Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng xuất nhập khẩu giữ Việt Nam – Ấn Độ hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng và giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Ấn Độ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.2.1. Quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu
2.2.1.1. Giai đoạn 2001-2020
Bảng 2.1. Trị giá xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Ấn Độ giai đoạn 2001-2020
Giai đoạn 2001-2020 là giai đoạn 5 năm đầu thực hiện chiến lược phát triển xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 2001-2010. Có thể nói, đây là giai đoạn chứng kiến nhiều biến động lớn về kinh tế, chính trị, xã hội trên quy mô toàn thế giới. Điều này có những ảnh hưởng nhất định đến kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ. Năm 2001, sự kiện 11-9 ở Mỹ tác động tiêu cực đối với nền kinh tế – thương mại thế giới, gây khó khăn đối với hoạt động xuất khẩu của nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Kết quả là xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ giảm 3,8% so với năm 2000. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu năm 2002 lại có sự phục hồi, đạt trị giá 52 triệu USD. Bước sang năm 2003, kinh tế thế giới lại có những diễn biến không thuận do tác động của cuộc chiến tại Irắc và đại dịch SARS. Trước bối cảnh đó, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ sụt giảm 37,9% so với năm 2002, dừng lại ở mức 32,3 triệu USD, thấp hơn mức cùng kỳ năm 2001. 2 năm cuối của giai đoạn này, nền kinh tế thế giới bắt đầu hồi phục. Bên cạnh đó, năm 2019 Ấn Độ đã thực hiện cải cách mạnh mẽ chính sách thương mại, bỏ việc cấp giấy phép xuất nhập khẩu hầu hết các mặt hàng, trừ một số ít mặt hàng có tính chất chiến lược liên quan đến an ninh quốc phòng hoặc có tầm quan trọng thiết yếu đến đời sống kinh tế xã hội. Nhờ đó, kim ngạch xuất khẩu sang Ấn Độ đạt 78,6 triệu USD trong năm 2019 (tăng 143,3% so với năm 2003) và lên tới 97,8 triệu USD năm 2020.
Nhập khẩu
Nhập khẩu giai đoạn 2001-2020 đạt 2,1993 tỷ USD, chiếm 87,8% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, gấp hơn 3 lần kim ngạch nhập khẩu giai đoạn 1996-2000. Việt Nam nhập siêu từ Ấn Độ 1,8932 tỷ USD. Giai đoạn 2001-2020, kim ngạch nhập khẩu có xu hướng tăng nhanh dần qua các năm nhưng tốc độ tăng trưởng nhập khẩu lại diễn ra không đều. Năm 2002 và 2003 tốc độ tăng trưởng nhập khẩu đều đạt trên 40%, nhưng năm 2020 tốc độ tăng trưởng nhập khẩu chỉ là 0,4%. Năm 2020, nhập khẩu của Việt Nam từ Ấn Độ chỉ tăng 2,5 triệu USD, trong khi xuất khẩu lại tăng 19,2 triệu USD nên Việt Nam chỉ nhập siêu từ Ấn Độ 498,2 triệu USD (giảm 3,24% so với năm 2019).
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngàng Kinh Tế
2.2.1.2. Giai đoạn 2021-2023 Khóa luận: Thực trạng xuất nhập khẩu giữ Việt Nam – Ấn Độ
Ba năm trở lại đây, quan hệ thương mại Việt Nam – Ấn Độ phát triển một cách năng động, có những bước tiến vượt bậc.
Năm 2021 là năm đầu tiên kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ đạt trên 100 triệu USD tăng 40,9% so với năm 2020, cũng trong năm này kim ngạch nhập khẩu đạt 880,3 triệu USD, đánh dấu bước tiến quan trọng đưa tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước lần đầu vượt mức 1 tỷ USD, đạt 1,0181 tỷ USD, tăng 46,7% so với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2020.
Năm 2022, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Ấn Độ đạt 1,5366 tỷ USD tăng 50,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Việt Nam xuất khẩu sang Ấn Độ 179,7 triệu USD (tăng 30,4% so với năm 2021) và nhập khẩu từ Ấn Độ 1,3569 tỷ USD (tăng 54,1% so với năm 2021).
Biểu đồ 2.1. Trị giá xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Ấn Độ các năm
Cuối năm 2022 đầu năm 2023, hệ thống ngân hàng tài chính của Mỹ lâm vào một cuộc khủng hoảng lớn chưa từng có, hậu quả để lại là phản ứng “Domino” gây ra sự sụp đổ dây chuyền của một loạt các cơ cấu tài chính lớn mạnh. Năm 2023, cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ đã lan ra khắp toàn cầu, hàng loạt các nền kinh tế phát triển hàng đầu ở từ khắp châu Âu đến châu Á và châu Mỹ cùng rơi vào suy thoái nghiêm trọng nhất, và việc ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam và Ấn Độ là điều không thể tránh khỏi. Trong bối cảnh khó khăn như vậy, nhưng hoạt động xuất nhập khẩu giữa Việt Nam – Ấn Độ đã đạt được thành tích xuất sắc nhất từ trước tới nay. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước năm 2023* đạt 2,4834 tỷ USD bằng 99,1% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả giai đoạn 2001-2020, về trước hai năm so với mục tiêu đề ra đối với năm 2010. Xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ đã có bước tăng trưởng nhảy vọt 116,5% so với năm 2022, đạt mức 389 triệu USD. Việt Nam nhập khẩu từ Ấn Độ 2,0944 tỷ USD tăng 54,6% so với năm 2022.
Nhập siêu của Việt Nam từ Ấn Độ trong 3 năm 2021, 2022 và 2023 là 3,6251 tỷ USD lớn hơn con số nhập siêu 2,4972 tỷ USD trong cả 15 năm của giai đoạn 1991-2020.
2.2.2. Cơ cấu hàng xuất nhập khẩu giưã Việt Nam và Ấn Độ Khóa luận: Thực trạng xuất nhập khẩu giữ Việt Nam – Ấn Độ
2.2.2.1. Cơ cấu hàng xuất khẩu
a) Khái quát về cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ
Giai đoạn 2001-2020
Bước sang giai đoạn 2001-2020, Việt Nam đã đẩy mạnh xuất khẩu nhiều mặt hàng với giá trị cao hơn sang Ấn Độ, so với tình trạng bán hàng “xén”, bán nhiều thứ mỗi thứ một ít như giai đoạn 1991-2000. Qua biểu đồ 2.4 có thể thấy, xuất khẩu sang Ấn Độ giai đoạn này có 11 mặt hàng chủ lực với tổng trị giá xuất khẩu 176,956 triệu USD chiếm 58% tổng kim ngạch xuất
Thống kê sơ bộ của Tổng cục Thống kê khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Ấn Độ. Trong 11 mặt hàng này có 6 mặt hàng thuộc nhóm nông sản (chiếm 39% tổng kim ngạch xuất khẩu), 1 mặt hàng khoáng sản, 5 mặt hàng còn lại nằm trong nhóm hàng chế biến, chế tạo (hàng công nghiệp nhẹ chiếm 5%, công nghiệp nặng chiếm 7%).
Biểu đồ 2.2. Tỷ trọng mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Ấn Độ giai đoạn 2001-2020
Năm 2021
Năm 2021, cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ đã có những chuyển biến tích cực. Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp vượt lên chiếm tỷ trọng 23,5% trong tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2021, cao hơn tỷ trọng của nhóm nhiên liệu, khoáng sản và công nghiệp nặng (22,6%). Tuy nhiên nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất 38,5%. Xuất khẩu sang Ấn Độ năm 2021 có 23 mặt hàng có kim ngạch trên 1 triệu USD, những mặt hàng này có tổng kim ngạch đạt 111,272 triệu USD chiếm 80,7% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Ấn Độ năm 2021 3. Trong nhóm này có 9 mặt hàng thuộc nhóm nông, lâm, thuỷ sản; 9 mặt hàng thuộc nhóm công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp; chỉ có 5 mặt hàng là thuộc nhóm nhiên liệu, khoáng sản và công nghiệp nặng. Năm 2021, có một số mặt hàng mới có kim ngạch cao, đóng góp tích cực vào tăng trưởng xuất khẩu như: đèn huỳnh quang, cao thuốc…
Năm 2022
Năm 2022 có 14 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1 triệu USD 4. Các mặt hàng nông sản (hạt tiêu, cao su, chè, quế…) và than vẫn tiếp tục đứng đầu về kim ngạch xuất khẩu. Tỷ trọng của nhóm hàng chế biến quan trọng (dệt may, giày dép, hàng điện tử và linh kiện máy tính, hàng thủ công mỹ nghệ, sản phẩm gỗ) đạt 10,6%. Một số mặt hàng khác cũng có tốc độ tăng nhanh nhưng phần đóng góp chưa lớn do kim ngạch tuyệt đối nhỏ như: dây điện và dây cáp điện tăng hơn 9 lần so với năm 2021 (năm 2021 kim ngạch xuất khẩu đạt 27.000 USD), sản phẩm chất dẻo tăng 88,5% so với năm 2021. Khóa luận: Thực trạng xuất nhập khẩu giữ Việt Nam – Ấn Độ
- Xem bảng Khối lượng và giá trị xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu của Việt Nam sang Ấn Độ năm 2021 (phụ lục 3).
- Xem bảng Khối lượng và giá trị xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu của Việt Nam sang Ấn Độ năm 2022 (phụ lục 4).
Năm 2023
Năm 2023, xuất khẩu sang Ấn Độ có quy mô lớn hơn với đa số mặt hàng xuất khẩu chủ lực tăng trưởng mạnh như: than, cà phê, quế, hạt tiêu, cao su, giày dép… Tỷ trọng hàng chế biến sâu (máy tính và linh kiện máy tính) và nhóm hàng công nghiệp tăng lên góp phần đưa tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 116,5% so với năm 2022, đạt mức 389 triệu USD.
Hàng dệt may đã đạt được sự tăng trưởng ấn tượng. Trong khi kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang Ấn Độ giai đoạn 2001-2020 chỉ đạt 2,084 triệu USD thì năm 2021 đạt 2,086 triệu USD; năm 2022 đạt 3,272 triệu USD; đến năm 2023 đã đạt 9,432 triệu USD, đứng thứ 5 trong số các mặt hàng của Việt Nam có kim ngạch xuất khẩu vào Ấn Độ lớn nhất năm 2023.
Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ những năm trước chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Ấn Độ. Năm 2023, mặt hàng này có tốc độ tăng đột biến gấp hơn 6,8 lần so với năm 2022, kim ngạch xuất khẩu đạt 5,767 triệu USD. Do Việt Nam không đánh thuế đối với gỗ nguyên liệu nhập khẩu và thuế xuất khẩu sản phẩm gỗ bằng 0%, thêm vào đó nước ta đã hình thành các cụm chế biến, áp dụng công nghệ tiên tiến về xử lý gỗ, mẫu mã mới đáp ứng đơn hàng lớn, cao cấp hơn.
Bảng 2.2. Khối lượng và trị giá xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu của Việt Nam sang Ấn Độ năm 2023
Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ khởi sắc, do thị trường Ấn Độ có nhu cầu rất lớn về các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam, đặc biệt là sản phẩm mây, tre, cói và sản phẩm gốm sứ. Với hàng trăm làng nghề truyền thống trên cả nước; thợ thủ công có tay nghề cao, sáng tạo; nguyên liệu tự nhiên sẵn có Việt Nam rất có lợi thế trong việc sản xuất và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ. Ba năm trở lại đây kim ngạch xuất khẩu của sản phẩm mây, tre, cói và sản phẩm gốm sứ sang Ấn Độ đều đạt trên 1 triệu USD và có mức tăng trưởng ổn định.
Tuy không có kim ngạch xuất khẩu cao so với nhiều ngành hàng khác nhưng nhóm hàng này lại có giá trị gia tăng rất cao. Nếu như một số mặt hàng xuất khẩu khác như: may mặc, giày dép phải nhập khẩu nhiều nguyên liệu đầu vào nên giá trị ngoại tệ thực thu về cho đất nước chỉ chiếm tỷ trọng 5-20% trong tổng kim ngạch xuất khẩu, thì hàng thủ công mỹ nghệ có nhiều chủng loại hàng đạt giá trị ngoại tệ thực thu đến 80%, thậm chí là 100% trong kim ngạch xuất khẩu. Hàng thủ công mỹ nghệ sử dụng nguyên liệu sẵn có trong nước, phần nhiều được thu lượm từ phế liệu của nông sản. Bên cạnh đó, ngành thủ công mỹ nghệ góp phần quan trọng trong giải quyết lao động nhàn rỗi ở nông thôn, cải thiện đời sống cho người dân ở khu vực này. Đây là mặt hàng có tiềm năng tăng trưởng xuất khẩu rất lớn, nếu biết khai thác những lợi thế sẵn có và có định hướng phát triển hợp lý trong thời gian tới thủ công mỹ nghệ sẽ là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Ấn Độ.
b) Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu của Việt Nam sang thị trường Ấn Độ
Mặt hàng hạt tiêu
Vị trí địa lý và khí hậu Việt Nam có lợi thế cho việc trồng, chế biến và xuất khẩu hạt tiêu. Có mặt tại gần 80 nước và vùng lãnh thổ, chiếm 50% sản lượng xuất khẩu toàn cầu, hạt tiêu Việt Nam đã khẳng định vị trí số 1 và đóng vai trò quyết định trên thị trường thế giới. Trong giai đoạn 2001-2020, hạt tiêu là mặt hàng đứng đầu về kim ngạch xuất khẩu trong cả 5 năm chiếm 15% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Ấn Độ, kim ngạch xuất khẩu bình quân đạt 9,29 triệu USD/năm. Việc mặt hàng hạt tiêu thâm nhập và được tiêu thụ rộng rãi tại thị trường Ấn Độ đã làm tăng đáng kể kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ. Trong 5 năm của giai đoạn 2001-2020, Ấn Độ nhập từ Việt Nam 46.198 tấn hạt tiêu, trở thành một trong 10 thị trường nhập khẩu hạt tiêu lớn nhất của Việt Nam. Việt Nam được đánh giá là nhà cung ứng hạt tiêu lý tưởng nhất với giá cả và chất lượng hết sức cạnh tranh. Những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư các dây chuyền sản xuất tiêu sạch, chế biến hạt tiêu. Đồng thời, để nâng cao chất lượng hạt tiêu, ngay từ khâu thu hoạch, người nông dân đã chú trọng đến việc thu hái và bảo quản hạt tiêu. Vì vậy chất lượng hạt tiêu Việt Nam đã cải thiện đáng kể, giảm dần việc xuất khẩu hạt tiêu thô, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu.
Bảng 2.3. Khối lượng và trị giá xuất khẩu mặt hàng hạt tiêu của Việt Nam sang Ấn Độ giai đoạn 2001-2023
Sau nhiều năm trì trệ, giá hạt tiêu thế giới bắt đầu tăng từ đầu tháng 7-2021, đặc biệt mạnh trong tháng 9-2021 do nhu cầu tăng, đặc biệt là hạt tiêu chất lượng cao, trong khi nguồn cung trên thị trường quốc tế khan hiếm. Giá hạt tiêu thế giới biến động mạnh trong năm 2022. Giá tăng ngay từ những tháng đầu năm, mạnh nhất vào tháng 4-2022, đạt mức đỉnh cao của 6 năm, và cũng là mức giá cao nhất trong năm 2022, 3.900- 4.200 USD/tấn tuỳ loại, tăng khoảng 1000 USD/tấn chỉ trong vòng một tháng, do sản lượng năm 2022 giảm ở hầu hết các nước sản xuất lớn như Việt Nam, Brazil, Indonexia… do thời tiết bất lợi và sâu bệnh. Giá hạt tiêu xuất khẩu của Việt Nam trung bình năm 2022 là 3.760 USD/ tấn, so với chỉ 1.540 USD/tấn của năm 2021. Giá hạt tiêu thế giới năm 2023 tiếp tục giữ vững ở mức cao do nguồn cung tiếp tục khan hiếm. Do những nguyên nhân trên nên mặc dù sản lượng xuất khẩu hạt tiêu sang Ấn Độ năm 2021 giảm 57,8% nhưng trị giá xuất khẩu lại tăng 6,58%. Còn năm 2022 và 2023 sản lượng xuất khẩu sang Ấn Độ lần lượt giảm 50,1% và 28,3% nhưng trị giá xuất khẩu chỉ giảm tương ứng 9,9% và 8,7%. Giá hạt tiêu Ấn Độ cao hơn so với các xuất xứ khác trong bối cảnh đồng Rupi cao giá so với USD đang và sẽ tiếp tục kích thích hoạt động nhập khẩu hạt tiêu chất lượng và giá rẻ hơn ở các xuất xứ khác vào thị trường Ấn Độ.
Mặt hàng chè
Ấn Độ là nước tiêu thụ chè lớn nhất thế giới, chè là đồ uống phổ thông cả nông thôn và thành thị, có thể coi chè là “đồ uống quốc gia” của Ấn Độ.
Ấn Độ hiện chiếm khoảng 14% tổng thương mại về chè của thế giới. Trong khi đó, chè lại là cây công nghiệp có tầm quan trọng chiến lược trong xuất khẩu của Việt Nam. Những năm gần đây, xuất khẩu chè của Việt Nam sang thị trường Ấn Độ liên tục tăng do các công ty Ấn Độ tìm mua chè của Việt Nam để thực hiện các hợp đồng xuất khẩu sang các nước khác. Khóa luận: Thực trạng xuất nhập khẩu giữ Việt Nam – Ấn Độ
Trong giai đoạn 2001-2020, chè là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu sang Ấn Độ lớn thứ hai sau hạt tiêu. Năm 2001, sản lượng xuất đã đạt 6.604 tấn với tổng trị giá 5,067 triệu USD bằng 2,5 tổng kim ngạch xuất khẩu chè của Việt Nam sang Ấn Độ giai đoạn 1992-2000. Sản lượng xuất khẩu đạt mức kỷ lục vào năm 2019 với 19.088 tấn, và tạo bước đột phá trong giá trị xuất khẩu với 12,933 triệu USD chiếm 16,4% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ năm 2019.
Bảng 2.4. Khối lượng và trị giá xuất khẩu mặt hàng chè của Việt Nam sang Ấn Độ giai đoạn 2001-2023
Xuất khẩu chè tới thị trường Ấn Độ đạt mức tăng trưởng cao nhất năm 2021. Năm 2021, lượng chè xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Ấn Độ đạt 11.074 tấn, trị giá 8,204 triệu USD, tăng 299,3% về lượng và 293.3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2020.
Trong khi xuất khẩu chè sang thị trường ấn Độ không ngừng tăng cả về trị giá lẫn sản lượng thì ngược lại, giá chè xuất khẩu sang thị trường này ngày càng giảm sút. Nếu xét về kim ngạch và sản lượng xuất khẩu, Ấn Độ luôn nằm trong danh sách những thị trường xuất khẩu chè hàng đầu của Việt Nam. Tuy nhiên, nếu xét về đơn giá thì Ấn Độ lại nằm trong số các thị trường xuất khẩu chè với mức giá thấp nhất của Việt Nam. Hiện nay, chè Việt Nam chiếm khoảng 80% lượng chè nhập khẩu của Ấn Độ nhưng chỉ chiếm 20% về trị giá do đơn giá thấp. Đa số chè Việt Nam được nhập khẩu vào ấn Độ được dùng để tái xuất ngay sau khi được đóng mác Ấn Độ.
Mặt hàng cao su
Trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực sang Ấn Độ, cao su là mặt hàng có tốc độ tăng trưởng khá ổn định, tăng trưởng bình quân 32,9%/năm.
Theo Tổ chức Nghiên cứu Cao su Quốc tế (IRSG), tổng lượng tiêu thụ cao su Ấn Độ đến năm 2020 sẽ tăng gấp đôi lên 2,2 triệu tấn so với 900.000 tấn vào năm 2023-2009. Ấn Độ sẽ vượt qua Nhật Bản để trở thành nước tiêu thụ cao su lớn thứ 3 thế giới vào năm 2020 nhờ nhu cầu mạnh của ngành công nghiệp ô tô. Hiện tại, Ấn Độ là nước tiêu thụ cao su lớn thứ 4 thế giới với thị phần chiếm 5%. Ngày càng có nhiều nhà sản xuất ô tô chuyển hướng sang Ấn Độ và nhu cầu của ngành sản xuất lốp xe sẽ tăng dần, nới rộng khoảng cách giữa cung và cầu. Nhu cầu tăng nhanh trong khi sản lượng tăng chậm, ước tính chỉ tăng 37% lên 1,2 triệu tấn trong giai đoạn này, buộc Ấn Độ phải nhập khẩu nhiều cao su hơn. Điều này sẽ tạo điều kiện cho xuất khẩu cao su của Việt Nam sang thị trường Ấn Độ tăng cả lượng và trị giá trong thời gian tới.
Mặt hàng than
Bước sang thế kỷ XXI, kinh tế Ấn Độ tăng trưởng nhảy vọt dẫn đến nhu cầu sử dụng than trong nước tăng mạnh. Mặc dù là nước có trữ lượng than lớn thứ tư thế giới nhưng Ấn Độ vẫn phải phụ thuộc nhiều vào than nhập khẩu do lượng than khai thác không đủ đáp ứng nhu cầu. Nắm bắt nhu cầu này Việt Nam đã đẩy mạnh xuất khẩu than sang Ấn Độ với trị giá xuất khẩu tăng dần qua các năm. Xuất khẩu than sang Ấn Độ vượt mức 1 triệu USD vào năm 2003. Cũng giống như mặt hàng chè, năm 2019 ghi nhận sự tăng trưởng ngoạn mục của mặt hàng than cả về sản lượng và trị giá xuất khẩu: sản lượng đạt 216.305 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 11,996 triệu USD. Sự đóng góp của một số mặt hàng như chè, than… đã góp phần đưa tổng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam sang Ấn Độ lên 78,6 triệu USD, tăng 143,3% so với năm 2003. Năm 2020, mặc dù sản lượng than xuất khẩu giảm 36,3% nhưng trị giá xuất khẩu chỉ giảm 1,97% nguyên nhân là do giá than xuất khẩu của Việt Nam năm 2020 đã tăng cao hơn năm 2019.
Bảng 2.5. Khối lượng và trị giá xuất khẩu mặt hàng than của Việt Nam sang Ấn Độ giai đoạn 2001-2023
Liên tục trong 3 năm 2021, 2022, 2023 than là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu cao nhất trong tất cả các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ. Năm 2021, xuất khẩu than sang Ấn Độ tăng 72,2% về trị giá và 103,6% về sản lượng so với năm 2020, điều này cho thấy nhu cầu về năng lượng của Ấn Độ rất lớn và sẽ ngày càng gia tăng trong tương lai. Giá than xuất khẩu của Việt Nam năm 2021 và 2022 liên tiếp giảm trong khi các mặt hàng nguyên nhiên liệu nói chung giá xuất nhập khẩu đều tăng, theo đánh giá chủ quan nguyên nhân chính có thể do chất lượng than xuất khẩu giảm do khai thác đại trà. Năm 2023, giá than xuất khẩu trung bình thế giới tăng 3 lần do nhu cầu than đá tăng lên ở một số nền kinh tế mới nổi và nguồn cung than hạn chế. Trong bối cảnh đó, mặc dù sản lượng than Việt Nam xuất khẩu sang Ấn Độ năm 2023 giảm 10,3% so với năm 2022 nhưng trị giá xuất khẩu lại tăng 154% đạt mức 54,764 triệu USD. Khóa luận: Thực trạng xuất nhập khẩu giữ Việt Nam – Ấn Độ
Nhưng việc dựa vào xuất khẩu than để thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu là không bền vững. Hiện cả nước sản xuất khoảng 40 triệu tấn than, lượng tiêu thụ trong nước chiếm 50% (số còn lại là xuất khẩu), trong đó riêng các nhà máy nhiệt điện đã tiêu thụ đến 6 triệu tấn/năm. Tuy nhiên, theo Báo cáo của Tập đoàn than và khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) nếu căn cứ vào quy hoạch của các ngành điện, xi măng, giấy, đạm, luyện kim, hóa chất… thì đến năm 2012 Việt Nam bắt đầu thiếu than và phải nhập khẩu từ nước ngoài. Vì thế xuất khẩu than chỉ là biện pháp tạm thời, về lâu dài sẽ phải hạn chế xuất khẩu và tiến tới là dừng xuất khẩu than để đảm bảo an ninh năng lượng, giảm bớt sự phụ thuộc của Việt Nam vào nguồn năng lượng nhập khẩu trong tương lai.
Giày dép
Việt Nam là quốc gia đứng thứ 4 thế giới về xuất khẩu giày dép, sức cạnh tranh của sản phẩm giày dép Việt Nam vượt trội so với các nước khác cả về chất lượng và giá cả. Vì vậy mà sản phẩm giày dép của Việt Nam ngày càng được ưa chuộng trên thị trường Ấn Độ. Điều này thể hiện ở kim ngạch xuất khẩu giày dép sang Ấn Độ qua các năm, năm 2001 kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 370.000 USD thì đến năm 2023 con số này đã là 5,554 triệu USD, tăng trưởng bình quân hàng năm là 52%. Tỷ trọng giày dép trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ tăng từ 0,81% năm 2001 lên 1,42% năm 2023 (đặc biệt năm 2003 kim ngạch xuất khẩu giày dép chiếm 3,4% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ).
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện
Kim ngạch xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện của Việt Nam sang Ấn Độ có xuất phát điểm rất thấp nhưng qua 8 năm phát triển đã có bước tăng trưởng ngoạn mục trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Ấn Độ. Năm 2001, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này chỉ đạt 375.000 USD, năm 2019 đạt 3,937 triệu USD. Đến năm 2023 kim ngạch xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đã đạt 29,059 triệu USD chiếm tỷ trọng 7,47% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ, đứng thứ hai trong số các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất.
Biểu đồ 2.4. Trị giá xuất khẩu mặt hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện của Việt Nam sang Ấn Độ giai đoạn 2001-2023
Sở dĩ, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện của Việt Nam sang Ấn Độ có được thành tích ấn tượng như vậy là vì những lý do cơ bản sau đây:
- Thứ nhất, trong những năm gần đây, làn sóng đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực điện, điện tử và sản xuất linh kiện máy tính ở Việt Nam đã tăng rất mạnh với nhiều dự án đầu tư rất lớn như dự án đầu tư sản xuất chip điện tử của Tập đoàn Intel (1 tỉ USD), dự án của Tập đoàn Nidec Nhật Bản sản xuất đầu đọc quang học và mô tơ siêu nhỏ (1 tỉ USD), dự án của Tập đoàn Foxconn Đài Loan sản xuất linh kiện điện tử.
- Thứ hai, đối thủ cạnh tranh lớn nhất của Việt Nam là Malaysia, Thái Lan và Trung Quốc. Tuy nhiên, lợi thế về nhân công đã và đang có sự dịch chuyển từ Malaysia và Thái Lan sang Việt Nam. Riêng đối với Trung Quốc thì sự phát triển kinh tế được coi là quá nóng của nước này cũng đang tạo ra sự chuyển dịch đầu tư của các tập đoàn điện tử lớn của thế giới sang Việt Nam.
Chính những yếu tố trên đã tăng cường sức cạnh tranh của mặt hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện của Việt Nam trên thị trường Ấn Độ. Theo đánh giá, đây là mặt hàng có nhiều khả năng tạo ra sự tăng trưởng đột biến trong thời gian tới và với những định hướng phát triển phù hợp thì đây sẽ là mặt hàng tạo kim ngạch xuất khẩu lớn của Việt Nam trong số các mặt hàng xuất khẩu sang Ấn Độ.
2.2.2.2. Cơ cấu hàng nhập khẩu Khóa luận: Thực trạng xuất nhập khẩu giữ Việt Nam – Ấn Độ
a) Khái quát về cơ cấu hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Ấn Độ
Nhập khẩu có tác động trực tiếp đến sản xuất và kinh doanh thương mại vì qua hoạt động nhập khẩu cung cấp cho nền kinh tế 60-100% tư liệu sản xuất. Trong điều kiện công nghiệp sản xuất nguyên liệu trong nước chưa phát triển, việc nhập khẩu những nguyên liệu cao cấp như sợi cho ngành dệt, vải cho ngành may, phân bón cho nông nghiệp, các linh kiện cho ngành lắp ráp xe máy, điện tử, xe hơi…đã và đang góp phần quan trọng trong thực hiện chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hướng về xuất khẩu.
Ấn Độ là một trong 20 thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam trong giai đoạn 1991-2020. Ưu điểm của các mặt hàng Việt Nam nhập khẩu từ Ấn Độ ngoài chất lượng khá tốt còn có giá cả cạnh tranh so với các sản phẩm cùng loại nhập từ thị trường châu Âu, Mỹ hay Nhật Bản. Do tính chất của các mặt hàng nhập khẩu là các hàng tinh chế, có hàm lượng công nghệ cao mà giá trị nhập khẩu từ Ấn Độ rất lớn, chiếm tỷ trọng trên 80% trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hai nước.
Biểu đồ 2.5. Tỷ trọng mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam từ Ấn Độ giai đoạn 2001-2023
Nguyên, nhiên vật liệu chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng trị giá các mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Ấn Độ và hầu như chưa có sự chuyển biến rõ nét nào trong thời gian qua. Máy móc, thiết bị chỉ chiếm tỷ trọng thấp trong tổng kim ngạch nhập khẩu. Qua biểu đồ 2.5 có thể thấy trong 10 mặt hàng nhập khẩu chủ yếu từ Ấn Độ giai đoạn 2001-2023 (có kim ngạch nhập khẩu trên 100 triệu USD), có tới 8 mặt hàng nằm trong nhóm nguyên, nhiên vật liệu, chiếm tỷ trọng 51% trong tổng kim ngạch nhập khẩu. Việc này thể hiện sự phụ thuộc của nền kinh tế Việt Nam vào nguồn nguyên liệu và bán thành phẩm của nước ngoài, là nền kinh tế chuyên gia công từ những sản phẩm phức tạp như ô tô, xe máy, đến những sản phẩm đơn giản như giày dép, dệt may.
Tỷ trọng hàng tiêu dùng nhập khẩu từ Ấn Độ không cao, điều này hoàn toàn phù hợp với mục tiêu hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng trong chiến lược ngoại thương của Việt Nam 5.
Năm 2023 vẫn không có sự thay đổi lớn trong cơ cấu các mặt hàng nhập khẩu từ Ấn Độ, thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu chế biến, sắt thép, dược phẩm, chất dẻo nguyên liệu… vẫn là những mặt hàng nhập khẩu chủ lực.
Bảng 2.6. Khối lượng và trị giá nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu của Việt Nam từ Ấn Độ năm 2023
Xem thêm bảng Khối lượng và trị giá nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu của Việt Nam từ Ấn Độ năm 2021, 2022 tại phụ lục 5 và phụ lục 6 Khóa luận: Thực trạng xuất nhập khẩu giữ Việt Nam – Ấn Độ
b) Tình hình nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu của Việt Nam từ Ấn Độ
Thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu chế biến
Thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu chế biến là mặt hàng đứng đầu về kim ngạch nhập khẩu từ Ấn Độ trong 3 năm 2021, 2022, 2023 với trị giá nhập khẩu lần lượt là 244,956 triệu USD; 450,638 triệu USD và 784,184 triệu USD. Năm 2023, Ấn Độ trở thành thị trường nhập khẩu thức ăn gia súc lớn nhất của Việt Nam. Sự nhảy vọt về trị giá nhập khẩu mặt hàng này trong 3 năm gần đây đã đưa thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu chế biến trở thành mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu lớn nhất trong giai đoạn 2001-2023 mặc dù kim ngạch nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu chế biến trong giai đoạn 5 năm (2001-2020) chỉ đạt 155,5 triệu USD.
Là một nước nông nghiệp nhưng Việt Nam lại phải phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu ngoài để phục vụ ngành chăn nuôi là một điều bất hợp lý. Sự lệ thuộc như thế làm cho chi phí sản xuất đầu vào cao, tính ổn định kinh doanh bị hạn chế, giảm khả năng cạnh tranh về giá của các sản phẩm thịt gia súc, gia cầm ngay trên thị trường nội địa khi so với các sản phẩm thịt nhập khẩu nhất là trong bối cảnh mở cửa thị trường theo cam kết với WTO.
Chất dẻo nguyên liệu
Với những đặc tính quý báu, đa dạng và tiện lợi của mình mà những vật liệu truyền thống không có được, chất dẻo đang dần chiếm lĩnh mọi lĩnh vực sử dụng. Cùng với việc các sản phẩm làm từ chất dẻo hiện nay hầu như có mặt ở khắp các ngành công nghiệp, nhu cầu sản phẩm chất dẻo phục vụ cho xuất khẩu và sử dụng trong nước ngày càng cao, đòi hỏi nguồn nguyên liệu của ngành công nghiệp chất dẻo ngày càng lớn. Trong bối cảnh sản xuất trong nước mới chỉ đáp ứng được một phần rất nhỏ, nên Việt Nam phải phụ thuộc phần lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, trong đó có nguồn chất dẻo nguyên liệu nhập từ Ấn Độ. Mặt hàng chất dẻo nguyên liệu của Ấn Độ đã tìm được chỗ đứng ở thị trường Việt Nam từ những năm 1990 do chất lượng tốt, sự đa dạng về chủng loại và giá cạnh tranh.
Bảng 2.7. Khối lượng và trị giá nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu của Việt Nam từ Ấn Độ giai đoạn 2001-2023
Nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu của Ấn Độ vào Việt Nam trong nhiều năm gần đây có sự biến động liên tục. Sau 4 năm (2001-2019) liên tục tăng về trị giá nhập khẩu với mức tăng trung bình 63,4% đến năm 2020 lượng nhập khẩu giảm 34,4% khiến trị giá nhập khẩu giảm 27,7% xuống còn 46,2 triệu USD.
Giá nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu trung bình từ Ấn Độ về Việt Nam trong 8 năm qua cũng đã tăng từ 553,4 USD/tấn trong năm 2002 lên 1.013 USD/tấn năm 2020 và 1.376,8 USD/tấn trong năm 2023. Đây là một sản phẩm của ngành công nghiệp hoá dầu nên ngoài ảnh hưởng về cung – cầu nguyên liệu, giá cả chất dẻo nguyên liệu có liên quan mật thiết đến sự biến động của giá dầu thô trên thế giới. Trong năm 2022, qua các đợt tăng giá của giá dầu thô, giá cả chất dẻo nguyên liệu nhập từ Ấn Độ đã tăng trung bình 8% so với năm 2021. Vì vậy, trong năm 2022, mặc dù khối lượng chất dẻo nguyên liệu nhập khẩu tăng 23,6% song kim ngạch nhập khẩu lại tăng tới 33,5% so với năm trước đó, đạt tổng cộng 1,6 triệu tấn, trị giá 2,5 tỷ USD. Năm 2023, hoạt động xuất khẩu các sản phẩm chất dẻo khó khăn hơn do tác động của suy giảm kinh tế toàn cầu, tiêu thụ trong nước cũng chậm lại nên nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu từ Ấn Độ trong năm 2023 chững lại, trị giá nhập khẩu giảm 38,4% xuống còn 53,662 triệu USD và lượng nhập khẩu giảm 43% xuống còn 38.975 tấn.
Dược phẩm
Việt Nam không nhập khẩu nhiều mặt hàng tiêu dùng từ Ấn Độ, chỉ tập trung vào một vài mặt hàng mà Ấn Độ có thế mạnh, trong đó dược phẩm là mặt hàng tiêu dùng có kim ngạch nhập khẩu lớn nhất kể từ năm 1992. Riêng trong giai đoạn 1991-2000, tổng kim ngạch nhập khẩu dược phẩm đã đạt 114,7 triệu USD chiếm 15,7% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ Ấn Độ cả giai đoạn này.
Dược phẩm là mặt hàng thiết yếu, không thể thiếu trong đời sống của người dân nhất là với nước đông dân như Việt Nam. Nhưng do điều kiện sản xuất trong nước còn yếu kém, Việt Nam chưa thể sản xuất lượng dược phẩm lớn, chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu nội địa. 50% thị phần trong nước là dược phẩm nhập khẩu, thuốc ngoại nhập vẫn chiếm vị trí quan trọng khi cung ứng tới 60% trị giá thuốc cho thị trường trong nước, trong đó có nhiều loại thuốc đặc trị, chuyên khoa sâu, thuốc có công nghệ cao mà Việt Nam chưa sản xuất được. Trong khi đó, sản phẩm dược của Ấn Độ rất đa dạng về chủng loại, chất lượng tốt, giá thành lại không quá cao như các sản phẩm nhập khẩu từ thị trường các nước châu Âu hay Nhật Bản.
Do tính chất thiết yếu của dược phẩm nên trị giá nhập khẩu của mặt hàng này tăng đều và ổn định qua các năm. Nếu từ năm 2001 đến năm 2019, tăng trưởng nhập khẩu dược phẩm từ Ấn Độ chỉ đạt bình quân 16,8%/năm thì đến giai đoạn 2020-2023, con số này đã là 27,1%. Điều này không chỉ thể hiện nhu cầu dược phẩm tăng theo dân số mà còn thể hiện thu nhập và đời sống người dân ngày một nâng cao nên việc sử dụng dược phẩm nhập khẩu có chất lượng tốt ngày một tăng lên. Năm 2023, Ấn Độ đứng thứ hai chỉ sau Pháp trong các thị trường nhập khẩu dược phẩm lớn nhất của Việt Nam. Chỉ riêng trong tháng 1-2009, Việt Nam đã nhập khẩu từ Ấn Độ 7,167 triệu USD thuốc tân dược các loại.
Sắt thép các loại
Những năm đầu của công cuộc kiến thiết đất nước và quá trình công nghiệp hoá – hiện đại đất nước đòi hỏi nhiều nỗ lực nâng cấp cơ sở hạ tầng, cầu đường… cũng như xây dựng các công trình công nghiệp, công trình dân dụng và quân sự. Tất cả những nhiệm vụ này đều đòi hỏi một lượng lớn nguyên liệu sắt thép các loại, trong khi sản lượng thép của Việt Nam không đủ cũng như không đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng cho một số ngành chế tạo. Chính vì vậy, sắt thép là một trong những nguyên vật liệu Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất từ Ấn Độ trong cả giai đoạn 2001-2023.
Bảng 2.8. Khối lượng và trị giá nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ Ấn Độ giai đoạn 2001-2023
Giai đoạn 2001-2020, nhập khẩu từ Ấn Độ có sự tăng trưởng liên tục do có sự gia tăng về nhu cầu sắt thép ở Việt Nam và sự ổn định của thị trường sắt thép thế giới. Năm 2020, nhập khẩu sắt thép Ấn Độ sang Việt Nam đã tăng 4,7 lần về lượng và tăng tới 6,1 lần về trị giá so với năm 2001. Khóa luận: Thực trạng xuất nhập khẩu giữ Việt Nam – Ấn Độ
Có thể thấy, diễn biến lượng sắt thép nhập khẩu năm 2023 của Việt Nam hoàn toàn trái ngược với năm 2022 và năm 2021. Đón đầu được sự tăng giá mạnh của thị trường thế giới, các doanh nghiệp đã tranh thủ nhập rất nhiều trong các tháng đầu năm 2023. Năm 2023, do chính sách hạn chế xuất khẩu sắt thép của Trung Quốc trong những tháng đầu năm đã khiến cho doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh tìm kiếm đối tác từ các nước khác. Đến cuối năm, Trung Quốc thả lỏng xuất khẩu thì Việt Nam lại hạn chế nhập khẩu do tồn kho nhiều. Do vậy, lượng nhập khẩu từ Trung Quốc năm 2023 đã giảm mạnh 21,25% so với năm 2022 và lượng sắt thép nhập khẩu từ Ấn Độ và nhiều thị trường khác trong năm 2023 tăng rất mạnh. Lượng sắt thép nhập khẩu từ Ấn Độ năm 2023 gấp 2 lần lượng sắt thép nhập khẩu của cả 2 năm 2021 và 2022, đạt 155.855 tấn với trị giá nhập khẩu là 134,634 triệu USD (chiếm tỷ trọng 6,4% trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Ấn Độ năm 2023).
Theo Hiệp hội thép Việt Nam, trong năm nay 2009, dự kiến nhu cầu thép các loại trên cả nước là hơn 10,5 triệu tấn. Tuy nhiên, dự kiến sản xuất trong nước mới đạt khoảng 5,5 triệu tấn, còn lại 5 triệu tấn vẫn phải nhập khẩu.
Nhóm hàng nguyên phụ liệu ngành dệt may, da giày
Ấn Độ là nước sản xuất sợi bông hàng đầu và đang trở thành nhà sản xuất đứng thứ 2 trên thế giới về mặt hàng lụa và đứng trong danh sách 5 nước sản xuất vải sợi hàng đầu thế giới. Do công nghệ dệt may của Ấn Độ đã có từ lâu đời và rất phát triển, ngày nay sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại – với tính ưu việt của công nghệ đã mang lại cho các nguyên phụ liệu dệt may, da giày Ấn Độ những ưu điểm mà khó có quốc gia nào có thể sánh kịp. Việt Nam đã biết khai thác những thế mạnh và tinh hoa của ngành này để phục vụ cho công nghiệp may mặc, da giày của mình, nâng cao chất lượng thành phẩm, tăng giá trị sản phẩm, đem lại nhiều nguồn lợi cho quốc gia. Ấn Độ là một trong những thị trường nhập khẩu bông, sợi dệt và vải lớn nhất của Việt Nam.
Dệt may và da giày là hai ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Cùng với sự phát triển của hai ngành này nhu cầu về nguyên phụ liệu (bao gồm: bông, vải, sợi dệt và phụ liệu dệt may, da giày) ngày càng tăng lên. Qua bảng 2.15 có thể thấy, cả 4 mặt hàng này đều có sự tăng trưởng nhảy vọt trong 8 năm của giai đoạn nghiên cứu.
Bảng 2.9. Trị giá nhập khẩu nguyên phụ liệu ngành dệt may, da giày của Việt Nam từ Ấn Độ giai đoạn 2001-2023
Kim ngạch nhập khẩu bông tăng từ 400.000 USD năm 2003 lên 4,5 triệu USD năm 2019. Kể từ năm 2019 tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 128,1%. Kim ngạch nhập khẩu phụ liệu dệt may, da giày đạt 56,903 triệu USD năm 2023, tăng 24,7% so với cùng kỳ năm 2001. Nhìn chung năm 2022, có sự sụt giảm nhẹ về kim ngạch nhập khẩu của 3 mặt hàng phụ liệu dệt may, da giày; sợi dệt và vải. Tuy nhiên, năm 2023 trị giá nhập khẩu của 3 mặt hàng này lại tăng mạnh trở lại, chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam từ Ấn Độ.
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – ẤN ĐỘ Khóa luận: Thực trạng xuất nhập khẩu giữ Việt Nam – Ấn Độ
2.3.1. Thành tựu chủ yếu
Trong giai đoạn năm 2001- 2023, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Ấn Độ đạt 7,5435 tỷ USD (trong khi tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước giai đoạn 1991-2000 mới chỉ đạt 896,4 triệu USD).
Đây là một thành tựu hết sức quý báu thể hiện nỗ lực của hai nước trong việc phát triển quan hệ thương mại song phương.
Quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Ấn Độ đã được mở rộng và tăng trưởng ở mức độ khá cao. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng nhập khẩu 6.
So với giai đoạn trước, mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ giai đoạn này khá phong phú, đa dạng, không chỉ tập trung ở các mặt hàng nông sản mà mở rộng sang khoáng sản, hàng công nghiệp nhẹ, thủ công mỹ nghệ… Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ đã phát huy được lợi thế đất nước về tài nguyên thiên nhiên, điều kiện tự nhiên và nguồn nhân lực.
Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu đã có những chuyển dịch tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng nhóm hàng chế biến, chế tạo (da giày, dệt may, thủ công mỹ nghệ), nhóm hàng có hàm lượng công nghệ và chất xám cao (điện tử và linh kiện máy tính). Nhiều mặt hàng có tốc độ tăng trưởng cao đang và sẽ là những hạt nhân quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Ấn Độ trong những năm tới đây như sản phẩm gỗ; sản phẩm mây, tre, cói; gốm sứ; rau, hoa quả…
Tăng trưởng xuất khẩu bình quân giai đoạn 2001-2023 đạt 47,4% và tăng trưởng nhập khẩu bình quân giai đoạn này đạt 38,5%.
2.3.2. Những hạn chế cơ bản Khóa luận: Thực trạng xuất nhập khẩu giữ Việt Nam – Ấn Độ
Quy mô xuất nhập khẩu vẫn còn nhỏ bé, giai đoạn 2001-2023, tỷ trọng trung bình hàng hoá xuất khẩu từ Ấn Độ sang Việt Nam chỉ chiếm 0,74% tổng kim ngạch xuất khẩu của Ấn Độ. Hàng hoá nhập khẩu từ Việt Nam chỉ chiếm 0,066% tổng kim ngạch nhập khẩu của Ấn Độ. Tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu nhanh nhưng không ổn định.
Thương mại song phương vẫn mất cân đối nghiêm trọng. Điều đáng nói là cán cân thương mại càng về sau càng có lợi cho Ấn Độ và bất lợi cho Việt Nam. Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam từ Ấn Độ giai đoạn 2001-2023 đạt 6,5309 tỷ USD, trong khi đó kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Ấn Độ chỉ bằng 1/6 kim ngạch nhập khẩu, đạt 1,0126 tỷ USD. Trong cả giai đoạn này Việt Nam nhập siêu từ Ấn Độ 5,5183 tỷ USD.
Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ còn chưa hợp lý thể hiện trên hai phương diện: (1) Các mặt hàng xuất khẩu có giá trị gia tăng còn thấp. Xuất khẩu vẫn chủ yếu phụ thuộc vào mặt hàng khoáng sản (than đá), nông sản trong khi các mặt hàng công nghiệp như dệt may, da giày, điện tử và linh kiện máy tính… chủ yếu mang tính chất gia công; (2) Cơ cấu hàng xuất khẩu chủ yếu chuyển dịch theo chiều rộng mà chưa đi vào chiều sâu, xuất khẩu chủ yếu dựa vào khai thác lợi thế so sánh sẵn có mà chưa khai thác được lợi thế cạnh tranh thông qua việc xây dựng các ngành công nghiệp có mối liên kết chặt chẽ với nhau để hình thành chuỗi giá trị gia tăng xuất khẩu lớn.
Việt Nam vẫn phải lệ thuộc vào nông sản, khai thác nguyên liệu khoáng sản để xuất khẩu, lấy nguồn nguyên vật liệu nước ngoài để gia công lắp ráp, vì thế kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ càng tăng thì nhập siêu từ Ấn Độ lại càng lớn.
2.3.3. Nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng xuất nhập khẩu giữ Việt Nam – Ấn Độ
2.3.3.1. Nguyên nhân của những thành tựu
Thứ nhất, những đổi mới trong chính sách thương mại của Ấn Độ đã góp phần quan trọng trong mở rộng thêm cơ hội xuất khẩu cho hàng hoá Việt Nam, gia tăng kim ngạch thương mại hai chiều. Năm 2019 Ấn Độ đã thực hiện cải cách mạnh mẽ chính sách thương mại để phù hợp với xu thế tự do hoá thương mại trên toàn cầu. Chính sách này mở rộng tự do cho xuất nhập khẩu và đặc biệt chú trọng đến hoạt động nhập khẩu những hàng hoá và dịch vụ cần thiết cho việc thúc đẩy nền kinh tế và đưa ra cách chương trình cụ thể hơn.
Thứ hai, sự quan tâm của Chính phủ Ấn Độ đối với ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng. Trong đường lối đối ngoại để phát triển kinh tế của mình, bên cạnh việc tăng cường quan hệ với các đối tác EU, Hoa Kỳ, Nga…, Ấn Độ cũng công khai thừa nhận ưu tiên lớn nhất của nước này vẫn là chính sách “hướng Đông”, nghĩa là quan hệ với các nước trong lục địa châu Á. Đây là đường lối ngoại giao kinh tế được đưa ra từ thập niên 1990, dưới thời Thủ tướng Narshimha Rao và đã mang lại những kết quả tốt đẹp trong gần 2 thập kỷ qua. Phạm vi không gian của chính sách này bao gồm một khu vực rộng lớn chạy dài từ New Zealand qua Đông Nam Á tới Đông Bắc Á. Đặc biệt, Ấn Độ chia các nước trong châu lục ra các khối ưu tiên: nhóm nước có quan hệ truyền thống cần duy trì hợp tác chiến lược như Việt Nam, Thái Lan, Singapore; nhóm nước có quan hệ bình thường cần tiếp tục phát huy; nhóm nước “cựu thù” cần tiếp xúc và hoà giải…
Ấn Độ đặt Đông Nam Á vào vị trí quan trọng, là một bộ phận cầu nối hợp tác châu Á – Thái Bình Dương và xây dựng quan hệ cân bằng với các nước lớn. Ấn Độ khẳng định việc tăng cường với các nước Đông Nam Á về thương mại và đầu tư là một phần chủ chốt trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ. Trong việc triển khai chính sách “hướng Đông”, Ấn Độ hết sức coi trọng và đặt ưu tiên cao cho việc củng cố và tăng cường mối quan hệ hữu nghị truyền thống, tin cậy và được thử thách qua thời gian với Việt Nam, coi Việt Nam là nước đóng vai trò quan trọng ở khu vực và là cầu nối đi vào Đông Nam Á.
Thứ ba, giá cả nhiều loại hàng hoá trên thế giới tăng cao. Sự biến động về giá, đặc biệt là sự tăng lên trong giá xuất khẩu của một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Ấn Độ trong nhóm hàng nông sản và khoáng sản như hạt tiêu, cao su, than đá… đã góp phần nâng cao kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Ấn Độ trong giai đoạn 2001-2023.
Thứ tư, Việt Nam đã thu hút được một lượng lớn vốn đầu tư phục vụ sản xuất, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài, tạo ra nguồn lực quan trọng để mở rộng quy mô sản xuất trong nước, nâng cao chất lượng hàng hoá và gia tăng khối lượng hàng hoá phục vụ cho xuất khẩu.
Thứ năm, Việt Nam đang trong giai đoạn công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ, nhu cầu về nguyên vật liệu phục vụ sản xuất cho thị trường nội địa và xuất khẩu rất lớn, trong khi đó do hạn chế về trình độ kỹ thuật, công nghệ và nhân lực có trình độ cao nên nguyên vật liệu sản xuất trong nước chưa đủ hoặc chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng nên tỷ trọng nhập khẩu nguyên vật liệu ngày càng gia tăng. Ấn Độ là một trong 10 cường quốc công nghiệp trên thế giới, có trình độ khoa học kỹ thuật vượt trội hơn Việt Nam, nên các mặt hàng Việt Nam nhập khẩu từ Ấn Độ có chất lượng tốt, giá cả lại cạnh tranh hơn các nước công nghiệp phát triển khác. Chính vì vậy, Việt Nam ngày càng nhập khẩu nguyên vật liệu nhiều hơn từ Ấn Độ để phục vụ cho việc sản xuất phát triển kinh tế. Điều này đã giúp tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Ấn Độ trong thời gian qua tăng lên nhanh chóng.
2.3.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế
Thứ nhất, Việt Nam và Ấn Độ là những nước đang phát triển, đang trong thời kỳ chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, đều có nhu cầu lớn về vốn, thị trường xuất khẩu, kỹ thuật cao để hiện đại hoá nền kinh tế. Những mặt hàng xuất khẩu là thế mạnh của Việt Nam như: gạo, cà phê, hạt điều, chè, hạt tiêu, hải sản, giày dép và quần áo may sẵn…; thì Ấn Độ có khả năng tự sản xuất được với chất lượng tốt nên không phải phụ thuộc quá nhiều vào việc nhập khẩu. Khóa luận: Thực trạng xuất nhập khẩu giữ Việt Nam – Ấn Độ
Thứ hai, hoạt động xúc tiến thương mại của Việt Nam và Ấn Độ chưa đủ mạnh, các doanh nghiệp hai nước còn thiếu hiểu biết về thị trường của nhau. Doanh nghiệp hai nước ít trao đổi đoàn và tiếp xúc, thiếu thông tin về khả năng thị trường của nhau. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa đánh giá một cách đầy đủ tiềm năng kinh tế của Ấn Độ, thiếu tầm nhìn xa nên chưa thúc đẩy hợp tác cũng như tìm biện pháp tháo gỡ khó khăn trong lĩnh vực hợp tác cụ thể để đưa quan hệ thương mại hai nước ngày càng phát triển. Các doanh nghiệp Việt Nam chưa chủ động thâm nhập thị trường Ấn Độ, còn hạn chế trong thực hiện xúc tiến xuất khẩu và tổ chức hệ thống phân phối trên thị trường Ấn Độ. Doanh nghiệp Việt Nam có ít hiểu biết về đối tác nên gặp nhiều khó khăn và thua thiệt kể từ khâu đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng ngoại thương.
Trong khi, Ấn Độ có khoảng 70 công ty đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam thì Việt Nam chưa có công ty nào mở văn phòng tại Ấn Độ.
Thứ ba, thủ tục hành chính hai nước còn nặng nề. Cơ chế hợp tác có sự khác biệt, sự phức tạp của hệ thống luật lệ, quy định và thủ tục của Ấn Độ cũng khiến cho các doanh nghiệp Việt Nam khó tạo được sự đột phá trong buôn bán với Ấn Độ. Chính sách và quy định thương mại của Việt Nam còn nhiều bất cập, môi trường pháp lý chưa thông thoáng, thủ tục hành chính phức tạp gây nhiều phiền hà cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Vai trò của doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa được đề cao đúng mức trong kinh doanh xuất nhập khẩu. Hai nước chưa có đường bay trực tiếp cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến hợp tác thương mại.
Thứ tư, hàng rào thuế quan của Ấn Độ vẫn ở mức cao trên thế giới. Qua nhiều lần điều chỉnh, sửa đổi, thuế hải quan Ấn Độ vẫn rất phức tạp với 20 mức thuế suất (182, 160, 150, 105, 100, 85, 75, 70, 65, 45, 40, 35, 30, 25, 15, 10, 5, 3 và 0%). Trong lĩnh vực nông nghiệp, mức thuế trung bình 42% của Ấn Độ cao gấp 7 lần so với mức thuế đánh vào các sản phẩm phi nông sản và là mức cao nhất thế giới. Các sản phẩm nhập khẩu miễn thuế theo MFN chỉ chiếm 7,8% trong tổng các sản phẩm nhập khẩu năm 2020 của Ấn Độ.
Thứ năm, việc xuất khẩu chủ yếu dựa vào nông sản thô ít qua chế biến và nguyên liệu khai thác từ tài nguyên thiên nhiên có rất nhiều nhược điểm:
Đây là những mặt hàng chịu nhiều tác động của thị trường thế giới nên giá cả rất bấp bênh, lúc lên lúc xuống. Khó đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu vì việc sản xuất và xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, đất đai, thời tiết, khí hậu, nước, dịch sâu bệnh…
Việc xuất khẩu thô chẳng những giá bán thấp, mà còn tạo thế bất lợi trong đàm phán vì xuất khẩu thô hàng nhanh giảm chất lượng, khó đa dạng về mẫu mã, chủng loại, khó tạo thương hiệu riêng cho hàng xuất khẩu. Ngoài ra không cho phép sử dụng lợi thế lao động của Việt Nam.
Nông sản khó bảo quản và vận chuyển so với hàng công nghiệp, tỷ lệ hao hụt sản phẩm lớn, hiệu quả kinh doanh thấp.
Thứ sáu, các hiệp hội ngành hàng chưa thể hiện đúng vai trò của mình trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu. Khóa luận: Thực trạng xuất nhập khẩu giữ Việt Nam – Ấn Độ
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp thúc đẩy quan hệ giữ Việt Nam – Ấn Độ

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Tổng quan về quan hệ giữa Việt Nam - Ấn Độ