Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu cà phê tại Cty Generalexim

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu cà phê tại Cty Generalexim hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Hoạt động xuất khẩu cà phê tại công ty Generalexim dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

III. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ – CÔNG TY GENERALEXIM GIAI ĐOẠN 2005 – 2008

1. Hoạt động thu mua cà phê xuất khẩu

Do công ty là phân tử trung gian liên kết giữa người sản xuất trong nước với khách hàng nước ngoài, thị trường cà phê của công ty bao gồm hai bộ phận. Thị trường đầu ra, hay thị trường xuất khẩu, là thị trường chính của công ty, quyết định sự tồn tại và phát triển của mặt hàng cà phê. Thị trường đầu vào (sau đây gọi là vùng thu mua) lại quyết định đến khả năng cung cấp về cả số lượng và chất lượng. Do đó, công ty cần phải biết liên kết hai thị trường này để tạo điều kiện cho hoạt động xuất khẩu diễn ra hiệu quả đồng thời mở rộng nguồn cung ứng. Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu cà phê tại Cty Generalexim

1.1. Vùng thu mua cà phê

Generalexim là một doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu chứ không sản xuất do đó công ty phải tiến hành các hoạt động thu gom để tạo nguồn hàng xuất khẩu khi việc ký kết hợp đồng xuất khẩu với đối tác nước ngoài đã được thực hiện, L/C đã được mở (nếu hai bên thoả thuận phương thức thanh toán là tín dụng chứng từ). Chính vì vậy mà khâu thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu là một khâu hết sức quan trọng đối với công ty. Trong thời gian qua, công ty chủ yếu thu mua cà phê ở các tỉnh như Lâm Đồng, Đồng Nai, Gia Lai, Đắc Lắc, Plâyku, Kontum… Đây chính là những vùng có sản lượng cà phê được sản xuất ra hàng năm lớn nhất trong cả nước và cũng là nơi có chi phí thu mua thường thấp hơn, chất lượng cà phê được đảm bảo hơn so với các vùng khác. Nguyên nhân là do trình độ kỹ thuật các khâu như thu hoạch, phơi sấy, chế biến… tốt hơn, đáp ứng được yêu cầu của cà phê xuất khẩu. Ngoài ra, nơi đây còn có lợi thế bởi có hệ thống vận chuyển đường thuỷ đến Cảng Sài Gòn hoặc cảng Cần Thơ rất thuận tiện trong việc xuất khẩu hàng hóa.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

1.2. Phương thức thu mua Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu cà phê tại Cty Generalexim

Sơ đồ 2: Sơ đồ hệ thống lưu thông phân phối cà phê của công ty

Kênh phân phối cà phê của công ty bắt nguồn từ nông dân. Là một doanh nghiệp không chuyên về sản xuất nên công ty không có chân hàng tại các địa phương sản xuất nhiều cà phê. Vì thế công ty chỉ tiến hành hoạt động thu gom cà phê xuất khẩu. Chính vì đặc điểm này mà công ty chỉ có quan hệ với các nhà máy và các công ty chế biến cung ứng và hầu như không có quan hệ mua bán trực tiếp với nông dân, hàng xáo thu gom và thương lái đường dài. Do đó, công ty thu mua cà phê chủ yếu dưới hình thức ký kết hợp đồng với các công ty khác chuyên tiến hành thu mua cà phê trực tiếp từ nông dân tại các vùng sản xuất cà phê. Công ty có chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh, thông qua chi nhánh này công ty sẽ tiến hành thu mua cà phê từ các nguồn khác nhau như các doanh nghiệp tư nhân, đại lý, các nhà máy và cơ sở chế biến cà phê. Với cách thức thu mua như thế này, công ty có những thuận lợi và khó khăn nhất định.

Thuận lợi

Công ty có thể gom hàng một cách nhanh chóng đồng thời đảm bảo được thời hạn giao hàng, nâng cao được uy tín trên thị trường và đó chính là cơ sở để tăng lợi nhuận và mở rộng phạm vi hoạt động của công ty. Mặt khác, việc thu mua cà phê từ các cơ sở chế biến xay xát và các công ty thu gom cà phê sẽ giúp Generalexim có thể giảm thiểu các chi phí và nhân lực liên quan đến xay xát, chế biến và gia công cà phê xuất khẩu. Hệ thống máy móc phục vụ chế biến cà phê, kho bãi bảo quản sau chế biến…cũng đòi hỏi đầu tư rất lớn nhưng nhờ hình thức thu mua này mà công ty không mất các khoản đầu tư trên. Ngoài ra mua qua trung gian nên công ty không cần phải có người nằm vùng tại nơi sản xuất, chính điều này đã giảm được một khoản chi phí rất lớn về mặt nhân công và chi phí mua (thuê) phương tiện làm việc tại các vùng thu mua đó.

Khó khăn

Vì không trực tiếp thu mua nên công ty không chủ động trong khâu kiểm soát nguồn hàng một cách chặt chẽ. Cà phê xuất khẩu của công ty từ khâu mua trực tiếp từ nông dân đến khâu xay xát chế biến, đóng gói và thậm chí đưa hàng ra tận cảng đều do nhà cung cấp của công ty đảm nhận, do đó làm cho mặt hàng cà phê của công ty thiếu những nét riêng biệt về chất lượng và mẫu mã. Mặc dù các công ty đối tác đều là chỗ hợp tác làm ăn thường xuyên nhưng do tất cả đều do họ đảm nhận nên đôi khi cũng có những sai sót về chất lượng hay thời hạn giao hàng.

Một khó khăn nữa là một số đối tác của Generalexim là các công ty tư nhân với số vốn hạn chế, họ khó có thể đầu tư mua về các máy móc thiết bị xay xát chế biến hiện đại và vẫn đang sản xuất, chế biến cà phê xuất khẩu theo tiêu chuẩn cũ TCVN 4193 – 93 do đó làm chất lượng cà phê xuất khẩu không cao. Điều này gián tiếp ảnh hưởng đến uy tín của công ty Generalexim với các khách hàng nước ngoài. Hơn thế nữa do phải thu mua qua trung gian nên giá thu mua của công ty sẽ không thể cạnh tranh bằng những doanh nghiệp thu mua trực tiếp, từ đó ảnh hưởng đến giá cà phê xuất khẩu của công ty.

2. Hình thức xuất khẩu cà phê của công ty Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu cà phê tại Cty Generalexim

Hiện nay công ty thực hiện hai hình thức xuất khẩu là xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu uỷ thác.

Theo hình thức nhận uỷ thác xuất khẩu, công ty là người đứng ra tiến hành các thủ tục xuất khẩu, làm trung gian thực hiện các nghiệp vụ xuất khẩu cho bên uỷ thác xuất khẩu cà phê và hưởng lợi nhuận theo một tỷ lệ phần trăm nhất định. Việc tìm kiếm đối tác nước ngoài, chuẩn bị và vận chuyển hàng hoá ra cảng xếp hàng, công ty đều không phải thực hiện. Công ty chỉ phải làm các chứng từ, làm thủ tục thanh toán. Từ trước đến nay, với mỗi hợp đồng xuất khẩu uỷ thác, công ty thường lãi trên dưới 1% tổng giá trị lô hàng. Trước đây, khi hoạt động xuất khẩu không được tự do thực hiện đối với nhiều doanh nghiệp trong nước, các doanh nghiệp thường xuất khẩu hàng hoá của mình bằng cách xuất khẩu uỷ thác thông qua công ty Generalexim. Tuy nhiên kể từ khi Nhà nước có chính sách khuyến khích xuất khẩu, cho phép các doanh nghiệp trong nước tự do xuất khẩu, công ty ít nhận xuất khẩu uỷ thác hơn. Do đó tỷ trọng xuất khẩu uỷ thác của công ty trong thời gian qua không đáng kể, chỉ dao động trong khoảng từ 3,5 – 6,5%. Đôi khi, sau khi tìm kiếm được khách hàng nước ngoài, thương lượng được về giá cả nhưng công ty vẫn từ chối thực hiện xuất khẩu trực tiếp do nhận thấy việc xuất khẩu theo phương thức này có độ an toàn không cao. Lúc này công ty có thể thoả thuận với khách nội chuyển sang hình thức xuất khẩu uỷ thác, thực hiện các nghiệp vụ xuất khẩu và nhận phí uỷ thác để bảo toàn vốn. Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu cà phê tại Cty Generalexim

Hoạt động xuất khẩu cà phê theo các hình thức xuất khẩu được thể hiện ở bảng dưới đây:

Bảng 10: Tình hình xuất khẩu cà phê theo phương thức xuất khẩu

Nhìn vào bảng biểu, xuất khẩu uỷ thác của công ty có xu hướng giảm dần từ 6% ở niên vụ 2004/2005 xuống còn 3.5% vào niên vụ 2007/2008, trong khi xuất khẩu trực tiếp lại có xu hướng tăng lên và chiếm tỷ trọng lớn trên 90%. Khi xuất khẩu trực tiếp, tất cả các hoạt động từ nghiên cứu thị trường tiềm năng, tìm kiếm bạn hàng cho đến tổ chức vận chuyển hàng hoá, bảo hiểm, cung cấp các chứng từ tài liệu làm thủ tục hải quan….đều do công ty đảm nhận. Phòng nghiệp vụ 5 là phòng làm về xuất khẩu cà phê của công ty sẽ trực tiếp gửi chào hàng, báo giá tới khách hàng. Sau khi nhận được thư trả lời chào hàng hoặc đơn đặt hàng, phòng nghiệp vụ 5 sẽ xem xét những yêu cầu sửa đổi của khách hàng một cách nhanh chóng để hai bên tiến hành ký kết hợp đồng, mặt khác chuẩn bị nguồn hàng cung ứng bằng cách ký hợp đồng thu mua cà phê với các công ty cung ứng trong nước. Công ty nhận hàng và giao hàng ngay chứ không mua và dự trữ trong kho mặt hàng cà phê xuất khẩu. Trong những năm qua, cà phê xuất khẩu của công ty chủ yếu được đóng gói trong 2 loại bao đay 100% và nhựa PP loại 60 kg. Đây là 2 loại bao bì có khả năng giữ độ ẩm tốt, thích hợp với việc vận chuyển đường xa, phù hợp với yêu cầu của khách hàng, đồng thời tương đối rẻ và ổn định. Thông thường công ty vẫn xuất khẩu cà phê theo giá FOB cảng Sài Gòn hay cảng Đà Nẵng, nhưng đại bộ phận 90% hợp đồng xuất khẩu cà phê của công ty là giao tại cảng Sài Gòn vì tại thành phố Hồ Chí Minh có chi nhánh của công ty. Bạn hàng của công ty thường là những doanh nghiệp và các thương nhân nước ngoài có nhu cầu nhập khẩu cà phê. Sau khi nhập khẩu, họ sẽ bán trực tiếp hoặc sẽ sơ chế lại rồi đem bán trên thị trường trong nước của họ, vì vậy ký mã hiệu thường do các công ty hoặc thương nhân nước ngoài quy định. Tại những thị trường này, công ty không có hệ thống phân phối mặt hàng cà phê của riêng mình. Do đó, vô hình chung, mặt hàng cà phê xuất khẩu của công ty lại trở thành mặt hàng của công ty khác. Như vậy, xét dưới một góc độ nào đó, vai trò của công ty chính là một nhà cung ứng hàng hóa.

Một số ưu và nhược điểm của hình thức kinh doanh xuất khẩu trực tiếp cà phê hiện nay của công ty

Ưu điểm

Thứ nhất, công ty sẽ không mất khoản chi phí lớn cho việc thiết lập, xây dựng các cơ sở đại lý nhằm phân phối và bán mặt hàng cà phê trực tiếp tới tay người tiêu dùng; chi phí cho hoạt động dự trữ, bảo quản, chi phí cho các hoạt động quản lý bán hàng, các dịch vụ đi kèm sau bán hàng, khấu hao tài sản…

Thứ hai, công ty sẽ tránh được những rủi ro do môi trường kinh doanh các thị trường nước ngoài gây ra như sự thay đổi về các chính sách, sự bất ổn kinh tế cũng như chính trị của nước sở tại.

Thứ ba, khả năng thu hồi vốn nhanh hơn, do đó đẩy nhanh vòng quay của nguồn vốn.

Nhược điểm

Bên cạnh những ưu điểm trên, nhược điểm lớn nhất của hình thức này là công ty không có quyền kiểm soát, chi phối sản phẩm của mình ở thị trường nước ngoài, ngoài ra công ty còn gặp nhiều khó khăn trong việc nắm bắt những phản ứng của thị trường để tìm ra cơ hội kinh doanh mới, trong việc tìm hiểu các đối thủ cạnh tranh. Bên cạnh đó, do không có thương hiệu của riêng mình trên thị trường thế giới nên hoạt động xuất khẩu cà phê của công ty phụ thuộc rất lớn vào khả năng kinh doanh của các bạn hàng. Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện tại đối với công ty đó là tăng cường công tác tìm kiếm và xây dựng nhiều mối quan hệ tốt, lâu dài với những bạn hàng lớn, có uy tín, năng lực kinh doanh ở trong và ngoài nước.

3. Khối lượng và kim ngạch cà phê xuất khẩu Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu cà phê tại Cty Generalexim

Hiện nay toàn ngành cà phê Việt Nam có 14222 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu cà phê, trong đó công ty Generalexim là một trong những doanh nghiệp xuất khẩu cà phê hàng đầu cả nước. Hàng năm kim ngạch xuất khẩu cà phê của công ty chiếm khoảng 1,9 – 2,3% tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành. Trong thời gian qua, hoạt động kinh doanh xuất khẩu cà phê của các nước trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng phải đối mặt với những khó khăn nhất định như cuộc khủng hoảng kinh tế vào tháng 8/2008 hay diễn biến giá cà phê thế giới thay đổi liên tục, lượng cung cầu cà phê bấp bênh…Mặc dù vậy, hoạt động kinh doanh của công ty vẫn được duy trì, phát triển và đạt được những thành tựu đáng khích lệ về cả khối lượng lẫn kim ngạch xuất khẩu.

Bảng 11: Kết quả xuất khẩu cà phê của công ty Generalexim

Dựa vào bảng số liệu trên ta thấy kim ngạch cũng như khối lượng xuất khẩu cà phê của công ty tăng mạnh giai đoạn 2004 – 2007. Đặc biệt trong niên vụ 2006 – 2007, công ty xuất khẩu hơn 30.000 tấn cà phê với kim ngạch lên tới con số kỷ lục từ trước tới nay khi đạt ngưỡng hơn 40 triệu USD, chiếm tỷ trọng khá cao (73,56%) trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản toàn công ty. Đây cũng là niên vụ mà xuất khẩu cà phê của công ty có mức tăng trưởng lớn tới 34,7% về khối lượng và 106,8% về giá trị. So với niên vụ 2004/2005, kim ngạch xuất khẩu cà phê niên vụ 2006/2007 tăng gần gấp 2.5 lần, mức sản lượng tăng xấp xỉ 1,5 lần. Nguyên nhân của việc gia tăng mạnh mẽ về cả khối lượng lẫn kim ngạch xuất khẩu cà phê của công ty là do trong giai đoạn này chính phủ đã áp dụng chính sách tỷ giá USD ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu nói chung và xuất khẩu cà phê nói riêng. Đây cũng chính là giai đoạn mà chính phủ thực thi nhiều chính sách hỗ trợ xuất khẩu cà phê như việc Cục Xúc tiến Thương Mại (VIETRADE) phối hợp với Hiệp hội Cà phê Việt Nam phát hành cuốn VietBiz số tháng 6/2006 chuyên đề về cà phê. Việc đăng ký thông tin thông tin quảng bá trên chuyên mục của “VietBiz” hoàn toàn miễn phí và đã đem lại nhiều kết quả đáng ghi nhận. Niên vụ cà phê 2006/2007 không chỉ là thành công riêng của thành công riêng của công ty mà đó còn là kết quả đáng khích lệ của cà ngành cà phê Việt Nam. Mặt khác, trong năm 2007, giá của tất cả các mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam đều tăng khá cao so với năm trước. Nếu như giá cà phê xuất khẩu bình quân của Việt Nam trong cả giai đoạn 2000 – 2004 chỉ đạt mức 404,9 USD/ tấn thì tới niên vụ 2006/2007, con số này đã lên 1475,8 USD/tấn.24 Chính vì vậy, mặc dù biến động giá diễn biến rất phức tạp, rủi ro cao, cạnh tranh gay gắt nhưng công ty đã nắm bắt được cơ hội của môi trường kinh doanh, tập trung nguồn lực để đẩy mạnh xuất khẩu cà phê, mang lại hiệu quả cao cả về kim ngạch và hiệu quả. Với việc thực hiện tốt cổ phẩn hoá năm 2006, bước sang năm 2007 lần đầu tiên công ty đã đạt được vị thế đáng khích lệ trên thị trường xuất khẩu khi mặt hàng cà phê của công ty nằm trong Top Ten (10) doanh nghiệp dẫn đầu về quy mô xuất khẩu xuất khẩu cà phê của cả nước. Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu cà phê tại Cty Generalexim

Năm 2008 vừa qua được ghi nhận với rất nhiều biến động về tình hình kinh tế thương mại toàn cầu. Tình hình kinh tế xã hội cả nước diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến động, phức tạp và bất thường chưa từng có trong hàng chục năm qua. Giá cả hàng hoá, dịch vụ, tỷ giá, lãi suất biến động liên tục, trái chiều cả lên và xuống với biên độ lớn; nền kinh tế vừa lạm phát vừa giảm phát cùng nhiều thiên tai và dịch bệnh diễn ra trên diện rộng trên cả nước khiến cả sản xuất, kinh doanh và đời sống gặp rất nhiều khó khăn, nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng thua lỗ thậm chí mất khả năng thanh toán. Đây cũng chính là nguyên nhân khách quan làm cho khối lượng cà phê xuất khẩu của công ty giảm 33,7% và kim ngạch giảm 36,2% trong niên vụ 2007 – 2008. Tuy nhiên, so với niên vụ 2004/2005, sản lượng cà phê xuất khẩu niên vụ vừa qua của công ty giảm 1.265,48 tấn nhưng

  • Mời quảng bá trên cuốn VietBiz chuyên đề cà phê : Cục Xúc Tiến Thương Mại ngày 05/05/2006
  • Ngành cà phê Việt Nam trước yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập kinh tế quốc tế sau 2 năm gia nhập

WTO:  Trung tâm thông tin Công nghiệp và và Thương mại – Bộ Công thương ngày 08/01/2009 kim ngạch lại tăng lên 10.475.235 USD. Nguyên nhân là do giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam trong những năm qua đã có những bước tiến triển vượt bậc từ 733,91 USD/tấn vào niên vụ 2004/2005 tới 1.940USD/tấn vào niên vụ 2007/200825. Hơn thế nữa, thông qua hoạt động tham dự các chương trình xúc tiến thương mại của Hiệp hội Cà phê Việt Nam, công ty có thể tìm hiểu về thị trường cũng như giá cả của các nước sản xuất và xuất khẩu cà phê trên thế giới nên đã phần nào tránh được tình trạng bị các đối tác nước ngoài ép giá như những năm trước.

Dù niên vụ 2008 – 2009 đang có nhiều khó khăn như thiên tai, dịch bệnh… hơn nữa, chính sách tỷ giá đồng ngoại tệ có nhiều thay đổi, bất lợi cho xuất khẩu. Công ty vẫn phấn đấu trong năm 2009 sẽ xuất khẩu từ 18.000 – 20.000 tấn cà phê, với kim ngạch đạt khoảng 28 – 30 triệu USD tương ứng 54% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản trong công ty.26

4. Cơ cấu chủng loại cà phê xuất khẩu

Với trên 500.000 ha diện tích trồng cà phê, trong đó chủ yếu là cà phê vối (chiếm 90%), ngành cà phê Việt nam nói chung và công ty Generalexim nói riêng chủ yếu xuất khẩu cà phê vối (Robusta). Hiện nay cà phê chè chỉ chiếm chưa đến 5% trong tổng khối lượng xuất khẩu cà phê của công ty. Việt Nam có diện tích trồng cà phê chè rất ít, sản lượng cà phê chè chỉ đủ cung cấp cho các nhà chế biến trong nước nên lượng cà phê chè xuất khẩu cũng rất hạn chế. Lượng cà phê chè chỉ tăng lên khi ngành cà phê Việt Nam thực hiện dự án phát triển cà phê chè do AFD hỗ trợ mà Tổng công ty cà phê Việt Nam làm chủ dự án. Với dự án này tuy thực hiện không hoàn thành kế hoạch và không thành công nhưng diện tích cà phê chè của Việt Nam cũng tăng lên đáng kể so với những năm trước đây. Chính điều này đã góp phần làm cho tỷ trọng cà phê chè trong tổng cơ cấu cà phê xuất khẩu của công ty tăng từ 2% giai đoạn 2000/2004 lên 4,3% vào niên vụ 2007/2008. Tuy vậy nhưng việc cà phê chè chiếm tỷ trọng nhỏ trong khối lượng xuất khẩu đã làm cho giá trị xuất khẩu của công ty không tương xứng với khối lượng xuất khẩu. Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu cà phê tại Cty Generalexim

Bảng 12: Cơ cấu cà phê xuất khẩu của công ty Generalexim

Qua bảng số liệu ta có thể thấy rằng cà phê nhân xuất khẩu của công ty nhìn chung có xu hướng giảm trong khi đó cà phê thành phẩm lại có xu hướng tăng lên qua các niên vụ (ngoại trừ niên vụ 2007/2008). Có thể nói đây là một tín hiệu khả quan trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu cà phê của công ty vì như trên đã đề cập, giá cà phê thành phẩm cao gấp 2 lần so với giá của cà phê nhân. Nếu như niên vụ 2004/2005 tỷ trọng cà phê thành phẩm xuất khẩu của công ty là 0,15% tương ứng với 31,898 tấn thì tới niên vụ 2006/2007 tỷ trọng xuất khẩu của loại cà phê này đã tăng lên với mức tương 0,45% và đạt sản lượng cao nhất từ trước tới nay là 135,82 tấn vào năm 2007, chiếm tới 2,1% thị phần trong cơ cấu xuất khẩu cà phê thành phẩm của toàn ngành. Tuy nhiên đến niên vụ 2007/2008 cà phê thành phẩm của công ty giảm mạnh về cả về số lượng lẫn tỷ trọng xuất khẩu. Nguyên nhân chính của sự sụt giảm này chủ yếu là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế lên tình hình tiêu thụ cà phê tại một số thị trường xuất khẩu cà phê chính của công ty như Thụy Sỹ, Mỹ, Đức và một số nước khác thuộc khu vực Châu Á. Người tiêu dùng tại các quốc gia này có xu hướng chuyển từ tiêu thu cà phê tại các quán cà phê, nhà hàng sang uống cà phê tại nhà và chuyên từ những sản phẩm cà phê đắt tiền sang những thương hiệu cà phê có giá phải chăng hơn.

Nhìn chung chủng loại xuất khẩu cà phê của công ty còn quá đơn điệu trong khi nhu cầu tiêu dùng trên thế giới lại ngày càng cao. Mặt khác, cà phê thành phẩm trong cơ cấu xuất khẩu của công ty còn quá ít và gần như không đáng kể. Vì vậy, việc tăng tỷ trọng cà phê thành phẩm trong cơ cấu cà phê xuất khẩu phải được coi là nhiệm vụ quan trọng của công ty trong thời gian tới đây. Có như vậy thì giá trị cũng như hiệu quả xuất khẩu của công ty mới được nâng cao.

5. Chất lượng và giá cả cà phê xuất khẩu Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu cà phê tại Cty Generalexim

Có thể nói cà phê xuất khẩu của Việt nam nói chung và của công ty Generalexim nói riêng có chất lượng còn thấp và tỷ lệ hạt không đồng đều, tỷ lệ hạt đen vỡ vẫn còn chiếm tỷ trọng cao. Ngành cà phê Việt Nam hiện nay có diện tích khoảng trên 500.000 ha, 80% trong số đó thuộc về những hộ nông dân, những nông trường nhỏ, các doanh nghiệp Nhà nước cả Trung ương và địa phương chỉ nắm giữ khoảng 20%. Chính vì vậy, với công nghệ sơ chế thủ công thô sơ và không giống nhau nên chất lượng cà phê khi thu mua chế biến xuất khẩu là không đều nhau. Bên cạnh đó các hộ trồng cà phê khi phơi sấy cà phê cũng không đúng kỹ thuật nên mức độ tạp chất cũng khá cao so với sản phẩm của các nước khác. Như trên đã đề cập thì trong kênh phân phối cà phê, công ty không có chân hàng tại các địa phương vì vậy mà phải thu mua từ các công ty cung ứng chuyên thu mua trực tiếp từ các hộ nông dân. Như vậy thì nguồn hàng vẫn là từ những người nông dân. Đây chính là những nguyên nhân dẫn tới việc chất lượng cà phê xuất khẩu của công ty nhìn chung vẫn tương đối thấp. Mặc dù đã có nhiều biện pháp trong việc cải thiện chất lượng cà phê xuất khẩu nhưng độ ẩm cà phê xuất khẩu của công ty trong những năm qua vẫn lên tới 13%, nhiều hơn 0,5% so với độ ẩm được xác định theo phương pháp quy định trong tiêu chuẩn ISO 6673 của Ban chất lượng cà phê thuộc ICO28.

Bảng 13: Chất lượng cà phê xuất khẩu của công ty

Tuy nhiên trong thời gian gần đây, công ty đã có hợp đồng thu mua cà phê xuất khẩu từ một số đối tác sản xuất đã đạt tiêu chuẩn mới TCVN 4193:2005 29 như Tập đoàn cà phê Thái Hòa, Hồ Phượng Xanh Cafe, Phát Đạt, Công Chính, Trung Thành, Tính Nên, Hương Bản, Trúc Tâm, Vĩnh Hiệp, Hiệp Thành, Đức Hạnh, Hòa Thủy, Hoàng Long. Đây có thể xem là một động thái tích cực trong việc đảm bảo chất lượng nguồn hàng cà phê xuất khẩu của công ty vì Hội đồng cà phê thế giới (ICO) đã công nhận tiêu chuẩn TCVN 4193:200530 phù hợp với tiêu chuẩn chung của ICO đã ban hành và khuyến cáo các nước hội viên áp dụng. Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu cà phê tại Cty Generalexim

Chính vì chất lượng cà phê xuất khẩu của công ty nói riêng và của Việt Nam nói chung còn thấp nên làm cho giá cà phê xuất khẩu có độ chênh cao so với giá cà phê thế giới và các nước trong khu vực như Indonesia, Thái Lan…Mức chênh lệch giá xuất khẩu của công ty có so với giá bình quân của thế giới có khi lên tới trên 150 USD/tấn.

Bảng 14: Giá xuất khẩu cà phê của Công ty cổ phần Generalexim

Thông thường giá xuất khẩu cà phê của Việt Nam thấp hơn giá bán cà phê cùng loại theo kỳ hạn tại thị trường Luân Đôn khoảng 100 USD/tấn (mức chuẩn thường sử dụng để so sánh đánh giá tình hình xuất khẩu cà phê của ta hàng năm), tuy nhiên có đơn vị đã xuất thấp hơn tới 250 USD/tấn. Như vậy qua bảng trên ta thấy giá cà phê xuất khẩu của công ty so với giá cà phê thế giới còn có một sự chênh lệch khá lớn. Mức chênh lệch giá xuất khẩu của công ty so với giá bình quân của thế giới xê dịch trong khoảng 50 – 60 USD/tấn nhưng trong niên vụ 2004/2005, mức giá chênh lệch tới 179,89 USD/tấn. Nguyên nhân của tình trạng này là việc sơ chế cà phê của Việt Nam nói chung và của công ty Generalexim nói riêng hiện nay chưa phát triển kịp với sự phát triển nhanh chóng của sản xuất cà phê tại Việt Nam. Vì vậy, cà phê xuất khẩu có chất lượng không cao và việc bị các đối tác nước ngoài ép giá là điều không thể tránh khỏi. Ngoài ra, hiện tượng tranh mua tranh bán trong nước, nhất là vào vụ thu hoạch cũng góp phần làm cho giá cà phê xuất khẩu của công ty thấp hơn các sản phẩm cùng loại trên thị trường thế giới. Tuy nhiên nếu so sánh với giá xuất khẩu chung của toàn ngành thì giá xuất khẩu cà phê của công ty vẫn cao hơn trung bình từ 8 – 16 USD/tấn. Nguyên nhân là do từ lâu thương hiệu của công ty đã được khẳng định trên thị trường trong nước cũng như quốc tế. Hơn thế nữa trong quá trình đàm phán ký kết hợp đồng, công ty Generalexim thường đàm phán để có thể ký theo mức giá cố định trước vụ mùa cà phê. Thông thường nếu mức giá cố định thì giá thành sẽ ổn định hơn vì các bên phải thực hiện hợp đồng theo giá cố định đó.

Những tác động trên thị trường cà phê thế giới gây bất lợi lớn đến hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam nói chung và công ty nói riêng. Đặc biệt là trong điều kiện nước ta vốn chậm nắm bắt những thông tin về thị trường thế giới, công ty chưa quen với những dạng thông tin mang tính chiến thuật nên rất dễ bị bán hớ. Biến động giá cả lớn có tác động mạnh mẽ đối với người sản xuất và thu gom cà phê Việt Nam, đặc biệt là trong điều kiện thông tin về thị trường và giá cả bên ngoài còn hạn chế và khó tiếp cận như hiện nay. Những biến động giá cả lớn gây tâm lý dao động trong người sản xuất và tạo cơ hội để người thu mua cà phê gây sức ép với người sản xuất. Vì vậy trong thời gian tới đây yêu cầu đặt ra cho ngành cà phê Việt Nam là phải tổ chức lại các hoạt động kinh doanh của các công ty cũng như xây dựng một chiến lược dài hạn để phát triển bền vững cây cà phê, góp phần nâng cao hoạt động của ngành và tương xứng với vị trí của mình trong nền kinh tế Việt Nam.

6. Thị trường xuất khẩu cà phê Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu cà phê tại Cty Generalexim

Là một trong những doanh nghiệp xuất khẩu cà phê hàng đầu của Việt Nam, công ty đã không ngừng phát triển mở rộng thị trường xuất khẩu của mình, đưa cà phê Việt Nam vươn ra những thị trường cả trong, ngoài khu vực và trên toàn thế giới. Đặc biệt là kể từ khi cà phê Việt Nam gia nhập tổ chức cà phê thế giới (ICO) thì ngành cà phê nói chung và công ty nói riêng lại càng có nhiều điều kiện thuận lợi xúc tiến, chào hàng và ký kết hợp đồng buôn bán cà phê với các nước trên thế giới. Hiện nay thị trường xuất khẩu cà phê của công ty đã lên tới hơn 50 nước và vùng lãnh thổ. Bên cạnh đó, các thị trường mới như Nga và Trung Quốc vẫn đang được chú trọng và phát triển. Tuy nhiên khách hàng chủ yếu của công ty vẫn là các công ty kinh doanh cà phê có văn phòng đại diện tại Việt Nam như Volcafe, Ecom, Olam….Lượng xuất khẩu cho các công ty rang xay nước ngoài là rất hạn chế.

Bảng 15: Các thị trường chính tiêu thụ cà phê của công ty 

Nhìn chung thị trường xuất khẩu cà phê của công ty hiện nay còn mang tính tập trung và chưa thực sự ổn định. Công ty mới chỉ tập trung xuất khẩu cà phê sang một số nước như Thụy Sỹ, Mỹ, Đức và một số nước khác thuộc khu vực Châu Á. Trong đó Thụy Sỹ là thị trường lớn nhất của công ty khi mà trong cả 2 niên vụ vừa qua chiếm tỷ trọng lên tới hơn 60% trong tổng khối lượng xuất khẩu của công ty. Nếu như Mỹ và Đức là hai thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam nói chung và của Tổng công ty cà phê Việt Nam nói riêng với tỷ trọng hàng năm chiếm tới 13 – 30% trong khối lượng xuất khẩu thì hai thị trường này lại chỉ chiếm con số khá khiêm tốn (8 – 17%) trong khối lượng xuất khẩu của công ty Generalexim. Có thể nói việc thị trường của công ty Generalexim tập trung ở bảy thị trường này nguyên nhân chủ yếu là do những quốc gia này tập trung nhiều công ty nhập khẩu lớn, có nhiều nhà rang xay lớn của thế giới. Để mở rộng hơn nữa thị trường nhập khẩu cà phê trong thời gian tới, hiện tại công ty đã đăng ký làm thành viên (Trust Member) của một số sàn giao dịch thương mại điện tử như Alibaba, Go4WorldBusiness, IndiaTradeZone, EC21, ECVN và Vn- Emart nhằm mục đích tạo thêm nhiều mối quan hệ với các đối tác trong và ngoài nước.

Bảng 16: Một số đối tác lớn kinh doanh mặt hàng cà phê với công ty

7. Đánh giá hoạt động xuất khẩu cà phê của công ty (2004 – 2008) Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu cà phê tại Cty Generalexim

7.1. Những thành tích đã đạt được

Trong giai đoạn hiện nay, hoạt động kinh doanh xuất khẩu cà phê của các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn (diễn biến giá cà phê trên thị trường thế giới thay đổi liên tục, lượng cung-cầu của các nước bấp bênh, chất lượng cà phê xuất khẩu chưa đảm bảo…). Mặc dù trong bối cảnh đó, hoạt động kinh doanh xuất khẩu cà phê vẫn luôn được công ty duy trì và phát triển.

Bảng 17: Tình hình xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp Việt Nam

Hiện nay toàn ngành cà phê Việt Nam có 142 doanh nghiệp xuất khẩu cà phê bao gồm cả các doanh nghiệp trong và ngoài Hiệp hội VICOFA. Nhìn vào bảng biểu ta có thể thấy rằng công ty đã và đang khẳng định được vị thế của mình trong toàn ngành cà phê Việt Nam. Trung bình hàng năm xuất khẩu cà phê của công ty chiếm 1,8% thị phần, đặc biệt là năm 2007 công ty Generalexim đã phát huy thế mạnh truyền thống và vươn lên đứng trong Top Ten (10) doanh nghiệp xuất khẩu cà phê hàng đầu của cả nước. Bước sang năm 2008, do chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế tác động đến thương mại toàn cầu nên thị phần xuất khẩu cà phê của công ty niên vụ vừa qua giảm 1% so với niên vụ 2006/2007. Dù trong niên vụ 2007/2008, công ty không còn nằm trong Top Ten (10) doanh nghiệp xuất khẩu cà phê hàng đầu của cả nước nhưng với thị phần 1,3%, công ty vẫn giữ vị trí 12 trong tổng số 142 doanh nghiệp tham gia vào hoạt động xuất khẩu cà phê trong thời gian qua.

Xuất khẩu cà phê đóng vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và công ty Generalexim nói riêng. Hàng năm, xuất khẩu cà phê đều chiếm tỷ lệ trên 50% trong cơ cấu kim ngạch xuất khẩu của một số mặt hàng nông sản tại công ty.

Bảng 18: Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu của một số mặt hàng nông sản

Qua bảng số liệu ta có thể thấy rằng kim ngạch và khối lượng cà phê xuất khẩu của công ty không ngừng tăng lên (trừ niên vụ 2007/2008 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế tác động đến thương mại toàn cầu). Trong cơ cấu xuất khẩu hàng nông sản của công ty trong thời gian qua, một điều dễ dàng nhận thấy rằng cà phê là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu cao nhất và có tỷ trọng lớn nhất. Điều này hoàn toàn phù hợp với xu hướng xuất khẩu nông sản ở Việt Nam hiện nay khi mà xuất khẩu gạo đã dần mất ưu thế do sự cạnh tranh gay gắt từ các nước như Thái Lan.

Như trên đã phân tích thì tỷ trọng cà phê thành phẩm trong cơ cấu cà phê chè xuất khẩu của công ty đã có chiều hướng tăng lên mặc dù vẫn còn ở mức độ khiêm tốn. Đây là một tín hiệu mừng cho công ty Generalexim bởi cà phê thành phẩm phù hợp với nhu cầu tiêu thụ của thị trường thế giới. Mặt khác, cà phê thành phẩm cũng có giá trị cao hơn cà phê nhân gấp 1,5 – 2 lần nên tăng tỷ trọng cà phê thành phẩm trong cơ cấu cà phê chè xuất khẩu sẽ tăng hiệu quả hoạt động xuất khẩu của công ty.

Thị trường xuất khẩu cà phê của công ty cũng đang từng bước được mở rộng. Trước đây, công ty chỉ tập trung xuất khẩu vào một số nước nằm trong khu vực nhưng cho đến nay thì cà phê của công ty đã được xuất khẩu sang các nước Châu Âu, Châu Mỹ ….Có được kết quả như vậy là do trong thời gian qua, công ty đã có rất nhiều cố gắng trong việc tìm kiếm, xây dựng mối quan hệ với các bạn hàng ở những thị trường mới. Hàng năm công ty đều cử các đoàn tham gia vào các chương trình xúc tiến thương mại của Bộ, của Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam tại Châu Âu, Ả Rập, Ấn Độ. Đồng thời công ty vẫn duy trì các hình thức xúc tiến thương mại truyền thống như gửi ấn phẩm quảng cáo, gửi email chào qua các thương vụ Việt Nam tại nước ngoài, các tổ chức xúc tiến thương mại trong nước như Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam, Cục Xúc tiến Thương Mại – Bộ Công Thương. Ngoài ra công ty đã thay đổi và chỉnh sửa bổ sung Catalogue phù hợp với mô hình hoạt động mới của công ty.

Trong công tác thu mua cà phê tạo nguồn hàng, giữa phòng nghiệp vụ và chi nhánh của công ty tại thành phố Hồ Chí Minh đã có sự phối hợp với nhau rất chặt chẽ. Hơn nữa, cũng thông qua chi nhánh này, công ty đã thiết lập được nhiều mối quan hệ đáng tin cậy với các nhà cung ứng có uy tín ở các vùng nguyên liệu. Đây chính là những cơ sở đảm bảo cho công ty có thể thực hiện các hợp đồng xuất khẩu cà phê đã được ký kết với khách hàng.

7.2. Những hạn chế còn tồn tại Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu cà phê tại Cty Generalexim

Trong thời gian qua, trong hoạt động xuất khẩu cà phê của công ty, bên cạnh những thành công đáng ghi nhận cũng tồn tại một sô hạn chế nhất định.

Thứ nhất: Về công tác thu mua tạo nguồn hàng. vCó thể nói rằng trong thời gian qua, chất lượng cà phê thu mua của công ty vẫn chưa được đảm bảo, độ đồng đều không cao, chi phí thu mua nhiều khi còn lớn, do đó đã ảnh hưởng phần nào đến uy tín và lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu cà phê của công ty.

Nguyên nhân chủ yếu là do công tác thu hoạch, chế biến cà phê chưa được đảm bảo ở các vùng, tỷ lệ hạt đen, hạt vỡ cao, độ ẩm cao, tạp chất vượt quá quy định… Điều này làm ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cà phê thu mua của công ty. Về mặt chủ quan, công ty vẫn chưa chủ động trong công tác thu mua tạo nguồn hàng. Cụ thể, công ty mới chỉ tiến hành hoạt động này sau khi đã ký kết hợp đồng xuất khẩu với đối tác nước ngoài. Thêm vào đó, hầu hết các doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam trong lĩnh vực kinh doanh xuất khẩu cà phê (mà công ty cũng không phải ngoại lệ) do không muốn bỏ vốn để thực hiện công tác dự trữ (sợ làm chậm tốc độ chu chuyển của vốn) nên thường đợi đến khi sắp đến thời hạn giao hàng mới tiến hành thu mua cà phê nội địa. Hậu quả là có những lúc vào thời điểm giao hàng của công ty cho khách hàng cũng là thời điểm giao hàng của nhiều doanh nghiệp khác trong nước. Dó đó làm nảy sinh tình trạng tranh mua tranh bán giữa công ty với các doanh nghiệp. Đây chính là cơ hội để cho các nhà cung ứng ép giá, đẩy giá lên cao trong khi chất lượng cà phê đôi lúc lại không được đảm bảo. Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu cà phê tại Cty Generalexim

Thứ hai: Về công tác nghiên cứu và dự báo thị trường. Nhìn chung công tác này vẫn chưa đáp ứng được những yêu cầu của hoạt động kinh doanh xuất khẩu, do đó gây khó khăn, tạo sự thụ động trong hoạt động kinh doanh. Hiện nay công tác nghiên cứu và dự báo thị trường của công ty vẫn chỉ mang tính chất chung chung cho tất cả các mặt hàng xuất khẩu của công ty, được thể hiện trong các báo cáo kết quả hàng năm nhưng lại chưa có một văn bản cụ thể về xu hướng thị trường cà phê thế giới trong những năm tiếp theo. Chẳng hạn đối với thị trường xuất khẩu, công ty chưa dự báo được về sự thay đổi nhu cầu nhập khẩu cà phê cũng như khả năng cung ứng cà phê trên thị trường hoặc không nắm bắt được sự biến động của thông tin liên quan đến tình hình sản xuất, sản lượng thu hoạch, dự trữ, giá cả thu mua cà phê ở từng thời điểm. Do đó, khi thị trường cà phê thế giới có biến động thì ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động xuất khẩu của công ty. Điều này thể hiện rõ qua niên vụ 2007 – 2008 khi mà thị trường cà phê thế giới có biến động thì gần như ngay lập tức công ty đã gặp nhiều khó khăn trong xuất khẩu cà phê, khối lượng cũng như kim ngạch giảm đột ngột so với những niên vụ trước.

Thứ ba: Về hoạt động xúc tiến thương mại. Các hoạt động xúc tiến thương mại như quảng cáo, trưng bày giới thiệu sản phẩm, tham dự hội chợ triển lãm quốc tế chưa được công ty phát triển mạnh. Nguyên nhân chính của tình trạng này là do công ty sợ tốn kém một khoản chi phí lớn cho các hoạt động xúc tiến thương mại trong khi hiệu quả mang lại không được đảm bảo. Ngoài ra, việc nắm bắt tìm hiểu các thông tin liên quan đến thời gian, địa điểm diễn ra các hoạt động hội chợ, triển lãm quốc tế cũng như các hoạt động liên quan đến tài trợ cho việc tham gia các hội chợ và triển lãm này của các tổ chức trong và ngoài nước chưa được công ty thực sự chú trọng.

Thứ tư: Về trình độ nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ công nhân viên. Trong thời gian hoạt động kinh doanh xuất khẩu cà phê vừa qua có thể thấy rằng trình độ nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ nhân viên tham gia lĩnh vực kinh doanh xuất khẩu cà phê chưa cao, tính chuyên môn chưa sâu… Công ty chưa đào tạo và khuyến khích được đội ngũ cán bộ lãnh đạo giỏi về kinh doanh và bộ phận nghiên cứu thị trường. Đây cũng là nguyên nhân phần nào gây hạn chế đến khả năng thích ứng của công ty với những thay đổi của môi trường kinh doanh.

Xuất khẩu cà phê là một chiến lược phát triển trong giai đoạn đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đây cũng là mục tiêu của cả nền kinh tế. Trong điều kiện hiện nay, tình hình xuất khẩu cà phê của nước ta còn gặp nhiều khó khăn do sự biến động về giá cả trên thị trường thế giới, đòi hỏi ngành cà phê Việt Nam nói chung và công ty nói riêng phải có những phương hướng và chiến lược phát triển thích hợp nhằm đạt hiệu quả cao trong kinh doanh. Khóa luận: Thực trạng xuất khẩu cà phê tại Cty Generalexim

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Biện pháp NC xuất khẩu cà phê tại Cty Generalexim

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464