Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp Mỹ hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Những nét đặc trưng trong văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp Mỹ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ sau khi ký hiệp định thương mại Việt – Mỹ vào năm 2000, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập WTO vào tháng 01/07 và cùng với việc Hoa Kỳ dành chế độ quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) cho Việt Nam thì quan hệ thương mại song phương giữa hai nước càng ngày càng phát triển. Xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Mỹ ngày càng gia tăng. Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ đạt hơn 10 tỷ USD, con số này đối với Việt Nam là tương đối lớn nhưng mới chỉ bằng 0,5% tổng giá trị nhập khẩu của Mỹ. Điều này hoàn toàn chưa xứng đáng với tiềm năng thương mại của hai nước. Tuy vậy, việc thâm nhập vào thị trường Mỹ, một thị trường với sức mua lớn nhất thế giới là không dễ dàng, việc hợp tác cũng như duy trì mối quan hệ làm ăn với các doanh nghiệp Mỹ lại là một điều khó khăn hơn. Để có thể cải thiện được mối quan hệ hợp tác giữa các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp Mỹ thì điều cần thiết là phải hiểu được văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp. Khóa luận: Văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp Mỹ
Toàn cầu hóa đang ngày càng phát triển, thế giới giờ đây dường như là không biên giới, sự di chuyển dòng người từ quốc gia này sang quốc gia khác cũng không còn là điều mới mẻ. Những nhân viên từ các quốc gia khác đến mang trong mình nền văn hóa của đất nước mình phải hòa nhập với nền văn hóa của quốc gia cũng như của doanh nghiệp nước ngoài mà mình làm việc.
Việt Nam cùng với sự phát triển của mình đang ngày càng có nhiều doanh nghiệp nước ngoài vào hợp tác đầu tư, đặc biệt là các tập đoàn Mỹ và đã thu hút được nhiều nhân viên Việt Nam vào làm việc. Do vậy, việc hiểu được văn hóa kinh doanh của các của các doanh nghiệp đặc biệt doanh nghiệp Mỹ là điều cần thiết.
Trong khuôn khổ những kiến thức đã được học và tiếp thu, em xin mạnh dạn thử sức mình với một đề tài tuy không mới nhưng có lẽ vẫn còn thiết thực và quan trọng trong đời sống kinh doanh ngày nay. Đó là: “Những nét đặc trưng trong văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp Mỹ”.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2. Đối tượng và mục đích nghiên cứu của đề tài Khóa luận: Văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp Mỹ
Khóa luận tập trung nghiên cứu các vấn đề về văn hóa kinh doanh nói chung và những nét đặc trưng trong văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp Mỹ từ đó rút ra bài học cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Em hy vọng khóa luận này phần nào giúp các doanh nghiệp Việt Nam có được những thông tin cần thiết về đất nước, con người và đặc biệt là văn hóa kinh doanh trong các doanh nghiệp Mỹ. Từ đó rút ra bài học cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc mở rộng giao thương với các doang nghiệp Mỹ cũng như xây dựng cho mình một nền văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp vững mạnh.
3. Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu về những nét đặc trưng trong VHKD của các DN Mỹ, đưa ra những khái niệm về VHKD, VHDN, những nét đặc trưng đồng thời đưa ra một vài mô hình DN Mỹ tiêu biểu, từ đó rút ra bài học đối với các DN Việt Nam khi hợp tác kinh doanh với những DN Mỹ.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Bằng các phương pháp khác nhau như: thống kê, tổng hợp qua các tài liệu được công bố chính thức, tập hợp những thông tin nhiều chiều, cô đọng mang tính tổng hợp, phản ánh toàn cảnh vấn đề nghiên cứu, có tính thực tế và khái quát cao. Trên cơ sở đó tiến hành thống kê, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa để đưa ra những nhận định, để ra những bài học có hiệu quả gắn liền với thực tế.
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, kết cấu của khóa luận gồm 3 chương.
Chương I: Tổng quan về văn hóa kinh doanh
Chương II: Những nét đặc trưng trong VHKD của các DN Mỹ
Chương III: Bài học áp dụng đối với các DN Việt Nam
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA KINH DOANH
1. KHÁI NIỆM VỀ VĂN HÓA KINH DOANH Khóa luận: Văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp Mỹ
1.1 Khái niệm chung về văn hóa
Ngày nay, hai chữ “văn hóa” đã không còn xa lạ với hầu hết mọi người, tuy nhiên, có mấy ai biết được rằng bản thân từ “văn hóa” lại mang rất nhiều nghĩa. Bản thân các vấn đề văn hóa rất đa dạng, phức tạp, do đó có nhiều cách hiểu và nhiều cách tiếp cận nội dung thuật ngữ này.
Định nghĩa về văn hóa đầu tiên được chấp nhận rộng rãi là: “Văn hóa là một tổng thể phức tạp bao gồm các kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và tất cả những khả năng, thói quen mà con người đạt được với tư cách là thành viên của một xã hội.
Trong khái niệm nàycủa mình, nhà nhân chủng học Edward Burnett Tylor mới chỉ đề cập đến vấn đề văn hóa tinh thần còn văn hóa vật chất thì ông hoàn toàn chưa đề cập đến.
Trong triết học, chủ nghĩa Mác – Lenin cũng đề cập đến văn hóa: “Văn hóa là tổng hợp các giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra, là phương thức, phương pháp mà con người sử dụng nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và giáo dục con người”2.
“Cái gì còn lại khi tất cả những cái khác bị lãng quên – đó là văn hóa”.
Đây được coi là định nghĩa rộng nhất về văn hóa của E.Heriot.
Ngoài ra, còn có một khái niệm được coi là tương đối đầy đủ về văn hóa của Czinkota. Theo ông, “Văn hóa là một hệ thống những cách cư xử đặc trưng cho các thành viên của bất kì một xã hội nào. Hệ thống này bao gồm tất cả vấn đề từ cách nghĩ, nói, làm, thói quen ngôn ngữ, sản phẩm vật chất và tình cảm, quan điểm của các thành viên đó”3.
Đứng từ góc độ kinh tế, một chuyên gia trong lĩnh vực giao lưu văn hóa và quản lý – Geert Hofstede đã định nghĩa: “Văn hóa là sự chương trình hóa chung của tinh thần giúp phân biệt các thành viên của nhóm người này với thành viên của nhóm người khác, theo nghĩa này văn hóa bao gồm hệ thống các chuẩn mực và các chuẩn mực là một trong số các nền tảng của văn hóa.”4
Từ những định nghĩa trên của nhiều tác giả khác nhau, nhìn từ nhiều góc độ khác nhau có thể thấy được những đặc điểm chung nhất về văn hóa. Đó là: văn hóa là sản phẩm của xã hội loài người, được hình thành và được đúc kết cũng như được truyền từ đời này sang đời khác trong cuộc sống xã hội. Văn hóa có nhiều khía cạnh, lĩnh vực và giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Khái niệm về văn hóa là rất đa dạng và linh hoạt giữa các lãnh thổ và tộc người khác nhau, vì vậy, trong khuôn khổ của khóa luận này, em sử dụng khái niệm về văn hóa của tổng giám đốc Unesco – Frederico Mayor làm chuẩn mực xuyên suốt cả đề tài của mình. “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại nhất, cho đến những tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động”5.
1.2. Khái niệm về văn hóa kinh doanh Khóa luận: Văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp Mỹ
Cũng như khái niệm về văn hóa, văn hóa kinh doanh rất rộng và phức tạp, hoàn toàn không có một định nghĩa chính xác nào về nó.
“Văn hóa kinh doanh là việc sử dụng các nhân tố văn hóa trong hoạt động kinh doanh của chủ thể, là cái văn hóa mà các chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trinh kinh doanh, hình thành nên những kiểu kinh doanh ổn định và đặc thù của họ”6.
Khái niệm này đã chỉ ra được sự khác biệt giữa văn hóa kinh doanh – một bộ phận trong văn hóa dân tộc và văn hóa trong kinh doanh – những yếu tố của văn hóa trong văn hóa dân tộc.
Ngoài ra, trong khái niệm này, văn hóa kinh doanh có hai phương diện. Hai phương diện này có liên hệ hữu cơ và tác động qua lại lẫn nhau, từ đó tạo ra những văn hóa riêng biệt và đặc thù cho từng doanh nghiệp.
Phương diện thứ nhất, sử dụng các nhân tố văn hóa vào hoạt động kinh doanh chủ thể tức là các yếu tố văn hóa này góp phần vào quá trình sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra sản phẩm, dịch vụ thỏa mãn thị hiếu, nhu cầu của người tiêu dùng từ đó đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Thứ hai, trong quá trinh kinh doanh, các sản phẩm văn hóa cũng được tạo ra như triết lý, hệ giá trị …
Một định nghĩa khác về văn hóa kinh doanh, nhưng lại đứng trên góc nhìn của những nhà quản trị học. “Văn hóa, nhất là văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp hay văn hóa tổ chức được hiểu là một hệ thống các giá trị. Các chuẩn mực, các quan niệm và hành vi do các thành viên trong doanh nghiệp đó sáng tạo và tích lũy trong quá trình tương tác với môi trường bên ngoài và hội nhập bên trong tổ chức. Văn hóa này sẽ được dùng để đánh giá các hành vi, do đó được chia sẻ và phổ biến rộng rãi giữa các thế hệ thành viên như một chuẩn mực để nhận thức, tư duy và cảm nhận trong mối quan hệ với cá vấn đề mà họ luôn đối mặt”7.
1.3. Văn hóa kinh doanh – Văn hóa doanh nghiệp
Văn hóa kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp giống hay khác nhau, điều này phụ thuộc vào quan niệm của từng người. Thực chất, giữa văn hóa kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp có sự tương đồng nhưng đồng thời cũng có sự khác nhau về mức độ. Hiện nay, có hai quan điểm về mối quan hệ giữa văn hóa kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp.
Quan điểm thứ nhất cho rằng văn hóa doanh nghiệp là một bộ phận của văn hóa kinh doanh. Văn hóa kinh doanh chính là nền tảng tinh thần, là linh hồn cho hoạt động kinh doanh của một quốc gia, nó được hình thành ngay từ khi xuất hiện các hoạt động kinh doanh trong đời sống xã hội của dân tộc đó và nó thể hiện phong cách kinh doanh của một dân tộc. Ví dụ: người Trung Quốc nổi tiếng với tính cộng đồng cao trong khi người Nhật Bản lại nổi tiếng về sự giữ chữ tín trong kinh doanh. Tất cả những điều này đã làm nổi bật lên rằng văn hóa kinh doanh không chỉ của riêng một doanh nghiệp nào mà là của cả một quốc gia, nó như một nét đặc trưng tiêu biểu trong văn hóa kinh doanh của quốc gia đó. Khóa luận: Văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp Mỹ
Theo đó, định nghĩa về văn hóa kinh doanh của viện kinh doanh Nhật Bản – Hoa Kỳ (Japan – American Business Acadamy – JABA) thì: “Văn hóa kinh doanh có thể được định nghĩa như ảnh hưởng của những mô hình văn hóa của một xã hội thành những thiết chế và những thông lệ kinh doanh của xã hội đó”.
Ngoài ra, còn có định nghĩa: “Văn hóa kinh doanh là sự thể hiện phong cách kinh doanh của một dân tộc. Nó bao gồm các nhân tố rút ra từ văn hóa dân tộc, được các thành viên trong xã hội vận dụng vào các hoạt động kinh doanh của mình và cả những giá trị, triết lý… mà các thành viên này tạo ra trong quá trình quản trị kinh doanh”8.
Theo định nghĩa này thì VHKD chỉ là một bộ phận của văn hóa, đồng thời VHDN cũng sẽ chỉ là một tiểu văn hóa trong VHKD của một quốc gia.
Cách hiểu thứ hai là theo quan niệm của các nhà quản trị thì VHKD cũng chính là VHDN.
Theo Edgar H. Schein: “Văn hóa kinh doanh là tổng hợp những quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh”.
Như vậy, chủ thể của VHKD chính là doanh nghiệp. Doanh nghiệp là chủ thể chính, mang tính quyết định đến mọi hoạt động sản xuất kinh doanh bên cạnh các nhân tố khác như nhà nước, tầng lớp xã hội … Trong khuôn khổ của bài khóa luận, em dùng cách hiểu thứ hai.
Có nhiều quan niệm khác nhau về VHDN. Theo phép ẩn dụ so sánh, có người cho rằng VHDN là tính cách của DN. “Tính cách” này thể hiện ở mức độ nhân viên được khuyến khích đổi mới và mạo hiểm bao nhiêu?
Hay VHDN là “bộ gen” của doanh nghiệp. “Bộ gen” đó bao gồm quyền ra quyết định, thông tin, công cụ động viên và cấu trúc. Trong đó quyền ra quyết định thể hiện rằng ai quyết định cái gì, thực sự quyết định như thế nào và bao nhiêu người tham gia ra quyết định, phạm vi quyết định là bao nhiêu? Trong các yếu tố thông tin được thể hiện trong thành tích công tác được đo lường như thế nào, kiến thức được chia sẻ bao nhiêu? Nhân viên được khuyến khích quan tâm bằng cái gì, bằng cách nào?
Việc sử dụng hình ảnh ẩn dụ bộ gen hay hệ điều hành máy tính tuy chưa đưa ra được cái nhìn tổng thể về VHDN nhưng cũng đã chỉ ra tầm quan trọng của VHDN. VHDN chính là xương sống của doanh nghiệp, quyết định đến sự thành bại của DN đó.
2. SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VHKD
Cụm từ “văn hóa kinh doanh” cho đến nay không còn xa lạ đối với mỗi người mà đặc biệt là đối với mỗi doanh nhân, những người làm kinh doanh. Tuy nhiên, sự xuất hiện của cụm từ đó vào thời điểm nào thì cũng chưa ai xác định được. Có một điều chắc chắn rằng sự ra đời và phát triển của VHKD gắn liền với sự ra đời và phát triển của hoạt động kinh doanh.
Kinh doanh là một hoạt động cơ bản của xã hội loài người, hoạt động xuất hiện gắn liền với sự ra đời của nền sản xuất hàng hóa. Ngay từ thời cổ đại, kinh doanh đã mang tư cách là một nghề với sự tham gia của các doanh nhân. Đây là một hành động chính đáng xuất phát từ nhu cầu phát triển do sự phân công lao động tạo ra. Tuy nhiên, ở một số xã hội phong kiến như Trung Quốc là ví dụ, doanh nhân không được coi trọng. Mặc dù những doanh nhân đó là những người làm ăn lương thiện, chân chính, có tiền bạc, giàu có nhưng họ vẫn không được xã hội coi trọng, mọi người luôn quan niệm “sĩ, công, nông, thương”, luôn coi họ chỉ là con buôn.
Giữa văn hóa và kinh doanh có mối quan hệ mật thiết, vừa thống nhất vừa phụ thuộc vào nhau. Mục đích của kinh doanh là thu lợi nhuận còn văn hóa giúp cho DN phát triển bền vững. Không thể có văn hóa suy đồi mà kinh tế lại phát triển được. Văn hóa bao giờ cũng là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế, mặt khác, kinh tế phát triển lại là mảnh đất màu mỡ đầy thuận lợi cho sự phát triển văn hóa. Chính mối quan hệ giữa văn hóa và kinh doanh đã hình thành nên “văn hóa kinh doanh”. Điều này tạo ra những nét đẹp trong kinh doanh, tạo nên những nét đặc trưng trong kinh doanh của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. VHKD của một quốc gia tồn tại từ đời này sang đời khác, càng ngày càng tinh túy hơn do kế thừa và phát huy những bản sắc của dân tộc. Ngày nay, VHKD đã trở thành một cụm từ phổ biến không chỉ trong giới kinh doanh mà còn trong xã hội nói chung. Khi nhắc tới cụm từ ấy, người ta thấy được những nét mới trong kinh doanh ngày nay. Đó là: kinh doanh không chỉ thu lợi nhuận mà còn là kinh doanh có văn hóa.
3. ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN HÓA KINH DOANH Khóa luận: Văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp Mỹ
Nếu văn hóa là nền tảng tinh thần, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của một xã hội, một quốc gia thì VHKD chính là nền tảng tinh thần, là linh hồn cho hoạt động kinh doanh của một quốc gia.
Mỗi một doanh nghiệp đều có VHKD riêng, đặc trưng nhưng tựu chung lại, tất cả đều được hình thành trên nền tảng của văn hóa và chịu ảnh hưởng lớn từ văn hóa nói chung.Vì văn hóa kinh doanh là một bộ phận của văn hóa, là sản phẩm của nền văn hóa nên nó mang những đặc điểm của văn hóa nói chung đồng thời cũng mang những đặc điểm riêng của VHKD.
Đầu tiên, VHKD mang những đặc điểm của văn hóa. Đó là:
- Văn hóa tập quán
- Văn hóa cộng đồng
- Văn hóa dân tộc
- Văn hóa có thể học hỏi được
- Văn hóa mang tính chủ quan
- Văn hóa mang tính khách quan
- Văn hóa mang tính lịch sử
- Văn hóa mang tính kế thừa
- Văn hóa mang tính năng động
Ngoài ra, đặc điểm riêng của VHKD là:
VHKD xuất hiện cùng với sự xuất hiện của hàng hóa và thị trường.
Khi xã hội loài người xuất hiện thì văn hóa nói chung cũng xuất hiện, còn VHKD xuất hiện khi nền sản xuất kinh doanh đã tiến đến một mức độ phát triển nhất định. Khi đó, DN mới có đủ thời gian để kiểm chứng lại và xác định đúng đắn hơn con đường kinh doanh nào nên đi chứ không đơn thuần vì mục tiêu lợi nhuận như ban đầu.
VHKD mang tính chất quản trị.
Điều này thể hiện rõ qua các tập đoàn đa quốc gia. Dù ở đất nước nào trên thế giới họ vẫn mang theo một nền văn hóa của riêng mình, có từ lâu đời và nền văn hóa mà họ mang theo ít nhiều ảnh hưởng đến những nhân viên cùng làm việc và cùng chia sẻ với họ những giá trị tư tưởng chung.
VHKD chỉ được xem xét trên phạm vi hẹp với nhóm đối tượng cụ thể.
Phạm vi này chỉ có thể là thể nhận, pháp nhân, trong đó chủ yếu là VHKD của các công ty, tập đoàn và các doanh nghiệp.
VHKD của một quốc gia phù hợp với trình độ kinh doanh của quốc gia đó. một trình độ kinh doanh nhất định sẽ có một nền VHKD tương xứng, phù hợp với nó.
4. CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH NÊN VHKD Khóa luận: Văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp Mỹ
Xây dựng nền văn hóa kinh doanh là một việc làm có tính thực tế, mục tiêu cụ thể là nhằm làm cho toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh – yếu tố đóng vai trò quyết định đối với nền sản xuất của đất nước trở nên ngày càng mang tính văn hóa cao. Điều này thể hiện ở ba mặt: Văn hóa doanh nhân; Văn hóa thương trường và văn hóa doanh nghiệp. Ba mặt này chính là ba bộ phận hợp thành một nền văn hóa kinh doanh theo nghĩa toàn vẹn nhất.
Văn hóa doanh nhân: Văn hóa thể hiện ở đội ngũ những con người gồm cả cá nhân và tập thể tham gia sản xuất kinh doanh, chủ yếu thể hiện ở trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ và vốn tri thức tổng hợp. Văn hóa thể hiện ở kinh nghiệm thực tiễn, kỹ năng, năng lực tổ chức, đạo đức nghề nghiệp và ý thức công dân, …
Văn hóa thương trường: Văn hóa thể hiện trong cơ cấu tổ chức, hệ thống pháp chế, các chính sách chế độ, trong mọi hình thức hoạt động liên quan quá trình sản xuất kinh doanh, gồm cả sự cạnh tranh,… tất cả nhằm tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi, tốt đẹp.
Văn hóa doanh nghiệp: Đây là bộ phận có vai trò, vị trí quan trọng mang tính quyết định đến VHKD. DN là nơi tập hợp, phát huy mọi nguồn lực con người (đội ngũ doanh nhân các loại), là nơi làm gạch nối, nơi có thể tạo ra lực điều tiết, tác động tích cực hoặc tiêu cực đối với tất cả các yếu tố chủ quan, khách quan khác nhau nhằm góp phần hình thành nên một môi trường sản xuất kinh doanh phát triển theo một chiều hướng nào đó. VHDN chính là văn hóa tập trung và tỏa sáng trong các thiết kế, các đơn vị tổ chức sản xuất kinh doanh thể hiện qua những biểu trưng (symbol) chung thuộc về hình thức (logo, đồng phục…) cùng các yếu tố tạo nên thương hiệu của DN, qua năng lực, phẩm chất, trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh tạo ra chất lượng sản phẩm và những thành tích, truyền thống, qua phong cách giao tiếp, ứng xử thống nhất của toàn đơn vị (đối với nội bộ, đối với khách hàng) trong mọi quá trình sản xuất kinh doanh. Khóa luận: Văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp Mỹ
VHKD chia thành các “lớp” khác nhau. Các “lớp” này thể hiện mức độ có thể cảm nhận được của các giá trị văn hóa trong doanh nghiệp hay tính hữu hình của các giá trị văn hóa đó10.
Mô hình 1: Các lớp của văn hóa doanh nghiệp
Lớp ngoài cùng (3): Những biểu tượng và ngôn ngữ (Symbol and Language). Đây là cấp độ đơn giản và hữu hình nhất của VHDN. Lớp này bao gồm tất cả những hiện tượng và sự vật hữu hình mà bạn có thể nhìn:
- Kiến trúc, thiết kế nội thất
- Cơ cấu tổ chức
- Văn bản qui định nguyên tắc hoạt động
- Nghi lễ và lễ hội hàng năm
- Biểu tượng, logo, khẩu hiệu
- Ngôn ngữ, cách ăn mặc, xe cộ
- Giai thoại, huyền thoại về tổ chức
Đây là cấp dễ thấy nhất của VHKD, văn hóa doanh nghiệp là những “biểu tượng trực quan” và qua những gì hữu hình mà mọi người đều có thể thấy được, nó thể hiện những giá trị thầm kín hơn nằm sâu bên trong mà mỗi thành viên, những người hữu quan có thể cảm nhận được.
Ví dụ về một số khẩu hiệu của các doanh nghiệp:
Texas Instrument: “Nhân viên không chỉ thêm đôi bàn tay mà cả khối óc”
British Petroleum: “Liên tục phát triển”
British Airway: “Hãng hàng không cả thế giới yêu thích”
Lớp thứ hai (2): Những hành vi và thói quen (Behavios and Habits)
“Cách mà mọi người ở đây làm”
Những hành vi và thói quen của những người làm việc trong DN tạo nên lớp thứ hai của VHDN. Lớp này được miêu tả bằng câu nói: “đó là cách mà ở đây chúng tôi làm”. Về mặt khoa học xã hội lớp thứ hai này được gọi là “các quy tắc, tiêu chuẩn”. Tất cả những hành vi, thói quen cũng như mục tiêu mà các thành viên trong doanh nghiệp cùng hướng tới không phải hình thành một cách ngẫu nhiên hay qua thỏa thuận, mà nó được dẫn đạo bởi những nguyên tắc quản lý, những triết lý kinh doanh của doanh nghiệp đó. Những giá trị này thường được tuyên bố ra công chúng, được phổ biến rộng rãi cho mọi thành viên trong doanh nghiệp cũng như các bên đối tác. Lớp này còn được gọi là những giá trị được thể hiện vì nó được thể hiện qua từng hành vi, cách ứng xử của mỗi thành viên. Giá trị này gồm hai loại: loại thứ nhất là các giá trị tồn tại khách quan và hình thành tự phát, loại thứ hai là các giá trị mà lãnh đạo mong muốn và phải xây dựng từng bước.
Ví dụ như một doanh nghiệp muốn tất cả các nhân viên của mình khóac áo đồng phục khi làm việc. Ban đầu có thể sẽ có một số người phản đối. Lúc này các biện pháp khuyến khích, ép buộc được thực hiện một cách thích hợp sẽ giúp tạo ra một nề nếp (mặc dù có thể sẽ có đôi chút ép buộc). Theo thời gian, việc khoác áo đồng phục dần dần trở thành thói quen. Cho đến khi nó trở thành phản xạ tự nhiên và mọi người cảm thấy hãnh diện khi khoác áo đồng phục. Và các nhân viên mới vào DN cũng thấy ngay được việc khoác áo đồng phục là một hãnh diện, thể hiện mình là thành viên của doanh nghiệp.
Lớp trong cùng (1): Các ngầm định và giá trị cốt lõi của DN (Shared Underlying assumption – Core Values of Group).
Đây là lớp sâu nhất của VHDN. Các ngầm định và giá trị cốt lõi là phần sâu nhất trong VHDN. Nó chính là trục của bánh xe VHDN. Thường thì những ngầm định này ăn sâu đến mức những người trong DN khó có thể diễn tả thành lời và họ chỉ có thể giải thích nó bằng cách coi nó như một điều đương nhiên.
Các ngầm định và giá trị cốt lõi của DN có thể là niềm tin, nhận thức, suy nghĩ hay những tình cảm mặc nhiên có trong doanh nghiệp. Mặc dù nó không hề biểu lộ ra ngoài, bởi vậy nó còn được gọi là các ngầm định, nhưng nó chính là nền tảng cho các giá trị và hành động của mỗi thành viên. Để hình thành được các ngầm định này, các DN phải qua một quá trình trải nghiệm lâu dài, thế nhưng một khi nó đã hình thành thì nó thường rất khó thay đổi và ảnh hưởng rất lớn đến phong cách làm việc, quyết định, giao tiếp và đối xử. Và sự ảnh hưởng của các ngầm định còn lớn hơn rất nhiều so với sự ảnh hưởng của các giá trị được thể hiện11.
Ngoài cách tiếp cận trên đây, còn có rất những cách nhìn nhận, những quan điểm khách nhau về VHKD, VHDN.
“Nếu xem xét một cách chi tiết, thì văn hóa doanh nghiệp được thể hiện chính ở hai yếu tố: phong cách lãnh đạo của người quản lý và tác phong làm việc của nhân viên”12.
“Có thể hiểu: văn hóa doanh nghiệp là một dạng văn hóa tổ chức. Nó bao gồm: môi trường văn hóa bên trong và bên ngoài ta quen gọi là môi trường nhân văn.
Mục tiêu của môi trường nhân văn bên trong chính là các hành vi, cách ứng xử giữa chủ thể quản lý và khách thể (người bị quản lý) và giữa các thành viên với nhau. Thước đo của nó chính là tạo ra sự đồng thuận, nhất trí cao trong một doanh nghiệp đến độ mọi người đều có quan niệm: mọi thành đạt cũng như thất bại đều có mình đóng góp hoặc có lỗi (trách nhiệm).
Còn môi trường nhân văn bên ngoài chính là hành vi, cách ứng xử của chủ thể quản lý doanh nghiệp (giám đốc) đối với khách hàng, đối tác, đối thủ cạnh tranh, thị trường, luật pháp, môi trường và yếu tố văn hóa dân tộc. Với mỗi hành vi, cách ứng xử khác nhau sẽ có kết quả khác nhau. Khóa luận: Văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp Mỹ
Ngoài môi trường nhân văn, văn hóa doanh nghiệp còn bao gồm các thành tố: phong tục, tập quán, thói quen, tâm lý chung của doanh nghiệp, các huyền thoại, các truyền thuyết hoặc tín ngưỡng chung của doanh nghiệp, các triết lý, hệ tư tưởng chung của doanh nghiệp, hệ thống các giá trị về: chân, thiện, mỹ của doanh nghiệp”.
Môi trường nhân văn bên trong của DN sẽ tạo ra nguồn lực nội sinh của doanh nghiệp, tạo ra bản sắc của doanh nghiệp. Còn môi trường nhân văn bên ngoài của doanh nghiệp sẽ tạo ra hướng phát triển của doanh nghiệp.”
Những quan niệm, cách nhìn nhận tuy khác nhau nhưng cũng phần nào giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể và đa dạng hơn về những yếu tố cấu thành nên VHKD của một doanh nghiệp.
Phong cách lãnh đạo – một yếu tố quyết định đến VHKD của doanh nghiệp.
Phong cách lãnh đạo là một yếu tố quan trọng trong những yếu tố làm nên sự thành công trong làm ăn của DN. Có những nhà lãnh đạo đã tạo nên một nền VHKD mạnh mẽ và cũng có những nhà lãnh đạo có khả năng thay đổi hẳn văn hóa của doanh nghiệp và tạo ra sức sống mới, tạo bước nhảy vọt trong hoạt động của DN.
Stew Leonard là một ví dụ, ông điều hành một siêu thị gần ba cửa hàng và rất có lời nói rằng ông thấy 50 nghìn đô-la bay ra khỏi cửa hàng của mình mỗi khi ông nhìn thấy một khách hàng giận dỗi. Mỗi một khách hàng trung bình của ông chi tiêu khoảng 100 đô-la/tuần, đi mua sắm 50 tuần/năm và còn tiếp tục mua hàng ở chỗ ông trong vòng 10 năm. Nếu khách hàng này có một trải nghiệm không vui và chuyển sang mua ở một siêu thị khác thì siêu thị Stew Leonard mất doanh thu 50 nghìn đô-la. Khoản mất mát này có thể lớn hơn nhiều nếu khách hàng thất vọng này kể cho những khách hàng khác về ấn tượng xấu của mình và làm họ bỏ đi. Vì vậy, để làm cho khách hàng của mình quay trở lại, Stew Leonard’s đã tạo ra những gì mà thời báo New York đặt biệt danh là “Disneyland của các cửa hàng bơ sữa”, hoàn chỉnh với các nhân vật có mặc trang phục, những buổi giải trí theo lịch biểu, một vườn thú kiểng, và công nghệ sử dụng hệ thống điện tử để vận hành các con rối khắp cửa hàng. Từ những cửa hàng bơ sữa nhỏ, Stew Leonard’s đã tăng trưởng với tốc độ kinh hoàng, xây dựng thêm 29 phần mở rộng vào cửa hàng ban đầu, mà hiện nay phục vụ trên 250.000 khách hàng mỗi tuần. Đông đảo những người đi mua sắm trung thành này phần lớn là kết quả của cách tiếp cận nhiệt tình đối với dịch vụ khách hàng của cửa hàng14.
Stew Leonard nổi tiếng với “tìm mọi cách làm hài lòng khách hàng”.
Đây là một bản sắc văn hóa mạnh với hai phương châm:
Thứ nhất, khách hàng không đến với chúng ta để hỏi: hôm nay tôi có thể làm gì cho ngài, Stew Leonard? Mà chính chúng ta phải đến với họ và hỏi họ xem chúng ta có thể làm gì cho họ.
Thứ hai, ông đưa ra 2 qui tắc ở Stew Leonard’s. Điều 1: Khách hàng luôn đúng. Và điều 2: Nếu lúc nào đó khách hàng sai, thì hãy đọc lại điều một.
Hay một ví dụ khác về phong cách lãnh đạo. Tổng giám đốc mới của Ford – Alan Mulally đã thay đổi cả VHKD trăm năm của Ford Motor Co. Mulally đã mang lại không khí làm việc và ý thức tổ chức kỷ luật hoàn toàn mới mẻ, qua đó làm thay đổi bộ mặt và diện mạo của Ford cũng như văn hóa kinh doanh tại đây. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là văn hóa lâu đời của Ford bị thay đổi mà nó được cải tiến và tiến bộ hơn dưới thời của Alan Mulally. Alan Mulally là một người biết hoạt động theo nhóm, một nhà lãnh đạo biết truyền cảm hứng đồng thời ông còn được coi là kiến trúc sư của các kiến trúc sư bởi ông dựa chủ yếu vào các thông số để đưa ra quyết định.
Chương trình giảng dạy kinh tế Full Bright niên khóa 2006-2007, Tiếp thị địa phương (bài đọc), 21
Chính chủ tịch Ford Motor Co., Bill Ford Jr, đã khẳng định rằng Alan Mulally là một bậc anh hùng.
Như vậy, nhà lãnh đạo có thể tạo ra, củng cố cũng như thay đổi hay hòa nhập các giá trị và triết lý văn hóa cá nhân vào VHDN. Vai trò, năng lực của người lãnh đạo càng lớn thì ảnh hưởng của họ đối với việc hình thành và củng cố bản sắc VHDN càng mạnh.
5. VAI TRÒ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA KINH DOANH Khóa luận: Văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp Mỹ
5.1 Ảnh hưởng của VHKD
VHKD có ảnh hưởng đến sự phát triển thương mại.
Như em đã trình bày ở trên, văn hóa và kinh doanh là hai lĩnh vực có tác động qua lại với nhau. Văn hóa bao giờ cũng là động lực phát triển cho kinh tế, đồng thời kinh tế phát triển cũng tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của văn hóa. Văn hóa và phát triển kinh tế luôn đi song hành cùng nhau, không thể có văn hóa suy đồi mà kinh tế phát triển với nhau. VHKD là một bộ phận của văn hóa nên cũng không đứng ngoài mối quan hệ ấy.
Văn hóa và kinh doanh có sự tác động biện chứng với nhau. Kinh doanh phải đảm bảo được nhu cầu sống tối thiểu của con người, sau đó mới đảm bảo điều kiện cho văn hóa phát triển. Kinh tế không chỉ phát triển nếu không có một nền tảng văn hóa, đồng thời văn hó không chỉ phản ánh kinh tế mà còn là nhân tố tác động đến sự phát triển kinh tế. Với mối quan hệ đó, sự phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc chỉ có thể năng động, hiệu quả, có tốc độ cao, chừng nào mà quốc gia đó đạt được sự phát triển kết hợp hài hòa giữa văn hóa và kinh doanh.
Bản thân hoạt động kinh doanh dưới mọi hình thức là một hoạt động văn hóa, bởi nó đáp ứng nhu cầu hưởng thụ hay thưởng thức của con người, làm đẹp mối quan hệ giữa người với người và môi trường sống của nó. Yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, ngày càng nhiều về số lượng của người tiêu dùng đã kích thích sáng tạo vô biên, sự cố gắng không mệt mỏi của các thành viên tham gia hoạt động kinh doanh.
Văn hóa kinh doanh ảnh hưởng đến đàm phán thương mại.
Việc hiểu biết chung về nét đặc trưng của VHKD của từng quốc gia nói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng là vô cùng quan trọng. Việc hiểu biết về VHKD sẽ bước đầu giúp cho việc đàm phán hay ký kết hợp đồng thương mại được thuận lợi, dễ dàng hơn, đặc biệt khi đàm phán với những DN nước ngoài. Hơn nữa, hiểu biết VHKD và biết cách giao tiếp với đối tác giúp DN chủ động trên bàn đàm phán, giúp cuộc đàm phán đi đến thành công và từ đó thiết lập được mối quan hệ làm ăn với đối tác, đạt được kết quả ngoài mong đợi.
Trong đàm phán, yếu tố thời gian đóng một vai trò chủ đạo. Tuy nhiên, đối với các nền văn hóa khác nhau thì ý nghĩa cũng như tầm quan trọng của thời gian cũng khác nhau. Ở những nước phương Tây thì “thời gian là tiền bạc”, còn những nước Châu Á, Châu Mỹ – Latin hay Châu Phi thì thời gian không có giá trị đến như vậy. Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến tốc độ đàm phán và thời gian bắt đầu các cuộc gặp mặt.
Ngoài yếu tố thời gian thì yếu tố ngôn ngữ cũng là một trong những yếu tố cần chú trọng khi các DN tham gia đàm phán. Hiểu biết ngôn ngữ và biết được cách sử dụng thành thạo ngôn ngữ là một lợi thế lớn khi giao tiếp với các doanh nhân nước ngoài. Một số ngôn ngữ có truyền thống là mập mờ đặc biệt là ngôn ngữ của các nước Châu Á, người khác khó mà có thể hiểu hết được ẩn ý. Trong một số nền văn hóa ngay cả “Vâng” cũng có nghĩa là “có thể” hoặc là “không”. Một số ngôn ngữ Châu Á thường chứa đựng những ẩn dụ, bóng gió có thể gây hiểu nhầm cho những người phương Tây. Không hiểu được ngôn ngữ chính là rào cản lớn nhất trong việc giao dịch cũng như đàm phán với các DN nước ngoài.
Văn hóa kinh doanh ảnh hưởng đến tâm lý tiêu dùng
Văn hóa chính là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng tiêu dùng trong xã hội. Nền văn hóa phương Đông đề cao gia đình tập thể đến xu hướng tiết kiệm cho những nhu cầu như nhà cửa, đất đai, trái ngược lại nền văn hóa phương Tây đề cao chủ nghĩa cá nhân nên xu hướng tiêu thụ cho nhu cầu cá nhân phát triển mạnh. Do đó, VHKD mô tả phong cách mà con người những quốc gia khác nhau thỏa mãn nhu cầu của họ. VHKD khác nhau, cầu tiêu dùng khác nhau.
Đối với mỗi DN, khách hàng là mục tiêu đồng thời là điều kiện để DN tồn tại. Mục tiêu của DN là đưa sản phẩm đến với khách hàng. Nhưng làm sao để khách hàng tiếp nhận sản phẩm của mình mới là vấn đề cần DN nỗ lực. Bởi vậy, không phải tự nhiên mà nghiên cứu khách hàng lại trở thành khâu quan trọng nhất trong nghiên cứu thị trường. ở mỗi nền văn hóa khác nhau thì tâm lý tiêu dùng của khách hàng khác nhau. Để dẫn đến hành vi mua hàng của người tiêu dùng, rất nhiều yếu tố cần dùng đến. Quan niệm của người tiêu dùng ở mỗi nơi khác nhau nên có sự tiêu thụ được ở nước này nhưng lại không bán được ở nước khác. Khi thực hiện bốn khâu trong qui trình Marketing 4P, DN cần chú ý đến tâm lý tiêu dùng của khách hàng. Khóa luận: Văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp Mỹ
Product – Sản phẩm: Một sản phẩm muốn được chấp nhận trên một thị trường thì phải đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng trên thị trường đó. Ví dụ, các sản phẩm mỹ phẩm dành cho phái đẹp khi thâm nhập vào thị trường Việt Nam thường có thêm tác dụng làm trắng da vì Việt Nam là quốc gia Á Châu nên các chị em phụ nữ thường ưa thích làn da trắng, mịn màng. Hay khi thâm nhập vào thị trường Mexico, bánh hamberger của Mc Donald đã phải thay thế nước sốt cà chua bằng tương ớt cho phù hợp với khẩu vị của người dân ở đấy.
Place – Địa điểm: Tập quán mua sắm của người dân ở các nước là khác nhau. ở các nước phương Tây, người dân thường mua sắm ở các siêu thị lớn, họ thường đi mua sắm vào dịp cuối tuần và mua với khối lượng hàng hóa lớn. Trong khi ở Việt Nam và một vài các quốc gia Châu á khác, người dân thích mua sắm ở chợ gần nhà, họ đi chợ hàng ngày để thức ăn vừa tươi và vừa ngon.
Price – Giá cả: Giá cả cũng là một yếu tố quan trọng tác động đến tâm lý tiêu dùng. Người Việt Nam thường thích hàng hóa có giá rẻ còn đối với người Nhật, giá cả không phải là vấn đề tác động tới quyết định mua hàng của họ. Người Nhật Bản quan niệm rằng giá cao đồng nghĩa với hàng hóa có chất lượng tốt, có thương hiệu nổi tiếng. Trong khi đó, giá thấp thường hàm ý hàng hóa kém chất lượng.
Promotion – Xúc tiến: Để xúc tiến hàng hóa đến quảng cáo là một khâu quan trọng nhất. Tuy nhiên, đây cũng là khâu dễ gặp thất bại nhất nếu không tìm hiểu kỹ lướng về văn hóa tiêu dùng của người dân khi thâm nhập thị trường. Một quảng cáo có thể gây thích thú đối với thị trường này, nhóm người này nhưng cũng có thể gây phản cảm đối với thị trường khác, nhóm người khác.
Việc nghiên cứu tâm lý tiêu dùng của khách hàng là một nhân tố quan trọng giúp DN thành công. Nếu không chú ý đến điều này DN có thể gặp phải những thất bại to lớn.
Văn hóa kinh doanh ảnh hưởng đến hành vi của doanh nhân
VHKD của mỗi quốc gia khác nhau cũng sẽ ảnh hưởng đến tư duy, tình cảm, nhận thức của doanh nhân, từ đó cũng ảnh hưởng đến hành vi của doanh nhân. Trong nền kinh tế thị trường như hiện nay, không ít DN có những hành không đẹp nhằm tăng thêm lợi nhuận cao cho mình và gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước cũng như ảnh hưởng đến người tiêu dùng như trốn thuế, buôn lậu, cạnh tranh không lành mạnh, sản xuất hàng giả, hàng kém chất lượng…Đó là cách kiếm lời biểu hiện một lối kinh doanh tồi tệ, thiếu văn hóa, vô đạo đức. Bản chất của VHKD là làm cho cái lợi gắn chặt chẽ với cái đúng, cái đẹp. Nếu những nhà kinh doanh không vì lợi ích trứớc mắt, ý thức được trách nhiệm về việc mình làm, lấy việc phục vụ lợi ích con người là mục tiêu cao cả thì việc khắc phục tình trạng kinh doanh thiếu văn hóa là vấn đề không đáng lo ngại.
5.2. Vai trò của VHKD
VHKD có ảnh hưởng lớn đến hoạt động thương mại, kết quả đàm phán và hành vi của doanh nhân cũng như ảnh hưởng đến thói quen tiêu dùng. Qua đó thấy được vai trò to lớn của VHKD trong hoạt động kinh doanh.
5.2.1. Văn hóa kinh doanh là nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh Khóa luận: Văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp Mỹ
5.2.1.1. Văn hóa kinh doanh tạo nên phong thái của doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp có những yếu tố đặc trưng, đặc thù của riêng nó và phong thái của doanh nghiệp cũng vậy. Không doanh nghiệp nào giống doanh nghiệp nào, do vậy phong thái kinh doanh giúp phân biệt doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác.
VHKD của một doanh nghiệp là một hệ thống những ý nghĩa, giá trị , niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của một tổ chức cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của các nhân viên. Văn hóa doanh nghiệp biểu thị sự thống nhất trong nhận thức của tất cả các thành viên tổ chức về hệ thống những giá trị chung và có tác dụng giúp phân biệt giữa tổ chức này với một tổ chức khác. Chúng được mọi thành viên trong tổ chức chấp thuận, có ảnh hưởng trực tiếp, hàng ngày đến hành động và việc ra quyết định của từng người và chúng được hướng dẫn cho những thành viên mới để tôn trọng và làm theo. Chính vì vậy mà chúng còn được gọi là bản sắc văn hóa của một tổ chức15.
Văn hóa doanh nghiệp tạo nên phong thái của doanh nghiệp cũng như tính cách của con người. Do đó, cũng có thể nói rằng “văn hóa doanh nghiệp là tính cách của doanh nghiệp”16. Bởi vậy, không có khó khăn gì trong việc nhận ra phong cách của một doanh nghiệp chỉ đơn giản là qua bộ quần áo đồng phục hay qua bầu không khí bên trong doanh nghiệp đó…
5.2.1.2. Văn hóa doanh nghiệp tạo nên lực hướng tâm chung cho doanh nghiệp
Văn hóa kinh doanh trong doanh nghiệp mà tốt và vững mạnh sẽ giúp doanh nghiệp thu hút nhân tài và củng cố lòng trung thành của nhân viên đối với doanh nghiệp
Con người lao động không chỉ vì tiền mà còn vì những nhu cầu khác nữa. Trong “Học thuyết về động cơ và những nhân tố vật chất”, Frederick Herzberg đã đưa ra hai hệ thống các nhân tố có ảnh hưởng tới thái độ làm việc của người lao động. Những nhân tố như: chính sách của công ty, sự giám sát, mối quan hệ giữa các cá nhân, điều kiện làm việc và mức lương là những nhân tố vật chất chứ không phải động cơ. Việc thiếu đi những nhân tố vật chất có thể gây ra tâm lý bất mãn đối với công việc nhưng bản thân chúng cũng không có khả năng thúc đẩy hoặc tạo ra sự hài lòng.
Ngược lại, những động cơ chính là các nhân tố làm phong phú và đa dạng hóa công việc của một con người, trong đó có năm nhân tố tác động mạnh mẽ đến sự hài lòng trong công việc của người lao động: thành tích, sự ghi nhận, bản thân công việc, trách nhiệm và sự tiến bộ. Những động lực này được gắn với những ảnh hưởng tích cực mang tính dài hạn đối với công việc trong khi đó, những nhân tố vật chất thường chỉ tạo ra được những thay đổi mang tính ngắn hạn trong thái độ và cách thức làm việc của người lao động.
Nếu một doanh nghiệp nghĩ rằng chỉ cần thu hút và duy trì nhân tài trong công ty của mình bằng cách trả lương thật cao thì điều đó là một sai lầm. Nhân viên chỉ trung thành và gắn bó lâu dài khi họ thấy hứng thú khi được làm việc trong môi trường doanh nghiệp, cảm nhận được bầu không khí thân thuộc trong doanh nghiệp và có khả năng tự khẳng định mình để thăng tiến. Trong một nền VHDN tích cực, các thành viên nhận thức rõ ràng về vai trò của bản thân trong toàn bộ tổng thể, họ làm việc vì mục đích và mục tiêu chung.
Khi doanh nghiệp xây dựng được môi trường sống lành mạnh thì bản thân người lao động cũng muốn đến công ty, họ coi môi trường làm việc cũng chính là môi trường sống của mình, dù chỉ một ngày xa họ cũng đã thấy nhớ, thấy thiếu thiếu một điều gì đó trong cuộc sống của họ. Cái mà họ thiếu không đơn thuần chỉ là tiền lương kiếm được mà quan trọng hơn đó là giá trị tinh thần mà chỉ đến công ty họ mới có được. Đây chính là một trong những động lực củng cố lòng trung thành của nhân viên đối với doanh nghiệp.
Văn hóa doanh nghiệp khích lệ quá trình đổi mới và sáng chế
Ông Hermawan Kartajaya, chủ tịch Hiệp hội Marketing thế giới đã nói rằng: “ý tưởng không chỉ từ lãnh đạo, mà là của tất cả mọi người trong công ty. Vì vậy, người lãnh đạo công ty cần phải tạo ra một không khí hào hứng để mỗi nhân viên phát huy tính tự do sáng tạo”. Đây chính là yếu tố văn hóa doanh nghiệp.
5.2.2. Văn hóa doanh nghiệp “tiêu cực” là yếu tố kìm hãm sự phát triển Khóa luận: Văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp Mỹ
Văn hóa kinh doanh của một doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ các quy tắc ứng xử, cách nghĩ, chuẩn mực, đường lối kinh doanh… có tác dụng đặt dấu ấn tới hành vi, thái độ, niềm tin và quan hệ của các thành viên, cao hơn nữa là hình ảnh của một DN trên thương trường.
Thực tế đã cho thấy rằng hầu hết các DN thành công trên thương trường đều là những doanh nghiệp có nền văn hóa mạnh, ở đó họ tập hợp cá “niềm tin dẫn đạo”, có cùng mục tiêu và cùng phấn đấu vì một niềm tự hào về doanh nghiệp mình. Còn những doanh nghiệp không có được tập hợp nhiềm tin nhất quán nào đó, hoặc có thể là họ có mục tiêu rõ ràng nhưng nó chỉ nằm trạng thái của những khẩu hiệu đơn thuần, không trở thành tinh thần của doanh nghiệp, thì thường không thành công, không thể tồn tại được lâu dài. Có thể nói khái quát rằng, sự thất bại hay yếu kém của các doanh nghiệp đó đều do họ có nền văn hóa kinh doanh “tiêu cực”.
Một doanh nghiệp không thể tồn tại, hoặc hình ảnh của doanh nghiệp đó chắc sẽ bị méo mó đi khi mà các thành viên trong doanh nghiệp luôn lo sợ bị đuổi việc, không phát huy được hết năng lực của mình, không có cơ hội để trau dồi kiến thức và năng lực… hoặc doanh nghiệp đó luôn không thực hiện đúng các nội dung trong hợp đồng kinh tế và nghiêm trọng hơn nữa là không giữ uy tín với người tiêu dùng thông qua việc không thực hiện chu đáo các dịch vụ mua hàng khiến cho khách hàng cảm thấy mình như bị lừa. Đây chính là biểu hiện cơ bản nhất của một nền văn hóa doanh nghiệp tiêu cực và chính những yếu tố này, không những kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp mà còn có thể gây ra sự sụp đổ của doanh nghiệp đó.
Một điều chắc chắn mà ai trong chúng ta cũng có thể nhận ra rằng cùng một người nhưng nếu làm việc trong môi trường văn hóa lành mạnh thì sẽ tạo nên một tinh thần hăng say, một tình cảm tự hào về công việc của mình cũng như doanh nghiệp của mình, nhưng cũng người nhân viên đó làm việc trong môi trường văn hóa tiêu cực thì dần trở nên thụ động, đối phó, chây ì, không có ý chí cũng như trách nhiệm với công việc và cống hiến. Doanh nghiệp – nơi một người có thể dành 1/3 thậm chí 1/2 quĩ thời gian của mình trong ngày sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống của chính người đó. Một môi trường văn hóa tiêu cực không lành mạnh không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển, sự tồn vong của doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến chính những con người trong doanh nghiệp đó.
6. TÍNH CHẤT MẠNH – YẾU CỦA DOANH NGHIỆP Khóa luận: Văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp Mỹ
Mỗi doanh nghiệp đều có những nét văn hóa đặc trưng, và văn hóa ấy có ảnh hưởng lớn và tác động đến sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, mỗi một nền VH khác nhau sẽ khác nhau về sức mạnh tương đối của chúng. Từ sự tác động của văn hóa kinh doanh, có thể chia VHKD của doanh nghiệp ra làm hai loại: văn hóa kinh doanh mạnh và văn hóa kinh doanh yếu.
Mặc dù mỗi tổ chức đều có văn hóa riêng, nhưng không phải nền văn hóa nào cũng có tác động như nhau đối với ứng xử và hành động của nhân viên. Văn hóa mạnh tồn tại ở tổ chức có những giá trị cốt lõi được phát huy mạnh mẽ và chia sẻ rộng rãi. Ở những doanh nghiệp có đặc trưng văn hóa mạnh luôn có sự thống nhất về những gì được coi là quan trọng, về thế nào là hành vi đúng đắn. Điều này khiến cho nhân viên gắn bó và trung thành với tổ chức hơn.
Văn hóa mạnh ổn định và khó thay đổi, điều này thể hiện vai trò của VHDN. Trong khi đó, văn hóa yếu dễ thay đổi và dễ tan rã. Trong một tổ chức có nền văn hóa yếu thì khó có sự gắn kết, khó tồn tại cũng như không thể hiện được vai trò của VHDN. Văn hóa mạnh có tầm ảnh hưởng đến nhân viên mạnh hơn văn hóa yếu. Nếu như ngày càng nhiều nhân viên chấp nhận giá trị cốt lõi của tổ chức và sự cam kết của họ với những giá trị đó thì văn hóa của tổ chức càng mạnh.
Có rất nhiều yếu tố có thể tác động đến tính chất mạnh – yếu của văn hóa kinh doanh. Trong đó, điển hình nhất có thể nói đến các yếu tố như là: quy mô tổ chức, tuổi đời doanh nghiệp, số lượng các thế hệ thành viên chủ chốt, cường độ các hoạt động mang tính chất văn hóa của tổ chức… Và cũng có nhiều chỉ tiêu để đánh giá, nhìn nhận một nền văn hóa có mạnh hay không? Đó là:
Kết quả lao động cao
Xu thế ổn định của các đặc trưng văn hóa trước tác động của thời gian, của áp lực từ môi trường bên trong và bên ngoài
Hai phương pháp được các nhà nghiên cứu áp dụng để có thể đánh giá được sức mạnh của văn hóa kinh doanh là: Phương pháp “xác minh biểu trưng của văn hóa kinh doanh” và phương pháp “xác minh tính đồng thuận/ mức độ ảnh hưởng của văn hóa kinh doanh”. Đây là hai phương pháp được xác định bằng phương pháp định lượng. Khóa luận: Văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp Mỹ
Phương pháp “xác minh biểu trưng của văn hóa kinh doanh” (artefactual approach)
Về nguyên tắc, phương pháp này đánh giá tính chất mạnh – yếu của VHKD của doanh nghiệp bằng cách đặt ra bảng câu hỏi dưới dạng phiếu điều tra (questionaire) hoặc đề cương phỏng vấn (interview)… về “sự tồn tại”, “hiệu lực”, “tính nhất quán” của những biểu trưng của doanh nghiệp. Đối tượng cần xác minh là những dấu hiệu như ngôn ngữ, hình ảnh, biểu tượng, phong tục, triết lý, biện pháp, hệ thống…là những đặc trưng văn hóa được mong muốn của một doanh nghiệp và cũng là phương tiện hướng dẫn hành động cho mọi thành viên. Mục đích của việc xác minh là nhằm đánh giá tính toàn diện, tác dụng đối với thành viên tổ chức (hay nhận thức của các thành viên về sự tồn tại và ý nghĩa của chúng), sự thống nhất giữa chúng…
Phương pháp “xác minh tính đồng thuận/ mức độ ảnh hưởng của văn hóa kinh doanh” (consensus/ intensity approach)
Tinh thần của phương pháp này là đánh giá dựa trên quan điểm cho rằng VHKD, VHDN luôn có tác động lớn đối với nhận thức và hành vi của các cá nhân trong doanh nghiệp đó. Phương pháp này đánh giá mức độ mạnh – yếu dựa trên mối quan hệ giữa mức độ đồng thuận giữa các thành viên và mức độ ảnh hưởng của họ về các đặc trưng của VHKD. Trong phương pháp này, mức độ đồng thuận là sự nhất trí đối với “lý tưởng”, “niềm tin”, “giá trị chủ đạo” của doanh nghiệp và “thái độ” của thành viên. Mức độ đồng thuận thể hiện trên cả chiều rộng (phạm vi đối tượng tác động) và chiều sâu (sự cảm nhận, rung cảm, sức thuyết phục và sự ảnh hưởng đến hành vi…).
Mô hình 2: Văn hóa kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp khác nhau theo phương pháp “Xác minh tính đồng thuận/mức độ ảnh hưởng” (Payne, 1990)
Phạm vi đối tượng bị tác động càng lớn thì tính chất khác biệt giữa các đối tượng càng nhiều, mức độ ảnh hưởng càng mạnh. Ảnh hưởng của VHKD sẽ là “rất mạnh” nếu tạo được lý tưởng về sự khao khát cống hiến như những người truyền giáo, đội đặc nhiệm là ví dụ; là “tương đối mạnh” nếu tạo cho nhân viên niềm tin, và hiểu được những giá trị chủ đạo cần tôn trọng điều này thể hiện ở các công ty của Nhật hay công ty IBM; và được coi là “yếu” nếu chỉ có tác dụng ở mức làm thay đổi thái độ của họ như trong các hãng sản xuất đại trà hay các siêu thị. Cách biểu diễn trực quan các kết quả phân tích bằng sơ đồ dễ dàng chỉ ra những đặc điểm riêng của văn hóa doanh nghiệp của các tổ chức khác nhau.
Như vậy, văn hóa kinh doanh hay văn hóa doanh nghiệp có vai trò cũng như ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành, tồn tại, và phát triển của doanh nghiệp. Văn hóa càng mạnh càng khiến cho doanh nghiệp ổn định, khó thay đổi trước những bất lợi của môi trường còn văn hóa yếu rất dễ bị tan rã, khó có sự gắn kết giữa các thành viên trong một công ty. Văn hóa doanh nghiệp là nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh, tạo nên phong thái của doanh nghiệp cũng như tạo nên lực hướng tâm chung cho doanh nghiệp. Ngược lại, văn hóa tiêu cực là yếu tố kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp. Do vậy, mỗi doanh nghiệp cần xây dựng cho mình một nền văn hóa vững mạnh và tích cực để tạo đà cho sự phát triển của chính doanh nghiệp mình. Khóa luận: Văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp Mỹ
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Biện pháp phát triển văn hóa các doanh nghiệp Mỹ