Khóa luận: Thực trạng pháp luật về cho vay của các ngân hàng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng pháp luật về cho vay của các ngân hàng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng pháp luật về hoạt động cho vay của các ngân hàng trong mối quan hệ với vấn đề môi trường dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Thực trạng pháp luật về hoạt động cho vay đối với các dự án đầu tư có rủi ro môi trường cao

Đối với các dự án có rủi ro cao đối với môi trường, pháp luật về môi trường của Việt Nam đã có những quy định khá chặt chẽ và chi tiết về quy trình thẩm định, phê duyệt và thực hiện bản đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC), đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và bản kế hoạch bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, trong các quy định này, vai trò của ngân hàng trong cả quá trình xây dựng, giám sát thực hiện các bản đánh giá này chưa được nhắc đến.

Trong các quy định về quy trình cấp vốn của ngân hàng, bao gồm các quy định về điều kiện cho vay, các nhu cầu vốn không được vay, quy định về thẩm định, phê duyệt quyết định cho vay, giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay và các trường hợp chấm dứt cho vay, yếu tố môi trường vẫn chưa được quy định lồng ghép vào các quy định chính.

2.1.1. Quy định về vai trò của ngân hàng trong quá trình thẩm định, phê duyệt và thực hiện các bản cam kết bảo vệ môi trường Khóa luận: Thực trạng pháp luật về cho vay của các ngân hàng.

Nghị định 18/2015/NĐ-CP của chính phủ quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường đã có những quy định khá chi tiết về quy trình thẩm định, phê duyêt, thực hiện các cam kết bảo vệ môi trường trên đã được quy định trong Luật bảo vệ môi trường 2014. Trong đó, điều 20 của nghị định này đã quy định về chế độ tài chính trong lĩnh vực này. Theo đó, nguồn chi phí thực hiện đánh giá tác động môi trường được lấy từ nguồn đầu tư của dự án, nguồn chi phí thực hiện kế hoạch bảo vệ môi trường cũng được bố trí từ nguồn đầu từ của dự án, phương án sản xuất kinh doanh. Vậy, nguồn đầu tư của dự án được huy động chủ yếu từ nguồn nào? Câu trả lời chính là từ các tổ chức tín dụng, trong đó chủ yếu từ nghiệp vụ cho vay của chính các ngân hàng.

Vì vậy, việc các ngân hàng chưa quan tâm đến vấn đề môi trường sẽ ảnh hưởng tới kết quả thực hiện các bản cam kết môi trường của các chủ dự án. Nếu ngân hàng chỉ cung cấp vốn và không tham gia vào quá trình sử dụng vốn của chủ dự án cho mục đích thực hiện các bản cảm kết bảo vệ môi trường đã được phê duyệt thì kết quả thực hiện các bản cam kết này chỉ đạt được hiệu quả phụ thuộc vào ý thức của các chủ dự án. Những quy định pháp luật chi tiết hơn về vai trò, trách nhiệm của ngân hàng trong vấn đề giám sát quá trình sử dụng vốn của các chủ dự án cho mục đích thực hiện các bản cam kết bảo vệ môi trường là rất cần thiết. Bởi, các quy định pháp luật hiện tại mới dùng những từ ngữ rất chung chung như “Lấy ý kiến của các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, các chuyên gia liên quan” [5, điều 10] mà chưa chỉ rõ cụ thể tổ chức, cá nhân nào.

Trong các quy định về tham vấn ý kiến cộng đồng mới chỉ dừng lại ở mức khuyến khích hoặc hình thức, trách nhiệm thẩm định và phê duyệt vẫn thuộc về các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trách nhiệm thực hiện các cam kết đã được phê duyệt trong các bản cảm kết bảo vệ môi trường mới chỉ thuộc về các chủ dự án. Trong khi trách nhiệm của các bên liên quan trong đó có ngân hàng là bên cung cấp vốn chưa được quy định. Đây là một lỗ hổng khiến cho các ngân hàng chưa mặn mà với đánh giá rủi ro môi trường và xã hội khi tiến hành cấp vốn đầu tư cho các dự án.

2.1.2. Quy định về quy trình cho vay của ngân hàng đối với các dự án có rủi ro cao với môi trường Khóa luận: Thực trạng pháp luật về cho vay của các ngân hàng.

Chỉ thị 03/2015/CT-NHNN về triển khai tín dụng xanh đã mở ra những hi vọng mới trong việc xây dựng một hệ thống tín dụng ngân hàng xanh hơn, phục vụ cho xu hướng tăng trưởng xanh, bảo vệ môi trường sống. Tuy nhiên, mặc dù đã ban hành gần 2 năm nhưng những hiệu quả mà chỉ thị này mang lại còn rất khiêm tốn. Một nguyên nhân khiến cho hiệu quả của chỉ thị này không cao được cho là do chỉ thị này mới dừng lại ở mức độ khuyên khích, chưa bắt buộc thực hiện, vẫn phụ thuộc vào nhận thức của bản thân các ngân hàng.

Bên cạnh đó, quy chế cho vay dành cho các tổ chức tín dụng trong nước và chi nhánh ngân hàng nước ngoài được ban hành kèm theo thông tư 39/2016/TTNHNN được ban hành sau chỉ thị 03/2015/CT-NHNN nhưng lại không cụ thể hóa các quy định tại chỉ thị này. Quy chế cho vay này mang tính bắt buộc thực hiện, các ngân hàng phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định tại quy chế này. Vì vậy, nếu lồng ghép được các quy định tại chỉ thị 03 vào quy chế cho vay này sẽ đem lại những hiệu quả thực tế cao hơn, khiến các ngân hàng phải cân nhắc kỹ hơn trong quyết định cho vay của mình, nếu không muốn vi phạm pháp luật và gây ảnh hưởng tới uy tín của mình.

2.1.2.1. Quy định về điều kiện cho vay

Tại quy chế cho vay ban hành kèm theo thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định về điều kiện vay vốn như sau:

“Tổ chức tín dụng xem xét, quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện sau đây:

  1. Khách hàng là pháp nhân có năng lực pháp luật dân sự theo quy định của pháp luật. Khách hàng là cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật hoặc từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật.
  2. Nhu cầu vay vốn để sử dụng vào mục đích hợp pháp.
  3. Có phương án sử dụng vốn khả thi.
  4. Có khả năng tài chính để trả nợ”. [10, điều 7]

Những quy định về điều kiện cho vay là nguồn để các ngân hàng xây dựng các quy trình cho vay sau này. Dựa vào các quy định về điều kiện cho vay, các ngân hàng sẽ cụ thể hóa các điều kiện này trong các quá trình thẩm định, phê duyệt, cho vay và giám sát. Tuy nhiên, nhìn vào những quy định trên có thể thấy, pháp luật ngân hàng vẫn mới dừng lại tại những quy định chuyên ngành, tức chỉ mới nhằm mục đích bảo đảm cho khả năng thu hồi nợ của các ngân hàng. Các yếu tố khác, trong đó có yếu tố môi trường và xã hội vẫn chưa được quy định trong điều kiện cho vay này. Tất cả vẫn phụ thuộc vào nhận thức của các ngân hàng khi xây dựng quy chế nội bộ của chính ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về cho vay của các ngân hàng.

Hiện nay, các ngân hàng đều có một danh sách tín dụng đen, trong đó bao gồm các khách hàng có lịch sử vay vốn không tốt, không trả nợ đúng hạn, chậm trể nhiều lần hoặc các doanh nghiệp phá sản không có khả năng thanh toán nợ. Ở Trung Quốc, sau khi chính sách “tín dụng xanh” được ban hành, các ngân hàng đã tiến hành lập danh sách các cơ sở sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp có lịch sử gây ô nhiễm môi trường vào danh sách tín dụng đen, hạn chế cho vay. Việc làm này, thể hiện quyết tâm cao của Trung Quốc trong việc kiểm soát ô nhiễm môi trường, một vấn đề cấp bách hiện nay tại quốc gia đông dân và có nền kinh tế đứng thứ hai thế giới này. Vì vậy, các ngân hàng tại Việt Nam cũng nên xem xét lập danh sách đen các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh có lịch sử gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động cho vay của mình, không chỉ dừng lại ở các khách hàng không thanh toán nợ.

2.1.2.2 Quy định về quy trình thẩm định, phê duyệt và quyết định cho vay

Quy chế cho vay mới ban hành kèm theo thông tư 39/2016/TT-NHNN thay thế cho quy chế cho vay cũ, dành cho các ngân hàng nhiều sự chủ động hơn trong quá trình cho vay của mình.

Theo quy định tại thông tư 39/2016/TT-NHNN, các tổ chức tín dụng có quyền và nghĩa vụ ban hành quy chế nội bộ cho vay, trong đó có cả quy trình thẩm định cho vay đối với khách hàng, phù hợp với quy định của pháp luật và đảm bảo phân định rõ trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định cho vay.

Thẩm định hồ sơ vay là một quá trình bao gồm nhiều công việc khác nhau như kiểm tra khả năng tài chính của bên vay, kiểm tra khả năng thu hồi vốn từ các dự án mà bên vay vay vốn để thực hiện, kiểm tra các tài sản dùng để bảo đảm cho vốn vay…. Kết quả tham vấn từ các ngân hàng (trên địa bàn Hà Nội) cho thấy các yếu tố (rủi ro) Môi trường – Xã hội phần nào đó đã được cân nhắc, lồng ghép trong quá trình thẩm định các đề xuất xin vay vốn. Đối với BIDV, ngân hàng này không chấp thuận cấp tín dụng cho những dự án chưa được đưa vào quy hoạch, trong khi ngân hàng VietcomBank chỉ chấp thuận cấp tín dụng cho những dự án đã được phê duyệt đánh giá tác động môi trường, đồng thời chủ dự án cũng được yêu cầu cung cấp những thông tin liên quan đến công nghệ và môi trường trong hồ sơ xin vay vốn. Đây là tình trạng phổ biến khi các ngân hàng mới chỉ dừng lại ở mức kiểm tra xem dự án xin vay vốn đã được phê duyệt(báo cáo) ĐTM hay chưa. Một mặt, các tổ chức tín dụng cho rằng chức năng đánh giá, thẩm định rủi ro môi trường thuộc về các cơ quan nhà nước có trách nhiệm quản lý môi trường;mặt khác các ngân hàng cho rằng cán bộ tín dụng (của họ) không có chuyên môn để có thể thẩm định các ảnh hưởng của dự án đến môi trường và xã hội, và trên thực tế việc đánh giá phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm của các cán bộ tín dụng. Trách nhiệm pháp lý của các nhân viên thẩm định cũng chỉ mới dừng lại ở các tội như thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, chủ yếu do gây thất thoát cho ngân hàng. Trách nhiệm pháp lý của chính ngân hàng hay nhân viên thẩm định trong các dự án gây ô nhiểm môi trường vẫn chưa được xem xét. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về cho vay của các ngân hàng.

Bảng 1Các nội dung thẩm định đối với dự án đề xuất vay vốn của Vietcombank

STT Nội dung thẩm định
1. Năng lực và kinh nghiệm của khách hàng
2. Quy trình công nghệ và thiết bị sản xuất
3. Nguyên vật liệu đầu vào và thị trường cung cấp
4. Nguồn cung cấp điện, nước và nhiên liệu
5. Nguồn cung cấp lao động
6. Các nhà thầu thực hiện dự án
7. Thị trường tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ
8. Các vấn đề môi trường và giải pháp giảm thiểu
9. Tổng mức đầu tư và cơ cấu nguồn vốn dự án
10. Hiệu quả tài chính và khả năng trả nợ của dự án

Chỉ thị 03/2015/CT-NHNN đã có những quy định đối với các ngân hàng trong việc xem xét rủi ro môi trường và xã hội của các dự án đầu tư trong quá trình xét duyệt và cấp vốn. Chỉ thị này quy định các TCTD khi thẩm định dự án nên căn cứ các quy định về môi trường và xã hội của các bộ, ngành chức năng để xem xét, đánh giá rủi ro môi trường và xã hội mà các dự án có thể mang lại như “ lạm dụng tài nguyên và năng lượng, gây ô nhiễm môi trường tự nhiên, làm mất cân bằng hệ sinh thái, biến đổi khí hậu, tổn hại đến di sản văn hóa, đe dọa an toàn, an ninh và sức khỏe con người và cộng đồng dân cư, lao động bất bình đẳng và cưỡng bức tái định cư”[9, mục 4]. Tuy nhiên, các quy định này vẫn chưa được cụ thể hóa trong bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào khác, và vẫn chỉ dừng lại ở mức độ khuyến khích. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về cho vay của các ngân hàng.

Mặt khác, việc pháp luật cho phép các ngân hàng tự xây dựng tiêu chí trong quá trình thẩm định vốn, trong khi không có các quy định cần thiết để kiểm soát quá trình thẩm định này khiến cho tất cả các quy định tại chỉ thị 03 trở nên hình thức và không thực tiễn. Ví dụ, ngân hàng Vietcombank đã có quy định về tiêu chí môi trường trong nội dung thẩm định, tuy nhiên lại không có một hành lang pháp lý nào hướng dẫn hay cho phép các ngân hàng được tham gia vào quá trình thẩm định, phê duyệt và thực hiện các bản cam kết bảo vệ môi trường của các chủ dự án mà ngân hàng cấp vốn. Các ngân hàng vẫn phải phụ thuộc vào các bản báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt để xác định về rủi ro môi trường và xã hội mà dự án có thể gây ra, trong khi trong cả quá trình xây dựng và thực thi các bản báo cáo này, ngân hàng lại không được tham gia một cách chính thống dựa trên các quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, một thực tế khiến cho quá trình thẩm định hồ sơ vay vốn của ngân hàng đối với các dự án có rủi ro môi trường gặp nhiều khó khăn, đó chính là các dự án lớn về các ngành có nguy cơ cao cho môi trường hiện tại như thủy điện, khai khoáng, dầu khí đều do các tổng công ty nhà nước thực hiện như tổng công ty khoáng sản Việt Nam Vinacomin , tổng công ty dầu khí Việt Nam, tập đoàn điện lực Việt Nam EVN triển khai, thực hiện. Trong khi, các ngân hàng lớn chiếm hơn 50% thị phần ở Việt Nam có nguồn vốn điều lệ chủ yếu do nhà nước đại diện chủ sở hữu. Vì vậy, khi tiến hành thẩm định đối với các dự án do các công ty này làm chủ đầu tư, các ngân hàng này nằm ở thế bị động hơn so với cho vay đối với các dự án thông thường. Công khai, minh bạch trong hoạt động của các doanh nghiệp có nguồn vốn do nhà nước đại diện chủ sở hữu là một vấn đề nổi cộm nhưng vẫn chưa có phương thức giải quyết tại Việt Nam. Chính bản thân các ngân hàng cũng chịu sự tác động từ vấn đề này.

Ví dụ như trường hợp của ngân hàng phát triển Việt Nam VDB, ngân hàng này đã cho Tập đoàn điện lực Việt Nam EVN vay vốn để đầu tư vào dự án nhiệt điện Vĩnh Tân 2, với mức cho vay lên tới 7500 tỷ đồng. Dự án này được khởi công xây dựng vào tháng 8/2010 và đi vào hoạt động vào tháng 3/2015[11]. Mới hoạt động được 1 năm, nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 đã gây ra rất nhiều các vấn đề môi trường liên quan đến bãi xỉ thải, tro và khói bụi trong không khí. Hằng ngày, hai tổ máy thải ra gần 4000 tấn xỉ than nhưng không được vận chuyển đúng qui định đến bãi xỉ rộng cả vài chục héc ta. Khói và xỉ than phủ đầy nhà cửa, cây cối của người dân địa phương. Do vấn đề môi trường, dự án phải tạm dừng hoạt động nhiều lần. Chi phí cho mỗi lần khởi động lại hệ thống lên đến hàng tỷ đồng. [6]

2.1.2.3. Quy định về quy trình kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay

Theo quy định của quy chế cho vay mới ban hành theo thông tư 39/2016/TTNHNN, trong quy chế nội bộ của các ngân hàng phải có nội dung về “ Quy trình kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng; phân cấp, ủy quyền và trách nhiệm của từng cá nhân, bộ phận trong việc kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng”[10, điều 22] Khóa luận: Thực trạng pháp luật về cho vay của các ngân hàng.

Như vậy, ngân hàng được phép tự mình xây dựng quy trình kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn của bên vay. Hiện nay, các ngân hàng đang tiến hành áp dụng tiêu chuẩn Basel II vào các hoạt động của mình. Basel II cho phép các ngân hàng nhận diện và tính toán các rủi ro tốt hơn trong hoạt động của mình.

Giám sát quá trình sử dụng vốn của bên vay là một quy trình quan trọng trong hoạt động cho vay của các ngân hàng. Quy trình này nhằm đảm bảo bên vay không sử dụng vốn vay trái mục đích khi vay vốn, sử dụng vốn vay một cách hợp lý nhằm mục đích cuối cùng là đảm bảo khả năng thanh toán khi đến hạn của bên vay và giảm thiểu các rủi ro có thể xảy ra cho các ngân hàng. Hiện tại, hoạt động giám sát quá trình sử dụng vốn vay của các ngân hàng chỉ hầu như dừng lại ở các mục đích trên. Các ngân hàng vẫn chưa chú trọng đến việc giám sát các hoạt động gây ô nhiễm môi trường của bên vay trong quá trình sử dụng vốn vay để làm cơ sở ngừng cấp vốn trước thời hạn. Thực tế tại Việt Nam cho thấy, trong quá trình triển khai dự án đầu tư mới hay thực hiện các dự án, các doanh nghiệp đầu tư đã gây ra rất nhiều sự cố môi trường, gây thiệt hại lớn về vật chất và uy tín của chính doanh nghiệp đầu tư. Tuy nhiên, các ngân hàng vẫn chưa có nhiều động thái trước các sự việc này, họ vẫn chú trọng tới tiến độ của dự án và khả năng sinh lời của dự án hơn là các yếu tố rủi ro môi trường này.

Để các ngân hàng chú trọng hơn tới các rủi ro môi trường trong quá trình giám sát sử dụng vốn của bên vay, chỉ thị 03/2015/CT-NHNN đã có một quy định rất cần thiết: “Thực hiện kiểm tra, giám sát thường xuyên, định kỳ đối với việc quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng đối với khách hàng, đảm bảo hoạt động quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng trở thành nhiệm vụ được thực hiện thường xuyên, liên tục, đạt hiệu quả cao”[9, mục 4]

Tuy nhiên, các quy định này chỉ mang tính định hướng, khuyến khích, các ngân hàng mới chỉ dừng lại ở mức tham khảo. Chưa hề có một hành lang pháp lý giúp các ngân hàng có thể có một cơ sở chính thức để tiến hành giám sát môi trường đối với bên vay. Hiện nay, các ngân hàng đang thực hiện các thủ tục để tham gia đầy đủ tiêu chuẩn Basel II, trong đó có các quy định về giám sát rủi ro trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng. Việc tham gia đầy đủ vào tiêu chuẩn Basel II, bắt buộc các ngân hàng phải đảm bảo các yêu cầu về tỉ lệ vốn bắt buộc tối thiểu (CAR) là 8% trên tổng tài sản có rủi ro trong đó đã bao gồm các rủi ro về rủi ro hoạt động, rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường. Basel II cũng bắt buộc các ngân hàng tuân thủ nghiêm ngặt về vấn đề công khai thông tin, từ những thông tin về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ vốn đến những thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro vận hành và quy trình đánh giá của ngân hàng đối với từng loại rủi ro này. Triển khai Basel II giúp các ngân hàng hoạt động an toàn hơn, lành mạnh hơn do trình độ quản trị rủi ro được tăng cường. Các biện pháp quản trị rủi ro, đặc biệt là mô hình rủi ro và xếp hạng nội bộ được chủ động áp dụng, đồng thời, nguồn vốn được quản lý một cách hiệu quả hơn.Tuy nhiên, các yêu cầu của tiêu chuẩn Basel II chưa nhắc đến các yếu tố rủi ro môi trường và xã hội. Vì vậy, việc lồng ghép các rủi ro môi trường và xã hội trong các quy định về áp dụng tiêu chuẩn Basel II, sẽ bặt buộc các ngân hàng sử dụng yếu tố môi trường và xã hội trong hoạt động tín dụng của mình. Từ đó, nâng cao trách nhiệm của các ngân hàng trong vấn đề bảo vệ môi trường hiện nay. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về cho vay của các ngân hàng.

2.1.2.4. Quy định về chấm dứt cho vay

Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định các trường hợp các tổ chức tín dụng có thể chấm dứt cho vay hoặc thu hồi nợ trước thời hạn: “Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn theo nội dung đã thỏa thuận khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm quy định trong thỏa thuận cho vay và/hoặc hợp đồng bảo đảm tiền vay” [10, điều 21]. Với quy định này, các ngân hàng có quyền tiến hành chấm dứt cho vay hoặc thu hồi nợ trước hạn đối với các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường nếu trong hợp đồng tín dụng có nêu các điều khoản liên quan đến vấn đề này. Vì vậy, quy định điều khoản này trong hợp đồng tín dụng cũng là một cách để các ngân hàng thể hiện vai trò của mình trong vấn đề bảo vệ môi trường hiện nay. Bởi, quá trình giám sát sử dụng vốn, các nhân viên của ngân hàng vẫn phải dựa vào các thỏa thuận đã được ký kết giữa hai bên để làm căn cứ tiến hành hoạt động giám sát của mình.

Tuy nhiên, hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận giữa ngân hàng là bên cho vay và khách hàng là bên vay. Vì là sự thỏa thuận nên nó phải thống nhất ý chí và xuất phát từ sự tự nguyện của các bên. Hiện nay, các ngân hàng chưa sử dụng các tiêu chuẩn về môi trường và xã hội trong quá trình cho vay của mình, các chủ đầu tư cũng không mong muốn bị áp đặt các tiêu chuẩn về môi trường và xã hội trong tiến trình vay vốn của mình. Với tư cách là bên vay vốn, họ vẫn mong muốn được vay vốn một cách nhanh nhất, được giải ngân một cách nhanh nhất để triển khai các kế hoạch của mình. Mặc dù, hợp đồng phải xuất phát từ sự thỏa thuận và thống nhất ý chí từ các bên, nhưng với một ngành mang tính đặc thù cao như lĩnh vực tín dụng, thiết nghi cần có sự quy định cụ thể về nội dung cần có của hợp đồng tín dụng. Quy chế cho vay mới đã quy định những nội dung cần có trong hợp đồng tín dụng bao gồm:

  • Tên, địa chỉ, mã số doanh nghiệp của TCTD cho vay; tên, địa chỉ, số chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước hoặc hộ chiếu hoặc mã số doanh nghiệp của khách hàng;
  • Số tiền cho vay; hạn mức cho vay đối với trường hợp cho vay theo hạn mức; hạn mức cho vay dự phòng đối với trường hợp cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng; hạn mức thấu chi đối với trường hợp cho vay theo hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán; Khóa luận: Thực trạng pháp luật về cho vay của các ngân hàng.
  • Mục đích sử dụng vốn vay;
  • Đồng tiền cho vay, đồng tiền trả nợ;
  • Phương thức cho vay;
  • Thời hạn cho vay; thời hạn duy trì hạn mức đối với trường hợp cho vay theo hạn mức, thời hạn hiệu lực của hạn mức cho vay dự phòng đối với trường hợp cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng, hoặc thời hạn duy trì hạn mức thấu chi đối với trường hợp cho vay theo hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán; (vii) Lãi suất cho vay theo thỏa thuận và mức lãi suất quy đổi theo tỷ lệ %/năm tính theo số dư nợ cho vay thực tế và thời gian duy trì số dư nợ gốc thực tế đó; nguyên tắc và các yếu tố xác định lãi suất, thời điểm xác định lãi suất cho vay đối với trường hợp áp dụng lãi suất cho vay có điều chỉnh; lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn; lãi suất áp dụng đối với lãi chậm trả; loại phí liên quan đến khoản vay và mức phí áp dụng;
  • Giải ngân vốn cho vay và việc sử dụng phương tiện thanh toán để giải ngân vốn cho vay;
  • Việc trả nợ gốc, lãi tiền vay và thứ tự thu hồi nợ gốc, lãi tiền vay; trả nợ trước hạn;
  • Cơ cấu lại thời hạn trả nợ; chuyển nợ quá hạn đối với số dư nợ gốc mà khách hàng không trả được nợ đúng hạn theo thỏa thuận và không được TCTD chấp thuận cơ cấu lại thời hạn trả nợ; hình thức và nội dung thông báo chuyển nợ quá hạn;
  • Trách nhiệm của khách hàng trong việc phối hợp với TCTD và cung cấp các tài liệu liên quan đến khoản vay để TCTD thực hiện thẩm định và quyết định cho vay, kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng;
  • Các trường hợp chấm dứt cho vay; thu nợ trước hạn; chuyển nợ quá hạn đối với số dư nợ gốc mà khách hàng không trả được nợ trước hạn khi TCTD chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn; hình thức và nội dung thông báo chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn;
  • Xử lý nợ vay; phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại; quyền và trách nhiệm của các bên;
  • Hiệu lực của thỏa thuận cho vay” [10, điều 23]

Các nội dung này một phần đảm bảo được quyền và lợi ích cho bản thân các ngân hàng và cả đối với khách hàng. Là một cơ sở pháp lý quan trọng khi tranh chấp xảy ra. Tuy nhiên, vì chưa có một hành lang pháp lý cần thiết liên quan đến việc áp dụng các tiêu chuẩn môi trường và xã hội trong hoạt động cho vay của các ngân hàng, nên các điều khoản trong hợp đồng tín dụng vẫn chưa có các quy định liên quan đến trách nhiệm về môi trường trong quá trình sử dụng vốn của bên vay.

2.2. Thực trạng pháp luật trong hoạt động cho vay của ngân hàng cho các dự án xanh, thân thiện với môi trường Khóa luận: Thực trạng pháp luật về cho vay của các ngân hàng.

Ở Việt Nam, với các khuyến nghị từ ngân hàng thế giới và các tổ chức khác, các ngân hàng Việt Nam cũng đã tham gia tích cực hơn vào các dự án bảo vệ môi trường. BIDV cam kết sẽ cho vay một khoản vốn lớn trị giá 8.800 tỷ đồng (tương đương 89% tổng mức đầu tư dự án) cho Trung Nam Group thực hiện Dự án giải quyết ngập do thủy triều tại khu vực TP.HCM. Nguồn vốn vay sẽ được BIDV giải ngân theo tiến độ trong vòng 10 năm, ân hạn 3 năm với mức lãi suất ưu đãi cố định có sự hỗ trợ một phần từ ngân sách Nhà nước [15]

Hàng chục ngân hàng  khác đạt được các cam kết cấp vốn cho các dự án cải thiện hạ tầng, cải thiện môi trường và giảm thiểu các tác hại từ biến đổi khí hậu. Chẳng hạn, ngay sau khi Chương trình tín dụng xanh của ngân hàng nhà nước được phát động đã có 4 ngân hàng là Agribank, BIDV, Sacombank và Vietcombank tham gia cho vay thí điểm với tổng hạn mức vốn khoảng 2.000 tỷ đồng [15]

Với mức vốn này, dự kiến các ngân hàng sẽ hỗ trợ cho khoảng 20 – 25 dự án sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực năng lượng mới, năng lượng tái tạo; xử lý, tái chế rác thải và nông nghiệp hữu cơ. Các doanh nghiệp tham gia vay vốn có thể được vay với lãi suất ngắn hạn chỉ khoảng 6,5%/năm, thấp hơn từ 1-2% so với vay thương mại thông thường [15]

Về một lĩnh vực khác được xem là thân thiện với môi trường, đó là các dự án nông nghiệp sạch, nông nghiệp sử dụng “công nghệ cao”. Nông nghiệp là một khu vực kinh tế chiếm tỉ trọng lớn trong nền kinh tế của Việt Nam. Để hướng tới một nền nông nghiệp xanh, sạch, phù hợp với các quy chuẩn của thế giới và phát triển bền vững, vai trò của các ngân hàng là không thể phủ nhận. Trong đó, ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Agribank, với tư cách là ngân hàng thương mại nhà nước với 100% vốn chủ sở hữu Nhà nước, vừa có vai trò của một ngân hàng thương mại, vừa có vai trò cung cấp vốn cho các chính sách phát triển nông nghiệp của Nhà nước đang là ngân hàng tiên phong trong lĩnh vực này. Agribank đã ban hành văn bản chỉ đạo các chi nhánh trong toàn hệ thống triển khai thực hiện với quy mô tài trợ vốn cho chương trình “Nông nghiệp sạch” là không hạn chế, trước mắt dành tối thiểu 50.000 tỷ đồng để triển khai cho vay với lãi suất cho vay khi khách hàng thực hiện 01 và/hoặc trong 03 khâu (cung ứng, sản xuất, tiêu thụ). Theo đó, khách hàng sẽ được Agribank giảm lãi suất cho vay từ 0,5%/năm đến 1,5%/năm. Phí dịch vụ được miễn phí chuyển tiền trong hệ thống Agribank và giảm 50% theo mức phí quy định hiện hành của Agribank đối với chuyển tiền ngoài hệ thống [1]. Các ngân hàng khác cũng tham gia khá tích cực vào lĩnh vực này. Lienviet Post Bank và Vietcombank mỗi ngân hàng đăng ký 10.000 tỷ đồng, BIDV cũng đang đăng ký gói tín dụng 10.000 tỷ đồng cho lĩnh vực này… Khóa luận: Thực trạng pháp luật về cho vay của các ngân hàng.

Những con số mang tính tích cực trên thực sự rất đáng vui mừng. Tuy nhiên,  việc các ngân hàng tham gia cấp vốn cho các dự án xanh, thân thiện với môi trường như các dự án về nông nghiệp sạch, sử dụng công nghệ cao, các dự án sử dụng năng lượng mới như dự án năng lượng mặt trời hay một số dự án liên quan đến xử lý nước thải, ngăn thủy triều… hầu như đang phụ thuộc vào các chính sách của nhà nước. Tự bản thân các ngân hàng tỏ ra chưa thực sự hào hứng với các dự án này. Vì trên thực tế các dự án này thường đòi hỏi nguồn vốn lớn, trong khi hiệu quả kinh tế chưa thực sự cao, tham gia các dự án này, ngân hàng mới chỉ nhằm mục đích thực hiện trách nhiệm xã hội của mình, tăng uy tín cho chính các ngân hàng. Chưa có một cơ sở pháp lý thống nhất để các ngân hàng tiến hành cho vay đối với các dự án này. Các quy định pháp luật chưa cụ thể hóa các yêu cầu, lợi ích mà ngân hàng có thể đạt được khi tham gia vào các dự án này, ví dụ như quy định về lãi suất, hạn mức cho vay, dư nợ tín dụng….

Cần có các quy định như: giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng có tỷ trọng từ 10% tổng dư nợ trở lên được đánh giá là dư nợ tín dụng xanh, mức giảm về tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ cao dần tương ứng với tỷ trọng dư nợ tín dụng xanh. Điều chỉnh tỷ lệ quy đổi của khoản dư nợ tín dụng xanh xuống mức thấp hơn khoản tín dụng khác, tăng tỷ lệ nợ xấu cho các khoản vay xanh nhằm khuyến khích các ngân hàng dành vốn vay cho các dự án, phương án xanh của khách hàng. Các quy định này cần được quy định trong một văn bản quy phạm pháp luật, mang tính bắt buộc chung, không nên dừng lại ở mức các khuyến khích, định hướng tạm thời.

2.3. Một số kinh nghiệm của quốc tế về hoạt động cho vay của ngân hàng với vấn đề môi trường Khóa luận: Thực trạng pháp luật về cho vay của các ngân hàng.

2.3.1. Nguyên tắc xích đạo (EP)

Năm 2002, Tập đoàn Tài chính quốc tế (IFC) thuộc nhóm Ngân hàng Thế giới (WB) và 09 ngân hàng quốc tế họp ở London để bàn về trách nhiệm của các ngân hàng và cùng thống nhất xây dựng một bộ tiêu chuẩn quản lý rủi ro môi trường dựa trên các bộ tiêu chuẩn đã có của IFC. EP được chính thức ra đời năm 2003 và đến nay đã có 83 tổ chức tài chính tại 36 quốc gia cam kết thực thi. EP được sửa đổi lần thứ nhất năm 2006 và lần thứ hai vào năm 2013 Hiện nay, EP được xem như bộ chuẩn mực mang tính hướng dẫn tốt nhất đối với các nhà đầu tư tài chính. Những quy định của Nguyên tắc Xích đạo được áp dụng như một nền tảng cơ bản, là khuôn khổ cho việc thực hiện các chính sách, quy trình, tiêu chuẩn về môi trường và xã hội của mỗi thành viên thuộc các Định chế Tài chính tham gia Nguyên tắc Xích đạo (EPFIS). EPFIs sẽ không cung cấp các khoản vay cho những dự án mà bên nhận tài trợ hoặc không thể tuân thủ các chính sách xã hội và môi trường cũng như các quy định thuộc Nguyên tắc Xích đạo.

Hộp 1 – Nguyên tắc Xích đạo

Nguyên tắc 1: Xem xét và phân loại

Nguyên tắc 2: Đánh giá môi trường và xã hội

Nguyên tắc 3: Các tiêu chuẩn môi trường và xã hội thích hợp

Nguyên tắc 4: Hệ thống quản lý môi trường, xã hội và Kế hoạch hành động

Nguyên tắc 5: Sự tham gia của các bên liên quan

Nguyên tắc 6: Cơ chế khiếu nại

Nguyên tắc 7: Đánh giá độc lập

Nguyên tắc 8: Các thỏa ước

Nguyên tắc 9: Giám sát và báo cáo độc lập

Nguyên tắc 10: Báo cáo và tính minh bạch

[Nguồn: The Equator Principles Association 2011]

Ông Nirukt Sapru, Tổng Giám đốc Ngân hàng Standard Chartered Việt Nam khẳng định: “Nguyên tắc Xích đạo (EP) là một phần quan trọng trong cách mà Standard Chartered quản lý rủi ro môi trường và xã hội (MTXH). Hiệu quả lớn nhất Standard Chartered có được là thông qua các doanh nghiệp chúng tôi tài trợ. Bằng cách cung cấp tài chính một cách hiệu quả và có trách nhiệm, chúng tôi có thể tạo ra nhiều giá trị cho cổ đông của chúng tôi và mang lại nhiều giá trị hơn cho xã hội. EP là một phần quan trọng trong cách chúng tôi quản lý rủi ro MTXH, và góp phần chứng minh rằng chúng tôi hiện diện ở đây cho những gì tốt đẹp – “Here for good” – bằng cách cung cấp một cơ cấu tổ chức vững mạnh và được tôn trọng.

Một trong những lợi ích chính của nguyên tắc là áp dụng một phương pháp chung để quản lý các rủi ro giữa các quốc gia bằng cách tham khảo các tiêu chuẩn thực hiện của IFC và giữa các tổ chức tài chính tham gia EP khác – những người có thể tham gia tài trợ cho cùng một dự án. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về cho vay của các ngân hàng.

Nguyên tắc này gồm các nhóm công tác giúp xây dựng kiến thức và năng lực để phục vụ nguyên tắc cũng như phát triển các nguồn lực để hỗ trợ tất cả các tổ chức tài chính tham gia EP. Nguyên tắc này cho phép chúng tôi và các tổ chức tài chính khác quản lý rủi ro MTXH một cách có tổ chức và nhất quán. Do đó, EP có nhiều giá trị vì thông qua đó, cộng đồng các ngân hàng có lợi ích chung trong quản lý rủi ro MTXH, đồng thời có thể chia sẻ kinh nghiệm và kiến thức”.

Ngân hàng nhà nước đã ra chỉ thị 03 nhằm khuyến khích các ngân hàng thực hiện đánh giá rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động tín dụng của mình. Vì vậy, việc xem xét tham gia vào nguyên tắc xích đạo sẽ giúp các ngân hàng Việt Nam quản lý rủi ro MTXH một cách có tổ chức và nhất quán. Vừa giúp các ngân hàng thực hiện tốt các chỉ thị, chính sách về tín dụng xanh của nhà nước, vừa thể hiện được trách nhiệm xã hội của các ngân hàng trong vấn đề môi trường, trong khi vẫn bảo đảm các lợi ích về tài chính cho các ngân hàng.

Tuy nhiên, các ngân hàng Việt Nam hiện nay chỉ mới dừng lại ở mức tham khảo bộ nguyên tắc này, việc tham gia chính thức vào nguyên tắc xích đạo sẽ rất khó khăn cho các ngân hàng ở Việt Nam khi phải bảo đảm các yêu cầu về vốn, tính công khai, minh bạch về công bố thông tin, phải đảm bảo về nhân quyền, và tránh tham gia vào các dự án gây rủi ro cao cho môi trường, trong đó có các dự án về năng lượng. Trong khi, ngành năng lượng vẫn là một ngành được khuyến khích đầu tư tại Việt Nam để phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế. Việc các ngân hàng Việt Nam vẫn đang loay hoay để tham gia đầy đủ nguyên tắc Basel II cũng khiến cho các ngân hàng khó có thể đồng thời tham gia vào nguyên tắc xích đạo với các yêu cầu về quản lý rủi ro môi trường và xã hội.

Tuy nhiên, với yêu cầu cấp thiết trong xây dựng một hệ thống tin dụng xanh như hiện nay, khi rủi ro môi trường và xã hội được quan tâm nhiều hơn từ các cơ quan nhà nước, khi chỉ thị 03/2015/CT-NHNN được ban hành. Các ngân hàng đã có cho mình một cơ sở để tự xây dựng hệ thống đánh giá rủi ro môi trường và xã hội trong chính quy chế nội bộ của mình. Nguyên tắc xích đạo là một nguồn tài liệu các ngân hàng có thể tham khảo.

2.3.2. Một số kinh nghiệm quốc tế khác Khóa luận: Thực trạng pháp luật về cho vay của các ngân hàng.

Trong bối cảnh hiện nay của ngành ngân hàng Việt Nam với những yêu cầu cải tổ, tái cơ cấu, và bắt đầu suy nghĩ về một tương lai bền vững hơn thay vì chỉ đầu tư “ăn xổi,” việc NHNN ra một quy định chung trong toàn ngành về vấn đề trách nhiệm môi trường và xã hội có thể sẽ là một bước đà cho những ngân hàng lớn ở Việt Nam đang muốn đi tiên phong trong lĩnh vực này. Cũng theo nghiên cứu của PanNature, một rào cản đối với việc thực hiện trách nhiệm môi trường và xã hội trong hoạt động tín dụng là do một số ngân hàng lớn cũng còn e dè chưa muốn một mình đi tiên phong. Tuy nhiên, cách tiếp cận này của ngành ngân hàng Việt Nam, thông qua một quy định áp đặt từ trên xuống cũng không tránh khỏi có thể có những hạn chế cần phải cân nhắc. Những bài học từ chương trình “Chính sách Tín dụng Xanh” mà Trung Quốc đã thực hiện từ năm 2007 có thể cũng là kinh  nghiệm quý cho Việt Nam. Chính sách này được ban hành vào tháng  07/2007 nhằm khuyến khích các ngân hàng Trung Quốc thực hiện cấp tín dụng cho các dự án ít gây ô nhiễm, thân thiện với môi trường hay sử dụng năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, Trung Quốc đã mất gần năm năm kể từ khi bắt đầu ra chính sách cho đến khi xây dựng được một hướng dẫn tương đối chi tiết để thực hiện chính sách này (tháng 02/2012). Trước đó, một số các nghiên cứu độc lập về việc thực hiện chính sách này đều đánh giá không cao hiệu quả của nó đối với các hoạt động thực tiễn của các ngân hàng Trung Quốc. Một trong những khó khăn lớn nhất của việc thực hiện chính sách này ở Trung Quốc là việc thiếu đi một hệ thống đánh giá đáng tin cậy về các ngành nghề và các cơ sở gây ô nhiễm môi trường để làm căn cứ cho các ngân hàng phân loại dự án, đặc biệt là khi nhiều ngành gây ô nhiễm cũng đang là những ngành mang lại lợi nhuận cao cho nhiều địa phương. Cũng theo nghiên cứu này, số cơ sở gây ô nhiễm được  đưa vào danh sách đen (và không thể vay vốn ngân hàng cho đến khi họ cải thiện được tình trạng gây ô nhiễm) được cho là quá ít so với số cơ sở bị phạt bởi Bộ Bảo vệ Môi trường Trung Quốc do gây ô nhiễm (38 so với 8.000 năm 2007). Nếu ngành ngân hàng Việt Nam đi theo con đường này, đây cũng sẽ là thách thức lớn nhất, đồng thời cũng có thể trở thành một lý do để các ngân hàng trì hoãn và né tránh việc cắt giảm tín dụng cho những ngành, những cơ sở gây ô nhiễm và ảnh hưởng đến dân sinh nhưng mang lại nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp và cho ngân hàng [16] Khóa luận: Thực trạng pháp luật về cho vay của các ngân hàng.

Mỹ là một trong những nước đầu tiên trên thế giới có quy định về trách nhiệm đối với môi trường không chỉ đối với doanh nghiệp gây ô nhiễm mà còn của các bên liên quan khác, trong đó bao gồm cả ngân hàng cho vay vốn các công trình, dự án gây ô nhiễm khi thông qua Đạo luật Bồi hoàn Môi trường Toàn diện (CERCLA) năm 1980. Mặc dù Đạo luật này có miễn trừ trách nhiệm của người cho vay (thường là các tổ chức tín dụng), nhưng những trường họp người cho vay có tham gia một mức nhất định đến việc đảm bảo an toàn môi trường, xã hội của công trình, dự án gây ô nhiễm thì cũng phải nộp phạt một khoản phí không nhỏ.

Năm 1990, tập đoàn tài chính Fleet Factors đã bị tòa án Mỹ ra phán quyết phải thực hiện bồi hoàn môi trường do đầu tư và có liên đới trực tiếp đến một công trình gây ô nhiễm. Đây là một vụ kiện kinh điển trong ngành tài chính Mỹ, và mặc dù gây nhiều tranh cãi vẫn khiến cho các tổ chức tín dụng sau đó phải nghiêm túc tính toán đến những rủi ro môi trường khi cho vay vốn. Bên cạnh đó, những quy định nghiêm ngặt của CERCLA về bồi hoàn môi trường cũng tác động gián tiếp đến các ngân hàng vì nếu phải bồi hoàn môi trường thì chủ đầu tư dự án sẽ mất khả năng trả nợ cho ngân hàng. Viện Quốc tế về Phát triển Bền vững (IISD) dẫn kết quả một cuộc điều tra của Hiệp hội Ngân hàng Mỹ cho biết sau vụ Fleet Factors, 63% ngân hàng ở Mỹ đã từ chối  cấp vốn cho các dự án mà họ cho là có rủi ro về môi trường và 46% trong số các ngân hàng này đã quyết định chấm dứt tài trợ cho một số ngành hay gây ô nhiễm môi trường [8,24]

Tại châu Âu, năm 1989, Ủy ban Châu Âu (EC) đưa ra một bản dự thảo Chỉ thị về Trách nhiệm Dân sự đối với những tổn hại do rác thải. Tuy nhiên, đến năm 2004, Chỉ thị này mới được chính thức đưa ra sau khi EC thu hẹp bớt những quy định về người chịu trách nhiệm với cơ sở gây ô nhiễm do các ngân hàng châu Âu lo ngại đây sẽ trở thành một CERCLA thứ hai. Sau khi Chỉ thị này có hiệu lực (từ tháng 4/2004), các nước thành viên của EC có ba năm để xây dựng luật tại quốc gia mình. Tuy nhiên, đến tháng 07/2010 việc này mới được hoàn tất nên đánh giá về hiệu quả thực hiện còn hạn chế.

Các chính sách và pháp luật mà các quốc gia và tổ chức trên sử dụng đều có tính hiệu quả và hạn chế riêng. Việc tham khảo, sàng lọc và áp dụng một cách phù hợp vào tình hình thực tiễn tại Việt Nam sẽ đem lại những hiệu quả tốt hơn. Bắt buộc hay tự nguyện đều có những ưu, nhược điểm của nó. Việc phân loại các quy định bắt buộc hay tự nguyện vào những trường hợp cụ thể là rất cần thiết. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về cho vay của các ngân hàng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp pháp luật về cho vay của các ngân hàng

One thought on “Khóa luận: Thực trạng pháp luật về cho vay của các ngân hàng

  1. Pingback: Khóa luận: Pháp luật về hoạt động cho vay của ngân hàng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464