Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Chế định thừa kế theo luật dân sự nước Cộng hòa Lào hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Chế định thừa kế theo Bộ luật dân sự nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội loài người là sự vận động không ngừng của tự nhiên và xã hội. Từ thuở sơ khai, cùng với những hình thái kinh tế bắt đầu manh nha xuất hiện tuy còn đơn giản thì quan hệ “Thừa kế” cũng đã theo đó xuất hiện như một tất yếu khách quan và có mối liên hệ ràng buộc với nhau. Pháp luật của các quốc gia trên thế giới đều ghi nhận và bảo vệ quyền thừa kế của công dân quốc gia mình. Mỗi Nhà nước dù có các xu thế chính trị khác nhau, nhưng đều coi thừa kế là một quyền quan trọng của công dân và được ghi nhận trọng đạo luật cơ bản đó là Hiến pháp.
Ở Lào, từ thời phong kiến cho đến nay, pháp luật về thừa kế được xây dựng và hoàn thiện phù hợp với quan hệ sản xuất ở từng giai đoạn nhất định, theo đó quyền và lợi ích về tài sản của công dân được chú ý bảo vệ phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của đất nước. Lịch sử đã cho thấy rằng, pháp luật về thừa kế ở Lào luôn được bổ sung và hoàn thiện ngày càng mở rộng và có sự phụ thuộc vào thành quả phát triển kinh tế xã hội qua các thời kỳ.
Trải qua quá trình đấu tranh cách mạng, xây dựng chủ nghĩa dân chủ ở Lào, các quy định này đã được ghi nhận, mở rộng, phát triển và được thực hiện trên thực tế tại các Hiến pháp 1991, Bộ luật dân sự 1990 được bổ sung vào năm 2008. Đặc biệt, là bổ sung của Luật thừa kế năm 2008 đã đánh dấu một bước phát triển của pháp luật Lào nói chung và Luật thừa kế nói riêng. Bộ luật dân sự 1990 là kết quả của quá trình pháp điển hóa những quy định của pháp luật thừa kế. Nó kế thừa và pháp triển những quy định phù hợp với thực tiễn, không ngừng hoàn thiện để đảm bảo quyền và lợi ích người dân một cách có hiệu quả nhất.
Trong giai đoạn hiện nay, khi số lượng và giá trị tài sản của cá nhân ngày càng đa dạng, phong phú thì vấn đề thừa kế di sản cũng nảy sinh nhiều dạng tranh chấp. Bộ luật dân sự nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 1990 nói chung và Luật thừa kế năm 2008 nói riêng dù đã quy định rất cụ thể rõ ràng nhưng vẫn chưa trù liệu hết được những trường hợp, tình huống xảy ra trên thực tế. Còn một vài quy định về thừa kế còn chung chung chưa được văn bản hướng dẫn cụ thể, khó áp dụng vào tình hình thực tế. Khi xảy ra những tình huống trên thực tế thì cơ quan tiến hành tố tụng lúng túng vì không biết xử lý như thế nào. Nhiều vụ tranh chấp thừa kế phải xét xử nhiều lần mà tính thuyết phục không cao. Có những bản án của Tòa án vẫn chưa được xem là “thấu tình đạt lý” điều đó đã xâm phạm quyền thừa kế của công dân, đôi khi còn gây bất ổn sinh hoạt của mỗi gia đình nói riêng và cộng đồng xã hội nói chung.
Xuất phát từ những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài “Chế định thừa kế theo Bộ luật dân sự nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” là yêu cầu khách quan, cấp bách nhằm hoàn thiện hơn nữa những quy định còn thiếu tính nhất quán về phương diện lý luận cũng như phương diện thực tế. Luận văn: Chế định thừa kế theo luật dân sự nước Cộng hòa Lào.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, bước đầu hệ thống pháp luật được hoàn thiện, trong đó có các quy định về thừa kế đã học tập những kinh nghiệm của Việt Nam, có tính riêng biệt phù hợp với điều kiện của Lào. Ở Việt Nam, thừa kế di sản là vấn đề rộng và phức tạp, vừa có lịch sử hình thành và phát triển khá phong phú. Do vậy, thừa kế đã được nhiều nhà khoa học pháp lý quan tâm nghiên cứu. Trước khi Bộ luật dân sự Việt Nam 1995 được ban hành, đã có một số sách nghiên cứu về thừa kế dưới góc độ pháp luật thường thức như “Câu hỏi và giải đáp pháp luật thừa kế” năm 1994 của luật sư Lê Kim Quý; “Hỏi đáp về pháp luật thừa kế” năm 1995 của Trần Hữu Bền và Đinh Văn Thành. Các công trình trên được thực hiện khi nhà nước Việt Nam chưa ban hành Bộ luật dân sự nên tất cả đều dựa vào pháp lệnh thừa kế. Các công trình này chưa giải quyết được bản chất pháp lý thừa kế, các loại thừa kế mà chỉ đơn giản dừng lại ở tìm hiểu pháp luật.
Sau khi Nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ban hành Luật thừa kế 1990 thì việc nghiên cứu đề tài vẫn có một số tài liệu, sách tham khảo đề cập tới. Nhưng so với Việt Nam, thì ở Lào rất ít có những tài liệu phân tích kỹ về vấn đề này.
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu của các tác giả nói trên chủ yếu mới dừng lại phân tích các quy định của pháp luật về thừa kế theo di chúc hoặc thừa kế theo pháp luật, phân chia di sản thừa kế và chỉ ra định hướng hoàn thiện cho Luật thừa kế 1990 mà không khái quát được lịch sử hình thành và phát triển của các quy định về thừa kế qua các thời kỳ cũng như chưa đưa ra được những giải pháp hoàn thiện pháp luật thừa kế Lào. Hơn nữa các tác phẩm trên chủ yếu viết trước năm 2008 nên có rất nhiều điểm thay đổi cả về mặt pháp luật và thực tiễn cuộc sống. Do đó, trong bối cảnh hiện nay khi mà Bộ luật dân sự năm 1990 mới được bổ sung năm 2008 quy định về thừa kế nhưng vẫn còn tồn tại một vài điểm bất cập so với thực tế thì luận văn mang một ý nghĩa rất riêng và thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Mục đích: Trên cơ sở phân tích, tìm hiểu quá trình phát triển pháp luật về thừa kế ở Lào qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, luận văn đánh giá những mặt tích cực và hạn chế của pháp luật thừa kế Lào hiện nay. Trên cơ sở đối chiếu với pháp luật thừa kế của Việt Nam để từ đó nêu lên những quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thừa kế của quốc gia Lào trong thời đại ngày nay.
Nhiệm vụ: Trên cơ sở mục đích đó, luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu những vấn đề lý luận về thừa kế ở Lào như khái niệm thừa kế, quyền thừa kế, pháp luật thừa kế, nguyên tắc và vai trò của pháp luật thừa kế.
- Đồng thời tìm hiểu pháp luật thừa kế của Việt Nam (nhiều kinh nghiệm cho xây dựng pháp luật thừa kế Lào).
- Phân tích quá trình phát triển và thực trạng pháp luật thừa kế ở Lào. Quan đó, nhận xét, đánh giá những ưu điểm, nhược điểm của pháp luật thừa kế hiện hành. Luận văn: Chế định thừa kế theo luật dân sự nước Cộng hòa Lào.
- Nêu sự cần thiết khách quan, quan điểm, tiêu chí cũng như giải pháp hoàn thiện pháp luật thừa kế
Phạm vi nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này được xác định trong phạm vi các quy phạm pháp luật về thừa kế ở Lào từ chế độ phong kiến cho đến nay. Tuy nhiên, để luận văn có độ sâu, rộng cần thiết thì trong một chừng mực nhất định, tác giả cũng đề cập tới một số quy định tương ứng trong pháp luật một số nước để từ đó so sánh và đưa ra những kết luận, kiến nghị có tính tham khảo nhất định.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Việc nghiên cứu luận văn dựa trên cở sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước Lào về pháp luật. Đặc biệt là quan điểm của Đảng và Nhà nước nói về đường lối phát triển hình thức sở hữu toàn dân, hoàn thiện pháp luật trong thời kỳ đổi mới, được thể hiện trong các văn kiện của Đảng, Hiến pháp, các văn bản pháp luật Lào qua các thời kỳ và của một số nước trên thế giới về thừa kế.
Đề tài cũng được hoàn thành dựa trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng một số phương pháp khoa học chuyên ngành như phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp nghị luận.
5. Những đóng góp về khoa học của luận văn Luận văn: Chế định thừa kế theo luật dân sự nước Cộng hòa Lào.
- Trên cơ sở phân tích, đánh giá các quy định hiện hành của pháp luật Lào cũng như so sánh đối chiếu với pháp luật Việt Nam, tác giả đưa ra quan điểm của cá nhân về khái niệm pháp luật thừa kế cũng như nguyên tắc, vai trò pháp luật thừa kế nhằm chứng minh tính đặc thù pháp luật thừa kế ở Lào, từ đó góp phần hoàn thiện hơn khoa học trong lĩnh vực thừa kế.
- Hệ thống hóa những quy định của pháp luật về thừa kế qua các giai đoạn lịch sử, để phân tích đưa ra những nhận định, đánh giá nhằm làm sáng tỏ quá trình phát triển và thực trạng của pháp luật thừa kế Lào.
- Từ nhận xét, đánh giá sự phát triển và thực trạng pháp luật thừa kế ở Lào, tham khảo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, nhất là Việt Nam, luận văn đã đưa ra các quan điểm, giải pháp cụ thể trong việc hoàn thiện pháp luật về thừa kế ở Lào trong giai đoạn hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần làm cơ sở lý luận quan trọng cho việc bổ sung Bộ luật dân sự năm 1990 của Lào, đặc biệt là pháp luật về thừa kế. Đồng thời luận văn còn là nguồn tài liệu tham khảo phục vụ công việc nghiên cứu giảng dạy và học tập của cán bộ, giáo viên và sinh viên chuyên ngành Luật.
Về thực tiễn: Luận văn đề ra các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật thừa kế sẽ có ý nghĩa thiết thực cho người có thẩm quyền áp dụng luật để giải quyết tranh chấp về thừa kế trên thực tiễn. Ngoài ra, luận văn còn là tài liệu bổ ích cho mọi cá nhân trong việc để lại di sản thừa kế, lập di chúc cũng như trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự của mình về lĩnh vực thừa kế.
7. Kết cấu của Luận văn
Kết cấu cụ thể như sau: Mở đầu, kết luận và 3 chương
- Chương 1. Tổng qua những vấn đề lý luận về chế định thừa kế theo pháp luật nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
- Chương 2. Nội dung các quy định về thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trên cơ sở đối chiếu với chế định thừa kế theo pháp luật Việt Nam.
- Chương 3. Thực tiễn áp dụng, thực thi pháp luật thừa kế và phương hướng, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật thừa kế nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
Chương 1 Tổng quan những vấn đề lý luận về chế định thừa kế theo pháp luật nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào
1.1. Khái niệm thừa kế
Thừa kế là một quan hệ xã hội có mầm mống và xuất hiện từ thời sơ khai của xã hội loài người. Tuy nhiên, ở thời kỳ đó nó còn được hiểu đơn giản rằng thừa kế là việc di chuyển tài sản của người chết sang cho những người còn sống được tiến hành dựa trên quan hệ huyết thống và do những phong tục tập quán riêng của từng bộ lạc, thị tộc quyết định và chưa được quy định thành văn bản và phức tạp như bây giờ. Chính Ph.Anghen viết: “Theo chế độ mẫu quyền, nghĩa là chừng nào mà huyết tộc chỉ kể về bên mẹ theo tập tục thừa kế nguyên thủy trong thị tộc mới được thừa kế những người trong thị tộc chết. Tài sản phải để lại trong thị tộc, vì tài sản để lại không có giá trị lớn, nên lâu nay trong thực tiễn có lẽ người ta vẫn trao tài sản đó cho những bà con thân thích nhất, nghĩa là trao cho những người cùng huyết tộc với người mẹ” [14; tr.79]. Như vậy, chúng ta thấy trong giai đoạn đầu của chế độ thị tộc, bộ lạc vai trò của người mẹ rất quan trọng, vì trong khi xã hội chưa phân chia giai cấp, mọi người sống theo kiểu quần hôn thì đứa trẻ sinh ra không thể xác định được người cha mà chỉ có thể phụ thuộc vào dòng máu của người mẹ.
Sự kế thừa tài sản trong thị tộc, bộ lạc theo chế độ mẫu hệ đã đặt nền móng ban đầu cho sự hình thành và phản ánh tính tất yếu của việc thừa kế tài sản theo huyết thống. Hiện nay, ở Lào và một số nước trên thế giới vẫn tồn tại một bộ phận dân cư vẫn duy trì việc thừa kế di sản theo huyết thống của người mẹ. Luận văn: Chế định thừa kế theo luật dân sự nước Cộng hòa Lào.
Cũng chính từ thời sơ khai đó, khi mà nhà nước chưa xuất hiện, pháp luật chưa ra đời thì quyền sở hữu và thừa kế đã xuất hiện như một tất yếu khách quan và mang tính chất như một phạm trù kinh tế, giữa hai quan hệ đó có mối liên quan ràng buộc qua lại với nhau. Mối quan hệ giữa sở hữu và thừa kế phát sinh trong xã hội rất mật thiết và được thể hiện ở chỗ: Nếu sở hữu là yếu tố tiền đề để thừa kế phát sinh, thì ngược lại thừa kế lại là phương tiện để duy trì, cũng cố và phát triển sở hữu tài sản. Thừa kế là một thực tế xã hội được thể hiện ở sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống, nó gắn với lợi ích cá nhân, gia đình, dòng họ, vì thế trong bất kỳ chế độ xã hội nào cũng có sự tác động của các quy tắc xã hội. Quy tắc đó được biểu hiện ở những yếu tố như phong tục tập quán và cao hơn nữa là các quy phạm pháp luật.
Theo tiến trình phát triển của xã hội loài người cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, năng xuất lao động được nâng cao làm cho xã hội có sự phân chia giai cấp do từ sự dư thừa sản phẩm, một số người đã chiếm làm của riêng, từ đó xuất hiện tầng lớp tư hữu và cũng đồng nghĩa với việc các thị tộc, bộ lạc chế độ cộng sản nguyên thủy dần bị phá vỡ và điều tất nhiên, khi giai cấp xuất hiện (gồm giai cấp thống trị và giai cấp bị trị) thì các giai cấp có quyền lợi đối lập nhau, giai cấp nào cũng muốn bảo vệ quyền lợi của tầng lớp mình. Do đó, xảy ra những cuộc đấu tranh gay gắt giữa các giai cấp. Khi các cuộc chiến xảy ra thì cũng là lúc các tổ chức thị tộc bộ lạc sẽ không còn phù hợp với sự tồn tại của nó nữa. Lúc này “Xã hội đòi hỏi phải có một tổ chức mới đủ sức để dập tắt cuộc xung đột công khai giữa các giai cấp ấy hoặc để cùng lắm là để cho cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra trong lĩnh vực kinh tế, dưới một hình thức gọi là hợp pháp. Tổ chức đó là Nhà nước và Nhà nước đã xuất hiện” [15; tr.38]. Cùng với nó là sự phân công lao động trong xã hội khi người đàn ông đã tạo ra nhiều của cải nuôi sống các thành viên trong thị tộc, bộ lạc nhiều hơn người phụ nữ đã làm thay đổi quan hệ xã hội. Sự thiết lập địa vị của người đàn ông trong gia đình và trong từng thị tộc, bộ lạc làm căn cứ cho sự sắp xếp lại trật tự của thị tộc, bộ lạc. Theo đó quan hệ mẫu hệ được thay bằng phụ hệ. Các con trong gia đình sinh ra có quan hệ huyết thống với người cha, mang họ của cha và thừa kế tài sản của người cha được xác lập.
Nếu trước đây, thừa kế trong xã hội thị tộc được dịch chuyển theo phong tục tập quán thì khi Nhà nước xuất hiện, quá trình dịch chuyển tài sản từ một người đã chết cho một người còn sống đã có sự tác động bằng ý chí của Nhà nước, để phù hợp với lợi ích giai cấp thống trị (Nhà nước). Giai cấp thống trị thông qua bộ máy nhà nước để ban hành các quy định điều chỉnh các quan hệ trong việc xác định phạm vi chủ thể, nội dung, hình thức, điều kiện.
Qua nhiều vấn đề xảy ra phức tạp trên thực tế, ngày nay người ta hiểu thừa kế là một chế định dân sự, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của người chết cho người khác theo di chúc hoặc theo một trình tự pháp luật nhất định, đồng thời quy định phạm vi, quyền nghĩa vụ và phương thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của người thừa kế.
Người thừa kế theo pháp luật chỉ là cá nhân và phải là người có quan hệ hôn nhân huyết thống hoặc nuôi dưỡng đối với người để lại di sản. Còn người thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân, tổ chức hoặc Nhà nước cho dù di sản do người chết để lại thuộc về cá nhân hay tổ chức được hưởng thừa kế thì nó vấn tồn tại chung cho xã hội vì khi di sản ấy được đưa ra sử dụng, khai thác hợp lý thì cũng mang lại hiệu quả kinh tế không chỉ đối với người được hưởng thừa kế mà còn cho những người xung quanh nói riêng và toàn xã hội nói chung. Luận văn: Chế định thừa kế theo luật dân sự nước Cộng hòa Lào.
Ở Lào, trong các triều đại phong kiến trước đây, pháp luật về thừa kế cũng được manh nha hình thành và dựa trên cơ sở lễ giáo phong kiến. Đồng thời ở “đất nước triệu voi” này chịu nhiều tác động của nền văn hóa khác nhau, cả một thời kỳ lãnh thổ của Lào như là những vùng phụ thuộc của Việt Nam, chịu phụ thuộc triều đình Huế, rồi bị trao quyền kiểm soát cho Pháp.
Nên Pháp đã áp đặt một khái niệm quốc gia kiểu Châu Âu lên những quan hệ phong kiến đó, và từ đó dựng lên một tuyên bố chủ quyền về lãnh thổ đối với toàn bộ lãnh thổ từng thuộc về vương quốc Lān Xāng. Do vậy, pháp luật nói chung và Luật thừa kế nói riêng cũng theo đó mà ảnh hưởng. Pháp luật về thừa kế thời kỳ này còn nhằm mục đích duy trì, bảo vệ những truyền thống chế độ gia đình phụ quyền và hiếu nghĩa của con cháu đối với dòng họ. Những quan niệm về gia đình, lễ giáo, tín ngưỡng và chuẩn mực đạo đức thờ cúng tổ tiên đã tác động mạnh lên quan hệ thừa kế. Vì vậy, quan hệ thừa kế thời kỳ này còn thể hiện rõ sự bất bình đẳng giữa vợ chồng, giữa nam và nữ. Có sự khác nhau khi để lại di sản giữa các tài sản khác và đất hương hỏa dùng thờ cúng ông bà tổ tiên. Quyền để lại di sản cho người còn sống thời kỳ này còn mang tính trói buộc, nó chưa thật sự tôn trọng quyền tự do định đoạt của chủ sở hữu. Đối với tài sản giữa vợ và chồng trong thời kỳ này nếu mà một bên đã chết người nào còn sống sẽ được quản lý và có quyền sử dụng di sản của người chết, nhưng họ sẽ căn cứ trên văn miệng nhiều hơn bằng văn bản.
Sau khi bị Pháp đô hộ hệ thống pháp luật Lào nói chung đã dựa theo truyền thống, trình tự, quy tắc pháp luật của Pháp, rồi đến Nhật chiếm, đất nước Lào đã chịu nhiều ảnh hưởng từ đời sống văn hóa đến các tập tục của các nước phương Tây. Do đó, pháp luật thừa kế thời kỳ này ít nhiều chịu ảnh hưởng của các nước đô hộ Lào, mang tính bình đẳng và dân chủ hơn so với trước kia. Thời kỳ này không còn các quan niệm gò bó của các tập tục lạc hậu ảnh hưởng lên đời sống pháp luật của đất nước Lào. Đặc biệt, với sự ra đời của Hiến pháp năm 1991 đã thể hiện sự tiến bộ vượt trội trong việc tôn trọng quyền sở hữu tài sản, quyền thừa kế của mọi công dân.
Tóm lại, pháp luật thừa kế là một phạm trù mang tính khả biến. Tính khả biến được thể hiện bằng các quy phạm pháp luật mà các quy phạm này không những phụ thuộc vào mức độ phát triển trong một chế độ xã hội nhất định, nghĩa là cũng có quy định khác nhau trong việc điều chỉnh mối quan hệ về thừa kế. Thừa kế khi đó không những là phạm trù kinh tế, phạm trù pháp luật, mà còn mang tính lịch sử, bởi vì nó thể hiện rõ nét quá trình phát triển kinh tế-xã hội của các chế độ xã hội khác nhau và của một chế độ xã hội theo từng giai đoạn phát triển nhất định.
1.2. Các phương thức thừa kế Luận văn: Chế định thừa kế theo luật dân sự nước Cộng hòa Lào.
Nói đến phương thức đó là cách thức thực hiện một vấn đề nào đó. Phương thức thừa kế tức là cách thức mà pháp luật quy định cho phép những người có liên quan được thực hiện quyền mình trong phạm vi cách thức pháp luật cho phép.
Pháp luật thừa kế của Lào cũng như các nước đều quy định hai phương thức thừa kế chủ yếu là phương thức thừa kế bằng di chúc và phương thức thừa kế theo pháp luật.
Luật La Mã quy định hai hình thức cơ bản là thừa kế theo di chúc (testato) và thừa kế theo luật (intestato), ngoài ra còn có thừa kế theo lệnh của các quan. Ở thời kỳ đầu, hình thức chủ yếu là thừa kế theo luật, sau đó thừa kế theo di chúc trở thành phổ biến hơn.
- Một là, thừa kế theo di chúc (testato):
Di chúc là ý chí chủ quan của người có tài sản định đoạt tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Theo luật gia Ulpian thì: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của chúng ta và ý chí đó được thực hiện sau khi chúng ta chết”.
Luật La Mã quy định trong di chúc không được phép “im lặng bỏ qua” đối với hàng thừa kế thứ nhất (các con, nếu con chết thì các cháu). Nếu “Im lặng bỏ qua” thì di chúc vô hiệu mặc dù tuân thủ đầy đủ các điều kiện khác. Ví dụ: Ông A có ba người con là B, C, D, ông để lại di chúc với nội dung: “Tôi cho hai con tôi là B và C mỗi đứa một nửa tài sản” mà không ghi “truất quyền thừa kế của D” thì di chúc vô hiệu vì đã im lặng bỏ qua D. Nếu A chết tài sản sẽ được chia theo luật cho B, C, D.
Người lập di chúc có quyền bổ sung, hủy bỏ di chúc vào bất kỳ lúc nào. Nếu có người lập nhiều di chúc thì di chúc sau có giá trị hơn di chúc trước. Luật La Mã quy định khá chặt chẽ các điều kiện để một di chúc có hiệu lực như: người lập di chúc phải có khả năng lập di chúc (con gái từ 12 tuổi, con trai từ 14 tuổi trở lên, không bị tâm thần, không phạm trọng tội); hình thức di chúc phải phù hợp với quy định của pháp luật (di chúc viết phải được quan tòa, quan chấp chính chứng thực, di chúc miệng phải có bảy người làm chứng, người thừa kế phải được chỉ định rõ ràng, chính xác); người được chỉ định trong di chúc phải là người có khả năng trở thành người thừa kế (thai nhi sinh vào tháng thứ mười một, đàn ông từ 25 đến 60 tuổi, đàn bà từ 20 đến 50 tuổi mà không lập gia đình thì không được hưởng thừa kế…). Luận văn: Chế định thừa kế theo luật dân sự nước Cộng hòa Lào.
Một nguyên tắc quan trọng của luật La Mã và thừa kế là Semel heres, semper heres – người được chỉ định là người thừa kế sẽ vĩnh viễn là người thừa kế. Điều này có nghĩa là luật pháp chỉ công nhận di chúc có điều kiện phát sinh, không công nhận di chúc có điều kiện đình chỉ. Ví dụ: Một di chúc có nội dung sau: “Tôi không cho con tôi là M hưởng tài sản nếu nó không thi đậu vào trường Trung cấp pháp lý La Mã”. Trường hợp này, M vẫn là người được hưởng di sản thừa kế bởi vì điều kiện trong di chúc là điều kiện đình chỉ (chấm dứt) trái với nguyên tắc “người thừa kế là vĩnh viễn”.
Một vấn đề mà trong hầu hết pháp luật dân sự của các nước có quy định được xuất phát từ Luật La Mã là việc quy định những người được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (hay còn gọi là kỷ phần bắt buộc). Ở thời kỳ đầu (thời kỳ Cộng hòa La Mã sơ khai) thì gia chủ chia tài sản như thế nào thì sẽ là như thế (Unti legassit super pecunia tutelave suae rei ita ius esto) nhưng dần dần về sau đối với những người ở hàng thừa kế thứ nhất nếu bị người lập di chúc truất quyền thừa kế thì sẽ được hưởng một kỷ phần bắt buộc.[ 29, Tr. 10].
Dựa trên cở sở đó, pháp luật thừa kế của Lào cũng quy định phương thức thừa kế theo di chúc phù hợp với người dân Lào.
- Hai là, thừa kế theo pháp luật:
Trong trường hợp không có di chúc hoặc di chúc vô hiệu thì di sản của người chết để lại được chia theo luật. So với Luật thừa kế của Lào, Luật La Mã có sự khác biệt về việc phân chia hàng thừa kế mà cụ thể là quy định theo hàng, bậc như sau:
- Hàng thứ nhất: Các con (các cháu nếu các con chết)
- Hàng thứ hai: Bố mẹ (nếu bố mẹ chết thì ông bà nội, ông bà ngoại, anh chị em ruột).
- Hàng thứ ba: Anh, chị, em cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác
- Hàng thứ tư: Họ hàng nội, ngoại theo nhánh ngang tính từ gần đến xa, từ nội đến ngoại trong phạm vi sáu đời.
- Hàng thứ năm: Nếu không có những người ở bốn hàng trên thì quan tòa có quyền quyết định cho vợ hưởng một phần di sản.
Có thể nói Luật La Mã nói chung và chế định về quyền thừa kế nói riêng vẫn là minh chứng hùng hồn cho quan điểm của những ai cho rằng Luật La Mã là một phần không thể thiếu được của văn minh nhân loại. Tất nhiên cho đến nay một số quy phạm của Luật La Mã không còn phù hợp nữa. Điều đó cũng dễ hiểu bởi vì điều kiện xã hội, kinh tế, chính trị của xã hội La Mã khoảng hai ngàn năm về trước khác xa so với bây giờ. Dẫu sao một số quy định của Luật La Mã thiết nghĩ rằng có thể được kế thừa vào luật dân sự của các nước trong đó có Lào.
Vì vậy, mà dù mỗi nước có những quy định khác nhau trong vấn đề thừa kế, nhưng nhìn chung phương thức thừa kế chủ yếu thì đều có quy định giống nhau đó là hai phương thức như đã nói ở trên. Ở phần sau chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn các phương thức thừa kế của Lào trên cơ sở so sánh với Việt Nam.
1.3. Quá trình hình thành và phát triển chế định thừa kế nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Luận văn: Chế định thừa kế theo luật dân sự nước Cộng hòa Lào.
1.3.1. Giai đoạn trước cách mạng tháng 12 năm 1975
Lào là quốc gia có nền lịch sử hình thành và phát triển khá phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm khác nhau dó đó mà nền pháp luật cũng trải qua nhiều chặng đường mà mỗi giai đoạn đều mang một đặc thù riêng của nó. Phân tích, đánh giá quá trình hình thành và phát triển của pháp luật nói chung, nội dung pháp luật thừa kế nói riêng phải căn cứ trên cơ sở các quy định của pháp luật qua các thời kỳ. Sự phân chia các giai đoạn hình thành và phát triển của pháp luật thừa kế dưới đây dựa trên các mốc văn bản pháp luật được ban hành và hướng dẫn từ văn bản thừa kế đầu tiên như: văn bản nói về gia đình, văn bản nói về lao động của công nhân làm ăn và về đất đai.
Trước khi độc lập, đất nước Lào chịu nhiều sự áp bức, đô hộ của nhiều nước vì vậy giai đoạn trước năm 1975 pháp luật Lào chỉ là những công cụ để thể hiện quyền lực của các nước thực dân trên quốc gia Lào. Trong phạm vi đề tài, chỉ đề cập nội dung pháp luật thừa kế từ 1945 đến trước cách mạng tháng 12 năm 1975.
Trong thế chiến thứ hai, người Nhật chiếm Đông Dương, Lào cũng là một trong những quốc gia bị người Nhật đô hộ. Pháp luật thời kỳ này được người Nhật lập nên chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi khai thác thuộc địa của họ nói chung, vấn đề thừa kế không được coi trọng đồng thời cũng chỉ nhằm mục đích phục vụ cho một bộ máy thực dân mà thôi. Khi Nhật đầu hàng, những người quốc gia Lào tuyên bố độc lập. Nhưng chưa kịp xây dựng và cải tổ bộ máy nhà nước thì tới đầu năm 1946, quân Pháp tái chiếm Lào và chỉ trao cho người dân Lào một số quyền tự trị hạn chế. Vì vậy, cũng như Việt Nam pháp luật thời kỳ này chỉ là công cụ của thực dân Pháp nhằm thực hiện triệt để chính sách khai thác thuộc địa. Bản chất của chế độ nô dịch thuộc địa được bộc lộ công khai không những trong chính sách cai trị của thực dân Pháp, mà còn cả trong các quy phạm pháp luật. Mặc dù hệ thống pháp luật của Cộng hòa Pháp thời kỳ đó được xem là hệ thống pháp luật tiến bộ, dân chủ, nhưng với bản chất của chủ nghĩa thực dân, Pháp đã tận dụng những hủ tục phong kiến lạc hậu của quốc gia Lào trong thời kỳ đó để xây dựng hệ thống pháp luật làm công cụ của kẻ xâm lược thuộc địa, do đó pháp luật dân sự của Lào ra đời trong thời kỳ đó chứa đựng bản chất thực dân-phong kiến khá rõ nét. Đặc biệt, chỉ là nói bằng miệng và tập trung nhau một buổi họp mà thôi do lúc này chưa có các văn bản nào mà hướng dẫn khác nhưng phải tuân theo nội quy khi giải thích trong buổi họp. Những quy định này điều chỉnh quan hệ pháp luật về thừa kế mang các tính chất trọng nam, khinh nữ, mang nặng tư tưởng hiếu nghĩa giữa cha mẹ và con cái, giữa vợ và chồng không có quan hệ bình đẳng. Ví dụ người vợ không có quyền bằng con trai vì người vợ chỉ có quyền trong khi người chồng chết thôi. Do coi trọng quan hệ huyết thống, pháp luật thừa kế thời kỳ này đã chú ý đến quyền bình đẳng của các con trong việc hưởng di sản thừa kế của bố mẹ, thể hiện ở trong Luật hôn nhân gia đình và Luật lao động. Luật thừa kế đã bảo vệ những quyền chính đáng của các con trong gia đình theo nguyên tắc tài sản của cha, mẹ sẽ thuộc về các con khi cha, mẹ qua đời. Đây chính là điểm quan trọng trong quan hệ thừa kế theo pháp luật.
Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Đảng Cộng sản Đông Dương đã lập ra tổ chức kháng chiến Patht Lào nhằm giành độc lập cho Lào. Lào hoàn toàn độc lập sau khi Pháp bị những người Cộng sản Việt Nam đánh bại và sau hội nghị Genève năm 1954. Từ khi giành được độc lập, cuộc tổng tuyển cử được tổ chức năm 1955, và chính phủ đầu tiên do hoàng tử Souvanna Phouma lãnh đạo được thành lập năm 1957. Các mối quan hệ xã hội dần được thay đổi theo những chủ trương của chính quyền mới. Cùng với sự ra đời của Nhà nước non trẻ, pháp luật của chế độ mới cũng được hình thành và phát triển, trong đó vấn đề thừa kế cũng được chú ý cải tổ. Dù giành được độc lập nhưng quyền lực của nhà nước Lào vẫn nằm trong tay các chế độ phong kiến. Do vậy, pháp luật thừa kế thời kỳ này nhìn chung cũng không có gì thay đổi nhiều so với thời kỳ trước. Pháp luật cũng còn là công cụ bảo vệ quyền lực của giai cấp thống trị phong kiến, trong đó chủ yếu là bảo vệ quyền lực về chính trị. Vì vậy, vấn đề thừa kế của công dân trong thời kỳ này không được chú trọng, mà vẫn áp dụng những quy định cũ dựa trên sự cải biến không tích cực của hệ thống bộ máy nhà nước thời bấy giờ. Luận văn: Chế định thừa kế theo luật dân sự nước Cộng hòa Lào.
Không như ở Lào, Việt Nam giành được độc lập từ 1945, dựng lên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, là Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Sau khi cũng cố về mặt chính trị, Việt Nam đã ra sức xây dựng nền pháp luật tiên tiến, do mình tự quyết, không phụ thuộc vào ý chí của nước đi khai thác thuộc địa như ở Lào. Biểu hiện rõ nhất là Hiến pháp 1946 đã quy định những quyền bình đẳng của mọi công dân, quyền “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” [20; Đ9] và “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm”. Pháp luật thừa kế của Việt Nam thời kỳ này đã xóa bỏ những tàn tích của chế độ phong kiến trong quan hệ thừa kế và thiết lập mối quan hệ bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ chồng, giữa các con…loại bỏ tư tưởng trọng nam, khinh nữ, bảo vệ quyền thừa kế của người vợ góa và người con gái đã kết hôn. Người vợ góa dù đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản của người chồng.
Thời kỳ này, Việt Nam có sắc lệnh 10/10/1945 cho phép áp dụng luật lệ của chế độ cũ, trong đó có quyền về thừa kế, ngoại trừ những điều khoản trái với nền độc lập và dân chủ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tiếp đó có sắc lệnh 22/5/1950 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký đã làm nền tảng cho việc xây dựng pháp luật sau này, trong đó có luật hôn nhân gia đình, về thừa kế di sản. Các nguyên tắc cơ bản đã được ghi nhận đó là: Quyền bình đẳng của vợ và chồng trong gia đình, vợ chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau, con trai hay con gái đều có quyền hưởng di sản…[25, Đ10]. Sau đó, Hiến pháp 1959 thay thế cho Hiến pháp 1946 của Việt Nam đã ghi nhận về quyền được pháp luật bảo hộ quyền sở hữu về ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác của nông dân, đồng thời pháp luật bảo hộ quyền sở hữu của công dân về của cải thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở và các thứ vật dụng riêng khác, quyền thừa kế tài sản tư hữu của công dân được bảo đảm. Tuy nhiên, thời kỳ này cũng như ở Lào, Việt Nam chưa có một bộ luật dân sự hoàn thiện nên những quy định trong Hiến pháp là cở sở để Tòa án nhân dân tối cao đưa ra những Thông tư hướng dẫn và làm phương tiện để xét xử giải quyết tranh chấp thừa kế. Ngoài ra tại Luật hôn nhân gia đình 1959 của Việt Nam đã cụ thể hóa hiến pháp trong việc quy định “vợ và chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau” [24, Đ76] và “ Các con có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau trong quy định nói chung và trong lĩnh vực thừa kế nói riêng [24, Đ19]. Ngoài ra, tại Miền Nam Việt Nam thời kỳ này (1959) cũng có thêm Luật gia đình của Ngô Đình Diệm ký cũng thể hiện một số nội dung tiến bộ so với quy định trước đây. Như việc ghi nhận người vợ có quyền tự mình ký các chúc thư, khế ước…Tiếp đó là Bộ dân luật của chính quyền Sài Gòn năm 1972 đã quy định khá cụ thể về thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật, ghi nhận vợ và chồng có quyền lập chúc thư để định đoạt tài sản của mình, đặc biệt có trường hợp hai vợ chồng cùng làm chúc thư để định đoạt tài sản chung [4; Đ572].
Qua một vài so sánh trên để thấy rằng pháp luật Lào có những mốc hình thành và phát triển khác với Việt Nam, cũng như các nước. Khi mà pháp luật về thừa kế của Việt Nam đã mang những nội dung mới tiến bộ, hướng việc xóa bỏ những quan niệm lạc hậu, tư tưởng trọng nam khinh nữ, thực hiện quyền bình đẳng nam nữ, bình đẳng mọi công dân trong lĩnh vực về thừa kế thì pháp luật thừa kế của Lào còn phụ thuộc vào ý chí của những nước đô hộ trên đất nước Lào nên chưa thể xây dựng được một hệ thống pháp luật do mình làm chủ nói chung và pháp luật thừa kế nói riêng.
1.3.2. Giai đoạn từ ngày 02/12/1975 đến nay Luận văn: Chế định thừa kế theo luật dân sự nước Cộng hòa Lào.
Từ sau ngày nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào ra đời (2.12.1975), Đảng nhân dân cách mạng Lào đã trải qua 6 kỳ đại hội. Mỗi kỳ Đại hội Đảng lại có những chủ trương, đường lối đúng đắn khác nhau phù hợp với tình hình kinh tế xã hội hiện tại. Từ năm 1990, Chính phủ Lào bắt đầu tiến hành các cuộc cải cách và mở cửa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân cách mạng Lào, các bộ tộc Lào đã đoàn kết giữ vững độc lập, chủ quyền, xây dựng một nước Lào văn minh, tiến bộ, trong đó không thể không nói đến một hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện nói chung và pháp luật thừa kế nói riêng.
Ở Lào sau khi giành được nền độc lập, đảng và Nhà nước Lào đã chủ trương xây dựng một nền pháp luật văn minh, tiến bộ, phù hợp với đời sống của nhân dân như: Cho dân làm, cho dân sử dụng để cho dân ấm no và hạnh phúc để tập trung nhau xây dựng và phát triển đất nước của mình theo kế hoạch hiện đại hóa của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Trong việc quá trình hình thành và phát triển chế định thừa kế trong Bộ luật dân sự Lào. trước khi cánh mạng tháng 12 năm 1975 chưa có pháp luật nào quy định về thừa kế, tới 1988-1989 mới chỉ có những văn bản hướng dẫn về thừa kế. Sau khi Hiến pháp của nước Cộng hòa nhân chủ nhân dân Lào ra đời Bộ luật dân sự Lào mới có quy định về thừa kế.
Khác với ở Lào, Việt Nam hoàn toàn độc lập sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi Miền Nam giải phóng, ngày mà chế độ ngụy quân ngụy quyền bị sụp đổ thì “Cách mạng Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn cả nước độc lập thống nhất…tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Cộng hòa xã hội [27,Tr. 75]. Cùng với sự thống nhất về chính trị, kinh tế, đòi hỏi tất yêu phải có thống nhất về pháp luật và việc áp dụng pháp luật. Hiến pháp 1980 của Việt Nam đánh dấu một bước phát triển mới trong công cuộc cải cách nhằm xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Theo đó, đất đai không thuộc quyền sở hữu của cá nhân vì vậy di sản thừa kế trong giai đoạn này của công dân Việt Nam thì đất đai không được thuộc quyền để lại thừa kế mà chỉ là các tài sản là thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, những công cụ sản xuất dùng trong những trường hợp được phép lao động riêng lẻ. Trên cơ sở Hiến pháp 1980, Thông tư số 81 (ngày 27/7/1981) của Việt Nam đã bao quát tương đối đầy đủ và toàn diện vấn đề về thừa kế so với các văn bản trước đó. Theo Thông tư thì di sản thừa kế là bao gồm toàn bộ tài sản của người chết, trừ đất đai. Về thừa kế theo di chúc, thông tư quy định về hình thức, quyền định đoạt tài sản..; thừa kế theo pháp luật có hai hàng thừa kế, hàng thứ nhất gồm vợ chồng góa, con đẻ và con nuôi, bố đẻ, mẹ nuôi hoặc bố nuôi, mẹ nuôi; hàng thừa kế thứ hai gồm ông bà nội, ông bà ngoại, anh chị em ruột, anh chị em cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha. Thông tư này đã hướng dẫn đường lối giải quyết các tranh chấp về thừa kế di sản như xác định di sản thừa kế, trình tự thừa kế theo di chúc và theo pháp luật, thừa kế thế vị, việc thừa kế của những người chết cùng vào một thời điểm, chia di sản thừa kế. Tiếp theo đó, Việt Nam có Luật hôn nhân gia đình 1986, trong đó quy định rõ hơn và được pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng giữa con cái với nhau; xóa bỏ các tập tục lạc hậu. Trên cơ sở quy định của Luật hôn nhân gia đình để xác định tài sản chung của vợ chồng khi chia thừa kế. Nhưng do tình hình kinh tế xã hội Việt Nam biến đổi một cách nhanh chóng, không ngừng nên ngày 30/8/1990 Hội đồng nhà nước Việt Nam đã thông qua Pháp lệnh thừa kế, bắt đầu có hiệu lực từ 10/9/1990. Nội dung chính của pháp lệnh là xác định nguyên tắc thừa kế của công dân Việt Nam, quyền bình đẳng thừa kế của công dân, thừa kế theo di chúc, diện và hàng thừa kế, thời hiệu, yêu cầu chia di sản thừa kế. Ví dụ: tại Điều 36 Pháp lệnh quy định “ Trong thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế, người thừa kế có quyền khởi kiện để yêu cầu chia di sản, xác định quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác. Trong thời hạn ba năm kể từ thời điểm mở thừa kế, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”. Pháp lệnh này đã thể hiện và quy định rất rõ về tất cả những nội dung mà Bộ luật dân sự 1995 của Việt Nam đã lấy đó làm nền tảng để xây dựng những nội dung về thừa kế. Tuy còn những hạn chế, nhưng nó đã chứa đựng các quy phạm pháp luật tương đối tổng hợp, toàn diện, thống nhất điều chỉnh quan hệ về thừa kế. Pháp lệnh thừa kế 1990 của Việt Nam là tài liệu tham khảo quan trọng của quốc gia Lào khi tiến hành xây dựng luật pháp về thừa kế trong giai đoạn này đó là pháp lệnh thừa kế 1988. Đặc biệt, là sự ra đời của Bộ luật dân sự 1995 đã quy định về nguyên tắc thừa kế di sản và những quy định về quyền thừa kế của công dân từ trước tới nay đã được sửa đổi bổ sung một cách phù hợp, bảo đảm quyền và nghĩa vụ. Bộ luật dân sự Việt Nam 1995 là Bộ luật dân sự đầu tiên và tương đối đồ sộ với 838 Điều, gồm 7 phần; trong đó thừa kế được quy định ở phần thứ IV và chương VI phần thứ V. Về mặt nội dung pháp luật thừa kế, bộ luật đã quy định rõ các vấn đề thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật, thừa kế kế vị, quyền hưởng thừa kế…nội dung của thừa kế không còn dấu hiệu của chế độ tàn dư phong kiến hay thực dân nữa mà là sự tôn trọng quyền con người, bảo đảm cho mọi công dân thực hiện quyền tự do được để lại di sản và quyền hưởng di sản, thậm chí là quyền từ bỏ di sản. Nhìn ở mặt khách quan, có thể khẳng định rằng, các quy định về thừa kế trong Bộ luật dân sự 1995 của Việt Nam là một bước tiến quan trọng trong quá trình lập pháp của Việt Nam, nhằm khắc phục kịp thời sự thiếu tập trung, không đầy đủ của pháp luật về thừa kế được quy định một cách chắp nối trước đây. Những quy định này của Việt Nam đã cũng cố quyền sợ hữu và quyền thừa kế tài sản của công dân phù hợp với công cuộc đổi mới do đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo. Quyền thừa kế của công dân được đươc quy định trong Bộ luật dân sự 1995 đã góp phần bảo vệ các quyền dấn sự và lợi ích hợp pháp của cá nhân trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghiã mà Nhà nước Việt Nam đã chọn. Bộ luật dân sự 1995 của Việt Nam làm nền tảng, tài liệu cho các nước trong khu vực nói chung và quốc gia Lào nói riêng tham khảo để xây dựng pháp luật về thừa kế trong thời kỳ đổi mới. Luận văn: Chế định thừa kế theo luật dân sự nước Cộng hòa Lào.
Qua một vài liệt kê và phân tích ở trên để cho thấy rằng Pháp luật của Việt Nam đã được xây dựng từ rất sớm. Tính cả về mặt nội dung và hình thức, thì pháp luật thừa kế của Việt Nam tương đối phát triển phù hợp với điều kiện kinh tế mỗi giai đoạn. Mặc dù khi xây dựng pháp luật, mỗi quốc gia đều phải tham khảo pháp luật của các nước khác trên thế giới, nhưng Việt Nam đã biết dựa vào tình hình đặc điểm riêng của quốc gia mình mà hoàn thiện pháp luật một cách phù hợp. Cũng trên quan điểm đó, quốc gia Lào đã có những thay đổi trong quy định về thừa kế phù hợp với từng giai đoạn chuyển biến của kinh tế xã hội và đời sống nhân dân. Qua những phần đi sâu vào nội dung chúng ta sẽ thấy rõ thêm sự chịu ảnh hưởng rất lớn từ pháp luật Việt Nam đối với pháp luật Lào.
1.4. Cơ sở pháp lý của chế định thừa kế theo pháp luật nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Cơ sở pháp lý của chế định thừa kế là những nguyên tắc cần phải tuân thủ khi xây dựng nên chế định thừa kế đó.
Những nguyên tắc pháp luật thừa kế ở Lào được áp dụng chung cho hai hình thức thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật và chúng đã xuất hiện ngay từ khi có những văn bản pháp luật đầu tiên của nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Tuy nhiên, xét cho cùng thì các nguyên tắc này (nếu xem xét từ góc độ quyền hưởng di sản) áp dụng chủ yếu đối với hình thức thừa kế theo pháp luật.
Dựa trên những nguyên tắc của Hiến pháp năm 1991 (Hiến pháp đầu tiên thông qua ngày 14/8/1991) quy định về quyền dân sự cơ bản của công dân. Những nguyên tắc đó được xem như là định hướng chủ đạo trong việc xây dựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự nói chung và quan hệ thừa kế tài sản nói riêng trong các văn bản pháp luật sau này. Đó là những tư tưởng, quan điểm quán triệt trong toàn bộ các quy định của pháp luật thừa kế. Thông qua đó phản ánh bản chất cũng như đặc trưng cơ bản của pháp luật thừa kế của đất nước Lào.
Nhìn chung pháp luật về thừa kế theo luật dân sự nước công hòa nhân dân Lào mang những nguyên tắc sau đây:
- Nguyên tắc pháp luật bảo vệ quyền thừa kế của công dân.
Quyền thừa kế tài sản là một trong những quyền cơ bản được pháp luật bảo hộ trên cơ sở Hiến pháp năm 1991 thông qua. Và để làm rõ quyền đó thì tại Điều 4 Luật thừa kế năm 2008 cũng đã quy định “Nhà nước đã có quyền quản lý và bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ của dân trong việc chuyển và tặng tài sản theo pháp luật Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào”. Điều đó có nghĩa rằng mục đích của những quy phạm pháp luật được lập ra là để tôn trọng quyền và bảo vệ quyền của mọi công dân trong việc để lại, chuyển tặng tài sản từ người này sang người khác theo pháp luật. Mặt khác nhà nước còn bảo hộ quyền thừa kế, thể hiện trong việc đảm bảo cho mọi công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp của cải để dành, nhà ở, tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt. Đặc biệt là “tài sản hợp pháp không giới hạn về số lượng, giá trị…”. Do đó, tất cả mọi tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân sẽ trở thành di sản thừa kế khi người đó chết, được Nhà nước tôn trọng và bảo vệ. Mọi hành vi làm trái quy định gây thiệt hại đến người để lại di sản cũng như người được hưởng di sản đều bị pháp luật nghiêm cấm. Chính nguyên tắc này đánh dấu sự phát triển mới và tính ưu việt đối với pháp luật thừa kế trước kia.
- Nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng của công dân về thừa kế
Cũng như nguyên tắc ở trên, nguyên tắc này là cụ thể hóa theo quy định của Hiến pháp năm 1991 rằng mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Luận văn: Chế định thừa kế theo luật dân sự nước Cộng hòa Lào.
Nguyên tắc này trước hết thể hiện trong quan hệ vợ chồng. Vợ chồng bình đẳng trong việc để lại di sản nếu một trong hai người chết trước. Việc khi người kia chết thì người còn sống được hưởng một phần hai tài sản chung [18, Đ12] chứng tỏ pháp luật đã tôn trọng quyền bình đẳng về tài sản không phân biệt đó là vợ hoặc chồng khi tài sản đó là công đóng góp của cả hai người. Điều đó còn nhằm bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ nếu không may người chồng chết trước. Đây là điểm khác biệt so với pháp luật thời phong kiến trước kia.
Ngay đối với các con, pháp luật cũng bảo vệ quyền được thừa kế tài sản và nghĩa vụ ngang nhau của các con, cho dù đó là con đẻ, con nuôi, con ngoài giá thú (nếu được nuôi trong gia đình), con trai hay con gái, có năng lực hành vi hay mất năng lực hành vi dân sự khi tài sản được chia theo pháp luật.
Nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng còn thể hiện trong việc quy định quyền được hưởng phần tài sản ngang nhau trong cùng một hàng thừa kế [18, Điều13]. Cao hơn nữa là quyền hưởng di sản của người chết từ người chủ đối với người phục vụ hay ngược lại [18, Đ17].
Nguyên tắc bình đẳng về thừa kế này của pháp luật Lào không những nó phản ánh một chế độ chính trị nói chung mà còn nhằm đảm bảo sự bình đẳng của các thành viên trong gia đình, góp phần tạo sự công bằng cho xã hội.
- Nguyên tắc tôn trọng ý chí của chủ sở hữu và người được hưởng di sản:
Trên cơ sở nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận nên Luật thừa kế Lào tại Điều 24 đã quy định quyền của người tặng, chuyển và lập di chúc “Nhân dân của nước cộng hòa dân chủ nhân Lào có quyền tặng, chuyển và lập di chúc cho một người hay là nhiều người và cho các cơ quan tổ chức đã có thẩm quyền liên quan, và làm chỗ thờ cúng cho anh, chị em và những người khác” Luận văn: Chế định thừa kế theo luật dân sự nước Cộng hòa Lào.
Nguyên tắc này rất quan trọng vì nó ghi nhận sự bảo hộ của pháp luật đối với quyền thừa kế, mặt khác thể hiện một cách đầy đủ nhất các quyền dân sự chủ quan của mỗi cá nhân trong việc tự định đoạt toàn bộ tài sản của mình.
Nội dung của nguyên tắc tôn trọng quyền định đoạt được ghi nhận khá đầy đủ trong Bộ luật dân sự nói chung và luật thừa kế nói riêng. Trước hết đối với cá nhân người có quyền để lại tài sản với tư cách là người chủ sở hữu hợp pháp đối với tài sản của mình thì có quyền lập di chúc để lại tài sản cho bất kỳ ai sau khi mình chết. Di chúc là hình thức xác định ý chí của một người trong việc định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Pháp luật Lào không cho phép bất kỳ ai có hành vi cưỡng ép, đe dọa, cản trở…đối với người lập di chúc [18, K3, Đ35], nếu có những hành vi đó xảy ra thì di chúc đó không được công nhận. Người để lại di sản cũng có thể lập di chúc bằng miệng hay bằng văn bản, có thể nhờ người làm chứng. Di chúc bằng miệng sẽ được xóa bỏ sau một tháng nếu người đó sức khỏe trở lại bình thường. Điều này nhằm đảm bảo cho tính minh bạch khách quan trong việc thể hiện ý chí của chủ sở hữu. Người lập di chúc có thể để lại một phần hay toàn bộ tài sản cho ai mà họ muốn (trừ các trường hợp quy định tại Điều 25 Luật thừa kế Lào năm 2008) theo quy định tại Điều 10 Luật thừa kế Lào. Tuy ý chí của người có tài sản được pháp luật bảo hộ và tôn trọng, nhưng quyền định đoạt của người có di chúc không phải là tuyệt đối. Trong một số trường hợp, pháp luật hạn chế đến quyền người lập di chúc. Tại Điều 25 Luật thừa kế Lào quy định phần tài sản mà cha mẹ để lại cho các con. Không phải cha mẹ muốn để lại cho người con nào bao nhiêu tùy ý. Đây là sự khác biệt giữa pháp luật Lào so với Việt Nam và một số nước.
Ngoài việc để lại di sản theo di chúc, pháp luật cũng cho phép trong trường hợp chủ sở hữu không lập di chúc để định đoạt tài sản của mình sau khi chết thì tài sản đó được chia theo pháp luật. Đây cũng là cách thể hiện ý chí cá nhân bằng việc không lập di chúc để định đoạt tài sản của họ, mà ý chí đó thể hiện ở việc chỉ để lại di sản của họ cho những người thừa kế theo pháp luật.
Nguyên tắc tôn trọng quyền thừa kế của công dân còn được được pháp luật bảo hộ trong việc quy định người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản. Tại Điều 45 Luật thừa kế năm 2008 quy định “ Người thừa kế theo pháp luật và người thừa kế theo di chúc có thể tự bỏ phần của mình đã được thừa kế cho người khác hay là cho các cơ quan tổ chức khác cũng được nhưng không quá 6 tháng bắt đầu từ ngày mở di chúc trở đi”. Như vậy, pháp luật cho phép người được thừa kế có quyền từ chối nhận di sản nhưng chỉ trong thời gian cho phép, điều này nhằm ngăn chặn tình trạng để thời gian lâu sau khi mở di chúc nhiều vấn đề xảy ra, người từ chối nhận di sản có thể lấy lý do không nhận di sản để trốn tránh nghĩa vụ phải thực hiện liên quan đến phần di sản được nhận. “Người tự bỏ phần của mình cho người khác phải lập thành bằng văn bản, cho ai, ở đâu, tên gì. Nếu mà không lập tên ai thì phần tài sản ấy sẽ được những người khác thừa kế theo pháp luật” [18, Điều45] . Cũng giống như pháp luật thừa kế của Việt Nam quy định tại khoản 6 Điều 645 Bộ luật dân sự 2005 cho phép người hưởng thừa kế có quyền từ chối nhận di sản nếu việc từ chối đó không nhằm để trốn tránh nghĩa vụ. Đây là một điểm mới so với pháp luật thời phong kiến trước kia khi không cho người nhận di sản có quyền khước từ việc nhận di sản. Vì lúc bấy giờ, đời sống người dân còn khó khăn nên việc để lại di sản không có gì nhiều hơn là những khoản nợ từng người chết để lại cho người sống. Do đó, việc từ chối nhận di sản thường gắn với việc khước từ các nghĩa vụ trả nợ…mà cha mẹ để lại cho con cái.
Nguyên tắc này đảm bảo quyền lợi cho chủ sở hữu tài sản cũng như những người thừa kế, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc thực hiện quyền của mình được tốt hơn. Luận văn: Chế định thừa kế theo luật dân sự nước Cộng hòa Lào.
- Nguyên tắc cá nhân người thừa kế phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế
Quan hệ thừa kế hình thành với những đặc thù riêng của nó. Đặc thù này được ghi nhận ngay trong các quy định của pháp luật như một nguyên tắc. Xuyên suốt các điều trong luật thừa kế được nhắc đi nhắc lại danh từ “còn sống”. Nghĩa là di sản của người chết để lại chỉ có thể cho người còn sống vào thời điểm mở thừa kế. Nếu vào thời điểm đó mà không còn sống thì phần di sản đó được đem chia theo pháp luật [18, Đ29]. Tại Điều 16 Luật thừa kế Lào cũng quy định con đang mang thai vẫn được thừa kế phần tài sản mà người cha chết để lại. Tuy nhiên, với điều kiện đứa con này sinh ra và còn sống đến thời điểm mở thừa kế.
Người thừa kế là người có khả năng được hưởng theo quy định của pháp luật và người phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế được hưởng di sản. Nguyên tắc này đã loại trừ những người có quyền thừa kế di sản của nhau nhưng đều chết trong cùng một thời điểm hoặc được coi là chết trong cùng thời điểm do không xác định được người nào chết trước thì họ không được thừa kế di sản của nhau [18, Đ21].
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo tính khách quan, thực tế của việc quản lý định đoạt tài sản của mình chỉ là những cá nhân còn sống và cũng là quan điểm duy vật biến chứng của chủ nghĩa Mac-Lênin.
- Nguyên tắc người thừa kế được thực hiện các quyền và nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại.
Nguyên tắc này được Luật thừa kế năm 2008 quy định tại Điều 37: Quyền và nghĩa vụ của người thực hiện di chúc “Di chúc sẽ được hực hiện khi chủ tài sản đã chết đi. Người đã thực hiện di chúc có quyền làm việc cần thiết và hợp lý để thực hiện việc làm cho nó có kết quả tốt đẹp”. Như vậy, người thừa kế có quyền và nghĩa vụ thực hiện những công việc mà người chết có ý giao phó theo di chúc.
Nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại không phải là di sản thừa kế. Di sản thừa kế chỉ là những tài sản và quyền về tài sản do người chết để lại được đem chia thừa kế. Sự thanh toán nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại chính là xác định di sản để chia thừa kế hoặc không còn di sản để chia. Di sản thừa kế là những tài sản và quyền về tài sản của người chết để lại chia cho những người có quyền hưởng theo di chúc hoặc theo pháp luật. Tuy nhiên, phải xác định những quyền và nghĩa vụ về tài sản gắn liền với nhân thân người chết thì không phải là di sản thừa kế, vì nghĩa vụ gắn liền với nhân thân người chết chấm dứt cùng thời điểm mở thừa kế. Do vậy, người hưởng di sản theo quy định pháp luật chỉ phải thanh toán nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại trong phạm vi di sản của người đó. Nguyên tắc này cũng được quy định tại Điều 56 “Người thừa kế theo pháp luật và theo di chúc có nhiệm vụ trả nợ cho chủ tài sản nhưng không vượt quá phần của mình đã được hưởng. Nếu tài sản chưa chia thì chủ nợ phải báo ngay cho những người thừa kế hay là người quản lý di chúc biết ngay để cho họ trả hết nợ này. Nếu mà tài sản đã chia rồi thì chủ nợ phải thông báo cho một người thừa kế nào đó biết để trả nợ cho mình sau đó những người thừa kế đó chia nhau trả. Việc trả nợ phải lấy trong tài sản của chủ tài sản đó”. Ngoài ra, pháp luật cũng quy định chủ nợ chỉ được có quyền kiện đòi nợ trong vòng ba năm kể từ ngày mở di chúc, trừ một số lý do đặc biệt [18, Điều57].
Có nhiều ý kiến khác nhau về việc xác định di sản thừa kế của người chết để lại. Có quan điểm cho rằng di sản thừa kế là toàn bộ tài sản, quyền về tài sản và nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại được chuyển cho người thừa kế. Vì người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại trong phạm vi di sản nhận được, nên nghĩa vụ về tài sản của người chết nằm trong phạm vi di sản của người đó. Quan điểm khác cho rằng, di sản thừa kế là tài sản và quyền về tài sản do người chết để lại để chia thừa kế, còn nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại đối với người khác không phải là di sản người đó, mà chỉ đơn thuần là nghĩa vụ chưa được thực hiện. Nó sẽ được thực hiện bởi những người thừa kế, nhưng phải bằng tài sản của người để lại nghĩa vụ đó là người đã chết. Người thừa kế được xác định có quyền hưởng di sản thừa kế của người chết, nhưng nếu di sản đó không đủ để thực hiện nghĩa vụ về tài sản của chính người đó, thì quyền hưởng di sản thừa kế của người được thừa kế cũng không phát sinh. Người thừa kế di sản của người đã chết chỉ thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi giá trị tài sản mà mình được hưởng từ người chết. Nếu nghĩa vụ đó vượt quá thì cũng không phải lấy tài sản có riêng của mình ra để bù vào. Người thừa kế không phải là người phải thực hiện nghĩa vụ mà là người thực hiện nghĩa vụ người chết để lại. Người thừa kế không phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại nếu người đó từ chối quyền hưởng di sản theo đúng quy định của pháp luật. Còn nếu người thứ ba thực hiện nghĩa vụ thì phải thực hiện bằng tài sản của mình hoặc công sức của mình và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bên có quyền. Còn nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại, mà người thừa kế tiến hành chỉ thuộc phạm vi tài sản và quyền về tài sản do người chết để lại.
Trên đây là các nguyên tắc pháp luật thừa kế ở Lào. Cũng như pháp luật thừa kế của các nước, pháp luật thừa kế của Lào đưa ra những nguyên tắc đó nhằm bảo đảm quyền tự do cá nhân trong việc thể hiện ý chí của mình, mặt khác còn là sự kết hợp hài hòa với những truyền thống tốt đẹp trong nhân dân được thể hiện trong quan hệ gia đình, trong dòng tộc và quan niệm về đạo đức mang một nội dung mới phù hợp với chế độ chính trị Cộng hòa dân chủ nhân dân, để qua đó mà thực hiện các phương thức thừa kế một cách đúng đắn, hiệu quả.
1.5. Vị trí, vai trò của chế định thừa kế trong hệ thống pháp luật dân sự nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Luận văn: Chế định thừa kế theo luật dân sự nước Cộng hòa Lào.
Ở bất cứ xã hội nào cũng cần có những quy định được lập nên để hướng xã hội phát triển một cách có tôn ti trật tự. Những quy định đó chính là pháp luật. Cứ thử hình dung, chỉ cần một ngày để cho xã hội phát triển một cách tự do không chịu sự ràng buộc của luật pháp thì sẽ như thế nào. Người ta sẽ chém giết nhau, cướp giật của nhau, tranh giành nhau…mà không hề sợ chịu sự trừng trị của pháp luật. Chính vì vậy, pháp luật có vai trò rất lớn đối với mỗi quốc gia trong việc duy trì trật tự xã hội.
Lào là đất nước nhỏ, còn kém phát triển so với các nước trên thế giới và trong khu vực, nền kinh tế chủ yếu là tự cung tự cấp: Theo cấu trúc lực lượng lao động lĩnh vực thì 80% theo nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ chỉ chiếm 20%; theo cấu trúc ngành thì 41,2% là nông nghiệp, 32,5% công nghiệp và dịch vụ là 26% [8, Tr. 13]. Cũng là nước mà có số lượng theo đạo Phật đông nhất trong khu vực Đông Nam Á. Nhưng không phải vì thế mà pháp luật không có vai trò lớn trong việc hướng đất nước Lào phát triển một cách đúng đắn.
Cũng do những đặc điểm trên về kinh tế cũng như văn hóa mà vấn đề thừa kế của Lào cũng mang tính phức tạp của nó. Bởi vậy, pháp luật thừa kế có một tầm quan trọng đặc biệt trong việc bảo vệ quyền sở hữu của người chết, người được thừa kế, bảo vệ tôn ti trật tự trong nội bộ gia đình, dòng tộc cũng như giúp giữ gìn nền văn hóa của cha ông cha xưa kết hợp với sự phát triển hiện đại hóa của đất nước Lào trên con đường hội nhập. Dưới đây là những vai trò rất lớn mà pháp luật thừa kế của Lào đã thể hiện:
Thứ nhất, pháp luật thừa kế là sự thể chế hóa đường lối, chủ trương của đảng nhân dân cách mạng Lào và của Nhà nước Lào về quyền cơ bản của con người trong lĩnh vực dân sự. Luận văn: Chế định thừa kế theo luật dân sự nước Cộng hòa Lào.
Lịch sử mấy ngàn năm qua đã chứng minh rằng từ khi xã hội phân chia giai cấp thì bất kỳ một giai cấp thống trị nào cũng đều dựa vào pháp luật để thể hiện ý chí và thực hiện đường lối chính trị của giai cấp mình. Pháp luật là công cụ thể hiện sắc bén nhất, hiệu quả nhất để thể hiện đường lối chủ trương của giai cấp cầm quyền [15; tr.192].
Ở Lào, Đảng nhân dân cách mạng Lào là lực lượng lãnh đạo toàn xã hội. Sự lãnh đạo của đảng thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau trong đó có hoạt động xây dựng đường lối chính sách. Và để cho đường lối của Đảng thực sự đi vào cuộc sống, phải có sức mạnh của Nhà nước mà pháp luật là phương tiện hàng đầu để thực hiện sức mạnh đó. Sở dĩ như vậy, bởi pháp luật mang tính phổ biến và tính tổ chức nên có hiệu lực thi hành và trên quy mô toàn xã hội.
Các văn kiện của Đảng từ năm 1975 đến nay đều khẳng định việc thực thi quyền con người và quyền công dân được xem như nhân tố thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đang nổ lực đi lên. Tại các văn kiện của Đảng: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
- (từ ngày 27 đến ngày 30 tháng 4 năm 1982); Đại hội đại biểu toàn quốc lần
- (từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 11 năm 1986); Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (tháng 3 năm 1991); Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI (từ ngày 18 đến ngày 20 tháng 3 năm 1996);…và đặc biệt đại hội mới đây nhất Đại hội đại biểu toàn quốc lần IX (tiến hành trong tháng 3 năm 2011) đã nhấn mạnh quan điểm bảo đảm hơn nữa quyền con người.
Theo tinh thần đó, pháp luật về thừa kế ở Lào trong những năm qua đã và đang là những công cụ thể chế hóa đường lối của Nhà nước Lào trong lĩnh vực quyền dân sự của con người. Đây là sự cụ thể hóa trong bước tiếp theo của các quy định trong Hiến pháp 1991 trong việc “Nhà nước bảo hộ quyền sỡ hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân”, “Nhân dân có quyền sử dụng và quản lý tài nguyên đất nước theo chính sách Nhà nước, mỗi năm nhà nước phải có chính sách và phương pháp đẩy mạnh để phát triển đất nước cho nhân dân thực hiện theo sự yêu cầu quyền và nghĩa vụ của dân để cho nhân dân ấm no hạnh phúc cũng như là phát triển đất nước của mình”
Thứ hai, pháp luật điều chỉnh xã hội ở nhiều lĩnh vực khác nhau như về kinh tế, về chính trị, về quyền con người…Pháp luật thừa kế là một trong những quy định liên quan lĩnh vực về kinh tế cũng như quyền con người đối với người dân. Về mặt kinh tế thể hiện ở chỗ các quy định về thừa kế giúp nền kinh tế ổn định trong việc mua bán trao đổi những tài sản được thừa kế từ người đã chết. Về quyền con người thể hiện ở việc xác lập quyền sỡ hữu, quyền định đoạt tài sản.
Mỗi một quy định được lập nên đều có một mục đích cho một lĩnh vực của nó. Pháp luật thừa kế là tập hợp những quy định thể hiện ý chí của nhà nước Nhân dân cách mạng Lào. Luận văn: Chế định thừa kế theo luật dân sự nước Cộng hòa Lào.
Thứ ba, pháp luật thừa kế là phương thức quan trọng trong việc xác lập, cũng cố, bảo vệ quyền sở hữu.
Như đã phân tích ở phần nguyên tắc, thừa kế là một quan hệ xã hội có mầm mống và xuất hiện từ thời sơ khai của xã hội loài người. Đến khi xã hội phân chia giai cấp thì nó có vai trò trong việc duy trì, cũng cố quyền sở hữu, từ chỗ pháp luật quy định chế độ sở hữu về tài sản của cá nhân. Cá nhân có được các quyền đối với tài sản của mình và trên cơ sở đó pháp luật quy định cho họ những quyền trong lĩnh vực thừa kế. Công nhận quyền sở hữu được để lại thừa kế có tác dụng tăng thêm niềm tin và tình yêu thương giữa những người để lại thừa kế và người được thừa kế. Chủ sở hữu sẽ yên tâm hơn khi biết rằng sự nghiệp của mình sẽ được kế tục bởi những người mình yêu thương. Quyền sở hữu chỉ được hoàn thành vai trò động lực phát triển kinh tế nếu nó chuyển giao bằng con đường thừa kế. Về mặt tâm lý, cá nhân chỉ cảm thấy được thỏa mãn nếu quyền sở hữu vẫn tiếp tục tồn tại sau khi chủ sở hữu chết, vì họ đã cả đời làm lụng vất vả mới có được những tài sản đó. Giả sử, chủ sở hữu phải đối mặt với viễn cảnh giao lại tài sản của mình cho Nhà nước, hay tài sản của mình bị tranh giành nhau giữa những người trong gia đình thì họ sẽ không quan tâm chăm sóc tài sản hiện có mà lại tiêu dùng một cách hoang phí vô độ và họ trở nên lười biếng, thờ ơ với lao động, với hoạt động sáng tạo.
Vì vậy, pháp luật về thừa kế ở Lào, trước hết có vai trò trong việc đảm bảo quyền lợi cho người lao động, bảo vệ và tôn trọng những thành quả lao động mà họ đã tạo ra, khi họ chết những thành quả đó sẽ được chuyển qua cho những người thừa kế mà họ muốn. Mặt khác, với tư cách là hệ luận của quyền sở hữu, pháp luật về thừa kế còn là phương tiên để đảm bảo cho chủ sở hữu thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản của mình. Thông qua thừa kế của một người được chuyển dịch từ đời này sang đời khác. Đặc biệt, ghi nhận và tôn trọng quyền định đoạt tài sản người lập di chúc là việc pháp luật tôn trọng quyền định đoạt của chủ sở hữu đối với tài sản của họ, bảo đảm cho người lập di chúc có quyền sử dụng tài sản ngay cả khi chết, qua đó góp phần cũng cố quyền sở hữu chính đáng của mọi cá nhân, bảo toàn, gia tăng và tích lũy của cải cho xã hội.
Thứ tư, pháp luật về thừa kế góp phần quan trọng trong việc cũng cố mối quan hệ đoàn kết giữa các thành viên trong gia đình, góp phần bảo đảm ổn định cuộc sống cộng đồng và xã hội.
Lào là một đất nước rất tôn trọng truyền thống hiếu nghĩa trong gia đình, dòng tộc vì thế những quy định của pháp luật luôn hướng đến tinh thần đoàn kết giữa người với người đặc biệt là các thành viên trong gia đình. Pháp luật thừa kế cũng không nằm ngoài mục đích đó. Luận văn: Chế định thừa kế theo luật dân sự nước Cộng hòa Lào.
Thừa kế di sản chính là sự chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu tài sản của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức có quyền hưởng thừa kế. Người hưởng thừa kế trở thành chủ sở hữu của tài sản được hưởng theo di chúc hoặc theo pháp luật. Với ý nghĩa có tầm quan trọng như vậy, nên trong xã hội có giai cấp nào, thừa kế cũng là vấn đề luôn được quan tâm nhiều nhất trong quan hệ xã hội. Sự vận động của nó nếu tách khỏi sự điều chỉnh của pháp luật sẽ không tránh khỏi những xung đột xảy ra, cũng có thể là những cuộc “chiến tranh về tài sản” kéo dài và thậm chí là những cuộc đổ máu ngay trong bản thân gia đình, dòng họ người đã chết gây mất đoàn kết và gây nên mất trật tự xã hội.
Mặc dù Lào là quốc gia chưa phát triển mạnh như các nước, nhưng ngày nay vấn đề thừa kế cũng xảy ra nhiều vấn đề rất phức tạp. Một phần do cuộc sống người dân ngày càng tăng lên, của cải dư thừa ngày càng nhiều. Do đó, nhu cầu để lại di sản cho con cháu sau khi chết cũng theo đó mà gia tăng về số lượng. Một bộ phận người dân không tuân theo pháp luật nên đã xảy ra những cuộc tranh giành giữa những người trong gia đình đối với tài sản người chết để lại. Đó là lý do hàng năm nhiều vụ án về tranh chấp thừa kế được khởi kiện. Thông qua các quy định về thừa kế, các bên tham gia quan hệ thừa kế thấy rõ được các quyền và nghĩa vụ của mình cũng như trình tự thủ tục cách thức để thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ đó. Trên cơ sở đó, các chủ thể để lại di sản cũng như nhận di sản thừa kế tự điều chỉnh hành vi của mình trong khuôn khổ pháp luật quy định cho phù hợp với chuẩn mực pháp lý, tạo lập được một hệ thống các quan hệ tốt đẹp giữa người với người, sau khi người để lại di sản chết, góp phần vào việc cũng cố sự đoàn kết trong gia đình và thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển.
Thứ năm, pháp luật thừa kế có vai trò trong việc giữ gìn, phát huy các phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Lào.
Đạo đức, phong tục, tập quán truyền thống là nét đẹp văn hóa mang bản sắc của mỗi dân tộc, được hình thành từ lâu đời và được nhiều người tôn trọng giữ gìn. Một nền pháp luật chỉ tồn tại và bền vững khi nó thật sự phù hợp với đạo đức và truyền thống văn hóa tốt đẹp. Phong tục tập quán có vai trò rất quan trọng trong việc cùng với pháp luật nhà nước tham gia quản lý xã hội. Nhận thức được tầm quan trọng đó, Đảng nhân dân cách mạng Lào luôn đặc biệt chú trọng đến việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, đưa những quan niệm tốt đẹp của ông cha xưa vào những quy định của pháp luật. Hiện nay, Lào đang trên đường hội nhập, mở rộng quan hệ và học hỏi kinh nghiệm pháp luật của các nước thì việc quan tâm giữ gìn bản sắc dân tộc lại càng được đặc biệt quan tâm. Nhiều phong tục tập quán tốt đẹp đã được “pháp luật hóa” thành các quy phạm pháp luật chúng ta có thể tìm thấy trong tổng hợp Bộ luật dân sự năm 1990 của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, trong đó đặc biệt là các vấn đề về thừa kế, hôn nhân gia đình… Luận văn: Chế định thừa kế theo luật dân sự nước Cộng hòa Lào.
Trước hết, trong vấn đề thừa kế theo di chúc, pháp luật quy định về thừa kế cho người lập di chúc có quyền dành phần di sản để “làm chỗ thờ cúng anh chị em và những người khác” [18,Đ24]. Đây là một phong tục tập quán có từ lâu đời và hiện nay vẫn được coi trọng. Việc thờ cúng tổ tiên được thực hiện trên cơ sở của quan niệm mang tính chất đạo đức và văn hóa, tôn trọng và biết ơn công sinh thành, dưỡng dục, con người có cội nguồn, tổ tông cho nên con cháu phải tôn trọng và biết ơn những thế hệ trước. Trong việc thờ cúng, di sản thờ cúng có một ý nghĩa hết sức quan trọng, nó không chỉ có ý nghĩa về mặt vật chất mà còn giá trị về mặt tinh thần. Đây là nét khác biệt so với pháp luật của các nước phương Tây vốn xa lạ với việc thờ cúng tổ tiên.
Ở lĩnh vực quyền lập di chúc, mặc dù Luật thừa kế Lào đảm bảo cho người lập di chúc có quyền để lại tài sản của mình cho bất cứ ai. Nhưng bên cạnh đó, pháp luật cũng hạn chế một số điều nhằm đảm bảo giữ gìn truyền thống văn hóa, đạo đức của dân tộc. Ví dụ: tại Điều 25 Luật thừa kế Lào đã quy định về giới hạn quyền trong sự tặng, chuyển và việc lập di chúc: “ Nếu chủ tài sản muốn tặng, chuyển và lập di chúc cho một hay là nhiều có thể thực hiện như sau đây:
- 1/ Nếu chủ tài sản có một người con thì người lập di chúc không cho vượt quá 1/2 của tất cả tài đã có.
- 2/ Nếu chủ tài sản có hai người con thì người lập di chúc không cho vượt quá 1/3 của tất cả những tài sản đã có.
- 3/ Nếu chủ tài sản có ba người con trở lên thì người lập di chúc không cho vượt quá 1/4 của tất cả tài sản đã có.
Việc tặng, chuyển và lập di chúc đã vượt quá những trường hợp nêu trên tài sản đã vượt quá ấy sẽ đưa ra chia sẻ cho những người thừa kế theo pháp luật”.
Như vậy, pháp luật không cho phép người lập di chúc tự ý để lại tất cả tài sản cho một người con nếu người đó có từ hai con trở lên, hay để lại phần tài sản vượt quá quy định pháp luật. Đây là sự khác biệt giữa pháp luật Lào so với luật pháp Việt Nam khi hạn chế phần tài sản để lại cho các con. Đó cũng là nét văn hóa của dân tộc Lào nhằm đảm bảo quyền lợi ngang nhau giữa các con trong cùng một gia đình, để các con cùng có chung một nghĩa vụ đối với người đã khuất, tránh tình trạng do thừa kế giữa các con mất sự bình đẳng sẽ gây ra “những cuộc chiến” giữa các thành viên trong gia đình.
Như vậy, có thể nói hầu hết các quy phạm pháp luật về thừa kế đều có vai trò trong việc nâng các quy phạm đạo đức lên thành luật. Các quy phạm đạo đức này gắn chặt với phong tục tập quán của dân tộc Lào trong mối quan hệ ứng xử giữ các thành viên trong gia đình với nhau. Vì lẽ đó, giữ gìn và phát huy những phong tục tập quán ấy trong đời sống xã hội là một đảm bảo quan trọng để các quy định đi vào thực tế cuộc sống.
Kết luận chương 1 Luận văn: Chế định thừa kế theo luật dân sự nước Cộng hòa Lào.
Pháp luật thừa kế không xuất hiện một cách ngẫu nhiên và cũng không phản ánh thụ động các quan hệ trong xã hội. Những nguyên tắc, trình tự và thủ tục chuyển dịch tài sản của người chết cho những người thừa kế được pháp luật điều chỉnh trên cơ sở các quan hệ tài sản qua mỗi thời kỳ phát triển của xã hội có giai cấp và mang bản chất giai cấp sâu sắc.
Qua những lý giải và phân tích ở trên có thể đi đến kết luận: Thừa kế là một chế định không thể thiếu được đối với pháp luật của mỗi quốc gia. Dù là Lào hay Việt Nam, hay bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới thì cũng đang tìm kiếm nhằm hoàn thiện một chế độ pháp lý phù hợp với điều kiện kinh tế, sự vận động xã hội. Trên cơ sở nghiên cứu khái niệm pháp luật về thừa kế cũng như vài trò của nó đối với đời sống kinh tế xã hội, từ đó đưa ra những nguyên tắc để hoàn thiện pháp luật thừa kế nói riêng và lĩnh vực khoa học dân sự nói chung.
Thừa kế pháp luật ở Lào được bảo đảm trên cơ sở chế độ Cộng hòa mà nền kinh tế nói chung và các quan hệ tài sản nói riêng được xây dựng trên cơ sở quan hệ sản xuất Cộng hòa nhân dân. Tuy nhiên, để có sự thống nhất trong vấn đề nhận thức và tìm hiểu về pháp luật thừa kế Lào, nguyên tắc để hoàn thiện nó thì cần phải phân tích rõ hơn vào từng nội dung chứ không chỉ dừng lại ở khái niệm, nguyên tắc, vai trò là những vấn đề mà hiện nay còn có nhiều ý kiến trái chiều nhau về quan điểm nhận thức giữa các nhà nghiên cứu và những người áp dụng, tìm hiểu pháp luật thừa kế. Bởi vậy, cần đi sâu phân tích các nội dung tiếp theo để thấy rõ được bản chất của pháp luật thừa kế. Đó là nội dung mà tác giả sẽ đề cập ở chương 2. Luận văn: Chế định thừa kế theo luật dân sự nước Cộng hòa Lào.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực tiễn thừa kế trong pháp luật nước Cộng hòa Lào

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
