Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện về ý chí của chủ thể dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1 CÁC TRƯỜNG HỢP GIAO DỊCH DÂN SỰ VI PHẠM SỰ TỰ NGUYỆN VỀ Ý CHÍ CỦA CHỦ THỂ
Dựa vào nguyên nhân của sự vi phạm, thì giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện về ý chí của chủ thể được chia thành các loại sau: giao dịch dân sự do nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, giả tạo và giao dịch dân sự được xác lập do người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.
2.1.1. Giao dịch dân sự nhầm lẫn
Theo nghĩa thông thường, “nhầm lẫn” là sự nhận thức hay đánh giá không đúng của chủ thể về thực tế sự vật, sự việc; là “tưởng nó là thế này nhưng thực chất nó là thế khác”. Trong đời sống thường nhật, nhầm lẫn là khả năng mà ai cũng có thể gặp phải. Đôi khi nhầm lẫn không gây ra hậu quả mà có thể tạo cơ hội tốt chẳng hạn có được thêm bạn, nhưng nhiều lúc hậu quả sẽ rất nặng nề như việc nhầm xăng với nước khi dập đám cháy.
Trong khoa học pháp lý, có nhiều cách hiểu khác nhau về nhầm lẫn. Có cách hiểu cho rằng nhầm lẫn là sự thể hiện không chính xác ý muốn đích thực của các bên, hay nói cách khác đó là “sự không trùng khớp giữa ý chí được thể hiện với mong muốn thật của người thể hiện ý chí” [24, tr. 283]. Cũng có cách hiểu cho rằng nhầm lẫn là một giả thiết sai lầm liên quan đến sự việc hoặc luật lệ tồn tại vào thời điểm xác lập giao dịch, hoặc nhầm lẫn là sự không phù hợp giữa niềm tin và thực tế, nói cách khác là cái nghĩ trong đầu khác với cái xảy ra trong thực tế. Dù cách thể hiện bằng ngôn ngữ có khác nhau nhưng nội dung của khái niệm nhầm lẫn về cơ bản được hiểu như nhau, đó là sự không phù hợp giữa sự thể hiện ý chí của chủ thể với thực tế của sự việc.
Để xem xét một cách chính xác có yếu tố “nhầm lẫn” trong khi xác lập giao dịch dân sự, ta cần nhìn nhận sự “nhầm lẫn” ở hai khía cạnh:
- Ở khía cạnh khách quan, người ta phải đặt một người bình thường vào vị trí của người tin nhầm để xác định trong hoàn cảnh tương tự người đó có nhận thức, đánh giá như thế nào về nội dung của giao dịch. Từ đó, đánh giá xem sự tin nhầm liệu có phải là vô lý hay khó chấp nhận không?
- Ở khía cạnh chủ quan, người ta cần xem xét mối quan hệ giữa sự nhầm lẫn của người đó trong mối tương quan với khả năng nhận thức, năng lực chuyên môn của người đó. Từ đó, đánh giá xem sự tin nhầm của người đó có phải là từ sự cẩu thả, sơ suất hay không?
Theo pháp luật nước ta, nhầm lẫn có thể là một căn cứ tuyên giao dịch dân sự bị vô hiệu. Theo Điều 131 Bộ luật dân sự 2005:
Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu. Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này [35, Điều 131].
Dựa vào tinh thần điều luật trên, Giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội cho rằng: “Nhầm lẫn là việc các bên hình dung sai về nội dung của giao dịch mà tham gia vào giao dịch gây thiệt hại cho mình hoặc cho bên kia” [49, tr.27]. Và đưa ra các điều kiện để giao dịch dân sự xác lập do nhầm lẫn bị vô hiệu bao gồm: Phạm vi của nhầm lẫn là nội dung giao dịch và đối tượng của sự việc; Sự nhầm lẫn phải gây ra thiệt hại cho một trong các bên, phải được thể hiện rõ ràng, phải xác định được căn cứ vào nội dung giao dịch, bên bị nhầm lẫn phải chứng minh được sự nhầm lẫn đó [49, tr. 27].
Dân luật Nhật Bản phân biệt nhầm lẫn trong giao dịch dân sự làm ba loại: (1) Nhầm lẫn trong sự thể hiện là sự nhầm lẫn về các điểm chú thích hoặc con số (ví dụ: thay vì 10 đô la lại viết thành 10 bảng Anh). (2) Nhầm lẫn về nội dung (ví dụ: cho rằng đơn vị dặm thường và đơn vị dặm biển là một). (3) Nhầm lẫn về động cơ. Trong đó, nhầm lẫn về nội dung chủ yếu dẫn đến tính vô hiệu của giao dịch [53, tr. 136]. Như vậy, dân luật Nhật Bản khá tương đồng về sự nhầm lẫn gây ra việc vô hiệu của giao dịch dân sự với luật Việt Nam. Luận văn: Pháp luật về Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.
Luật La Mã phân nhầm lẫn thành 5 loại [5]. Bao gồm:
- Nhầm lẫn về đối tượng (error in corpore): là nhầm lẫn về sự vật, công việc làm đối tượng của giao dịch.
- Nhầm lẫn về bản chất pháp lý của giao dịch (error in negoto): là nhầm lẫn giữa hai loại giao dịch có bản chất pháp lý khác nhau. Ví dụ: nhầm hợp đồng gửi giữ và hợp đồng tặng cho tài sản.
- Nhầm lẫn về bản chất đồ vật (error in substantia): là nhầm lẫn về thực chất của đồ vật.
- Nhầm lẫn về người (error in persona): là việc xác lập giao dịch dân sự với người này lại tưởng nhầm giao kết với người khác.
Nhầm lẫn về giá cả.
Bộ luật dân sự Bắc Kì 1931 và bộ luật dân sự Trung Kì 1936 chia nhầm lẫn thành hai loại:
- Nhầm lẫn cản trở là sự nhầm lẫn cản trở sự thống nhất ý chí giữa các bên. Bao gồm: nhầm lẫn bản chất giao dịch, đối tượng giao dịch, người đối ước, nguyên nhân giao dịch. Nhầm lẫn cản trở là cả hai người đều hiểu lầm ý của nhau, vì thế không thể có sự thống nhất ý chí các bên.
- Nhầm lẫn khiếm khuyết là khi các bên chủ thể đều phù hợp với nhau trên các điểm chính, nhưng thật ra một bên đã đồng ý cam kết bị nhầm lẫn trên một vài điểm của giao dịch. Trường hợp này giao dịch được thiết lập hợp pháp với đủ các yếu tố, nhưng để bảo vệ quyền lợi của chủ thể giao kết pháp luật cho phép bên bị nhầm lẫn được khởi kiện xin hủy hợp đồng [1, tr. 32].
Người ta cũng có thể dựa trẽn tiêu chí một hay nhiều người tham gia vào sự nhầm lẫn để phân loại nhầm lẫn như sau:
- Nhầm lẫn đơn phương là khi một bên bị nhầm lẫn và bên khác biết sự nhầm lẫn đó. Ví dụ, A bán cho B một nhẫn kim cương, B tin đó là kim cương tự nhiên. A biết rằng đó không phải là kim cương tự nhiên và biết B nhầm.
- Nhầm lẫn đối với nhau là khi các bên chủ thể đều bị hiểu nhầm nhưng là hiểu nhầm về các vấn đề khác nhau. Ví dụ: A tưởng B cho mình chiếc xe máy trong khi đó là hợp đồng gửi giữ. B lại nghĩ mình xác lập hợp đồng gửi giữ không công.
- Nhầm lẫn chung là khi các bên chủ thể có cùng một nhầm lẫn về một hoặc một số vấn đề. Sự nhầm lẫn này khiến cho các chủ thể đã xác lập giao dịch. Mỗi bên giao dịch đều xác lập giao dịch khác với ý chí thực của mình.
Vấn đề nhầm lẫn không loại trừ các giao dịch dân sự mang yếu tố nước ngoài. Loại giao dịch này có đặc thù là vượt ra khỏi biên giới mỗi quốc gia. Do đó vấn đề áp dụng pháp luật nước nào để điều chỉnh là khá phức tạp và ảnh hưởng khá lớn đến quyền lợi của chủ thể. Điều 3.4 Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế quy định: “Nhầm lẫn là một nhận thức nhầm liên quan tới các sự kiện hoặc pháp luật đang tồn tại khi hợp đồng được giao kết”. Theo đó nhầm lẫn gồm:
- Nhầm lẫn về sự kiện (mistake of fact) là sự hiểu sai về nội dung sự việc.
- Nhầm lẫn về luật (mistake of law) là sự hiểu sai về luật áp dụng đưa đến một cam kết không đúng với mong muốn của chủ thể. Và chỉ có nhầm lẫn về sự kiện mới làm giao dịch vô hiệu. Nhầm lẫn về luật sẽ không làm giao dịch dân sự không phát sinh hậu quả pháp lý. Bởi theo nguyên tắc thì không ai được xem là không biết luật. Trừ khi đương sự chứng minh được trước Tòa án rằng rơi vào trường hợp cho là không biết pháp luật nước ngoài hoặc được cho là không biết các quyền tư thậm chí chúng là các quyền có tính pháp lý. Luận văn: Pháp luật về Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.
Tóm lại:
Bộ luật dân sự 2005 không đưa ra khái niệm về nhầm lẫn mà chỉ đưa ra sự nhầm lẫn đơn phương là yếu tố dẫn đến sự vô hiệu của giao dịch dân sự. Tuy nhiên, thực tế hiện nay có rất nhiều trường hợp giao dịch dân sự được xác lập do sự nhầm lẫn của cả hai bên tham gia mà pháp luật nước ta lại không điều chỉnh.
Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đơn phương hoặc hợp đồng, như chúng ta đã biết đòi hỏi mang tính cốt lõi của hợp đồng là sự thể hiện ý chí chung. Trong trường hợp cả hai bên nhầm lẫn về nội dung của hợp đồng thì rõ ràng không có sự trùng khớp ý chí chung đích thực của cả hai bên với những gì họ thể hiện trong nội dung cam kết. Vì vậy, không thể coi sự nhầm lẫn song phương là yếu tố có thể dẫn đến vô hiệu giao dịch dân sự.
Bộ luật dân sự 2005 không quy định mức độ nhầm lẫn như thế nào thì sẽ dẫn đến vô hiệu giao dịch dân sự. Vì vậy có thể hiểu rằng bất kì một nhầm lẫn nào về nội dung của giao dịch (cho dù sự nhầm lẫn đó mang tính chất quyết định hay không mang tính chất quyết định đến việc giao kết hợp đồng) đều có thể dẫn đến hợp đồng vô hiệu.
Bộ luật dân sự 1995 có cách tiếp cận khác về sự nhầm lẫn trong giao dịch dân sự. Điều 141 quy định: “khi một bên do nhầm lẫn về nội dung chủ yếu của giao dịch mà xác lập giao dịch…” [31, Điều 141]. Như vậy, Bộ luật dân sự 1995 chỉ coi các nhầm lẫn về nội dung chủ yếu của hợp đồng là yếu tố có thể dẫn tới sự vô hiệu. Như vậy, so với luật trước đó, Bộ luật dân sự 2005 đã sửa đổi lại theo hướng: giao dịch có thể bị tuyên bố vô hiệu ngay cả khi chỉ có sự nhầm lẫn về nội dung không chủ yếu của giao dịch.
Nhầm lẫn phải tồn tại ở thời điểm “xác lập giao dịch”. Điều đó có nghĩa là “nhận thức” của bên nhầm lẫn về nội dung của hợp đồng và “sự thật” về nội dung này phải được xác định tại thời điểm “xác lập giao dịch”. Tại thời điểm này chúng ta phải biết cụ thể “nhận thức” của bên cho rằng nhầm lẫn là gì và “thực sự” về nội dung của hợp đồng tại thời điểm này như thế nào. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là chúng ta không được sử dụng những thông tin nảy sinh sau thời điểm này. Trong thực tế chúng ta thường phải khai thác những thông tin phát hiện sau để biết giao dịch dân sự có nhầm lẫn hay không. Nhận thức của một người đối với một sự việc có thể thay đổi theo thời gian nên thời điểm nhận thức của họ cần phải xác định một cách chính xác. Như đã nói ở trên, phải xác định nhận thức này vào thời điểm giao kết hợp đồng.
Nhầm lẫn được xác định do lỗi vô ý. Điều 141 Bộ luật dân sự 1995 quy định về nhầm lẫn đã không xác định yếu tố lỗi khi xác lập giao dịch. Tuy nhiên, Bộ luật dân sự 2005 lại có sự sửa đổi theo hướng phân biệt trường hợp nhầm lẫn khi tham gia giao dịch dân sự do sự vô ý hoặc do sự cố ý của một bên như sau:
Nếu một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu. Luận văn: Pháp luật về Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.
Nếu một bên có lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự thì giao dịch đó được giải quyết theo quy định tại điều 132 của Bộ luật dân sự 2005, hay có thể xác định đây là một giao dịch bị lừa dối.
Nhầm lẫn có thể là yếu tố dẫn đến hợp đồng vô hiệu khi bên nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó nhưng không được chấp nhận. Ví dụ: A bán một chiếc bình cổ đời nhà Thanh cho B với giá 50 triệu đồng. Nhưng sau khi bán A mới biết đó là bình cổ đời nhà Minh và có giá lên tới 100 triệu đồng. A đã yêu cầu B đưa thêm cho mình 50 triệu đồng đúng với giá trị thực của chiếc bình. Nếu yêu cầu của A không được chấp nhận thì A có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
2.1.2. Giao dịch dân sự lừa dối
Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, “lừa dối” là lừa bằng thủ đoạn nói dối, gian lận để làm cho người ta nhầm tưởng mà nghe theo, tin theo [52, tr. 1068]. Về mặt khái niệm, lừa dối là thủ đoạn có tính toán trước của người này đối với người khác nhằm làm cho người bị lừa dối hiểu sai vấn đề mà quyết định một việc gì đó theo mục đích của người lừa dối.
Thuật ngữ pháp lý “lừa dối” được hình thành từ thời La Mã. Cổ luật La Mã lúc đầu coi lừa dối như một tội phạm hình sự, theo đó những kẻ lừa dối sẽ bị trừng phạt đối với những sự lừa dối mang tính quan trọng. Dần dần lừa dối đã được sử dụng trong lĩnh vực dân sự và xem nó như một trong các yếu tố có thể làm cho hợp đồng vô hiệu. Tuy nhiên, Luật La Mã coi quyền yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu chỉ có thể hành xử khi sự lừa dối xuất phát từ người đối ước, chứ không do một người thứ ba [42].
Quan niệm này cũng được cổ luật Việt Nam kế thừa. Điều 659 Bộ luật dân sự Bắc Kỳ 1931 quy định: “khi nào có một bên lập mưu đánh lừa bên kia, đến nỗi giá không có mưu đó bên kia không giao ước thì sự đánh lừa đó là một duyên cớ làm cho hiệp ước vô hiệu”. Bộ luật dân sự Trung Kỳ 1936 nhắc lại nguyên văn tại điều thứ 695. Điều 668 Bộ luật dân sự 1972 diễn giải lại với nội dung tương tự: “sự gian trá chỉ là một nguyên nhân làm cho khế ước vô hiệu nếu những mưu gian, chước dối của một bên là nguyên nhân chính thúc đẩy bên kia kết ước”.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì lừa dối trong giao dịch dân sự là: “hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó” [35, Điều 132]. Luận văn: Pháp luật về Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.
Như vậy, rõ ràng một người có hành vi lừa dối thì không thể coi là trung thực được, quy định này của pháp luật là một trong những sự thể hiện của nguyên tắc tự do tự nguyện giao kết hợp đồng, thể hiện được sự phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế cũng như thực tiễn. Theo đó, sự lừa dối chỉ là điều kiện để giao dịch không có hiệu lực pháp luật khi có các yếu tố sau:
Người lừa dối có thể là người thứ ba hoặc là người trực tiếp xác lập giao dịch. Có thể hiểu, hành vi lừa dối phải do một bên tham gia giao dịch dân sự hoặc người thứ ba thực hiện. Như vậy, so với quy định tương ứng tại Điều 142 Bộ luật dân sự 1995 thì Bộ luật dân sự 2005 đã bổ sung quy định nếu người thứ ba có hành vi lừa dối người khác phải tham gia giao dịch dân sự thì cũng làm giao dịch dân sự vô hiệu. Đây là một bước tiến hợp lý của các nhà lập pháp nước ta. Tuy nhiên, một bên tham gia giao dịch có phải biết về sự lừa dối này hay chỉ cần có hành vi gian dối của người thứ ba mà các bên tham gia không hề biết vẫn được xác định là giao dịch dân sự bị lừa dối. Có hai cách hiểu về vấn đề này như sau:
Cách hiểu thứ nhất: hành vi lừa dối không do một bên giao kết thực hiện nhưng đã biết về hành vi đó nhưng vẫn xác lập giao dịch với bên kia thì giao dịch này được coi là giao dịch lừa dối. Nghĩa là, chỉ được xác định là giao dịch lừa dối do hành vi của người thứ ba khi một bên giao dịch biết về điều này. Trong trường hợp mà giao dịch được xác định do hành vi lừa dối của người thứ ba mà hai bên đều không biết về điều này thì giao dịch đó có thể coi là cả hai bên đều bị nhầm lẫn.
Cách hiểu thứ hai: có thể xác định giao dịch dân sự bị lừa dối trong trường hợp cả hai bên đều không biết về sự lừa dối đó. Vì quy định tại Điều 132 Bộ luật dân sự 2005 chỉ nêu rằng có thể do hai chủ thể thực hiện đó là: Một bên tham gia hoặc người thứ ba mà không hề có mối liên hệ nào giữa hai đối tượng này.
Theo quan điểm cá nhân, tác giả đồng ý với các hiểu thứ hai, nghĩa là có thể xác định một giao dịch được xác lập do bị lừa dối trong trường hợp hành vi gian dối của người thứ ba mà các bên xác lập đều không biết. Còn trường hợp một bên giao dịch biết về sự lừa dối đó thì được coi như chính người xác lập giao dịch đã thực hiện hành vi đó. Có thể đưa ra ví dụ sau:
A bán cho B một chiếc đồng hồ cổ. Tuy nhiên, do C có xích mích với B, lại nói với A và B rằng đó là chiếc đồng hồ cổ rất quý hiếm, giá của chiếc đồng hồ đó cao hơn nhiều so với giá ban đầu hai bên đã thỏa thuận. Do không có hiểu biết nhiều về đồng hồ cổ nên A và B đã tin lời C và xác lập giao dịch với giá cao hơn đó. Như vậy, ở đây rõ ràng có sự lừa dối của C – người thứ ba trong giao dịch giữa A và B, nhưng lại có các cách hiểu khác nhau:
Cách thứ nhất cho rằng: do cả A và B đều không biết là C đã lừa dối mình nên trong trường hợp này xác định A và B đều nhầm lẫn về đối tượng của giao dịch, nên xác định là giao dịch được xác lập do sự nhầm lẫn.
Cách thứ hai cho rằng: ở đây có sự lừa dối của C nên A và B mới tham gia giao dịch này. Nhầm lẫn này do lỗi cố ý của người thứ ba nên giao dịch này phải được xác định là giao dịch lừa dối.
Như vậy, trong trường hợp này, không thể coi là có sự nhầm lẫn khi xác lập giao dịch vì lí do sau: đã có hành vi gian dối của C làm cho A và B ký kết hợp đồng, chính hành vi gian dối này đã làm cho B mua chiếc đồng hồ cao hơn nhiều so với giá trị thực của nó, nên phải xác định đây là giao dịch bị lừa dối mới chính xác và hợp lý. Mặt khác, với quy định về nhầm lẫn hiện nay thì không có đủ điều kiện để tuyên bố giao dịch trên là vô hiệu. Luận văn: Pháp luật về Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.
Người lừa dối thực hiện hành vi lừa dối một cách cố ý, có ý thức và mong muốn có được sự chấp nhận xác lập giao kết dân sự của người bị lừa dối. Lừa dối chỉ được coi là yếu tố dẫn đến vô hiệu hợp đồng khi một bên cố ý làm cho bên kia phải giao kết hợp đồng không theo ý muốn thực.
Hành vi lừa dối của các chủ thể có thể mang tính chủ động (tích cực) hoặc mang tính bị động (tiêu cực). Lừa dối mang tính chủ động khi người lừa dối thực hiện những hành vi như tổ chức, thực hiện hoặc đồng lõa trong việc cung cấp thông tin sai sự thật, sử dụng tài liệu giả, nói dối… làm cho người bị lừa dối nghĩ về sự việc quá lên so với thực tế khách quan. Lừa dối được coi là mang tính bị động hay tiêu cực trong trường hợp người lừa dối im lặng không bày tỏ quan điểm của mình về một yếu tố quan trọng của giao dịch nhằm hưởng lợi từ việc người bị lừa dối chấp nhận xác lập giao dịch dân sự.
Pháp luật của một số nước trong một số trường hợp coi sự kiện không nói ra điều mà người tham gia có trách nhiệm phải nói khi xác lập giao dịch cũng được coi là hành vi gian trá và trong một số trường hợp pháp luật cũng thừa nhận việc khai gian hay im lặng trong trường hợp xét một cách hợp lý phải thông tin cho người cùng giao kết biết là lừa dối. Khi đưa ra nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế, Unidroit đã ghi nhận nguyên tắc:
Một bên trong hợp đồng được phép vô hiệu hợp đồng, nếu bên đó giao kết hợp đồng do bị bên kia lừa dối về sự việc, kể cả trong ngôn ngữ hoặc hành vi, hoặc do bên kia (bên lừa dối) không cung cấp thông tin về các yếu tố, mà theo những tiêu chuẩn thông thường về công bằng và hợp lý trong thương mại họ phải được thông báo [43].
Như vậy, pháp luật nhiều nước cũng như nguyên tắc thương mại quốc tế không chỉ giới hạn sự biểu hiện của lừa dối ở hành vi, lời nói mà thừa nhận cả trường hợp một bên không cung cấp thông tin hoặc im lặng khi xét một cách hợp lý là họ phải có nghĩa vụ thông báo.
Khi Bộ luật dân sự 2005 quy định về khái niệm lừa dối như trên, đã có ý kiến cho rằng chưa bao quát hết được các trường hợp, đó là chưa quy định rõ hành vi không cung cấp thông tin quan trọng của giao dịch dân sự là một hành vi lừa dối. Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng hành vi không cung cấp thông tin là hành vi cố ý của một bên “nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó” và đó được coi là hành vi lừa dối khi tham gia giao dịch. Luận văn: Pháp luật về Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.
Sự lừa dối là yếu tố quyết định đối với việc bên bị lừa dối xác lập giao dịch dân sự. Tính chất quyết định thể hiện ở chỗ nếu không dùng các mánh khóe như vậy thì các bên sẽ không xác lập giao dịch. Ví dụ như việc một người bán hàng nói giá quá cao thì không bị xem là lừa dối, vì người mua sẽ không vì thông tin này mà giao kết hợp đồng mua bán.
Lừa dối và nhầm lẫn đều là những khiếm khuyết của sự thể hiện ý chí của các bên trong giao kết hợp đồng và đều giống nhau ở chỗ cả hai đều liên quan đến việc trình bày một cách trực tiếp hoặc gián tiếp về những sự việc không đúng sự thật hay không tiết lộ một sự thật. Tuy sự nhầm lẫn và lừa dối trong giao dịch dân sự đều có một điểm chung: bên bị nhầm lẫn và bên bị lừa dối do hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng… nên đã xác lập giao dịch, nhưng giữa chúng có một điểm khác biệt cơ bản. Trong trường hợp xác lập giao dịch do bị nhầm lẫn, sự nhầm lẫn có thể gây bởi lỗi cẩu thả, sơ suất, kém hiểu biết của chính bên bị nhầm lẫn hoặc do lỗi vô ý của bên kia hoặc do lỗi của người thứ ba; còn trong trường hợp xác lập giao dịch do bị lừa dối, sự nhầm lẫn lại chỉ có thể được gây ra bởi hành vi mang tính chất cố ý của bên kia hoặc do lỗi của người thứ ba. Việc một bên tạo lập cho bên kia một sự nhầm lẫn hoặc lạm dụng sự nhầm lẫn đã tồn tại của bên kia để xác lập giao dịch sẽ bị coi là lừa dối. Ngoài ra, sự phân biệt giữa nhầm lẫn và lừa dối còn được xác định bởi tính chất và mục đích của việc trình bày gian lận của một bên.
Như vậy, nếu không có hành vi cố ý làm cho người bị lừa dối hiểu sai lệch bản chất sự việc thì không có một giao dịch dân sự được xác lập.
Tóm lại, để có thể xem xét một hành vi có phải là sự lừa dối trong giao kết hợp đồng hay không người ta căn cứ vào các yếu tố sau đây: Thứ nhất, phải có sự cố ý đưa thông tin sai lệch hoặc bỏ qua sự thật của một bên; thứ hai, người nghe phải không biết đến sự sai lệch đó; ba là, người nghe đã tin vào sự sai lệch do một bên đưa ra mà giao kết hợp đồng.
2.1.3. Giao dịch dân sự đe dọa Luận văn: Pháp luật về Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.
Đe dọa được hiểu là việc một người dùng hành vi hay lời nói tác động vào ý chí của một người khác làm cho người đó phải miễn cưỡng tuân theo sự sắp đặt hay ý muốn của mình. Trong giao dịch dân sự, đe dọa là hành vi cố ý tác động vào ý chí của một người làm cho người đó khiếp sợ mà buộc phải xác lập, thực hiện giao dịch.
Luật La Mã không sử dụng thuật ngữ “đe dọa” mà đi đề cập đến “bạo lực” trong giao dịch dân sự. Trong lịch sử La Mã, về cuối thời kỳ Cộng hòa, có nhiều cuộc rối loạn trong nước, trật tự xã hội không được duy trì, vì vậy xảy ra rất nhiều bạo lực. Để các chủ thể khỏi phải “kết ước” dưới ảnh hưởng của bạo lực các pháp quan La Mã đã đặt ra một tố quyền công nhận cho nạn nhân của bạo lực được xin bồi thường gấp bốn lần tổn thất. Ngoài ra nạn nhân còn có thể xin viện ra sự bạo lực để không thi hành khế ước thậm chí xin tiêu hủy khế ước [27, tr. 127]. Luật La Mã coi bạo lực là việc người đối ước hoặc người thứ ba làm cho người kia sợ hãi mà xác lập hợp đồng dân sự. Do đó, người bị bạo lực có thể sử dụng hai tố quyền có tính cách hình sự hoặc dân sự.
Dân luật Pháp coi đe dọa tương tự như luật La Mã:
- Hợp đồng được giao kết do một bên bị đe dọa sẽ vô hiệu. Hành vi đe dọa có thể do bên giao kết trực tiếp thực hiện hoặc bên thứ ba thực hiện [29, Điều 1111].
- Hành vi đe dọa là hành vi tác động vào một người có lý trí và làm cho người đó lo sợ có thể bị thiệt hại lớn về sức khỏe, tính mạng hoặc tài sản của mình. Để xác định mức độ đe dọa cần phải xem xét đến độ tuổi, giới tính và hoàn cảnh của những người liên quan [29; Điều 1112].
- Hành vi đe dọa là căn cứ làm cho hợp đồng vô hiệu không chỉ trong trường hợp hành vi đe dọa nhằm vào bản thân người giao kết hợp đồng mà còn cả trong trường hợp nhằm vào vợ, chồng, tôn thuộc, ti thuộc của người đó [29, Điều 1113]. Chỉ riêng sự sợ hãi biểu lộ đối với cha mẹ hoặc tôn thuộc khác mà không có hành vi đe dọa thì chưa đủ căn cứ để hủy hợp đồng [29, Điều 1114].
- Không thể kiện đòi hủy hợp đồng vì lý do bị đe dọa nếu sau khi hành vi đe dọa chấm dứt, hợp đồng đã được chấp nhận một cách rõ ràng hoặc mặc nhiên, hoặc đã hết thời hạn yêu cầu hoàn trả theo quy định của pháp luật [29, Điều 1115].
Cổ luật Việt Nam ảnh hưởng khá nhiều bởi tư tưởng của Bộ dân luật Cộng hòa Pháp 1804 (Điều thứ 660 và Điều thứ 661 Bộ luật dân sự Bắc Kỳ 1931; Điều thứ 696 và Điều thứ 697 Bộ luật dân sự Trung Kỳ 1972). Các bộ dân luật này đã có sự phân biệt đe dọa thành hai loại: Luận văn: Pháp luật về Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.
- Đe dọa thể chất: như cầm tay bắt ký vào hợp đồng hoặc sai khiến họ thực hiện hành vi bằng các thôi miên họ hoặc cho họ uống rượu say. Trường hợp này sự đe dọa làm mất hẳn ý chí của chủ thể nên giao dịch dân sự coi như vô hiệu.
- Đe dọa tinh thần: là dùng áp lực tinh thần để buộc một người phải lập giao dịch. Trường hợp này hành vi các lập giao dịch dân sự là có ý chí, đương sự chấp nhận dù là chỉ để tránh một tai họa, Giao dịch dân sự được xác lập với đủ các yếu tố nhưng mục đích không đúng theo mong muốn đích thực, ý chí tự nguyện của chủ thể nên bị vô hiệu.
Dân luật Nhật Bản lại bảo vệ người bị “ép buộc” ở mức độ cao hơn. Ép buộc là hành vi trái pháp luật nhằm làm cho người khác sợ hãi và buộc người đó phải thể hiện ý chí nhất định do lo sợ bị một tội ác nào đó xâm hại. Sự thể hiện ý chí do ép buộc có thể bị xóa bỏ bất kỳ lúc nào và quyết định xóa bỏ có hiệu lực với tất cả các bên cũng như đối với người thứ ba có hành vi đe dọa cũng như người thứ ba ngay tình [16, Điều 9]. Xác định hành vi đúng pháp luật hay không phải xem xét phương pháp và mục đích của hành vi đó. Khởi kiện là hành vi thực hiện quyền công dân, nhưng nếu sử dụng với tính chất đe dọa để buộc người khác phải giao kết theo ý mình thì pháp luật không bảo vệ.
Khoa học pháp lý cũng như pháp luật thực định Việt Nam đều thừa nhận đe dọa trong giao kết hợp đồng là một yếu tố có thể đưa đến sự vô hiệu của hợp đồng. Theo đó, đe dọa được hiểu là: “Hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con mình” [35, Điều 132]. Như vậy, Bộ luật dân sự 2005 xác định đe dọa là hành vi trái pháp luật của một người làm người khác sợ hãi, buộc người đó phải xác lập giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản của chính họ hoặc của cha mẹ, vợ, chồng, con họ.
Đe dọa ở đây gồm có hai điều kiện: Về mặt khách quan, hành vi đe dọa phải là hành vi do một bên hoặc người thứ ba gây ra (một bên trực tiếp hoặc nhờ người khác đe dọa). Về mặt chủ quan, sự đe dọa có tính chất quyết định khiến bên bị đe dọa buộc phải xác lập, thay đổi hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự mà không thể có cách lựa chọn nào tốt hơn. So với quy định tương ứng tại Điều 142 Bộ luật dân sự 1995 thì quy định tại Bộ luật dân sự 2005 đã bổ sung quy định người thứ ba có hành vi đe dọa người khác tham gia giao dịch thì cũng có thể làm giao dịch vô hiệu. Bên cạnh đó, còn xác định rõ khái niệm “người thân thích” để hiểu thống nhất và tránh hiểu quá rộng về khái niệm này.
- Như vậy, để hành vi đe dọa trở thành căn cứ xác định một giao dịch dân sự vô hiệu cần có các điều kiện sau:
Việc đe dọa có thể do một bên tham gia xác lập giao dịch dân sự thực hiện hoặc cũng có thể do người thứ ba thực hiện. Tuy nhiên, quy định này cũng chưa chỉ rõ mối liên hệ giữa một bên giao dịch và người thứ ba trong trường hợp người thứ ba có hành vi đe dọa đối với bên kia nhằm xác lập giao dịch. Tương tự như với phân tích về mối quan hệ này trong phần phân tích về giao dịch dân sự bị lừa dối, tác giả bảo vệ quan điểm chỉ cần có hành vi đe dọa đối với người tham gia để họ phải xác lập giao dịch thì có thể xác định đó là giao dịch dân sự bị đe dọa. Luận văn: Pháp luật về Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.
Sự đe dọa đó làm cho ý chí được tuyên bố của người bị đe dọa không phản ánh trung thực ý chí nội tâm. Sự đe dọa được tạo bởi hai yếu tố: khách quan và chủ quan:
Yếu tố khách quan được hiểu là mối nguy cơ đe dọa người bị đe dọa hoặc người thân của người bị đe dọa như dùng vũ lực hay dùng các biện pháp nhằm gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, đanh dự, uy tín… hoặc nhằm đưa người bị đe dọa vào tình trạng không thể nhận thức được hành vi của mình.
Yếu tố mang tính chủ quan được hiểu là sự sợ hãi của nạn nhân về một tại họa có nguy cơ xảy ra cho mình hoặc cho người thân của mình nếu không thực hiện những hành vi nhất định do người đe dọa yêu cầu.
Vì vậy, đe dọa được xem là hành vi dẫn dắt người bị đe dọa tuân theo ý chí của người đe dọa mặc dù người bị đe dọa không muốn nhưng không thể hoặc không dám cưỡng lại ý chí đó.
Sự đe dọa phải là yếu tố quyết định việc tham gia giao dịch dân sự tức là sự đe dọa phải mang tính cấp thiết và nghiêm trọng đến mức người bị đe dọa không còn con đường nào khác ngoài việc chấp nhận xác lập giao dịch dân sự vì người bị đe dọa thực sự lo sợ về một tai họa có nguy cơ xảy ra ngay tức khắc cho mình hoặc cho người thân của họ nếu không thực hiện những hành vi nhất định do người đe dọa yêu cầu.
- Xét theo nghĩa chung nhất, đe dọa có thể được thể hiện dưới hai hình thức:
Thứ nhất, đó là sự tác động thực tế về thể chất mang tính cưỡng bức. sự cưỡng bức thực tế về thể chất có thể do một bên trực tiếp thực hiện hoặc do người thứ ba thực hiện. Về mối quan hệ giữa người thứ ba và bên đe dọa thì không nhất thiết là bên đe dọa và người thứ ba phải đồng lõa với nhau mà điều quan trọng là sự cưỡng bức thể chất đó để ép buộc một bên giao kết hợp đồng.
Thứ hai, đó là gây áp lực về mặt tâm lý. Một điều rõ ràng là không phải cứ áp lực tinh thần nào cũng đủ uy lực để ép bên bị đe dọa phải kí kết hợp đồng. Vì thế pháp luật chỉ bảo vệ bên bị đe dọa trong trường hợp sự đe dọa dưới hình thức áp lực tinh thần phải thực sự nghiêm trọng, tức là sự đe dọa đó phải có tính hiện thực. Mặt khác, pháp luật không đặt ra yêu cầu đòi hỏi sự đe dọa đó phải là hành vi trái pháp luật “một hành vi gây áp lực tinh thần, dù không trái luật nhưng thực sự nghiêm trọng, vẫn có thể được thừa nhận là yếu tố dẫn đến vô hiệu hợp đồng” [21]. Luận văn: Pháp luật về Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.
Cũng cần phải lưu ý, không phải bất cứ sự đe dọa nào, dù có đủ uy lực và thực sự nghiêm trọng cũng đương nhiên được coi là yếu tố ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng. Ví dụ, nếu một người bán hàng đe dọa người mua rằng sẽ không tiếp tục cung cấp hàng hóa cho người mua nữa nếu người mua từ chối đề nghị mua hàng lần này của anh ta, thì sự đe dọa đó tuy có tính chất nghiêm trọng như có thể được pháp luật chấp nhận và cho phép.
Hành vi đe dọa được thực hiện đối với chính người xác lập giao dịch dân sự mà đối tượng bị tác động là tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của chính người đó hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của người đó. So với quy định tương ứng tại Bộ luật dân sự 1995 thì Bộ luật dân sự 2005 đã xác định rõ khái niệm “người thân thích” để hiểu thống nhất và tránh hiểu quá rộng về khái niệm này. Tuy nhiên, việc thu hẹp đến mức chỉ là đối với “cha, mẹ, vợ, chồng, con” dường như chưa thật sự hợp lý.
Khi giải quyết đối với loại giao dịch này, đôi khi các nhà thực thi luật pháp nhầm lẫn với hành vi đe dọa thuộc đối tượng điều chỉnh của Bộ luật hình sự. Vì theo Điều 135 Bộ luật hình sự quy định: “Người nào đe dọa dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của người khác nhằm chiếm đoạt tài sản bị phạt tù…” [32, Điều 135]. Về mặt khách quan, có điểm giống nhau ở hành vi đe dọa được quy định trong Bộ luật hình sự và Bộ luật dân sự. Tuy nhiên, tính chất và mức độ của hành vi đe dọa trong Bộ luật hình sự cao hơn và có mục đích là chiếm đoạt tài sản, còn hành vi đe dọa được quy định trong Bộ luật dân sự nhằm mục đích buộc một người nào đó phải xác lập giao dịch.
Ví dụ: A có một mảnh đất muốn bán với giá 600 triệu đồng, B là người muốn mua mảnh đất đó. Nhưng vì muốn mua với giá rẻ hơn nên B đã thuê C để đe dọa A nếu khống bán mảnh đất cho B với giá 400 triệu đồng thì vợ con A sẽ gặp những chuyện không hay. Lo sợ cho vợ con nên A đã đồng ý bán mảnh đất cho B với giá 400 triệu đồng. Trong trường hợp trên hành vi của C là đe dọa và là nguyên nhân dẫn đến hợp đồng mua bán đất giữa A và B vô hiệu.
Mặt khác, tại điểm a khoản 1 Điều 652 Bộ luật dân sự 2005 có quy định di chúc do đe dọa, cưỡng ép cũng được xác định là di chúc không hợp pháp. Ở điều luật này chúng ta cũng cần phải xác định đến một yếu tố nữa đó là hành vi cưỡng ép. Hành vi cưỡng ép rất gần với hành vi đe dọa. Trong thực tế, đã có rất nhiều sự cưỡng ép chuyển hóa sang đe dọa và ngược lại, trong hành vi đe dọa thường hàm chứa sự cưỡng ép. Tuy nhiên, bên cạnh sự tương đồng ấy, hai hành vi này cũng có nhiều điểm khác biệt: nếu sự đe dọa là tác động làm cho người bị đe dọa sợ hãi thì hành vi cưỡng ép thường là việc dựa vào hoàn cảnh đặc biệt của người xác lập để dồn ép người đó phải miễn cưỡng tham gia giao dịch theo mục đích của người cưỡng ép.
Ví dụ: A muốn mua chiếc xe máy của B với giá rẻ, nhưng B không đồng ý bán. A đã dùng những bức ảnh của B thân mật với C để cưỡng ép B bán xe máy cho mình và tuyên bố nếu B không bán A sẽ gửi những bức ảnh đó cho vợ B. Do lo sợ vợ biết, B đã phải miễn cưỡng bán chiếc xe cho A với giá rẻ.
2.1.4. Giao dịch dân sự giả tạo Luận văn: Pháp luật về Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.
Theo nghĩa thông thường, “giả tạo” là không thật, không tự nhiên. Sự thể hiện ý chí giả tạo là sự thể hiện ý chí khác với ý chí nội tâm đối với kết quả [54, tr. 133]. Theo TS Nguyễn Mạnh Bách thì giả tạo là sự kiện tạo ra một bề ngoài sai lầm trong việc tạo lập khế ước [27, tr. 105]. Pháp luật các nước đều coi giao dịch dân sự xác lập do giả tạo là vô hiệu. Bởi chủ thể cố ý bày tỏ ý chí không đúng với ý chí thực của họ. Cổ luật Việt Nam sử dụng thuật ngữ “giả trang”. Theo Bộ luật dân sự Nam Kỳ 1972, sự giả trang có hai hình thức: khi thì sự giả trang được thực hiện dưới hình thức một chứng thư mật gọi là ẩn khế mà mục đích là để loại bỏ hoặc biến đổi hiệu lực của một chứng thư biểu khiến trong đó ý chí của đương sự hoàn toàn giả tạo; khi thì sự giả trang lại có hình thức một sự cho mượn tên (một người đứng tên ký kết một khế ước nhưng người đó không phải là người viết khế ước thật sự và chỉ đứng ra để che giấu của một người kết khế ước, người trung gian này gọi là người cho mượn tên). Dưới mọi hình thức sự giả trang tiên niệm có hiệp ước bí mật song song với khế ước biểu khiếm mà mục đích là để tiêu hủy, biến đổi hay chuyển dịch hiệu lực của khế ước này [27, tr. 105]. Cả hai hình thức này đã được dự liệu tại điều 138 Bộ luật dân sự 1995: giao dịch dân sự được xác lập để che giấu một giao dịch khác và giao dịch dân sự được xác lập nhưng không nhằm mục đích làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch.
- Trong Bộ luật dân sự 2005, các nhà làm luật nước ta quy định:
Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của bộ luật này. Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu [35, Điều 129].
Với quy định này có thể thấy bản chất của giao dịch giả tạo đó là: giao dịch mang tính hình thức nhằm che giấu một hoạt động khác và nó được thiết lập không dựa trên ý chí đích thực của các bên. Trên thực tế, các bên không có ý định xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự đối với giao dịch này. Thông thường, nó được xác lập với mục đích nhằm trốn tránh nghĩa vụ với nhà nước hoặc với người khác, hoặc để che giấu một hành vi bất hợp pháp. Như vậy giao dịch dân sự giả tạo được hiểu là:
Bộ luật dân sự 2005 sử dụng thuật ngữ giả tạo nhưng lại không nêu rõ thuật ngữ này được hiểu như thế nào mà chỉ quy định: giao dịch giả tạo là giao dịch được xác lập nhằm che giấu một giao dịch khác mà giao dịch đó mới thể hiện ý chí đích thực của chính các bên hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba. Theo một số nhà bình luận Bộ luật dân sự thì: “giao dịch dân sự giả tạo là giao dịch mà trong đó việc thể hiện ý chí ra bên ngoài khác với ý chí nội tâm và kết quả thực hiện của các bên tham gia giao dịch” [24, tr. 280]. Luận văn: Pháp luật về Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.
Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải thể hiện đúng ý chí đích thực của các bên tham gia giao dịch, nếu các bên lợi dụng việc tham gia các giao dịch dân sự nhằm che giấu mục đích đích thực của mình thì pháp luật quy định đó là giao dịch giả tạo.
Giao dịch giả tạo được xác lập trên cơ sở hành vi gian dối và thực hiện khi các bên xác lập giao dịch đó. Giao dịch dân sự giả tạo là giao dịch được xác lập nhằm che giấu việc thực hiện một giao dịch khác mà các bên thật sự mong muốn thực hiện. Nói cách khác, giao dịch giả tạo là giao dịch mang tính hình thức, các nội dung được thiết lập không phải bởi ý chí đích thực của các bên. Trên thực tế, các bên giao dịch không có ý định tạo lập quyền, nghĩa vụ pháp lý qua giao dịch này. Thông thường, nó được thiết lập để trốn tránh nghĩa vụ đối với xã hội như nghĩa vụ nộp thuế hoặc để che giấu một hành vi bất hợp pháp và hành vi đó phải thực hiện khi xác lập giao dịch.
Giao dịch mà các bên “tự nguyện” tham gia nhưng mục đích giao dịch được thể hiện không phù hợp với mục đích các bên thực sự quan tâm hướng tới, mong muốn đạt được. Yếu tố giả tạo được biểu hiện thông qua dấu hiệu các bên thông đồng với nhau để tạo nên sự thiếu thống nhất giữa ý chí và tuyên bố ý chí của các bên xác lập giao dịch.
Có hai dạng giao dịch dân sự giả tạo đó là: giao dịch dân sự nhằm che giấu một giao dịch khác và giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba. Đặc điểm chung của những giao dịch này đó là có sự thông đồng, nhất trí của các bên xác lập giao dịch giả tạo nhằm tạo nên nhận thức sai lầm cho người khác đối với giao dịch đó. Trong ý chí đích thực các bên thỏa thuận với nhau hợp đồng giả tạo coi như không tồn tại. Tuy nhiên, giữa chúng có điểm khác biệt:
Đối với giao dịch giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác, có hai giao dịch dân sự song song cùng tồn tại, đó là giao dịch giả tạo và giao dịch bị che giấu. Ví dụ: A bán cho B một căn nhà với giá 500 triệu đồng, họ lập một hợp đồng trong đó giá mua được giảm bớt xuống 300 triệu đồng để gian lận việc nộp lệ phí trước bạ sang tên. Song song với đó lại lập một hợp đồng che giấu để điều chỉnh lại giá cả thật sự.
Đối với giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ đối với người thứ ba, thì trên thực tế hoàn toàn không có một giao dịch nào cả. Các bên xác lập một giao dịch tưởng tượng, hư cấu nên các điều khoản của giao dịch giả tạo. Ví dụ: Nhằm trốn tránh việc trả nợ cho B, A đã lập một hợp đồng tặng cho C một tài sản nhưng thực chất A vẫn giữ tài sản và vẫn sở hữu tài sản này. Trong trường hợp này hợp đồng tặng cho tài sản giữa A và C chỉ là giao dịch về mặt hình thức (giao dịch không có thật), mà thực tế ý chí đích thực của các bên không hề xác lập một giao dịch nào.
Tóm lại, không phải bất cứ một sự thể hiện ý chí giả tạo nào cũng đều cho là giao dịch giả tạo mà chỉ những giao dịch mà ý chí giả tạo tồn tại ở các chủ thể (có sự thông đồng trước) khi xác lập giao dịch thì mới coi là giả tạo. Còn nếu không có sự thông đồng này thì giao dịch đó cũng có thể bị tuyên bố vô hiệu nhưng không phải là giao dịch giả tạo. Để bảo vệ quyền lợi cho người thứ ba ngay tình và bảo vệ trật tự pháp luật, Bộ luật dân sự 2005 quy định khi tuyên bố giao dịch giả tạo vô hiệu thì giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực pháp luật. Luận văn: Pháp luật về Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.
2.1.5. Giao dịch dân sự được thiết lập do người thiết lập tại thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình
Pháp luật Việt Nam coi năng lực hành vi dân sự là yếu tố đầu tiên để xem xét hiệu lực của giao dịch dân sự, còn yếu tố tự nguyện được xếp ở vị trí thứ ba. Nhưng ở một chừng mực nào đó, năng lực hành vi dân sự là bộ phận không thể thiếu của sự tự nguyện. Chỉ những người có năng lực hành vi dân sự mới có ý chí riêng, nhận thức riêng, điều chỉnh được hành vi của bản thân mới có thể tự mình bày tỏ ý chí một cách tương thích với ý chí của mình.
Độ tuổi và khả năng nhận thức là hai tiêu chí để xác định năng lực hành vi của chủ thể. Một người trên mười tám tuổi vẫn bị coi là không có năng lực hành vi dân sự nếu họ không nhận thức, làm chủ được hành vi. Trường hợp này, theo yêu cầu của người liên quan, dựa trên kết luận của tổ chức giám định, Tòa án có thể tuyên bố người này mất năng lực hành vi dân sự, giao dịch của họ phải do người đại diện xác lập và thực hiện. Quy định vậy là để bảo vệ những người bị khuyết tật hay hạn chế về mặt nhận thức. Thực tế tồn tại việc chủ thể không nhận thức và làm chủ được hành vi chỉ trong phút chốc, mang tính tạm thời. Nếu “gán” cho họ địa vị của người mất năng lực hành vi hay bị hạn chế năng lực hành vi, đặt mọi giao dịch dân sự dưới sự quản lý của người đại diện là đẩy họ vào trạng thái bị động với quyền lợi của mình. Do đó, pháp luật áp dụng quy chế về giao dịch dân sự vô hiệu do xác lập vào thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi.
Tính tạm thời tức là trong đời sống thường nhật chủ thể là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nhưng vì một số yếu tố mà vào thời điểm nhất định họ bị rơi vào tình trạng không thể nhận thức và làm chủ hành vi của mình. Người bị bệnh mộng du, người uống rượu say, hay người bị tâm thần phân liệt, người già lúc tỉnh, lúc mê… khi hết say hoặc cơn bệnh lý dừng, trở lại hoàn toàn nhận thức và làm chủ được mọi hành vi của bản thân. Giao dịch dân sự xác lập vào thời điểm không nhận thức, làm chủ được hành vi thì không thể có sự thống nhất giữa mong muốn bên trong và sự biểu đạt mong muốn đó. Do vậy, giao dịch dân sự có thể bị vô hiệu. Luận văn: Pháp luật về Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.
Trước đây, vấn đề này được quy định tại Điều 143 Bộ luật dân sự 1995, nay Bộ luật dân sự 2005 thay thế quy định vấn đề này tại Điều 133 theo đó: “Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu” [35, Điều 133]. Chủ thể của giao dịch dân sự là người có năng lực hành vi dân sự. Tại thời điểm xác lập giao dịch chủ thể đã không nhận thức và làm chủ được hành vi. Việc không nhận thức được hành vi có thể được biểu hiện ra bên ngoài thành những điều bất bình thường, thiếu logic mà người tỉnh táo trong hoàn cảnh đó sẽ không hành động như vậy. Khi người xác lập giao dịch dân sự đã thoát khỏi trạng thái không nhận thức được hành vi của mình, có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là hai năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập. Hết thời hạn này mà chủ thể không khởi kiện thì có nghĩa người này đã chấp nhận với giao dịch đã xác lập. Giao dịch dân sự đã xác lập phù hợp với quyền lợi của họ, thì họ có thể giữ nguyên giá trị thi hành.
Xét đến bên chủ thể đã tiến hành xác lập giao dịch dân sự với người không nhận thức và làm chủ được hành vi, vẫn có khả năng họ đã thiện chí, trung thực. Ví dụ: Người bán hàng vẫn có thể bán thuốc giải rượu cho người đang say đúng chất lượng, đúng giá bán như bán cho người ở trạng thái bình thường. Điều 133 Bộ luật dân sự 2005 đã đặt bên đối tác này vào tình thế không xác định và mất ổn định. Bởi trong khoảng thời gian 2 năm kể từ khi xác lập, giao dịch đó có thể bị bên không nhận thức và làm chủ hành vi trước đây yêu cầu tuyên bố vô hiệu, không phát sinh hiệu lực bất cứ lúc nào. Bộ luật dân sự 2005 mới chỉ quan tâm bảo vệ quyền lợi của bên không nhận thức và làm chủ được hành vi, chưa đảm bảo quyền lợi của người đã xác lập giao dịch dân sự với chủ thể này. Tham khảo Điều 19 Bộ luật dân sự Nhật Bản có quy định: người đối tác của người không có năng lực hành vi tại thời điểm xác lập giao dịch pháp lý có quyền yêu cầu người không có năng lực hành vi đó từ chối việc hủy bỏ hành vi pháp lý đã xác lập, người này được suy nghĩ trong vòng một tháng [53, tr. 53-54]. Nên chăng học hỏi luật Nhật Bản để đảm bảo quyền lợi của các bên và sự ổn định của các giao dịch dân sự. Luận văn: Pháp luật về Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.
Quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thuộc về bên không nhận thức và làm chủ được hành vi tại thời điểm xác lập giao dịch, bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường. Vấn đề đặt ra, giao dịch dân sự vô hiệu theo Điều 133 Bộ luật dân sự 2005 thì bên nào là bên có lỗi khiến giao dịch vô hiệu gây thiệt hại cho bên kia?
Người không nhận thức và làm chủ được hành vi tại thời điểm xác lập giao dịch: Lỗi là trạng thái tâm lý hoặc mức độ nhận thức của một người về hành vi và hậu quả của hành vi đó. (Lưu ý, sử dụng rượu bia, chất kích thích khiến mình rơi vào trạng thái không nhận thức, làm chủ được hành vi mà gây thiệt hại cho người khác hoặc phạm tội khoa học pháp lý vẫn coi là có lỗi và vẫn buộc phải chịu trách nhiệm pháp lý trước pháp luật. Lỗi ở đây là lỗi để mình rơi vào tình trạng đó).
Bên tham gia giao dịch dân sự với người không nhận thức và làm chủ được hành vi tại thời điểm xác lập giao dịch: Bộ luật dân sự 2005 không đề cập rằng chủ thể này có lỗi hay không. Nhưng trước đây Điều 143 Bộ luật dân sự 1995 có quy định: “Người nào biết hoặc phải biết mình xác lập giao dịch với người không nhận thức và điều khiển được hành vi của mình mà vẫn xác lập thì phải bồi thường thiệt hại” [31, Điều 143]. Thực tế, có chủ thể biết được đối tác đang trong tình trạng không nhận thức và làm chủ được hành vi và tiến hành xác lập giao dịch dân sự để hòng lợi dụng điều đó tư lợi cho mình. Khi tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, những thiệt hại của bên không nhận thức và làm chủ được hành vi phải được bên đối tác của họ bồi thường.
Ví dụ: A đến nhà B chơi, B đã mang rượu ra mời A uống. Sau khi uống xong cả hai tiếp tục nói chuyện về chiếc đồng hồ cổ của A. Trong lúc cao hứng A đã đề nghị tặng B chiếc đồng hồ cổ và có làm giấy tặng cho. Hai hôm sau, B đã mang giấy tờ đến nhà A để nhận chiếc đồng hồ cổ nhưng A nói là không biết về giao dịch này, tuy có xác nhận chữ viết trong giấy tặng cho là của mình. Nghĩ đến chứng bệnh “loạn thần kinh khi sử dụng rượu” của mình A đã làm đơn đề nghị Tòa án tuyên giao dịch giữa mình và B là vô hiệu do tại thời điểm xác lập giao dịch A đã sử dụng rượu và không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Theo đề nghị của A, Tòa án đã yêu cầu tổ chức giám định pháp y xác định tình trạng bệnh của A. Tổ chức giám định pháp y đã kết luận: A bị mắc bệnh “loạn thần kinh khi sử dụng rượu”, đây là loại bệnh mà người mắc phải sẽ mất hoàn toàn khả năng tư duy, khả năng hiểu biết và khả năng điều khiển hành vi của mình khi uống rượu. Trên cơ sở kết luận giám định như trên, Tòa án đã căn cứ vào điều 133 Bộ luật dân sự 2005 tuyên bố giao dịch tặng cho giữa A và B vô hiệu.
2.2 GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU DO VI PHẠM SỰ TỰ NGUYỆN VỀ Ý CHÍ CỦA CHỦ THỂ Luận văn: Pháp luật về Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.
Dựa vào mức độ vi phạm thì giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện về ý chí được phân thành: giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối và giao dịch dân sự vô hiệu tương đối do vi phạm sự tự nguyện về ý chí.
Khái niệm vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối là hai khái niệm của ngành khoa học luật dân sự, chưa được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật. Bộ luật dân sự 2005 không phân loại các trường hợp vô hiệu của giao dịch dân sự thành vô hiệu tuyệt đối hay vô hiệu tương đối mà chỉ giới hạn ở việc chỉ ra các trường hợp vô hiệu do vi phạm từng điều kiện cụ thể của giao dịch dân sự.
Theo các nhà khoa học pháp lý thì: giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối thì mặc nhiên bị coi là vô hiệu. Còn đối với các giao dịch vô hiệu tương đối thì không mặc nhiên vô hiệu mà chỉ trở nên vô hiệu khi hội tụ đủ những điều kiện nhất định. Đó là: khi có đơn yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan và theo quyết định của Tòa án. Đây là sự khác biệt quan trọng nhất được coi là tiêu chí hàng đầu để phân loại một giao dịch vô hiệu thuộc trường hợp vô hiệu tuyệt đối hay vô hiệu tương đối khi nghiên cứu nội dung các văn bản quy phạm pháp luật.
Mặt khác, đối với các giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối thì thời hạn yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu không bị hạn chế. Còn đối với các giao dịch dân sự vô hiệu tương đối thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là hai năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập. Bên cạnh đó, giao dịch dân sự thuộc trường hợp vô hiệu tuyệt đối không có hiệu lực pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, thậm chí ngay cả trong trường hợp khi các bên đã tiến hành thực hiện các hành vi theo nội dung đã cam kết. Còn giao dịch dân sự thuộc trường hợp vô hiệu tương đối thì được coi là có hiệu lực pháp lý cho đến khi nào tuyên bố vô hiệu.
- Căn cứ vào những phân tích trên và các quy định trong Bộ luật dân sự 2005 thì có thể xác định:
Giao dịch dân sự bị coi là vô hiệu tuyệt đối trong các trường hợp sau: khi vi phạm vào các điều cấm của pháp luật, trái với đạo đức xã hội; khi giao dịch được xác lập một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác; khi hình thức của giao dịch không tuân thủ theo các quy định bắt buộc của pháp luật; khi giao dịch của pháp nhân xác lập vượt ra ngoài lĩnh vực hoạt động được cho phép đăng ký. Luận văn: Pháp luật về Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.
Giao dịch dân sự bị coi là vô hiệu tương đối trong các trường hợp: khi giao dịch đó được xác lập bởi người chưa thành niên từ đủ 6 tuổi cho đến chưa đủ 18 tuổi (có năng lực hành vi dân sự một phần); khi giao dịch dân sự được xác lập bởi người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; khi giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn; khi một bên chủ thể tham gia xác lập giao dịch do bị lừa dối, đe dọa; khi người xác lập giao dịch không nhận thức được hành vi của mình.
Như vậy, giao dịch dân sự giả tạo là giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối do vi phạm sự tự nguyện về ý chí của chủ thể. Còn giao dịch dân sự lừa dối, đe dọa, nhầm lẫn, do người xác lập không làm chủ và nhận thức được hành vi là các giao dịch vô hiệu tương đối do vi phạm ý chí tự nguyện.
2.2.1. Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối
Giao dịch dân sự giả tạo là giao dịch vô hiệu tuyệt đối, nó bị vô hiệu ngay từ khi xác lập và không bị giới hạn về thời hiệu khởi kiện tuyên bố giao dịch vô hiệu.
Bộ luật dân sự 2005 không chỉ rõ khái niệm về sự tự nguyện về ý chí của các chủ thể khi tham gia giao dịch dân sự. Do đó, các luật gia Việt Nam hiện nay khi nghiên cứu về điều kiện tự nguyện hay thành tố tự nguyện của giao dịch dân sự theo dân luật Việt Nam thường lấy một số nguyên nhân vô hiệu cụ thể của giao dịch pháp lý để gán ghép cho các khiếm khuyết của sự tự nguyện. Chẳng hạn, một số trường hợp không có sự tự nguyện của người tham gia giao dịch là: “Trong các trường hợp vô hiệu do giả tạo, do nhầm lẫn, do bị lừa dối, bị đe dọa, do xác lập tại thời điểm không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình” [48, tr. 146].
Có thể nói, Bộ luật dân sự 2005 xuất phát từ quan điểm khách quan để nhìn nhận sự tự nguyện trong việc tham gia giao dịch dân sự. Tại Điều 4 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào” [35, Điều 4]. Quy định này không đưa ra quan niệm về sự tự nguyện về ý chí của các nhà làm luật Việt Nam. Ở đây chỉ toát lên một tinh thần cơ bản là tự nguyện là sự tự do lựa chọn, không diễn đạt thêm một thành tố nào khác của sự tự nguyện. Do vậy, có thể hiểu rằng những gì chống lại sự tự do lựa chọn của chủ thể tham gia giao dịch là khiếm khuyết của sự tự nguyện về ý chí.
Tuy nhiên, giao dịch giả tạo không chống lại tự do lựa chọn của các bên, vì các bên đã có sự thống nhất ý chí trong việc xác lập giao dịch. Nhưng giao dịch đó được xác lập nhằm tạo ra một hậu quả pháp lý giả dối, không đúng với sự thực về mối quan hệ giữa các bên. Như vậy, nó không thể hiện ý chí đích thực của các bên, chống lại ý chí của nhà làm luật trong việc kiểm soát giao dịch dân sự nhằm bảo vệ trật tự công cộng, xuất phát từ các nguyên tắc thiện chí, trung thực, cũng như sự đòi hỏi mục đích chính đáng của nghĩa vụ dân sự. Mặt khác, các bên đã cố tình không bày tỏ ý chí thực nên không cần có một sự chỉnh sửa nào nữa đối với giao dịch đó.
Có lẽ vì những lí do đó, Bộ luật dân sự 2005 đã không hạn chế thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu giao dịch giả tạo giống như đối với các giao dịch vi phạm điều cấm hay đạo đức xã hội và khác với sự ấn định thời hiệu hai năm đối với các giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện về ý chí khác. Có nghĩa là, Bộ luật dân sự 2005 đã xác định giao dịch dân sự giả tạo là loại giao dịch dân sự vô hiệu tương đối.
2.2.2. Giao dịch dân sự vô hiệu tương đối Luận văn: Pháp luật về Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.
Việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu trong cả hai trường hợp vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối đều có ý nghĩa để áp dụng chế tài cần thiết vào từng giao dịch cụ thể khi giao dịch đó vi phạm vào bất cứ điều kiện nào tại Điều 122 Bộ luật dân sự 2005.
Ngoài ý nghĩa đó, đối với riêng giao dịch dân sự vô hiệu tương đối việc yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu còn là một trong những biện pháp bảo vệ quyền dân sự quan trọng. Thực tế xét xử tại các nước cho thấy các vụ việc liên quan đến việc kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu (thuộc trường hợp vô hiệu tương đối) có xu hướng ngày một gia tăng. Điều đó cho thấy biện pháp bảo vệ quyền dân sự dưới hình thức kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu tỏ ra là một biện pháp rất hữu hiệu.
Giao dịch dân sự được xác lập trên cơ sở của sự tự nguyện, tự do ý chí và bày tỏ ý chí. Việc các bên xác lập các giao dịch dân sự do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hay không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình là những lỗi về ý chí của các bên. Khi tham gia giao dịch dân sự không có sự thống nhất giữa hai mặt của sự tự nguyện: tự do ý chí và bày tỏ ý chí, chưa đến mức vi phạm nghiêm trọng pháp luật phải chịu chế tài khắt khe. Vì thế pháp luật cho phép các chủ thể có thể xác định lại giao dịch đó và thống nhất lại ý chí với phía bên kia trong giao dịch của mình. Mặt khác, các chủ thể trong các giao dịch này không bày tỏ được ý chí thực của mình là do có sự tác động, ảnh hưởng từ bên ngoài nên họ có quyền được xác lập lại giao dịch nếu họ muốn theo ý chí đích thực của chính họ. Từ đó, đảm bảo nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận – nguyên tắc đặc trưng của pháp luật dân sự nói chung cũng như chế định giao dịch dân sự nói riêng. Chỉ khi nào các chủ thể không muốn xác lập lại giao dịch dân sự đã bị vi phạm về ý chí đó thì mới bị tuyên bố vô hiệu.
Vì vậy, các nhà lập pháp đã quy định cho các trường hợp giao dịch các bên có thể yêu cầu sửa đổi hoặc chấp nhận giao dịch đã giao kết và pháp luật tôn trọng ý chí của chủ thể. Chỉ trong trường hợp không tìm được sự thống nhất ý chí giữa các bên và có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu (trong thời hạn cho phép) thì Tòa án mới ra quyết định tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu.
2.3 HẬU QUẢ PHÁP LÍ CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU DO VI PHẠM SỰ TỰ NGUYỆN VỀ Ý CHÍ CỦA CHỦ THỂ Luận văn: Pháp luật về Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.
Hậu quả trước hết phải là một kết quả và kết quả đó phải xảy ra từ một sự kiện, một hành vi nào đó, tức là chúng phải có mối quan hệ nhân quả với nhau. Hậu quả theo nghĩa thông thường là “kết quả không hay về sau”.
Trong khoa học pháp lý, hậu quả pháp lý là sự bất lợi cho các cá nhân, tổ chức khi hành vi của họ bị pháp luật xác định là hành vi vi phạm pháp luật. Khi các chủ thể tham gia vào một quan hệ nhất định mà hành vi cả họ là trái pháp luật thì trong từng quan hệ cụ thể phải chịu hậu quả pháp lý được điều chỉnh bởi những ngành luật khác nhau. Trong lĩnh vực dân sự thì hậu quả pháp lý xuất phát từ hành vi vi phạm quyền, nghĩa vụ của các chủ thể khác hoặc khi giao dịch dân sự bị vô hiệu.
Khi một giao dịch dân sự vô hiệu, các chủ thể tham gia giao dịch phải gánh chịu những hậu quả nhất định do pháp luật quy định. Hậu quả pháp lý trong giao dịch dân sự thường dẫn tới sự bất lợi về tài sản hoặc lợi ích vật chất, nằm ngoài ý chí và sự mong muốn của chủ thể.
Mặc dù khái niệm hậu quả pháp lý được sử dụng một cách rộng rãi trong khoa học pháp lý nhưng hiện nay các nhà khoa học vẫn chưa đưa ra một khái niệm cụ thể nào, các nhà lập pháp cũng chỉ đi sâu quy định nội dung của nó. Về nguyên tắc, hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu là không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự đối với các bên từ thời điểm xác lập.
Theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 thì khi giao dịch dân sự vô hiệu không phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự và các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, chính là khôi phục lại tình trạng ban đầu, trước thời điểm xác lập giao dịch.
Về phương diện lý thuyết khi các bên tham gia giao dịch dân sự nhằm thiết lập một quan hệ dân sự mà ở đó mỗi bên đều đạt được một mục đích nhất định. Mục đích này có thể thỏa mãn về vật chất hoặc tinh thần cho mỗi bên. Từ mục đích đó, các bên tham gia giao dịch sẵn sàng gánh chịu những trách nhiệm và được hưởng những quyền lợi nhất định. Nhưng vì giao dịch dân sự vô hiệu không xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên, nếu các bên chưa thực hiện thì các bên không được tiếp tục thực hiện giao dịch đó. Nếu đang thực hiện thì các bên không được tiếp tục thực hiện giao dịch và giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu. Kể cả trường hợp các bên đã thực hiện xong những gì đã thỏa thuận thì giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu là buộc các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận. Trong trường hợp các bên không hoàn trả lại được bằng hiện vật thì phải hoàn trả lại bằng tiền, bên có lỗi phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Như vậy, giao dịch dân sự vô hiệu làm phát sinh hậu quả pháp lý như sau: Luận văn: Pháp luật về Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.
Thứ nhất, khi một giao dịch dân sự vô hiệu thì sẽ không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên, và thời điểm đó được tính từ khi xác lập giao dịch. Có nghĩa là, khi bị vô hiệu thì coi như chưa hề có giao dịch đã xác lập, các bên phải chấm dứt thực hiện giao dịch dân sự đó, nó không có giá trị pháp lý kể từ thời điểm ký kết. Do vậy, giao dịch bị tuyên bố vô hiệu không có giá trị bắt buộc đối với các bên tham gia giao dịch, nghĩa là các bên không còn ràng buộc bởi quyền và nghĩa vụ với nhau, các bên phải chấm dứt thực hiện giao dịch đó. Nếu mới xác lập chưa thực hiện được thì các bên không được thực hiện, còn trong trường hợp đang thực hiện cũng không được tiếp tục thực hiện nữa.
Thứ hai, về hậu quả, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Hoàn trả về tài sản là một trong những biện pháp phổ biến để giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu. Tuy nhiên, trong thực tế tài sản được hoàn trả không phải lúc nào cũng còn nguyên giá trị của nó tại thời điểm giao kết, thông thường nó bị biến đổi do tác động của các yếu tố tự nhiên và xã hội không còn nguyên giá trị ban đầu. Vì vậy, pháp luật đã có quy định các bên phải hoàn trả bằng hiện vật, nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì tính thành tiền để trả.
Thứ ba, về hậu quả phải bồi thường thiệt hại. Bộ luật dân sự 2005 quy định, bên có lỗi làm cho giao dịch dân sự vô hiệu phải bồi thường nếu như có thiệt hại xảy ra. Lỗi trong quan hệ dân sự là lỗi suy đoán, chính vì vậy, bên bị xác định là có lỗi phải đưa ra những căn cứ chứng minh là mình không có lỗi làm cho giao dịch vô hiệu.
Thứ tư, bảo vệ người thứ ba ngay tình. Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học thì người thứ ba ngay tình khi tham gia giao dịch dân sự vô hiệu được hiểu là “người được chuyển giao tài sản thông qua giao dịch dân sự mà họ không biết, không buộc phải biết là tài sản do người chuyển giao cho họ thu được từ một giao dịch vô hiệu”. Vậy người thứ ba tham gia giao dịch dân sự ngay tình là khi tham gia giao dịch trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và tuân theo các quy định của pháp luật mà không biết đối tượng của giao dịch là tài sản bất minh, do chủ sở hữu được xác lập trước đó bởi một giao dịch vô hiệu. Đây có thể nói là yếu tố quan trọng nhất để xác định người tham gia giao dịch hoàn toàn ngay tình.
Theo quy định của Bộ luật dân sự 2005, việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình căn cứ vào đối tượng của giao dịch là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu hay bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu. Cụ thể là:
Nếu tài sản của giao dịch dân sự vô hiệu là động sản không phải đăng kí quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực.
Nếu tài sản của giao dịch dân sự vô hiệu là bất động sản hoặc động sản phải đăng ký quyền sở hữu thì giao dịch với người thứ ba vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba có được tài sản do bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu do quyết định bị hủy hoặc sửa. Luận văn: Pháp luật về Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.
Như vậy, so với Bộ luật dân sự 1995, thì quy định nhằm bảo vệ người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu trong Bộ luật dân sự 2005 đã làm rõ hơn vấn đề này, với việc phân chia thành các loại tài sản không phải đăng ký sở hữu và các loại tài sản phải đăng ký sở hữu.
Đồng thời, Bộ luật dân sự 2005 cũng giải quyết mối quan hệ giữa vô hiệu của hợp đồng chính và vô hiệu của hợp đồng phụ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hợp đồng phụ được thay thế hợp đồng chính. Quy định này không áp dụng đối với các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Sự vô hiệu của hợp đồng phụ không làm chấm dứt hợp đồng chính, trừ trường hợp các bên thỏa thuận hợp đồng phụ là một phần không thể tách rời của hợp đồng chính.
Tóm lại, hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể được giải quyết theo Điều 137 Bộ luật dân sự năm 2005, theo đó hợp đồng vô hiệu không làm thay đổi, phát sinh, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập giao dịch. Trong trường hợp này, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.
Những quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết lập trật tự kỉ cương xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia giao dịch dân sự và Nhà nước. Bởi giao dịch dân sự ngoài sự thống nhất ý chí của các chủ thể khi tham gia giao kết thì việc bảo đảm tuân thủ đúng ý chí của Nhà nước cũng là một yêu cầu đặt ra. Mục đích pháp luật của việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu nhằm bảo vệ lợi ích của các chủ thể tham gia giao dịch. Đây là một trong các biện pháp bảo vệ quyền dân sự quan trọng của công dân. Bên cạnh đó nó còn ý nghĩa để áp dụng chế tài cần thiết vào từng giao dịch cụ thể khi giao dịch đó vi phạm vào điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Điều 122 Bộ luật dân sự 2005. Luận văn: Pháp luật về Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Hoàn thiện PL Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự theo pháp luật