Khóa luận: Thực trạng tài chính tại Cty TNHH Quang Doanh

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng tài chính tại Cty TNHH Quang Doanh hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Phân tích tài chính và giải pháp cải thiện tình hình tài chính tại Công ty TNHH vận tải và dịch vụ thương mại Quang Doanh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.2. Phân tích tình hình tài chính tại Công ty TNHH vận tải và dịch vụ thương mại Quang Doanh

2.2.1. Phân tích khái quát tình hình tài chính tại Công ty

Đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp sẽ cung cấp một cách tổng quát nhất tình hình tài chính trong kỳ kinh doanh là khả quan hay không khả quan. Điều đó cho phép chủ doanh nghiệp thấy rõ thực chất của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và dự báo trước khả năng phát triển hay chiều hướng suy thoái của doanh nghiệp, trên cơ sở đó có những giải pháp hữu hiệu.

Khi tiến hành phân tích thực trạng tài chính tại Công ty cần đánh giá khái quát tình hình qua hệ thống báo cáo tài chính mà chủ yếu là Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty. Những báo cáo này do kế toán soạn thảo vào cuối kỳ kế toán theo đúng quy định và hướng dẫn của Bộ Tài chính.

Để có nhận xét đúng đắn về tình hình sử dụng tài sản và nguồn vốn của công ty trong những năm gần đây, ta lập bảng cơ cấu tài sản và nguồn vốn của công ty để không những có thể thấy được cơ cấu tài sản và nguồn vốn mà còn theo dõi được sự thay đổi của các khoản mục.

2.2.1.1. Phân tích tình hình tài chính qua BCĐKT Khóa luận: Thực trạng tài chính tại Cty TNHH Quang Doanh

2.2.1.1.1. Phân tích tình hình tài sản qua bảng cân đối kế toán

Bảng 2.2. Phân tích cơ cấu tài sản theo chiều ngang

Qua bảng phân tích trên ta thấy tổng tài sản của công ty năm 2017 tăng 5.811 triệu đồng so với năm 2016 (tăng 15,2%), năm 2018 là 44.401 triệu đồng, tăng 413 triệu đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng là 0,9% so với năm 2017.

Tài sản ngắn hạn năm 2017 tăng so với năm 2016 là 4.428 triệu đồng (tăng 32,1%), năm 2018 tăng so với năm 2017 là 310 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 1,7%. Tài sản dài hạn năm 2017 tăng so với năm 2016 là 1.383 triệu đồng (tăng 5,7%), năm 2018 tăng so với năm 2017 là 103 triệu đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng 0,4%.

Số liệu trên cho thấy tổng tài sản của công ty tăng là do tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn tăng. Thông thường việc tài sản ngắn hạn tăng là một biểu hiện tốt. Hơn nữa tài sản ngắn hạn tăng lên chủ yếu là do các khoản phải thu, cụ thể:

Khoản phải thu năm 2017 tăng 3.011 triệu đồng so với năm 2016 (tăng 37,1%), năm 2018 giảm 288 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ giảm là 2,6% so với năm 2017, như vậy khoản phải thu của công ty đã không đồng đều qua các năm. Các khoản phải thu năm 2017 tăng là do phải thu khách hàng tăng, và tăng 1.382 triệu đồng (tăng 22,9%) so với năm 2016. Các khoản phải thu năm 2018 giảm là do phải thu của khách hàng tăng, và tăng 265 triệu đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng 3,6%, nhưng trả trước cho người bán lại giảm 37 triệu đồng (giảm 3,8%) và các khoản phải thu khác cũng giảm 516 triệu đồng (giảm 18,7%) so với năm 2017. Điều đó có thể do doanh nghiệp đã cho khách hàng nợ tiền. Phải thu của khách hàng tăng cho thấy công tác thu hồi nợ của doanh nghiệp chưa thực sự đạt hiệu quả, công ty cần có những biện pháp để tăng khả năng thu hồi nợ.

Thêm nữa vốn bằng tiền của công ty năm 2017 là 3.134 triệu đồng, tăng 191 triệu đồng (tăng 6,5%) so với năm 2016, năm 2018 là 2,424 triệu đồng, giảm tới 710 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 22,6% so với năm 2017. Vốn bằng tiền năm 2018 giảm đi cho thấy doanh nghiệp bị động hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh vì không có khả năng nhanh chóng chi trả các khoản mua vật tư và các yếu tố khác, không đáp ứng kịp thời các nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh, không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến công hạn phải trả… Nhưng tỷ lệ lạm phát trong năm 2018 cũng tăng cao hơn so với các năm trước, do vậy việc vốn bằng tiền tăng như vậy đã tốt hay không còn phụ thuộc vào tỷ trọng chiếm trong tổng tài sản của công ty. Nếu vốn bằng tiền tăng quá nhiều cũng chứng tỏ công ty chưa tận dụng hết vốn lưu động vào sản xuất kinh doanh.

Bảng cân đối kế toán còn cho ta thấy hàng tồn kho của doanh nghiệp năm 2017 tăng 648 triệu đồng (tăng 34,9%) so với năm 2016, năm 2018 đã tăng 598 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 23,9% so với năm 2017. Điều này cho thấy công ty chưa làm tốt trong việc giải phóng hàng tồn kho qua các năm, đây là một tín hiệu không được tốt, doanh nghiệp cần phải khắc phục. Giá trị hàng tồn kho chủ yếu là than cứng thu gom và chế biến để xuất bán. Lượng tồn kho cũng nhằm đảm bảo cho nhu cầu dự trữ tiêu thụ trong kế hoạch của Công ty. Xét cả về giá trị và tỷ trọng thì hàng tồn kho đang có nhu cầu tăng lên qua 3 năm.

Tuy nhiên các khoản tài sản ngắn hạn khác lại tăng lên nhanh, năm 2017 tăng 382 triệu đồng (tăng 74,4%) so với năm 2016, năm 2018 tăng với tốc độ nhanh từ 895 triệu đồng lên 1,497 triệu đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng 67,3% so với năm 2017, chủ yếu là số tiền tạm ứng cho công nhân viên chưa thanh toán. Song tài sản ngắn hạn khác chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng tài sản ngắn, nên cũng không đáng lo ngại lắm, nhưng công ty cũng cần đi sâu tìm nguyên nhân và đề ra các biện pháp khắc phục.

Bên cạnh đó, thì tài sản dài hạn của Công ty năm 2017 đã tăng lên, từ 24.385 triệu đồng (năm 2016) lên 25.769 triệu đồng (năm 2017), tăng 1.383 triệu đồng (tăng 5,7%), năm 2018 tăng lên, từ 25,769 triệu đồng từ năm 2017 lên 25,872 triệu đồng vào năm 2018, tăng 103 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 0,4%. Tài sản dài hạn tăng lên là do sự biến đổi của tài sản cố định và tài sản dài hạn khác. Tài sản cố định năm 2017 tăng so với năm 2016 là 1.332 triệu đồng (tăng 5,6%), năm 2018 giảm so với năm 2017 là 40 triệu đồng (giảm 10,04%) và tài sản dài hạn khác năm 2017 tăng so với năm 2016 là 51 triệu đồng (tăng 11,2%), năm 2018 tăng so với năm 2017 là 143 triệu đồng (tăng 28,2%. Năm 2018 tuy tài sản cố định giảm và tài sản dài hạn khác tăng nhưng tài sản cố định vẫn luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản. Điều đó chứng tỏ công ty luôn luôn quan tâm đầu tư cho tài sản cố định trong việc mua sắm mới và bảo dưỡng, sửa chữa máy móc cũ còn thời gian khấu hao. Khóa luận: Thực trạng tài chính tại Cty TNHH Quang Doanh

Tuy nhiên việc phân tích tình hình tài sản theo chiều ngang chỉ cho ta thấy biến động của các chỉ tiêu qua các năm mà chưa thấy được tỷ trọng tăng lên hay giảm đi của các chỉ tiêu chiếm trong tổng tài sản. Do vậy để phân tích kĩ hơn về cơ cấu tài sản ta cần phân tích cơ cấu tài sản theo chiều dọc.

Phân tích cơ cấu tài sản theo chiều dọc giúp hiểu rõ thêm về tỷ lệ phần trăm các chỉ tiêu chiếm trong tổng tài sản kế toán, ta cần phân tích bảng cân đối kế toán theo chiều dọc, tức là phải lập bảng phân tích như sau:

Bảng 2.3: Bảng phân tích cơ cấu tài sản theo chiều dọc

Qua bảng phân tích trên ta thấy trong tổng tài sản của công ty thì tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng nhỏ hơn so với tài sản dài hạn. Cụ thể như sau: Năm 2016 tài sản ngắn hạn chiếm 36,1%, tài sản dài hạn chiếm 63,9% trong tổng tài sản, năm 2017 tài sản ngắn hạn chiếm 41,4%, tài sản dài hạn chiếm 58,6% trong tổng tài sản, năm 2018 tài sản ngắn hạn tăng lên một ít chiếm 41,7% và tài sản dài hạn chiếm 58,3% trong tổng tài sản. Như vậy tài sản ngắn hạn năm 2018 đã tăng lên so với năm 2017 và năm 2016 nhưng tốc độ tăng tương đối chậm và tài sản dài hạn mặc dù giảm nhưng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản. Điều này cũng hợp lý với một công ty làm vận tải và dịch vụ thương mại như Công ty khi trong năm vừa qua công ty tăng cường hoạt động bảo dưỡng và sửa chữa máy móc trang thiết bị, đoàn phương tiện vận tải cũ nhằm nâng cao năng lực hoạt động cho công ty.

Trong tài sản ngắn hạn thì các khoản phải thu chiếm tỷ trọng tương đối lớn. Năm 2016 khoản phải thu chiếm 21,3% trong tổng tài sản, năm 2017 chiếm 25,3% trong tổng tài sản và năm 2018 giảm xuống còn 24,4% trong tổng tài sản. Như vậy ta thấy tỷ trọng các khoản phải thu không đồng đều qua các năm. Năm 2018 các khoản phải thu tuy đã giảm về tỷ trọng nhưng vẫn tăng về số tuyệt đối giữa các năm, nên công ty cũng cần tìm hiểu nguyên nhân để có chính sách nợ hợp lý. Trong các khoản phải thu ngắn hạn thì phải thu khách hàng là chiếm tỷ trọng cao nhất và tăng đều qua các năm. Trong khi đó doanh nghiệp vẫn lập dự phòng các khoản phải thu khó đòi nhưng lại giảm dần. Như vậy doanh nghiệp sẽ gặp ít khó khăn nếu như bị khách hàng chiếm dụng vốn quá lâu.

Tuy nhiên hàng tồn kho lại tăng cả về mặt tỷ trọng và số tuyệt đối, năm 2016 chiếm 4,9%, năm 2017 chiếm 5,7% và đến năm 2018 tăng lên 7,0% trong tổng tài sản, điều này chứng tỏ lượng nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ của công ty chưa được sử dụng, chứng tỏ việc quản lý và sử dụng hàng tồn kho của công ty chưa có hiệu quả.

Vốn bằng tiền của công ty chiếm một tỷ trọng không nhỏ trong tổng tài sản và đã giảm qua các thời điểm. Năm 2016 vốn bằng tiền chiếm 7,7% trong tổng tài sản, năm 2017 vốn bằng tiền chiếm 7,1% trong tổng tài sản và đến năm 2018 vốn bằng tiền đã giảm tới 5,5%. Điều này chứng tỏ công ty đã ngày càng bị động hơn trong sản xuất kinh doanh và không đảm bảo được khả năng thanh toán của mình, nhưng nếu vốn bằng tiền chiếm nhiều và ngày càng tăng thì có thể tiền sẽ bị ứ đọng vì không được đưa vào hoạt động kinh doanh cho công ty. Với lượng tiền Công ty về cơ bản đảm đảm bảo cho nhu cầu sử dụng và dự trữ cho hoạt động thanh toán của mình và phù hợp với đặc thù của những Công ty trong lĩnh vực vận tải thủy.

Tài sản ngắn hạn tăng về tỷ trọng trong tổng tài sản đã khiến cho tài sản dài hạn, chủ yếu là tài sản cố định giảm nhẹ về tỷ trọng trong tổng tài sản. Năm 2016 tài sản dài hạn chiếm 63,9%, năm 2017 tài sản dài hạn chiếm 58,6% đến năm 2018 giảm xuống còn 58,3%. Tuy nhiên giá trị đầu tư của tài sản cố định vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của công ty và chủ yếu là các phương tiện vận tải, vận chuyển và hệ thống máy móc thiết bị phục vụ cho việc khai thác thu gom than cứng. Mặc dù tăng lên về giá trị qua các năm nhưng tài sản dài hạn lại giảm về tỷ trọng, điều này chứng tỏ công ty trong năm vừa qua đã không mua thêm tài sản cố định mới mà chỉ đầu tư bảo dưỡng và sửa chữa tài sản cũ.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

2.2.1.1.2. Phân tích tình hình nguồn vốn qua bảng cân đối kế toán Khóa luận: Thực trạng tài chính tại Cty TNHH Quang Doanh

Phân tích biến động quy mô nguồn vốn theo chiều ngang.

Tiếp đó để xem xét cụ thể việc phân tích tình hình nguồn vốn ta lập bảng:

Bảng 2.4. Phân tích biến động quy mô nguồn vốn theo chiều ngang

Qua bảng phân tích trên ta thấy tổng nguồn vốn của Công ty năm 2017 tăng so với năm 2016 là 5.811 triệu đồng (tăng 15,2%), năm 2018 tăng so với năm 2017 là 413 triệu đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng 0,9%, như vậy tổng nguồn vốn của công ty đã tăng lên, nguồn vốn tăng là một số nguyên nhân như: nợ phải trả tăng, vốn chủ sở hữu cũng tăng.

Nợ phải trả của công ty năm 2017 tăng lên so với năm 2016 là 5.479 triệu đồng (tăng 22,3%), năm 2018 đã tăng lên so với năm 2017 với số tuyệt đối là 255 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 0,9%. Nợ phải trả của công ty năm 2018 tăng chủ yếu là do nợ ngắn hạn giảm và nợ dài hạn tăng. Nợ ngắn hạn giảm là do khoản phải trả cho người bán giảm, điều đó chứng tỏ năm 2018 công ty không phải nợ lại người bán một khoản tiền nào. Nợ ngắn hạn giảm còn do thuế và các khoản phải nộp Nhà nước tăng tuy nhiên khoản này không ảnh hưởng lớn lắm tới việc tăng lên của nợ ngắn hạn. Khoản chiếm dụng hợp lý của công ty tăng lên chứng tỏ công ty tận dụng được uy tín của mình nên đã giảm được các khoản chi phí lãi vay. Vốn chủ sở hữu của công ty năm 2017 tăng so với năm 2016 là 332 triệu đồng (tăng 2,4%), năm 2018 tăng so với năm 2017 về số tuyệt đối là 157 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 1,1%. Vốn chủ sở hữu của công ty tăng chủ yếu do lợi nhuận sau thuế chưa phân phối của công ty tăng mạnh, điều đó cho thấy doanh thu năm 2018 của công ty đã tăng lên và tăng nhanh hơn chi phí, và hoạt động cung cấp dịch vụ của công ty cũng diễn ra khá sôi động. Bên cạnh đó thì nguồn kinh phí và quỹ khác cũng tăng lên nhanh, năm 2018 tăng 64,9% so với năm 2017, nguồn kinh phí và quỹ khác tăng là do quỹ khen thưởng, phúc lợi tăng. Điều này chứng tỏ công ty luôn luôn quan tâm và nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên. Khóa luận: Thực trạng tài chính tại Cty TNHH Quang Doanh

Phân tích cơ cấu nguồn vốn theo chiều dọc:

Để hiểu rõ hơn về cơ cấu nguồn vốn ta đi phân tích cơ cấu nguồn vốn theo chiều dọc. Ta có bảng phân tích sau:

Qua số liệu tính toán trên ta thấy nợ phải trả năm 2016 chiếm 64,2% và vốn chủ sở hữu chiếm 35,8% trong tổng nguồn vốn. Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu năm 2017 và năm 2018 gần như không thay đổi. Năm 2017 và năm 2018 nợ phải trả đều chiếm 68,2%, vốn chủ sở hữu chiếm 31,8% trong tổng nguồn vốn. Đây là một biểu hiện tốt cho công ty vì chứng tỏ tình hình tài chính của công ty luôn ổn định. Công ty đã chủ động nhiều hơn trong việc đảm bảo nguồn vốn cho nhu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh và rủi ro về tài chính của công ty cũng đang giảm đi.

Phân tích câu đối Tài sản và Nguồn vốn

Bảng 2.6: Cân đối giữa tài sản và nguồn vốn

Vốn lưu đồng ròng:

VLĐR năm 2016 = 1.874 triệu đồng > 0

VLĐR năm 2017 = – 239 triệu đồng < 0

VLĐR năm 2018 = 1.226 triệu đồng > 0

Vốn lưu động năm 2016 và 2018 dương đạt giá trị khá cao là 1.874 triệu đồng và 1.226 triệu đồng. Chứng tỏ năm 2016 và 2018 Công ty đã sử dụng một phần vốn dài hạn để tài trợ cho Tài sản ngắn hạn nhằm duy trì sự ổn định trong quá trình sản xuất kinh doanh và đảm bảo an toàn về vốn và thanh khoản. Nhưng năm 2017 vốn lưu động ròng của Công ty nhỏ hơn 0; với giá trị là – 239 triệu đồng. Điều này có nghĩa công ty đang gặp áp lực về vốn vì phải tài trợ cho tài sản dài hạn từ vốn ngắn hạn. Đây là nguyên nhân làm cho áp lực thanh khoản và rủi ro vốn năm 2017 tăng lên so với năm 2016.

Sơ đồ 2.2: Cấu đối Tài sản – Nguồn vốn

Nhìn vào bảng số liệu cho thấy, công ty Quang Doanh chủ yếu đầu tư vốn vào tài sản dài hạn, chiếm tỷ trọng rất lớn trong 3 năm từ 2016 đến 2018 đều ở từ 58% đến 64%. Trong khi đó tài sản ngắn hạn chỉ chiếm tỷ lệ khá khiêm tốn, tỷ trọng đầu tư dao động từ 36% đến 42% và có xu hướng tăng dần. Do đặc thù ngành nghề kinh doanh nên tỷ trọng tài sản của công ty là hoàn toàn phù hợp. Công ty chủ yếu hoạt động vận tải, vận chuyển, xuất nhập hàng hóa. Chính vì vậy vốn chủ yếu tập trung vào hàng hóa dự trữ cho khâu tiêu thụ, bán hàng.

Nhìn chung, tài sản dài hạn được tài trợ hoàn toàn bằng nguồn vốn dài hạn (chủ yếu là từ vốn chủ sở hữu); tài sản ngắn hạn được tài trợ bằng nguồn vốn ngắn hạn và một phần bằng nguồn vốn dài hạn. Trong năm 2017 tuy tỷ trọng tài sản dài hạn nhỏ hơn năm 2016 nhưng công ty đã có sự bổ sung vốn chủ sở hữu với giá trị tăng là 5 tỷ đồng thông qua phát hành cổ phần đã góp phần mở rộng vốn dài hạn cho công ty. Đây cũng được xem là một bước tiến khá táo bạo của công ty Quang Doanh trong việc tăng vốn dài hạn nhằm tăng khả năng tự chủ tài chính trong kinh doanh và dự phòng tài chính cho các chiến lược kinh doanh dài hạn. Tỷ trọng tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản qua các năm đều lớn hơn tỷ trọng nguồn vốn ngắn hạn trên tổng nguồn vốn (cả 3 năm từ 2016 đến 2018 tỷ trọng tài sản ngắn hạn đều lớn hơn nhưng không đáng kể so với tỷ trọng nguồn vốn ngắn hạn trên tổng nguồn vốn) điều này chứng tỏ tài sản lưu động đủ đảm bảo khả năng thanh toán nợ ngắn hạn cho công ty. Tài sản ngắn hạn có xu hướng chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong tổng giá trị tài sản. Điều này cho thấy cơ cấu vốn thay đổi theo hướng hợp lý hơn qua các năm và phù hợp với đặc điểm kinh doanh của công ty. Như vậy, tình hình đảm bảo nguồn vốn của doanh nghiệp khá hợp lý, theo đúng nguyên tắc tài chính.

2.2.1.2. Phân tích tình hình tài chính qua bảng BCKQKD Khóa luận: Thực trạng tài chính tại Cty TNHH Quang Doanh

Phân tích báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh theo chiều ngang:

Bảng 2.7. Phân tích BCKQHĐKD theo chiều ngang

Qua bảng số liệu trên ta thấy lợi nhuận chưa phân phối:

Năm 2016 là: 9.194 triệu đồng

Năm 2017 là: 11.026,4 triệu đồng

Năm 2018 là: 12.276,2 triệu đồng

Như vậy lợi nhuận tăng qua các năm, cụ thể năm 2017 lợi nhuận tăng 1.832,4 triệu đồng (tăng 19,9%) so với năm 2016, năm 2018 lợi nhuận tăng 1.249,8 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 11,3% so với năm 2017. Điều này cho ta thấy năm 2018 vừa qua doanh nghiệp kinh doanh đạt hiệu quả. Nó phản ánh được sự thành công và phát triển của Công ty trong những năm đầu chuyển sang cổ phần hoá.

Lợi nhuận tăng chủ yếu là do doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng. Năm 2017 tăng so với năm 2016 là 9.110,7 triệu đồng (từ 62.145,3 triệu đồng lên 71.256 triệu đồng) tương ứng với tỷ lệ tăng 14,7%, năm 2018 tăng so với năm 2017 là 4.108 triệu đồng (từ 71.256 triệu đồng lên 75.364 triệu đồng) tương ứng với tỷ lệ tăng là 5.8%.

Bên cạnh đó giá vốn hàng bán cũng tăng nhưng tăng chậm hơn so với doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ. Năm 2017 giá vốn hàng bán tăng so với năm 2016 là 7.172 triệu đồng (tăng 13,8%), năm 2018 giá vốn hàng bán tăng so với năm 2017 là 2.789,4 triệu đồng (tăng 4,7%). Giá vốn hàng bán tăng lên là do giá vốn dịch vụ đã cung cấp tăng, điều này cho thấy hoạt động kinh doanh của công ty có hiệu quả và tiến hành mở rộng thị trường hơn, có nhiều khách hàng hơn.

Chi phí quản lý doanh nghiệp của công ty cũng tăng lên, năm 2017 tăng lên so với năm 2016 là 1.490,8 triệu đồng (tăng 35%), năm 2018 tăng lên so với năm 2017 là 480,9 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 8,4%. Chi phí quản lý doanh nghiệp của công ty tăng chủ yếu là do chi phí dịch vụ mua ngoài tăng do chi phí điện,nước tăng. Khóa luận: Thực trạng tài chính tại Cty TNHH Quang Doanh

Nếu xét tốc độ tăng của doanh thu với tốc độ tăng của chi phí quản lý doanh nghiệp ta thấy tốc độ tăng của doanh thu tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng của chi phí quản lý doanh nghiệp. Nhưng để tăng lợi nhuận hơn nữa thì công ty cũng nên có biện pháp giảm chi phí quản lý một cách hợp lý mà vẫn giữ được tốc độ tăng doanh thu.

Bên cạnh đó thì chi phí tài chính của Công ty cũng tăng lên, năm 2017 chi phí tài chính tăng 509,5 triệu đồng (tăng 17,3%) so với năm 2016, năm 2018 chi phí tài chính tăng 288,6 triệu đồng tương ứng với tốc độ tăng là 8,3% so với năm 2017, chi phí tài chính tăng là do lỗ chênh lệch tỷ giá đã thực hiện.

Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh theo chiều dọc :

Bảng 2.8. Phân tích BCKQHĐKD theo chiều dọc

Qua bảng phân tích trên ta thấy giá vốn hàng bán chiếm tỷ trọng lớn nhất trong doanh thu thuần và có xu hướng giảm xuống. Cụ thể năm 2016 giá vốn hàng bán chiếm 83,7%, năm 2017 giá vốn hàng bán chiếm 83% và năm 2018 con số này chỉ còn 82,2%. Như vậy trong năm 2017 giá vốn hàng bán là 59.167 triệu đồng, tới năm 2018 giá vốn hàng bán là 58,92 triệu đồng.

Điều đó đã làm cho lợi nhuận gộp của công ty cũng tăng lên về tỷ trọng trong doanh thu thuần qua các năm so với doanh thu thuần. Năm 2016 là 14,8%, năm 2017 tăng lên 15,5%, tới năm 2018 tăng lên đến 16,3%, điều đó cho thấy năm 2016 cứ 100 đồng doanh thu thuần thì đem lại 14,8 đồng lợi nhuận gộp, năm 2017 cứ 100 đồng doanh thu thuần thì đem lại 15,5 đồng lợi nhuận gộp, tới năm 2018 đã lên đến 16,3 đồng.

Năm 2018 doanh thu từ hoạt động tài chính của công ty lại giảm đi, năm 2016 là 0,4%, năm 2017 là 0,3% và tới năm 2018 giảm đi còn 0,2%. Nhưng chi phí tài chính lại tăng lên, năm 2016 là 4,8%, năm 2017 chi phí tài chính là 4,9%, tới năm 2018 đã tăng lên đến 5%. Như vậy công ty không có khoản lợi nào từ hoạt động tài chính. Tuy nhiên chi phí quản lý doanh nghiệp lại có xu hướng tăng lên về tỷ trọng trong doanh thu thuần. Chi phí quản lý doanh nghiệp tăng lên nhưng vẫn tăng chậm hơn so với lợi nhuận gộp do vậy ảnh hưởng không nhiều tới lợi nhuận trước thuế của công ty.

Cả 3 năm công ty đều có thu nhập khác và chi phí khác, thu nhập khác không đồng đều về tỷ trọng trong doanh thu qua các năm. Năm 2016 thu nhập khác chiếm 0%, năm 2017 thu nhập khác chiếm 0,1% và năm 2018 là 0%. Và chi phí khác cũng không đồng đều về tỷ trọng trong tổng doanh thu qua các năm, năm 2016 chi phí khác chiếm 0%, năm 2017 chi phí khác chiếm 0,1% trong tổng doanh thu, năm 2018 là 0%, việc này cũng sẽ không ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty.

Những yếu tố trên dù có ảnh hưởng trái chiều nhau tới lợi nhuận của công ty, nhưng những yếu tố làm giảm lợi nhuận lại ảnh hưởng ít hơn so với những yếu tố làm tăng lợi nhuận. Do vậy lợi nhuận sau thuế của công ty đã tăng lên đáng kể qua các năm cả về tỷ trọng trong doanh thu thuần lẫn số tuyệt đối.

Ta thấy, trong năm 2016 cứ 100 đồng doanh thu thuần mang lại 1,6 đồng lợi nhuận sau thuế, năm 2017 cứ 100 đồng doanh thu thuần mang lại cho công ty 1,3 đồng lợi nhuận sau thuế, năm 2018 cứ 100 đồng doanh thu thuần mang lại cho công ty 1,5 đồng. Như vậy, tỷ trọng lợi nhuận sau thuế trong doanh thu thuần của công ty cũng khá ổn định, đây là một biểu hiện tốt và công ty cần phải duy trì và phát huy trong những kỳ kinh doanh tiếp theo.

2.2.2. Phân tích các chỉ tiêu tài chính đặc trưng Khóa luận: Thực trạng tài chính tại Cty TNHH Quang Doanh

2.2.2.1. Phân tích các hệ số về khả năng thanh toán

Qua bảng phân tích trên ta thấy:

  • Khả năng thanh toán tổng quát của công ty trong ba năm đều lớn hơn 1, chứng tỏ công ty có đủ khả năng thanh toán khi các khoản nợ đến hạn. Cụ thể, năm 2016 cứ vay 1 đồng thì có 1,557 đồng tài sản đảm bảo, năm 2017 cứ vay 1 đồng thì có 1,466 đồng tài sản đảm bảo, năm 2018 cứ vay 1 đồng thì có 1,467 đồng tài sản đảm bảo. Ta thấy tốc độ khả năng thanh toán tổng quát của công ty qua ba năm là rất cao, một mặt nó thể hiện khả năng thanh toán của công ty là rất tốt nhưng đồng thời nó cũng cho thấy công ty chưa tận dụng được hết cơ hội chiếm dụng vốn. Tuy nhiên không phải tài sản nào hiện có cũng sẵn sàng được dùng để trả nợ và không phải khoản nợ nào cũng phải trả ngay.
  • Khả năng thanh toán hiện thời của công ty có xu hướng giảm đi vào năm 2017 nhưng lại tăng lên vào năm 2018, năm 2016 cứ đi vay 1 đồng nợ ngắn hạn thì có 1,157 đồng tài sản ngắn hạn đảm bảo, năm 2017 con số này giảm xuống còn 0,987 đồng, và đến năm 2018 thì con số này lại tăng lên là 1,071 đồng. Như vậy khả năng thanh toán hiện thời năm 2017 đã giảm 0,17 lần so với năm 2016, do tài sản ngắn hạn năm 2017 tăng 32,1% so với năm 2016 và nợ ngắn hạn cũng tăng 54,9% so với năm 2016. Khả năng thanh toán hiện thời năm 2018 đã tăng 0,084 lần so với năm 2017 là do tài sản ngắn hạn năm 2018 tăng 1,7% so với năm 2017 nhưng nợ ngắn hạn lại giảm 6,3% so với năm 2017. Khả năng thanh toán hiện thời của công ty của công ty không cao dễ dẫn tới không thể thanh toán được hết các khoản nợ ngắn hạn đến hạn, đồng thời mất uy tín với các chủ nợ, lại vừa không có tài sản dự trữ kinh doanh. Nhưng đến năm 2018 công ty đã kịp thời điều chỉnh lại và thanh toán được hết các khoản nợ ngắn hạn.
  • Khả năng thanh toán nhanh của công ty ba năm đều nhỏ hơn 1, năm 2016 là 0,32 lần, năm 2017 là 0,248 lần và năm 2018 là 0,265 lần. Chỉ tiêu này đã giảm đi qua năm 2017 nhưng lại tăng lên trong năm 2018, năm 2017 giảm 0,072 lần so với năm 2016, năm 2018 tăng 0,017 lần so với năm 2017. Chỉ tiêu này đo lường khả năng thanh toán của công ty một cách thận trọng hơn bởi vì nó loại trừ hàng tồn kho ra vì hàng tồn kho là tài sản khó chuyển thành tiền trong một thời gian ngắn.
  • Khả năng thanh toán lãi vay năm 2016 là 1,445 lần, năm 2017 là 1,331 lần và năm 2018 là 1,388 lần. Năm 2017 khả năng thanh toán lãi vay của công ty giảm 0,114 lần so với năm 2016, năm 2018 khả năng thanh toán lãi vay của công ty lại tăng lên một chút, tăng 0,057 lần so với năm 2017. Khả năng thanh toán lãi vay của công ty tương đối cao nhưng hệ số nợ của công ty rất thấp, điều đó cho thấy năm 2018 công ty đi vay vốn ít trong tổng số vốn đã bỏ vào kinh doanh. Hệ số thanh toán lãi vay năm 2018 lớn hơn hệ số thanh toán lãi vay năm 2017 chứng tỏ việc sử dụng vốn vay có hiệu quả hơn, và khả năng an toàn trong việc sử dụng vốn vay ngày càng cao. Lãi vay là một nghĩa rất quan trọng của doanh nghiệp, mất khả năng thanh toán lãi vay sẽ làm giảm uy tín của doanh nghiệp đối với chủ nợ, tăng rủi ro và nguy cơ phá sản của doanh nghiệp.

Nhìn chung khả năng thanh toán của công ty là khá tốt qua các năm chứng tỏ công ty ngày càng độc lập về mặt tài chính, tuy nhiên khả năng thanh toán hiện thời của công ty chưa được tốt do các khoản phải thu chiếm nhiều trong tài sản ngắn hạn, vì vậy công ty cần xem xét lại chính sách nợ của mình. Bên cạnh đó khả năng thanh toán nhanh của công ty lại quá tốt do lượng tiền của công ty cũng chiếm nhiều trong tài sản ngắn hạn và tăng lên khá nhanh so với năm 2017. Như vậy có phải công ty đang để ứ đọng vốn.

2.2.2.2. Các hệ số phản ánh cơ cấu tài sản, nguồn vốn và tình hình đầu tư Khóa luận: Thực trạng tài chính tại Cty TNHH Quang Doanh

Qua bảng phân tích trên ta thấy:

  • Hệ số nợ của công ty: Năm 2016 cứ 1 đồng vốn công ty đang sử dụng thì có 0,64 đồng vay nợ, năm 2017 cứ 1 đồng vốn công ty đang sử dụng thì có 0,68 đồng vay nợ, năm 2018 cũng như năm 2017 cứ 1 đồng vốn công ty đang sử dụng thì có 0,68 đồng đi vay. Việc hệ số nợ tăng lên và giữ nguyên dẫn đến kết quả tất yếu là tỷ số tự tài trợ của công ty sẽ giảm đi, hay nói cách khác là công ty không sử dụng vốn tự có của mình được và công ty còn phải phụ thuộc vào các chủ nợ, chịu ít sức ép từ các khoản nợ vay và rủi ro tài chính cũng đáng lo ngại.
  • Tỷ suất tự tài trợ: Trong năm 2016 cứ 1 đồng vốn công ty đang sử dụng thì có 0,36 đồng là vốn chủ sở hữu, năm 2017 cứ 1 đồng vốn công ty đang sử dụng thì có 0,32 đồng là vốn chủ sở hữu, năm 2018 cứ 1 đồng vốn công ty đang sử dụng thì có 0,32 đồng là vốn chủ sở hữu. Kết quả này cho thấy mức độ độc lập về tài chính của công ty còn thấp và cũng cho thấy khả năng chiếm dụng vốn của công ty thấp.
  • Tỷ suất đầu tư vào tài sản ngắn hạn: tỷ suất đầu tư vào tài sản ngắn hạn của công ty có xu hướng tăng, năm 2016 trong 1 đồng vốn kinh doanh thì có 0,36 đồng đầu tư vào tài sản ngắn hạn, năm 2017 trong 1 đồng vốn kinh doanh thì có 0,41 đồng đầu tư vào tài sản ngắn hạn, năm 2018 trong 1 đồng vốn kinh doanh thì có 0,42 đồng đầu tư vào tài sản ngắn hạn. Như vậy mức độ quan trọng của tài sản ngắn hạn trong tổng tài sản mà công ty đang sử dụng ngày càng tăng.
  • Tỷ suất đầu tư vào tài sản dài hạn: Khi tỷ suất đầu tư vào tài sản ngắn hạn tăng thì dẫn tới đầu tư vào tài sản dài hạn giảm. Năm 2016 cứ 1 đồng vốn kinh doanh thì có 0,64 đồng đầu tư vào tài sản dài hạn, năm 2017 cứ 1 đồng vốn kinh doanh thì có 0,59 đồng đầu tư vào tài sản dài hạn, năm 2018 giảm xuống còn 0,58 đồng. Vì năm vừa qua công ty không mua sắm thêm tài sản cố định mới mà chỉ bảo dưỡng và sửa chữa máy móc, trang thiết bị và phương tiện vận tải cũ để phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Khóa luận: Thực trạng tài chính tại Cty TNHH Quang Doanh
  • Tỷ suất tự tài trợ tài sản dài hạn: Tỷ suất tự tài trợ của công ty có xu hướng giảm đi vào năm 2017 nhưng lại tăng lên vào năm 2018, tỷ suất này cho biết năm 2016 cứ 1 đồng vốn đầu tư cho tài sản dài hạn thì có 0,56 đồng là vốn chủ sở hữu, 2017 cứ 1 đồng vốn đầu tư cho tài sản dài hạn thì có 0,54 đồng là của vốn chủ sở hữu, năm 2018 đã tăng lên là 0,55 đồng. Năm 2018, mặc dù đầu tư vào tài sản dài hạn bị giảm xuống 0,01 lần nhưng do nguồn vốn chủ sở hữu tăng lên 1,1% nên tỷ suất tự tài trợ tài sản dài hạn vẫn tăng so với năm 2017. Điều đó cho thấy phần lớn tài sản của công ty đều được đầu tư từ vốn tự có của doanh nghiệp.

Nhìn chung cơ cấu tài sản và nguồn vốn của công ty là hợp lý vì công ty đang hoạt động trong lĩnh vực vận tải và dịch vụ thương mại. Vì vậy tài sản dài hạn luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng tài sản và được đầu tư phần lớn từ vốn chủ sở hữu. Tài sản dài hạn đó là nhà cửa vật kiến trúc, kho bến bãi, phương tiện vận tải. Còn tài sản ngắn hạn chủ yếu là tiền và các khoản phải thu để phục vụ ngày càng tốt hơn trong quá trình giao dịch với các bạn hàng.

2.2.2.3. Các chỉ số về hoạt động

Ta có bảng phân tích các chỉ số về hoạt động như sau:

Qua bảng phân tích các chỉ số về hoạt động ta thấy:

Số vòng quay hàng tồn kho và số ngày một vòng quay hàng tồn kho:

Số vòng quay hàng tồn kho năm 2018 giảm xuống so với năm 2017, năm 2017 công ty có 27,13 vòng quay hàng tồn kho nhưng năm 2018 giảm xuống còn 22,09 vòng. Sở dĩ số vòng quay hàng tồn kho của công ty bị giảm đi là do hàng tồn kho bình quân tăng nhanh hơn giá vốn hàng bán, hàng tồn kho bình quân năm 2018 tăng 28,6% trong khi đó giá vốn hàng bán năm 2018 tăng 4,7% so với năm 2017. Số vòng quay hàng tồn kho giảm làm cho số ngày một vòng quay hàng tồn kho tăng lên, năm 2017 số ngày một vòng quay hàng tồn kho là 13,27 ngày thì năm 2018 đã tăng lên là 16,29 ngày. Đây là một biểu hiện không tốt chứng tỏ khả năng giải quyết hàng tồn kho của công ty năm 2018 đã chậm hơn so với năm 2017. Khóa luận: Thực trạng tài chính tại Cty TNHH Quang Doanh

Số vòng quay khoản phải thu và kỳ thu tiền bình quân:

Năm 2017 số vòng quay khoản phải thu là 7,29 vòng, năm 2018 số vòng quay khoản phải thu giảm đi là 6,75 vòng. Vòng quay khoản phải thu giảm đi là do khoản phải thu bình quân năm 2018 đã tăng so với năm 2017 là 14,1% và doanh thu thuần cũng tăng lên 5,8%. Vòng quay khoản phải thu giảm đã làm cho kỳ thu tiền bình quân tăng lên, năm 2017 cứ 49,39 ngày công ty thu được các khoản phải thu và đến năm 2018 thì công ty cứ 53,3 ngày là thu được khoản phải thu của khách hàng. Tốc độ thu hồi các khoản nợ của công ty ngày càng nhanh nhưng công ty lại để tăng các khoản phải thu về số tuyệt đối nên việc này cần đi sâu phân tích để đánh giá là tốt hay chưa tốt.

Vòng quay vốn lưu động và số ngày một vòng quay vốn lưu động:

Năm 2017 vòng quay vốn lưu động là 4,39 vòng tức là bình quân 1 đồng vốn lưu động bình quân đưa vào sản xuất kinh doanh thì thu về 4,39 đồng doanh thu thuần ứng với số ngày một vòng quay vốn lưu động là 82,09 ngày, nhưng tới năm 2018 bình quân 1 đồng vốn lưu động bình quân bỏ ra thì thu về 4,04 đồng doanh thu thuần làm cho số ngày một vòng quay vốn lưu động tăng lên tới 89,11 ngày. Đó là do tốc độ tăng vốn lưu động bình quân năm 2018 cao hơn nhiều so với tốc độ tăng của doanh thu thuần (vốn lưu động bình quân tăng 14,8% trong khi đó doanh thu thuần chỉ tăng 5,8% so với năm 2017). Như vậy hiệu quả sử dụng vốn lưu động đã giảm xuống.

Vòng quay toàn bộ vốn:

Vòng quay toàn bộ vốn có xu hướng giảm đi, năm 2017 vòng quay toàn bộ vốn là 1,71 vòng tức là trung bình cứ 1 đồng vốn kinh doanh bình quân bỏ vào sản xuất kinh doanh thì thu được 1,71 đồng doanh thu thuần và đến năm 2018 thì chỉ thu được 1,68 đồng doanh thu thuần. Nguyên nhân là do doanh thu thuần của công ty tăng chậm hơn so với tốc độ tăng của vốn kinh doanh bình quân, doanh thu thuần đã tăng 5,8% trong khi vốn kinh doanh bình quân tăng 7,6%.

Hiệu suất sử dụng vốn cố định:

Hiệu suất sử dụng vốn cố định của công ty của công ty đã tăng lên. Năm 2017 hiệu suất sử dụng vốn cố định của công ty là 2,8 tức là 1 đồng vốn cố định bình quân bỏ vào sản xuất kinh doanh thì tạo ra được 2,8 đồng doanh thu thuần, năm 2018 hiệu suất sử dụng vốn cố định đã tăng lên là 2,87 tức là cứ 1 đồng vốn cố định bỏ vào sản xuất kinh doanh thì tạo ra 2,87 đồng doanh thu thuần. Điều đó chứng tỏ công ty ngày càng sử dụng vốn cố định hiệu quả hơn.

Nhận xét: Nhìn chung khả năng quản lý tài sản của công ty là tương đối tốt, song hiệu quả sử dụng vốn lưu động còn thấp. Ngoài ra vòng quay các khoản phải thu còn thấp nên đã giảm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nói riêng và tổng tài sản nói chung. Công ty cần tìm hiểu nguyên nhân để có biện pháp khắc phục, nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn lưu động hơn nữa.

2.2.2.4. Phân tích các chỉ số sinh lời Khóa luận: Thực trạng tài chính tại Cty TNHH Quang Doanh

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu:

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu có xu hướng tăng mạnh. Năm 2017 cứ 1 đồng doanh thu tạo ra thì có 0,016 đồng lợi nhuận trước thuế và tạo ra 0,0128 đồng lợi nhuận sau thuế. Sang năm 2018 cứ 1 đồng doanh thu thì tạo ra 0,019 đồng lợi nhuận trước thuế và tạo ra 0,0152 đồng lợi nhuận sau thuế. Nguyên nhân là do công ty đã có khối lượng hàng hoá thông qua cảng ngày càng nhanh, thêm nữa là do tốc độ tăng doanh thu chậm hơn so với tốc độ tăng của lợi nhuận trước thuế (doanh thu thuần năm 2018 tăng 5,75% so với năm 2017 còn lợi nhuận trước thuế tăng tới 25,61%). Điều này chứng tỏ công ty hoạt động ngày càng hiệu quả hơn.

Tỷ suất sinh lời của tài sản: Tỷ suất sinh lời của tài sản năm 2017 là 2,19% và năm 2018 tỷ suất sinh lời là 2,55%, năm 2018 tỷ suất này đã tăng 0,37% so với năm 2017. Năm 2017 bình quân cứ 1 đồng giá trị tài sản làm ra 0,0219 đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay, năm 2018 cứ 1 đồng giá trị tài sản làm ra tới 0,0255 đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay. Như vậy công ty đã sử dụng tài sản ngày càng hiệu quả.

Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh bình quân: Năm 2017, bình quân cứ 1 đồng vốn kinh doanh bình quân đưa vào sản xuất kinh doanh thì đem lại cho công ty 0,0273 đồng lợi nhuận trước thuế và 0,0219 đồng lợi nhuận sau thuế, đến năm 2018 cứ 1 đồng vốn kinh doanh đem lại 0,0319 đồng lợi nhuận trước thuế và 0,0255 đồng lợi nhuận sau thuế. Như vậy lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế của công ty không ngừng tăng lên qua các năm, lợi nhuận của công ty tăng là do doanh thu tăng nhanh hơn so với giá vốn dịch vụ đã cung cấp. Khóa luận: Thực trạng tài chính tại Cty TNHH Quang Doanh

Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu bình quân:

Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu có xu hướng tăng mạnh. Năm 2017 cứ 1 đồng vốn chủ sở hữu bình quân đưa vào sản xuất kinh doanh đã tạo ra được 0,065 đồng lợi nhuận sau thuế và đến năm 2018 con số này đã tăng lên là 0,0802 đồng. Có được điều này là do năm 2018 vốn chủ sở hữu của công ty có tăng so với năm 2017 nhưng tốc độ tăng chậm hơn so với tốc độ tăng của lợi nhuận sau thuế (vốn chủ sở hữu bình quân năm 2018 tăng 1,77% so với năm 2017, lợi nhuận sau thuế năm 2018 tăng đến 25,61% so với năm 2017). Điều này cho thấy công ty sử dụng ngày càng hiệu quả vốn chủ sở hữu của mình, như vậy công ty đã đem lại lợi tức cao cho các cổ đông và có thể mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh hơn nữa, như mở thêm các kho chứa hàng, xây dựng thêm cầu bến mới hoặc mua máy móc trang thiết bị mới.

2.2.3. Phân tích tổng hợp tài chính

Bảng 2.13: Bảng tổng hợp các chỉ tiêu tài chính cơ bản

Qua việc phân tích tình hình tài chính trên ta có thể đưa ra một số nhận xét sau:

  • Khả năng đảm bảo về tài chính và mức độ độc lập tài chính của công ty có xu hướng tăng. Do khả năng thanh toán, và khả năng tự tài trợ của công ty ngày càng tăng trong khi hệ số nợ ngày càng giảm.
  • Khoản phải thu có xu hướng tăng cao. Tuy nhiên vì doanh thu tăng nhanh hơn nên dẫn đến vòng quay khoản phải thu tăng và kì thu tiền bình quân giảm đi. Đây là biểu hiện tốt, chứng tỏ công ty đã có biện pháp tốt để tăng tốc độ thu hồi các khoản phải thu.
  • Các tỷ số lợi nhuận có xu hướng tăng cao là một biểu hiện tốt, tuy nhiên công ty cần linh hoạt sáng suốt đề phòng các nguy cơ có thể xảy ra.
  • Hiệu quả sử dụng vốn lưu động có xu hướng giảm.
  • Công ty cần xem xét lại cơ cấu tài sản như vậy đã hợp lý chưa.

2.2.3.1. Phân tích ROA Khóa luận: Thực trạng tài chính tại Cty TNHH Quang Doanh

Doanh lợi tài sản tăng lên, cụ thể: cứ 1 đồng vốn đầu tư vào tổng tài sản sẽ tạo ra lợi nhuận sau thuế của năm 2017 là 0,0219 đồng và năm 2018 là 0,0255 đồng. Như vậy, công ty đã sử dụng hiệu quả tổng tài sản hiện có của mình vào hoạt động sản xuất kinh doanh.

Năm 2017 cứ 1 đồng vốn bình quân đầu tư vào tài sản công ty sẽ thu được 0,0219 đồng lợi nhuận sau thuế, do hai nhân tố ảnh hưởng:

  • 1 đồng doanh thu thuần thì tạo ra 0,0128 đồng lợi nhuận sau thuế
  • 1 đồng vốn kinh doanh bình quân đưa vào sản xuất kinh doanh tạo ra 0,0219 đồng doanh thu thuần.

Năm 2018 cứ một đồng vốn bình quân đầu tư vào tài sản công ty sẽ thu được 0,0255 đồng lợi nhuận sau thuế, do hai nhân tố ảnh hưởng:

  • 1 đồng doanh thu thuần tạo ra 0,0152 đồng lợi nhuận sau thuế
  • 1 đồng vốn kinh doanh bình quân đưa vào sản xuất kinh doanh tạo ra 0,0255 đồng doanh thu thuần

Như vậy, nhân tố chính đóng vai trò quyết định đối với ROA là vòng quay tổng tài sản. Vòng quay tổng tài sản lại chịu sự tác động của nhân tố doanh thu và tổng tài sản. Chính vòng quay tổng tài sản tăng đã làm cho doanh lợi tài sản tăng.

2.2.3.2. Phân tích ROE

ROE2017 =  1,28% ´ 1,71 ´ (1/(1-68,2%))  = 6,50%

ROE2018  = 1,52% ´ 1,68 ´ (1/(1- 68,2%))  = 8,02%

Ta thấy năm 2017 cứ 1 đồng vốn chủ đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì tạo ra 0,065 đồng lợi nhuận sau thuế, năm 2018 là 0,0802 đồng lợi nhuận sau thuế. Như vậy, doanh lợi vốn chủ tăng qua các năm , do ảnh hưởng của tỷ suất lợi nhuận sau thuế doanh thu và vòng quay toàn bộ vốn.

Vòng quay toàn bộ vốn năm 2017 là 1,71 vòng; năm 2018 là 1,68 vòng, mặc dù còn thấp nhưng vòng quay toàn bộ vốn đã tăng qua các năm làm cho doanh lợi vốn chủ cũng tăng lên. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế doanh thu qua các năm cũng tăng khá nhanh, năm 2017 là 1,28% và năm 2018 là 1,52%. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế doanh thu tăng cũng làm cho tỷ suất doanh lợi vốn chủ tăng.

Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu rất quan trọng đối với chủ nhân của công ty bởi vì mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận ròng hay chính là lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp. Tỷ suất này càng cao chứng tỏ việc đầu tư của vốn chủ ngày càng tốt và nâng cao uy tín của công ty đối với các cổ đông, người lao động, các nhà đầu tư, Nhà nước… Khóa luận: Thực trạng tài chính tại Cty TNHH Quang Doanh

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY    

===>>> Khóa luận: Giải pháp cải thiện tài chính tại Cty Quag Doanh

One thought on “Khóa luận: Thực trạng tài chính tại Cty TNHH Quang Doanh

  1. Pingback: Khóa luận: Khái quát về sự phát triển Cty Quang Doanh

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464