Luận văn: Khái quát dạy học tại các trường mầm non tư thục

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Khái quát dạy học tại các trường mầm non tư thục hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học của giáo viên khối mẫu giáo tại một số trường mầm non tư thục trong địa bàn thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, giáo dục tại thị xã Dĩ An

2.1.1. Khái quát về đặc điểm địa lý, điều kiện tự nhiên

Tỉnh Bình Dương và tỉnh Bình Phước được thành lập từ việc tách tỉnh Sông Bé theo quyết định của Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 10 vào ngày 6/11/1996. Theo đó Bình Dương thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là một trong những tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, phát triển công nghiệp năng động của cả nước. Dĩ An là một thị xã của tỉnh Bình Dương, tiếp giáp với hai thành phố là Biên Hòa và Thành phố Hồ Chí Minh đồng thời là cửa ngõ quan trọng để đi các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và các tỉnh phía Bắc Việt Nam.

Chính vì vậy hiện nay thị xã Dĩ An là một trong những nơi tập trung nhiều khu chế xuất, với 7 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động là: Sóng Thần 1, Sóng Thần 2, Bình Đường, Tân Đông Hiệp A, Tân Đông Hiệp B, Khu công nghiệp Tân Bình, Cụm công nghiệp may mặc Bình An. Tình hình kinh tế – xã hội của thị xã phát triển cao và ổn định, đạt kết quả khá toàn diện trên nhiều lĩnh vực như công nghiệp, dịch vụ… tổng thu mới ngân sách đều vượt dự toán UBND tỉnh giao. Các chính sách an sinh xã hội luôn được bảo đảm; hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao diễn ra sôi nổi. Tình hình an ninh chính trị – trật tự an toàn xã hội luôn được giữ vững.

Sự tăng trưởng về kinh tế với nhiều khu công nghiệp dẫn đến việc thu hút dân cư từ các tỉnh thành khác trong cả nước đến để lao động và sinh sống trong những năm gần đây. Số lượng người dân nhập cư về Dĩ An ngày một tăng cao. Đây chính nguyên nhân dẫn đến lượng trẻ trong tuổi học mầm non ngày càng tăng nhanh và ngành giáo dục mầm non của tỉnh nói chung và thị xã Dĩ An nói riêng cũng không ngừng đổi mới nhằm đáp ứng kịp thời với nhu cầu thực tế.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Giáo Dục

2.1.2. Tình hình giáo dục mầm non tại thị xã Dĩ An Luận văn: Khái quát dạy học tại các trường mầm non tư thục

Năm học 2016 -2017 toàn ngành giáo dục và đào tạo thị xã Dĩ An tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 29 của Ban chấp hành Trương ương Đảng khóa XI ban hành ngày 4 tháng 11 năm 2013 về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế”. Ngành giáo dục đã nỗ lực khắc phục khó khăn, tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đẩy mạnh các cuộc vận động và phong trào thi đua trong toàn ngành, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học. Tăng cường mạng lưới nhà trường, đảm bảo đủ chỗ cho học sinh các cấp. Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên các cấp học đạt chuẩn và trên chuẩn chiếm tỷ lệ cao. Từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đào tạo. Cơ sở vật chất, trang thiết bị và trường lớp được chú trọng đầu tư theo hướng chuẩn hóa, bảo đảm đầy đủ số lượng, đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh và giảng dạy của giáo viên.

Theo số liệu từ Báo cáo tổng kết năm học 2016 – 2017, kế hoạch nhiệm vụ năm học 2017 – 2018 của phòng GD&ĐT thị xã Dĩ An thì toàn thị xã Dĩ An có 104 đơn vị, gồm 10 trường công lập, 46 trường ngoài công lập và 48 nhóm trẻ có phép. Tổng số trẻ/nhóm – lớp trong năm học 2016 – 2017 là 23.226/643, so với năm học trước tăng 1.952 trẻ và 66 nhóm – lớp. Chỉ tính riêng số trẻ/số lớp mẫu giáo 5 tuổi đến trường là 7.110/164 lớp, so với năm học trước tăng 1824/28 lớp, tỷ lệ huy động: 99,61%, trong đó tỷ lệ học bán trú đạt 100%. Qua số liệu trên cho thấy trường MNTT là loại hình đang chiếm ưu thế tại thị xã, số lượng gấp 4 lần trường MN công lập, mang đến sự đóng góp quan trọng trong cung cấp dịch vụ giáo dục mầm non tại địa phương. Vì vậy hiệu quả quản lý hoạt động dạy học của các trường MNTT trên địa bàn ảnh hưởng lớn đến chất lượng dạy học mầm non tại địa phương, tác động đến chất lượng dạy học mầm non chung của tỉnh Bình Dương.

Trong nghiên cứu này tác giả lựa chọn đối tượng là các trường mầm mon ngoài công lập nằm trong 46 trường ngoài công lập đã đang hoạt động tại địa phương. Các trường này có mức độ tuân thủ các yêu cầu về người quản lý, GV, cơ sở vật chất tốt hơn các nhóm trẻ. Ngành giáo dục đã chỉ đạo các trường mầm non trên địa bàn đảm bảo tích cực thực hiện công tác đổi mới giáo dục gồm: Đổi mới căn bản toàn diện chất lượng giáo dục và đào tạo; Đổi mới công tác dạy và học; Đổi mới thi cử, kiểm tra đánh giá chất lượng giáo dục theo hướng phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh. Kết hợp tốt 3 môi trường giáo dục gồm nhà trường, gia đình và xã hội, tạo điều kiện để các em học sinh được phát triển toàn diện thể chất, kiến thức và nhân cách. Ngoài ra các trường luôn chú trọng tăng cường giáo dục kỹ năng sống, xem trọng và thực hiện nghiêm túc việc đánh giá nâng lực nhà giáo, đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục trong thời gian vừa qua. Ngành giáo dục cũng đã quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, cơ sở hiện đại cho hầu hết các cơ sở giáo dục mầm non. Với những nỗ lực trên đã tạo nên một kết quả đáng khích lệ đối với giáo dục mầm non là tỷ lệ phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi đạt 100% tại thị xã Dĩ An.

Dù lượng trẻ đến trường đông, mạng lưới trường mầm non dày đặc nhưng ngành giáo dục thị xã vẫn không ngừng quan tâm, theo dõi và chú trọng trong công tác chăm sóc giáo dục cũng như đảm bảo đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ giáo viên. Các hoạt động diễn ra hàng năm như tổ chức hội thi Đồ dùng dạy học; Giải thưởng Võ Minh Đức – tìm kiếm gương mặt giáo viên dạy giỏi; Hội thi nấu ăn, cắm hoa; các lớp bồi dưỡng, tập huấn về chương trình dạy học đổi mới; Sáng kiến kinh nghiệm… phần nào thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo ngành, giúp cán bộ, giáo viên mầm non trên địa bàn yên tâm thực hiện sự nghiệp trồng người cao cả.

Tuy nhiên bên cạnh những thành công thì giáo dục mầm non tại Dĩ An còn vướng một số khó khăn. Cụ thể sự phát triển của cơ sở vật chất không tương xứng với sự phát triển cơ học về số lượng khi thị xã tiến hành thu hút lao động từ khắp nơi đến để giải quyết nhu cầu phát triển kinh tế. Điều này đã dẫn đến một thực tế là dù số lượng cơ sở giáo dục mầm non rất cao nhưng lượng trẻ ở mỗi lớp vẫn vượt so với quy định từ 5 đến 10 học sinh trên mỗi lớp ở mức 25 đến 35 học sinh tùy vào độ tuổi. Mức này vẫn thấp hơn so với sỉ số lớp tại các trường mầm non công lập trên địa bàn thị xã thường có sĩ số dao động từ 45-50 trẻ. Điều này tạo điều kiện để nhà trường thực hiện hoạt động dạy học có chất lượng hơn.

2.1.3. Khái quát về giáo dục mầm non tư thục tại thị xã Dĩ An Luận văn: Khái quát dạy học tại các trường mầm non tư thục

Hiện nay với sự cho phép của ngành giáo dục trong xã hội hóa giáo dục các cấp đã giúp thu hút đầu tư của nhiều nguồn lực vào phát triển giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng. Với hàng loạt quy định trong thúc đẩy xã hội hóa giáo dục như Nghị định số 69/2008/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường của Chính phủ; Nghị định số 59/2014/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2008/NĐ-CP cho phù hợp với tình hình thực tiễn. Hay để phát triển giáo dục mầm non khu công nghiệp, khu chế xuất, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 404/QĐ-TTg, ngày 20-3-2014, về phê duyệt Đề án hỗ trợ phát triển nhóm trẻ độc lập tư thục khu vực khu công nghiệp, khu chế xuất đến năm 2020. Theo đó nhà đầu tư thực hiện xã hội hóa được hưởng nhiều chính sách ưu đãi, như được Nhà nước giao đất, cho thuê đất đã hoàn thành giải phóng mặt bằng; được hỗ trợ kinh phí bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với các dự án đầu tư đã tự thực hiện công tác đền bù, giải phóng mặt bằng; được hưởng mức ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp…

Bảng 2.1: Một số trường mầm non tư thục tại thị xã Dĩ An

Như đã nói ở chương 1, MNTT là cơ sở giáo dục mầm non được thành lập và đảm bảo kinh phí hoạt động bởi một tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân, sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước. Trường MNTT là một tổ chức giáo dục dưới hình thức xã hội hóa giáo dục tiêu biểu. Vì vậy với các chính sách khuyến khích hiện nay các trường MNTT đang phát triển mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng. Chỉ tính riêng trên địa bàn thị xã Dĩ An đã có 46 trường MNTT đang hoạt động, mỗi năm thực hiện dạy học cho hàng nghìn học sinh. Quy mô hoạt động của các trường có sự khác biệt khá lớn biến động từ 2 lớp đến 14 lớp, mỗi lớp từ 25 đến trên 35 trẻ.

Nằm trong tỉnh Bình Dương các trường MNTT tại thị xã Dĩ An có những thuận lợi như sự ổn định kinh tế của địa phương, sự nhận thức ngày càng cao của phụ huynh trong vấn đề học tập của trẻ, hầu hết các bậc phụ huynh đều có nguyện vọng cho con trẻ đi học sớm tại các trường có uy tín, chất lượng. Chính vì thế số lượng các trường MNTT tại địa phương ngày càng tăng về cả số lượng và chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu gửi trẻ ngày càng tăng của các phụ huynh có con em trong độ tuổi mầm non tại địa phương. Một số trường MNTT mới xây dựng với qui mô lớn như MNTT Hoa Hướng Dương 2 và MNTT Việt Anh 2… các trường này đều chú ý trang bị thiết bị đồ chơi, đồ dùng dạy học cũng như khai thác, sử dụng triệt để hiệu quả trong công tác nuôi dạy trẻ vì thế chất lượng dạy học và chăm sóc trẻ ngày càng được nâng cao và được phụ huynh tín nhiệm trong thời gian vừa qua.

Bên cạnh đó các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát đến các trường trên địa bàn trong đó có bậc học mầm non trong việc thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia về công tác giáo dục. Các Ban ngành, đoàn thể phối hợp với các nhà trường tốt trong công tác tuyên truyền vận động trẻ ra lớp và thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục tạo điều kiện cho nhà trường thực hiện tốt công tác chăm sóc giáo dục trẻ.

Tất cả những điều trên tạo nên một môi trường giáo dục tốt cho cả trẻ, phụ huynh và các nhà trường trong triển khai dạy học cho trẻ, nâng cao chất lượng học tập và thực hiện đổi mới các phương pháp dạy học theo hướng tích cực cho trẻ, lấy trẻ làm trung tâm của hoạt động giáo dục. Luận văn: Khái quát dạy học tại các trường mầm non tư thục

Sau khi tìm hiểu tổng quan, tôi đưa ra một số nhận xét về ưu nhược điểm của trường mầm non tư thục tại thị xã Dĩ An

Ưu điểm của trường MNTT

Số trẻ trong lớp: Ưu điểm vượt trội ở trường tư thục là số trẻ mỗi lớp ít, giáo viên quan tâm đến từng trẻ.

Cơ sở vật chất: mang tính cạnh tranh cao ở hệ thống trường tư, nên các trường tư thục đầu tư tốt về cơ sở vật chất, các thiết bị phục vụ nhu cầu học tập của trẻ, không gian vui chơi thường hiện đại. ngoài ra trường MNTT còn trang bị camera trực tuyến để quản lý nhà trường và phụ huynh dể dàng quản lý, theo dõi hoạt động của giáo viên và của trẻ, đây cũng là một trong những ưu điểm nổi bật.

Thời gian hoạt động: Nếu như ở trường công lập thời gian đưa đón trẻ cố định, khó khăn cho bố mẹ nếu có việc bận đột xuất thì ở trường tư thục khoảng thời gian đưa đón bé khá linh động, ngoài ra chế độ chăm sóc ngoài giờ cũng là một trong những ưu điểm mà nhiều phụ huynh lựa chọn trường MNTT.

Về phương pháp, nội dung và hình thức tổ chức hoạt động dạy học: trường MNTT cũng thực hiện theo yêu cầu chung của chương trình khung tuy nhiên các trường MNTT hiện nay luôn có những quan điểm giáo dục hoặc dạy học theo các phương pháp giáo dục hiện đại như Steiner, Montessori và Reggio Emilia. Chính điểm này đã thu hút nhiều phụ huynh có nhu cầu tìm hiểu về các phương pháp giáo dục sớm và yêu thích các phương pháp dạy học hiện đại thay cho hoạt động dạy học truyền thống.

Hoạt động ngoài giờ: Trường mầm non tư thục thường có các tiết học tiếng anh để trẻ có thể sớm làm quen ngoại ngữ, yêu thích môn này nhờ những phương pháp giảng dạy sáng tạo. Các trường MNTT thường tổ chức các hoạt động ngoại khóa, dã ngoại cho trẻ đặc biệt là các hoạt động khám phá thiên nhiên và rèn kỹ năng xã hội.

Mối quan hệ với phụ huynh học sinh: đây là một trong những ưu thế nổi bật của trường MNTT, GVMN và PHHS có mối quan hệ hai chiều thật sự do tác động từ các yếu tố đã liệt kê trên. Do lượng trẻ ít trong một nhóm nên GV có thể quan tâm và trao đổi cụ thể, trực tiếp với PHHS hơn so với các trường MN công lập có lượng trẻ đông.

Hạn chế của trường MNTT

Học phí cao: thông thường thì học phí các trường tư thục thường cao gấp 2- 3 lần so với trường công lập. Chính vì thế mà những hộ gia đình có thu nhập trung bình khó có thể cho trẻ theo học ở đây.

Chất lượng giáo viên: không đồng đều, thường xuyên thay đổi giáo viên, số giáo viên kinh nghiệm thường ít.

Chương trình học ở trường tư thục: không được chuẩn theo giáo án mà Bộ Giáo dục đưa ra, tất cả đều là do giáo viên trong trường tự lên giáo án giảng dạy. Hoạt động nuôi dưỡng được chú trọng hơn hoạt động dạy học. Hoạt động dạy học thường rập khuôn, qua loa.

Thời gian trẻ được dạy học: khá ít, thay vào đó trẻ sẽ vui chơi, xem tivi nhiều hơn nên chất lượng đào tạo chưa thật sự được tốt. Công tác kiểm tra giám sát chất lượng dạy và học các lớp còn kém.

2.2 Thống kê khảo sát Luận văn: Khái quát dạy học tại các trường mầm non tư thục

2.2.1 Thống kê kết quả chọn mẫu khảo sát

Đối tượng khảo sát trong nghiên cứu này là các CBQL tại các trường MNTT và GV khối mẫu giáo đang trực tiếp chăm sóc và giáo dục trẻ ở một số trường MNTT trên địa bàn thị xã Dĩ An. Cụ thể tác giả thực hiện khảo sát đối với 30 CBQL và 70 GV. Với thời gian nghiên cứu có hạn nên tác giả không khảo sát tất cả các trường MNTT mà chỉ lựa chọn 10 trường, các trường được lựa chọn ngẫu nhiên để đơn giản cho việc tiếp cận, không phân biệt về quy mô, chất lượng dạy học. Điều này cho phép các dữ liệu thu thập được mang tính khách quan, đảm bảo độ tin cậy để phân tích cũng như mang tính đại diện cho các trường MNTT.

Cụ thể phường Dĩ An có 4 trường vì đây là phường có số lượng trường MNTT lớn nhất trong tất cả các phường của thị xã. Các phường còn lại gồm phường An Bình, phường Bình An, phường Bình Thắng, phường Đông Hòa, phường Tân Bình và phường Tân Đông Hiệp mỗi phường tác giả chọn một trường ngẫu nhiên (bảng 2.2).

Với tổng số phiếu được phát ra là 30 dành cho CBQL và 70 dành cho đối tượng GV khối MG, tác giả kỳ vọng sẽ thu thập được 100 mẫu có đủ cơ sở dữ liệu để phân tích.

Tác giả tiếp cận đến trường trong danh sách lựa chọn khảo sát, tiếp cận BGH nhà trường, xin cung cấp thông tin về những CBQL trong trường và các GV khối MG đang trực tiếp giáo dục trẻ mẫu giáo ở trường. Từ đó đề ra biện pháp thích hợp để tiếp cận, xin ý kiến khảo sát. Tiếp theo tác giả thực hiện tiếp xúc với các đối tượng nghiên cứu tại các trường mầm non tại các trường trong danh sách đã lựa chọn, nơi công tác của các đối tượng khảo sát. Hình thức tiếp xúc là trực tiếp hay thông qua việc gửi thư, gửi mail, fax, mạng xã hội để nhờ các đối tượng đánh giá cho ý kiến về vấn đề khảo sát.

Bảng 2.2: Danh sách 10 trường được lựa chọn lấy mẫu khảo sát

Kết quả khảo sát tác giả thu về đủ số lượng gồm 30 phiếu đã phát cho CBQL và 70 phiếu đã phát cho GV khối MG tại các trường. Số phiếu được chia đều cho các trường, với số lượng 10 trường thì số phiếu sẽ là 3 phiếu cho CBQL và 7 phiếu cho GV khối MG tại các trường. Với số lượng bảng khảo sát cho từng đối tượng như trên tác giả thu hồi và sàng lọc, loại bỏ những bảng không phù hợp, thiếu dữ liệu đánh giá hoặc hư hỏng. Đánh giá cho thấy mỗi đối tượng khảo sát có 1 phiếu thiếu nhiều thông tin không thể đưa vào để tiến hành phân tích dữ liệu. Số lượng phiếu không đảm bảo dữ liệu rất nhỏ nên không ảnh hưởng nhiều đến kết quả phân tích.

Kết quả số phiếu thu về đạt yêu cầu là 97% cho đối tượng CBQL; 99% cho đối tượng GV (bảng 2.3). Các phiếu đạt yêu cầu sẽ được tác giả đưa vào phân tích dữ liệu và sử dụng các phần mềm hỗ trợ phân tích là SPSS V22 và Excell 2007, trong đó SPSS (viết tắt của Statistical Package for the Social Sciences) được dùng chủ đạo trong phân tích dữ liệu.

Bảng 2.3. Thống kê số lượng mẫu khảo sát

SPSS có phiên bản đầu tiên ra đời năm 1968, được xây dựng bởi Norman Nie, Stanford Uni. Mỹ. Được phát triển nhanh và không ngừng hoàn thiện. Phần mềm liên kết được dễ dàng với bảng tính Excel và khá dễ sử dụng với các nhà không chuyên về đo lường trong giáo dục. Chính vì thế trong nghiên cứu này tác giả sử dụng SPSS phân tích dữ liệu để có được kết quả nhanh chóng và chính xác. Tác giả tiến hành nhập dữ liệu vào phần mềm SPSS, các câu hỏi sẽ được mã hóa tương ứng thể hiện trong phần phụ lục. Kết quả tích sẽ trình bày lần lược ở các phần tiếp theo.

2.2.2 Thống kê mô tả đặt tính đối tượng khảo sát Luận văn: Khái quát dạy học tại các trường mầm non tư thục

Sau quá trình thu thập dữ liệu tác giả tiến hành phân tích và trình bày kết quả theo từng bước. Đầu tiên là phân tích thống kê mô tả, trong phần này các thông tin riêng của đối tượng nghiên cứu sẽ được phân tích để có cái nhìn sơ bộ và đánh giá đặt tính cá nhân đối tượng khảo sát như giới tính, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác, đối với đối tượng GV sẽ có thêm thông tin về khối lớp giảng dạy. Các phân tích sẽ đưa ra tỷ lệ % về đặt tính riêng của đối tượng khảo sát.

Về thành phần giới tính: Bảng (2.4) cho thấy đối tượng CBQL có tỷ lệ nữ giới chiếm phần lớn với 96,6%, trong khi đó số lượng nam chỉ chiếm 3,4% số lượng phiếu được đưa vào phân tích. Trong khi đó đối tượng GV nữ lại chiếm 100% số lượng khảo sát. Qua số liệu này có thể đánh giá sơ bộ rằng giáo dục ở lứa tuổi MG tại các trường mầm non thường dành cho đối tượng nữ thực hiện.

Bảng 2.4: Sơ bộ thống kê thông tin đối tượng khảo sát (ĐVT: %)

Về thành phần trình độ: Cho thấy ở cả hai đối tượng thì trình độ ở 3 cấp gồm Trung cấp, Cao đẳng và Đại học; không có trình độ sau Đại học được tìm thấy. Cụ thể đối tượng CBQL có tỷ lệ Trung cấp chiếm 34,5%, Cao đẳng chiếm 51,7% và Đại học chiếm tỷ lệ 13,8%; đối tượng GV có tỷ lệ Trung cấp chiếm 76,8%, Cao đẳng chiếm 20,3% và Đại học chiếm tỷ lệ 2,9%. Có một sự khác biệt là trình đối tượng CBQL có tỷ lệ trình độ Cao đẳng chiếm đa số, trong khi đó đối tượng GV lại có trình độ Trung cấp chiếm đa số, tuy nhiên đây không phải là trình độ quản lý mà là trình độ chuyên môn của CBQL.

Về thâm niên công tác: Cho thấy đối tượng CBQL có tỷ lệ cá nhân có thâm niên công tác lâu dài với nhà trường nhiều hơn so với đối tượng GV. Số lượng đối tượng CBQL có thâm niên công tác tại nhà trường từ 5 năm trở lên chiếm 27,7% trong khi đó đối tượng GV chỉ chiếm 7,2%. Điều này có nhiều nguyên nhân, nhưng một nguyên nhân tác động lớn nhất là cách thức lựa chọn CBQL tại các trường, theo đó yêu cầu đối với CBQL cao hơn về thâm niên so với GV. Qua đây cũng cho thấy một hạn chế tại các trường MNTT là thường xuyên thay đổi giáo viên, số giáo viên nhiều kinh nghiệm ít.

Về khối lớp giảng dạy: Trẻ lứa tuổi MG là độ tuổi từ 3 – 6 tuổi. Qua khảo sát cho thấy không có sự chênh lệch lớn về thành phần giáo viên dạy ở các khối lớp 3 – 4 tuổi, 4 – 5 tuổi và 5 – 6 tuổi. Điều này sẽ cho phép dữ liệu thu thập được mang tính khách quan hơn và không phụ thuộc nhiều vào thành phần khối lớp mà đối tượng GV đảm nhận. Luận văn: Khái quát dạy học tại các trường mầm non tư thục

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Thực trạng của một số trường mầm non tư thục

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464