Luận văn: Giải pháp pháp luật thừa kế nước Cộng hòa Lào

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp pháp luật thừa kế nước Cộng hòa Lào hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn áp dụng, thực thi pháp luật thừa kế và phương hướng, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật thừa kế nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Thực tiễn áp dụng, thực thi pháp luật thừa kế nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

3.1.1. Những ưu điểm và hạn chế của hệ thống pháp luật thừa kế nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

  • Những ưu điểm pháp luật thừa kế Lào

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển không ngừng về kinh tế, hệ thống pháp luật của Lào đã cũng không ngừng đổi mới, hoàn thiện phù hợp với tình hình thực tế, trong đó không thể không kể đến Bộ luật dân sự năm 1990. Sự ra đời của Bộ luật dân sự năm 1990 là một mốc son trong lịch sử lập pháp của quốc gia Lào. Nó tạo cơ sở pháp lý nhằm tiếp tục giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy dân chủ, bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác, bảo đảm an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự nói chung, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ mới.

Cùng với sự phát triển của các đạo luật khác trong pháp luật dân sự nói chung, pháp luật thừa kế đã có những bước phát triển đồng bộ thể hiện ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, Bộ luật dân sự Lào năm 1990 bổ sung năm 2008 về thừa kế đã quán triệt và cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước nhân dân cách mạng Lào về xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong điều kiện tình hình mới. Nội dung các quy phạm pháp luật đã thể chế hóa quyền cơ bản của con người trong lĩnh vực dân sự, mà nó đã được khẳng định trong Hiến pháp năm 1991 về quyền sở hữu, quyền thừa kế, quyền chiếm hữu và sử dụng đất…và quan trọng hơn còn có các chế định bảo đảm việc thực hiện các quyền này trong thực tế.

Thứ hai, Bộ luật dân sự năm Lào 1990 bổ sung năm 2008 đã xây dựng một hành lang pháp lý vững chắc để thực hiện và bảo vệ quyền thừa kế công dân.

Một công dân nào trước khi chết cũng đều thực hiện được điều mình ước muốn và quan tâm hàng đầu tới việc di sản của họ sẽ được pháp luật quy định như thế nào và bảo hộ cho họ quyền thực hiện ra sao, phạm vi thực hiện quyền thừa kế của họ đến đâu. Và để giải quyết mối quan tâm của mọi công dân trước khi chết, thì sự ra đời của pháp luật thừa kế đáp ứng nguyện vọng của họ, đồng thời là một minh chứng hết sức quan trọng thể hiện quyền cũng như nghĩa vụ của Nhà nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đối với nhân dân Lào, nó là công vụ pháp lý cơ bản thực thi các quyền thừa kế đối với di sản của mình.

Thời kỳ trước đây, Nhà nước Lào chỉ quy định tản mạn vấn đề thừa kế trong các văn bản dưới luật, chỉ dừng lại ở việc quy định những nguyên tắc, thủ tục cơ bản mà còn thiếu những quy định cụ thể phát sinh trong phương thức chia di sản, thanh toán di sản. Thì hiện nay Luật thừa kế năm 1990, bổ sung năm 2008 và các văn bản hướng dẫn đã quy định thống nhất rõ ràng về trình tự, phương thức chia di sản, thanh toán di sản. Luận văn: Giải pháp pháp luật thừa kế nước Cộng hòa Lào.

Bộ luật dân sự năm 1990 bổ sung năm 2008 còn là công cụ pháp lý bảo đảm quyền thừa kế của công dân với những quy phạm về thủ tục thực hiện quyền đó. Những quy định về thủ tục tố tụng để bảo vệ quyền thừa kế của công dân đã được hoàn thiện một cách cơ bản, rõ nét. Ví dụ, như trước đây trong các văn bản thừa kế quy định về trình tự thủ tục giải quyết các tranh chấp về thừa kế còn chưa rõ ràng, dẫn đến hiện tượng Tòa án không thể giải quyết một cách thỏa đáng cho cả hai phía. Nhưng từ khi pháp luật thừa kế ra đời và được bổ sung đã quy định về thời hiệu, thủ tục hòa giải, cách chia di sản một cách rõ ràng, thống nhất. Do đó, khi có bất cứ tranh chấp hay yêu cầu nào xảy ra liên quan đến di sản thừa kế thì sẽ được giải quyết theo thủ tục chặt chẽ, nhanh chóng, công khai, minh bạch.

Thứ ba, pháp luật thừa kế hiện hành đã khắc phục được những hạn chế và bất cập của những quy định thừa kế trước đây.

Nội dung của pháp luật về thừa kế hiện hành đã kế thừa và tiếp tục phát huy những quy định có nội dung tiến bộ, thể hiện bản chất và ý nghĩa của pháp luật về thừa kế của nhà nước dân chủ nhân dân Lào, xóa bỏ tàn tích chế độ thừa kế xã hội thời kỳ phong kiến ở quốc gia AiLao, những biểu hiện tư tưởng gia trưởng, trọng nam khinh nữ, bảo vệ quan hệ hôn nhân tiến bộ, vợ chồng bình đẳng, bảo vệ quyền thừa kế của các con, không phân biệt trai gái, con đẻ, con nuôi. Những quy định pháp luật về thừa kế đã góp phần giáo dục ý thức tuân theo pháp luật của công dân trong công cuộc đổi mới đất nước, cũng như nâng cao ý thức trách nhiệm với những người thân thuộc và tôn trọng pháp luật, tôn trọng đạo đức xã hội.

Thứ tư, về trình độ kỷ thuật lập pháp

Trình độ kỷ thuật pháp lý của Luật thừa kế được bổ sung năm 2008 của Lào đã thể hiện ở mức độ tương đối cao, tiếp thu và có chọn lọc những kinh nghiệm của pháp luật thừa kế một số nước trên thế giới, pháp luật thừa kế hiện hành của Lào được xây dựng một cách khoa học, đúng về thẩm quyền nội dung, có kết cấu văn bản hợp lý, phương pháp trình bày rõ ràng, dễ hiểu, dễ đọc, dễ áp dụng, ngôn ngữ tương đối chính xác. Có thể nói Bộ luật dân sự năm 1990 bổ sung năm 2008 của Lào được xem là kết quả cao của quá trình pháp điểm hóa những quy định của pháp luật về thừa kế. Nó kế thừa và phát triển những quy định phù hợp với thực tiễn, không ngừng hoàn thiện để đảm bảo quyền lợi của người thừa kế một cách có hiệu quả nhất.

  • Những hạn chế về pháp luật thừa kế của Lào Luận văn: Giải pháp pháp luật thừa kế nước Cộng hòa Lào.

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, pháp luật thừa kế hiện hành của Lào còn bộc lộ những hạn chế sau:

Thứ nhất, pháp luật thừa kế của Lào còn thiếu tính cụ thể

Mặc dù, pháp luật thừa kế của nước CHDCND Lào ra đời trong bối cảnh sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Đại hội đại biểu toàn quốc lần VIII nó đã đánh dấu bước phát triển mới trong quy định về pháp luật thừa kế so với trước đây, là cơ sở tao điều kiện cho việc giải quyết tranh chấp đạt hiệu quả cao. Pháp luật thừa kế Lào đã mở rộng phạm vi diện thừa kế theo đó hàng thừa kế cũng tăng lên từ đó cũng cố mối đoàn kết giữa các thành viên trong gia đình và di sản thừa kế được truyền lại cho những người thừa kế theo đúng nghĩa của nó nhất. Bộ luật dân sự năm 1990 bổ sung năm 2008 về thừa kế đã khắc phục được những hạn chế và bất cập, những quy định về thừa kế trước đây, đồng thời bỏ đi những quy định không phù hợp với tình hình thực tế.

Song xét cho cùng thì những quy định này chỉ là bước đột phá trong pháp tuật thừa kế của Lào, bên cạnh đó còn có những quy định chưa chi tiết, cụ thể, thiếu văn bản hướng dẫn cách rõ ràng, thống nhất dẫn đến tình trạng trong thực tiễn áp dụng đã có những quan điểm khác nhau trong khi xác định quy phạm để giải quyết tranh chấp.

Ở phạm vi bài luận văn tác giả chỉ nêu một vài ví dụ cụ thể để từ đó đem ra phân tích mà biết được những mặt còn tồn tại trong pháp luật thừa kế hiện tại của Lào.

Ví dụ, như trường hợp quy định tại Điều 16 Luật thừa kế Lào đã quy định quyền thừa kế của con đang mang thai: “Con đang mang thai có quyền hưởng tài sản của người chết như nhau, phần này là cho mẹ là người quản lý những tài sản đó”. Pháp luật chỉ quy định con đang mang thai mà không có quy định cụ thể tại thời điểm mở thừa kế người con đó có được sinh ra và còn sống không? Trong trường hợp giả sử người con đó không được sinh ra mà chết trong bụng mẹ, hoặc được sinh ra những lại không sống thì câu hỏi đặt ra là phần di sản đó sẽ thuộc về ai (khi người để lại di sản cho người con đã chết). Có ý kiến cho rằng phần di sản đó sẽ thuộc về người mẹ vì người mẹ đã quản lý phần di sản đó khi người con chưa được sinh ra; nhưng ý kiến thứ hai lại cho rằng di sản đó sẽ được đem chia theo pháp luật cho những hàng thừa kế gồm mẹ, ông bà, nội ngoai. Trên thực tế thì thường di sản này là do người mẹ quản lý luôn. Như vậy, thì không đúng với tinh thần pháp luật là “người thừa kế đã chết cùng thời điểm với người lập di chúc”. Hay trường hợp nữa là khi người con sinh ra nhưng người mẹ lại chết thì di sản đó sẽ do ai quản lý, luật không quy định cụ thể. Nếu cả mẹ và con đều chết thì tài sản sẽ chia ra sao? Trên thực tế đã xảy ra tranh chấp giữa việc quản lý tài sản của ông bà nội ngoại khi người mẹ chết. Vì xét về hàng thừa kế thì ông, bà nội, ngoại đều cùng hàng thừa kế với nhau. Có ý kiến cho rằng phần di sản đó sẽ chia đôi cho cả hai bên nội, ngoại nhưng lại không xét đến tài sản đó do công sức của ai làm ra nhiều hơn. Trong các năm qua đã xảy ra tranh chấp trong các trường hợp trên. Điều đó là do không có tiêu chí đánh giá cụ thể về các quy định pháp luật. Vì vậy, nếu không có sự hướng dẫn cụ thể của văn bản dưới luật thì khi tranh chấp xảy ra sẽ có nhiều cách giải quyết nhưng lại không thống nhất giữa thẩm phán này với Tòa án khác làm mất niềm tin vào pháp luật của người dân. Luận văn: Giải pháp pháp luật thừa kế nước Cộng hòa Lào.

Hoặc theo quy định về thừa kế của con ngoài giá thú cũng có quyền như con trong giá thú nếu được nuôi trong gia đình. Khái niệm được “nuôi trong gia đình” ở đây không được cụ thể bởi quy định về thừa kế. Vì được nuôi trong gia đình ở đây bắt đầu từ khi nào? Nuôi từ khi mới sinh ra cho đến khi người để lại di sản chết, hay chỉ được nuôi một thời gian trong gia đình người có di sản mà thôi, hoặc chỉ cần đang sống trong gia đình tại thời điểm người để lại di sản thừa kế chết. Chưa có sự hướng dẫn cụ thể nên khó xác định nhằm đảm bảo đúng quyền lợi cho người con ngoài giá thú nên trên thực tế có nhiều vụ án về thừa kế đối với con ngoài giá thú đã có những bản án với những kết quả khác nhau.

Hiện nay, pháp luật thừa kế còn rất nhiều vấn đề mà cần được cụ thể hóa để tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện và bảo vệ quyền thừa kế của công dân như về thời hiệu khởi kiện thừa kế thay đổi nhau có yếu tố là con nuôi hay việc lập di chúc bằng văn bản nhưng người làm chứng không thực hiện lời hứa bí mật đến dây phút cuối cùng mở thừa kế thì hậu quả sẽ giải quyết như thế nào. Di chúc đó có tiếp tục có hiệu lực hay bị hủy bỏ chưa được cụ thể hóa, rất khó xác định.

Thứ hai, pháp luật thừa kế chưa đạt đến tính toàn diện

Mặc dù việc xây dựng pháp luật về thừa kế của Lào trong những năm qua đã đánh dấu bước phát triển mới của quan điểm và trình độ lập pháp của Lào. Nhưng xét ở từng mức độ nhất định, nó vẫn chưa bắt kịp với yêu cầu của đời sống kinh tế xã hội hiện nay.

Tính toàn diện đầu tiên được thể hiện trong việc quy định thiếu sót các vấn đề phát sinh trên thực tế:

Trước hết là phải kể đến một số quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài phát sinh trên thực tế nhưng pháp luật vẫn chưa điều chỉnh kịp thời. Xuyên suốt tất cả các điều luật trong Luật thừa kế, kể cả đã được bổ sung sửa đổi nhưng không có bất kỳ một điều luật nào nói về vấn đề thừa kế có yếu tố nước ngoài. Hiện nay, khi mà quan hệ thế giới mở rộng thì mọi hoạt động đời sống diễn ra có yếu tố nước ngoài là điều không hiếm. Do đó, việc thừa kế liên quan đến anh chị em ở nước ngoài pháp luật thừa kế cần quy định để không vướng khi giải quyết. Luận văn: Giải pháp pháp luật thừa kế nước Cộng hòa Lào.

Trong quy định về các điều kiện thừa kế theo pháp luật quy định tại Điều 9 Luật thừa kế Lào không quy định trường hợp nếu di chúc được lập nhưng không có hiệu lực pháp luật do người lập di chúc bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép….thì có thuộc trường hợp thừa kế theo pháp luật không. Vì tại Điều 9 chỉ quy định trường hợp chủ tài sản “không lập di chúc” mà không nói rõ điều này. Trên thực tế có nhiều trường hợp chủ tài sản vẫn lập di chúc nhưng không phải thể hiện ý chí của chủ tài sản mà do bị gượng ép hay bất kỳ một lý do khác mà thực chất đó không phải là ý chí chủ quan của người lập di chúc. Đồng thời tại Điều 9 chỉ quy định trường hợp người thừa kế không nhận những khối tài sản đó mà thiếu quy định “Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng” [23, Đ675]. Vì có những trường hợp họ có tên trong di chúc như người làm chứng, người viết di chúc nhưng họ lại không thuộc diện được hưởng thừa kế theo quy định pháp luật thì phần di sản được định đoạt cho họ sẽ bị đưa ra. Tuy trên thực tế ít xảy ra trường hợp này nhưng nếu xảy ra thì cũng khó mà giải quyết vì pháp luật không quy định. Ngoài ra, Điều 9 cũng chỉ quy định khi người thừa kế đã chết, “Đã chết” ở đây được hiểu là thời điểm mở thừa kế người đó đã chết rồi, thế còn trường hợp “chết cùng thời điểm” thì sao, hay thừa kế để lại cho tổ chức, cơ quan mà thời điểm mở thừa kế không còn tồn tại, trên thực tế cũng có thể xảy ra nhưng lại không được pháp luật quan tâm tới. Đây là những điểm mà pháp luật thừa kế của Lào nên tham khảo pháp luật Việt Nam cũng như một số nước để bổ sung vào cho đủ các điều kiện thừa kế theo pháp luật.

Trong lĩnh vực diện và hàng thừa kế, pháp luật thừa kế cũng thiếu nhiều quy phạm điều chỉnh như quan hệ thừa kế của con sinh ra theo phương pháp khoa học hiện đại, vấn đề thừa kế thế vị.

Thời gian gần đây, trên thế giới và ở Lào xuất hiện tương đối phổ biến những đứa trẻ sinh ra do thụ tinh trong ống nghiệm, hay hiện tượng mang thai hộ. Đây là vấn đề phức tạp và gây nhiều tranh cãi trong việc xác định mối quan hệ thực sự giữa cha, mẹ và con. Vấn đề này liên quan đến một loạt các quan hệ pháp lý khác về thừa kế, cấp dưỡng…dù Luật hôn nhân gia đình có điều chỉnh mối quan hệ này nhưng bên cạnh đó là vấn đề thừa kế của những đứa trẻ đó sẽ được giải quyết như thế nào? nó có được thừa kế di sản của người mẹ cha sinh học hay không? pháp luật thừa kế hiện hành ở Lào chưa có quy định vấn đề này, trên thực tế nếu có tranh chấp xảy ra, các cơ quan Tòa án sẽ rất lúng túng trong việc giải quyết.

Về quy định thừa kế thế vị Luật thừa kế Lào chưa có quy định. Tại Điều 21 chỉ quy định “Người thừa kế thay đổi nhau”. Nếu hiểu sơ qua thì người đọc sẽ hiểu đó cũng là thừa kế thế vị giống quy định của Việt Nam. Nhưng thực tế, xét về ý nghĩa sâu xa thì “thay đổi nhau” không phải là “thế vị nhau”. Vì Điều 21 cũng chỉ quy định trong trường hợp người thừa kế chết trước chủ tài sản thì con của người chết hoặc nếu không có con thì các hàng thừa kế khác được nhận mà không quy định nếu người con đó cũng chết thì cháu của họ có được hưởng không? Đây là một điều dễ xảy ra trên thực tế khi có nhiều trường hợp trong một vụ tai nạn có thể chết rất nhiều người, mà những người này đáng lẽ được hưởng thừa kế di sản của nhau. Về vấn đề này là một sự biểu hiện rõ rệt tính chưa toàn diện trong quy định về diện và hàng thừa kế của pháp luật thừa kế Lào hiện nay. Do vậy, đây cũng là điều cần được bổ sung kịp thời để phù hợp với tình hình xã hội hiện nay.

Về điều chỉnh quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế. Pháp luật thừa kế của Lào không có một điều khoản nào quy định chi tiết về vấn đề này, chỉ có tại Điều 15 quy định rằng con riêng không được thừa kế tài sản riêng của bố, mẹ dượng. Quy định này chưa đủ so với tinh thần pháp luật về thừa kế dựa trên quan hệ nuôi dưỡng. Những người tuy không cùng huyết thống nhưng đã sống trong cùng một mái nhà, đã có thời gian chăm sóc nhau làm cho tình cảm nảy sinh. Đó là trường hợp giữa con riêng với bố, mẹ dượng. Nhưng Luật thừa kế hiện tại của Lào không cho những người này được thừa kế di sản của nhau cho dù họ có chăm sóc gắn bó với nhau thế nào đi nữa. Xét trên thực tế, quan hệ huyết thống nhiều lúc còn không bằng quan hệ nuôi dưỡng nếu trong cuộc sống những người có cùng huyết thống không chăm sóc giúp đỡ nhau. Vì mục đích của pháp luật thừa kế cũng chỉ nhằm làm cho mối quan hệ giữa người với người có quan hệ về tài sản tốt đẹp hơn mà thôi. Một khi họ đã chăm sóc lẫn nhau thì chứng tỏ họ quý mến yêu thương nhau nhưng pháp luật không cho phép họ thừa kế di sản của nhau thì liệu có đi trái với nguyện vọng của người chết? Sự thiếu sót này trong quy định về thừa kế chứng tỏ một điều rằng pháp luật thừa kế của Lào chưa xem trọng quan hệ nuôi dưỡng. Đây là vấn đề cần xem xét lại khi mà pháp luật một số nước, trong đó có Việt Nam đều tôn trọng và đề cao quan hệ nuôi dưỡng, chăm sóc nhau trong cuộc sống. Từ đó Luật thừa kế Lào cũng nên có một điều luật riêng quy định cho quyền thừa kế giữa con riêng với bố mẹ dượng nếu họ có quan hệ nuôi dưỡng. Tuy nhiên, từ kinh nghiệm pháp luật thừa kế Việt Nam, Lào nên quy định rõ hơn việc chăm sóc nuôi dưỡng nhau đó phải thế nào, tránh tình trạng quy định chung chung khó áp dụng. Luận văn: Giải pháp pháp luật thừa kế nước Cộng hòa Lào.

Ngoài những điều thiếu sót mà Luật thừa kế chưa quy định thì còn một số vấn đề cũng chưa được điều chỉnh kịp thời như vấn đề cắt cử người chia di sản thừa kế, phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế mới hoặc có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế việc thừa kế trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung, đang xin ly hôn, đã kết hôn với người khá điều đó đã gây ra nhiều cách hiểu khác nhau, dẫn đến việc áp dụng thiếu thống nhất giữa các cấp Tòa án trong việc giải quyết những tranh chấp cụ thể, mặc dù các vụ tranh chấp đó có nội dung tương tự nhau.

Thứ ba, pháp luật thừa kế hiện hành còn bất cập so với yêu cầu tình hình kinh tế xã hội.

Pháp luật thừa kế của Lào được cấu thành bởi nhiều quy phạm như Luật thừa kế, Luật hôn nhân gia đình, Luật đất đai…Nội dung và cả mặt hình thức đã thể hiện sự trưởng thành trong trình độ lập pháp của cơ quan Nhà nước, điều chỉnh, phản ảnh tương đối toàn diện các quan hệ thừa kế phát sinh trong thựa tế. Tuy nhiên, qua quá trình nghiên cứu và đối chiếu với thực tế, bản thân tác giả của đề tài thấy còn nhiều quy định thừa kế hiện hành chưa thật sự phù hợp với đời sống xã hội.

Về vấn đề người thừa kế từ chối nhận di sản: “Người thừa kế theo pháp luật và theo di chúc có thể từ bỏ phần của mình đã được thừa kế cho người khác hay là cho các cơ quan tổ chức khác cũng được nhưng không quá 6 tháng bắt đầu từ ngày mở di chúc trở đi…”[18, Đ45]. Quy định như trên không phù hợp với tình hình hiện nay, mà còn có tính áp đặt, vi phạm nguyên tắc tự nguyện của chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự. Bởi lẽ nguyên tắc tự định đoạt của người thừa kế được thể hiện ở quyền nhận hay không nhận di sản. Một người từ chối một quyền dân sự nào đó mà không gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác và cũng không vi phạm đạo đức xã hội thì không thể bị hạn chế trong một thời gian như luật định. Thời hạn từ chối nhận di sản là 6 tháng, kể từ ngày mở thừa kế là một thời gian tương đối ngắn so với 3 năm bảo hộ quyền thừa kế. Sự hạn chế về thời gian từ chối quyền hưởng di sản không thể thực hiện được khi mà người thừa kế từ chối nhận di sản quá thời hạn trên, sự từ chối quá hạn định thì được xem là vô hiệu, mà đã vô hiệu thì tức là bắt buộc họ phải nhận di sản đó mặc dù không muốn. Trong trường hợp này người từ chối thừa kế buộc phải tham gia vào quan hệ dân sự trái với quyền tự do ý chí của họ mà pháp luật đã cho phép. Hơn nữa, sự từ chối quyền hưởng di sản không được thừa nhận đã quá hạn định mà người thừa kế vẫn quyết định từ chối thì phần di sản này sẽ giải quyết thế nào? Pháp luật thừa kế Lào chỉ quy định là “Nếu mà không lập tên ai thì tài sản ấy đem chia theo pháp luật”. Việc không lập tên ai bằng văn bản có nghĩa rằng khi người đó đã từ chối nhận di sản rồi. Việc quy định thời hạn mà các chủ thể được quyền khởi kiện trong việc chia di sản thừa kế là 3 năm, bằng thời gian kiện trong việc đòi nợ không còn phù hợp với tình hình hiện nay. Luận văn: Giải pháp pháp luật thừa kế nước Cộng hòa Lào.

Pháp luật Việt Nam và một số nước quy định thời hạn khởi kiện đối với việc chia di sản trên là 10 năm, còn thời gian kiện đòi nợ và thực hiện nghĩa vụ là 3 năm. Xét về thực tế, quy định 3 năm là khoảng thời gian quá ngắn. Bởi lẽ, thừa kế là một vấn đề khá phức tạp, liên quan đến tài sản và người được sở hữu nó. Tài sản ở đây có thể là động sản hoặc bất động sản. Nếu những vụ án liên quan đến bất động sản mà chỉ quy định thời hạn khởi kiện là 3 năm thì chủ thể sẽ không kịp thời gian để bảo vệ quyền của mình. Có những trường hợp vì một lý do nào đó người thân trong gia đình chết mà người thừa kế không có được tin tức (có thể do định cư xa), sau một thời gian mới biết và khi đó tài sản mà đáng lẽ mình được thừa kế đã bị người khác chiếm giữ, trong khi thời hạn quy định 3 năm đã hết hoặc đã gần hết nhưng phải chuẩn bị các thủ tục khởi kiện dẫn đến hết thời hạn nên họ không thể bảo vệ được quyền lợi chính đáng của mình. Hoặc trường hợp nữa là do vấn đề tế nhị, các thành viên trong gia đình không muốn đưa nhau ra cơ quan nhà nước mà thỏa thuận tự giải quyết với nhau. Nhưng sau một thời gian vấn đề vẫn không được giải quyết thỏa đáng, lúc này người thừa kế mới làm đơn khởi kiện thì đã hết thời hạn, vì đã quá ba năm. Đó là chưa nói đến những vụ án liên quan đến bất động sản yêu cầu thủ tục phải rườm ra hơn thì thời gian ba năm quả là ngắn. Thực ra trong điều kiện xã hội hiện nay, mọi người đều rất bận rộn với công việc của mình, trong khi thủ tục pháp lý hiện nay của Lào còn chưa đạt đến mức đơn giản tuyệt đối thì, hơn nữa vấn đề thừa kế liên quan đến tình đoàn kết trong gia đình thì việc quy định ba năm rõ ràng là không phù hợp mà yêu cầu phải quy định thời gian dài hơn nữa để đảm bảo được quyền lợi người thừa kế.

  • Một vấn đề nữa là việc quy định cách thức lập di chúc bằng miệng cũng không còn phù hợp.

Luật thừa kế của Lào quy định nếu người lập di chúc bằng miệng vì lý do sức khỏe không viết được thì phải có ít nhất trước mặt ba người, người đó để lại di chúc bằng miệng, sau đó ba người này phải chạy đến cơ quan làng bản thông báo để cơ quan làng bản biết, đồng thời nêu lý do người đó không thể lập di chúc bằng văn bản [18, Đ28]. Đây quả là một quy định còn mang tính rườm rà. Vì thực tế người sắp chết nói được trước mặt 3 người làm chứng nhiều khi không có tính khả thi. Mặt khác, việc đòi hỏi 3 người đó phải báo ngay cho cơ qua làng bản biết làm mất thời gian mà lại không mang tính pháp lý cao. Nếu vì lý do nào đó, cơ quan làng bản không ghi lại những điều ba người làm chứng nói hay trên đường ba người làm chứng tới cơ quan làng bản có thể xảy ra một vụ tai nạn thì di chúc bằng miệng đó của người kia có thực hiện được không vì không có gì làm bằng chứng cả. Thay vì quy định như vậy, tại sao cơ quan lập pháp không quy định ba người đó sẽ viết bằng văn bản lời của người chết và đến cơ quan có thẩm quyền yêu cầu chứng thực, đồng thời cam kết trách nhiệm viết đúng lời người chết. Quy định này trong Luật thừa kế của Lào mang tính hơi đậm chất tập quán, làm mất đi tinh thần pháp chế hóa các quy định theo tiến trình xã hội hiện đại hóa đất nước. Luận văn: Giải pháp pháp luật thừa kế nước Cộng hòa Lào.

Ngoài những mặt hạn chế trên, pháp luật thừa kế Lào cũng còn những tranh cãi về các vấn đề như quy định về phần di sản chia cho các con khi bố hoặc mẹ mất, hoặc vấn đề thừa kế giữa con nuôi với bố mẹ đẻ…là những vấn đề cần xem xét lại nhằm phù hợp với tình hình thực tế. Trong phần sau chúng ta sẽ nói rõ hơn về từng lĩnh vực.

  • Thứ tư, pháp luật thừa kế hiện nay còn tồn tại một số hạn chế về trình độ kỷ thuật lập pháp:

Ngoài những hạn chế về mặt nội dung, pháp luật thừa kế Lào còn một số hạn chế về mặt hình thức. Mặt hình thức ở đây bao gồm việc quy định quá dài dòng, rườm rà trong cùng một nội dung, sắp xếp các điều luật, đặt tên điều luật và yêu cầu phải rõ ràng, dễ hiểu, không trùng lặp nhau giữa nội dung trong các điều luật.

Quy định quá dài dòng thể hiện ở chỗ về một vấn đề thừa kế nhưng pháp luật Lào đã quy định tới 67 điều luật (trong khi Việt Nam chỉ có 56 điều và nằm trong Bộ luật dân sự năm 2005). Nhìn vào Luật thừa kế của Lào còn thấy những điều luật chỉ có vỏn vẹn một đến hai dòng. Điều đáng nói ở đây là tuy quy định tới 67 Điều nhưng vấn đề vẫn chưa được rõ ràng, khi tiếp xúc người đọc còn có cảm giác như rất khó nhớ được vấn đề mà cơ quan nhà nước truyền tải, thiếu nhiều quy định cần thiết nhưng lại thừa các quy định có tính chất lặp lại theo cùng một nội dung. Ví dụ về thời gian và địa điểm mở thừa kế. Đối quy định một vấn đề là quy định về việc mở thừa kế nhưng ở đây lại tách ra thành hai điều luật riêng là thời gian và địa điểm. Việc tách thành hai điều luật nó cũng không làm rõ hơn vấn đề mà chỉ làm cho Luật thừa kế trở nên dài dòng văn tự mà thôi. Trong khi nếu nhập vào một điều luật thì sẽ làm cho người đọc dễ nhớ nội dung hơn nữa. Hay như việc quy định phân chia di sản thừa kế giữa vợ hoặc chồng còn sống trong trường hợp không có con với hàng thừa kế thứ nhất, thứ hai cũng không nên tách riêng ra thành hai điều luật như hiện tại. Thời hiệu có quyền khởi kiện đối với người thừa kế và chủ nợ cũng nên quy định vào một điều luật. Những quy định dài dòng trên đã làm mất đi yêu cầu pháp luật phải dễ đọc, dễ hiểu đối với mọi tầng lớp nhân dân trong vấn đề lập pháp của quốc gia Lào.

Việc sắp xếp các điều luật chưa thật sự khoa học. Ví dụ như mới vào phần mở đầu, xen lẫn với việc quy định quyền thừa kế, định nghĩa hay giải thích từ ngữ thì ngay Điều 5 đã quy định về vấn đề thừa kế của người đã bị tòa sản tuyên bố là đã chết. Rồi tiếp đó mới quy định thời gian và địa điểm mở thừa kế. Hay như trong phần thừa kế theo pháp luật thì lại lẫn vào quy định thừa kế theo di chúc. Đang quy định tại Điều 9 về các trường hợp thừa kế theo pháp luật, tiếp lại quy định hàng thừa kế theo di chúc rồi các điều tiếp theo Điều 12, Điều 13 lại thừa kế theo pháp luật. Trong phần thừa kế theo di chúc sau khi quy định quyền của người tặng, chuyển lập di chúc [18, Đ24] lại quy định ngay việc giới hạn quyền [18, Đ25] mà sau đó tại Điều 26 mới quan điểm của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào về việc lập di chúc. Hay việc phân chia các phần chương điều cũng không hợp lý. Ở chương 3 nội dung của nó vẫn là thừa kế theo di chúc nhưng lại không nằm trong nội dung của chương thừa kế theo di chúc mà được tách riêng ra. Những sự sắp xếp một cách đứt quảng như trên không tạo ra sự liền mạch về cùng một vấn đề, gây khó khăn trong việc đối chiếu và áp dụng.

Cuối cùng là về việc đặt tên các điều luật: Có một số điều trong Luật thừa kế chưa được đặt tên phù hợp. Ví dụ như tại Điều 34 có tên gọi là “Lý do di chúc bị rơi rớt hay là mất đi” trong khi nội dung quy định trong điều luật lại nói về vấn đề di sản không có người nhận, di sản thừa kế không còn để chia và sự vô hiệu của di chúc. Đối chiếu giữa tên gọi và nội dung, chúng ta thấy không có sự phù hợp.

Ngoài ra, pháp luật thừa kế hiện hành sử dụng một số từ ngữ chưa khoa học, chưa chính xác như “Người thừa kế thay đổi nhau” không thể hiện rõ nghĩa, hay “Quan điểm lập di chúc nước Cộng hòa nhân chủ nhân dân Lào” nghe có vẻ quan trọng một cách quá mức khi đó chỉ là quy định thể hiện hình thức di chúc.

Trên đây là những hạn chế cơ bản của pháp luật thừa kế của Lào.

  • Những hạn chế đó xuất phát từ những lý do sau: Luận văn: Giải pháp pháp luật thừa kế nước Cộng hòa Lào.

Thứ nhất, Lào trước đây một thời gian dài là một quốc gia nằm dưới sự “bảo hộ” của một số nước. Nền pháp luật của Lào nói chung chịu sự điều khiển của các nước đi khai thác thuộc địa nhằm phục vụ lợi ích cho những quốc gia này mà không tính đến lợi ích người dân Lào. Trong thập kỷ trước, Lào là nước có nền kinh tế khép kín, tự cung tự cấp, đời sống xã hội tồn tại nhiều tập tục phong kiến lỗi thời. Trong từng làng bản, quan niệm “Phép vua thua lệ làng” được coi trọng trong đại đa số tầng lớp nhân dân. Pháp luật thời kỳ này đối với người dân còn là một thứ xa vời, coi đó là công việc của nhà nước. Sau khi nền kinh tế chuyển đổi từ tự cung tự cấp sang nền kinh tế thị trường và từng bước hội nhập quốc tế làm cho những chuẩn mực đạo đức, quan niệm về gia đình, giá trị xã hội… cũng có những biến đổi to lớn. Do vậy, không thể tránh khỏi tình trạng lạc hậu của pháp luật nói chung và pháp luật thừa kế nói riêng.

Thứ hai, do nền kinh tế đất nước Lào còn kém phát triển dẫn đến hệ lụy sự trì trệ trong việc xây dựng lập pháp. Lào là quốc gia nằm trong số những nước có nền kinh tế kém phát triển nhất thế giới. Vì thế việc Chính phủ phải tập trung quan tâm thúc đẩy nền kinh tế phát triển, cải thiện đời sống vật chất tinh thần cho người dân nên không thể chú tâm tập trung để xây dựng một hệ thống pháp luật tiên tiến như các nước cũng là điều dễ hiểu.

Thứ ba, trong điều kiện kinh tế Lào đang biến đổi từng ngày từng giờ, hệ thống pháp luật của thời kỳ mới đang hình thành ở mức độ khiêm tốn, Lào đang đứng trước những khó khăn thử thách to lớn. Trong thời kỳ mà trình độ các nước đang phát triển như “vũ bão” về mọi mặt thì không thể tránh khỏi sự “lạc hậu” về hệ thống pháp luật so với các nước. Đây là thời kỳ mà các chế định quốc tế đang được chuẩn mực hóa, quốc tế hóa thì hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật thừa kế nói riêng của Lào đang phải cố gắng khắc phục để vừa phù hợp với nhu cầu nội tại của nền kinh tế quốc gia vừa phải thích ứng với pháp luật quốc tế đang vận động rất nhanh. Cho nên, thật khó để đảm bảo tính toàn diện, khoa học trong một thời gian ngắn.

Thứ tư, cơ quan lập pháp trong bộ máy nhà nước chưa sử dụng hết những người tài hoặc là những nhà khoa học vào việc ban hành các dự thảo luật.

Pháp luật hiện hành của Lào quy định sự tham gia của các nhà khoa học trong thành phần ban soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, nhưng trên thực tế hoạt động của ban soạn thảo luật hạn chế mức độ. Trong tổ biên tập dự thảo, các nhà khoa học cũng chỉ tham gia với tư cách là đại diện của các cơ quan, tổ chức Nhà nước của địa phương đến mà thôi, nên họ tham gia với tư cách là nhà quản lý, nhà hoạt động thực tiễn chứ không phải là nhà phản biện khoa học. Mặt khác, nguồn kinh phí dùng cho hoạt động xây dựng pháp luật của Quốc hội cũng còn nhiều hạn chế vì vậy chưa khuyến khích được sự quan tâm thích đáng của những nhà khoa học, hay nhân tài đất nước. Luận văn: Giải pháp pháp luật thừa kế nước Cộng hòa Lào.

Thứ năm, Quốc hội là cơ quan duy nhất ban hành dự án luật nhưng các đại biểu Quốc hội chỉ là những người kiêm nhiệm làm trong các cơ quan đoàn thể. Một năm Quốc hội họp 2 lần, mỗi kỳ cũng chỉ kéo dài trên dưới khoảng một tháng nên năng lực xây dựng luật của Quốc hội chưa đáp ứng yêu cầu cuộc sống. Hơn nữa, các Bộ, ngành khi ban hành văn bản nhiều khi còn xuất phát từ lợi ích của cơ quan mình mà không tính đến tình hình thực tế người dân nên không tránh khỏi cái nhìn phiến diện, tổng thể, thiếu đồng bộ. Trong khi đó thì việc thẩm định, rà soát và xử lý các văn bản trái pháp luật vẫn còn là một khâu yếu kém. Mặt khác, đội ngũ xây dựng pháp luật thực hiện việc thẩm tra, rà soát văn bản bản quy phạm pháp luật hiện nay còn thiếu về số lượng nhất là sự tham gia của những người trẻ năng động, hạn chế về trình độ, năng lực cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến pháp luật thừa kế ban hành thiếu đồng bộ, tính cụ thể và thiếu trình độ kỷ thuật pháp lý.

Thứ sáu, do chưa tận dụng hết kinh nghiệm xây dựng luật pháp thừa kế của các nước, đặc biệt là Việt Nam.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khi mà trình độ của các nước, đặc biệt là các nước Châu Âu phát triển vượt xa so với tình hình một quốc gia như Lào thì việc tiếp thu học tập kinh nghiệm lập pháp của các nước là điều rất cần thiết. Tuy nhiên, cần đảm bảo tính cẩn trọng trong việc tham khảo kinh nghiệm của nước khác. Kinh nghiệm các nước đi trước chỉ có thể gợi ý cho nhà soạn thảo về xu hướng các vấn đề nảy sinh trong tương lai, về những giả thiết giải thích cho sự thành công hoặc thất bại khi giải quyết vấn đề nhất định. Qua những vụ án xảy ra trên thực tế ở các nước và cách giải quyết những vụ án đó thì có hiệu quả ở nước ngoài nhưng nếu đem áp dụng vào quốc gia Lào thì lại không thích hợp do sự khác nhau về phong tục tập quán, về chế độ chính trị cũng như tình hình kinh tế xã hội ở Lào hiện nay. Vì vậy, khi xây dựng các quy phạm pháp luật về thừa kế, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến tín ngưỡng tôn giáo, văn hóa làng bản, đến quyền sử dụng đất đai…mà không nghiên cứu một cách sâu sắc về cơ sở xã hội của quốc gia thì khi ban hành các quy phạm đó ra thực tế rất khó có tính khả thi.

Thứ bảy, quy trình xây dựng pháp luật trong tổ công tác soạn thảo dự án luật còn thiếu sự đầu tư thích đáng về thời gian, công sức cũng như điều kiện tài chính, chưa thu hút được sự tham gia và có ý kiến của nhân dân. Khi xây dựng pháp luật, chưa đầu tư nghiên cứu một cách có bài bản và có hệ thống nên các quy định còn mang tính giải pháp tình thế, thiếu tầm nhìn tổng thể.

Như vậy, qua nghiên cứu pháp luật thừa kế của Lào chúng ta thấy pháp luật trong lĩnh vực này đã tích cực thể chế hóa đường lối cũng như chính sách của Đảng nhân dân cách mạng Lào trong thời kỳ mới. Pháp luật thừa kế đã và đang tạo hành lang pháp lý, ghi nhận và bảo vệ quyền thừa kế công dân, góp phần cũng cố mối đoàn kết giữa các thành viên trong gia đình, duy trì trật tự kỷ cương trong xã hội.

Bên cạnh đó, so với sự vận động mạnh mẽ của nền kinh tế đang chuyển đổi và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng Nhà nước vững vàng thì hiện trạng pháp luật thừa kế nói riêng và hệ thống pháp luật nói chung còn có nhiều hạn chế, bất cập về mặt nội dung và hình thức. Nhu cầu của sự vận động xã hội đang đòi hỏi pháp luật thừa kế đứng trước một thách thức cần hoàn thiện phù hợp hơn nữa.

3.1.2. Những vấn đề phát sinh trong quá trình áp dụng và thực thi pháp luật thừa kế Luận văn: Giải pháp pháp luật thừa kế nước Cộng hòa Lào.

Trong quá trình áp dụng và thực thi pháp luật thừa kế ở Lào đã xảy ra những vướng mắc mà cơ quan tiến hành tố tụng lúng túng trong quá trình giải quyết.

Những vụ án tranh chấp về thừa kế ngày càng nhiều, nhất là các vấn đề về thừa kế giữa các trong gia đình, giữa con riêng với con đẻ, con ngoài giá thú, thừa kế của con đang mang thai, thừa kế giữa anh chị em trong gia đình với nhau…Sau đây là một trong những vụ án về thừa kế xảy ra trong thực tế.

Ông Son và chị Lô kết hôn hợp pháp với nhau theo Luật hôn nhân và gia đình nước cộng hòa nhân chủ nhân Lào vào năm 2003. Hai người có 6 đứa con trai, gồm ông Say 25 tuổi, ông May 24 tuổi, ông Hay 22 tuổi, ông Nay 20 tuổi, ông Phay 18 tuổi và ông Kay 10 tuổi. Hai ông, bà có một ngôi nhà và 3 lô đất, đến năm 2003 ông Son đã chết chỉ là bà Lô và các con ở lại, trước khi ông Son chết đã lập chi chúc đàng hoàng, không cho bà Lô được hưởng các tài sản ấy, tất cả các tài sản đó phải cho các con mỗi người được hưởng ngang nhau. Đến năn 2005, bà Lô đã viết đơn khởi kiện lên Tòa án nhân dân tỉnh KhămMuộn lý do để xin hưởng các tài sản ấy, sau khi Tòa án tỉnh Khăm Muộn đã xem xét thấy đơn của bà Lô có đẩy đủ các lý do, Tòa án tỉnh Khăm Muộn đã xử lý và căn cứ vào Điều 10 và Điều 12 của Luật thừa kế nước Cộng hòa nhân chủ nhân dân Lào năm 2008 để xử lý vụ án này. Căn cứ vào Điều 10 và Điều 12 là cho bà Lô được hưởng các tài sản đó một nữa và một nữa là cho các con chia đôi nhau theo pháp luật. Căn cứ vào Điều 6, 8, 9, 10, 12, 18, 19, 21, 22 và 28 của pháp luật về tiền phiên tòa năm 2006, buộc các con của bà Lô phải trả tiền phiên tòa 100.000 kip, nhưng bà Lô là người quản lý các con và tài sản ấy nên bà Lô là người trả tiền đó.

Hay một vụ án khác: Cô Tỉnh 35 tuổi ở bản Chom Thong, huyện ThàKhek, tỉnh Khăm Muộn là nguyên đơn. Anh Noy 39 tuổi ở bản Chomkek, huyện Thàkhek, tỉnh Khăm Muộn là bị đơn. Vào ngày 01/6/2009 cô Lan là vợ của ông Noy chết còn lại ông Noy và hai người con trai. Ngày 01/4/2010 chị Tỉnh đã đòi giấy chứng nhận đất với anh Noy (em rẽ) với lý do là tất cả nhà và đất là của bố mẹ mình để lại. Vì với tư cách là con gái út nên chị Lan (cùng anh Noy) ở trong nhà ấy để chăm sóc bố mẹ. Nhưng sau khi bố mẹ chết được 6 tháng, anh Noy và chị Lan đã đi làm giấy chứng nhận đất đứng tên cả hai vợ chồng theo số 167/SPX ngày 20/7/2008 và hai vợ chồng cũng sống hạnh phúc. Đến ngày 01/6/2009 chị Lan đã chết nên chị Tỉnh đã đi đồi giấy chứng nhận đất từ anh Noy nhiều lần cũng không được. Đến ngày 20/9/2011, chị Tỉnh mới biết được là giấy chứng nhận đấy ấy là anh Noy và chị Lan đã đi cầm vay Ngân hàng ngoại thương tỉnh Khăm Muộn với số tiền là 20.000.000 kip Lào. Ngày 10/01/2012 chị Tỉnh đã viết đơn khởi kiện lên Tòa án huyện ThàKhek, tỉnh Kăm Muộn. Sau khi tòa huyện xem xét và mời cả hai bên đi gặp nhau để thỏa thuận nhưng ông Noy không chịu với lý do là đất và nhà này của hai vợ chồng mình làm ra và mình đã khai thác và sửa chữa rất nhiều và khi bố mệ chết chỉ là hai vợ chồng tự lo hết từ khi đau ốm đến khi chết, bây giờ nếu mà chị Tỉnh muốn lấy lại thì phải bồi thường cho mình với số tiền là 3.000.000 Bat (tiền thái lan) nhưng bên chị Tỉnh đã nói là đất và nhà là của bố mẹ mình tự khai thác ra không phải là của hai vợ chồng. Luận văn: Giải pháp pháp luật thừa kế nước Cộng hòa Lào.

Tòa án huyện Thàkhek đã xem xét là đơn của chị Tỉnh là không đủ các điều kiện, còn lời khai của ông Noy là hợp pháp. Ngày 06/6/2012 Tòa án huyện Thà Khek đã đưa vụ án ra xét xử vụ án. Tòa án huyện Thà Khek đã căn cứ vào Điều 10 và Điều 15 Luật thừa kế của nước Cộng hòa nhân chủ nhân Lào “Người nào được chăm sóc bố mẹ khi đau ốm đến khi chết người đó là sẽ được hưởng tài sản của bố mẹ nhiều nhất”. Tòa án huyện Thà Khek đã căn cứ vào các Điều 6, 8, 9, 10, 12, 15, 21, 22 và 28 của pháp luật Lào về tiền phiên tòa. Buộc chị Tỉnh phải trả cho Tòa án với số tiền là 100.000 kip và tiền chi phí cho các cán bộ khi đi kiểm tra nhà và đất.

Tuy nhiên, cách giải quyết của Tòa án đã không thể đem lại sự thuyết phục cho bên nguyên đơn. Nên sau đó chị Tỉnh đã làm đơn khiếu nại lên Tòa án nhân dân Tỉnh nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết. Bởi lẽ theo Điều 15 Luật thừa kế thì khi bố mẹ chị Tỉnh và chị Lan chết mà không để lại di chúc thì di sản là đất đai đó phải được đem chia theo pháp luật, có tính công chăm sóc bố mẹ của chị Lan, như vậy chị Tỉnh vẫn có một phần tài sản trong khối di sản là đất đai đó. Nên việc chị Tỉnh làm đơn đòi lại phần tài sản mình là đúng. Tuy nhiên, đáng lẽ chị Tỉnh phải làm đơn khởi kiện từ khi chị Lan còn sống. Trong khi lúc này chị Lan đã chết thì Tòa án huyện Thà khek lại suy luận di sản chị Lan để lại là tài sản chung của vợ chồng nên chị Tỉnh không có quyền hưởng.

Việc cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết như vậy một phần là do luật chưa hướng dẫn rõ việc chị Lan và anh Noy làm giấy tờ mà chị Tỉnh cũng biết nhưng im lặng thì sau này có được quyền khởi kiện nữa không? Đây là một trong những hạn chế mà Luật thừa kế nên có văn bản hướng dẫn cụ thể.

Qua một vài vụ án xảy ra trên thực tiễn để thấy rằng thừa kế luôn là vấn đề phức tạp thường xảy ra tranh chấp. Theo thống kê vụ án về thừa kế hàng năm của nước Cộng hòa nhân chủ nhân dân Lào trong giai đoạn từ 2009-2011 thì có 640 vụ án, trong đó có 451 vụ đã đưa ra xét xử xong, số vụ án còn tồn đọng là 209 vụ.

Riêng tòa án tỉnh, số vụ án hàng năm thống kê tại tỉnh Khăm Muộn (gồm hai cấp xét xử) như sau:

Theo số liệu thống kê mới nhất của Tòa án nhân dân huyện Thà Khek giai đoạn từ 2002 đến 2011 thì số vụ án về thừa kế ít hơn so với Tòa án tỉnh, được thể hiện qua bảng sau:

Qua thống kê trên cho thấy công tác xét xử tại huyện Thà Khek diễn ra tương đối nhanh dẫn đến án về thừa kế không còn tồn đọng. Bên cạnh đó, có một số huyện như huyện MahaXay số vụ án cũng xảy ra tương đối nhiều nhưng chưa đem ra xét xử hết, án còn đọng lại nhiều qua năm tiếp theo dẫn đến sự chồng chéo về số vụ án thừa kế, điều này cho thấy khó khăn trong việc xét xử và cũng chứng tỏ rằng pháp luật về thừa kế còn nhiều bất cập, hạn chế khiến việc áp dụng các quy định pháp luật vào thực tiễn giải quyết tranh chấp khó thực thi, từ đó gây hậu quả cho việc hưởng thừa kế trong trường hợp di sản thừa kế có thể bị mất mát hoặc là bị tiêu hủy do nguyên nhân khách quan và chủ quan.

3.2. Giải pháp hoàn thiện quy định về chế định thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Luận văn: Giải pháp pháp luật thừa kế nước Cộng hòa Lào.

3.2.1. Tiêu chí hoàn thiện pháp luật thừa kế ở Lào

Pháp luật phản ánh hiện tại khách quan đời sống kinh tế, xã hội đất nước. Nó là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, phản ánh cơ sở hạ tầng. Thực tại khách quan của xã hội luôn tồn tại và biến đổi không ngừng. Chính vì thế, pháp luật cũng luôn phải đổi mới, hoàn thiện để phù hợp với sự phát triển của xã hội. Xây dựng và hoàn thiện luật pháp là một trong những hoạt động quan trọng được đặt lên hàng đầu của Nhà nước nhân dân cách mạng Lào. Nhất là trong thời kỳ cả đất nước Lào đang cố gắng để xây dựng một quốc gia phát triển về kinh tế, mạnh về chính trị.

Thừa kế là một trong những lĩnh vực luật pháp cần được hoàn thiện vì nó thường ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống thực tế của người dân. Để đánh giá tính hoàn thiện của hệ thống pháp luật nói chung, và pháp luật thừa kế nói riêng có nhiều tiêu chí khác nhau, trong đó có 4 tiêu chí cơ bản đó là tính đồng bộ, tính toàn diện, tính phù hợp và tính trình độ kỹ thuật pháp luật.

  • Một là, tính đồng bộ, thống nhất:

Tính đồng bộ, thống nhất của pháp luật rất quan trọng. Trong nhiều trường hợp, do thiếu tính đồng bộ, thống nhất nên khi đem ra áp dụng thực tế đã gây ra nhiều khó khăn cho cơ quan chức năng cũng như người dân.

“Tính đồng bộ, thống nhất là yêu cầu khách quan, là tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện và chất lượng của hệ thống pháp luật. Có nghĩa là, khi xem xét mức độ hoàn thiện của một hệ thống pháp luật thì cần phải xem xét giữa các bộ phận, quy phạm pháp luật có trùng lặp, chồng chéo hay mâu thuẫn với nhau hay không” [30, tr. 30]. Tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật thể hiện ở những đặc điểm sau: Luận văn: Giải pháp pháp luật thừa kế nước Cộng hòa Lào.

  • Thứ nhất, tính đồng bộ giữa Hiến pháp và các đạo luật và giữa các đạo luật với Nghĩa là nội dung quy định giữa Hiến pháp và các đạo luật, giữa các đạo luật với nhau phải có sự thống nhất với nhau, không thể có sự khác nhau về quy định các quyền, nghĩa vụ hay bất cứ nội dung nào.
  • Thứ hai, tính đồng bộ, thống nhất giữa các quy định trong cùng một đạo luật. Thể hiện ở sự thống nhất, không mâu thuẫn, không trùng lặp, chồng chéo trong mỗi ngành luật, mỗi chế định pháp luật và giữa các quy phạm pháp luật với nhau.

Chính vì vậy, khi xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật thừa kế của Lào phải xem xét mối tương quan giữa các quy phạm pháp luật khác, đảm bảo sự thống nhất của toàn bộ hệ thống pháp luật nói chung và trong bản thân nó nói riêng. Điều đó có nghĩa rằng, khi xây dựng hệ thống pháp luật về thừa kế phải loại bỏ tính mâu thuẫn, trùng lặp, chồng chéo giữa các quy phạm trong cùng lĩnh vực này. Ví dụ như về quyền sử dụng đất đai được quy định trong nhiều văn bản khác nhau, nhưng các văn bản phải thống nhất về nội dung, không để xảy ra tình trạng điều luật này “chồng chéo” điều luật kia. Khi xây dựng pháp luật về thừa kế, các nhà lập pháp cần quán triệt nguyên tắc văn bản pháp luật dưới không được trái so với các quy định của văn bản trên về nội dung và hình thức. Đặc biệt, cần tuân theo các nguyên tắc tối cao của Hiến pháp.

Pháp luật về thừa kế là một bộ phận của hệ thống pháp luật, có mối quan hệ với nhiều ngành luật khác như đất đai, hôn nhân gia đình…vì thế, khi xây dựng và hoàn tiện hệ thống pháp luật này phải đảm bảo sự thống nhất cả về nguyên tắc và nội dung với các chế định khác như quyền sở hữu, quyền sử dụng đất, quan hệ giữa cha mẹ con cái, chế định quan hệ giữa vợ chồng với nhau…nếu chỉ đơn lẽ hoàn thiện pháp luật thừa kế mà không hoàn thiện các lĩnh vực liên quan thì sẽ phá vỡ tính đồng bộ của hệ thống pháp luật. Lúc này pháp luật về thừa kế cũng khó có tính khả thi trên thực tế.

Đời sống xã hội là tổng hợp rất nhiều quan hệ, nhưng không phải tất cả các quan hệ đều có pháp luật điều chỉnh mà về nguyên tắc pháp luật chỉ điều chỉnh một số quan hệ liên quan đến lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng cũng như của người dân trong quốc gia đó. Tuy nhiên, không phải vì thế mà trong quá trình lựa chọn quan hệ điều chỉnh để xây dựng luật pháp, nhà nước không được coi trọng quan hệ này mà bỏ qua quan hệ khác. Vì mỗi một quan hệ có một vai trò và mối liên quan với các quan hệ khác. Không thể mô hình hóa một loại nhu cầu này mà bỏ trống mô hình hóa loại nhu cầu khác. Chính vì thế, tính toàn diện là yếu tố hết sức quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật thừa kế nói riêng. Nhìn chung, tính toàn diện thể hiện ở những cấp độ sau:

Ở cấp độ chung, khi hoàn thiện pháp luật thừa kế đòi hỏi phải điều chỉnh đầy đủ với nhiều chủ thể (như công dân Lào, công dân Lào đang làm ăn sinh sống tại nước ngoài, người không quốc tịch, người nước ngoài), với nhiều loại di sản như động sản, bất động sản, các quyền về tài sản. Cũng không chỉ điều chỉnh về mặt nội dung mà đòi hỏi cả về hình thức tức là quy phạm về thủ tục để đảm bảo quyền thừa kế của công dân. Nếu hoàn thiện pháp luật thừa kế đáp ứng được các diều kiện về cấp độ chung như trên thì nó sẽ đảm bảo được quyền thừa kế công dân một cách đầy đủ, di sản thừa kế được để lại từ người chết được thực hiện đúng ý nghĩa của nó, góp phần cũng cố tính đoàn kết dân tộc.

Ở cấp độ cụ thể, mỗi một trường hợp thừa kế phải có những quy phạm pháp luật điều chỉnh cụ thể, có thể áp dụng đúng đắn và dễ dàng. Tránh tình trạng có những trường hợp thì dễ dàng tìm thấy văn bản hướng dẫn cụ thể nhưng lại có những trường hợp (ít thấy) không có hoặc chưa thấy sự hướng dẫn một cách cụ thể, từ đó dẫn đến vấn đề sẽ bế tắc không có cách giải quyết, gây nên tình trạng “dồn án” ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của người dân. Ví dụ về trường hợp thừa kế của con nuôi phải có văn bản điều chỉnh các vấn đề như điều kiện và nguyên tắc để con nuôi được hưởng thừa kế, trường hợp không được thừa kế từ cha mẹ đẻ, các trường hợp con nuôi được hưởng thừa kế thế vị.

Nói tóm lại, hoàn thiện pháp luật thừa kế mang tính toàn diện là yếu tố bắt buộc phải thực hiện, nhất là trong thời đại ngày nay có nhiều trường hợp phân chia di sản của người chết bằng di chúc cũng như bằng pháp luật luôn xảy ra những trường hợp rất phức tạp. Do đó, đòi hỏi bất kỳ một trường hợp nào xảy ra pháp luật thừa kế phải có tính dự liệu trước mà quy định thành những quy phạm để qua đó điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay.

  • Hai là, tính phù hợp: Luận văn: Giải pháp pháp luật thừa kế nước Cộng hòa Lào.

Tính phù hợp thể hiện ở việc các quy định của luật pháp phải phù hợp với sự phát triển và những gì đang diễn ra bên ngoài xã hội. “Hệ thống pháp luật phản ánh đúng trình độ phát triển kinh tế xã hội, nó không thể cao hơn hoặc không thể thấp hơn trình độ phát triển đó. Tính phù hợp của hệ thống pháp luật thể hiện ở nhiều mặt, khi xem xét tiêu chuẩn này cần chú ý đến các mặt và giải quyết tốt mối quan hệ giữa pháp luật kinh tế, chính trị, đạo đức, tập quán truyền thống và các quy phạm xã hội”[28, tr.408].

Lào hay bất kỳ một quốc gia nào thì cũng không nằm ngoài quy luật đó khi xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chúng, pháp luật thừa kế nói riêng. Trước hết, pháp luật thừa kế phải phù hợp với đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước nhân dân cách mạng Lào, đó cũng là sự phù hợp với nguyện vọng của người dân.

Thứ nhất, tiêu chí này được hình thành trên cơ sở mối quan hệ giữa pháp luật và chính trị. Pháp luật là công cụ, phương tiện thể chế hóa đường lối của Đảng, làm cho đường lối đó có hiệu lực thực thi bắt buộc chung trên quy mô toàn xã hội. Thực thi pháp luật là cách để Đảng kiểm tra đường lối của mình trong thực tiễn. Chính vì vậy, pháp luật trước hết phải phù hợp với đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước có như thế mới đảm bảo sự vận động và phát triển đúng hướng.

Thứ hai, khi xây dựng hoàn thiện pháp luật thừa kế phải chú ý đến tính phù hợp giữa chính sách pháp luật với sự vận động của xã hội. Trước hết, phải bám sát tình hình phát triển của đất nước. Nội dung phải phù hợp không quá cao cũng không quá thấp so với thực trạng đời sống vật chất và ý thức xã hội. Lào là quốc gia được xem còn nghèo so với thế giới, đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân còn thấp. Do đó, nội dung hoàn thiện pháp luật thừa kế cũng phải theo đó mà phù hợp, không thể đem những quy định đặc thù của các nước Phương Tây để áp dụng cho tình hình thực tiễn của quốc gia. Thực tế đã cho thấy, sự điều chỉnh các quan hệ xã hội của pháp luật sẽ không có hiệu quả nếu pháp luật đó không gắn với thực tiễn, không phù hợp với điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan của xã hội. Và như vậy, nó không thể thúc đẩy các quan hệ kinh tế xã hội phát triển, thậm chí kìm hãm sự phát triển của xã hội. Cho nên để pháp luật thực sự có ý nghĩa trong cuộc sống, thực sự phát huy chức năng, vai trò của mình, pháp luật phải bắt nguồn từ chính cuộc sống, chính thực tại khách quan.

Thời đại ngày nay, có nhiều vấn đề phức tạp xảy ra mà khi xây dựng pháp luật thừa kế, những nhà làm luật chưa tiên liệu được hết. Mặt khác, Lào đang biến đổi từng ngày từng giờ về đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân và đang trên đường hội nhập cho phù hợp với sự phát triển của các nước anh em láng giềng nên có nhiều vấn đề như con nuôi, con ngoài giá thú, con sinh ra bằng phương pháp khoa học xảy ra ngày càng tăng trên thực tế. Do đó, pháp luật thừa kế cũng phải có những quy định hài hòa, phù hợp với tình hình thực tế. Điều đó đòi hỏi khi xây dựng hoàn thiện pháp luật thừa kế đòi hỏi cơ quan nhà nước phải tham khảo, nghiên cứu, chọn lọc những kinh nghiệm của các nước (ví dụ như Việt Nam), trên cơ sở đó để vận dụng vào tình hình thực tiễn của quốc gia Lào cho phù hợp. Luận văn: Giải pháp pháp luật thừa kế nước Cộng hòa Lào.

Nguyên tắc mang tính phù hợp của việc hoàn thiện pháp luật về thừa kế là yếu tố không thể thiếu trong tình hình xã hội có nhiều sự biến đổi không ngừng đòi hỏi phải phù hợp giữa quy phạm pháp luật với tình hình thực tiễn. Có được nguyên tắc này sẽ tạo điều kiện pháp luật thừa kế dễ dàng thực thi trên thực tế, thúc đẩy các quan hệ thừa kế phát triển. Có như thế mới có thể xây dựng được một hệ thống pháp luật có tính khả thi.

  • Ba là, trình độ kỹ thuật pháp lý

Nguyên tắc này đòi hỏi pháp luật thừa kế phải có tính trình độ kỹ thuật pháp cao. Kỹ thuật pháp lý là một vấn đề rộng lớn, phức tạp trong đó có ba điểm quan trọng, cần thiết phải chú ý:

  • “Kỹ thuật pháp lý thể hiện ở nguyên tắc, được vạch ra để áp dụng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật.
  • Trình độ kỹ thuật pháp lý được thể hiện ở việc xác định chính xác cơ cấu pháp luật.
  • Trình độ kỹ thuật pháp luật cũng được thể hiện ở ngôn ngữ pháp lý, phải đảm bảo tính cô đọng, logic, chính xác và một nghĩa”[29; tr. 63].

Pháp luật thừa kế muốn có tính trình độ kỹ thuật pháp lý cao thì trước hết phải xây dựng một cách khoa học, trình độ lập pháp, đúng nguyên tắc, đúng thẩm quyền, nội dung và trình tự thủ tục ban hành, bảo đảm sự đồng bộ, phối hợp chặt chẽ giữa các nội dung trong mỗi văn bản, giữa các văn bản trong cùng hệ thống. Thứ đến là bố cục kết cấu văn bản phải hợp lý, rõ ràng, dễ hiểu, dễ áp dụng, ngôn ngữ chính xác, phổ thông. Để đạt được các tiêu chí đó đòi hỏi các nhà làm luật phải là những người am hiểu về chuyên môn, tinh thông về mặt ngôn ngữ, văn phong, biết học hỏi giữ gìn bản sắc dân tộc của cha ông và sự kết hợp tinh hoa của các nước khác để từ đó có sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại cho phù hợp với thực tại khách quan.

Tóm lại, nếu như ba yếu tố đầu là những tiêu chí về nội dung, thì đến nguyên tắc đòi hỏi về trình độ kỹ thuật pháp lý là tiêu chí về hình thức. Trong đó mỗi tiêu chí có một vai trò ý nghĩa riêng, không thể đề cao tiêu chí này mà hạ thấp tiêu chí khác hoặc nếu thiếu một trong những tiêu chí đó thì không thể đánh giá được mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật.

3.2.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật thừa kế Luận văn: Giải pháp pháp luật thừa kế nước Cộng hòa Lào.

Qua nghiên cứu đề tài, mục đích của tác giả là nhằm góp phần hoàn thiện về pháp luật thừa kế hiện tại. Mặc dầu mới được sửa đổi bổ sung trong mấy năm gần đây nhưng pháp luật thừa kế còn tồn tại nhiều vấn đề hạn chế, gây khó khăn cho người dân cũng như cơ quan Nhà nước.

Qua những đánh giá và phân tích, nhược điểm của các quy định về thừa kế pháp luật Lào, tác giả đề xuất những phương hướng hoàn thiện cụ thể sau đây:

  • Rà soát, hệ thống hóa thường xuyên và có chất lượng các văn bản hiện hành liên quan đến thừa kế

Việc rà soát, hệ thống hóa thường xuyên và có chất lượng các văn bản pháp luật hiện hành liên quan đến thừa kế. Như tác giả Ngô Sỹ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư 1, 2, 3” của Việt Nam đã nói “Một hệ thống phát huy tốt hiệu lực thì không thể không coi trọng đến công tác rà soát và hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành. Đây là một khâu có ý nghĩa hết sức quan trọng góp phần tích cực vào việc hình thành một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh thống nhất và đồng bộ. Thông qua rà soát và hệ thống hóa cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới phát hiện những sai sót bất cập, mâu thuẫn và chồng chéo để làm cơ sở cho việc bổ sung những quy định pháp luật cho phù hợp [30, tr.87].

Thực tế, trong những năm qua, công tác rà soát và hệ thống hóa các văn bản pháp luật về thừa kế ở Lào cũng đã đạt được những thành tựu đáng kể. Nhiều quy phạm pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo, lỗi thời đã được loại ra khỏi hệ thống pháp luật. Pháp luật về thừa kế của Lào không ngừng được nâng cao và hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý vững chắc trong việc ghi nhận và bảo vệ quyền thừa kế của công dân. Tuy vậy, như đã trình bày ở trên, vì nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, pháp luật trong lĩnh vực này vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Để cho pháp luật thừa kế không tụt hậu mà luôn luôn theo kịp, phản ánh đúng các quan hệ xã hội thì nó phản ánh thường xuyên được bổ sung. Để có cơ sở bổ sung các quy định pháp luật về thừa kế điều đầu tiên là phải tiến hành một cách thường xuyên và có chất lượng, việc rà soát và hệ thống các văn bản pháp luật trong lĩnh vực này. Thông qua đó các cơ quan ban hành pháp luật không những tìm thấy những hạn chế trong pháp luật thực định mà còn thấy cả những khoảng trống của pháp luật hiện hành, xây dựng những quy phạm để điều chỉnh được đầy đủ các quan hệ về thừa kế đã và đang phát sinh trong thời gian tới.

Để có chuẩn mực trong việc rà soát, đánh giá, qua đó hoàn thiện các quy định về thừa kế, phải dựa trên quan điểm hiện nay của Đảng và Nhà nước nhân dân cách mạng Lào về xây dựng và hoàn thiện về pháp luật dân sự, về quan điểm xây dựng Nhà nước do dân, vì dân trên đường hội nhập quốc tế. Về thực tiễn, thước đo đó để đánh giá sự đúng đắn của các quy phạm chính là nhu cầu được ghi nhận và bảo vệ quyền thừa kế và thực trạng áp dụng, thực hiện bộ phận pháp luật này trong cuốc sống. Khi rà soát pháp luật, các chủ thể có thẩm quyền phải luôn bám sát các tiêu chí để hoàn thiện pháp luật, đó là tính đồng bộ, phù hợp và tính khoa học trong kỹ thuật pháp lý. Luận văn: Giải pháp pháp luật thừa kế nước Cộng hòa Lào.

Để đảm bảo kỹ thuật pháp luật đạt trình độ phải rà soát nhằm phát hiện và xử lý những văn bản yếu kém về mặt kỹ thuật, sai sót về diễn đạt, ngôn ngữ sử dụng…để đảm bảo tính tương thích với pháp luật quốc tế thì cần phải có sự so sánh, đối chiếu các cam kết. Chuẩn mực trong các điều ước quốc mà Lào tham gia hoặc đã tham gia hài hòa các quy định trong nước và pháp luật quốc tế, đảm bảo cho việc xây dựng và thực hiện chương trình thể chế hóa. Chẳng hạn trong lĩnh vực thừa kế có yếu tố nước ngoài cần sự rà soát lại các quy định thừa kế quyền sử dụng đất để phù hợp với các nguyên tắc của tổ chức quốc tế mà quốc gia Lào tham gia.

Để công tác rà soát pháp luật được tiến hành một cách toàn diện, đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều lực lượng với nhiều phương thức khác cần phải nâng cao năng lực của Bộ tư pháp cơ quan chủ quan trong việc rà soát văn bản pháp luật . Cần xây dựng kế hoạch cụ thể, có chương trình rà soát cả ngắn hạn và dài hạn. Đồng thời thu hút các nhà khoa học, chuyên gia những người hoạt động thực tiễn và nhân dân vào quá tình rà soát pháp luật thừa kế.

  • Bổ sung những quy định chưa phù hợp với pháp luật thừa kế

Pháp luật thừa kế đã thể chế hóa một cách khá đầy đủ và cụ thể hóa đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước nhân dân cách mạng Lào về quyền con người, tạo ra hành lang pháp lý vững chắc, cho công dân thực hiện quyền sở hữu và hợp pháp sử dụng quyền thừa kế của mình. Tuy nhiên, trong điều kiện hội nhập quốc tế và xây dựng Nhà nước Lào ngày càng vững mạnh nhưng một số quy định trong pháp luật thừa kế chưa rõ ràng, chưa thực sự phù hợp và rất khó áp dụng trên thực tế, cần phải hoàn thiện trong quá trình triển khai thực hiện cụ thể gồm những vấn đề sau:

  • Về quyền để lại di sản

Pháp luật thừa kế của Lào chỉ cho phép cha, mẹ để lại di sản cho con cái theo một hạn mức nhất định, tùy thuộc vào số thành viên con cái trong gia đình. Điều này làm hạn chế quyền của cha mẹ khi muốn để lại di sản cho đứa con này hoặc đứa con kia, vì trong nhiều trường hợp có những đứa con bất hiếu thì cha, mẹ không muốn để lại di sản cho những đứa con này. Vì vậy, luật nên mở rộng quyền để lại di sản cho người lập di chúc là cha, mẹ theo hướng “cha, mẹ có quyền lập di chúc để lại di sản cho các con trong gia đình nhưng nếu không có tên trong di chúc thì người con đó vẫn được hưởng di sản theo pháp luật”.

  • Về di sản thừa kế

Pháp luật thừa kế Lào cũng như Việt Nam không xây dựng khái niệm di sản và di sản thừa kế. Các quy phạm trong văn bản pháp luật dân sự chỉ quy định di sản thừa kế bao gồm những tài sản nào. Điều này cho thấy thiếu cơ sở lý luận để xem xét và xác định di sản thừa kế. Dựa trên bình diện chung nhất, đó là phải đi từ khái niệm và phải hiểu thế nào là di sản thừa kế. Từ cách nhìn nhận này, chúng tôi cho rằng pháp luật thừa kế Lào nên quy định di sản thừa kế theo hướng “di sản thừa kế là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người chết để lại, là đối tượng của quan hệ dịch chuyển tài sản của người đó sang cho người thừa kế, được Nhà nước thừa nhận và đảm bảo thực hiện”.

  • Về việc từ chối nhận di sản Luận văn: Giải pháp pháp luật thừa kế nước Cộng hòa Lào.

Theo quy định tại Điều 45 Luật thừa kế Lào năm 2008 thì “Người thừa kế theo pháp luật và theo di chúc có thể từ bỏ phần mình đã được thừa kế cho người khác hay cho cơ quan cũng được nhưng không quá 6 tháng bắt đầu từ ngày mở di chúc trở đi”. Quy định này không những làm phức tạp hóa vấn đề mà còn không phù hợp với thực tế. Bởi lẽ, thực tiễn xét xử cho thấy thường là chỉ cần khai báo rõ ràng việc từ chối hưởng di sản đều được Tòa án chấp nhận. Hơn nữa, theo quan niệm của người dân cũng như trên nguyên tắc tự định đoạt của chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự, việc từ chối hưởng di sản mà phải tuân thủ những quy định nghiêm ngặt thủ tục trên có phần thiếu thuyết phục. Mặt khác, luật chỉ quy định trong thời hạn 6 tháng thì người thừa kế mới có quyền từ chối nhận di sản. Nếu quá thời hạn này mà người thừa kế vẫn cương quyết từ chối nhận di sản thì phần di sản này phải xử lý như thế nào. Theo nguyên tắc, việc từ chối không gây thiệt hại đến quyền lợi ích hợp pháp của người khác và cũng không vi phạm đạo đức xã hội thì không thể bị hạn chế trong một thời hạn như luật định. Do vậy, theo tác giả pháp luật thừa kế không cần thiết phải quy định thời hạn từ chối quyền hưởng di sản cụ thể như 6 tháng, một năm, ba năm vì thời hạn từ chối hưởng di sản theo nguyên tắc không thể dài hơn thời hạn của thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế theo quy định tại Điều 40 Luật thừa kế Lào mà nên quy định thời hạn cuối cùng của sự từ chối nhận di sản là thời điểm chia di sản.

  • Về nhường quyền hưởng di sản

Pháp Luật thừa kế của Lào chưa quy định người nhượng quyền thừa kế mà chỉ quy định về người từ chối nhận di sản, về người ủy quyền nhận di sản do người chết để lại. Trong thực tiễn, giải quyết tranh chấp về thừa kế, nhiều trường hợp người thừa kế nhường di sản thừa kế của mình cho người thừa kế khác. Trong trường hợp này, Tòa án vẫn chưa chấp nhận cho họ được nhường phần di sản thừa kế bởi trong quan hệ dân sự, quyền tự định đoạt của đương sự là quyền luôn được tôn trọng khi người thừa kế từ chối quyền hưởng di sản thì phần di sản đó sẽ đem phân chia theo pháp luật. Còn khi người thừa kế nhường phần di sản của mình cho người khác thì về mặt pháp lý, họ đã nhận phần di sản của mình và đã nhường cho người khác (với tư cách là tặng cho người khác). Để có cơ sở pháp luật, thiết nghĩ nên quy định cụ thể về vấn đề nhường quyền hưởng di sản thừa kế trong luật thừa kế cụ thể như sau:

  • Người thừa kế có thể nhường quyền hưởng di sản thừa kế của mình cho người khác. Việc nhường quyền hưởng di sản phải được lập hành văn bản.
  • Người được nhường quyền hưởng di sản phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại trong phạm vi di sản mà mình được hưởng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Về thừa kế thế vị Luận văn: Giải pháp pháp luật thừa kế nước Cộng hòa Lào.

Luật thừa kế của Lào chưa có quy định về thừa kế thế vị mà chỉ có quy định “Người thừa kế thay đổi nhau”. Trong thực tế, khi người thừa kế chết cùng hoặc chết trước thời điểm với người để lại di sản thì khi phân chia di sản thừa kế rất khó xác định, không biết áp dụng điều luật nào để phân chia. Do đó, để xác định đúng thì nên quy định thêm một điều luật về “Thừa kế thế vị” với nội dung “Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ cháu được hưởng nếu còn sống, nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống. Thừa kế thế vị không áp dụng cho trường hợp giữa con riêng với cha mẹ kế.

  • Về những người thừa kế được sinh ra theo phương pháp khoa học hiện đại:

Pháp luật thừa kế hiện hành ở Lào chưa có quy định cụ thể về vấn đề này. Trong xã hội phát triển, trên thế giới cũng như ở Lào, ngày càng có nhiều người mong muốn được sinh con theo phương pháp khoa học hiện đại. Do vậy, vấn đề công nhận cha cho những đứa trẻ sinh ra theo phương pháp thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm hết sức quan trọng. Điều đó không những ý nghĩa trong việc đảm bảo quyền lợi cho những đứa trẻ mà còn mang lại tình thương yêu, tạo nên nhưng suy nghĩ tốt đẹp trong việc hình thành nhân cách trẻ thơ, ngược lại, nếu xảy ra tranh chấp xuất phát từ những vấn đề này dễ hình thành những suy nghĩ không tốt và gây nên những vết thương lòng cho những đứa trẻ vô tội.

Vì vậy, chúng tôi nghĩ trong thời gian tới cần phải bổ sung vấn đề những người thuộc diện thừa kế được sinh ra theo phương pháp khoa học hiện đại một cách cụ thể, rõ ràng. Trong trường hợp con sinh ra theo phương pháp khoa học thì giữa con và cha, mẹ thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được xác định như cha mẹ đối với con đẻ và họ có quyền thừa kế di sản của nhau. Người con sinh ra theo phương pháp khoa học không được quyền yêu cầu thừa kế, quyền được nuôi dưỡng đối với người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi. Có như vậy, khi phát sinh tranh chấp về thừa kế liên quan đến những người này thì người áp dụng luật mới có cơ sở để giải quyết một cách thấu tình đạt lý, nâng cao công tác xét xử và tạo niềm tin vào pháp luật trong lòng người dân.

  • Về di chúc miệng Luận văn: Giải pháp pháp luật thừa kế nước Cộng hòa Lào.

Hình thức di chúc miệng vốn là một trong những tập quán hình thành từ lâu đời của nhân dân Lào. Đó là sự bày tỏ bằng lời nói, ý chí của mình cho người khác sau khi chết. Cho tới nay, pháp luật vẫn ghi nhận thừa kế theo hình thức di chúc miệng. Tuy nhiên, đây là hình thức di chúc được thực hiện bằng lời nói nên thực tế rất khó khăn cho việc ghi nhận sự thật cũng như xác định tính khách quan của di chúc. Do vậy, tại Điều 28 Luật thừa kế của Lào năm 2008 đã quy định di chúc miệng chỉ được coi là hợp pháp khi nó đáp ứng được những yêu cầu cụ thể sau:

  • Trước hết, việc lập di chúc miệng chỉ áp dụng khi tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản.
  • Hai là, người lập di chúc phải thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất 3 người làm chứng.
  • Ba là, người làm chứng phải ngay lập tức báo lên cơ quan làng, bản biết những lời nói của người chết và nói rõ lý do vì sao không lập di chúc bằng văn bản.
  • Bốn là, sau một tháng kể từ thời điểm lập di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng bị hủy bỏ.

Quy định trên là quá sơ sài, đơn giản. Vì so với những quy định về di chúc bằng văn bản phải có, thì di chúc bằng miệng không quy định rõ việc ghi lại lời của người để lại di sản phải gồm những nội dung gì. Hơn nữa nếu những người làm chứng không thực hiện những quy định trên thì trách nhiệm của họ thế nào, cần quy định rõ.

Theo Bộ luật dân sự Nhật Bản thì quy định cụ thể về người viết cũng như người đi chứng thực, chứng nhận di chúc miệng, các căn cứ cơ quan có thẩm quyền xác định di chúc [1, Đ976]. Vì vậy, để việc áp dụng pháp luật thống nhất chúng tôi đề nghị các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần có hướng dẫn kịp thời về hình thức di chúc này, người viết di chúc, trách nhiệm của người mang di chúc miệng đi công chứng, chứng thực.

  • Về người làm chứng cho việc lập di chúc

Để đảm bảo di chúc được lập ra theo đúng ý chí của người để lại di sản, không bị tác động bởi người vì lợi ích của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Vì vậy, theo chúng tôi, cần bổ sung quy định rõ những trường hợp không được làm chứng cho việc lập di chúc, cụ thể là “Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:

  1. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc
  2. Người có quyền, nghĩa vụ liên quan tới nội dung di chúc.
  3. Người chưa đủ 18 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự.
  4. Người có cha, mẹ, vợ, chồng, con là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật”

Người viết hộ di chúc Luận văn: Giải pháp pháp luật thừa kế nước Cộng hòa Lào.

Luật thừa kế của Lào chưa quy định về người viết hộ di chúc phải có những điều kiện gì, những đối tượng nào không được viết hộ di chúc…Vì vậy, để đảm bảo việc thống nhất khi áp dụng pháp luật cũng như người viết hộ thấy được vai trò của mình và trách nhiệm trong trường hợp người viết hộ trốn tránh pháp luật khi họ thông đồng với người làm chứng, viết không đúng ý muốn đích thực của người lập di chúc. Theo chúng tôi, pháp luật nên quy định những điều kiện đối với người viết hộ di chúc, diện những người được viết hộ viết hộ di chúc theo hướng “Những người viết hộ di chúc phải đảm bảo được các điều kiện như người làm chứng cho người lập di chúc”.

Đồng thời quy định người làm chứng và người viết hộ di chúc không được hưởng thừa kế theo di chúc.

  • Về việc thừa kế có yếu tố nước ngoài

Hiện nay, trong xu thế hội nhập quốc tế, quan hệ mọi mặt giữa người quốc gia Lào với người nước ngoài ngày càng phát triển. Công dân nước ngoài ở nước Lào cũng như công dân Lào ở nước ngoài ngày càng đông, tài sản của họ ở nước ngoài ngày càng nhiều. Với tình hình đó, nhất định sẽ phát sinh mối quan hệ pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài. Trong lúc đó, do bản chất chế độ chính trị, kinh tế mỗi nước, do tình hình đặc điểm của mỗi dân tộc, nội dung luật thừa kế của mỗi nước khác nhau về quyền thừa kế, về năng lực lập di chúc, về hình thức và nội dung lập di chúc, về diện và hàng thừa kế, về xác định khối di sản…Ví dụ về năng lực lập di chúc, theo pháp luật nước Lào cũng như đại đa số các nước thì người được quyền lập di chúc phải là người đạt độ tuổi trưởng thành có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Tuy vậy, theo pháp luật của một bang ở Mỹ lại quy định như người đủ 14 tuổi đã được quyền lập di chúc; hoặc theo pháp luật một số nước khác, người đại diện 14, 15 tuổi đã được lập di chúc. Câu hỏi đặt ra là: Công dân nước ngoài dưới 18 tuổi xin lập di chúc ở cơ quan có thẩm quyền của Lào theo pháp luật của nước ngoài thì đương sự đủ điều kiện lập di chúc. Vậy, cơ quan có thẩm quyền Lào chấp thuận hay từ chối việc công chứng. Hay công dân nước Lào dưới 18 tuổi xin lập di chúc ở cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài và đã được cơ quan nước này chấp nhận. Vậy, pháp luật Lào có coi đó là di chúc hợp pháp không; hoặc về hình thức di chúc thì nhìn chung đại đa số các nước quy định có loại di chúc mật, pháp luật nước Lào không quy định loại di chúc này. Di chúc mật là loại di chúc, mà sau khi người lập di chúc viết xong, tự bỏ di chúc này vào phong bì, có hai người làm chứng và được gián kín lại, công chứng viên chỉ tiến hành công chứng ngoài phong bì. Câu hỏi đặt ra là công dân nước Lào xin lập di chúc mật ở cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài và được cơ quan này chứng nhận, vậy pháp luật Lào có coi di chúc mật này là hợp pháp hay không? Mặc dù, theo Luật quốc tịch của nước Cộng hòa nhân chủ nhân dân Lào gồm có 30 Điều trong đó tại Điều 20 Luật quốc tịch Lào đã quy định về thừa kế của người nước ngoài tại đất nước Lào nhưng cũng chưa cụ thể được hết các trường hợp xảy ra trên thực tế. Vì vậy, để phù hợp với tình hình hiện tại thì nên cần bổ sung thêm các quy định như trên.

  • Về di chúc chung của vợ chồng Luận văn: Giải pháp pháp luật thừa kế nước Cộng hòa Lào.

Pháp luật thừa kế Lào chưa có quy định việc vợ chồng có quyền lập di chúc chung, nên trong thực tế khi vợ chồng muốn cùng lập di chúc chung để lại tài sản cho con phòng khi lâm bệnh mà chưa kịp lập di chúc dẫn đến tranh chấp tài sản giữa các con. Vì vậy, đây cũng là quy định mà pháp luật thừa kế Lào cũng cần bổ sung với quy định cụ thể như sau: “Vợ chồng có quyền lập di chúc chung để định đoạt tài sản của mình; di chúc chung của vợ chồng có thể được bổ sung, thay thế, hủy bỏ khi có sự thỏa thuận của hai bên; nếu một người đã chết thì người kia chỉ có thể bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình”.

  • Về di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng, chứng thực.

Pháp luật thừa kế Lào không có quy định những trường hợp mà di chúc bằng văn bản không có công chứng hay chứng thực nhưng có giá trị pháp lý. Thực tế, xảy ra những trường hợp người để lại di sản có thể chưa đến mức nguy kịch, vẫn còn có thể lập di chúc bằng văn bản nhưng việc công chứng, chứng thực lại gặp khó khăn. Thì trong những trường hợp này pháp luật cũng nên công nhận di chúc của họ là có hiệu lực pháp lý trong một thời gian nhất định. Theo chúng tôi, cần bổ sung điều luật như sau: “ Di chúc bằng văn bản có giá trị pháp lý như di chúc được công chứng, chứng thực trong những trường hợp sau đây: Di chúc của người đi trên tàu biển, máy bay có xác nhận của người chỉ huy phương tiện đó; di chúc của người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều dưỡng khác có xác nhận của người phụ trách bệnh viện, cơ sở đó; di chúc của người đang làm công việc khảo sát, thăm dò, nghiên cứu ở vùng rừng núi, hải đảo có xác nhận của người phụ trách đơn vị; di chúc của công dân Lào đang ở nước ngoài có chứng nhận của cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Lào tại nước đó; di chúc của người đang bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh có xác nhận của người phụ trách cơ sở”.

Về cấu trúc và sử dụng từ ngữ trong một số quy phạm pháp luật thừa kế: Xét về mặt kỹ thuật pháp lý, pháp luật thừa kế hiện hành vẫn còn những quy định chưa khoa học, chưa chính xác nên cần thiết phải khắc phục, cần điều chỉnh lại việc đặt tên các điều luật. Ví dụ tại Điều 26 Luật thừa kế Lào đã quy định “ Quan điểm lập di chúc nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào” thành “ Hình thức của di chúc”; hay tại Điều 34 Luật thừa kế Lào đã quy định “Lý do cho di chúc bị rơi rớt hay là bị mất đi” thành “ Những trường hợp di chúc không được thực hiện”.

Ngoài ra, cấu trúc các điều luật trong một số chương không hợp lý, sự sắp xếp các điều luật chưa tạo được sự liền mạch về cùng một vấn đề gây khó khăn cho việc áp dụng pháp luật. Theo chúng tối, nên sắp xếp lại như sau: Chương đầu tiên phải đặt tên là “những quy định chung về thừa kế”. Trong chương này bao gồm những điều luật điều chỉnh về những vấn đề chung như quyền thừa kế của công dân, định nghĩa, chính sách về thừa kế, thời gian, địa điểm mở thừa kế, người quản lý di sản…sau đó rồi đến chương 2 “thừa kế theo di chúc”. Trong chương này đề cập tới tất cả những nội dung liên quan đến thừa kế theo di chúc. Và chương 3 là “ thừa kế theo pháp luật” đề cập tới những nội dung còn lại liên quan đến thừa kế theo pháp luật.

  • Kịp thời ban hành các văn bản hướng dẫn về thừa kế Luận văn: Giải pháp pháp luật thừa kế nước Cộng hòa Lào.

Xây dựng luật là công việc hết sức khó khăn nhưng để luật đi được vào cuộc sống, phát huy giá trị trong còn trong cuộc sống còn khó khăn gấp bội. Để luật đi được vào cuộc sống, điều chỉnh một cách có hiệu quả các quan hệ xã hội thì công tác hướng dẫn thi hành luật có ý nghĩa vô cùng quan trọng” [13, Tr.100].

Như chúng ta đã phân tích ở các phần trước thì các quy định về thừa kế hiện hành còn khái quát cô đọng nhưng thực tiễn lại hết sức đa dạng, phong phú và không ngừng biến đổi. Đặc biệt, trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thu nhập của nhân dân ta không chỉ đủ để chi phí sinh hoạt hàng ngày mà còn có điều kiện tích lũy cho con cháu sau này, rồi đây di sản thừa kế không đơn thuần là tài sản có thể xác định ngay ở thời điểm thừa kế, mà còn là giá trị phần trăm cổ phần sở hữu đối với một công ty, một tập đoàn kinh tế…do đó, để áp dụng pháp luật đạt hiệu quả không chỉ dựa vào các văn bản đã được pháp điển hóa thành bộ luật mà còn dựa vào văn bản hướng dẫn thi hành. Qua quá trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn áp dụng chúng tôi thấy những vấn đề sau đây cần hướng dẫn cụ thể để áp dụng thống nhất:

  • Về quan hệ thừa kế con ngoài giá thú với bố dượng, mẹ kế, bố đẻ, mẹ đẻ Theo Điều 15 Luật thừa kế Lào thì con ngoài giá thú vẫn được hưởng

thừa kế của bố, mẹ (kể cả bố mẹ đẻ và bố, mẹ dượng) chỉ được hưởng thừa kế nếu được nuôi trong gia đình. Nhưng yếu tố “ được nuôi trong gia đình” là nuôi từ khi nào, nuôi từ lúc nhỏ đến thời điểm người để lại di sản chết, hay chỉ nuôi tại thời điểm người để lại di sản chết mà thôi. Đây là một phạm trù có tính trừu tượng nhưng lại chưa được hướng dẫn cụ thể. Vì vậy, cần nhanh chóng ban hành văn bản hướng dẫn về vấn đề này.

  • Về người gây ra chuyện xấu, con đang mang thai

Tại khoản 6, Điều 50 Lật thừa kế Lào quy định những người gây ra chuyện xấu làm ảnh hưởng tới chủ tài sản và những người thừa kế với nhau sẽ không được thừa kế theo pháp luật và theo di chúc nhưng lại không có văn bản hướng dẫn chuyện xấu đó những chuyện gì mà chỉ dựa vào sự đánh giá chủ quan trên cơ sở đạo đức, tập quán thì sẽ không khách quan. Vì vậy, cần có văn bản hướng dẫn rõ về vấn đề này. Về thừa kế của con đang mang thai cũng nên có hướng dẫn rõ con đang mang thai trong thời kỳ nào, sinh ra phải còn sống hay ra sao…

  • Tiếp tục hoàn thiện cơ chế thi hành pháp luật thừa kế

Xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật là hai quá trình có quan hệ biện chứng với nhau. Xây dựng pháp luật tốt tức là đảm bảo một hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, toàn diện phù hợp với cuộc sống sẽ tạo ra khả năng để tổ chức thực hiện pháp luật tốt. Ngược lại, thông qua thực hiện pháp luật sẽ có cơ sở thực hiện tiếp tục kiện toàn hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, thực hiện pháp luật cũng là vấn đề hết sức phức tạp bởi liên quan đến nhiều chủ thể trong xã hội, phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan, khách quan, trực tiếp, gián tiếp… vì vậy, hoàn thiện cơ chế thực hiện pháp luật thừa kế đòi hỏi phải tính đến sự đồng bộ các yếu tố sau: Luận văn: Giải pháp pháp luật thừa kế nước Cộng hòa Lào.

  • Xóa bỏ các thủ tục rườm rà, gây cản trở hoạt động của người dân trong khi họ thực hiện quyền công dân của mình được pháp luật công nhận.
  • Hoàn thiện pháp luật về tiêu chuẩn các chức danh tư pháp theo hướng đảm bảo yêu cầu chuẩn về kiến thức pháp luật và kỷ năng áp dụng pháp luật chuyên ngành về các tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp về thừa kế, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
  • Tăng cường năng lực lập pháp của Quốc hội, vì đây là cơ quan có quyền lực cao nhất, là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp, lập hiến.

Ngoài các nội dung trên, việc hoàn thiện pháp luật thừa kế còn yêu cầu phải tăng cường vai trò của cơ quan tổ chức nghiên cứu chuyên ngành trong hoạt động xây dựng pháp luật, hiện đại hóa phương thức và phương tiện xây dựng pháp luật…

Kết luận chương 3

Xuất phát từ vai trò, ý nghĩa của pháp luật thừa kế cũng như yêu cầu sự nghiệp đổi mới, xây dựng Nhà nước dân chủ nhân dân, nhu cầu hội nhập quốc tế hiện nay, việc đẩy mạnh công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thừa kế là một yêu cầu tất yếu khách quan. Trên cơ sở định hướng các quan điểm của Đảng, Nhà nước, và thực trạng pháp luật thừa kế, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thừa kế được nêu ở trên.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp pháp luật thừa kế nước Cộng hòa Lào.

Thừa kế là một trong những quan hệ xã hội ra đời và phát triển cùng với sự xuất hiện và phát triển của xã hội loài người. Trong bất kỳ chế độ xã hội nào, vấn đề thừa kế cũng có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật và bản thân nó cũng phản ánh phần nào bản chất của chế độ xã hội đó, thậm chí còn phản ánh được tính chất từng giai đoạn trong quá trình phát triển của một chế độ xã hội.

Ở Lào, từ khi pháp luật thừa kế được manh nha hình thành thì nó luôn được xây dựng và hoàn thiện cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế-xã hội nhất định.

Tuy nhiên, so với sự vận động mạnh mẽ của nền kinh tế đang chuyển đổi và hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng nhà nước dân chủ. Hiện trạng pháp luật thừa kế của Lào còn có nhiều hạn chế, bất cập cả về mặt nội dung và hình thức. Thế giới vận động và phát triển nên các quy định của pháp luật thừa kế không thể nào bất biến và mãi mãi trường tồn. Thực tiễn cuộc sống đang đặt bộ phận pháp luật này trước yêu cầu khách quan phải cần được hoàn thiện.

Để việc nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về thừa kế đạt kết quả tốt, điều đầu tiên phải đánh giá một cách khách quan những thiếu sót, hạn chế, bất cập trong pháp luật thừa kế hiện hành, quán triệt các quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước. Ngoài ra, cũng cần biết kế thừa và phát huy những thành quả tốt đẹp đã có, những kinh nghiệm tiến bộ của các nước.

Để thực hiện được mục tiêu trên, đòi hỏi phải có giải pháp đồng bộ. Trước hết cần phải rà soát và hệ thống hóa lại toàn bộ các quy phạm, tìm ra các điểm bất cập để tiếp tục hoàn thiện. Đồng thời cần bổ sung kịp thời các quy định còn thiếu sót phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế. Mặt khác kịp thời ban hành các văn bản hướng dẫn các điều khoản chưa rõ, cụ thể để tránh những cách hiểu không đồng bộ, tạo sự thống nhất trong cách giải quyết tranh chấp. Bên cạnh đó tiếp tục hoàn thiện cơ chế thi hành và xây dựng pháp luật về thừa kế cũng là một biện pháp hữu hiệu trong quá trình hoàn thiện pháp luật thừa kế. Tất nhiên các giải pháp đó không thể hoàn thành trong thời gian ngắn mà phải có một thời gian nhất định, với một lộ trình phù hợp. Hy vọng rằng, với sự nỗ lực của cơ quan xây dựng pháp luật, pháp luật về thừa kế ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào sẽ ngày càng hoàn thiện, góp phần tích cực vào sự phát triển nền kinh tế xã hội đất nước Lào. Luận văn: Giải pháp pháp luật thừa kế nước Cộng hòa Lào.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Chế định thừa kế theo luật dân sự nước Cộng hòa Lào

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464