Khóa luận: Thực trạng sản xuất hàng gia công của Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng sản xuất hàng gia công của Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Hoạt động gia công xuất khẩu và ý nghĩa của nó tới hoạt động xuất khẩu của Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

1. Cơ cấu hàng gia công

1.1 Dệt may

Đối với sản phẩm dệt may xuất khẩu, ngọai trừ một vài doanh nghiệp có sản phẩm xuất khẩu dưới thương hiệu riêng của mình như Công ty Scavi đang xuất khẩu sản phẩm dưới tên CORENE SCAVI và MAILFIX SCAVI, Công ty May Phương Đông xuất khẩu sản phẩm dưới tên F HOUSE, áo sơ mi của công ty may Việt Tiến, Nhà Bè ..; còn lại hầu hết đều xuất khẩu sản phẩm dưới nhãn hiệu của nhà nhập khẩu nước ngoài. Bảng sau đây thể hiện cơ cấu hàng gia công xuất khẩu của Việt Nam:

Bảng 5: Kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam theo mặt hàng

Qua bảng trên có thể thấy thế mạnh của chúng ta nằm ở các mặt hàng như áo thun, quần áo ngủ, quần và quần sort, áo Jacket và áo khoác. Đây là những mặt hàng không có yêu cầu quá cao về kiểu dáng, mẫu mã cũng như độ phức tạp, tinh tế của sản phẩm. Các hợp đồng xuất khẩu sang các nước như Mỹ, EU hoặc Nhật Bản chủ yếu là thông qua các đối tác trung gian như Hồng Kông, Hàn Quốc, Đài Loan nên giá trị xuất khẩu vẫn còn thấp.

1.2 Da giày Khóa luận: Thực trạng sản xuất hàng gia công của Việt Nam

Biểu đồ 2: Cơ cấu mặt hàng ngành da giày (%)

Hiện nay trong cơ cấu sản phẩm ngành hàng da giày gia công ở nước ta, mặt hàng giày thể thao luôn chiếm tỷ trọng cao nhất. Tốc độ phát triển mở rộng của mặt hàng này tương đối nhanh ở tất cả các thành phần kinh tế và các vùng kinh tế. Nếu năng lực sản xuất vào năm 2019 là 278,5 triệu đôi thì đến năm 2023 con số này đã là 300 triệu đôi.

Sau đó tới các mặt hàng giày nữ và sandals. Giày nữ bắt đầu được chú trọng hơn từ năm 1992, đây là mặt hàng có mẫu mã đa dạng, đa dạng được đầu tư thông qua sự hợp tác với các doanh nghiệp Đài Loan. Đến hết năm 2023, năng lực của mặt hàng này là 87,423 triệu đôi chiếm khoảng 20% năng lực sản xuất toàn ngành. Trong những năm gần đây, mặt hàng giày vải có tốc độ phát triển không đồng đều. Lý do là vì nhu cầu từ các bạn hàng đối với mặt hàng này không được ổn định nên sau mức tăng cao ở năm 2019, hai năm sau đó giá trị mặt hàng này giảm từ 3-5% và vào năm 2022, 2023 lại tăng trở lại.

Nhóm hàng còn lại trong ngành da giày là cặp, túi xách và hàng mềm các loại. Quy mô của mặt hàng này ngày càng giảm trong cơ cấu mặt hàng gia công của nước ta.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

1.3 Phần mềm

Nếu như da giày và dệt may là những mặt hàng với sản phầm hữu hình thuần túy thì gia công phần mềm lại cho kết quả là những sản phẩm vô hình. Để hiểu được cơ cấu của các sản phẩm ngành gia công phần mềm tạo ra, khóa luận sẽ trình bày một số khái niệm cơ bản liên quan đến phần mềm.

Phần mềm: theo luật công nghệ thông tin năm 2021 của Việt Nam thì “Phần mềm là chương trình máy tính được mô tả bằng hệ thống ký hiệu, mã hoặc ngôn ngữ dể điều khiển thiết bị số thực hiện chức năng nhất định”. Có nhiều loại phần mềm khác nhau nhưng theo mục đích sử dụng được chia thành 3 loại như sau:

  • Phần mềm hệ thống: là tên gọi khác của hệ điều hành như Windows, Linux… được viết ra để quản lý và điều hành mọi hoạt động của máy tính ở mức độ hệ thống, làm nền tảng cho các ứng dụng ở trên đó.
  • Phần mềm ứng dụng: được thiết kế để nhằm sử dụng sức mạnh của máy tính trong việc thực hiện các nhiệm vụ cụ thể. Phần mềm ứng dụng lại bao gồm 3 loại: phần mềm ứng dụng cho người dùng thông thường (trò chơi, phần mềm học tập…), phần mềm ứng dụng chuyên ngành (phần mềm quản lý tài chính, ngân hàng, tài chính…) và phần mềm đa ngành (phần mềm kế toán quản lý, nhân sự, soạn thảo văn bản…) Khóa luận: Thực trạng sản xuất hàng gia công của Việt Nam
  • Phần mềm lập trình: là các phần mềm được viết với mục đích chuyển tải ngôn ngữ người dùng thành ngôn ngữ máy để máy tính có thể thực hiện được các yêu cầu cụ thể. Phần mềm lập trình ban đầu gắn với ngôn ngữ máy nhất, sau này được điều chỉnh cho thân thiện với người dùng hơn.

Sản phẩm phần mềm: theo điều 2, khoản 2 – Quyết định số 128/2000 – QĐTTg ngày 20/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách và biện pháp khuyến khích đầu tư và phát triển công nghiệp phần mềm thì: “Sản phẩm phần mềm được sản xuất và được thể hiện lưu trữ ở bất kỳ dạng vật thể nào, có thể được chuyển giao mua bán cho đối tượng khác sử dụng”. Như vậy, có thể hiểu rằng phần mềm khi được đem ra mua bán thì được gọi là sản phẩm phần mềm. Sản phẩm phần mềm được hiểu theo quyết định này gồm có phần mềm nhúng, phần mềm đóng gói, phần mềm chuyên dụng và sản phẩm thông tin số hóa.

  • Phần mềm nhúng là sản phẩm phần mềm được nhà sản xuất thiết bị cài đặt vào thiết bị và được sử dụng cùng thiết bị mà không cần có sự cài đặt của người sử dụng hay người thứ ba.
  • Phần mềm đóng gói là sản phẩm phần mềm có thể sử dụng được ngay sau khi người sử dụng hoặc nhà cung cấp dịch vụ cài đặt cho các thiết bị hay hệ thống, gồm có hai loại nhỏ hơn: phần mềm ứng dụng và phần mềm hệ thống.
  • Phần mềm chuyên dụng là sản phẩm phần mềm được phát triển theo yêu cầu cụ thể và riêng biệt của khách hàng.
  • Sản phẩm thông tin số hóa là nội dung thông tin số hóa được lưu trữ trên một vật thể nào đó.

Dịch vụ phần mềm: bao gồm các dịch vụ xoay quanh việc cung cấp sản phẩm phầm mềm như tư vấn phần mềm; tích hợp, cung cấp hệ thống; dịch vụ gia công phần mềm; dịch vụ huấn luyện, đào tạo sử dụng phần mềm… Như vậy dịch vụ gia công phần mềm là một bộ phận của dịch vụ phần mềm. Đây là dịch vụ mà bên nhận gia công sẽ thực hiện một phần hoặc toàn bộ các bước trong quá trình sản xuất ra một sản phẩm phần mềm hoặc hoàn chỉnh cho bên đặt gia công. Vì vậy, thực chất của cơ cấu sản phẩm lĩnh vực phần mềm là tiến trình hoàn thành từng bước hoặc toàn bộ sản phẩm phần mềm. Trong những năm gần đây, xu hướng di chuyển việc làm của các doanh nghiệp trong các lĩnh vực CNTT và công nghệ cao từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển đã ngày càng phổ biến, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghệ cao.

Trên cơ sở những lý thuyết đó, các bảng biểu dưới đây minh họa cho cơ cấu sản phẩm của ngành GCPM nước ta.

Biểu đồ 3: Cơ cấu sản phẩm phần mềm của Việt Nam năm 2023

Nhìn vào biểu đồ ta thấy trong cơ cấu xuất khẩu phần mềm của Việt Nam phần mềm ứng dụng chiếm tỷ trọng lớn nhất tới 67%, tiếp theo đó là phần mềm lập trình 25%, phần mềm hệ thống khiêm tốn nhất với chỉ 8%. Điều này cũng dễ hiểu bởi vì hiện nay, Mỹ là quốc gia thâu tóm đại đa số phần mềm hệ thống trên toàn cầu.

2. Các thị trường hàng gia công ở Việt Nam Khóa luận: Thực trạng sản xuất hàng gia công của Việt Nam

Xuất hiện với tư cách là một nước GCXK, hàng hóa từ Việt Nam được đưa ra nước ngoài thông qua các con đường chủ yếu là gia công cho nhà sản xuất nước đó hoặc gia công chuyển tiếp nhờ một quốc gia thứ ba hoặc gắn thương hiệu bởi các tập đoàn bán lẻ. Từ đây hàng hóa được phân phối tới hệ thống các siêu thị, cửa hàng ở nước ngoài và trực tiếp đến tay người tiêu dùng.

Sơ đồ 1: Phương thức lưu chuyển hàng gia công

2.1 Thị trường hàng dệt may

Hàng dệt may Việt Nam đã có mặt ở nhiều nơi trên thế giới. Ngoài Mỹ, EU, Nhật Bản là các thị trường chính thì các sản phẩm của chúng ta đã có mặt ở các những quốc gia vốn được xem có thế mạnh về dệt may như Thái Lan, Indonesia, Hồng Kông, Trung Quốc, Philipin hay như ở những quốc gia xa xôi như Ả-rập-xê-út, Nam Phi, Ucraina…

Biểu đồ 4: Cơ cấu thị trường hàng dệt may Việt Nam giai đoạn 2019-2023

Kể từ sau Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ và đặc biệt khi Việt Nam trở thành viên chính thức của WTO, thị trường và thị phần xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam ngày càng phát triển. Trong đó, Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu chính của dệt may Việt Nam, chiếm 54% tổng kim ngạch trong đó gia công chiếm 70%. EU với khoảng 33% nhưng trong đó 80% là hàng gia công. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu tăng lên rất nhanh, nhưng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU cũng gặp không ít những khó khăn do thiếu bạn hàng tiêu thụ trực tiếp, không ký được hợp đồng xuất khẩu trực tiếp với các bạn hàng EU. Phần gia công cho các nước khác (không thuộc ASEAN) xuất sang EU thì không được hưởng ưu đãi thuế quan dành cho Việt Nam. Số lượng hàng hóa EU dành cho Việt Nam còn quá thấp so với nhiều nước và khu vực (chỉ bằng 5% của Trung Quốc, 10% – 20% của các nước ASEAN). Sản phẩm xuất khẩu chỉ tập trung vào một số sản phẩm truyền thống như áo Jackét, áo sơ mi và quần tây (Nguyệt Quế, 2023, “Xuất khẩu hàng hóa Việt Nam vào thị trường EU”). Thị trường Nhật Bản đứng thứ ba với con số khiêm tốn hơn 8,5% và 90% hàng hóa vào thị trường này là hàng gia công. Sở dĩ tỷ lệ gia công hàng hóa vào thị trường này lại lớn như vậy vì Nhật Bản chỉ áp dụng mức thuế 0% cho hàng dệt may nếu các doanh nghiệp trong nước phải đáp ứng được hai yêu cầu là hàng hóa phải được sản xuất, gia công tại Việt Nam và nguồn gốc xuất xứ nguyên vật liệu phải từ Việt Nam, Nhật, ASEAN, trừ 4 nước Indonesia, Philippine, Campuchia, Thái Lan.

2.2 Thị trường hàng da giày Khóa luận: Thực trạng sản xuất hàng gia công của Việt Nam

Kể từ năm 2000 trở đi, da giày của Việt Nam ngày càng mở rộng mức độ ảnh hưởng của mình với thị trường thế giới. Thị trường chính của da giày Việt Nam theo thứ tự lần lượt là EU, Mỹ, Nhật Bản và các thị trường khác. Cụ thể trong EU, các quốc gia như Anh, Đức, Bỉ, Hà Lan, Pháp và Ý là những đối tác chính của chúng ta.

Biểu đồ 5: Cơ cấu thị trường ngành da giày (%)

Biểu đồ cũng chỉ ra mức độ tương quan giữa các thị trường cũng có nhiều thay đổi khi tỷ trọng hàng da giày Việt Nam sang EU giảm qua các năm còn sang thị trường Mỹ lại có xu hướng tăng. Lý do là bởi vì vào năm 2019, EU đã điều tra và áp đặt mức thuế chống bán phá giá lên mặt hàng giày mũi da của Việt Nam khiến lượng sản phẩm vào thị trường này bị giảm sút. Trong thời gian những năm gần đây, da giày Việt Nam vào các thị trường khác cũng tăng lên đáng kể từ mức 14% năm 2019 lên 23% năm 2023.

2.3 Thị trường hàng gia công phần mềm

Sản phẩm phần mềm của Việt Nam đã được xuất đi rất nhiều thị trường. Các thị trường lớn của GCPM Việt Nam hiện nay là Bắc Mỹ, Nhật Bản, EU.

Biểu đồ 6: Các thị trường xuất khẩu gia công phần mềm Việt Nam giai đoạn 2019-2023

Bắc Mỹ (đặc biệt là thị trường Hoa Kỳ) được xem là những đối tác tự nhiên, phát triển ngay từ đầu những năm 1997 khi mà Việt Nam bắt đầu xuất khẩu phần mềm. Sau nhiều năm im ắng so với thị trường Nhật Bản và Bắc Mỹ, vào năm 2022 đánh dấu những bước tiến đầu tiên cho định hướng mới của các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam bằng việc thâm nhập thị trường châu Âu. Khởi đầu là việc Chính phủ Đan Mạch tài trợ cho VINASA dự án nâng cao năng lực hoạt động trong 3 năm 2022 – 2011, tiếp đó là đoàn doanh nghiệp phần mềm tham dự Triển lãm CNTT lớn nhất thế giới tại CeBIT (Đức) và giành được các hợp đồng. Đến tháng 11/2022 Đại sứ quán Phần Lan và VINASA phối hợp tổ chức đoàn doanh nghiệp phần mềm sang Phần Lan hứa hẹn nhiều cơ hội hợp tác mới với thị trường Bắc Âu. Nhật Bản có vị trí chiến lược đối với ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam ở những khía cạnh: là thị trường xuất khẩu chính, đối tác chuyển giao công nghệ và giúp nâng cao năng lực của các doanh nghiệp phần mềm nội địa, đồng thời là khách hàng lâu dài của ngành này. Tuy nhiên thị phần của Việt Nam hiện chỉ là 0,5%, rất nhỏ bé so với Trung Quốc (85%) và Ấn Độ (khoảng 14%). Tại các thị trường này, Việt Nam đang vấp phải sự canh tranh khốc liệt từ Trung Quốc, Ấn Độ, Philipin có ưu thế vượt trội hơn về nguồn lực, trình độ tiếng Anh. Hiện nay, các doanh nghiệp nước ta đang tìm cách mở rộng thị trường bằng việc hướng tới các thị trường trong khu vực châu Á như Hàn Quốc, Singapore…

Qua các phân tích trên có thể thấy rằng Mỹ, EU và Nhật Bản là các thị trường chính của Việt Nam trong cả ba mặt hàng. Việc xâm nhập vào thị trường Mỹ và Nhật Bản đã thuận lợi hơn rất nhiều so với trước đây sau một loạt hiệp định thương mại được ban hành. Trong khi đó việc tạo dựng chỗ đứng tại EU khó khăn hơn do EU đang áp dụng hạn ngạch với mặt hàng dệt may và da giày của Việt Nam, bên cạnh đó xu hướng tiêu dùng hàng nội khối đang trở nên phổ biến hơn tại khu vực này. Vì vậy, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải nỗ lực nhiều hơn nữa để tăng khối lượng xuất khẩu sang các thị trường này.

3. Kim ngạch xuất khẩu Khóa luận: Thực trạng sản xuất hàng gia công của Việt Nam

Tính đến trước năm 2023 là năm khủng hoảng kinh tế lan rộng, kim ngạch xuất khẩu trong 3 mặt hàng của Việt Nam đều tăng. Các sản phẩm da giày, dệt may và phần mềm vẫn duy trì tỷ lệ gia công cao. Số liệu sau đây thể hiện cho điều đó:

Bảng 7: Kim ngạch từ hoạt động xuất khẩu và gia công hàng dệt may qua các năm

Dựa vào bảng trên ta thấy, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may tăng trưởng khá cao trong giai đoạn 2019-2022, mức tăng thấp nhất là 17% và cao nhất là từ năm 2021-2022, tăng đến hơn 31%. Trong năm 2023, do ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế nên kim ngạch của ngành có bị giảm so với năm 2022 và không đạt được mục tiêu đề ra, tuy nhiên mức giảm này được đánh giá là không quá nghiêm trọng. Tỷ lệ gia công có giảm qua các năm song đây vẫn là một mức cao, tất cả đều trên 50%. Vì vậy thực tế giá trị gia tăng do ngành dệt may mang lại còn thấp. Trong năm 2010 này, các chuyên gia trong ngành dệt may dự đoán tỷ lệ gia công sẽ giảm bởi các lý do: thứ nhất trong bối cảnh suy thoái kinh tế giá nguyên liệu rẻ hơn do cầu giảm, thứ hai khi giá bắt đầu xuống và nhu cầu tiêu thụ thấp hơn thì những nhà cung cấp họ cũng năng động hơn, họ tích cực hơn và họ chào mời nhiều hơn, chính vì vậy cái đó cũng tạo một lợi thế để giúp cho doanh nghiệp có thể tăng được một phần tỷ lệ về FOB.

Bảng 8: Kim ngạch từ hoạt động xuất khẩu và gia công hàng da giày qua các năm

Nhìn vào bảng số liệu, giai đoạn 2019-2022 có mức tăng nhanh nhất là vào năm 2022 với 21,2%. Bảng số liệu cũng chỉ ra rằng trong năm 2023, ngành da giày đạt kim ngạch xuất khẩu gần 4,1 tỷ USD giảm 13% so với năm 2022. Sự sụt giảm này chủ yếu do xuất khẩu vào thị trường Mỹ chỉ đạt khoảng 1,1 tỷ USD so với con số 1,5 tỷ USD vào năm 2022. Với thị trường EU, kim ngạch năm 2023 có giảm đi 0,1 tỷ USD so với năm 2022 đồng thời tỷ lệ gia công cũng giảm đi so với năm trước đó. Trong năm nay, mục tiêu ngành da giày đặt ra là 6,2 tỷ USD, trong đó tỷ lệ gia công giảm xuống còn 60%.

Bảng 9: Doanh thu công nghiệp phần mềm Việt Nam giai đoạn 2019-2023

Bắt đầu được xuất khẩu vào thời điểm được coi là khá muộn so với các quốc gia như Thái Lan, Trung Quốc tuy nhiên ngành GCPM ở Việt Nam được đánh giá là có tốc độ tăng trưởng khá cao. Ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam đã phát triển với tốc độ khoảng 40% trong khoảng thời gian từ năm 2002 đến 2021 và con số này đã giảm xuống dưới 20% trong năm 2022, chủ yếu do ảnh hưởng những biến động của suy thoái kinh tế thế giới. Năm 2023 được nhận định là một năm ảm đạm đối với ngành GCPM của nhiều doanh nghiệp phần mềm Việt Nam, chẳng hạn như FPT Software cho biết doanh thu của công ty năm nay chỉ tăng khoảng 1% đạt 42,2 triệu USD, tăng rất ít so với doanh thu 41,9 triệu USD công ty này đã đạt được trong năm 2022. Tình trạng tương tự cũng xảy ra với một loạt công ty GCPM từ lớn như TMA Solutions, Tinh Vân, Vietsoftware đến những công ty nhỏ hơn như Run Systems. Ba đối tác chính của ngành công nghiệp phần mềm nước ta là Bắc Mỹ, Nhật Bản và EU. Trong năm 2010 này, Việt Nam sẽ tập trung nhiều nguồn lực hơn vào thị trường gần hơn ở châu Á như Nhật Bản hay Hàn Quốc.

III. Đánh giá chung Khóa luận: Thực trạng sản xuất hàng gia công của Việt Nam

1. Những kết quả và thành tựu đã đạt được

Gia công và hoạt động xuất khẩu tăng lên nhanh chóng

Dựa vào số liệu đã phân tích ở phần trên có thể thấy, qua các năm kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng với mức độ cao, cao nhất là ngành gia công phần mềm với mức 40-50%/năm. Hoạt động gia công trong các mặt hàng này đưa lại vị thế cao cho Việt Nam, cụ thể dệt may và da giày thuộc nhóm 5 nước xuất khẩu lớn nhất thế giới, GCPM thuộc top 10 quốc gia hấp dẫn nhất về GCPM do tập đoàn tư vấn AT Kearney (Hoa Kỳ) công bố năm 2023. Với sự phục hồi của nền kinh tế thế giới, năm 2010 tiếp tục được kỳ vọng sẽ là năm tăng trưởng đối với các ngành trên.

Là địa điểm thu hút được nhiều thương hiệu nổi tiếng trên thế giới chọn là đối tác và tiến hành các hoạt động đầu tư

Ngành dệt may có 18,5% số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ngành da giày có 16,5% có vốn đầu tư nước ngoài 100% hoặc liên doanh. Dệt may thu hút được nhiều tên tuổi có tiếng trên thế giới từ các quốc gia như Anh, Mỹ, Ý, Pháp chọn làm thị trường gia công sản phẩm cho mình, trong đó đáng chú ý là việc doanh nghiệp Việt Tiến hay An Phước được trực tiếp sản xuất và gắn tên sản phẩm của mình cùng với thương hiệu nước ngoài. Thông qua việc hợp tác dưới nhiều hình thức với các đối tác nước ngoài, chất lượng giày dép Việt Nam đã có bước tiến nhảy vọt khi những sản phẩm mang nhãn hiệu nổi tiếng của các công ty hàng đầu thế giới như Nike, Reebok, Adidas, Bata, Fila… đã được sản xuất và xuất khẩu từ Việt Nam và các doanh nghiệp Việt Nam có đủ khả năng sản xuất và cung cấp cho thị trường thế giới những sản phẩm có chất lượng, đáp ứng được thị hiếu của từng thị trường. Trong lĩnh vực phần mềm, nhiều tập đoàn hàng đầu của Nhật và Mỹ đã chọn Việt Nam làm nơi đầu tư xây dựng các cơ sở GCPM. Đáng chú ý phải kể đến IBM với dự án hơn 1 tỷ USD vào khu công nghệ cao ở Thành phố Hồ Chí Minh, các dự án của người khổng lồ Microsoft, Hitachi, NEC, Fujitsu… Sự lựa chọn của các công ty quốc tế lớn có ý nghĩa rất to lớn với các doanh nghiệp Việt Nam. Ngoài việc tăng doanh thu, tạo việc làm thì nó còn giúp chúng ta từng bước tiếp cận với công nghệ cao, kỹ thuật mới, hoàn thiện sản phẩm để làm tiền đề cho việc tự mình sản xuất được những thương hiệu Việt ra bên ngoài thế giới.

Vượt trội về yếu tố giá cả sản phẩm và chi phí lao động so với các quốc gia khác

Ngày 5/6/2023, tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) đã thông báo kết quả điều tra lần thứ 19 về chi phí đầu tư của các nước. Trong đó, Việt Nam được đánh giá là nước có chi phí đầu tư thấp nhất trong khu vực và trên thế giới.

Cụ thể, tiền lương trả cho nhân công, cước phí điện thoại, phí điện nước, phí thuê đất công nghiệp… ở Việt Nam có lợi thế cạnh tranh so với các nước láng giềng như: Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia… Cuộc điều tra cho thấy, mức lương mà các công ty Nhật Bản tại Việt Nam trả cho công nhân thấp hơn rất nhiều chỉ (bằng khoảng từ 30-60%) so với các công ty Nhật tại Thái Lan, Trung Quốc… Tính đến tháng 12/2023, trung bình công nhân tại Hà Nội được trả 95,8 USD/ tháng, trong khi đó công nhân tại thành phố Bắc Kinh, Đại Liên (Trung Quốc), Bangkok (Thái Lan), Kuala Lumpur ( Malaysia), Jakarta (Indonesia) lần lượt được trả là 286,7 USD/ tháng; 145,5 USD/ tháng; 241,1 USD/ tháng; 290,5 USD/ tháng, 131,3 USD/tháng (Phạm Huyền, 2023, “Việt Nam vẫn có lợi thế cạnh tranh về chi phí đầu tư”). Như vậy có thể thấy, Việt Nam có ưu thế hơn hẳn các quốc gia khác trong khu vực nói riêng và trên thế giới nói chung về chi phí đầu tư. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, Việt Nam cần đẩy mạnh nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ lao động; minh bạch hoá pháp luật; cải cách các thủ tục hành chính rườm rà… nhằm tạo sự an tâm và thu hút các nhà đầu tư.

2. Những tồn tại và thách thức chủ yếu Khóa luận: Thực trạng sản xuất hàng gia công của Việt Nam

Vị trí của GCXK Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu còn thấp do thiếu nguồn nguyên liệu và chưa tạo dựng được thương hiệu riêng

Trong chuỗi giá trị toàn cầu cuả ngành dệt may và da giày, có thể hiểu một cách đơn giản là các công việc thiết kế kiểu dáng, mẫu mã diễn ra tại các trung tâm thương mại hay trụ sở của các công ty danh tiếng tại Mỹ, Anh, Italia… Các thiết bị nguyên phụ liệu đầu vào được sản xuất tại Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ và những quốc gia có chi phí nhân công thấp như Việt Nam sẽ được chọn làm nơi sản xuất cuối cùng. Như vậy chúng ta chỉ mới tham gia vào khâu sản xuất cuối cùng, là khâu được đánh giá là tạo ra ít giá trị gia tăng nhất trong chuỗi giá trị. Muốn thâm nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu thì các doanh nghiệp cần phải sản xuất dưới dạng sản xuất thiết kế gốc ODM (Original design manufacture) hay là sản xuất nhãn hiệu gốc OBM (Own brand manufacture). Cũng lâm vào tình trạng tương tự, GCPM của Việt Nam vẫn chỉ mới dừng lại ở những công việc không đòi hỏi về trình độ cao và tạo ra giá trị thấp như triển khai (implement, coding), kiểm thử (testing) mà chưa tiến tới được các quy trình đòi hỏi hàm lượng tri thức cao hơn như phân tích, thiết kế… Việt Nam chưa tận dụng được cơ hội từ sự chuyển giao các công đoạn gia công để chuyển dịch về phía có hàm lượng giá trị gia tăng cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Các dự án của GCPM có giá trị chưa lớn, thường theo kiểu quen biết hoặc qua kênh truyền thông.

Vấn đề số lượng và chất lượng nguồn nhân lực

Mặc dù là một quốc gia có số dân đông nhưng Việt Nam vẫn gặp nhiều khó khăn trong nguồn nhân lực. Trong ngành GCPM, các cơ sở đào tạo ở nước ta hiện chưa đáp ứng được cả về số lượng và chất lượng so với yêu cầu của ngành CNTT. Da giày và dệt may tuy không đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ nhưng do yếu tố tiền lương thấp, các chế độ bảo hiểm cho người lao động chưa tốt nên hiện tượng bỏ việc sau các dịp nghỉ như tết trở nên khá phổ biến. Bên cạnh vấn đề số lượng nguồn nhân lực thì chất lượng lao động cũng là một nhược điểm của chúng ta. Tuy có lợi thế giá nhân công rẻ, nguồn cung ứng lao động dồi dào do dân số trẻ, như năng suất lao động của người Việt Nam rất thấp, ví dụ với ngành da giày trung bình trên 1 dây chuyền 450 lao động đạt mức sản lượng 500.000 đôi/năm, chỉ bằng 1/135 năng suất lao động của người Nhật, 1/30 của Thái Lan, 1/20 của Malaysia và 1/10 của Indonesia (Ngành da giày việt nam cơ hội và thách thức trong hội nhập kinh tế quốc tế”, 2022, http://giavang.infotv.vn).

Hiện nay trình độ công nghệ của ngành dệt may và da giày Việt Nam đang ở mức trung bình và trung bình khá và còn lệ thuộc vào nước ngoài về trang bị máy móc. Khả năng đầu tư và chuyển giao công nghệ mới phụ thuộc vào nguồn tài chính hạn hẹp, đội ngũ chuyên gia hiểu biết sâu và cập nhật công nghệ còn quá ít và chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của doanh nghiệp, kinh nghiệm và khả năng đàm phán, ký kết hợp đồng về công nghệ còn hạn chế… Đây là một trong những nguyên nhân làm hạn chế năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh của ngành trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài. Điều này còn dẫn đến việc ngành có nguy cơ mất khả năng cạnh tranh trên thị trường, đặc biệt là thị trường quốc tế. Khóa luận: Thực trạng sản xuất hàng gia công của Việt Nam

Thiếu nguồn vốn đầu tư

Thiếu vốn hiện nay vẫn là một vấn đề lớn của các ngành này, đặc biệt là trong ngành dệt may và da giày. Hầu hết các hợp đồng với đối tác chỉ được thanh toán sau khi chúng ta đã hoàn thành xong khâu gia công do đó các doanh nghiệp thường gặp khó khăn vì thiếu nguồn vốn để nhập khẩu nguyên nhiên liệu về phục vụ sản xuất. Đa phần họ phải đi vay ngân hàng, chịu gánh nặng lãi suất. Đó là một nguyên nhân doanh nghiệp chậm đổi mới thiết bị công nghệ. Thiếu vốn còn làm cho các doanh nghiệp thiếu khả năng đầu tư (hoặc đầu tư chưa đúng mức ) vào tiếp thị nên chưa tiếp cận được các khách hàng lớn và không tạo được nguồn công việc ổn định. Bên cạnh đó, ở nước ta còn nhiều bất cập về mức thuế, phí, lệ phí. Chẳng hạn phí nâng hàng container mỗi nơi một giá: container loại 20 feet, ở cảng Tân Thuận giá 270.000 đồng, ở cảng Khánh Hội: 240.000 đồng; loại 40 feet, nơi 400.000 đồng, nơi 370.000 đồng; phí lưu kho cao, giờ giấc lại quá chặt chẽ, gây khó dễ và lãng phí cho khách hàng (Minh Hà, 2023,“Ba vấn đề bức xúc của ngành dệt may, da giày”).

Thiếu chính sách hỗ trợ trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt

Hiện nay, dư âm của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vẫn chưa chấm dứt, nhiều nền kinh tế như Mỹ, EU vẫn chưa lấy lại được tầm vóc trước đây làm ảnh hưởng tới nhu cầu trên thị trường. Những biến động bất lợi về giá dầu thế giới, giá lương công nhân có thể làm tăng giá thành sản xuất của doanh nghiệp may. Nếu giá các sản phẩm của Việt Nam tăng lên và cao hơn các nước khác thì các nước nhập khẩu sẽ chuyển hướng sang gia công ở những nước có giá thành rẻ hơn và không nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam nữa, do đó sẽ làm giảm sút kim ngạch xuất khẩu. Thêm vào đó, sự phát triển vượt bậc của Trung Quốc, Ấn Độ đã làm cho quá trình cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường xuất khẩu trở nên gay gắt hơn bao giờ hết. Tuy sức mua của thị trường truyền thống EU vẫn giữ ở mức ổn định nhưng Việt Nam chịu nhiều sức ép hơn về thuế và các rào cản so với một số nước như Brazil, Indonesia…

Khi hoạt động theo phương thức gia công, chúng ta bị phụ thuộc lớn vào các nhà thầu. Do đó, cuộc cạnh tranh còn là vấn đề giữa các doanh nghiệp trong nước với nhau. Tình trạng này sẽ có lợi cho bên đặt gia công khi họ dành được mức giá gia công thấp nhất với chất lượng tốt và người chịu thiệt sẽ là người lao động, đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Tất nhiên quá trình này là bắt buộc trong giai đoạn cạnh tranh như hiện nay, nhưng với sức lực còn hạn chế khi chưa tạo dựng được thương hiệu trên thế giới, các doanh nghiệp nên giúp đỡ, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau để có thể đứng vững trên thị trường có lẽ sẽ là biện pháp tốt hơn.

Mặc dù Đảng và Nhà nước đã xác định được tầm quan trọng của các ngành này nhưng ở nước ta vẫn thiếu một cơ chế chính sách hỗ trợ cụ thể và thực sự có tầm ảnh hưởng tới các doanh nghiệp. Các vấn đề về thông tin thị trường và các vấn đề liên quan đến hàng dệt may, da giày và điện tử đã có nhiều song chưa thực sự đầy đủ và đáng tin cậy. Hoa Kỳ, Nhật Bản hay EU đều là thị trường hướng tới của bất cứ quốc gia nào muốn xuất khẩu hàng hóa do đó đây là một khó khăn không nhỏ được đặt ra với các doanh nghiệp Việt Nam.

Hệ thống pháp luật còn nhiều vướng mắc gây khó khăn cho doanh nghiệp

Hệ thống luật pháp của Việt Nam vẫn còn tồn tại một số nhược điểm như:

  • Tính minh bạch, nhất quán và ổn định của của luật pháp là nhược điểm lớn nhất, đồng thời cũng là đòi hỏi của nhà đầu tư nước ngoài. Chính sự thiều minh bạch của luật pháp đã tạo ra những kẽ hở cho tệ nạn nhũng nhiễu, lộng quyền và gây phiền hà với các nhà đầu tư và làm cho họ e ngại khi đầu tư vào Việt Nam trong khi các ngành dệt may, da giày và phần mềm đang cần một nguồn vốn lớn cho đầu tư cơ sở hạ tầng.
  • Các văn bản quy phạm pháp luật thiếu tính nhất quán về nội dung và thời hiệu thi hành. Nhiều nội dung còn dừng lại ở mức chung chung chưa có thông tư hướng dẫn cụ thể. Sự mâu thuẫn và chồng chéo giữa các luật với nhau, giữa luật và pháp lệnh, nghị định, thông tư đã làm cho các đối tượng thi hành luật gặp nhiều khó khăn, đồng thời cũng chính là kẽ hở để các tổ chức và cá nhân lách luật trong các hoạt động không hợp pháp.
  • Thủ tục hành chính liên quan đến công tác xuất nhập khẩu còn rườm rà về mặt hình thức, thời gian, chi phí. Mức thuế suất nhập khẩu nguyên vật liệu đầu vào cho các ngành vẫn đang ở mức cao nên những doanh nghiệp gia công nhận tiền sau khi thực hiện xong khâu gia công thì cần nhập khẩu nguyên liệu thì quả là một khó khăn lớn với họ.

Như vậy, hoàn thiện luật pháp là một yêu cầu cấp thiết đối với Việt Nam trong giai đoạn hợp tác ngày một sâu rộng như hiện nay. Khóa luận: Thực trạng sản xuất hàng gia công của Việt Nam

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Biện pháp nâng cao xuất khẩu hàng gia công tại VN

One thought on “Khóa luận: Thực trạng sản xuất hàng gia công của Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Khái quát về hàng gia công xuất khẩu ở Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464