Luận văn: Hoàn thiện PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoàn thiện PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Yêu cầu đối với việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử

Sự phát triển của Công nghệ thông tin, Giao dịch điện tử đã làm thay đổi cách thức giao dịch, Giao kết hợp đồng truyền thống và đem lại những lợi ích to lớn cho xã hội. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng đối với Việt Nam đây là hình thức giao dịch mới, tiềm ẩn những rủi ro nhất định do hệ thống hạ tầng công nghệ và cơ sở pháp lý còn hạn chế ở nước ta.

Đồng thời trong bối cảnh hội nhập quốc tế toàn cầu hóa, đặc biệt khi Việt Nam tham gia xây dựng cộng đồng ASEAN và ký kết Hiệp định đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), việc hoàn thiện pháp luật về Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử cũng như nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trong lĩnh vực này cần phải đảm bảo một số yêu cầu sau:

3.1.1. Phải bảo đảm tính thống nhất của toàn bộ hệ thống pháp luật hợp đồng

Về bản chất hợp đồng Thương mại điện tử là một dạng hợp đồng đặc thù bởi cách thức giao kết khác biệt. Vì vậy, hợp đồng Thương mại điện tử nói chung cũng như Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử nói riêng không cần thiết phải được xây dựng thành một đạo luật điều chỉnh riêng biệt. Vì sự tiến bộ của khoa học công nghệ ảnh hưởng tới hệ thống pháp luật nên luật hợp đồng phải thừa nhận và điều chỉnh một cách hợp lý những thay đổi cơ bản trong cách thức thiết lập hợp đồng mới này.

Vấn đề đặt ra là phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong đó vừa phải đảm bảo có những quy định điều chỉnh những vấn đề đặc thù trong GKHĐ điện tử, lại vừa đảm bảo sự thống nhất của hệ thống pháp luật hợp đồng nói riêng và toàn bộ hệ thống pháp luật quốc gia nói chung. Tính thống nhất của pháp luật về hợp đồng thể hiện ở chỗ pháp luật về hợp đồng phải là một chỉnh thể được cấu thành bởi các quy phạm, cách chế định pháp luật có nội dung rõ ràng, tương thích, nhất quán, không mâu thuẫn, không chồng chèo, không phủ định nhau. Nội dung tính thống nhất của pháp luật hợp đồng thể hiện ở những điểm cơ bản sau: các nguyên tắc, chế định, quy phạm pháp luật được sắp xếp một cách khoa học, logic, cụ thể, không mẫu thuẫn, chồng chèo về nội dung. Trong đó, đòi hỏi các văn bản pháp luật phải được sắp xếp theo trật tự giá trị hiệu lực của văn bản, các quy định trong các văn bản chuyên ngành không được trái với văn bản pháp luật chung.

Xuất phát từ yêu cầu này, các quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2015 phải luôn được coi là các quy định gốc, chung nhất và có hiệu lực điều chỉnh đối với tất cả các quan hệ hợp đồng. Các quy định về pháp luật hợp đồng điện tử hay Giao kết hợp đồng điện tử chỉ điều chỉnh việc tạo lập, đề nghị, chấp nhận đề nghị Giao kết hợp đồng bằng các phương tiện điện tử có kết nối mạng, còn về bản chất hợp đồng vẫn tuân theo các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3.1.2. Đảm bảo phù hợp với hạ tầng ứng dụng công nghệ thông tin của Việt Nam

Pháp luật nói chung hình thành do nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội. Chức năng của pháp luật chỉ có thể thực hiện khi nó được xây dựng phù hợp với những điều kiện cụ thể của xã hội trong từng thời kỳ nhất định: “Một hệ thống pháp luật có thể được xây dựng khá toàn diện, không có mâu thuẫn, nhưng lại không phù hợp với trình độ phát triển của xã hội là một hệ thống ảo. Đó có thể là hệ thống pháp luật duy ý chí hay một một hệ thống pháp luật vay mượn, sao chép” [24, tr.4].

Như vậy, một trong những yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật về hợp đồng Thương mại điện tử là phải đảm bảo tính phù hợp và khả năng thích ứng với điều kiện, hạ tầng ứng dụng Công nghệ thông tin của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Khi xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hợp đồng Thương mại điện tử phải tính đến một cách đầy đủ, toàn diện các điều kiện về cơ chế, tổ chức, nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính và các điều kiện vật chất khác của hạ tầng Công nghệ thông tin. Hệ thống thông tin phải đảm bảo về tốc độ truyền dẫn thông tin đủ lớn, độ ổn định và an toàn cao. Cơ sở hạ tầng về mạng viễn thông phải đủ mạnh, đồng thời đảm bảo chi phí hợp lý để các doanh nghiệp có khả năng tiếp cận với các dịch vụ truyền thông, đặc biệt là internet.

3.1.3. Phải đặt trong giải pháp tổng thể hoàn thiện pháp luật về giao dịch điện tử Luận văn: Hoàn thiện PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.

Hoàn thiện pháp luật về Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử không thể tách rời việc hoàn thiện pháp luật liên quan đến Giao dịch điện tử. Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử có mối quan hệ biện chứng và mật thiết với các chế định của pháp luật về Giao dịch điện tử. Vì vậy, nghiên cứu về Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử cần phải đặt trong sự nghiên cứu tổng thể các quy định pháp luật về Giao dịch điện tử.

Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc tạo lập môi trường pháp lý nhằm thúc đẩy và phát triển Giao dịch điện tử, qua đó tận dụng các cơ hội mà Công nghệ thông tin mang lại góp phần đẩy mạnh sự phát triển kinh tế – xã hội. Các văn bản pháp luật về Giao dịch điện tử nói chung và Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử nói riêng ở các quốc gia đều mới chỉ ban hành trong khoảng 20 năm gần đây đã cho thấy tính thời sự của hoạt động này. Việt Nam cần coi trọng việc hoàn thiện khung pháp lý phù hợp để điều chỉnh các quan hệ phát sinh từ Giao dịch điện tử, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân, đảm bảo sự bình đẳng và an toàn trong Giao dịch điện tử.

Là lĩnh vực mới mẻ, các văn bản pháp luật về Giao dịch điện tử sẽ phải thường xuyên được bổ sung, sửa đổi để tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các bên tham gia là điều tất yếu. Ngoài ra, do Công nghệ thông tin thường thay đổi một cách nhanh chóng nên các quy định pháp luật về Giao dịch điện tử cũng phải sửa đổi tương ứng. Vì vậy, quan tâm hoàn thiện khung pháp lý về Giao dịch điện tử, mà cụ thể ở đây là hoạt động Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử vào thời điểm hiện tại luôn là yêu cầu có tính khách quan. Luận văn: Hoàn thiện PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.

Với cách tiếp cận như vậy, để hoàn thiện pháp luật về Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử cần phải xem xét tổng thể và tương thích với các vấn đề pháp luật về giao dịch điện tử có liên quan như:

  • Các vấn đề liên quan tới việc thừa nhận giá trị pháp lý của chứng từ điện tử;
  • Vấn đề liên quan đến ngành, nghề kinh doanh dịch vụ Thương mại điện tử;
  • Các vấn đề về thuế và chính sách ưu đãi về thuế nhằm tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh Thương mại điện tử và khuyến khích người tiêu dùng mua bán trực tuyến;
  • Vấn đề bảo vệ người tiêu dùng trong Giao dịch điện tử;
  • Vấn đề quản lý website Thương mại điện tử;
  • Các vấn đề về an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong Giao dịch điện tử;
  • Các vấn đề về giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm pháp luật trong Giao dịch điện tử như: Giá trị pháp lý làm chứng cứ của chứng từ điện tử, cơ chế giải quyết tranh chấp trực tuyến, chế tài đối với các hành vi vi phạm pháp luật về Giao dịch điện tử; thẩm quyền và cơ chế thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính về Giao dịch điện tử; tội phạm trong lĩnh vực công nghệ cao và trong Giao dịch điện tử;
  • Vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong Thương mại điện tử;
  • Vấn đề điều chỉnh pháp luật đối với các đối tượng phát sinh trong hoạt động Thương mại điện tử;
  • Vấn đề khuyến khích đầu tư và hoạt động kinh doanh dịch vụ trực tuyến;
  • Vấn đề về các mô hình thanh toán trực tuyến.

3.1.4. Đảm bảo tương thích với các quy định pháp luật quốc tế

Có thể thấy, hoàn thiện pháp luật về hợp đồng điện tử nói chung hay Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử nói riêng cần tính đến những tác động và yêu cầu thực tiễn của quá trình hội nhập. Hoạt động này phản ánh được quá trình tăng cường quan hệ qua lại và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước trong xu thế toàn cầu hóa. Điều đó có nghĩa pháp luật về hợp đồng điện tử, Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử của Việt Nam không những phải phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội, cơ sở hạ tầng ứng dụng Công nghệ thông tin trong nước, mà còn phải đảm bảo sự phù hợp với các cam kết, thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam tham gia. Luận văn: Hoàn thiện PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.

Vừa qua, ngày 4/2/2016, Việt Nam đã chính thức ký Hiệp định TPP, trong đó có 18 điều tại Chương 14 về Thương mại điện tử. 18 điều này không đề cập đến tất cả các vấn đề về Thương mại điện tử mà tập trung vào 3 nhóm sau đây: Nhóm một, bao gồm một số các cam kết cụ thể về chính sách của Nhà nước đối với các hoạt động Thương mại điện tử, trong đó đáng chú ý có cam kết không đánh thuế xuất nhập khẩu đối với việc truyền dẫn điện tử; cam kết không phân biệt đối xử giữa các sản phẩm kỹ thuật số tương tự nhau và cam kết thừa nhận giá trị pháp lý của chữ ký số và tôn trọng quyền tự do thỏa thuận phương thức ký số; nhóm hai, bao gồm các quy định để bảo vệ người tiêu dùng trên môi trường mạng trước các hành vi gian lận, lừa đảo trong Thương mại điện tử và để bảo vệ thông tin cá nhân của người dùng trong Thương mại điện tử; và nhóm ba, là các cam kết về tôn trọng tự do của các chủ thể tham gia Thương mại điện tử. Có thể thấy, các quy định hiện hành về Thương mại điện tử của Việt Nam là tương đối phù hợp với TPP. Trong giao dịch điện tử, TPP yêu cầu “Các Bên sẽ phải duy trì một khung pháp lý điều chỉnh các giao dịch điện tử phù hợp với các nguyên tắc của Luật mẫu UNCITRAL về Thương mại điện tử 1996 hoặc Công ước Liên hợp quốc về sử dụng các liên lạc điện tử trong các hợp đồng quốc tế đã được thông qua tại New York vào 23/11/2005” (Điều 5 Chương 14 TPP Khung quy định trong nước về giao dịch điện tử). Chính vì vậy yêu cầu cấp thiết của Việt Nam là phải nhanh chóng gia nhập Công ước về sử dụng các liên lạc điện tử trong hợp đồng quốc tế năm 2005 để phù hợp với các quy định của TPP.

3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử Luận văn: Hoàn thiện PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.

Có thể nói, cho đến hiện nay, khung pháp lý về Giao dịch điện tử nói chung và Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử nói riêng đã và đang từng bước được hoàn thiện. Luật Giao dịch điện tử đầu tiên tại Việt Nam được ra đời năm 2005 được xem là nền tảng và dấu mốc quan trọng nhất trong lĩnh vực này. Từ đó cho đến nay, hàng loạt các văn bản dưới luật được ban hành để áp dụng trong từng chuyên ngành cụ thể. Tuy nhiên với tốc độ phát triển nhanh chóng của loại hình Thương mại điện tử trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, có thể nói khung pháp lý về hợp đồng điện tử nói chung và Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử nói riêng cho đến nay vẫn chưa được đầy đủ và cần bổ sung, sửa đổi liên tục để hoàn thiện.

3.2.1. Bổ sung các quy định cụ thể hướng dẫn việc giao kết hợp đồng thương mại điện tử

Vấn đề Giao kết hợp đồng điện tử được quy định tại Chương IV Luật Giao dịch điện tử năm 2005 với 6 điều, từ Điều 33 đến Điều 38, cùng với các Điều 17, 18, 19 và 20 hướng dẫn về việc gửi, nhận thông điệp dữ liệu như một quy trình để Giao kết hợp đồng điện tử nói chung và hợp đồng Thương mại điện tử nói riêng. Tuy nhiên, có thể thấy, các quy định này còn sơ sài và chưa bao quát được hết các vấn đề pháp lý phát sinh khi Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử trong giai đoạn hiện nay. Có thể đặt ra hàng hoạt những câu hỏi chưa thể giải đáp rõ ràng như: yếu tố xác định một đề nghị Giao kết hợp đồng điện tử là bảo mật? Trong trường hợp người đề nghị Giao kết hợp đồng điện tử đã gửi đề nghị giao kết nhưng sau đó muốn thu hồi lại đề nghị đó thì phải làm như thế nào, khi các thao tác qua phương tiện điện tử gần như “tức thời”? Thế nào được coi là một chấp nhận đề nghị Giao kết hợp đồng điện tử? …Tất cả những vấn đề trên chưa được quy định trong Luật Giao dịch điện tử năm 2005, cho đến Nghị định 57/2006/NĐ-CP hay Nghị định 52/2013/NĐ-CP sau này đều chưa giải đáp cụ thể. Rõ ràng, việc bổ sung những quy định cụ thể hóa, hướng dẫn việc Giao kết hợp đồng điện tử nói chung và Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử nói riêng là rất cần thiết. Luận văn: Hoàn thiện PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.

3.2.2. Bổ sung quy định về giao kết hợp đồng thương mại điện tử có yếu tố nước ngoài

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu hóa như hiện nay, hợp đồng điện tử được coi là phương tiện hữu hiệu và phổ biến nhất được các doanh nghiệp lựa chọn khi giao kết đối với thương nhân nước ngoài. Hợp đồng Thương mại điện tử với những ưu điểm của mình có thể giao kết nhanh chóng với mọi thương nhân ở bất kì đâu trong mọi thời điểm. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm của mình, khi giao kết và thực hiện hợp đồng với đối tác nước ngoài cũng yêu cầu những đặc điểm riêng khác biệt so với hợp đồng trong nước. Đặc biệt trong lĩnh vực thương mại, tuy hợp đồng Thương mại điện tử mang tính phi biên giới, tính hiện đại và chính xác cao… nhưng cũng đi kèm với nhiều rủi ro, đặc biệt liên quan đến việc giải quyết tranh chấp yêu cầu về chứng cứ, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cũng như chi phí giải quyết tranh chấp là những vấn đề cần được giải đáp. Tuy nhiên, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 hiện nay chỉ quy định một điều khoản liên quan đến chữ ký điện tử và chứng thư điện tử (Điều 27 Luật Giao dịch điện tử năm 2005). Ngoài ra, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và Nghị định 52/2013/NĐ-CP về Thương mại điện tử nói riêng không có một quy định nào liên quan đến Giao kết hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài.

Chính vì vậy, để giải quyết những vướng mắc nêu trên, yêu cầu cấp thiết cần phải bổ sung vào Luật Giao dịch điện tử năm 2005 những vấn đề cơ bản nhất liên quan đến giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài. Chúng ta có thể tham khảo các quốc gia và các tổ chức quốc tế trên thế giới về vấn đề này như kinh nghiệm của Hoa Kỳ, Singapore hay UNCITRAL. Trong đó, cần thiết nhất là quy định về chữ ký điện tử đối với các doanh nghiệp nước ngoài. Để thúc đẩy hoạt động đầu tư, hội nhập quốc tế, cần thừa nhận giá trị pháp lý tương đương của chữ ký điện tử thuộc doanh nghiệp nước ngoài, theo hướng: “Việc công nhận hay không công nhận một chữ ký điện tử là dựa trên độ tin cậy của chữ ký đó chứ không phân biệt nguồn gốc của chữ ký hay của cơ quan chứng nhận chữ ký”. Trong đó, độ tin cậy của một chữ ký điện tử phụ thuộc trình độ kỹ thuật của công nghệ xây dựng hệ thống bảo mật chữ ký đó.

3.2.3. Quy định chi tiết về giao kết hợp đồng thương mại điện tử trong lĩnh vực đấu thầu và bán đấu giá tài sản Luận văn: Hoàn thiện PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.

Về Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử trong lĩnh vực đấu thầu cũng giống như với nhiều lĩnh vực khác, áp dụng Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử trong lĩnh vực đấu thầu đã đem lại những lợi ích rõ rệt. Cụ thể, Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử giúp tiết kiệm chi phí cho các nhà thầu; đảm bảo công khai, minh bạch hóa thủ tục đấu thầu; cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển [34]. Chính vì vai trò to lớn đó, nên sau 3 năm (2009-2011) thực hiện thí điểm, đấu thầu qua mạng đã chính thức được quy định trong Luật Đấu thầu năm 2013 (Khoản 13 Điều 4).

Hiện nay, pháp luật đấu thầu mới chỉ đề cập đến các nguyên tắc, yêu cầu đối với hệ thống mạng đấu thầu quốc gia (Điều 61 Luật Đấu thầu năm 2013, hay đăng tải thông tin về đấu thầu trên Hệ thống mạng đầu thầu quốc gia (Thông tư liên tịch 07/2015/TTLT-BKHĐT- BTC ban hành ngày 08/09/2015 quy định chi tiết việc cung cấp, đăng tải thông tin về đấu thầu và lựa chọn nhà thầu qua mạng). Đây chỉ là những quy định về điều kiện cần đảm bảo hoạt động đấu thầu qua mạng được khách quan, chứ chưa quy định chi tiết nội dung hoạt động giao kết Thương mại điện tử trong lĩnh vực đấu thầu.

Bên cạnh đó, có thể thấy hiện nay, các công đoạn đấu thầu vẫn chưa được điện tử hóa 100% mà còn một công đoạn vẫn phải tiến hành theo phương thức thủ công đó là chấm thầu. Nguyên nhân của vấn đề này là do hiện nay vẫn chưa có quy định và công thức tính toán cụ thể đủ làm cơ sở dữ liệu về nhà thầu qua mạng [35].

Đồng thời, khi đấu thầu qua mạng, việc đảm bảo an toàn và bảo mật chữ ký số trở nên vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, cho đến hiện nay, hoạt động công chứng điện tử vẫn chưa được chính thức thừa nhận ở Việt Nam. Đây là một trong những nguyên nhân khiến hoạt động đấu thầu qua mạng chưa được áp dụng phổ biến ở nước ta.

Vì lẽ đó, các nhà làm luật (chủ trì là Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cần nhanh chóng xây dựng văn bản quy định chi tiết giao kết Thương mại điện tử trong tất cả các công đoạn đấu thầu. Ngoài ra, cần thành lập Trung tâm đấu thầu qua mạng quốc gia, là đơn vị sự nghiệp thuộc Cục quản lý đấu thầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư để thực hiện chức năng xây dựng, quản lý và vận hành Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. Đồng thời, xây dựng và ban hành các cơ chế khuyến khích các chủ đầu tư, nhà thầu tích áp dụng đầu thầu qua mạng cũng như các chế tài xử phạt trong trường hợp không triển khai thực hiện giao kết qua internet theo lộ trình của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Luận văn: Hoàn thiện PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.

Về Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử trong bán đấu giá có thể thấy, việc Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử trong lĩnh vực bán đấu giá (hay còn gọi bán đấu giá qua internet) từng được quy định trong Nghị định 05/2005/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 18/01/2005 về bán đấu giá tài sản. Cụ thể, đấu giá thông qua mang internet được thừa nhận là 01 trong 04 hình thức đấu giá tài sản được quy định tại Điều 17 Nghị định 05/2005/NĐ-CP. Tiếp đó, Thông tư 03/2005/TT-BTP của Bộ Tư pháp ban hành ngày 04/05/2005 hướng dẫn một số quy định của Nghị định 05/2005/NĐ-CP cũng cho phép người bán đấu giá tài sản có phương tiện, trang thiết bị tin học phục vụ việc đấu giá thông qua mạng internet có thể đấu giá tài sản qua mạng (Tiểu mục 5.4 Thông tư 03/2005/TT-BTP hướng dẫn một số quy định của Nghị định 05/2005/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản).

Tuy nhiên, hiện nay, Nghị định 17/2010/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 04/03/2010 về bán đấu giá tài sản và Thông tư 23/2010/TT-BTP của Bộ Tư pháp ban hành ngày 06/12/2010 quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện Nghị định 17/2010/NĐ-CP lại không có một quy định nào về bán đấu giá tài sản thông qua mạng internet. Đây là một thiếu sót lớn, cần phải khắc phục kịp thời. Vì vậy, Chính phủ cần sớm sửa đổi Nghị định 17/2010/NĐ-CP trong đó ghi nhận hình thức bán đấu giá tài sản qua mạng. Đồng thời, Bộ Tư pháp cần quy định chi tiết về các điều kiện đảm bảo an toàn khi Giao kết hợp đồng qua internet để bán đấu giá tài sản, cũng như quy định phạm vi thực hiện bán đấu giá qua internet đối với từng loại tài sản, ví dụ như không cho phép bán đấu giá qua mạng đối với các tài sản đặc biệt như quyền sử dụng đất.

3.2.4. Gia nhập Công ước về Sử dụng chứng từ điện tử trong hợp đồng quốc tế của Liên hợp quốc

Công ước của Liên hợp quốc về sử dụng chứng từ điện tử trong hợp đồng quốc tế (Công ước 2005 – CUECIC) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua tại phiên họp lần thứ 38 tổ chức ngày 23/11/2005 tại New York. Công ước 2005 bao gồm Lời nói đầu và 25 điều chia làm 4 chương. Chương thứ 1 (Điều 1-3) nêu phạm vi áp dụng của Công ước và liệt kê các trường hợp ngoại lệ. Chương thứ 2 bao gồm các điều khoản chung, trong đó bao gồm các định nghĩa về thuật ngữ (Điều 4-7). Chương thứ 3 quy định về việc sử dụng thông tin điện tử trong hợp đồng quốc tế, nêu các điều khoản về công nhận pháp lý cho hợp đồng điện tử, các yêu cầu về hình thức, thời gian và địa điểm liên quan tới chứng từ điện tử, lời mời đưa ra đề nghị, sử dụng hệ thống tin nhắn tự động và các tình huống lỗi nhập thông tin (Điều 7-14). Chương 4 là những điều khoản cuối cùng. Công ước của Liên hợp quốc về Sử dụng chứng từ điện tử trong hợp đồng quốc tế ra đời nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng chứng từ điện tử trong thương mại quốc tế để đảm bảo các hợp đồng giao kết và các loại chứng từ khác được trao đổi bằng phương tiện điện tử cũng có giá trị và hiệu lực thực thi tương tự như bản giấy của chúng trong thương mại truyền thống [36].

Việc gia nhập Công ước về sử dụng chứng từ điện tử trong hợp đồng quốc tế năm 2005 sẽ đem lại cho Việt Nam những lợi ích giá trị về mặt pháp lý: Luận văn: Hoàn thiện PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.

Thứ nhất, việc gia nhập Công ước 2005 sẽ giúp thống nhất pháp luật về Giao kết hợp đồng điện tử của Việt Nam với các quốc gia trên thế giới. Với tính chất là một văn bản thống nhất luật, Công ước 2005 đã thống nhất hoá được nhiều mâu thuẫn giữa các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới, đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các xung đột pháp luật trong thương mại quốc tế và thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển. Vì vậy, khi gia nhập Công ước, Việt Nam sẽ được hưởng những lợi ích do văn bản thống nhất luật này mang lại, đồng thời giảm bớt xung đột pháp luật trong Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử, tạo khung pháp luật thống nhất, hiện đại trong lĩnh vực Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử đang ngày càng phát triển tại Việt Nam.

Thứ hai, việc gia nhập Công ước giúp hoàn thiện pháp luật về Giao kết hợp đồng nói chung và pháp luật về Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử nói riêng của mỗi quốc gia thành viên, trong đó có Việt Nam. Mặc dù số lượng thành viên của Công ước 2005 hiện tại không nhiều nhưng việc nhiều quốc gia đang xem xét để trở thành thành viên Công ước cho thấy những ảnh hưởng tích cực từ Công ước này. Công ước 2005 chỉ áp dụng với các giao dịch quốc tế, không áp dụng với các giao dịch nội địa nhưng Luật mẫu đi kèm được soạn thảo để quy định về các giao dịch nội địa. Nếu Việt Nam là thành viên sẽ không thể đơn phương thay đổi nội dung của Công ước 2005, và phải áp dụng toàn bộ các điều khoản trong Công ước, mặc dù có một số điều khoản về loại trừ.

Thứ ba, gia nhập Công ước 2005 cũng sẽ là cơ sở để việc giải quyết tranh chấp, nếu có, từ các hợp đồng điện tử có yếu tố quốc tế thuận lợi hơn. Nếu Việt Nam là thành viên của Công ước này, việc giải quyết các tranh chấp phát sinh hoặc có liên quan đến việc Giao kết hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài bởi tòa án hoặc trọng tài Việt Nam trở nên thống nhất và dễ dàng hơn. Bởi với Công ước về sử dụng chứng từ điện tử trong hợp đồng quốc tế năm 2005 thì nguồn luật được giải thích và áp dụng thống nhất hơn. Việc giải thích và áp dụng Công ước dễ dàng hơn rất nhiều so với việc viện dẫn hệ thống pháp luật quốc gia, bởi việc diễn giải Công ước có thể sử dụng các nguồn luật tham khảo phong phú như các bình luận chính thức của UNCITRAL của Công ước, các án lệ cũng như những bài viết của các học giả về Công ước này.

Thứ tư, gia nhập Công ước năm 2005 sẽ thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp nội địa, tăng tính cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài. Khi Việt Nam gia nhập Công ước, các doanh nghiệp có thể giảm bớt chi phí và thời gian đàm phán để thống nhất lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng. Đây là lợi ích lớn nhất khi các bên đã có một nguồn luật thống nhất để áp dụng. Điều này giúp giảm thiểu những rủi ro pháp lý cho thương nhân Việt Nam do thiếu sự hiểu biết đầy đủ về pháp luật nước ngoài cũng như cách áp dụng luật nước ngoài. Trong khi đó, họ có thể tham khảo rất dễ dàng (và miễn phí) các hệ thống cơ sở dữ liệu vô cùng phong phú về Công ước. Luận văn: Hoàn thiện PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.

Mặt khác, các doanh nghiệp Việt Nam có thể tránh được việc phải sử dụng đến quy phạm xung đột trong tư pháp quốc tế để xác định luật áp dụng cho hợp đồng. Khi các bên trong hợp đồng không lựa chọn, hoặc không thể lựa chọn được luật áp dụng cho hợp đồng, cơ quan giải quyết tranh chấp (tòa án, trọng tài) dẫn chiếu đến quy phạm luật xung đột để chọn một nguồn luật nhằm giải quyết tranh chấp có liên quan. Quy phạm luật xung đột thường là khác nhau ở các quốc gia, vì thế, việc áp dụng các quy phạm này thường dẫn đến tính khó dự đoán trước được về nguồn luật áp dụng, gây khó khăn đáng kể cho các bên tranh chấp. Khi gia nhập Công ước, Việt Nam sẽ thống nhất nguồn luật áp dụng trong mua bán hàng hóa quốc tế với các nước đối tác khi ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Khi đó, các thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài sẽ cùng chung “tiếng nói”, cùng chung một cơ sở pháp lý và các mối quan hệ mua bán hàng hóa sẽ chặt chẽ và rộng mở hơn nữa, tránh được tranh chấp phát sinh.

Có thể thấy, với những lợi ích to lớn trên, dù còn nhiều khó khăn vướng mắc, nhưng việc gia nhập Công ước sử dụng chứng từ điện tử trong hợp đồng quốc tế năm 2005 của Liên hợp quốc là yêu cầu tất yếu khách quan và thực sự cấp thiết trong giai đoạn hội nhập kinh tế toàn cầu hóa như hiện nay.

3.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử Luận văn: Hoàn thiện PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.

3.3.1. Đẩy mạnh công tác đào tạo đội ngũ có năng lực giao kết hợp đồng thương mại điện tử

Nguồn nhân lực chính là nhân tố quyết định sự phát triển của Thương mại điện tử cũng như giao kết và thực hiện thành công hợp đồng điện tử. Mỗi doanh nghiệp muốn thành công lâu dài trong lĩnh vực Thương mại điện tử cần phải có đội ngũ nguồn nhân lực có khả năng chính phục lĩnh vực kinh doanh mới mẻ này. Việc ứng dụng Công nghệ thông tin vào Giao dịch điện tử nói chung và vào Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử nói riêng có thành công hay không phụ thuộc lớn vào nguồn lực con người. Một doanh nghiệp khi tham gia Giao kết hợp đồng không chỉ phải chuẩn bị về mặt nhận thức, về hạ tầng kỹ thuật mà còn cần đầu tư việc đào tạo nhân lực, đào tạo các cán bộ chuyên trách về cả mặt kỹ thuật, công nghệ, kinh tế và kiến thức pháp lý. Để có thể giao kết thành công một hợp đồng Thương mại điện tử, doanh nghiệp không chỉ cần sự hiểu biết về nội dung hợp đồng, các vấn đề pháp lý khi ký kết mà còn cần một đội ngũ cán bộ chuyên trách giỏi thao tác về nghiệp vụ ký kết hợp đồng điện tử.

Thực tiễn những năm qua cho thấy, những cán bộ chuyên trách về Thương mại điện tử trong các doanh nghiệp Việt Nam đều chủ yếu áp dụng từ kinh nghiệm thực tế, tức là chưa qua đào tạo bài bản, chưa có hiểu biết đầy đủ về mặt kiến thức, kỹ năng Công nghệ thông tin cũng như về mặt pháp lý. Theo Báo cáo Thương mại điện tử năm 2015 của Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin (VECITA) – Bộ Công thương, khảo sát từ 4.751 phiếu thu từ các doanh nghiệp trên cả nước cho thấy: Tỷ lệ doanh nghiệp có cán bộ chuyên trách về Công nghệ thông tin và Thương mại điện tử tăng qua các năm, từ 20% năm 2010 lên 73% năm 2015. Ba lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp có tỷ lệ cán bộ chuyên trách Công nghệ thông tin và Thương mại điện tử cao nhất là Công nghệ thông tin và truyền thông (94%), giải trí (90%) tài chính và bất động sản (85%). Nhưng về tuyển dụng cán bộ chuyên trách có trình độ cao, 24% doanh nghiệp cho biết gặp khó khăn trong tuyển dụng nhân sự có kỹ năng Công nghệ thông tin và Thương mại điện tử. Kết quả khảo sát trong 3 năm gần đây cho thấy tỷ lệ này có chiều hướng giảm, từ 29% năm 2013 xuống còn 24% năm 2015 [8, tr.40].

Như vậy, có thể thấy, hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam đã biết đầu tư chú trọng đến vai trò của nguồn nhân lực trong hoạt động Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử. Bằng chứng là các doanh nghiệp luôn tăng cường tuyển dụng các cán bộ chuyên trách về Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin qua từng năm. Tuy nhiên, nhu cầu tuyển dụng tăng không tương ứng với nguồn cung nhân lực về Thương mại điện tử được đảm bảo. Việc tuyển dụng lao động có trình độ cao về Thương mại điện tử đang rất khó khăn, và có xu hướng giảm theo từng năm. Hệ quả này xuất phát từ quá trình đào tạo tại các trường đại học hoặc cao đẳng. Cụ thể, theo báo cáo năm 2015:

  • Về quy mô đào tạo Thương mại điện tử: Luận văn: Hoàn thiện PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.

Trong số 164 trường tham gia khảo sát, có 96 trường đã triển khai hoạt động đào tạo Thương mại điện tử, trong đó có 67 trường đại học và 29 trường cao đẳng. Số trường đào tạo Thương mại điện tử tăng 19 trường so với năm 2010 và tăng 8 trường so với năm 2012. Năm 2015, số trường đào tạo Thương mại điện tử bậc đại học chiếm 70%, tăng 13% so với năm 2012; bậc cao đẳng chiếm 68%; cao đẳng nghề chiếm 11%. Đào tạo Thương mại điện tử cho bậc sau đại học chiếm tỷ lệ 8%. Thương mại điện tử được giảng dạy với vai trò là một môn học tự chọn hoặc bổ trợ với 79% số trường sử dụng hình thức này, 10% trường đào tạo chuyên ngành Thương mại điện tử, 5% trường có ngành Thương mại điện tử.

  • Về giảng viên Thương mại điện tử:

Theo số liệu khảo sát, tỷ lệ giảng viên Thương mại điện tử được đào tạo đúng chuyên ngành Thương mại điện tử mới chiếm 26% tổng số giảng viên, còn lại đa số là giảng viên các ngành khác được bồi dưỡng thêm về Thương mại điện tử. Tuy nhiên, so với các năm trước đây tỷ lệ giảng viên có chuyên ngành Thương mại điện tử đang có chiều hướng tăng. Tỷ lệ giảng viên Thương mại điện tử trình độ thạc sỹ là 74%, trình độ tiến sỹ là 14%, trình độ cử nhân, kỹ sư là 12% [8, tr.91].

  • Về phương thức giảng dạy Thương mại điện tử:

Theo số liệu khảo sát, 38,5% trường có tổng số giờ thực hành các môn Thương mại điện tử chiếm 30% trên tổng thời lượng hoàn thành tín chỉ môn học, 27,1% trường dành 20% thời lượng thực hành, 18,8% trường dành 10% giờ thực hành, 15,6% trường áp dụng thời gian thực hành ít hơn 10% [8, tr.92]. Luận văn: Hoàn thiện PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.

Như vậy, có thể thấy, nhìn chung, hoạt động đào tạo nguồn nhân lực về Thương mại điện tử tại các cơ sở giảng dạy đã được tập trung phát triển có định hướng. Dẫn chứng là, tuy có đến 96/164 các trường đại học hoặc cao đẳng có đào tạo lĩnh vực Thương mại điện tử nhưng vẫn chỉ ở chương trình tự chọn và bổ trợ, chỉ có 5% trường là ngành Thương mại điện tử. Về con người, hiện nay trên cả nước chỉ có 26% giảng viên được đào tạo đúng chuyên ngành về Thương mại điện tử và chủ yếu ở trình độ thạc sỹ (chiếm 74%). Đây là những con số quá thấp với một quốc gia có tiềm năng lớn về Thương mại điện tử như Việt Nam.

Ngoài ra, không chỉ trong các doanh nghiệp, ở các cơ quan có thẩm quyền quản lý hoạt động Thương mại điện tử và Giao kết hợp đồng điện tử cũng cần đội ngũ chuyên gia vừa giỏi về lĩnh vực kinh doanh thương mại, vừa hiểu biết về pháp luật điều chỉnh Giao kết hợp đồng điện tử, bên cạnh các kiến thức về quản lý và chính sách nói chung. Chỉ với đội ngũ như vậy thì họ mới có thể tham mưu cho Nhà nước những chính sách đúng đắn, thông thoáng nhằm tạo môi trường pháp lý phù hợp cho Thương mại điện tử phát triển và hoạt động Giao kết hợp đồng điện tử được thành công.

Như vậy, có thể thấy, dù trong hoạt động ký kết hợp đồng tại doanh nghiệp hay trong các cơ quan quản lý nhà nước thì nhu cầu về nguồn nhân lực trình độ cao về Thương mại điện tử là rất lớn. Do đó, chúng ta cần nâng cao hơn nữa hoạt động giảng dạy đào tạo tại các trường đại học và cao đẳng về Thương mại điện tử cũng như ban hành các chính sách phù hợp để mỗi người dân có thể tiếp cận với nền tảng khoa học kỹ thuật nói chung và Thương mại điện tử nói riêng.

3.3.2. Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin

Việc Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử chỉ có thể thành công nếu các quốc gia có một hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ và kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu cần thiết cho việc truyền tải dữ liệu điện tử. Đó phải là một hệ thống đảm bảo tốc độ truyền dẫn thông tin ổn định, đảm bảo tính thông suốt của việc truyền dẫn. Có thể nói, đây không phải yêu cầu dễ dàng, bởi, Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử không đơn thuần chỉ dùng các phương tiện điện tử để thực hiện các hoạt động thương mại truyền thống mà ngược lại, Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử đòi hỏi toàn bộ hình thái, phương thức hoạt động của một quốc gia phải thay đổi. Đầu tư cho cơ sở hạ tầng Công nghệ thông tin đủ mạnh đòi hỏi nhà nước phải đầu tư chú trọng vào các lĩnh vực:

  • Hạ tầng công nghệ thông tin: Luận văn: Hoàn thiện PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.

Thứ nhất về phần cứng: Hiện nay toàn quốc có 200 máy tính mini Servers, 700.000 máy vi tính PC. Công suất sử dụng bình quân chưa cao, hiệu quả sử dụng còn thấp.

Thứ hai về phần mềm, các cơ sở dữ liệu và dịch vụ Công nghệ thông tin: Hiện nay toàn quốc có khoảng 3.000 phần mềm hệ thống và 10.000 phần mềm ứng dụng.

Hạ tầng viễn thông: Tổng công ty Bưu chính viễn thông hiện đang triển khai cung cấp các dịch vụ internet qua mạng điện thoại nội hạt trong cả nước. Mặc dù hiện nay cước phí thuê bao vẫn còn cao so với mặt bằng chung trên thế giới mặc dù đã giảm so với trước. Có thể nói hạ tầng viễn thông của ta vẫn còn nhiều bất cập để chuẩn bị cho việc phát triển ứng dụng Thương mại điện tử qua thiết bị viễn thông.

Hạ tầng internet: Cho đến hiện nay cả nước đã có hàng trăm nghìn thuê bao internet qua nhà cung cấp dich vụ internet lớn nhất VDC, chủ yếu phục vụ nghiên cứu khoa học, giáo dục đào tạo, du lịch và thương mại. Số lượng người thuê bao internet vẫn chưa đáp ứng tất cả yêu cầu của người dân khi giá cước còn cao không phù hợp với thu nhập, tốc độ truy nhập thông tin chậm, chất lượng dịch vụ internet chưa tốt, số nhà cung cấp dịch vụ internet của Việt Nam hiện còn ít, và chưa có sự cạnh tranh. Tuy vậy, hạ tầng internet của Việt Nam đã và đang phát triển nhanh chóng sẽ đảm bảo cho việc kết nối và truyền dữ liệu.

  • Công nghiệp điện tử-viễn thông và công nghệ thông tin:

Công nghiệp điện tử trong thời gian qua có kế hoạch phát triển tăng tốc và đã triển khai nhanh, đem lại hiệu quả thiết thực, góp phần cải thiện đáng kể công nghiệp thông tin viễn thông ở nước ta.

Hạ tầng điện năng: Ngành điện lực có sản phẩm cơ bản và đặc biệt là điện năng. Cơ sở hạ tầng điện năng hết sức quan trọng đối với sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hoá nói chung và càng không thể thiếu được với Công nghệ thông tin và Thương mại điện tử nói riêng. Mặc dù nguồn điện cung cấp không đáp ứng đủ nhu cầu song đối với Công nghệ thông tin do tiêu hao năng lượng thấp nên không có ảnh hưởng gì đáng kể. Luận văn: Hoàn thiện PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.

  • Hạ tầng cơ sở bảo mật thông tin:

Hiện nay, ngành Cơ yếu Việt Nam đã sản xuất được những sản phẩm kỹ thuật và nghiệp vụ mật mã hiện đại đáp ứng được yêu cầu bảo mật thông tin, thư tín, thoại, fax truyền trên kênh viễn thông hữu tuyến, vô tuyến và mạng máy tính các loại. Nhưng các loại sản phẩm đó mới chỉ đáp ứng cho yêu cầu sử dụng trong nội bộ ngành Cơ yếu và chủ yếu là để bảo mật thông tin thuộc phạm vi bí mật nhà nước.

  • Hạ tầng thanh toán điện tử:

Thực trạng của các Ngân hàng Việt Nam trong việc cung cấp các dịch vụ cho Thương mại điện tử: Bốn ngân hàng trong thương mại quốc doanh lớn chiếm 80% tổng khối lượng giao dịch và có tới 70% tổng số tài khoản khách hàng trong đó có nhiều khách hàng lớn là các tổng công ty 100% vốn nhà nước. Phương tiện thanh toán bằng tiền mặt tuy đã giảm dưới 12% tổng khối lượng thanh toán và không còn giữ vai trò là phương tiện thanh toán chủ yếu nữa. Các phương tiện thanh toán bằng chứng từ như séc, lệnh thanh toán được uỷ quyền…càng ngày càng chiếm vị trí chủ yếu (85% trong khối lượng thanh toán qua các hệ thống ngân hàng) [38]. Đến nay Ngân hàng Nhà nước và bốn ngân hàng thương mại quốc doanh đều có hệ thống bù trừ và thanh toán liên ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước. Ngoài ra các ngân hàng còn tham gia hệ thống thanh toán S.W.I.F.T với hàng ngàn lượt bức điện thanh toán đi/đến. Mặc dù vậy các ngân hàng lớn trong nước chưa chuyển đổi được các mô hình giao dịch cũ sang mô hình ngân hàng hiện đại có các sản phẩm dịch vụ Thương mại điện tử được cung cấp trên internet, đến từng khách hàng và cho phép các khách hàng có thể đặt hàng và thanh toán qua mạng đáp ứng nhu cầu của nhiều khách hàng đòi hỏi các khoản thanh toán qua mạng đáp ứng nhu cầu thực hiện ngay lập tức. Mặt khác ngân hàng trong nước còn phải chịu sức ép cạnh tranh từ phía các ngân hàng nước ngoài với cách thức hoạt động chuyên nghiệp [38].

Chính vì vậy, Ngân hàng Nhà nước nói chung cũng như các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ ngân hàng trên cả nước nói riêng cần xây dựng hệ thống khoa học kỹ thuật hiện đại, đặc biệt trong việc thanh toán qua mạng, phục vụ cho hoạt động giao kết Thương mại điện tử được thuận lợi. Ngoài ra, Nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện cho ngân hàng trong nước để cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài trong lĩnh vực Thương mại điện tử nói riêng và kinh doanh thương mại nói chung.

Ngoài ra, Việt Nam cũng phải có các biện pháp bảo đảm an toàn và an ninh thông tin, các chương trình chống tin tặc, các tội phạm công nghệ cao… Có như vậy mới thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển, tạo môi trường an toàn ổn định cho hoạt động Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.

3.3.3. Nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật của các doanh nghiệp Luận văn: Hoàn thiện PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.

Để hạn chế các rủi ro và đảm bảo an toàn bảo mật tối đa khi Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử, các doanh nghiệp cần tự trang bị các công cụ cũng như kiến thức pháp lý cần thiết nhất. Xây dựng chính sách bảo mật, bao gồm một hệ thống có chính sách bảo mật hợp lý để đảm bảo tốt nhất an toàn mạng. Đây là công việc cần thiết nhằm thiết lập các khung chính sách để đảm bảo cho hệ thống hoạt động ổn định và có tính khả thi cao khi chống lại các cuộc tấn công và hành vi gian lận trên thực tế.

Những mục tiêu bảo mật mà nhà quản trị hệ thống cần thực hiện bao gồm: Xác nhận đối tượng cần bảo vệ; xác định được nguy cơ xảy ra đối với hệ thống; xác định được phương án thực thi chính sách bảo mật.

Thiết lập các quy tắc bảo mật: Người sử dụng cần phải lưu ý đến một số điểm sau khi quản lý dịch vụ như:

  • Sử dụng tài khoản được cấp quyền một cách hợp lệ;
  • Quản lý tài khoản bao gồm: bảo vệ mật khẩu, thay đổi mật khẩu định kì thường xuyên, sử dụng các phần mềm diệt virus, hệ thống cho phép tài khoản tự động logout sau một thời gian nhất định không giao dịch;
  • Có khả năng phát hiện tài khoản đăng nhập trái phép hoặc đăng nhập trên nhiều thiết bị khác nhau;
  • Có thói quen lập báo cáo khi xảy ra sự cố.

Hoàn thiện chính sách bảo mật: Sau khi thiết lập một chính sách bảo mật hệ thống, nhà quản trị cần kiểm tra lại tất cả và đánh giá chính sách bảo một này một cách toàn diện trên tất cả các phương diện. Bởi một hệ thống luôn có biến động về cấu hình, các dịch vụ sử dụng và ngay cả hệ điều hành mà hệ thống sử dụng. Việc kiểm tra, đánh giá chính sách bảo mật còn giúp nhà quản trị có kế hoạch xây dựng mạng lưới hệ thống hoạt động hiệu quả và phần việc này cần phải được thực hiện thường xuyên, liên tục để sớm phát hiện và ngăn ngừa các nguy cơ có thể xảy ra. Có thể lấy một số tiêu chí đánh giá chính sách bảo mật như: Có tính khả thi và thực thi cao, có thể nhanh chóng phát hiện và ngăn ngừa nguy cơ tấn công của đối tượng, có các công cụ đủ mạnh và hữu hiệu để hạn chế hoặc chống lại các cuộc tấn công vào hệ thống.

3.3.4. Xây dựng thiết chế công chứng hợp đồng thương mại điện tử

Hiện nay, dưới sự chủ trì của Bộ Tư pháp, ngành công chứng Việt Nam đã và đang thực hiện dự án tin học hóa trong chương trình hợp tác quốc tế với ngành công chứng của Cộng hòa Pháp. Mục tiêu bước đầu của dự án không chỉ là việc đầu tư về trang thiết bị vật chất (bao gồm cả phần cứng và phần mềm) mà còn cả việc đào tạo kỹ năng công nghệ cho Công chứng viên, cán bộ của phòng công chứng. Có thể nói, đây là những bước tiến đầu tiên nhằm tạo tiền đề, cơ sở vật chất cũng như đúc rút kinh nghiệm thực tế cho việc xây dựng công chứng điện tử ở nước ta. Luật Giao dịch điện tử năm 2005 đã xây dựng cơ sở pháp lý cần thiết nhất cho hoạt động công chứng bằng việc ghi nhận những biện pháp, công cụ điện tử được sử dụng trong Giao dịch điện tử cũng như giá trị pháp lý của hình thức giao dịch này. Để thực hiện được thiết chế này, chúng ta cần phải đáp ứng được hai yêu cầu cơ bản sau: Luận văn: Hoàn thiện PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.

Thứ nhất, cần ghi nhận, khẳng định được vị trí vai trò của hoạt động công chứng Giao dịch điện tử nói chung cũng như Thương mại điện tử nói riêng trong các văn bản quy phạm pháp luật quốc gia. Từ đó, sẽ tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, tạo hành lang pháp lý an toàn các cá nhân, tổ chức khi tham gia giao kết bằng hợp đồng điện tử. Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử, các doanh nghiệp phải hạn chế tối đa các rủi ro có thể xảy ra và đảm bảo an toàn cũng như mức độ thành công cao nhất khi ký kết hợp đồng [10, tr. 296-298].

Thứ hai, điều kiện đủ để công chứng điện tử thật sự đi vào cuộc sống, đòi hỏi phải xây dựng cơ sở vật chất cần thiết bao gồm hạ tầng mạng, chất lượng đường truyền, hệ thống máy chủ, chi phí thực hiện… Cùng với những giải pháp về mặt công nghệ như chữ ký điện tử, con dấu điện tử, bảo mật thông tin liên quan đến giao dịch…

Có thế thấy, chúng ta có nhận thức được ý nghĩa vai trò của thiết chế công chứng điện tử và từng bước thực hiện hoàn thiện khung pháp luật cũng như hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật để xây dựng một môi trường đầu tư kinh doanh an toàn và hiệu quả nhất.

3.3.5. Đẩy mạnh phổ biến, tuyên truyền pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử và giao kết hợp đồng thương mại điện tử

Pháp luật về hợp đồng điện tử nói chung và Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử nói riêng vẫn là lĩnh vực còn mới mẻ ở Việt Nam. Việc triển khai thực hiện các quy định pháp luật về hợp đồng điện tử cũng như Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử cần có nhiều sự nỗ lực hơn từ phía các cơ quan quản lý nhà nước. Trong triển khai cần chú trọng tới hoạt động hướng dẫn, đẩy mạnh phổ biến, tuyên truyền pháp luật để các doanh nghiệp, người dân hiểu và thực hiện đúng các quy định đã ban hành, xem đây là một khâu then chốt giúp triển khai và bảo đảm thực thi các quy định pháp luật về Thương mại điện tử trong đời sống, xã hội. Luận văn: Hoàn thiện PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.

Phổ biến, tuyên truyền về lợi ích và kỹ năng ứng dụng Giao kết hợp đồng điện tử tới các doanh nghiệp, ưu tiên phổ biến tới các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở vùng sâu, vùng xa, vùng gặp nhiều khó khăn. Chú trọng tới hoạt động quảng bá các doanh nghiệp điển hình thành công khi ứng dụng và triển khai hợp đồng điện tử trong sản xuất, kinh doanh. Đối với đối tượng là người tiêu dùng, hoạt động phổ biến, tuyên truyền cần tập trung vào kỹ năng Giao kết hợp đồng điện tử an toàn, những rủi ro có thể gặp phải và quyền lợi của người tiêu dùng được pháp luật bảo vệ khi tham gia Giao kết hợp đồng điện tử.

3.3.6. Tăng cường bảo đảm an toàn thông tin trong giao kết hợp đồng thương mại điện tử

Bảo mật thông tin và an toàn thông tin là vấn đề cốt yếu để triển khai và thúc đẩy Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử. Do đó, cần tăng cường triển khai các hoạt động về an toàn thông tin trong giao dịch, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nhằm đảm bảo cho pháp luật về hợp động điện tử được thực hiện một cách kịp thời, đầy đủ. Chủ động đấu tranh phòng, chống và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật.

Nâng cao hơn nữa nhận thức về tầm quan trọng của an toàn thông tin, quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên tham gia Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử trong việc đảm bảo an toàn thông tin, sử dụng chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số trong Giao kết hợp đồng.

Phát triển các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số có uy tín, đặc biệt cho các website Thương mại điện tử và trên ứng dụng thiết bị di dộng. Khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân ứng dụng các công nghệ bảo mật tiên tiến để trao đổi thông tin.

Kết luận Chương 3 Luận văn: Hoàn thiện PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.

  • Từ việc nghiên cứu ở Chương 3, có thể rút ra một số kết luận sau:

Thứ nhất, qua nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao thực thi hoạt động Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay là cần thiết. Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử không thể phát triển nếu không có một môi trường pháp lý đầy đủ và sự hiểu biết kiến thức của các chủ thể thực hiện. Xây dựng và ban hành các quy định pháp luật về hợp đồng điện tử nói chung và Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử nói riêng giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia, phù hợp với thông lệ quốc tế. Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa như hiện nay, yêu cầu này càng trở nên quan trọng và cấp thiết.

Thứ hai, việc hoàn thiện pháp luật về Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử ở Việt Nam cần phải đáp ứng các yêu cầu về lịch sử và thời đại sau: i) Quán triết đường lối, chủ trương của Đảng về ứng dụng Công nghệ thông tin vào mọi hoạt động của đời sống kinh tế và xã hội; ii) Phải trên cơ sở tôn trọng bản chất của hợp đồng nói chung; iii) Bảo đảm tính thống nhất của toàn bộ hệ thống pháp luật về hợp đồng; iv) Phù hợp với hệ tầng cơ sở khoa học Công nghệ thông tin của Việt Nam; v) Phải đặt trong giải pháp tổng thể của việc hoàn thiện pháp luật về Giao dịch điện tử; và vi) Đảm bảo sự tương thích với các quy định của pháp luật quốc tế, đồng thời tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các quốc gia phát triển trên thế giới.

Thứ ba, từ sự cần thiết và yêu cầu hoàn thiện pháp luật, Chương 3 luận văn đã đề xuất các giải pháp về hoàn thiện khung pháp luật và các giải pháp nâng cao thực thi hoạt động Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử ở Việt Nam.

KẾT LUẬN Luận văn: Hoàn thiện PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.

Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, nhất là mạng internet toàn cầu đã đem lại cho chúng ta một phương thức giao dịch mới, đó là giao dịch điện tử. Với các lợi thế như tốc độ nhanh, chi phí rẻ, chuyển tải thông tin đa dạng, không phụ thuộc vào khoảng cách không gian, thời gian, giao dịch điện tử đang ngày càng trở nên phổ cập, đặc biệt đối với các doanh nghiệp thương mại. Chính vì vậy, chế định hợp đồng Thương mại điện tử cũng như Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử luôn được các quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm. Mỗi quốc gia, mỗi tổ chức quốc tế đều xây dựng những các hệ thống pháp luật về Thương mại điện tử riêng biệt, trong đó bao gồm cả Thương mại điện tử. Nhìn chung, có thể khái quát Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử là hoạt động ký kết hợp đồng giữa các thương nhân với nhau hoặc thương nhân với các bên có liên quan nhằm mục đích sinh lời bằng cách trao đổi các thông điệp dữ liệu thông qua các phương tiện điện tử có kết nối mạng máy tính toàn cầu internet.

GKHĐ Thương mại điện tử có sự khác biệt rất lớn với hợp đồng thương mại giao kết qua cách truyền thống, đặc biệt do yếu tố khoa học kỹ thuật. Chính nhờ những yếu tố kỹ thuật khi sử dụng các phương tiện điện tử có kết nối internet này giúp cho hợp đồng Thương mại điện tử có những ưu điểm vượt trội như không bị giới hạn bởi khoảng cách không gian, thời gian, giao dịch nhanh chóng, tuy nhiên cũng phát sinh nhiều vấn đề riêng biệt, trở thành đặc điểm đặc thù của loại hợp đồng này. Cụ thể như vấn đề xác định thời gian, địa điểm Giao kết hợp đồng, chữ ký điện tử…

Pháp luật về Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử, trong đó có thông qua internet lần đầu tiên được ghi nhận trong Luật Giao dịch điện tử năm 2005. Cho đến nay, rất nhiều văn bản dưới luật quy định chi tiết về lĩnh vực này có thể kể đến như Nghị định 52/2013/NĐ-CP về Thương mại điện tử, Nghị định số 26/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về Chữ ký số và Dịch vụ chứng thực chữ ký số, Thông tư số 59/2015/TT-BCT quy định về quản lý hoạt động Thương mại điện tử qua ứng dụng trên thiết bị di động… Những nội dung cơ bản nhất của pháp luật về hợp đồng điện tử nói chung và Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử ở Việt Nam nói riêng như thừa nhận giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử, nguyên tắc giao kết, trình tự, thời điểm, địa điểm Giao kết hợp đồng; đến những nội dung trong từng lĩnh vực cụ thể như kinh doanh trên website Thương mại điện tử, ứng dụng trên thiết bị di động đều được quy định chi tiết.

Phân tích các quy định pháp luật hiện hành, đánh giá tình hình xây dựng pháp luật cũng như thực tiễn thực hiện pháp luật về Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử ở Việt Nam trong thời gian vừa qua có thể khẳng định những kết quả đạt được là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, đây là lĩnh vực còn mới mẻ, luôn thay đổi và phát triển liên tục do tác động có yếu tố công nghệ nên khung pháp luật liên quan đến Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử còn đặt ra một số vấn đề đòi hỏi chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu để ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật, từ đó thúc đẩy hơn nữa việc giao kết cũng như thực hiện hợp đồng Thương mại điện tử ở Việt Nam.

Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử là cần thiết. Việc hoàn thiện này phải được tiến hành dựa trên các yêu cầu xuất phát từ cơ sở lý luận và điều kiện thực tiễn ở Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Trên cơ sở các yêu cầu này, việc hoàn thiện pháp luật cần được tập trung vào hai nhóm giải pháp: i) Nhóm giải pháp hoàn thiện nội dung pháp luật về Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử, bao gồm: rà soát, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật liên quan; bổ sung các quy định về chứng cứ điện tử có yếu tố nước ngoài, nâng cao hơn nữa hoạt động công khai thông tin trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Công thương, gia nhập Công ước về sử dụng giao dịch điện tử trong hợp đồng quốc tế năm 2005 của Liên hợp quốc; và ii) Nhóm giải pháp bảo đảm thực thi pháp luật về Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử, bao gồm: phát triển công nghệ hỗ trợ Giao kết hợp đồng điện tử, nâng cao năng lực bộ máy thực thi pháp luật, xây dựng thiết chế công chứng hợp đồng điện tử và đẩy mạnh phổ biến tuyên truyền pháp luật về hợp đồng điện tử nói chung và Giao kết hợp đồng Thương mại điện tử nói riêng. Luận văn: Hoàn thiện PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử

One thought on “Luận văn: Hoàn thiện PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử

  1. Pingback: Luận văn: Thực trạng PL về giao kết hợp đồng Thương mại điện tử

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464