao nhiệm vụ giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho các chủ thể quản lý khác trong nhà trường và các lực lượng tham gia giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh; cụ thể hóa và ra các quyết định thực hiện công tác phổ biến Giáo dục pháp luật nói chung và giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình nói riêng.

  • c) Chỉ đạo công tác phối kết hợp giữa các lực lượng tham gia

Chỉ đạo trong việc phối hợp với các chủ thể quản lý ngoài nhà trường tham gia GD Luật Hôn nhân và gia đình, bởi vì tham gia GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh trung học phổ thông bên cạnh nhà trường còn có các lực lượng ngoài xã hội. Vì vậy có các chủ thể quản lý khác như Ban đại diện Cha mẹ học sinh, các tổ chức đoàn thể trong xã hội… khu vực nhà trường và chịu sự chi phối các yếu tố xã hội bên ngoài. Trong các quan hệ này hiệu trưởng nhà trường đóng vai trò chính, chỉ đạo thống nhất các chủ thể quản lý trong công tác GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh

  • Kiểm tra đánh giá GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh ở trường Trung học phổ thông

Kiểm tra, giám sát toàn bộ công việc của các chủ thể quản lý khác (Phó Hiệu trưởng, Bí thư Đoàn trường, Tổ trưởng chuyên môn, giáo viên chủ nhiệm…) và thực hiện kế hoạch giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh trung học phổ thông trong nhà trường. Kiểm tra là công việc diễn ra ở mọi giai đoạn trong quá trình quản lý nhằm vào việc đánh giá tiến độ, nhịp độ của quá trình quản lý so với kế hoạch xác định mức độ đạt được so với mục tiêu đề ra, kịp thời phát hiện sai sót, khuyết điểm cần khắc phục đồng thời phát hiện những vấn đề mới nảy sinh để tìm biện pháp giải quyết; rút ra những bài học kinh nghiệm cho quá trình quản lý tiếp theo đạt hiệu quả cao hơn. Luận văn: Quản lý giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

  • Lập kế hoạch kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình.
  • Xây dựng một số tiêu chí, tiêu chuẩn để kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình. Các tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá phù hợp với nội dung kiểm tra đánh giá.
  • Lực lượng tham gia kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện: Sở Giáo dục và Đào tạo, Hội đồng PBGDPL tỉnh, Sở Tư pháp, các ban ngành đoàn thể là thành viên Ban Chỉ đạo về thực hiện Đề án “Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, Giáo dục pháp luật trong nhà trường”, Lãnh đạo các trường bạn, Lãnh dạo nhà trường, đại biểu dự Cuộc thi tìm hiểu giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình…
  • Hình thức và phương pháp kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình: Thành lập đoàn kiểm tra, kiểm tra trực tiếp thông qua làm việc với nơi được kiểm tra; nghiên cứu các báo cáo kết quả hoạt động giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình; nghiên cứu các sản phẩm tổ chức các hoạt động giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình…; kiểm tra các công tác trước, trong và sau khi có hoạt động giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình.

Công tác kiểm tra, đánh giá nhằm tăng cường kỷ cương, nền nếp hoạt động trong nhà trường, nâng cao ý thức trách nhiệm của giáo viên, khuyến khích giáo viên, học sinh nâng cao chất lượng Giáo dục pháp luật nói chung và GD Luật Hôn nhân và gia đình nói riêng. Kết quả công tác kiểm tra, đánh giá sẽ là căn cứ để đề xuất, điều chỉnh, xây dựng kế hoạch quản lý giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh đạt hiệu quả trong những năm học tiếp theo và đề xuất, kiến nghị với cấp trên những vướng mắc, khó khăn khi thực hiện.

1.5. Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh trung học phổ thông Luận văn: Quản lý giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

1.5.1. Đặc điểm nhận thức, tâm sinh lý lứa tuổi học sinh trung học phổ thông

Học sinh trung học phổ thông có lứa tuổi từ 14,15 – 18,19, ở lứa tuổi này: các em đang hình thành và phát triển mạnh mẽ những phẩm chất nhân cách có ý nghĩa rất lớn đối với việc tự giáo dục, tự hoàn thiện bản thân theo hướng tích cực như khả năng tự đánh giá, lòng tự trọng, tự tin…; khả năng tư duy và nhận thức cũng sẽ dần được hoàn thiện trong quá trình học tập và rèn luyện cá nhân.

Đây là lứa tuổi mộng mơ, khao khát sáng tạo, thích cái mới lạ, chuộng cái đẹp, hình thức bên ngoài, rất hăng hái nhiệt tình trong công việc, lạc quan yêu đời nhưng cũng rất dễ bi quan chán nản khi gặp thất bại. Vì vậy, đây cũng là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh. Do đó, Giáo dục pháp luật nói chung và GD Luật Hôn nhân và gia đình nói riêng cho học sinh là một quá trình lâu dài đòi hỏi tính liên tục, chính vì vậy ở lứa tuổi này cần có những phương pháp giáo dục phù hợp để giúp các em tích cực phấn đầu rèn luyện, tu dưỡng để các em từ chỗ là đối tượng giáo dục dần trở thành chủ thể giáo dục.

Vì vậy, công tác Giáo dục pháp luật nói chung và Luật Hôn nhân và gia đình nói riêng cho học sinh việc giáo viên nắm vững một số đặc điểm tâm lí của học sinh thì sẽ đạt được mục tiêu đề ra và phát huy hiệu quả cao hơn.

1.5.2. Môi trường xã hội

Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định; kinh tế, văn hóa xã hội; phong tục, tập quán… ở các cấp độ khác nhau như: Quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể… Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, có thể tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển hoặc làm ảnh hưởng tới sự phát triển.

Dưới góc độ Giáo dục pháp luật, môi trường được hiểu như nơi diễn ra các hành vi pháp luật của học sinh nhưng đồng thời cũng là yếu tố chi phối công tác Giáo dục pháp luật và quản lý Giáo dục pháp luật cho học sinh. Nếu như nhà quản lý xác định được mối quan hệ giữa môi trường xã hội bên ngoài với công tác quản lý Giáo dục pháp luật, để từ đó tận dụng ảnh hưởng tích cực xã hội đến công tác quản lý Giáo dục pháp luật, thì sẽ nâng cao được chất lượng, hiệu quả của công tác Giáo dục pháp luật. Đối với Giáo dục pháp luật nói chung và GD Luật Hôn nhân và gia đình thì môi trường kinh tế, văn hóa xã hội có ảnh hưởng rất nhiều đến quản lý Giáo dục pháp luật trong nhà trường.

1.5.3. Điều kiện sống của học sinh Luận văn: Quản lý giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Điều kiện sống của học sinh đa phần còn chịu ảnh hưởng của một số hủ tục, lạc hậu; khó khăn về kinh tế, kinh tế gia đình chủ yếu làm nông là chính; phần đa trình độ nhận thức còn hạn chế, ít quan tâm để việc học tập của con cũng như việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình nên thường đông con dẫn đến kinh tế đã khó lại càng khó khăn hơn; những gia đình có con đã đủ tuổi đến trường nhưng phải phụ giúp cha mẹ để chăm em, lên nương rẫy để thu hoạch nông sản hoặc làm thuê, làm mướn để kiếm thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình, khi đến mùa thu hoạch nông sản thì các em hầu như là lao động chính trong gia đình. Giao thông đi lại tại địa phương miền núi rất khó khăn, có nhiều nơi hiểm trở, đặc biệt là mùa mưa lũ, các đoạn đường thường sạt lở, lầy lội cũng là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng các em bỏ học; địa điểm từ nhà đến trường là quãng đường khá xa, rất ít phương tiện đi lại nên các em nản chí không muốn đến trường. Nhiều gia đình của các em học sinh thiếu trách nhiệm quan tâm, nhắc nhở các em đến trường, không ít bậc phụ huynh cố tình bắt các em nghỉ học để phụ giúp gia đình; khi các em bỏ học, giáo viên chủ nhiệm phải vào tận nhà để vận động nhưng kết quả các em đi học trở lại là rất thấp vì các em thường chạy trốn, né tránh và không chịu gặp, còn phụ huynh các em không muốn cho con đi học nên thường nói thẳng mục đích và không chịu hợp tác trong việc động viên các em đi học. Tình hình chính trị, anh ninh ổn định, tuy nhiên một số nơi hẻo lãnh, giáp biên giới còn xảy ra tình trạng bắt cóc thanh niên nữ; có nơi các em đến trường luôn phải chịu sự bất ổn về mâu thuẫn giữa các xóm làng từu thế hệ trước để lại.

Với điều kiện sống như vậy, công tác Giáo dục pháp luật công tác Giáo dục pháp luật nói chung và GD Luật Hôn nhân và gia đình gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, khi Giáo dục pháp luật giáo viên cần chú ý tới điều kiện sống của học sinh, như đối với việc Giáo dục pháp luật bằng hình thức ngoại khóa cần chú ý về mặt thời gian, cũng như phân công học sinh cho hợp lý để thu hút được đông đảo học sinh có thể tham gia nhiều nhất, góp phần vào việc nâng cao chất lượng và mục tiêu của Giáo dục pháp luật.

1.5.4. Năng lực quản lý và nhận thức về công tác giáo dục pháp luật cho học sinh của nhà quản lý

Hiệu trưởng là người đứng đầu và chịu trách nhiệm trước các cơ quan Đảng, chính quyền và các cơ quan quản lý về chất lượng và hiệu quả của cơ sở giáo dục mà mình đang quản lý. Hiệu trưởng trường trung học phổ thông có nhiệm vụ và quyền hạn được quy định trong Điều lệ trường trung học cơ sở, trung học phổ thông và trường trung học có nhiều cấp học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Luận văn: Quản lý giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Người Hiệu trưởng phải thực hiện nhiều nhiệm vụ, do đó đòi hỏi người Hiệu trưởng phải có năng lực dự báo, thiết kế, xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, năng lực quản lý hành chính, năng lực làm việc khoa học, năng lực tổng kết rút kinh nghiệm, nghiên cứu khoa học, năng lực kiểm tra các mặt công tác và năng lực chỉ đạo triển khai các hoạt động giáo dục trong nhà trường.

Công tác Giáo dục pháp luật nói chung và GD Luật Hôn nhân và gia đình có đạt được hiệu quả hay không là phụ thuộc phần lớn vào nhận thức, trình độ tổ chức và năng lực triển khai các hoạt động trong thực tiễn của Hiệu trưởng. Người Hiệu trưởng phải nhận thức đúng đắn rằng Giáo dục pháp luật trong xã hội hiện nay là một vấn đề khó nhưng cấp thiết và cần có sự chung tay của nhiều cấp, nhiều ngành. Người Hiệu trưởng có năng lực trong việc chỉ đạo triển khai hoạt động Giáo dục pháp luật như:

Thành lập Ban Chỉ đạo, Ban Tổ chức, triển khai Kế hoạch Giáo dục pháp luật trong toàn thể lãnh đạo, giáo viên, học sinh và cha mẹ học sinh của nhà trường.

Cụ thể hoá các nội dung và biện pháp chỉ đạo cho sát với thực tiễn của nhà trường, phân công rõ trách nhiệm cho từng các lãnh đạo quản lý khác, các tổ chức đoàn thể và giáo viên, công nhân viên trong nhà trường tham gia chỉ đạo thực hiện kế hoạch.

Tổ chức hội nghị với cha mẹ HS của trường triển khai Kế hoạch và bàn biện pháp thực hiện Kế hoạch; tổ chức cho cha mẹ HS ký cam kết không vi phạm pháp luật như không vi phạm luật giao thông, không tham gia các hoạt động vi phạm pháp luật. Với năng lực chỉ đạo triển khai hoạt động giáo dục như vậy sẽ giúp cho công tác Giáo dục pháp luật trong các trường trung học phổ thông đạt kết quả tốt.

1.5.5. Sự hiểu biết về pháp luật, nhận thức và ý thức trách nhiệm của đội ngũ giáo viên đối với công tác giáo dục pháp luật cho học sinh Luận văn: Quản lý giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Giáo viên vừa là chủ thể quản lý nhưng đồng thời là người tổ chức trực tiếp, chịu trách nhiệm trực tiếp trong hoạt động Giáo dục pháp luật cho học sinh trong nhà trường. Kiến thức về pháp luật, cũng như nhận thức và trách nhiệm của giáo viên với việc thực hiện công tác Giáo dục pháp luật nói chung và công tác GD Luật Hôn nhân và gia đình nói riêng có vai trò quyết định đối với công tác GD Luật Hôn nhân và gia đình và quản lý GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh. Nếu như người giáo viên có ý thức trách nhiệm cao và nhận thức đúng, sâu sắc về công tác Giáo dục pháp luật và quản lý Giáo dục pháp luật thì hiệu quả của công tác quản lý GD Luật Hôn nhân và gia đình sẽ được nâng cao.

Ngoài ra với công tác GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh Trung học phổ thông giáo viên cần phải hiểu biết nhiều về phong tục tập quán ở địa phương nơi công tác; nắm được tâm lý, tình cảm của học sinh; gần gũi, thân thiết với học sinh; giáo viên cũng cần học và sử dụng tiếng dân tộc để giao tiếp cơ bản với học sinh và phụ huynh học sinh.

1.5.6. Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác Giáo dục pháp luật

Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác Giáo dục pháp luật pháp luật nói chung và GD Luật Hôn nhân và gia đình nói riêng bao gồm: Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác Giáo dục pháp luật gồm: sách giáo khoa, sách tham khảo (sách pháp luật, hỏi – đáp pháp luật, cẩm nang bỏ túi…), tài liệu tham khảo, đồ dùng dạy học, tranh ảnh; máy tính, phần mềm, máy chiếu, tăng âm, loa đài, micro, pa nô, áp phích… và tài chính.

Cơ sở vật chất, trang thiết bị là một trong những nhân tố quan trọng tác động tích cực tới việc đảm bảo và nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường nói chung và công tác Giáo dục pháp luật nói riêng. Điều kiện, chất lượng của hệ thống cơ sở vật các trường trung học phổ thông chất gắn chặt với chất lượng giáo dục, vì thế việc đầu tư, hiện đại hóa hệ thống cơ sở vật chất là đòi hỏi cấp thiết trong gia đoạn hiện nay. Nếu các trường trung học phổ thông có đầy đủ, chất lượng cơ sở vật chất, phương tiện dạy học, sách, tài liệu tham khảo… phục vụ công tác Giáo dục pháp luật thì chất lượng Giáo dục pháp luật của các trường trung học phổ thông đó sẽ được đảm bảo và nâng cao.

Kết luận Chương 1 Luận văn: Quản lý giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Quản lý giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh Trung học phổ thông là việc đẩy mạnh các biện pháp lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra các hoạt động giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh Trung học phổ thông phù hợp với tâm lý, tình cảm của từng lứa tuổi thông qua các buổi hội thảo, sinh hoạt, hoạt động ngoại khoá, các hội thi, hội diễn văn hóa,… nhằm trang bị cho học sinh kiến thức, xây dựng thói quen và hành vi đúng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

GD Luật Hôn nhân và gia đình nhằm cung cấp các kiến thức về pháp luật và GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh. Giúp học sinh nhận thức giá trị, ý nghĩa, sự cần thiết của các qui định Luật Hôn nhân và gia đình phù hợp với học sinh.

Nội dung quản lý GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh Trung học phổ thông bao gồm (1). Lập kế hoạch GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh Trung học phổ thông; (2) Tổ chức GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh Trung học phổ thông; (3) Chỉ đạo GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh Trung học phổ thông; (4) Kiểm tra đánh giá GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh ở trường Trung học phổ thông.

Quản lý giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố chủ yếu: Đặc điểm nhận thức, tâm sinh lý lứa tuổi học sinh trung học phổ thông; Môi trường xã hội; Điều kiện sống của học sinh; Năng lực quản lý và nhận thức về công tác giáo dục pháp luật cho học sinh của nhà quản lý; Sự hiểu biết về pháp luật, nhận thức và ý thức trách nhiệm của đội ngũ giáo viên đối với công tác giáo dục pháp luật cho học sinh; Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác Giáo dục pháp luật. Luận văn: Quản lý giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT.

Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong Chương 1 tạo nên khung lý thuyết đảm bảo cho Tác giả Luận văn có cơ sở lý luận để tiến hành khảo sát, điều tra thực trạng công tác Giáo dục pháp luật và quản lý Giáo dục pháp luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh các trường Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Cao Bằng sẽ được trình bày ở Chương 2 của Luận văn.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT

One thought on “Luận văn: Quản lý giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT

  1. Pingback: Luận văn: Biện pháp giáo dục Luật HN&GĐ học sinh trường THPT

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464