Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng xuất nhập khẩu khẩu da giầy tại VN hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Xuất khẩu hàng da giầy Việt Nam thực hiện mục tiêu phát triển bền vững (2023) dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
II. ĐÓNG GÓP CỦA XUẤT KHẨU DA GIẦY ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ
1. Đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu cả nước
Từ năm 2001 trở lại đây, ngành công nghiệp da giầy đã có những bước phát triển khá ấn tượng và là ngành đạt vị trí thứ ba về kim ngạch xuất khẩu, chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Bảng 4 mô tả đóng góp của xuất khẩu da giầy vào tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước theo trị giá và tỷ lệ phần trăm bên cạnh ngành dệt may.
Bảng 4: Kim ngạch và tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước của hai ngành da giầy và dệt may giai đoạn 2001-2023
Số liệu trong bảng trên cho thấy, trong 10 năm qua, tỷ trọng của hàng da giầy trung bình chiếm khoảng 9.36% trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, qua đó đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế thâm hụt cán cân thương mại, ổn định kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, là ngành có định hướng xuất khẩu rõ rệt, xuất khẩu da giầy vẫn chưa ổn định, tỷ trọng trong kim ngạch xuất khẩu có xu hướng giảm trong một thời gian dài. Khóa luận: Thực trạng xuất nhập khẩu khẩu da giầy tại VN
Biểu đồ 8: Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước của hai ngành da giầy và dệt may giai đoạn 2001-2023
Có thể thấy, từ năm 2017 đến năm 2023, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu da giầy giảm trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước mà không có dấu hiệu phục hồi. Trong khi đó, ngành dệt may đã có tỷ lệ đóng góp vào tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước không chỉ lớn hơn ngành da giầy mà đã từng bước vượt qua những giai đoạn khó khăn chung của cả nước, đặc biệt là trong năm 2023. Mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của cơn bão suy thoái kinh tế toàn cầu, xuất khẩu của ngành dệt may năm 2023 đạt 9.065 tỷ USD vượt lên vị trí hàng đầu, đóng góp 15.85% vào tổng kim ngạch xuất khẩu. Về phía ngành da giầy xuất khẩu, tỷ lệ đóng góp giảm trong một thời gian dài, và đến năm 2023 chỉ còn chiếm 7.12% trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước – mức thấp nhất từ trước đến nay. Dệt may và da giầy cùng là hai ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và hiện nay mới tập trung trong công đoạn gia công và chủ yếu dựa vào lao động giản đơn, tuy nhiên, có thể kể ra một số điểm khác biệt giữa hai ngành để lý giải tại sao da giầy lại có mức sụt giảm kim ngạch nhiều hơn như sau.
Thứ nhất, ngành da giầy đang chịu cản trở khá lớn từ việc liên minh châu Âu áp thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm giày mũ da xuất sang thị trường này trong khi chủng loại giầy mũ da chiếm gần 40% tổng sản phẩm giầy dép Việt Nam xuất sang EU. Năm 2023 cũng là năm đầu tiên EU quyết định cắt bỏ chế độ ưu đãi thuế quan (GSP) đối với toàn bộ sản phẩm da giầy nhập khẩu từ Việt Nam.
Cũng cần nói thêm, nếu thị trường chính của dệt may là Mỹ với tỷ trọng hơn 55% thì EU lại là thị trường chính của ngành da giầy, với tỷ trọng hơn 53% (Diệp Thành Kiệt 2023). Do vậy, những cản trở nêu trên đã khiến lượng sản phẩm da giầy xuất sang EU sụt giảm mạnh, kéo theo sự sụt giảm của cả ngành.
Thứ hai, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong ngành da giầy là gần 53%. Trong khi đó ở ngành dệt may, tỷ trọng xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI là dưới 40% (Diệp Thành Kiệt 2023). Khi khủng hoảng diễn ra, khối doanh nghiệp FDI phải chịu ảnh hưởng nặng nề hơn, do đó, tác động đến kim ngạch xuất khẩu chung của cả ngành.
Thứ ba, một nguyên nhân khác là sản phẩm da giầy khi xuất khẩu thường cồng kềnh và không dễ nén như hàng dệt may. Do đó, khi chi phí vận chuyển tăng, mức tăng đơn giá vận chuyển một đôi giầy hoặc dép sẽ nhanh hơn so với sản phẩm dệt may.
Thứ tư, năm 2023, tổng kim ngạch nhập khẩu phục vụ hàng dệt may xuất khẩu là khoảng hơn 5 tỷ USD, so với hơn 9 tỷ USD của kim ngạch xuất khẩu, ngành dệt may Việt Nam đã “xuất siêu” khoảng 4 tỷ USD, đóng góp một phần không nhỏ trong việc giảm “nhập siêu” của Việt Nam; tăng tỷ lệ nội địa hóa của hàng dệt may Việt Nam lên 44% so với mức 38% của năm 2022 (Lê Quốc Ân 2010). Trong khi đó, ngành da giầy vẫn không chủ động được nguyên phụ liệu, các doanh nghiệp chủ yếu đều phải làm gia công cho đối tác nước ngoài, năng lực thiết kế, cán bộ kỹ thuật có trình độ cao còn thiếu…
Như vậy, bên cạnh những đóng góp rất đáng được kể tới, hoạt động xuất khẩu da giầy vẫn còn tiềm ẩn nhiều vấn đề mà nếu không khắc phục được thì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cũng như tỷ lệ đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu cả nước không thể ở mức cao và ổn định được.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2. Sự cân đối trong xuất khẩu và nhập khẩu da giầy Khóa luận: Thực trạng xuất nhập khẩu khẩu da giầy tại VN
Ngành da giầy Việt Nam trong những năm qua đã và đang không ngừng khẳng định quan điểm hướng về xuất khẩu theo đường lối chung của Đảng, với mục tiêu chính là tăng trưởng với nhịp độ nhanh, tạo công ăn việc làm cho xã hội, đẩy mạnh xuất khẩu để tăng tích lũy, góp phần thực hiện công nghiệp hóa đất nước. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra cho ngành da giầy Việt Nam hiện nay là các doanh nghiệp da giầy Việt Nam mới chỉ tập trung hướng đến thị trường xuất khẩu mà bỏ ngỏ thị trường trong nước.
Biểu đồ 9: Kim ngạch nhập khẩu giầy dép và tổng giá trị tiêu thụ giầy dép cả nước giai đoạn 2019-2023
Biểu đồ 9 cho thấy kim ngạch nhập khẩu giầy dép chiếm trên 50% tổng giá trị tiêu thụ giầy dép của Việt Nam. Tức là, các doanh nghiệp da giầy Việt Nam mới đáp ứng được gần một nửa thị phần nội địa. Nửa còn lại phải thông qua con đường nhập khẩu, thậm chí là nhập lậu mà chủ yếu là giầy dép Trung Quốc, Thái Lan và một số nước láng giềng.
Chiến lược phát triển của ngành đến năm 2010 cũng đã nêu rõ: “hướng ra xuất khẩu và thay thế nhập khẩu, thu hút ngoại tệ, tự cân đối các điều kiện để sản xuất và phát triển, đồng thời coi trọng thị trường nội địa làm cơ sở cho sự phát triển bền vững ở giai đoạn sau” (Hiệp hội Da – Giầy Việt Nam 2019). Tuy nhiên, trong thực tế, ngành da giầy Việt Nam vẫn chưa thực sự coi thị trường nội địa làm nòng cốt, tiền đề cho sự phát triển của ngành. Dù cho tốc độ tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu của ngành có cao, đem lại nguồn thu ngoại tệ ngày một lớn cho đất nước nhưng ngay tại thị trường trong nước, nếu không đáp ứng được kịp thời, đầy đủ cả về số lượng và chất lượng so với hàng ngoại nhập thì da giầy Việt Nam khó có thể có sự phát triển bền vững được.
Hơn nữa, việc lệ thuộc quá nhiều vào thị trường thế giới trong khi thị trường nội địa không được quan tâm đúng mức cũng tiềm ẩn những vấn đề bất ổn. Ví dụ, năm 2023, gặp phải những khó khăn về xuất khẩu do thị trường thế giới bị thu hẹp, các doanh nghiệp da giầy cũng đã chuyển hướng tiếp cận thị trường nội địa. Nhưng để có được chỗ đứng trên sân nhà không đơn giản. Thời gian qua, do phải chạy theo các đơn hàng xuất khẩu, sản phẩm nhập ngoại của Trung Quốc, Ma-lai-xi-a… đã tràn ngập chiếm hầu hết thị phần tại thị trường trong nước, chỉ còn lại một phần nhỏ dành cho những doanh nghiệp đã xây dựng được thương hiệu như Vina Giày, T&T, Biti’s… (Trung tâm Xúc tiến thương mại Đà Nẵng 2023).
Chính vì vậy, hướng phát triển của da giày Việt Nam cần đảm bảo cân đối giữa xuất khẩu và tiêu thụ trong nước, cụ thể: thứ nhất, vẫn có thể giữ nguyên được vị thế xuất khẩu lớn thứ hai của châu Á như hiện nay; thứ hai, các doanh nghiệp trong nước cần đầu tư dần chiếm lĩnh thị trường nội địa thông qua việc phát triển kênh phân phối và thương hiệu. Một sự phát triển xuất khẩu bền vững cũng cần đảm bảo để nhu cầu tiêu thụ trong nước được đáp ứng một cách kịp thời và đầy đủ.
III. TÍNH BỀN VỮNG VỀ XÃ HỘI Khóa luận: Thực trạng xuất nhập khẩu khẩu da giầy tại VN
1. Xuất khẩu da giầy với việc làm và thu nhập
Mở rộng xuất khẩu da giầy trong những năm qua đã sử dụng nhiều lao động, thông qua đó đã tạo việc làm và tăng thu nhập cho một bộ phận dân cư có thu nhập thấp, đặc biệt là dân cư nông nghiệp, qua đó góp phần xóa đói, giảm nghèo.
Bảng 5: Kim ngạch xuất khẩu và việc làm trong ngành da giầy, dệt may
Có thể thấy, mở rộng xuất khẩu da giầy trong những năm qua đã có những nét tương xứng với tăng việc làm, thu hút lao động. Từ năm 2001 đến năm 2023, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân đạt 13% và tốc độ tăng lao động trong ngành là 14,7%. Nhờ duy trì được tốc độ tăng trưởng xuất khẩu tương đối cao trong thời gian qua, ngành da giầy đã khẳng định được vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta trong việc tạo công ăn việc làm cho hơn 600 nghìn lao động.
Không chỉ tạo việc làm cho một bộ phận dân cư, ngành da giầy xuất khẩu đã có những đóng góp đáng kể trong việc tăng thu nhập cho người lao động. Xuất khẩu da giầy chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước (bình quân là 9.06%), thông qua đó đã làm tăng GDP, tăng thu nhập bình quân đầu người. Trong những năm qua, thu nhập bình quân của người lao động trong ngành da giầy đã tăng từ 10-20% tuỳ từng doanh nghiệp. Cụ thể, thu nhập bình quân của lao động ngành da giầy năm 2023, phía nam dao động từ 2,7 triệu đến 8,2 triệu đồng/người/tháng; phía bắc khoảng từ 2-4,5 triệu đồng/người/tháng. Như vậy, không phải là cao nhưng cũng không quá thấp so với mức thu nhập bình quân đầu người hiện nay (Hồng Quân 2010).
Tuy nhiên, hình thức xuất khẩu da giầy của Việt Nam vẫn là gia công xuất khẩu, do vậy, việc làm và thu nhập của người lao động không ổn định. Biến động thị trường các năm 2020, và đặc biệt là năm 2023 cho thấy, việc làm và thu nhập của người lao động đã bị tổn thương đáng kể. Khóa luận: Thực trạng xuất nhập khẩu khẩu da giầy tại VN
Từ năm 2020 trở lại đây, tình trạng thiếu hụt lao động đã trở thành bài toán hóc búa đối với các doanh nghiệp da giầy xuất khẩu. Một ví dụ điển hình là tại Hải Phòng hiện có trên 40 doanh nghiệp gia công các sản phẩm da giầy. Để đáp ứng nhu cầu sản xuất, các doanh nghiệp này cần khoảng 63 ngàn lao động. Nhưng số lao động các doanh nghiệp hiện có mới chỉ đáp ứng được 77%. Vậy là, theo tính toán, ngành da giầy Hải Phòng còn thiếu hụt khoảng 14 ngàn lao động, tương đương 23% so với nhu cầu của các doanh nghiệp (Thanh Tùng 2023).
Nguyên nhân của sự thiếu hụt trên là do tác động của việc EU áp thuế chống bán phá giá đối với giầy mũ da Việt Nam khiến phía đối tác dè dặt làm cho đơn hàng giảm, các doanh nghiệp buộc phải thu hẹp sản xuất và bị thiệt hại nặng nề về kinh tế do chỉ sử dụng được 70% công suất thiết kế, bị đóng băng vốn trong đầu tư cơ sở hạ tầng, hao mòn hữu hình và vô hình… Trước tình hình đó, các doanh nghiệp phải chuyển sang sản xuất các mặt hàng giá trị thấp hoặc nhận gia công lại cho các doanh nghiệp khác trong nước nhưng cũng khó khả thi do nhiều tác động khách quan và chủ quan của thị trường, chuyển thị trường thì cũng khó mà thâm nhập vào thị trường mới còn chưa quen, mất nhiều thời gian. Nhiều doanh nghiệp buộc phải cho công nhân nghỉ việc hoặc lúc làm lúc không…
Thêm vào đó, trong bối cảnh chi phí đầu vào sản xuất gia tăng, lợi nhuận của ngành cũng bị giảm đáng kể (năm 2000 đạt 425.8 tỷ đồng, thì đến năm 2022 chỉ còn 378.5 tỷ đồng), việc tăng thu nhập cho người lao động là bất khả thi. Trong khi giá cả biến động, mức lương bình quân trong ngành da giầy là 2.640.000 đồng/tháng chưa hấp dẫn với người lao động. Đây cũng là lý do xảy ra biến động lao động thường xuyên trong ngành da giầy (Hạ Vinh 2023).
Ngoài ra, một loạt vấn đề khác ảnh hưởng đến đời sống vật chất, tinh thần của công nhân như: việc tăng lương tối thiểu không đồng bộ giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước khiến nhiều công nhân bức xúc; thời gian lao động quá nhiều mà thu nhập lại thấp, môi trường lao động và các chế độ lao động khác không phù hợp… Vì vậy, nhiều công nhân có xu hướng chuyển sang các lĩnh vực lao động khác hoặc nghỉ việc (Hạ Vinh 2023).
Giá trị gia tăng trong gia công xuất khẩu da giầy chủ yếu nằm ở sức lao động, yếu tố được xem là lợi thế cạnh tranh lớn nhất của da giầy Việt Nam những năm qua. Song lợi thế về giá nhân công rẻ và nguồn lao động dồi dào này đang mất dần đi khi người lao động không còn mặn mà với công việc hết sức vất vả, khắc nghiệt mà thu nhập không ổn định. Bằng chứng là ngành da giầy hay xảy đình công và tình trạng khan hiếm lao động đã bắt đầu diễn ra ở nhiều doanh nghiệp da giầy của Hải Phòng trong năm 2023 (Thanh Tùng 2023).
Vì những lý do trên khiến nguồn lao động trong ngành da giầy luôn luôn biến động và có xu hướng ngày càng thiếu hụt. Những biến động thị trường cùng với phương thức gia công là chủ yếu đã dẫn đến những hệ lụy mà suy cho cùng, người chịu những gánh nặng ấy chính là những công nhân lao động trực tiếp tại doanh nghiệp và lao động phụ trợ cho ngành da giầy.
Phân tích trên đây cho thấy, nếu không có những biện pháp ngăn chặn sự biến động trong tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, thì việc định hướng phát triển bền vững ngành, hướng tới xuất khẩu bền vững sẽ là một thách thức lớn đối với ngành da giầy Việt Nam.
2. Xuất khẩu với vấn đề chất lượng và trình độ lao động
Sau gần 20 năm làm hàng gia công cho nước ngoài, Việt Nam đã được tiếp cận với thiết bị, công nghệ, phương thức quản lý tiên tiến và hình thành đội ngũ công nhân lành nghề. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo điều kiện và động lực để các doanh nghiệp da giầy Việt Nam có cơ hội tiếp cận và triển khai những mô hình quản lý, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và ứng dụng những thành tựu mới của khoa học công nghệ.
Ngành đã có nhiều dự án nhằm hỗ trợ cán bộ hiệp hội và doanh nghiệp thành viên. Ví dụ, thông qua dự án “Đổi mới và thương hiệu: Công cụ cạnh tranh thành công trên thị trường toàn cầu”, các cán bộ được đào tạo và cung cấp kiến thức về những vấn đề chính sách thương mại, tiếp cận thị trường, xây dựng thương hiệu của da giầy xuất khẩu Việt Nam nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp xuất khẩu da giầy trên thị trường quốc tế (Dự án hỗ trợ Thương mại đa biên Mutrap 2023). Khóa luận: Thực trạng xuất nhập khẩu khẩu da giầy tại VN
Tuy nhiên, thực tế tại nhiều doanh nghiệp, nguồn nhân lực có trình độ cao hiện nay còn rất thiếu và yếu. Số cán bộ có trình độ đại học và trên đại học chiếm tỷ lệ rất nhỏ (khoảng 5%), chỉ tập trung làm việc ở khối văn phòng (Hạ Vinh 2023). Trình độ cán bộ quản lý điều hành chưa theo kịp sự thay đổi và phát triển nhanh chóng của thị trường. Năng lực sản xuất của ngành chủ yếu tại các cơ sở ngoài quốc doanh và có yếu tố nước ngoài, chứng tỏ năng lực, trình độ ngành phụ thuộc chủ yếu vào làn sóng đầu tư của tư nhân trong nước và quốc tế.
Hiện nay trình độ công nghệ của ngành da giầy Việt Nam đang ở mức trung bình và trung bình khá, song khá lệ thuộc vào nước ngoài về trang thiết bị máy móc. Khả năng đầu tư và chuyển giao công nghệ mới phụ thuộc vào nguồn đầu tư bên ngoài là chủ yếu, đội ngũ chuyên gia hiểu biết sâu và cập nhật công nghệ còn ít và chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của doanh nghiệp, kinh nghiệm và khả năng đàm phán, ký kết hợp đồng về công nghệ còn hạn chế… Đây là một trong những nguyên nhân làm hạn chế năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh của ngành trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài (Hiệp hội Da – Giầy Việt Nam 2022a).
Ngoài ra, ngành còn thiếu đội ngũ cán bộ thiết kế để triển khai mẫu mốt theo thị hiếu ngày càng đa dạng của khách hàng, thiếu cán bộ làm công tác pháp lý, am hiểu luật pháp Việt Nam và quốc tế để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh đúng quy định pháp luật hiện hành (Hiệp hội Da – Giầy Việt Nam 2022a). Điều này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng nâng cao giá trị gia tăng, định vị thương hiệu giầy Việt Nam cũng như tránh những biến động đáng tiếc ảnh hưởng đến xuất khẩu da giầy trên thị trường thế giới.
Hiện nay, ngành da giầy nước ta đang sử dụng khoảng 600 nghìn lao động nhưng toàn ngành chưa có một trường đào tạo chính quy về nghề. Bậc nghề trung bình mặc dù đã tăng đạt mức 3,5/7 năm 2023 (năm 2001 là 2/7), tuy nhiên, công nhân được đào tạo chủ yếu theo lối kèm cặp ngay tại xí nghiệp sau khi sử dụng, chỉ có một số ít công nhân là được đào tạo qua các trường công nhân kỹ thuật (thuộc Bộ Công thương) hoặc trường kỹ thuật may (thuộc Tổng công ty Dệt may). Bên cạnh đó năng suất lao động của người Việt Nam rất thấp, trung bình trên 1 dây chuyền 450 lao động đạt mức sản lượng 500.000 đôi/năm, chỉ bằng 1/35 năng suất lao động của người Nhật, 1/30 của Thái Lan, 1/20 của Malaysia và 1/10 của Indonesia (Hiệp hội Da – Giầy Việt Nam 2022a).
Việt Nam hiện có hơn 500 doanh nghiệp da giầy nhưng những thương hiệu được người tiêu dùng trong nước biết đến mới chỉ có Biti‟s, Bita‟s, Thượng Đình, Vento, Sholega… Còn những thương hiệu Việt Nam có mặt ở thị trường nước ngoài rất ít. Dường như mới chỉ có Biti‟s (công bố có mặt ở hơn 40 nước), Vento (vươn tới Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Canada, Bắc Mỹ), còn Vina Giày mới có mặt trên thị trường Mỹ (Mạnh Cường 2023). Để có được chỗ đứng trên thị trường quốc tế mà không sử dụng thương hiệu đã có sẵn, các doanh nghiệp cần chú trọng nâng cao trình độ nguồn nhân lực từ khâu thiết kế, sản xuất, phân phối. Bằng việc làm đó mới có thể đáp ứng được những đơn đặt hàng lớn, sử dụng hết công suất máy móc, thiết bị làm giảm chi phí, nâng cao khả năng cạnh tranh của mặt hàng da giầy Việt Nam nhằm phát triển bền vững, tham gia sâu rộng vào thị trường toàn cầu.
3. Xuất khẩu với việc đáp ứng các tiêu chuẩn xã hội, cải thiện điều kiện làm việc Khóa luận: Thực trạng xuất nhập khẩu khẩu da giầy tại VN
Trong những năm qua, cùng với sự mở rộng xuất khẩu, ngành da giầy đã từng bước có sự quan tâm đến việc đáp ứng các tiêu chuẩn xã hội, cải thiện điều kiện làm việc của người lao động và vấn đề giới trong ngành.
Với xu thế toàn cầu hoá và tự do thương mại như hiện nay thì cạnh tranh ngày càng gay gắt là điều không thể tránh khỏi; trong đó, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia… đang và sẽ là những đối thủ cạnh tranh lớn trong khu vực và trên thế giới. Tự do hoá thương mại dần dần sẽ xoá bỏ các hàng rào thương mại như thuế quan, hạn ngạch…; tuy nhiên, các hàng rào kỹ thuật sẽ nảy sinh như yêu cầu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility – CSR), về an toàn vệ sinh lao động và hệ thống quản lý môi trường. (Nguyễn Quang Vinh 2020).
Sức ép từ người tiêu dùng (nơi nhập khẩu), xã hội, chính quyền sở tại đối với các nhà cung cấp sản phẩm da giầy là cần đảm bảo rằng các sản phẩm được sản xuất và tồn tại trong một môi trường trong sạch, đảm bảo các tiêu chuẩn về vệ sinh công nghiệp, an toàn vệ sinh lao động và không có bóc lột…
Quan niệm về thành công của doanh nghiệp trong những thập kỷ vừa qua đã thay đổi đáng kể. Nếu như trong những thập kỷ 70-80, doanh nghiệp thành công phải là những doanh nghiệp đạt mức lợi nhuận cao và cạnh tranh trên tiêu chí giá cả và chất lượng sản phẩm thì ngày nay, quan niệm đó hoàn toàn thay đổi. Các doanh nghiệp phải nhìn xa hơn, ngoài vấn đề lợi nhuận tài chính còn phải quan tâm đến các giá trị khác như môi trường mà trong đó công ty hoạt động, những ảnh hưởng về mặt xã hội mà công ty đem lại như mức lương và đời sống của công nhân, giải quyết công ăn việc làm…
Các nhà đầu tư nước ngoài, trước khi muốn làm ăn với các công ty da giầy Việt Nam, việc đầu tiên họ làm là cử những nhóm công tác đến khảo sát nhà xưởng của các đối tác Việt Nam để tìm hiểu xem nhà xưởng, môi trường làm việc của người lao động có được chú trọng hay không (Trung tâm thông tin hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ – SMENET 2010). Người lao động luôn là trung tâm của mỗi quá trình sản xuất và là tài sản quý giá nhất của mỗi doanh nghiệp, vì vậy việc tạo ra một môi trường làm việc tốt cho người lao động sẽ tạo ra một không khí làm việc thoải mái giúp giảm căng thẳng và dẫn đến tăng năng suất lao động. Hơn nữa, các đối tác nước ngoài khi nhận thấy điều này sẽ tự tìm đến ký kết hợp đồng kinh doanh với doanh nghiệp, và kết quả là uy tín của doanh nghiệp được nâng cao, sức cạnh tranh được cải thiện và thị trường xuất khẩu được đa dạng hoá thêm.
Mặc dù ở một số doanh nghiệp đã có kế hoạch thực hiện an toàn vệ sinh lao động hàng năm, nhưng nói chung hoạt động an toàn vệ sinh lao động tại các doanh nghiệp không có định hướng. Bộ máy để thực thi kế hoạch nơi có nơi không. Việc phân công trách nhiệm cũng được tiến hành nhưng không cụ thể. Việc trao đổi thông tin về vấn đề an toàn vệ sinh lao động trong nội bộ doanh nghiệp và với các tổ chức bên ngoài hay các bên liên quan chưa được thực hiện đầy đủ. Nếu có, thì mới chỉ ở mức độ truyền đạt chung chung, chưa cụ thể. Các chương trình đào tạo ở các cấp khác nhau trong doanh nghiệp mới thực hiện một cách lồng ghép vào các chương trình đào tạo chung hoặc đào tạo nghề (Trung tâm thông tin hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ – SMENET 2010).
Đặc biệt, hầu hết các doanh nghiệp không kiểm soát được các tài liệu văn bản liên quan đến hoạt động an toàn vệ sinh lao động, không có hồ sơ về các hoạt động an toàn vệ sinh lao động đã được thực hiện. Việc đo lường và giám sát kết quả cũng như là việc xem xét hiệu lực của các hoạt động tiến hành hoàn toàn chưa được thực hiện. Hoặc nếu có báo cáo thì nội dung báo cáo chưa được sử dụng làm cơ sở để cải tiến hoạt động an toàn vệ sinh lao động (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam 2021).
Về nhà xưởng – máy móc thiết bị: hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp đều có nhà xưởng rộng rãi, được trang bị hệ thống thoát khí, ánh sáng đảm bảo, nhà tắm, phòng thay quần áo tiện nghi… Tuy nhiên, cũng còn không ít doanh nghiệp có trang thiết bị lạc hậu, gây tiếng ồn lớn, độ rung cao hay khí nóng… ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe người lao động (Hiệp hội Da – Giầy Việt Nam 2022c).
So với chiều cao mặt bằng khuyến nghị cho người Việt Nam thì chiều cao của băng chuyền trong ngành là không thích hợp. Người công nhân thường hay phải cúi, gây căng cơ vùng vai, gáy và lưng. Đôi khi khoảng không gian cần thiết cho đùi bị thiếu gây sự không thoải mái và tư thế bất lợi cho người lao động (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam 2021).
Về mức độ tiếp xúc với các yếu tố nguy hiểm và có hại: do sự cộng hưởng của các yếu tố không có lợi cho sức khoẻ và môi trường tại các xí nghiệp da giầy, cho nên trên thực tế người công nhân phải tiếp xúc với khá nhiều yếu tố nguy hiểm và độc hại như được mô tả trong 2 biểu đồ dưới đây.
Biểu đồ 10: Mức độ tiếp xúc các yếu tố có hại của công nhân ngành da giầy
Biểu đồ 11: Mức độ tiếp xúc các yếu tố nguy hiểm của công nhân ngành da giầy
Về tư thế thao tác và cường độ lao động: cường độ lao động của công nhân cao nhưng thao tác đơn điệu gây nhàm chán, một số vị trí cần thể lực lớn, gây nguy cơ rối loạn cơ xương.
Về cấp phát các trang thiết bị bảo hộ lao động: nhìn chung các doanh nghiệp đã thực hiện, nhưng tại nhiều doanh nghiệp da giầy, chính người lao động lại chưa có ý thức sử dụng. Nguyên nhân là vì số lượng được phát ít, nếu họ cần thay đổi thì họ phải bỏ tiền ra mua; tại chỗ làm việc không có nơi thay đồ nên không thuận tiện cho công nhân, nhất là công nhân nữ, và cũng không có nơi bảo quản trang phục, do vậy công nhân thường mang trang phục của riêng mình trong khi làm việc. Một nguyên nhân nữa là, những công nhân tiếp xúc với hoá chất phàn nàn rằng khẩu trang chỉ che được bụi chứ không cản được sự xâm nhập của hơi hoá chất, do vậy không có tác dụng, nếu không nói là phản tác dụng.
Việc huấn luyện về an toàn lao động, phòng chống cháy nổ: công việc này đã được nhiều doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc ngay từ khi tuyển dụng lao động và duy trì huấn luyện thường xuyên trong năm. Tuy nhiên, cũng không ít doanh nghiệp còn coi nhẹ công tác này và trên thực tế, cũng không ít người lao động không đặt vấn đề phải được huấn luyện an toàn lao động khi được tuyển dụng. Điều này một mặt thể hiện sự thiếu trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động, mặt khác cũng thể hiện sự hạn chế trong nhận thức của chính người lao động vì họ chỉ cần có việc làm, có thu nhập mà không ý thức được quyền được hưởng về bảo hộ lao động, an toàn vệ sinh lao động của mình (Hồng Hạnh 2010). Khóa luận: Thực trạng xuất nhập khẩu khẩu da giầy tại VN
Về việc đảm bảo môi trường, điều kiện làm việc cho lao động nữ: hiện nay, ngành da giầy xuất khẩu là ngành sử dụng nhiều lao động, tạo việc làm cho trên 600 nghìn lao động trong đó 80% là lao động nữ, không kể số lao động làm việc trong các lĩnh vực khác liên quan. Tại nhiều doanh nghiệp, tỷ lệ lao động nữ chiếm tới 95-98% tổng số lao động (Hiệp hội Da – Giầy Việt Nam 2022c).
Điểm chung của hầu hết chị em là đến từ khu vực nông thôn, các tỉnh nghèo của đất nước. Đây là nhóm lao động chịu nhiều thiệt thòi, ít được đào tạo, thu nhập thấp trong khi thường nhận những công việc tốn sức lực và thời gian trong dây chuyền sản xuất.
Tại đa phần các doanh nghiệp da giầy thì tư thế lao động của lao động nữ là ngồi tĩnh kéo dài. Chắc chắn với tư thế làm việc quá lâu như vậy sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của lao động nữ.
Điều kiện môi trường làm việc vẫn còn độc hại, hơn nữa, dưới tác động của vụ kiện chống bán phá đối với hàng giầy mũ da xuất khẩu sang EU đã trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động nữ trong ngành. Họ có nguy cơ bị giảm thu nhập, mất việc làm và rơi vào vòng luẩn quẩn của nghèo đói, từ đó vô hình chung tạo ra gánh nặng cho xã hội. Chính vì vậy, vấn đề được đặt ra là, cần có cơ chế, biện pháp để đảm bảo quyền lợi cho công nhân nữ, giúp họ yên tâm công tác, đóng góp vào sự ổn định trong xuất khẩu da giầy.
Tóm lại, bảo hộ lao động, an toàn vệ sinh lao động là một trong những nhiệm vụ quan trọng của chiến lược phát triển KT-XH đất nước, vừa mang ý nghĩa kinh tế, vừa mang ý nghĩa xã hội rất cao, đòi hỏi các cấp công đoàn, ngành da giầy và các cá nhân đều phải có trách nhiệm phối hợp thực hiện. Có thực hiện tốt việc đảm bảo an toàn vệ sinh lao động mới đảm bảo sức khỏe của người lao động – nhân tố quan trọng trong việc phát triển xuất khẩu da giầy bền vững. Doanh nghiệp thành công của thế kỷ XXI là doanh nghiệp mang tính xã hội cao, tạo ra được nhiều lợi nhuận, đem lại nhiều lợi ích vật chất và tinh thần cho xã hội, cho các nhà cung cấp, người lao động… và là doanh nghiệp của mọi người.
IV. TÍNH BỀN VỮNG VỀ MÔI TRƯỜNG
1. Xuất khẩu da giầy với việc duy trì và cải thiện nguồn nguyên liệu cao su, da cho sản xuất
Xuất khẩu da giầy trong những năm qua đã có những đóng góp quan trọng vào việc duy trì và phát triển đa dạng sinh học. Mở rộng xuất khẩu da giầy đã làm cho người sản xuất, các bộ ngành quan tâm hơn đến việc duy trì, phát triển các vùng nguyên phụ liệu về da, cao su… Việc mở rộng diện tích trồng cây cao su giúp phủ xanh đất đồi, mở rộng diện tích vùng chăn nuôi trâu bò vừa góp phần thực hiện mang lại hiệu quả kinh tế cao vừa tạo việc làm cho bộ phận dân cư nông nghiệp.
Về cao su: Nhà nước, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kết hợp cùng với bộ Công thương đã có những đề án, chính sách phát triển diện tích rừng trồng cao su phục vụ cho sản xuất, xuất khẩu trong đó có sản xuất da giầy xuất khẩu. Nhờ vậy, diện tích trồng cao su cả nước và tại các vùng trồng cao su chính của Việt Nam liên tục tăng trong những năm vừa qua. Từ năm 2000 đến 2022, tốc độ tăng trưởng bình quân về diện tích cao su của cả nước đạt hơn 4%/năm. Diện tích cao su cả nước năm 2022 đạt 601.8 nghìn ha và năng suất bình quân của cả nước đạt 10.7 tạ/ha (Trung tâm Thông tin phát triển nông nghiệp nông thôn – AGROINFO, Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn 2022). Khóa luận: Thực trạng xuất nhập khẩu khẩu da giầy tại VN
Do diện tích trồng mới và diện tích khai thác cao su từ năm 1995-2022 của cả nước liên tục tăng, cùng với việc tăng năng suất nên sản lượng cao su của cả nước tăng mạnh từ 290.8 nghìn tấn năm 2000 lên đạt 644.2 nghìn tấn năm 2022. Với mức sản lượng của năm 2022, sản xuất cao su của Việt Nam hiện đứng thứ 5 thế giới (chiếm khoảng 5.4% sản lượng cao su thế giới), đứng sau Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Ấn Độ (Trung tâm Thông tin phát triển nông nghiệp nông thôn – AGROINFO, Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn 2022).
Biểu đồ 12: Diện tích và sản lượng cao su của cả nước giai đoạn 2000–2022
Cao su là nguyên liệu chính được dùng trong sản xuất các chi tiết đế giầy và keo dán. Việt Nam là một trong những nước sản xuất cao su tự nhiên nên không phải nhập từ nước ngoài. Nhờ diện tích và sản lượng cao su không ngừng tăng qua các năm, nguồn cung cao su nguyên liệu sản xuất da giầy ổn định là một yếu tố thuận lợi cho phát triển ngành da giầy. Đồng thời cũng cho thấy ngành đã có những bước gắn kết với các bộ, ngành liên quan trong việc hoạch định các vùng trồng cây cao su đảm bảo nguyên liệu sản xuất.
Về nguyên liệu da: ngành chăn nuôi gia súc đặc biệt là trâu bò của Việt Nam liên tục phát triển, năm 2023, đàn trâu có 2886,6 nghìn con, tăng 0,4%; đàn bò có 6103,3 nghìn con, tăng 3,7% so với năm 2022 (Tổng cục Thống kê 2023). Nguồn nguyên liệu da không ngừng tăng qua các năm, mỗi năm cả nước có khoảng 6000 tấn da bò, 2000 tấn da trâu nhưng 60% nguồn da này lại được xuất sang Trung Quốc và Đài Loan, và chỉ một phần nhỏ của số lượng còn lại đạt tiêu chuẩn để sản xuất sản phẩm xuất khẩu (Thạch Phùng 2021). Nguồn da nguyên liệu trong nước là từ việc chăn nuôi trâu bò, thế nhưng chăn nuôi bò, trâu ở nước ta lại phân tán, chủ yếu là thả rông nên con da bé; dùng nhiều roi vọt nên gây thương tật trên da; hơn nữa, mục đích chăn nuôi là lấy thịt nên việc giết mổ, lột da và bảo quản da sống chưa đúng kỹ thuật.
Từ những vấn đề trên cho thấy, trong những năm tới, việc mở rộng diện tích chăn nuôi, khai thác nguồn nguyên liệu da phục vụ sản xuất da giầy cần được định hướng rõ ràng để đảm bảo nguồn cung nguyên liệu ổn định, tăng cả về số lượng và chất lượng phục vụ sản xuất da giầy xuất khẩu. Bên cạnh đó, những kết quả đạt được của xuất khẩu phải nhằm duy trì, bổ sung nguồn nguyên liệu cho sản xuất.
2. Thực trạng sử dụng hóa chất độc hại và công tác xử lý phế thải tại các doanh nghiệp trong ngành Khóa luận: Thực trạng xuất nhập khẩu khẩu da giầy tại VN
2.1. Hóa chất và phế thải độc hại trong quá trình thuộc da
Nguyên liệu chính trong quá trình thuộc da chủ yếu là da muối hoặc da tươi. Lượng hoá chất thông dụng được sử dụng trong công nghệ da thuộc gồm các chất vô cơ và hữu cơ như sunfit, sunfa, sunfit natri, hydroxit canxi, cacbonat, axit, muối… do đặc thù thuộc da là quá trình chuyển đổi protit của da động vật sang dạng bền vững để sử dụng (Thu Hoài 2023). Tỷ lệ và thành phần hoá chất tham gia xử lý vào các công đoạn thuộc da phụ thuộc vào việc áp dụng công nghệ, thiết bị máy móc và chất lượng các loại da.
Vấn đề môi trường trong các nhà máy thuộc da là nước thải, mùi và chất thải rắn. Với công nghệ thuộc da truyền thống, trung bình 1 tấn da nguyên liệu thải ra môi trường khoảng 50 m3 nước thải có độ màu đậm đặc và 500-600 kg chất thải rắn, nặng mùi hôi thối khó chịu. Các chất thải rắn gồm mỡ, bạc nhạc, diềm da (chiếm khoảng 18% trong lượng da tươi), mùn bào da, váng xanh, cặn vôi và xỉ than… Khí thải phát sinh ở hầu hết các công đoạn sản xuất với thành phần chủ yếu là H2S1, NH3, chất hữu cơ bay hơi. Trong quá trình phân huỷ, các chất này gây mùi đặc trưng, đặc biệt, hơi của các axít ảnh hưởng xấu đến hệ hô hấp của người lao động trực tiếp và môi trường xung quanh.
Thông thường 1 tấn da muối sản xuất được 195 kg da cật và 60 kg da váng (Thu Hoài 2023). Như vậy, chất thải là nguyên nhiên liệu đầu vào không đi vào sản phẩm được loại bỏ theo nước thải là rất lớn, gây ô nhiễm môi trường.
2.2. Tình hình sử dụng hóa chất và công tác xử lý phế thải trong ngành Khóa luận: Thực trạng xuất nhập khẩu khẩu da giầy tại VN
Các doanh nghiệp thuộc da trong những năm qua đã từng bước tiếp thu các công nghệ cao ít hoặc không gây ô nhiễm môi trường, tiết kiệm nguyên vật liệu. Theo thống kê của Hiệp hội Da – Giầy Việt Nam, 2/3 các doanh nghiệp thuộc da đảm bảo được quy trình xử lý da nguyên liệu sử dụng các hoá chất thân thiện với môi trường, giảm thải ô nhiễm cho hệ thống xử lý nước thải (Hiệp hội Da – Giầy Việt Nam 2023b).
Nhiều doanh nghiệp đã chủ động thay đổi công nghệ thuộc da ở từng công đoạn từ đó thu hồi các chất bị loại bỏ một cách lãng phí để tái sử dụng sản xuất cho các công đoạn tiếp theo và tiết kiệm được tiền bạc, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đồng thời nâng cao chất lượng da thuộc. Điển hình là các doanh nghiệp: Doanh nghiệp Nguyên Hồng, Công ty TNHH Thuộc da Đông Hải, Công ty cổ phần thuộc da Vinh, Công ty cổ phần da Tây Đô… Bằng việc áp dụng công nghệ sản xuất sạch đã giảm lượng nước tiêu thụ khoảng 10-15m3/tấn da muối nguyên liệu trong quá trình thuộc da, hiệu suất hấp thu crom giảm thải ra môi trường đạt tới 80-90% (thay vì trước đây con số này chỉ đạt 30-50%) (Thu Hoài 2023).
Quá trình hồi tươi da khi nạo mỡ, bạc nhạc, xén diềm trước khi tẩy lông được kiểm soát tốt nên đã tiết kiệm được lượng hoá chất và nước tương ứng để sử dụng trong các công đoạn tiếp theo. Đồng thời nguồn thải này, đã được quản lý phân loại ngay từ đầu và được tái sử dụng cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp, như làm thức ăn cho gia súc hoặc phân bón. Các da diềm, da vụn được thu gom làm những vật dụng nhỏ như ví da, lót giầy…
Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại những cơ sở, doanh nghiệp thuộc da nguyên liệu phục vụ xuất khẩu còn tiềm ẩn nguy cơ cao về ô nhiễm môi trường. Trường hợp của Công ty cổ phần thuộc da Hào Dương (nằm trong khu công nghiệp Hiệp Phước, huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh) là một điển hình. Năm 2022, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai đã kiểm tra mức độ ô nhiễm nước thải của Công ty Hào Dương, kết quả phân tích mẫu nước thải của Công ty Hào Dương do cơ quan chức năng công bố cho thấy có nhiều chỉ tiêu vượt chuẩn hàng trăm lần (Văn Nam 2022). Hoặc như trường hợp của Công ty Hưng Thái – khu công nghiệp Vĩnh Lộc, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh; năm 2023, các cơ quan chức năng cho rằng công ty thực hiện tốt các biện pháp xử lý ô nhiễm và chỉ tiêu ô nhiễm vượt tiêu chuẩn không đáng kể, trong khi đó, người dân lại khẩn thiết kêu cứu vì không chịu nổi mùi thối thuộc da bao trùm khu vực lân cận (Quý Lâm 2023).
Về vấn đề ô nhiễm trong ngành thuộc da, có thể nói, trước hết, những lao động thuộc da chịu ảnh hưởng lớn nhất vì phải làm việc và tiếp xúc trực tiếp với các loại hóa chất thuộc da. Thêm vào đó, nước thải chứa thành phần chủ yếu là crom chưa được qua xử lý thải ra khu vực sông, kênh, ngòi, khu dân cư là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới suy giảm nguồn cá, vi sinh vật dưới nước… gây ô nhiễm môi trường và hơn hết là ảnh hưởng tới sức khỏe, cuộc sống của người dân khu vực lân cận. Hiện tại ngành da giầy, cơ quan quản lý môi trường địa phương vẫn chưa có một số liệu thống kê cụ thể về mức độ ô nhiễm cũng như suy giảm trên, tuy nhiên, nếu tình trạng này vẫn tiếp diễn sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường, gây nên nỗi bức xúc cho người dân, và liệu trong tương lai, những nỗ lực trong tăng trưởng xuất khẩu có bù đắp được những thiệt hại đã gây nên hay không? Đó chính là vấn đề cần giải quyết của các cấp, các ngành, hiệp hội và các doanh nghiệp để hướng tới mục tiêu đảm bảo sự cân đối giữa tăng trưởng xuất khẩu và bảo vệ môi trường.
3. Xuất khẩu và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường Khóa luận: Thực trạng xuất nhập khẩu khẩu da giầy tại VN
Ngành công nghiệp da giầy Việt Nam, trong những năm qua, là một trong những ngành liên tục phát triển và tăng trưởng với doanh thu xuất khẩu hàng năm cao. Nó thực sự đóng vai trò mũi nhọn trong các ngành công nghiệp xuất khẩu như dầu thô, gạo, hải sản và may mặc… đóng góp nhiều cho tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam với doanh thu xuất khẩu liên tục tăng. Đây cũng là ngành sử dụng khối lượng lao động lớn, góp phần giải quyết công ăn việc làm, bình ổn tình hình kinh tế xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, trước những thách thức của hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, các doanh nghiệp da giầy Việt Nam phải đối mặt với những khó khăn lớn, trong đó nổi bật là nâng cao sức cạnh tranh, mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao hình ảnh thương hiệu… Các doanh nghiệp của chúng ta vẫn tỏ ra có những điểm yếu nhất định, đặc biệt là chưa đáp ứng một cách đầy đủ các yêu cầu ngày càng gia tăng của khách hàng và thị trường về hệ thống quản lý môi trường.
Về chính sách liên quan đến môi trường: trong xu thế hiện nay, hoạt động quản lý môi trường đã được các doanh nghiệp nhận thức và đánh giá là quan trọng. Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp chưa có sự hiểu biết đầy đủ khái niệm hoạt động quản lý môi trường để đưa ra được định hướng hoạt động về môi trường. Các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động liên quan đến môi trường chủ yếu là đáp ứng các yêu cầu pháp lý hoặc các yêu cầu khác mang tính bắt buộc từ phía các cơ quan quản lý môi trường của Nhà nước.
Toàn ngành da giầy chỉ có khoảng 46% các doanh nghiệp thực sự hiểu rõ và có được các quy định và yêu cầu pháp lý cụ thể về các vấn đề môi trường, 38% các doanh nghiệp đã lập thành văn bản mô tả những tác động đối với môi trường do các quá trình sản xuất tại doanh nghiệp của họ gây ra và ngược lại, những khía cạnh về môi trường có thể bị tác động bởi những quá trình sản xuất chỉ được 19% số doanh nghiệp liệt kê. Đã có khoảng 62% số doanh nghiệp quy định về những kỹ năng và kỹ thuật cần thiết đối với nhân viên để thực hiện công việc nhằm giảm tác động có hại đến môi trường (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam 2021).
Về hệ thống quản lý môi trường trong các doanh nghiệp: thực tế, tại các doanh nghiệp, hệ thống này chưa được hình thành, mà chỉ là các hoạt động kiểm soát cụ thể nhằm đáp ứng các yêu cầu cụ thể từ phía các cơ quan quản lý. Ví dụ như lắp đặt thiết bị nhằm xử lý chất thải làm giảm tác động đến môi trường, dọn dẹp phế thải công nghiệp… hoặc tham gia các chương trình xanh, sạch đẹp do địa phương phát động. Hiện nay, có hơn 70% các doanh nghiệp đã thực hiện các chương trình quản lý môi trường, đó là sự tham gia vào các phong trào xanh, sạch, đẹp và phòng cháy chữa cháy tại địa phương… Tuy nhiên, trong thực tế các doanh nghiệp hầu như không có bộ phận chuyên trách về các vấn đề về môi trường, mà hoạt động theo hình thức kiêm nhiệm (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam 2021).
Về việc kiểm soát hoạt động môi trường: hầu hết các doanh nghiệp đã tiến hành, tuy nhiên, mới chỉ đáp ứng được các điều kiện hoạt động tối thiểu thông thường và theo hướng đáp ứng từng trường hợp cụ thể do cơ quan quản lý nhà nước yêu cầu. Hoạt động đo lường và giám sát các kết quả hoạt động môi trường chỉ được tiến hành khi có yêu cầu.
Cụ thể chỉ có khoảng 43% doanh nghiệp đã áp dụng các biện pháp để kiểm soát hoạt động có tác động đến môi trường cũng như việc xử lý những phế thải trong quá trình sản xuất để tránh bất cứ sự khiếu nại hoặc bị các cơ quan quản lý môi trường phạt (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam 2021).
Trong khi đó, các doanh nghiệp hầu như không có sử dụng các thiết bị đo lường và giám sát để có thể đánh giá được kết quả hoạt động về môi trường. Trong ngành, có 81% các doanh nghiệp tiến hành sửa chữa và bảo dưỡng máy móc thiết bị đảm bảo hoạt động tốt, đặc biệt là các thiết bị ảnh hưởng đến môi trường đã được đánh giá hoặc kiểm tra, thông thường do phân xưởng cơ điện. Tuy nhiên, chỉ có 38% các doanh nghiệp lưu giữ hồ sơ về các hoạt động môi trường. Những hồ sơ này chủ yếu là hồ sơ thanh tra hoặc kiểm tra hoặc báo cáo lên các cơ quan bên ngoài (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam 2021).
Cụ thể về các chỉ tiêu chủ yếu về môi trường tại các doanh nghiệp như sau:
Về nhiệt độ – độ ẩm: do đặc thù khí hậu nhiệt đới, nóng và ẩm quanh năm nên đây là hai yếu tố chủ yếu bị ô nhiễm trong các xí nghiệp da giầy. Nhiệt độ trung bình trong xưởng cao hơn so với nhiệt độ ngoài trời khoảng 380C (tiêu chuẩn cho phép là 300C), cá biệt có những dây chuyền may mũi giầy và gò ráp ở miền Trung nhiệt độ lên tới 390C. Nguyên nhân là do mật độ máy móc và công nhân cao, ngoài ra kiến trúc nhà xưởng không thích hợp nên độ thông thoáng kém, khả năng bức xạ mặt trời cao.
Độ ẩm trung bình thấp (Tiêu chuẩn cho phép (TCCP) là 80%), miền Bắc và miền Nam độ ẩm thấp hơn TCCP từ 17-24%, hậu quả là môi trường làm việc khá hanh khô và người lao động dễ bị mất nước. Khóa luận: Thực trạng xuất nhập khẩu khẩu da giầy tại VN
Hệ thống thông gió trong các xưởng kém hoặc không phát huy tác dụng, tốc độ gió thường chỉ đạt 0.2 0.05 m/s trong khi TCCP là 1.5 m/s, nên không khí thường bị tù đọng không giải quyết được lượng nhiệt dư và khí CO2 (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam 2021).
Biểu đồ 13: Mức độ ô nhiễm nhiệt trung bình tại ba khu vực
Về tiếng ồn – ánh sáng: nhìn chung, tiếng ồn trung bình đạt TCCP (85dBA) nhưng lại có độ chênh lệch lớn, nhất là bộ phận may, đế giày và gò ráp, có những vị trí tiếng ồn cao hơn TCCP từ 7-11dBA.
Hầu hết chất lượng ánh sáng tại các phân xưởng miền Trung và miền Nam đều đạt yêu cầu (TCCP của xưởng mũi giầy là 400 lux, của xưởng đế và hoàn thành là 150 lux). Còn ở miền Bắc các phân xưởng may mũi giầy còn tối, lượng ánh sáng chỉ đạt 180 lux (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam 2021).
Về bụi – hơi khí độc: bụi trong các cơ sở sản xuất da giầy chủ yếu là bụi hữu cơ, bao gồm bụi vải và bụi cao su, xuất hiện ở bộ phận cán luyện, mài đế và may giầy vải. Đây là nguyên nhân gây bệnh bụi phổi silic, ngoài ra bụi cao su bám lên cơ thể người công nhân còn gây ung thư da.
Mật độ CO2 và SO2 cho phép là 2 mg/m3 và 100 mg/m3, song ở một số bộ phận như đế và gò ráp mật độ CO2 lên tới 4,5 mg/m3 còn SO2 lên tới 186 mg/m3. Nồng độ trung bình của NH3 nhìn chung nằm trong giới hạn cho phép (2 mg/m3), tuy nhiên có những điểm đo vượt hơn 2 lần TCCP (4.5 mg/m3). Tương tự, nồng độ Toluene là 186 mg/m3 so với TCCP (100 mg/m3) (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam 2021).
Về nước thải: trong ngành da giầy có khoảng 2/3 các doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn cho phép về nước thải, tuy nhiên, thực tế, một số chỉ tiêu thành phần nước thải vẫn còn cao (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam 2021).
Bảng 6: Thành phần mẫu nước thải của hai công ty TNHH Fretrend và Công ty cổ phần giầy da Tây Đô so sánh với tiêu chuẩn nước thải công nghiệp loại A
Phân tích mẫu nước thải của hai công ty TNHH Fretrend và Công ty cổ phần giầy da Tây Đô cho thấy hầu hết các chỉ tiêu của nước thải đều đạt TCCP, tuy nhiên, lượng COD và BOD lại vượt hơn rất nhiều so với TCCP (gần 4 lần).
Như vậy, qua việc phân tích ở trên có thể thấy rằng, ngành da giầy Việt Nam đã có những cố gắng trong việc đáp ứng các quy định về môi trường, tuy nhiên, mức độ đáp ứng vẫn còn thấp. Hơn nữa, trong khi chúng ta chưa có hệ thống giải pháp đồng bộ, hiệu quả để nâng cao việc đáp ứng các quy định về môi trường của nước nhập khẩu thì xu thế chung trên thị trường thế giới là đang tìm cách nâng cao các tiêu chuẩn và bổ sung thêm nhiều quy định khác. Đây là một thách thức lớn đối với hàng da giầy xuất khẩu Việt Nam trong những năm tới.
V. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU DA GIẦY VIỆT NAM THỰC HIỆN MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Khóa luận: Thực trạng xuất nhập khẩu khẩu da giầy tại VN
1. Những kết quả đã đạt được
Tốc độ tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng xuất khẩu: Việt Nam đã duy trì được quy mô, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao và tương đối ổn định trong giai đoạn 2001-2023. Tốc độ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn này đạt trên 13%. Chất lượng tăng trưởng từng bước được cải thiện về cơ cấu sản phẩm, cơ cấu thị trường, cơ cấu thành phần kinh tế. Toàn ngành đã có những cố gắng trong việc nâng cao giá trị gia tăng, tăng sức cạnh tranh của da giầy Việt Nam trên thị trường quốc tế trong điều kiện khó khăn chung của nền kinh tế thế giới.
Xuất khẩu da giầy và bền vững về kinh tế: trong 10 năm qua, tỷ trọng của hàng da giầy chiếm khoảng 9.36% trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, qua đó đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế thâm hụt cán cân thương mại, tăng dự trữ ngoại tệ, đóng góp vào GDP cả nước, ổn định kinh tế vĩ mô.
Xuất khẩu da giầy và bền vững về xã hội: mở rộng xuất khẩu da giầy đã tạo ra việc làm cho một bộ phận lao động đặc biệt là lao động nông thôn. Tăng trưởng xuất khẩu trong thời gian qua đã góp phần tăng thu nhập, cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động. Trình độ của lao động trong ngành đã có những bước nâng cao so với trước đây.
Xuất khẩu da giầy và bền vững về môi trường: ngành da giầy đã có chiến lược phát triển các vùng trồng cây công nghiệp cao su, vùng chăn nuôi, góp phần duy trì và phát triển đa dạng sinh học. Áp lực cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu đã buộc các doanh nghiệp phải đầu tư đổi mới công nghệ và phương thức sản xuất thân thiện với môi trường.
2. Những hạn chế Khóa luận: Thực trạng xuất nhập khẩu khẩu da giầy tại VN
Tốc độ tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng xuất khẩu da giầy: tăng trưởng xuất khẩu chưa thật ổn định, còn phụ thuộc nhiều vào thị trường thế giới (đặc biệt là các thị trường lớn như EU) và đầu tư nước ngoài. Những biến động thị trường thế giới gây ra sự sụt giảm tốc độ tăng trưởng xuất khẩu khá lớn. Chất lượng tăng trưởng xuất khẩu chưa thật sự vững chắc. Tỷ lệ nội địa hóa còn thấp, phụ thuộc vào nguyên liệu, mẫu và thương hiệu do đối tác cung cấp dẫn tới giá trị gia tăng nhỏ. Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu chưa thực sự phù hợp với xu hướng biến đổi của thị trường thế giới, chứa đựng rủi ro cao khi có biến động thị trường xuất khẩu.
Xuất khẩu da giầy và bền vững về kinh tế: tỷ trọng đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu cả nước đang có xu hướng giảm dần trong thời gian dần đây. Ngành đã chú trọng hướng đến xuất khẩu tuy nhiên còn lệ thuộc vào thị trường thế giới trong khi đó chưa đảm bảo được nhu cầu nội địa.
Xuất khẩu da giầy và bền vững về xã hội: cơ hội về việc làm và thu nhập chưa ổn định đặc biệt là đối với lao động nữ. Lao động chủ yếu là chưa qua đào tạo, chưa có đội ngũ thiết kế giầy dép và thiếu lao động quản lý có trình độ cao; thiếu liên kết giữa các doanh nghiệp trong ngành. Môi trường làm việc vẫn là vấn đề lớn trong việc giữ chân người lao động và đáp ứng yêu cầu của nhà nhập khẩu.
Xuất khẩu da giầy và bền vững về môi trường: mở rộng xuất khẩu da giầy trong những năm qua vẫn chưa thực sự giải quyết tốt các vấn đề liên quan đến suy giảm đa dạng sinh học (do ô nhiễm nguồn nước) và ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng nghiêm trọng tới khu vực dân cư. Khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường tại các doanh nghiệp còn thấp.
Nguyên nhân của những hạn chế
Chưa nhận thức đầy đủ về phát triển bền vững trong hoạch định và thực thi các chính sách phát triển xuất khẩu. Còn chạy theo lợi ích ngắn hạn, cục bộ, tư duy nhiệm kỳ, thiếu sự phối hợp giữa hiệp hội và các doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân căn bản của tình trạng yếu kém về chất lượng, kém về tính bền vững trong hoạt động kinh tế nói chung và xuất khẩu nói riêng. Chạy theo lợi ích ngắn hạn, cục bộ là nguyên nhân của việc chưa chú trọng đến việc phát triển các ngành bổ trợ, các trung tâm đào tạo nghề, các biện pháp đáp ứng yêu cầu về môi trường, vấn đề xử lý ô nhiễm…
Chậm chuyển đổi mô hình tăng trưởng xuất khẩu, hình thức xuất khẩu chủ yếu vẫn là gia công. Những chính sách đầu tư trong ngành mới phát huy tác dụng đối với việc sử dụng các nguồn lực cho tăng trưởng xuất khẩu theo chiều rộng mà chưa tạo điều kiện cho sự phát triển nguồn lực, công nghệ. Một yếu tố cần được hết sức quan tâm là cơ cấu thị trường thế giới về các sản phẩm, chủng loại giầy dép đang có sự thay đổi căn bản; trong khi đó, Việt Nam lại chưa nắm bắt kịp thời xu thế đó để có thể đáp ứng nhu cầu thị trường thế giới. Thị trường nội địa chưa được quan tâm thỏa đáng trước khi đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu dẫn đến tình trạng để hàng ngoại lấn át ngay trên sân nhà.
Yếu kém về kết cấu hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu: mặc dù đã định ra những chiến lược và quy hoạch riêng cho việc phát triển các vùng, ngành sản xuất nguyên phụ liệu nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất. Chưa xây dựng được nhiều khu công nghiệp tập trung, gắn kết liên hoàn trong việc cung ứng nguyên liệu, sản xuất, thiết kế, tiêu thụ để tiến tới giảm chi phí. Giá cả dịch vụ vận chuyển, điện thoại quốc tế, phí bến bãi cao; thủ tục thông quan cho nhà xuất khẩu còn chậm trễ, phiền hà, tệ mãi lộ còn phổ biến… Việc hạn chế kinh doanh đối với khu vực kinh tế tư nhân và đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ cũng là một nguyên nhân dẫn tới giá thành dịch vụ cao, chất lượng phục vụ thấp. Hơn nữa, hoạt động xúc tiến xuất khẩu nói chung và xúc tiến xuất khẩu giày dép nói riêng của các tổ chức hỗ trợ xúc tiến còn thiếu năng động. Thông tin thị trường chủ yếu do bạn hàng cung cấp hoặc do các doanh nghiệp tự tìm hiểu nên độ chính xác nhiều khi không đảm bảo. Hiệp hội Da – Giầy chưa làm tốt vai trò tập hợp và liên kết các đơn vị thành viên nên dẫn tới hầu như các doanh nghiệp giầy dép bị tách biệt với các đơn vị sản xuất da nguyên liệu, hoặc bản thân các doanh nghiệp giầy dép Việt Nam cũng không liên hết được với nhau để tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Khóa luận: Thực trạng xuất nhập khẩu khẩu da giầy tại VN
Huy động vốn gặp khó khăn: trước đây, các doanh nghiệp trong ngành là doanh nghiệp Nhà nước nên được hưởng ưu đãi về vốn khi thực hiện đầu tư sản xuất, cụ thể: đối với lĩnh vực thuộc da và cơ khí da giầy được vay tín dụng đầu tư với lãi suất ưu đãi đặc biệt 3%/năm, thời hạn vay 12 năm, ân hạn 3 năm (Hiệp hội Da – Giầy Việt Nam 2019). Nhờ vậy, các doanh nghiệp được tạo điều kiện tiếp cận với các khoản vốn ngân sách, vốn ODA để thực hiện các dự án xử lý môi trường, các dự án xây dựng hạ tầng cơ sở đối với các cụm công nghiệp chuyên ngành, đào tạo và nghiên cứu. Từ năm 2017, thực hiện chủ trương cổ phần hóa, các doanh nghiệp đã thu hút được vốn từ nhiều nguồn. Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp trong ngành là những doanh nghiệp vừa và nhỏ nên lượng vốn dự trữ không đáng kể dẫn tới sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, không tập trung, không có khả năng thực hiện những đơn hàng lớn.
Quá lệ thuộc vào đầu vào nhập khẩu. Như đã phân tích ở trên, nguyên phụ liệu là vấn đề lớn nhất của ngành da giầy Việt Nam. Một sự chậm trễ trong giao nhận các đầu vào nhập khẩu luôn đe dọa khả năng hoàn thành thời hạn giao hàng. Mặc dù vậy, các doanh nghiệp cũng không thể đầu tư cho dự trữ nhằm giảm bớt chi phí và bảo đảm cung ứng sản xuất bởi họ không có nguồn hỗ trợ vốn lưu động. Ngoài ra, các chi phí trong quá trình vận chuyển, giao nhận, hải quan, đặc biệt là phí bôi trơn càng làm tăng áp lực chi phí cho các doanh nghiệp da giầy nước ta.
Hệ thống giá FOB: do quá dựa vào đối tác nước ngoài trong hầu hết các công đoạn từ sản xuất đến tiêu thụ nên việc đưa sản phẩm trực tiếp đến tay người tiêu dùng của các doanh nghiệp da giầy Việt Nam vẫn còn nhiều yếu kém. Sự liên hệ mật thiết với thị trường nước ngoài, thông qua đó xác định chính xác nhu cầu, thị hiếu để duy trì thị trường hay phát triển thị trường mới hầu như là chưa có. Việc bán hàng theo giá FOB – giao lên tàu (Hoàng Văn Châu và Tô Bình Minh 2019) là một trong những thách thức cho sự phát triển của ngành da giầy Việt Nam.
Yếu kém về nguồn nhân lực: nguồn lao động của nước ta dồi dào nhưng thiếu đào tạo, ý thức kỷ luật và tác phong lao động chưa cao. Thiếu lao động có tay nghề cao, năng suất lao động thấp. Đội ngũ doanh nhân thiếu đào tạo chính quy, am hiểu pháp luật và thị trường còn hạn chế. Nguồn lực để thiết kế mẫu, xây dựng thương hiệu còn yếu kém, chủ yếu vẫn làm hàng gia công cho nước ngoài.
Hạn chế về năng lực thực thi các quy định về môi trường: chạy theo thành tích xuất khẩu và lợi ích ngắn hạn trong phát triển xuất khẩu, nhiều doanh nghiệp không tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Đồng thời, ngành chưa có hệ thống giải pháp cụ thể, đồng bộ về khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường…
Còn có thể kể thêm một số nguyên nhân khác như chính sách tỷ giá chưa thực sự linh hoạt và điều chỉnh có lợi cho xuất khẩu, các vấn đề cải cách doanh nghiệp Nhà nước chưa hiệu quả, chưa tập trung tạo dựng uy thế cho mình như thương hiệu, quảng cáo, đầu tư cho khoa học, công nghệ…
Tóm lại, xuất khẩu da giầy Việt Nam trong những năm qua chưa thực sự bền vững. Chính sách xuất khẩu của ngành mới có tác dụng khai thác lợi thế so sánh có sẵn chứ chưa nâng cao giá trị gia tăng. Toàn ngành da giầy đã hướng tới xuất khẩu và có những chỉ tiêu về kim ngạch, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, khả năng thu hút việc làm khá cao, đồng thời đã có sự cải thiện nhất định về cơ cấu xuất khẩu nhưng nhìn chung, xuất khẩu da giầy theo các tiêu chí XKBV còn chưa thật rõ nét. Ngành da giầy Việt Nam vẫn chủ yếu dựa trên gia công xuất khẩu, giá trị gia tăng tạo ra hầu hết nằm trong lực lượng lao động dồi dào và giá rẻ, hơn nữa ngành cũng đang phải đối phó với các vấn đề ô nhiễm môi trường. Những điều trên đã đặt ra vấn đề, cần có những chiến lược, những giải pháp để có thể phát triển xuất khẩu da giầy một cách bền vững. Khóa luận: Thực trạng xuất nhập khẩu khẩu da giầy tại VN
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Biện pháp nâng cao xuất khẩu da giầy Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Khái quát về tăng trưởng xuất khẩu da giầy tại VN