Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế TNDN hiện nay ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp

2.1.1. Nội dung quản  lý  thuế TNDN ở Việt Nam theo Luật Quản  lý  thuế hiện  hành  và các văn bản hướng dẫn thi hành luật.

Như  đã  đề cập ở trên, sự ra đời của Luật Quản lý thuế đã khắc phục được tình trạng chia cắt tách biệt về phương thức quản lý giữa thuế TNDN với các loại thuế khác. Các nội dung về quản lý thuế nói chung và quản lý thuế TNDN nói riêng đã được quy định khá đầy đủ, chi tiết trong pháp luật quản lý thuế, mà cụ thể là trong Luật quản lý thuế năm 2006 được sửa đổi bổ sung năm 2012, 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Trong đó nội dung quản lý Thuế TNDN hiện nay được quy định cụ thể như sau:

2.1.1.1. Quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế, cơ quan thuế và các cơ quan, tổ chức có liên quan khác trong quản lý thuế TNDN

Xuất phát từ quan điểm tiền thuế phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội. Do đó, mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội phải có trách nhiệm tham gia quản lý thuế:

Luật Quản lý thuế hiện hành đã quy định quyền lợi và trách nhiệm của người nộp thuế, trong đó bổ sung một số quyền cho người nộp thuế. Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

Cụ thể, các quyền của doanh nghiệp, tổ chức nộp thuế TNDN được quy định tại điều 6 và nghĩa vụ được quy định tại điều 8 Luật Quản lý thuế năm 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014. Có thể kể đến một số quyền như: được hướng dẫn thực hiện pháp luật thuế; được cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ thuế;  yêu cầu cơ quan quản lý thuế giải thích về việc tính thuế, ấn định thuế;  được giữ bí mật thông tin theo quy định của pháp luật; được bồi thường thiệt hại do cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế gây ra theo quy định của pháp luật; khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình; tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật của công chức quản lý thuế và tổ chức, cá nhân khác…

Một số nghĩa vụ của người nộp thuế: Đăng ký thuế, sử dụng mã số thuế theo quy định của pháp luật; Khai thuế chính xác, trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ thuế đúng thời hạn; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ thuế; Nộp tiền thuế đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm…

  • Luật Quản lý thuế quy định đầy đủ trách nhiệm và quyền của cơ quan quản lý thuế.

Trong đó:

Nhấn mạnh chức năng tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế, công khai minh bạch các thủ tục và thời hạn giải quyết hồ sơ thuế, gắn trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế trong việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ.

Quy trình tiếp nhận, xử lý hồ sơ theo cơ chế một cửa, ấn định rõ thời hạn giải quyết từng loại hồ sơ thuế.

Trách nhiệm trong việc xây dựng hệ thống thông tin về người nộp thuế làm căn cứ cho việc phân loại, đánh giá mức độ tuân thủ trên cơ sở phân tích tập trung vào đối tượng có nhiều khả năng vi phạm. Đồng thời cơ quan thuế có trách nhiệm bảo mật thông tin cho người nộp thuế.

Quy định trách nhiệm kiểm tra thuế, thanh tra thuế; cưỡng chế nộp thuế; xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật thuế.

Quy định cơ quan quản lý thuế được quyền ký hợp đồng uỷ nhiệm thu thuế với tổ chức, cá nhân để thu một số loại thuế, khoản thu. Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

Cơ quan quản lý thuế được giao quyền sử dụng một số biện pháp để đảm bảo thu đủ tiền thuế cho Ngân sách nhà nước.

  • Luật Quản lý thuế cũng quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia công tác quản lý thuế:

Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm chỉ đạo, giám sát việc chấp hành các Luật thuế.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có trách nhiệm vận động nhân dân nghiêm chỉnh thi hành pháp luật thuế, giám sát việc thi hành pháp luật thuế của người nộp thuế và cơ quan quản lý thuế, phê phán các hành vi vi phạm pháp luật thuế.

Cơ quan thông tin, báo chí có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật thuế và phản ánh, phê phán các hành vi vi phạm pháp luật thuế.

Các cơ quan quản lý nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ quản lý ngành có trách nhiệm cung cấp thông tin liên quan đến người nộp thuế cho cơ quan quản lý thuế hoặc phối hợp với cơ quan quản lý thuế thực hiện cưỡng chế thuế, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật thuế.

Hội đồng tư vấn thuế xã, phường, thị trấn do Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định thành lập theo đề nghị của Chi cục trưởng Chi cục thuế. Hội đồng tư vấn thuế xã, phường, thị trấn có nhiệm vụ tư vấn cho cơ quan thuế về mức thuế của các hộ, gia đình, cá nhân kinh doanh trên địa bàn, bảo đảm đúng pháp luật, dân chủ, công khai, công bằng, hợp lý.

2.1.1.2. Quản lý đăng ký, kê khai, ấn định thuế, nộp thuế và hoàn thuế TNDN

  • a.Về thủ tục đăng ký thuế

Đăng ký thuế là việc người nộp thuế kê khai các thông tin của mình theo mẫu quy định và nộp hồ sơ kê khai cho cơ quan quản lý thuế để được cấp giấy chứng nhận đăng ký thuế.

Luật Quản lý thuế hiện hành đã quy định một cách khái quát về đối tượng phải đăng ký thuế, thời hạn đăng ký thuế, hồ sơ đăng ký thuế, địa điểm nộp hồ sơ đăng ký thuế, tiếp nhận hồ sơ đăng ký thuế, cấp giấy chứng nhận đăng ký thuế, thay đổi thông tin đăng ký thuế, sử dụng mã số thuế của người nộp thuế và chấm dứt hiệu lực mã số của người nộp thuế. Các nội dung này được cụ thể hóa tại Thông tư số 80/2012/TT-BTC Hướng đẫn Luật quản lý thuế về Đăng ký thuế.

Ở đây, việc đăng ký thuế chỉ thực hiên một lần (được đăng ký thay đổi khi có sự thay đổi các chỉ tiêu đã đăng ký) và  mã số thuế được ghi trên giấy chứng nhận đăng ký thuế sẽ được dùng để kê khai với tất cả các loại thuế liên quan chứ không phải chỉ sử dụng riêng cho việc kê khai, quyết toán thuế TNDN. Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

Đối tượng phải đăng ký thuế bao gồm: tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ, hàng hoá; tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam, cá nhân nước ngoài hành nghề độc lập kinh doanh tại Việt Nam phù hợp với luật pháp Việt Nam có thu nhập phát sinh tại Việt Nam;…

Thời hạn đăng ký: Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận hoạt động hoặc Giấy phép thành lập và hoạt động hoặc Giấy chứng nhận đầu tư; bắt đầu hoạt động kinh doanh đối với tổ chức không thuộc diện đăng ký kinh doanh; phát sinh trách nhiệm khấu trừ và nộp thuế thay.

  • Nơi nộp hồ sơ:  Cơ quan thuế nơi có trụ sở chính.
  • Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Giấy chứng nhận đăng ký thuế.

Trường hợp có thay đổi thông tin đăng ký thuế thì trong trường hợp 10 ngày kể từ ngày phát sinh thay đổi thì người nộp thuế phải thông báo cho cơ quan thuế theo mẫu số 08 –MST ban hành kèm theo Thông tư 156/2013/TT-BTC.

Ngoài ra, pháp luật hiện nay cũng quy định về trường hợp có sự thay đổi trụ sở của người nộp thuế dẫn đến thay đổi cơ quan thuế quản lý trực tiếp ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác.

Đối với doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam thì trước đây khi Luật Doanh nghiệp năm 2014 chưa có hiệu lực thì sau khi hoàn tất thủ tục đăng ký thành lập  và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép thành lập và hoạt động hoặc giấy chứng nhận đầu tư thì trong thời hạn 10 ngày làm việc doanh nghiệp bắt buộc phải đến cơ quan thuế nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính để thực hiện thủ tục đăng ký thuế. Tuy nhiên, kể từ ngày 1/7/2015 – Luật doanh nghiệp năm 2014 chính thức có hiệu lực thì mã số doanh nghiệp sẽ đồng thời là mã số thuế (Điều 30 Luật Doanh nghiệp năm 2014), do vậy sẽ không cần phải làm thủ tục với thuế để đăng ký mã số thuế nữa.

Thêm vào đó pháp luật hiện nay cũng đã nêu rõ trách nhiệm của Phòng Đăng ký kinh doanh đối với việc gửi thông tin đăng ký doanh nghiệp và thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp  cho cơ quan thuế, cơ quan thống kê, cơ quan quản lý lao động, cơ quan bảo hiểm xã hội.

Quy định này đã phần nào giảm bớt gánh nặng về thủ tục hành chính cho doanh nghiệp, mã số thuế và mã số doanh nghiệp đồng nhất không chỉ giúp lược bỏ các thủ tục không cần thiết mà còn tạo thuận lợi trong khâu quản lý.

  • b.Về kê khai thuế

Kê khai thuế là việc người nộp thuế trình bày các số liệu, hồ sơ liên quan đến nghĩa vụ nộp thuế của người nộp thuế cho cơ quan quản lý thuế. Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

Khai thuế thu nhập doanh nghiệp có thể là  khai theo từng lần phát sinh, khai quyết toán năm hoặc khai quyết toán thuế đến thời điểm có quyết định về việc doanh nghiệp thực hiện chia; hợp nhất; sáp nhập; chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; giải thể; chấm dứt hoạt động. Riêng với trường hợp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp mà bên tiếp nhận kế thừa toàn bộ nghĩa vụ về thuế của doanh nghiệp trước chuyển đổi thì doanh nghiệp chỉ phải khai quyết toán thuế năm theo quy định. Trong đó kê khai thuế thu nhập doanh nghiệp theo từng lần phát sinh được áp dụng với các trường hợp sau:

  • Hoạt động chuyển nhượng bất động sản áp dụng đối với doanh nghiệp không có chức năng kinh doanh bất động sản và doanh nghiệp có chức năng kinh doanh bất động sản nếu có nhu cầu.
  • Tổ chức nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam mà tổ chức này không hoạt động theo Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp có thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng vốn.

Theo quy định hiện nay thì Đối tượng phải khai quyết toán thuế TNDN theo năm: là tổ chức, doanh nghiệp – người nộp thuế thuộc diện nộp thuế TNDN có trách nhiệm khai quyết toán thuế TNDN theo năm dương lịch (từ 1/1/đến 31/12) hoặc năm tài chính (nếu năm tài chính khác năm dương lịch). Trường hợp NNT tạm ngừng kinh doanh không trọn năm dương lịch hoặc năm tài chính thì vẫn phải nộp hồ sơ QTT năm.

NNT nộp thuế TNDN theo tỷ lệ % trên doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật về thuế TNDN không phát sinh thường xuyên hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế TNDN thì thực hiện kê khai thuế TNDN theo từng lần phát sinh theo mẫu số 04/TNDN ban hành kèm theo Thông tư số151/2014/TTBTC, NNT không phải khai quyết toán năm.

Khoản 1 Điều 30 Luật quản lý thuế năm 2006 được sửa đổi bổ sung năm 2012, 2014 quy định nguyên tắc khai thuế như sau: “Người nộp thuế phải khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế theo mẫu do Bộ Tài chính quy định và nộp đủ các loại chứng từ, tài liệu quy định trong hồ sơ khai thuế với cơ quan quản lý thuế.”

Trách nhiệm và nơi nộp hồ sơ khai thuế thu nhập doanh nghiệp của các chủ thể cũng được quy định rõ, trong đó về cơ bản người nộp thuế phải  nộp hồ sơ khai thuế thu nhập doanh nghiệp cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp.

Thời hạn kê khai thuế đối với trường hợp quyết toán năm là chậm nhất là ngày thứ  chín mươi kể từ ngày kết thúc năm dương lịch hoặc năm tài chính và chậm nhất là ngày thứ mười, kể từ ngày phát sinh nghĩa vụ thuế đối với trường hợp thuế khai và nộp theo từng lần phát sinh nghĩa vụ thuế. Riêng đối với trường hợp chấm dứt hoạt động chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp hoặc tổ chức lại doanh nghiệp thời  hạn là  chậm nhất là bốn mươi lăm, kể từ ngày chấm dứt hoặc thay đổi.

Bên cạnh quy định trên Luật Quản lý thuế hiện hành còn quy định về gia hạn nộp hồ sơ khai thuế (Điều 33), khai bổ sung hồ sơ khai thuế (Điều 34), tiếp nhận và giải quyết hồ sơ khai thuế (Điều 35).

Khoản 1 Điều 34 Luật Quản lý thuế hiện hành quy định như sau: “Trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế, người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp có sai sót gây ảnh hưởng đến số thuế phải nộp thì được khai bổ sung hồ sơ khai thuế.” Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

Như vậy, nếu người nộp thuế tự phát hiện sai sót của mình trong quá trình kê khai mà khi đó cơ quan thuế chưa công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế thì người nộp thuế vẫn có quyền bổ sung hồ sơ khai thuế mà không bị xử phạt.

Hồ sơ và trình tự thủ tục kê khai thuế TNDN được quy định cụ thể tại Điều 16 Thông tư số 151/2014/TT-BTC hướng dẫn thi hành nghị định số 91/2014/NĐ-CP của Chính Phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều tại các nghị định quy định về thuế.

Kể từ ngày 1/7/2013 hình thức khai thuế qua mạng đã được áp dụng bắt buộc vào theo  Điểm 4 Luật số 1/2012/QH13 bổ sung thêm Khoản 10 vào Điều 7 của Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11. Nhằm thực hiện mục tiêu đơn giản hóa các thủ tục giấy tờ, việc kê khai thuế qua mạng đã được áp dụng cho các doanh nghiệp tại Việt Nam.  Kê khai thuế qua mạng thực chất là việc gửi các Tờ khai thuế đã được kết xuất ra file *.pdf từ phần mềm HTKK lên website http://kekhaithue.gdt.gv.vn/ của Tổng cục Thuế. Để có thể gửi file, mỗi doanh nghiệp cần có một Tài khoản đăng nhập và một Chữ ký số dùng để “ký” lên các file trước khi nhấn nút “Gửi tờ khai”

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 8 Thông tư số 110/2015/TT – BTC thì người nộp thuế được thực hiện các giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế 24 giờ trong ngày và 7 ngày trong tuần, bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ và ngày Tết, điều này giúp cho doanh nghiệp chủ động trong việc nộp hồ sơ kê khai, không phải phụ thuộc vào giờ làm việc hành chính của cơ quan thuế.

  • Về nộp thuế và hoàn thuế

Luật Quản lý thuế năm 2006 được sửa đổi bổ sung năm 2012, 2014 đã quy định thời hạn nộp thuế; đồng tiền nộp thuế; địa điểm và hình thức nộp thuế; thứ tự thanh toán tiền thuế; xác định ngày nộp thuế; xử lý số tiền thuế nộp thừa; nộp thuế trong thời gian khiếu nại, khởi kiện; gia hạn nộp thuế. Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

Cũng như việc nộp hồ sơ kê khai thuế, hình thức nộp tiền thuế qua mạng đã được thực hiện từ giữa năm 2014. Nộp tiền thuế điện tử qua mạng là dịch vụ cho phép người nộp thuế lập Giấy nộp tiền vào Ngân sách Nhà nước trực tiếp trên Cổng thông tin điện tử của Cơ quan thuế và được Ngân hàng thương mại xác nhận kết quả giao dịch nộp thuế tức thời.

Việc nộp tiền thuế qua mạng này giúp cho việc thực hiện thủ tục nộp thuế đơn giản nhanh chóng thuận tiện 24h/7 ngày tại mọi địa điểm có kết nối Internet. Được ngân hàng xác định kết quả ngay sau khi gửi giấy nộp tiền điện tử qua mạng.

Khoản 1 Điều 42 Luật Quản lý thuế hiện hành quy định thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế. Thuế TNDN được quyết toán theo năm, tuy nhiên việc hàng quy doanh nghiệp phải thực hiện tạm nộp thuế TNDN. Cụ thể:

Căn cứ kết quả sản xuất, kinh doanh, người nộp thuế thực hiện tạm nộp số thuế thu nhập doanh nghiệp của quý chậm nhất vào ngày thứ ba mươi của quý tiếp theo quý phát sinh nghĩa vụ thuế. Trước đây ngoài việc tạm nộp thuế TNDN, người nộp thuế còn phải nộp kèm Tờ khai Thuế TNDN tạm tính theo quy.  Kể từ ngày 15/11/2014, Thông tư 151/2014/TT – BTC có hiệu lực thì Doanh nghiệp chỉ cần nộp thuế TNDN tạm tính. Quy định này nhằm cải cách đơn giản hóa thủ tục hành chính nhưng vẫn duy trì nguồn tiền ổn định cho Ngân sách Nhà nước.

Số thuế thu nhập tạm nộp hàng quý của Doanh nghiệp sẽ được tính dựa trên một trong các cơ sở sau:

  • Căn cứ vào báo cáo tài chính quý (đối với những doanh nghiệp phải lập báo cáo tài chính quý theo quy định của pháp luật: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán…)
  • Căn cứ vào số thuế thu nhập doanh nghiệp của năm trước và dự kiến kết quả sản xuất kinh doanh trong năm.

Thời hạn nộp tiền thuế TNDN tạm ứng chậm nhất là ngày thứ ba mươi của quý tiếp theo.

Do chỉ là tạm tính hàng quý nên việc nộp thiếu hoặc nộp thừa Thuế TNDN là không tránh khỏi. Trường hợp số thuế thu nhập doanh nghiệp đã tạm nộp thấp hơn số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp thì doanh nghiệp phải nộp đủ số thuế còn thiếu vào Ngân sách Nhà nước. Trường hợp số thuế thu nhập doanh nghiệp đã tạm nộp lớn hơn số thuế phải nộp thì doanh nghiệp được trừ số thuế nộp thừa vào số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của kỳ tiếp theo  (kể cả việc bù trừ với loại thuế khác) hoặc được hoàn lại số thuế đã nộp thừa. Việc này cũng áp dụng đối với tiền nộp chậm, tiền phạt nộp thừa.

Việc giải quyết số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa được giải quyết theo thứ tự quy định tại Khoản 2 Điều 33 Thông tư số 156/2013/TT-BTC. Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

Khoản 2 Điều 47 Luật Quản lý thuế hiện hành cũng quy định trong trường hợp người nộp thuế yêu cầu trả lại số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa thì cơ quan quản lý thuế phải ra quyết định trả lại số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa hoặc có văn bản trả lời nêu rõ lý do không hoàn trả trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu.

Hồ sơ hoàn thuế và việc giải quyết hồ sơ hoàn thuế được quy định cụ thể tại Điều 57, 58 Thông tư số 156/2013/TT-BTC và Điểm a Khoản 14 Điều 2 Thông tư 26/2015/TT-BTC.

Trường hợp tổng số thuế tạm nộp trong kỳ tính thuế thấp hơn số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp theo quyết toán  cũng được pháp luật quy định rõ.

Ngoài ra, Điều 48 Luật Quản lý thuế năm 2006 được sửa đổi bổ sung năm 2012, 2014 còn có quy định về trường hợp người nộp thuế có khiếu nại, khởi kiện về số tiền thuế do cơ quan quản lý thuế tính hoặc ấn định thì trong thời giản giải quyết người nộp thuế vẫn phải nộp đủ số tiền thuế đó, trừ trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định tạm đình chỉ thực hiện quyết định tính thuế, quyết định ấn định thuế của cơ quan quản lý thuế. Sau khi có quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan có thẩm quyền hoặc bản án, quyết định của Tòa án mà số tiền thuế đã nộp lớn hơn số tiền thuế được xác định theo quyết thì người nộp thuế được hoàn trả số tiền thuế nộp thừa và được trả tiền lãi tính trên số tiền thuế nộp thừa.

Trường hợp doanh nghiệp vừa có số tiền thuế nợ, tiền thuế truy thu, tiền thuế phát sinh, tiền chậm nộp, tiền phạt thì việc thanh toán được thực hiện theo thứ tự sau:  Tiền thuế nợ (1) –  Tiền thuế truy thu (2) – Tiền chậm nộp (3) – Tiền thuế phát sinh (4) – Tiền phạt (5).

Trong thực tiễn, một số trường hợp người nộp thuế gặp phải khó khăn bất khả kháng, không có khả năng nộp thuế đúng hạn, nhưng chưa có quy định được gia hạn nộp thuế và được miễn xử phạt trong thời gian gia hạn nộp thuế, dẫn đến họ có số tiền phạt chậm nộp lớn hơn cả số thuế phải nộp. Trong khi đó, cơ quan thuế không có thẩm quyền xoá nợ tiền phạt, dẫn đến số nợ thuế lớn, không có khả năng thu. Do vậy, ngoài các quy định trên Luật quản lý thuế hiện hành còn quy định người nộp thuế được gia hạn nộp tiền thuế mà không bị xử phạt về hành vi chậm nộp (Điều 49, 50, 51, 52).

  • Về ấn định thuế Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

Đối với việc ấn định thuế TNDN, Luật Quản lý thuế hiện hành đã quy định nguyên tắc ấn định thuế, ấn định thuế đối với người nộp thuế vi phạm pháp luật về thuế, trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế và của người nộp thuế trong việc ấn định thuế. Luật quản lý thuế đã cũng quy định cơ quan quản lý thuế ấn định số thuế phải nộp hoặc ấn định từng yếu tố liên quan đến việc xác định số thuế phải nộp. Quy định này đã giải quyết được vướng mắc trong việc ấn định thuế hiện nay là ấn định toàn bộ số thuế phải nộp, trong khi người nộp thuế vô tình hoặc có hành vi cố ý sử dụng hoặc một số chứng từ không hợp pháp.

Ấn định thuế TNDN được quy định cụ thể tại Điều 25 Thông tư 156/2013/TTBTC. Có thể rút ra một số nội dung cơ bản về ấn định thuế TNDN như sau:

Trước hết, ấn định thuế TNDN là việc thay vì chỉ căn cứ vào kết quả hoạt động kinh doanh để tính tiền thuế phải nộp thì ở đây cơ quan thuế sẽ ấn định một mức thuế nào đó, nếu DN có doanh thu thấp hay bị lỗ vẫn phải nộp theo mức thuế đó. Thứ hai, đa số các doanh nghiệp bị ấn định thuế là do không thực hiện hay thực hiện ko đầy đủ chế độ sổ sách chứng từ theo quy định, khi cơ quan thuế kiểm tra phát hiện ra, ngoài ra có trường hợp báo cáo doanh thu quá ít không phù hợp thực tế kinh doanh.

Theo quy định hiện nay của Luật Quản lý thuế, người nộp thuế có trách nhiệm thực hiện các nội dung quy định để thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật thuế. Cơ quan thuế thực hiện vai trò hỗ trợ, giúp người nộp thuế hiểu được chính sách, cách kê khai, hoàn thành thủ tục. Đồng thời, cơ quan thuế có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ, giải quyết thủ tục đúng thời hạn và thông báo cho người nộp thuế hoàn chỉnh hồ sơ trong trường hợp hồ sơ hoặc thông tin kê khai chưa đầy đủ. Đặc biệt quan tâm công tác hỗ trợ người nộp thuế. Theo quy định của Luật quản lý thuế thì cơ quan thuế tập trung hỗ trợ doanh nghiệp theo 8 nội dung quản lý thuế (Điều 3 Luật quản lý thuế).

2.1.1.3. Thủ tục miễn thuế, giảm thuế TNDN

Việc miễn thuế, giảm thuế TNDN được thực hiện trên cơ sở các trường hợp thuộc diện miễn thuế, giảm thuế được quy định tại Luật Thuế TNDN năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2013, 2014 và được quy định cụ thể tại Điều 20, 21 Thông tư số 78/2014/TT-BTC; điều 6 của TT 151/2014/TT-BTCSửa đổi, bổ sung Khoản 3, Điều 20, Thông tư số 78/2014/TT-BTC; Khoản 2 Điều 12 Thông tư 96/2015/TT-BTC. Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

Theo quy định tại Điều 61, 62 Luật Quản lý thuế hiện hành và Điều 45 Thông tư 156/2013/TT-BTC thì Doanh nghiệp sẽ tự xác định số tiền thuế được miễn thuế, giảm thuế sau đó nộp hồ sơ và tự quyết  toán thuế cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp. Hồ sơ bao gồm: Tờ khai thuế và tài liệu liên quan đến việc xác định số thuế được miễn, số thuế được giảm.

Việc nộp và tiếp nhận hồ sơ miễn thuế, giảm thuế được thực hiện đồng thời với việc khai, nộp và tiếp nhận hồ sơ khai thuế. Việc tiếp nhận hồ sơ miễn thuế, giảm thuế được quy định tại  Khoản  3 Điều 63 Luật Quản lý thuế hiện hành.

2.1.1.4. Xóa nợ tiền thuế, tiền chậm  nộp, tiền phạt

Doanh nghiệp được xóa nợ tiền thuế, tiền phạt trong trường hợp sau:

  • Doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản đã thực hiện các khoản thanh toán theo quy định của pháp luật phá sản mà không còn tài sản để nộp tiến thuế, tiền phạt.
  • Cơ quan quản lý thuế đã áp dụng tất cả các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế quy định tại khoản 1 Điều 93 của Luật Luật Quản lý thuế năm 2006, sửa đổi bổ sung năm 2013, 2014 và các khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt này đã quá mười năm, kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế, nhưng không có khả năng thu hồi.

Các trường hợp được xóa nợ tiền thuế, tiền phạt thì đồng thời được xóa khoản tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp tiền thuế, tiền chậm nộp tiền phạt phát sinh từ khoản nợ đó.    Thủ tục, hồ sơ, trình tự và thẩm quyền xóa nợ tiền thuế được quy định cụ thể tại Khoản 4, Khoản 5 Điều 48 Thông tư số 156/2013/TT-BTC.

Cơ quan quản lý thuế quản lý trực tiếp lập hồ sơ xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt gửi đến cơ quan quản lý thuế cấp trên. Nếu hồ sơ chưa đầy đủ thì trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, cơ quan quản lý thuế cấp trên phải thông báo cho cơ quan đã lập hồ sơ để hoàn chỉnh hồ sơ. Trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ người có thẩm quyền phải ra quyết định xóa nợ hoặc thông báo trường hợp không thuộc diện được xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt. Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

2.1.1.5. Xây dựng hệ thống thông tin về người nộp thuế

Thông tin về người nộp thuế là yêu cầu quan trọng của công tác quản lý thuế hiện đại, đảm bảo cơ quan quản lý thuế theo dõi, tổng hợp, phân tích, đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế. Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý thuế tập trung vào quản lý các đối tượng có nhiều khả năng vi phạm pháp luật thuế, tránh thất thu ngân sách, đồng thời giảm phiền hà cho đối tượng chấp hành tốt pháp pháp luật thuế. Các quy định về thong tin người nộp thuế được tập trung tại Chương IX Luật Quản lý thuế năm 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012, 2014. (Từ Điều 69 đến Điều 74)

Hệ thống thông tin về người nộp thuế được xây dựng từ các nguồn: Thông tin từ hồ sơ thuế do người nộp thuế kê khai, gửi cơ quan quản lý thuế; Thông tin từ các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan đến người nộp thuế.

Trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ quan thuế của các cơ quan quản lý nhà nước được quy định thành 2 nhóm:

Nhóm 1 – Cung cấp thông tin tự động theo phát sinh sự kiện liên quan đến người nộp thuế:  Cơ quan cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cơ quan cấp Giấy phép thành lập và hoạt động có trách nhiệm cung cấp thông tin về nội dung Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy phép thành lập và hoạt động  hoặc Giấy chứng nhận thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh, quyết định sát nhập, chia tách, giải thể, phá sản của tổ chức, doanh nghiệp nộp thuế trong thời hạn bảy ngày làm việc kể từ ngày phát sinh các sự kiện trên và các thông tin khác theo đề nghị của cơ quan quản lý thuế; Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý thuế về số tiền thuế đã nộp, đã hoàn của người nộp thuế.

Nhóm 2 – Cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế: Ngân hàng, tổ chức tín dụng có trách nhiệm cung cấp nội dung giao dịch qua tài khoản của người nộp thuế trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan quản lý thuế. Cơ quan quản lý nhà nước về nhà, đất có trách nhiệm cung cấp thông tin về hiện trạng sử dụng đất, sở hữu nhà của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Cơ quan công an có trách nhiệm cung cấp, trao đổi thông tin liên quan đến đấu tranh phòng, chống tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và an ninh quốc gia liên quan đến quản lý thuế; cung cấp thông tin về cá nhân xuất cảnh, nhập cảnh và thông tin về đăng ký, quản lý phương tiện giao thông. Cơ quan chi trả thu nhập có trách nhiệm cung cấp thông tin về chi trả thu nhập và số thuế khấu trừ của người nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế. Cơ quan quản lý thương mại có trách nhiệm cung cấp thông tin về chính sách quản lý hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh của Việt Nam và nước ngoài; thông tin về quản lý thị trường; Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

Cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế, người đã là công chức quản lý thuế, tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế phải giữ bí mật thông tin của người nộp thuế theo quy định của pháp luật; tuy nhiên, cơ quan quản lý thuế vẫn có thể được công khai thông tin vi phạm pháp luật về thuế của người nộp thuế trong một số trường hợp được pháp luật quy định. Đồng thời các thông tin vi phạm pháp luật về thuế của người nộp thuế sẽ được công khai trên phương tiện thông tin đại chúng trong các trường hợp vi phạm nghĩa vụ nộp thuế hoặc không thực hiện các yêu cầu của cơ quản quản lý thuế theo đúng quy định (Quy định cụ thể tại Điều 74 Luật Quản lý thuế hiện hành).

2.1.1.6. Kiểm tra, thanh tra thuế TNDN

Thanh tra, kiểm tra là một biện pháp hữu hiệu nhằm phát hiện ngăn ngừa vi phạm, giúp người nộp thuế nhận thấy luôn có một hệ thống giám sát hiệu quả tồn tại và kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm của họ.

Nguyên tắc kiểm tra thuế, thanh tra thuế được quy định tại Điều 75 Luật Quản lý thuế hiện hành như sau:

  1. Thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế, xác minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế.
  2. Không cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là người nộp thuế.
  3. Tuân thủ quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Việc kiểm tra thuế TNDN được thực hiện theo quy định là Mục 2, Chương X, Luật Quản lý thuế hiện hành (từ Điều 77 đến Điều 80); Mục 1, Chương VIII Thông tư 156/2013/TT-BTC. Hiện nay, quy trình kiểm tra thuế TNDN được cụ thể hóa và áp dụng theo quy định tại Quyết định số 746/QĐ-TCT  ngày 20/5/2015 của Tổng cục trưởng Tổng cục thuế về việc Ban hành quy trình Kiểm tra thuế.

Cần lưu ý một số nội dung cơ bản sau:

  • a.Kiểm tra thuế

Kiểm tra thuế được xác định là công việc thường xuyên mang tính nghiệp vụ được thực hiện ngay tại trụ sở cơ quan thuế dựa trên hồ sơ khai thuế của người nộp thuế hoặc được thực hiện tại trụ sở của người nộp thuế khi mà người nộp thuế không giải trình được các số liệu chưa hợp lý trong hồ sơ khai thuế. Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

Kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế được thực hiện thường xuyên đối với các hồ sơ thuế nhằm đánh giá tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, chứng từ trong hồ sơ thuế, sự tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế. Trong đó, trường hợp phát hiện trong hồ sơ khai thuế chưa đủ tài liệu theo quy định hoặc khai chưa đầy đủ các chỉ tiêu theo quy định thì cơ quan thuế thông báo cho người nộp thuế biết để hoàn chỉnh hồ sơ trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ.

Trường hợp phát hiện có nội dung cần bổ sung trong hồ sơ thuế nội dung khai chưa đúng, số liệu khai không chính xác hoặc có những nội dung cần xác minh liên quan đến số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm, số tiền thuế được hoàn, cơ quan thuế thông báo bằng văn bản đề nghị người nộp thuế giải trình hoặc bổ sung thông tin, tài liệu. Người nộp thuế có thể đến cơ quan thuế giải trình trực tiếp hoặc bổ sung thông tin, tài liệu hoặc bằng văn bản.

Trình tự thủ tục thực hiện việc kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế được quy định cụ thể tại  Điều 62 Thông tư 156/2013/TT-BTC, lưu ý một số nội dung sau:

  • Chậm nhất là năm ngày làm việc kể từ ngày ký quyết định, Quyết định kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế phải được gửi cho người nộp thuế.
  • Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Quyết định kiểm tra thuế hoặc trước thời điểm tiến hành kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế mà người nộp thuế chứng minh được với cơ quan thuế số thuế đã khai là đúng hoặc nộp đủ số tiền thuế phải nộp theo tính toán của cơ quan thuế, thì Thủ trưởng cơ quan thuế ra Quyết định bãi bỏ Quyết định kiểm tra thuế.
  • Việc kiểm tra theo Quyết định kiểm tra thuế phải được tiến hành chậm nhất là mười ngày làm việc, kể từ ngày ban hành Quyết định.

Nhiệm vụ, quyền hạn của thủ trưởng cơ quan thuế ra quyết định kiểm tra thuế và công chức thuế trong việc kiểm tra thuế được quy định cụ thể tại Điều 64 Thông tư 156/2013/TT-BTC.

  • b. Thanh tra thuế Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

Thanh tra thuế được thực hiện trong các trường hợp: Có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế; doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng thì thanh tra định kỳ một năm không quá một lần; để giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Trong thời gian gần đây, hoạt động thanh tra thuế được thực hiện trên diện rộng và tập trung nhiều vào các Doanh nghiệp có dấu hiệu như: rủi ro cao về thuế; các doanh nghiệp nhiều năm chưa được thanh tra thuế; phát sinh lỗ liên tục trong nhiều năm; có đầu tư mở rộng hay thay đổi loại hình sở hữu.

Mục 3, Chương X, Luật Quản lý thuế hiện hành (từ Điều 81 đến Điều 87) đã quy định những nội dung cơ bản nhất về hoạt động Thanh tra thuế. Hiện nay, quy trình Thanh tra thuế nói chung và Thuế TNDN được cụ thể hóa và áp dụng theo quy định tại Quyết định số 1404/QĐ-TCT  ngày 28/7/2015 của Tổng cục trưởng Tổng cục thuế về việc Ban hành quy trình Thanh tra thuế.

Hoạt động Thanh tra tại trụ sở người nộp thuế được thực hiện trong các trường hợp sau:

  • Thanh tra theo kế hoạch được tiến hành theo kế hoạch đã được phê duyệt.
  • Thanh tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế; thanh tra để giải quyết khiếu nại, tố cáo, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản, cổ phần hoá; hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp hoặc Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Trước khi tiến hành đến trụ sở doanh nghiệp để thực hiện hoạt động thanh tra, thủ trưởng cơ quan Thuế có thẩm quyền phải ra quyết định thanh tra và chậm nhất là ba ngày làm việc, kể từ ngày ký, quyết định thanh tra thuế phải được gửi cho đối tượng thanh tra đồng thời Quyết định thanh tra thuế phải được công bố chậm nhất là mười lăm ngày. Chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả thanh tra thuế, người ra quyết định thanh tra thuế phải có văn bản kết luận thanh tra thuế.

Trường hợp qua thanh tra thuế mà phát hiện hành vi trốn thuế có dấu hiệu tội phạm thì đoàn thanh tra lập biên bản tạm dừng thanh tra tại đơn vị và có trách nhiệm báo cáo lãnh đạo bộ phận thanh tra để trình người ban hành quyết định thanh tra chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra theo quy định của pháp luật.

Nếu quá trình thanh tra trên có một trong các dấu  hiệu  vi phạm dưới đây thì  Cơ quan có thẩm quyền sẽ tổ chức Thanh tra lại.

  • Có vi phạm nghiêm trọng về trình tự, thủ tục trong tiến hành thanh tra.
  • Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật khi kết luận thanh tra.
  • Nội dung kết luận thanh tra không phù hợp với những chứng cứ thu thập được trong quá trình tiến hành thanh tra.
  • Người ra quyết định thanh tra, trưởng đoàn thanh tra, thành viên đoàn thanh tra, công chức được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ việc hoặc cố ý kết luận trái pháp luật.
  • Có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng của người nộp thuế chưa được phát hiện đầy đủ qua thanh tra.

Thời hiệu thanh tra lại là 01 năm, kể từ ngày ký kết luận thanh tra.

Do có ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động quản lý thuế TNDN cũng như khả năng gây thiệt hại lớn đến nguồn thu Ngân sách Nhà nước nên tại Mục 4 của Luật Quản lý thuế hiện hành (từ Điều 88 đến Điều 91); Điều 69 Thông tư 156/2013/TT-BTC đã quy định rõ biện pháp áp dụng trong thanh tra đối  với  các  trường  hợp có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế hoặc gây trở ngại cho việc thanh tra, như : Thu thập thông tin liên quan; Khám nơi cất giấu tài liệu, tang vật ; Tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép; Niêm phong tài liệu; Kiểm kê tài sản. Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

2.1.1.7. Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính liên quan đến thuế TNDN

Khoản 9 Điều 5 Luật Quản lý thuế hiện hành quy định: “Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về thuế là việc áp dụng các biện pháp quy định tại Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan buộc người nộp thuế phải nộp đủ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt vào ngân sách nhà nước.

Cưỡng chế thi hành thuế không chỉ đôn đốc người nộp thuế nộp thuế đúng hạn mà còn có tác dụng lớn hơn là răn đe, ngăn ngừa nộp thuế chậm, giúp người nộp thuế, nợ thuế cách giải quyết khó khăn phát sinh.

Pháp luật quy định có 7 biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế. Trong đó, biện pháp thu tiền, tài sản của đối tượng bị cưỡng chế do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ là biện pháp mạnh để xử lý đối với trường hợp đối tượng cưỡng chế thuế tẩu tán tài sản.

Việc cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế được quy định tại Chương XI Luật Quản lý thuế hiện hành (từ Điều 92 đến Điều 102) và Thông tư số  215/2013/TTBTC Hướng dẫn về cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế. Trong đó cần lưu ý nếu đã ban hành quyết định cưỡng chế bằng biện pháp tiếp theo mà có thông tin, điều kiện để thực hiện biện pháp cưỡng chế trước đó thì người ban hành quyết định cưỡng chế có quyền quyết định chấm dứt biện pháp cưỡng chế đang thực hiện và ban hành quyết định thực hiện biện pháp cưỡng chế trước để bảo đảm thu đủ số tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền thuế.

2.1.1.8. Xử lý vi phạm pháp luật về thuế TNDN

Hành vi vi phạm hành chính về thuế TNDN bao gồm:

Vi phạm quy định về thủ tục thuế (khai không đầy đủ các nội dung trong hồ sơ quyết toán thuế TNDN; chậm nộp hồ sơ quyết toán thuế TNDN so với thời hạn quy định; vi phạm các quy định về cung cấp thông tin liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế; vi phạm trong việc chấp hành quyết định kiểm tra, thanh tra thuế, cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế.)

  • Khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn.
  • Trốn thuế, gian lận thuế. Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

Nguyên tắc xử lý vi phạm được quy định tại Điều 104 Luật Quản lý thuế năm 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014 và cụ thể hóa tại Điều 2 Thông tư số 166/2013/TT-BTC. Trong đó một hành vi vi phạm hành chính về thuế chỉ bị xử phạt một lần.

  • Thời hiệu xử phạt:

Đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế thì thời hiệu xử phạt là 02 năm, kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện đến ngày ra quyết định xử phạt.

Đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm; hành vi trốn thuế, gian lận thuế chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì thời hiệu xử phạt là 05 năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm đến ngày ra quyết định xử phạt.

Thời hạn truy thu thuế: Nếu quá thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế thì người nộp thuế không bị xử phạt nhưng vẫn phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế gian lận, tiền chậm nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước trong thời hạn 10 năm trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm.

Hình thức xử lý: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền. Ngoài ra, trong một số trường hợp Doanh nghiệp còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả như: nộp đủ số tiền thuế nợ, số tiền thuế thiếu, tiền chậm nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước.

Việc đưa ra hình thức xử phạt, mức xử phạt có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng thực hiện theo quy định tại Điều 9, Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Trong đó mức phạt tiền tối đa không quá 200 triệu đồng đối hành vi vi phạm thủ tục thuế; Đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn: Phạt 20% số tiền thuế thiếu, số tiền thuế được hoàn đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn; Đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế: Phạt từ 1 đến 3 lần số tiền thuế trốn, gian lận.

Việc xử phạt hành chính về thuế TNDN được thực hiện theo trình tự sau:

  • Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế TNDN:
  • Thẩm quyền của cơ quan Thuế: Cán bộ, công chức làm việc trong lĩnh vực thuế có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính tương ứng với từng cấp bậc của mình.
  • Thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp: được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
  • Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính về thuế TNDN: Thủ tục xử phạt và thi hành quyết định xử phạt hành chính về Thuế TNDN được quy định của thể tại Mục 2,3 Chương III, Thông tư số166/2013/TT-BTC.

2.1.1.9. Giải quyết tranh chấp về thuế TNDN Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

Tranh chấp thuế được hiểu là tình trạng mâu thuẫn, bất đồng và xung đột quan điểm, lợi ích giữa người nộp thuế và người có thẩm quyền thu thuế, xử phạt trong quá trình thu thuế. Tranh chấp về thuế  TNDN phát sinh thường có liên quan đến quyết định thu thuế, xử phạt với đối tượng tranh chấp là khoản tiền mà doanh nghiệp phải nộp vào Ngân sách nhà nước. Thông thường, doanh nghiệp cho rằng khoản thuế hoặc tiền phạt phải nộp quá cao hoặc không đủ căn cứ thuyết phục dẫn đến việc yêu cầu giải quyết khiếu nại hoặc khởi kiện.

Hiện nay, giải quyết tranh chấp về thuế theo hai thủ tục: một là thủ tục khiếu nại theo Luật Khiếu nại và thủ tục tố tụng tại tòa án theo Luật Tố tụng hành chính.

Theo đó doanh nghiệp có quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Trong đó, quyết định hành chính của cơ quan quản lý thuế bao gồm:

  • Quyết định ấn định thuế; Thông báo nộp thuế;
  • Quyết định miễn thuế, giảm thuế;
  • Quyết định hoàn thuế;
  • Quyết định xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật thuế;
  • Quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế;
  • Kết luận thanh tra thuế;
  • Quyết định giải quyết khiếu nại;
  • Các quyết định hành chính khác theo quy định của pháp luật.

Hành vi hành chính được hiểu là việc hành động hay không hành động khi thực hiện nhiệm vụ quản lý thuế của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế, người được giao nhiệm vụ trong công tác quản lý thuế. Ở đây các hành vi hành chính thuộc đối tượng khiếu nại thường là việc không tuân thủ theo thời hạn thụ lý giải quyết, quyết định không đúng thẩm quyền…trong quá trình giải quyết khiếu nại. Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

  • Cần lưu ý một số vấn đề sau:

Thứ nhất, việc xác định thẩm quyền giải quyết khiếu nại theo nguyên tắc giải quyết khiếu nại lần đầu tại cơ quan quyết định thu thuế, xử phạt, còn giải quyết khiếu nại lần hai tại cơ quan có thẩm quyền cấp trên. Căn cứ vào thời hiệu khiếu nại, thời hạn thụ lý, thời hạn giải quyết khiếu nại, người nộp thuế thực hiện quyền khiếu nại yêu cầu cơ quan có thẩm quyền quyết định thu thuế, xử phạt xem xét lại quyết định đã ban hành. Thẩm quyển của cơ quan giải quyết khiếu nại thuế được phân định theo phạm vi quản lý thuế.

Thứ hai, trong trường hợp kết quả giải quyết khiếu nại lần đầu là giữ nguyên quyết định thu thuế hoặc xử phạt thì người nộp thuế có quyền khiếu nại lần hai lên cơ quan cấp trên hoặc lựa chọn khởi kiện ra tòa án hành chính

Trong quá trình giải quyết, Cơ quan ra quyết định sẽ xem lại căn cứ ra quyết định để xác định đúng hay sai trong nội dung khiếu nại của người nộp thuế. Tuy nhiên thực trạng hiện nay cho thấy do cơ quan giải quyết khiếu nại lần một đồng thời là cơ quan ra quyết định nên kết quả giải quyết khiếu nại thường giữ nguyên quyết định thu thuế hoặc xử phạt, trong khi đó người nộp thuế có bất đồng vẫn phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, nộp phạt theo qui định. Do vậy rất ít trường hợp việc giải quyết khiếu nại được hoàn tất ở ngay lần một.

2.1.2. Ưu điểm của hệ thống pháp luật quản lý thuế TNDN hiện hành Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

Quá trình thực thi đã cho thấy hệ thống pháp luật quản lý Thuế TNDN hiện hành bao gồm Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành đã đạt được một số thành công nhất định, cụ thể:

Thứ nhất hệ thống pháp luật hiện nay đã khá quy định đầy đủ các nội dung của công tác quản lý thuế TNDN, có phạm vi điều chỉnh thống nhất đối với toàn bộ các loại thuế khác, các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước do cơ quan thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật. Các quy định của Luật đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà nước thông qua các thủ tục hành chính thuế được quy định đơn giản, rõ ràng, minh bạch đã bảo đảm tính pháp lý cho việc thực hiện cơ chế quản lý thuế mới, cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật của người nộp thuế. Cơ quan thuế chuyển sang thực hiện chức năng tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế, kiểm tra thuế, thanh tra thuế, phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm nâng cao trách nhiệm và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người nộp thuế, tạo điều kiện cho người nộp thuế chấp hành tốt pháp luật thuế.

Thứ hai: Xác định khá đầy đủ trách nhiệm, quyền hạn của các chủ thể tham gia quản lý thuế, nhất là các tổ chức, cá nhân có liên quan.

Thứ ba: Cải cách thủ tục hành chính thuế được quy định đơn giản, rõ ràng, minh bạch, nhằm nâng cao trách nhiệm, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người nộp thuế, tạo điều kiện cho người nộp thuế chấp hành tốt pháp luật thuế.

Quy định rõ, công khai, minh bạch các loại giấy tờ của từng loại hồ sơ thuế: hồ sơ khai thuế, hồ sơ miễn giảm thuế, hồ sơ hoàn thuế… để Doanh nghiệp tự xác định được trách nhiệm của mình và tránh tuỳ tiện của công chức thuế trong khi thi hành công vụ. Đồng thời ban hành hệ thống mẫu biểu áp dụng chung cho người nộp thuế và cơ quan thuế. Trong đó có hướng dẫn cụ thể cách khai các chỉ tiêu trong mẫu biểu để người nộp thuế dễ thực hiện.

Thống nhất thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế TNDN phù hợp với việc quyết toán theo năm, theo từng lần phát sinh để người nộp thuế dễ thực hiện. Bỏ việc nộp hồ sơ kê khai thuế TNDN tạm tính hàng tháng, giúp giảm bớt gánh nặng về thủ tục hành chính. Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

Nâng cao tinh thần trách nhiệm của người nộp thuế trong quá trình tuân thủ pháp luật thuế. Khi phát hiện hồ sơ khai thuế có sai sót, người nộp thuế được khai bổ sung khai thuế và không bị phạt vi phạm hành chính về các lỗi sai sót này.

Bổ sung hình thức khai thuế, nộp thuế điện tử: Chương trình tiếp nhận hồ sơ khai thuế điện tử sẽ tự động kiểm tra, soát xét tính đầy đủ, hợp lý của các thông tin khai trong hồ sơ thuế. Người nộp thuế cũng sẽ biết ngay được các lỗi kê khai để hoàn chỉnh, bổ sung hồ sơ kịp thời theo quy định, tránh được các lỗi sai sót không cần thiết. Đưa hình thức khai thuế, nộp thuế điện tử vào trong luật tạo hữu ích đặc biệt với các doanh nghiệp, giúp giảm được chi phí đi lại và thời gian lưu chuyển hồ sơ thuế, dễ tổ chức lưu trữ lâu dài, giảm chi phí giấy tờ, in ấn. Đồng thời cũng hạn chế tình trạng công chức thuế “hạch sách, vòi vĩnh” khi Doanh nghiệp nộp hồ sơ trực tiếp. Điều này cũng giúp cho cơ quan thuế giảm bớt nhân sự sử dụng trong việc thu lưu hồ sơ, sử dụng nguồn nhân lực vào công việc chuyên môn khác, nâng cao hiệu quả quản lý thuế.

Thời hạn nộp thuế được quy định gắn với thời hạn khai thuế vừa bảo đảm phù thuận lợi cho người nộp thuế dễ nhớ, dễ thực hiện và không phải làm các thủ tục hành chính thuế rải rác nhiều ngày trong tháng, giảm phiền hà cho người nộp thuế.

Đối với số tiền thuế nộp thừa hoặc số tiền thuế thuộc diện được hoàn, người nộp thuế được quyền lựa chọn hoặc yêu cầu cơ quan thuế làm thủ tục hoàn trả ngay, hoặc để thanh toán cho số thuế phải nộp của lần nộp thuế tiếp theo..

Luật Quản lý thuế còn quy định một số quyền của Doanh nghiệp như: yêu cầu cơ quan thuế hướng dẫn, giải thích về chính sách thuế, thủ tục hành chính thuế tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế của mình; yêu cầu cơ quan thuế thực hiện đúng việc miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, bồi thường thiệt hại về thuế theo quy định của pháp luật để đảm bảo lợi ích hợp pháp của mình; yêu cầu cơ quan thuế giữ bí mật thông tin do mình và các tổ chức, cá nhân khác cung cấp phục vụ cho việc quản lý thuế

Thứ tư: các quy định của Luật Quản lý thuế phù hợp với thông lệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của đất nước. Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

Luật Quản lý thuế mở rộng các hình thức giao dịch làm thủ tục về thuế như khai thuế điện tử, nộp tiền thuế theo hình thức chuyển khoản… tạo điều kiện cho người nộp thuế có thể hoàn thành nghĩa vụ với nhà nước mọi lúc, mọi nơi, không bị bó hẹp trong giới hạn giờ làm việc hành chính của cơ quan thuế.

Áp dụng cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp thuế theo đó căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh trong kỳ kê khai của mình và căn cứ vào các quy định của pháp luật về nghĩa vụ thuế tự tính ra số thuế phải nộp ngân sách Nhà nước, từ đó tự kê khai và tự thực hiện nghĩa vụ nộp số thuế đã kê khai vào Ngân sách Nhà nước theo đúng thời hạn qui định của pháp luật.

Về kiểm tra, thanh tra thuế dựa trên cơ sở phân tích thông tin về người nộp thuế để lựa chọn đối tượng kiểm tra thuế, thanh tra thuế.

Luật quy định khung pháp lý cho hoạt động của tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế… Tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế phải là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ có điều kiện, được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp, có ngành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế.

Hiện nay, ở Việt Nam có gần 180 DN được cấp phép kinh doanh trong lĩnh vực làm dịch vụ thủ tục về thuế (đại lý thuế) nhưng chỉ có vài chục DN làm đúng chức năng đại lý thuế, với khoảng 700 DN khai thuế qua đại lý thuế. Trong khi đó, ở Nhật Bản, Hàn

Quốc có trên 93% DN thực hiện khai thuế qua đại lý thuế.Hiện nay, ở Việt Nam có gần 180 DN được cấp phép kinh doanh trong lĩnh vực làm dịch vụ thủ tục về thuế (đại lý thuế) nhưng chỉ có vài chục DN làm đúng chức năng đại lý thuế, với khoảng 700 DN khai thuế qua đại lý thuế. Trong khi đó, ở Nhật Bản, Hàn Quốc có trên 93% DN thực hiện khai thuế qua đại lý thuế.

Quy định này thể hiện sự cam kết của Việt Nam trong việc mở cửa thị trường kinh doanh dịch vụ khi vào WTO, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp nước ngoài không hiểu biết nhiều về pháp luật Việt Nam thuế thực hiện tốt nghĩa vụ thuế.

Ngoài ra pháp Luật Quản lý thuế hiện nay cũng quy định về việc Cơ chế cơ quan thuế đặt hàng và sử dụng kết quả của các công ty kiểm toán độc lập, tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế để thực hiện kiểm tra quyết toán thuế của doanh nghiệp giải thể, chấm dứt hoạt động. Điều này sẽ giúp giảm gánh nặng cho cơ quan thuế.

iv) Luật Quản lý thuế quy định về trách nhiệm của cơ quan thuế với người nộp thuế. Nếu cơ quan thuế làm chậm các thủ tục, dẫn đến thiệt hại cho người nộp thuế thì phải đền bù thiệt hại cho người nộp thuế. Hoặc nếu công chức thuế tiết lộ các thông tin của người nộp thuế (vi phạm quy định về bảo mật thông tin) thì phải chịu trách nhiệm về thiệt hại gây ra cho người nộp thuế.

Luật Quản lý thuế quy định và đặt ra yêu cầu hiện đại hoá toàn diện công tác quản lý thuế TNDN cả về phương pháp quản lý, thủ tục hành chính, bộ máy tổ chức, đội ngũ cán bộ và cả công nghệ quản lý.

2.1.3. Những vướng mắc còn tồn tại trong pháp luật quản lý thuế TNDN Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, pháp luật Quản lý thuế nói chung và Quản lý thuế TNDN nói riêng ở nước ta còn tồn tại một số hạn chế như sau :

Thứ nhất, Luật Quản lý thuế và hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành hiện nay không chỉ quy định những vấn đề chung về tổ chức thực hiện luật thuế, mà còn quy định cả những nội dung tổ chức thực hiện riêng của từng luật thuế (những vấn đề quản lý có tính chất đặc thù của từng sắc thuế) và hơn nữa số lượng của các điều luật quy định các nội dung quản lý đặc thù chiếm tỷ lệ khá nhiều. Điều này sẽ dẫn đến việc khi các luật về chính sách thuế được tiếp tục ban hành và đó là xu thế tất yếu đương nhiên kéo theo sự thay đổi, bổ sung của Luật Quản lý thuế và theo đó, vô hình trung, đã phá vỡ tính ổn định của Luật Quản lý thuế. Đối với những nội dung quản lý Thuế TNDN mang tính đặc thù nên xây dựng một văn bản hướng thi hành riêng hoặc quy định trong Luật thuế TNDN nhằm tránh tính trạng rườm rà, khó theo dõi và cập nhật. Điều này sẽ có hiệu ứng tốt hơn trong việc đảm bảo thực hiện các chính sách thuế của các chủ thể có nghĩa vụ thuế.

Thứ hai, theo quy định hiện nay cơ quan thuế được tổ chức theo mô hình lấy chức năng quản lý làm nguyên tắc bao trùm. Theo đó, cơ cấu gồm các bộ phận mà mỗi bộ phận thực hiện một chức năng quản lý thuế cơ bản đối với hầu hết các loại thuế (GTGT, TNDN,..) và đối với tất cả các đối tượng nộp thuế theo thẩm quyền được phân công. Các chức năng quản lý thuế cơ bản gồm: Tuyên truyền và hỗ trợ; xử lý tờ khai; quản lý nợ và cưỡng chế thuế; thanh tra, kiểm tra thuế… Điều này sẽ dẫn đến tồn tại những điểm chưa tương thích giữa Luật Quản lý thuế với thực tiễn vận hành của bộ máy quản lý thuế trong việc tổ chức thực hiện các luật thuế, đặc biệt là khi áp dụng cơ chế quản lý thuế theo mô hình “một cửa”. Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

Thực tế cho thấy, việc tổ chức bộ máy ngành thuế theo chức năng dẫn đến bất kỳ bộ phận nào cũng có thể yêu cầu doanh nghiệp trực tiếp làm việc, giải trình khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế của mình. Song khi cần hướng dẫn để được giải quyết các nghiệp vụ cụ thể phát sinh, doanh nghiệp không biết liên hệ đến bộ phận nào và thuộc thẩm quyền trách nhiệm của ai. Vì vậy, doanh nghiệp gặp những khó khăn nhất định trong quá trình thực thi pháp luật thuế theo luật.

Chẳng hạn, việc lập và nộp hồ sơ quyết toán thuế TNDN, các bộ phận có liên quan đều có chức năng kiểm tra hồ sơ khai thuế của doanh nghiệp. Cụ thể, trước đây hồ sơ khai thuế của doanh nghiệp được thực hiện kiểm tra từ bộ phận một cửa; sau đó chuyển cho bộ phận kê khai và kế toán thuế, hiện nay do thực hiện kê khai điện tử nên bộ phận kê khai nhận dữ liệu; tuy nhiên sau đó lại tiếp tục chuyển đến các bộ phận khác có liên quan như bộ phận kiểm tra, thanh tra… mỗi bộ phận đều có quyền yêu cầu doanh nghiệp giải trình, vì vậy một doanh nghiệp trong một kỳ kê khai có thể nhận được 2-3 thông báo giải trình của cơ quan thuế nhưng không biết liên hệ đến những bộ phận nào để giải quyết. Hoặc về công tác thu nộp thuế, phòng kiểm tra thuế có chức năng thực hiện kế hoạch thu thuế được giao, vì vậy có trách nhiệm đôn đốc thu thuế. Tuy nhiên, Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành không quy định rõ Phòng kiểm tra thực hiện đôn đốc thu từ ngày nào đến ngày nào, Phòng thu nợ và cưỡng chế thuế thực hiện từ khâu nào v.v..

Thứ ba, thiếu các quy định về nguyên tắc tổ chức hoạt động và cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý thuế và nguyên tắc xử lý mối quan hệ giữa các cơ quan quản lý thuế, đặc biệt trong xu thế quản lý thuế hiện đại.

Chẳng hạn, việc phân định một số chức năng còn hạn chế như tách bộ phận quản lý nợ và cưỡng chế thu hồi nợ với bộ phận kê khai kế toán thuế dẫn tới việc theo dõi, phân tích số liệu chưa liên hoàn và công tác đôn đốc thu nợ chưa hiệu quả; chế tài cưỡng chế thu nợ chưa đầy đủ nên chưa thực hiện được (hiện nay chủ yếu mới áp dụng biện pháp ra lệnh thu, trích tài khoản tiền gửi, dừng bán hoá đơn). Đây cũng là vấn đề đặt ra cần nghiên cứu cả về chức năng xử lý của cơ quan thuế trong việc thực hiện cưỡng chế thuế với việc bố trí tổ chức quản lý theo chức năng.

Thứ tư, Luật Quản lý thuế chưa xác định rõ cơ chế bảo đảm thực hiện, mức xử lý với các hành vi vi phạm còn quá nhẹ, vì vậy phần nào đã hạn chế tính khả thi của các quy định trong Luật Quản lý thuế và chính điều này chưa thực sự khuyến khích cũng như răn đe nhằm đàm bảo tính tuân thủ pháp luật của chủ thể có nghĩa vụ thuế. Đồng thời một số quy định của pháp luật Quản lý thuế cũng còn thiếu sót, hạn chế, gây khó khăn cho quá trình thực hiện, cụ thể : Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

Luật Quản lý thuế đã quy định trách nhiệm việc cung cấp các thông tin, tài liệu của các bên có liên quan cho cơ quan thuế và ngược lại. Tuy nhiên, chỉ cung cấp khi cơ quan thuế có yêu cầu, vì vậy có rất nhiều thông tin cần thiết nhưng cơ quan thuế không biết được đầu mối để cung cấp thông tin và yêu cầu cung cấp thông tin. Ví dụ như thông tin về tài khoản ngân hàng của doanh nghiệp, thường các doanh nghiệp mở rất nhiều tài khoản ở các ngân hàng thuộc các địa phương khác nhau nhưng cơ quan thuế không biết doanh nghiệp mở tài khoản ở ngân hàng nào để yêu cầu cung cấp. Vì vậy, cần có quy định cụ thể trách nhiệm của ngân hàng phải thông báo tài khoản của doanh nghiệp cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý khi đăng ký tài khoản.

Về vấn đề xử phạt thuế, Điều 111 Luật quản lý Thuế hiện hành quy định các trường hợp miễn xử phạt vi phạm pháp luật về thuế quy định doanh nghiệp được miễn xử phạt vi phạm pháp luật về thuế trong những trường hợp: gặp thiên tai, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ hoặc trường hợp bất khả kháng khác. Nhưng có những trường hợp, chẳng hạn đối với doanh nghiệp nhà nước, tiền nộp thuế là tiền cấp từ ngân sách nhà nước nhưng ngân sách chậm cấp tiền làm ảnh hưởng đến tiến độ nộp thuế dẫn đến việc doanh nghiệp bị chậm nộp thuế và bị phạt một cách rất thiệt thòi. Thiết nghĩ, luật nên để một quy định mở cho phép cơ quan thuế được tùy nghi quyết định trong một số trường hợp luật chưa dự liệu được trước.

Luật hiện hành chưa có quy định chung về nguyên tắc quản lý rủi ro để phân loại người nộp thuế nhằm quản lý chặt chẽ đối với người nộp thuế có rủi ro cao và có biện pháp ưu tiên đối với DN tuân thủ tốt. Tgian gần đây nhiều DN FDI vào Việt Nam hoạt động nhưng số thuế phải nộp không tương xứng với thực tế sản xuất kinh doanh, thậm chí có tình trạng khai lỗ nhiều năm liên tục nhưng vẫn mở rộng sản xuất kinh doanh mà nguyên nhân được xác định là do DN chuyển giá.

  • Tuy nhiên Luật Quản lý thuế lại chưa có quy định cho phép áp dụng APA.

Hoặc đối với các biện pháp chế tài cưỡng chế bằng biện pháp kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên đối với doanh nghiệp nợ thuế. Trong thực tế, việc xác định giá trị của tài sản, xác định tỷ lệ % trách nhiệm của cá nhân đối với tỷ lệ vốn góp vào doanh nghiệp, xác định và tính tỷ lệ tài sản của cá nhân đối với các tài sản có đồng sở hữu chưa có quy định hướng dẫn chi tiết dẫn đến việc cơ quan thuế nhiều khi còn thực hiện một cách tùy nghi, gây bức xúc cho các cá nhân, tổ chức.

Hiện tượng trốn thuế doanh nghiệp thường diễn ra ở phần kê khai chi phí, các doanh nghiệp thường cố tình khai tăng các khoản chi phí để giảm thu nhập chịu thuế. Vì vậy, cần quy định cụ thể các khoản chi phí hợp lý giảm thiểu hiện tượng gian lận thuế TNDN. Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

Tại Khoản 2 Điều 8 của Luật QLT quy định cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm “Giải thích, cung cấp thông tin liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế cho người nộp thuế”. Trong khi đó, luật cũng quy định các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tự kê khai, tính thuế, nộp thuế và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật để thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Nhưng Luật lại không quy định trong trường hợp cơ quan quản lý thuế giải thích, hướng dẫn sai dẫn đến việc người nộp thuế kê khai, tính thuế sai thì trách nhiệm của cơ quan thuế trong trường hợp này như thế nào.

Tại điều 32 Luật quản lý thuế hiện nay quy định thời hạn nộp hồ sơ khai thuế chậm nhất là ngày thứ 10 kể từ ngày phát sinh thuế đối với các loại thuế khai và nộp từng lần phát sinh. Tuy nhiên ngày phát sinh nghĩa vụ thuế là thời điểm nào, cụ thể như thế nào lại chưa có văn bản hướng dẫn chưa đảm bảo tính rõ ràng, minh bạch. Tại điểm 2, Điều 32, Luật quản lý thuế quy định thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế TNDN năm chậm nhất là ngày thứ 90 ngày kết thúc năm dương lịch hoặc năm tài chính. Nhưng thực tế cho thấy thời gian 90 ngày là quá ngắn để doanh nghiệp tập hợp chứng từ phục vụ việc quyết toán, dẫn đến nhiều trường hợp doanh nghiệp đến hạn nộp hồ sơ quyết toán nhưng sau khi có kết quả kiểm toán lại phải làm hồ sơ điều chỉnh quyết toán thuế năm mất rất nhiều thời gian, công sức.

Ngoài ra trong công tác thanh tra, kiểm tra chưa có quy trình cụ thể hướng dẫn theo quy định của Luật Quản lý thuế, nên quy trình này vẫn đang thực hiện theo Quyết định hàng năm của Tổng cục trưởng Tổng cục thuế. Việc thay đổi thường xuyên quy chế cũng gây nhiều khó khăn trong việc thực hiện thanh tra, kiểm tra trên thực tế. Các quy định về kiểm tra, thanh tra thuế hiện nay cũng chưa đề cập rõ các vấn đề: giới hạn thời gian đối với hồ sơ thuế phải kiểm tra; chỉ số đánh giá hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra, thanh tra còn thiếu, mới chỉ tập trung vào việc đánh giá hoàn thành kế hoạch về số lượng, số thuế truy thu sau thanh tra; thiếu chỉ số đánh giá về chất lượng, thái độ người nộp thuế đối với thanh tra thuế. Hiện nay, hoạt động thanh tra thuế gần như mới chỉ tập trung vào mục đích ngăn ngừa, phát hiện và xử lý vi phạt mà chưa để ý đến việc hiểu được các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ pháp luật thuế, dự báo các hành vi tuân thủ của người nộp thuế và tìm kiếm giải pháp có hiệu quả nhằm thúc đẩy sự tuân thủ hay phát hiện ra những quy định chưa hợp lý trong pháp luật quản lý thuế.

Về mặt chế tài, đến nay nhiều văn bản hướng dẫn Luật Quản lý thuế chi tiết đã được ban hành nhưng vẫn không đầy đủ các quy định. Ví dụ như Luật có quy định cụ thể trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc phối hợp cung cấp thông tin, trao đổi công tác trong quản lý thuế, nhưng lại chưa có những chế tài cụ thể về trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức có liên quan. Thêm vào đó, các quy định về xử lý vi phạm pháp luật về thuế cũng còn nhiều quy định chưa phù hợp: mức phạt thấp, chưa đủ sức răn đe; quy định áp dụng tuần tự các biện pháp cưỡng chế;…

Việc xử lý vi phạm về thuế  không chỉ xây dựng xuất phát trên cơ sở mang tính răn đe mà còn phải tính đến việc bù đắp chi phí, vì công tác thanh kiểm tra, điều tra hành vi vi phạm thuế cần huy động nhiều người với sự hỗ trợ nhiều tổ chức, cơ quan, cá nhân và tốn chi phí. Nếu mức xử phạt hành vi trốn thuế, gian lận thuế từ 1-3 lần số tiền thuế trốn thì quá nhẹ, có thể cân nhắc nâng mức xử phạt lên tối thiểu 5 lần, và một phần khoản tiền phạt này sẽ được dùng cho hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế. Mức xử phạt phải đủ mạnh để người nộp thuế luôn phải nghĩ đến việc có bị vi phạm hay không, từ đó ý thức được lợi ích tuân thủ pháp luật thuế. Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

Như vậy có thể thấy Luật quản lý thuế là luật tổ chức thực hiện Luật thuế TNDN nói riêng và các luật thuế nói chung. Vì lẽ đó hiệu quả của các luật về chính sách thuế như Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật thuế thu nhập cá nhân, Luật thuế Giá trị gia tăng,… phụ thuộc rất nhiều vào Luật quản lý thuế. Để Luật quản lý thuế đi vào cuộc sống, được thực thi một cách có hiệu quả trong thực tế thì ngày từ khi thiết kế, xây dựng, các nhà hoạch định phải xác định đúng quan điểm, định hướng xây dựng luật là phục vụ người dân, theo đó bộ máy quản lý vận hành chỉ là để thực thi thể chế và phục vụ nhân dân, chỉ khi  được tạo dựng trên nền tảng cơ bản đó, các quy định cụ thể của Luật quản lý thuế mới được soạn thảo đúng hướng, đúng mục tiêu để trở thành một đạo luật hoàn chỉnh, vừa đáp ứng đầy đủ kịp thời yêu cầu của công tác quản lý, vừa phù hợp với ý nguyện của người nộp thuế. Tính pháp lý của các quy định về quản lý thuế chưa cao, dẫn đến hạn chế trong việc tuân thủ pháp luật thuế; các quy định về quản lý thuế còn phân tán tại nhiều văn bản pháp luật, có nội dung còn chưa thống nhất; quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp luật của các chủ thế tham gia quản lý thuế chưa được quy định đầy đủ, rõ ràng, ảnh hưởng đến việc thực hiện công tác quản lý thuế, công tác phòng chống, xử lý các hành vi vi phạm phát luật thuế, chống thất thu thuế còn hạn chế.

2.2 Thực trạng thi hành pháp luật quản lý thuế TNDN Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

2.2.1. Hiệu quả đạt được trong công tác thi hành pháp luật quản lý thuế nói chung và quản lý thuế TNDN nói riêng

Luật Quản lý thuế được triển khai đồng bộ và thống nhất về các mặt: từ ban hành chính sách, cơ chế, tổ chức bộ máy quản lý thuế tới hướng dẫn thi hành từ cơ sở.

Về phía cơ quan quản lý thuế, công tác quản lý thuế đã hình thành một tổ chức thống nhất trong cả nước và từng bước được củng cố, tăng cường, kiện toàn cả về tổ chức bộ máy quản lý thuế và quy trình nghiệp vụ quản lý. Theo đó, tổ chức bộ máy của  các phòng thuộc Tổng cục thuế,Văn phòng Cục Thuế và Chi cục Thuế trực thuộc Cục Thuế (các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) được chuyển đổi, sắp xếp lại theo mô hình chức năng, đáp ứng yêu cầu quản lý trong thời kỳ mới.

Công tác chỉ đạo, điều hành, phối hợp thực hiện nhiệm vụ chung của lãnh đạo Tổng cục thuế, các Cục Thuế, các Phòng, Chi cục Thuế có tính trọng tâm, trọng điểm, tập trung chủ yếu vào 4 chức năng chính là tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế, đăng ký kê khai thuế và kế toán thuế, kiểm tra, thanh tra, quản lý nợ và xử lý nợ đọng thuế.

Công chức, viên chức thuế được phân loại, đánh giá, sắp xếp, đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu, chuyên nghiệp theo chức năng quản lý. Đặc biệt, nhận thức cũng như trình độ chuyên môn của mỗi công chức, viên chức thuế được nâng cao hơn để đảm nhận tốt nhiệm vụ được giao.

Công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế được đặt lên hàng đầu. Trong nỗ lực nâng cao hiệu quả hỗ trợ người nộp thuế, cơ quan thuế các cấp đã biên soạn tài liệu, kịp thời cung cấp thông tin, xây dựng các tài liệu hướng dẫn thực hiện Luật QLT; hỗ trợ trực tiếp tại cơ quan thuế, qua điện thoại hơn, giải đáp bằng văn bản, tổ chức tập huấn về chính sách và thủ tục hành chính thuế cho NNT. Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

Theo Báo cáo tổng kết công tác thuế năm 2015 của Chi cục thuế TP.Thanh Hóa: Chi cục đã phối hợp với Đài phát thanh Thành phố và đài Truyền hình Tỉnh, tuyên truyền phổ biến chính sách pháp luật thuế. Đồng thời, thực hiện tốt công tác hỗ trợ người nộp thuế, trả lời giải đáp chính sách thuế qua điện thoại cho 2.438 lượt tổ chức, cá nhân; trả lời trực tiếp cho 1.327 lượt và trả lời bằng văn bản cho 05 đơn vị về chế độ chính sách thuế. Đây được xem là những chuyển biến rõ ràng nhất trong mối quan hệ giữa cơ quan thuế và NNT khi DN được nâng lên vị trí khách hàng quan trọng, thay vì đối tượng bị quản lý như trước kia.

Về phía người nộp thuế, ý thức tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế ngày càng được nâng cao, vai trò của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công tác quản lý thuế từng bước được tăng cường. Nhiều tổ chức, cá nhân hoàn thành tốt nghĩa vụ nộp thuế đã được cơ quan Nhà nước tôn vinh. Dư luận xã hội ngày càng quan tâm nhiều đến công tác thuế, tích cực phối hợp với cơ quan quản lý thuế trong công tác quản lý thuế, phản ánh và phê phán những hành vi trốn thuế và gian lận tiền thuế.

Ý thức chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế như: đăng ký, kê khai thuế được chủ động hơn, tờ khai thuế nộp kịp thời và nội dung ghi trong tờ khai cũng cụ thể rõ ràng hơn, nhờ vậy tỷ lệ tờ khai chưa nộp, quá hạn và lỗi giảm dần. Doanh nghiệp về cơ bản đã thực hiện được cơ chế tự khai, tự tính, tự nộp thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế. Việc cung ứng chương trình kê khai thuế vừa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong kê khai kiểm tra giảm sai sót, đối với ngành thuế công tác kiểm tra, nhập dữ liệu trên tờ khai cũng nhanh hơn nhiều so với nhập từng chỉ tiêu và không bị nhầm, bị sót.

Kết quả thống kê tại Chi cục Thuế TP.Thanh Hóa cho thấy năm 2015 do thực hiện tốt các ứng dụng tin học và làm tốt công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT nên đã kiểm soát được tình hình kê khai thuế của NNT. Số lượng hồ sơ khai thuế nộp đúng hạn tăng lên so với những năm trước.

Theo thống kê, năm 2015 Cơ quan Thuế đã rà soát, chuẩn hoá 70 quy trình, quy chế, cắt giảm 63 thủ tục, đơn giản hóa 50 thủ tục. Tính chung, năm 2015 đã giảm thêm được 50 giờ nộp thuế, đưa tổng số giờ nộp thuế xuống còn 117 giờ, vượt mục tiêu đề ra trong Nghị quyết số 19/NQ-CP là 121,5 giờ. Mở rộng áp dụng kê khai, nộp thuế điện tử trên phạm vi cả nước, tính đến 30/10/2015, đã thực hiện khai thuế qua mạng đối với 98,95% số doanh nghiệp đang thuộc diện quản lý thuế nội địa.

Công tác quản lý và giải quyết hoàn thuế được kịp thời hơn, đúng hơn do phân loại rõ các đối tượng, trường hợp kiểm tra trước hoàn sau và trường hợp hoàn trước kiểm tra sau. Hồ sơ và hệ thống thông tin để kiểm tra hoàn thuế đầy đủ và rõ ràng hơn. Cơ quan thuế cập nhập nắm và phân tích được chi tiết  số thuế hoàn, cơ cấu hoàn cho đầu tư, xuất khẩu và các trường hợp khác. Công tác hoàn thuế, thoái trả tiền thuế kịp thời đúng quy trình và đúng quy định của Luật quản lý thuế, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, người nộp thuế, giảm bớt khó khăn, bổ sung nguồn vốn, góp phần thúc đẩy SXKD phát triển.

Công tác quản lý nợ đọng thuế: trên cơ sở những điều chỉnh của Luật QLT, ngành thuế đã xây dựng bộ máy quản lý nợ từ trung ương đến địa phương đã phân tích được nguyên nhân nợ và tình trạng nợ trong toàn ngành, phân tích được cơ cấu, loại nợ từ đó triển khai các biện pháp đồng bộ để xử lý dứt điểm nợ cũ, giảm thiểu nợ mới phát sinh, áp dụng các biện pháp cưỡng chế để thu hồi nợ. Trên cơ sở đó có biện pháp quản lý thu nợ, xử lý nợ tồn đọng sát thực và hiệu quả hơn, số nợ đã giảm về tỷ lệ (%) so với số thu. Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

Công tác kiểm tra, thanh tra được thực hiện đúng quy chế, quy trình đã góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế của doanh nghiệp cũng như ý thức trách nhiệm của cán bộ thuế trong thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra. Kết quả kiểm tra, thanh tra ngăn chặn, phát hiện kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật thuế, truy thu ngân sách nhà nước số thuế lên đến hàng trăm tỷ đồng.

Việc thực hiện thanh tra, kiểm tra theo quy định của Luật quản lý thuế vừa tập trung được nguồn lực để thực hiện công tác thanh tra đúng đối tượng theo sự phân loại tốt, chưa tốt, dựa trên mức độ tuân thủ pháp luật, nhằm chống thất thu về thuế có hiệu quả hơn, và đặc biệt không làm phiền những trường hợp đã thực hiện tốt pháp luật thuế. Bên cạnh đó, việc kiểm tra nội bộ cơ quan thuế cũng được thực hiện, mang lại những hiệu quả nhất định.

Năm 2015, tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2015 ước tính đạt 884,8 nghìn tỷ đồng, bằng 97,1% dự toán năm, trong đó thu nội địa đạt 657 nghìn tỷ đồng, bằng 102,9%. Trong thu nội địa, nhiều khoản thu đạt khá và vượt dự toán năm: thuế thu nhập cá nhân 53,2 nghìn tỷ đồng, bằng 103,7%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 119,7 nghìn tỷ đồng, bằng 100,1%. Riêng thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 128 nghìn tỷ đồng, bằng 89,8% dự toán năm; thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước 204,2 nghìn tỷ đồng, bằng 92,5%. Đánh giá về kết quả thu ngân sách nhà nước, có thể nói đây là một chỉ tiêu, một thước đo cơ bản, quan trọng để đánh giá về chính sách thuế, công tác quản lý thuế và ý thức tuân thủ pháp luật của người nộp thuế.

Về cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hoá công tác quản lý thuế: nhằm đáp ứng nhu cầu của Luật Quản lý thuế và mô hình tổ chức bộ máy mới, ngành Thuế đã triển khai hạ tầng kỹ thuật mạng hiện đại, hoàn thiện mô hình mạng trực tuyến kết nối rộng toàn quốc bao gồm gần 700 mạng cục bộ với hơn 2 nghìn máy chủ, hàng nghìn thiết bị mạng và gần 3 vạn máy tính cá nhân. ngành thuế đã triển khai gần 50 phần mềm ứng dụng dùng chung thống nhất trong toàn ngành; Hệ thống biểu mẫu kê khai thuế, báo cáo thuế được đơn giản và chuẩn hoá hơn….

2.2.2. Những vướng mắc còn tồn tại trong công tác thi hành pháp luật quản lý thuế TNDN Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

Bên cạnh những kết quả khả quan như trên, công tác quản lý  thuế còn tồn tại một số hạn chế như sau :

  • Về phía cơ quan thuế:

Thứ nhất, một bộ phận cán bộ thuế, đặc biệt là cán bộ cấp cơ sở chưa được đào tạo lại hoặc chưa nắm bắt kịp về kiến thức quản lý thuế mới nên bỡ ngỡ trong quá trình thực hiện. Cách nghĩ, cách làm của một số công chức, viên chức chưa theo kịp tiến độ đổi mới; chưa thấy hết tính ưu việt của mô hình tổ chức bộ máy theo chức năng với việc triển khai mạnh mẽ các ứng dụng công nghệ tin học để chuyên môn hoá công việc và liên kết hóa các bộ phận của quy trình quản lý thuế, nên hiệu quả công việc đạt được chưa như mong muốn.

Thứ hai, theo quy định của Luật Quản lý thuế, chỉ có các chức danh, chuyên viên chính, kiểm soát viên chính của cơ quan quản lý thuế mới được thực hiện thanh tra thuế. Tuy nhiên hiện nay các địa phương, số lượng chuyên viên chính, kiểm soát viên chính còn ít nên chưa đủ lực lượng để tổ chức các đoàn thanh tra thuế.

Thứ ba, trong công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế, các chi cục thuế trực thuộc đã cố gắng ưu tiên bố trí cán bộ thuế có năng lực, phong cách ứng xử văn minh làm việc tại bộ phận “một cửa”, nhưng hầu hết đều gặp khó khăn trong bố trí nhân sự.  Thêm vào đó, mặc dù thực hiện cơ chế “một cửa” nhưng nhiều khi để giải quyết xong hồ sơ thì nộp hồ sơ ở bộ phận một cửa Doanh nghiệp vẫn phải “đi đường vòng” để gặp riêng cán bộ quản lý thuế…

Thứ tư, thực hiện quản lý thuế theo mô hình chức năng là phù hợp với xu hướng phát triển, trong đó kết quả chất lượng quản lý là kết quả của hệ thống chức năng, hoạt động của khâu trước phục vụ công việc tiếp theo của khâu sau. Nguyên tắc quản lý của mô hình tổ chức bộ máy theo chức năng đòi hỏi phải có các quy trình, quy chế phối hợp giữa các bộ phận, nhằm gắn kết chặt chẽ các chức năng trong quá trình thực hiện quản lý. Không chỉ thế, các quy trình, quy chế này phải thường xuyên được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện trong quá trình phối hợp thực hiện công việc cụ thể ở mỗi chức năng mới, từ đó chuẩn hóa các quy trình theo hướng ứng dụng triệt để công nghệ thông tin, đảm bảo cho công tác quản lý thuế được thực hiện đồng bộ, hiệu quả. Nhưng hiện nay, cơ chế để nối kết các chức năng còn nhiều bất cập, thậm chí không ăn khớp. Công việc này triển khai còn chậm so với tiến độ triển khai Luật Quản lý thuế, gây khó khăn không nhỏ cho công tác khai thác, phân tích, sử dụng thông tin phục vụ quản lý thuế. Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

Thứ năm, hiện nay việc thực hiện cải cách hành chính thuế ở nước ta còn gặp nhiều khó khăn do cơ sở hạ tầng còn thấp, thiếu đồng bộ. Mặc dù ngành thuế đề ra mục tiêu thực hiện chiến lược cải cách hướng tới một mô hình thuế hiện đại, chuyên nghiệp theo các chuẩn mực quốc tế. Nhưng ngành thuế mới đưa ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác đăng ký mã số thuế, xử lý tờ khai và chứng từ nộp thuế, kế toán sổ thuế, kế toán ngân sách, lập báo cáo thống kê, quản lý công việc nội bộ. Mô hình thuế hiện tại mới tự động hóa một số khâu tính thuế và chưa thống nhất qui trình xử lý thông tin các loại thuế.

Theo Báo cáo Môi trường Kinh doanh 2014 (Doing Business) của Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), chỉ số “nộp thuế” của Việt Nam xếp hạng thứ 149/189 trong số các quốc gia và vùng lănh thổ, với tổng số thời gian nộp thuế năm 2014 là 872 giờ, DN làm các thủ tục thuế (GTGT, TNDN) là 537 giờ. Theo tính toán của WB, phần lớn thời gian DN dùng để chuẩn bị tài liệu, rà soát, ghi chép số liệu để thực hiện kê khai thuế (do khác biệt về quy định của chính sách thuế và kế toán).

Tình hình này cho thấy thời gian qua, mặc dù Việt Nam đã triển khai quyết liệt các giải pháp cải cách thủ tục hành chính thuế nhưng kết quả đạt được vẫn còn hạn chế.

  • Về phía người nộp thuế :

Thứ nhất, đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ do kiến thức hạn chế, lại phân tán rộng trên địa bàn khác nhau nên việc tiếp cận theo phương thức quản lý thuế mới bước đầu còn nhiều khó khăn.

Thứ hai, các doanh nghiệp trong cơ chế tự do kinh doanh nhưng chưa được chuẩn bị tốt về mặt kỉ cương pháp luật trong việc thực hiện các chính sách của nhà nước và pháp luật, chưa chấp hành đúng những quy định của pháp luật về chế độ quản lý sử dụng hoá đơn chứng từ, hạch toán sổ sách kế toán,việc thanh toán bằng tiền mặt còn khá phổ biến…

Thứ ba, tình trạng vi phạm pháp luật về thuế (trốn thuế, gian lận thuế, thành lập DN để buôn bán hóa đơn, bỏ trốn khỏi địa điểm kinh doanh, sử dụng hóa đơn giả…) ngày càng nghiêm trọng, phức tạp, phổ biến và xảy ra ở tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước. Nếu như năm 2007, con số doanh nghiệp nợ thuế tại Hà Nội chỉ khoảng 2.000 tỷ đồng, thì đến cuối 2014, con số này đã lên tới gần 18.700 tỷ đồng. Tội phạm mua bán, sử dụng trái phép hóa đơn có nhiều loại và xuất hiện ở hầu hết các địa phương với mức độ khác nhau, nhưng nguy hiểm và nghiêm trọng nhất vẫn là tình trạng lập DN chỉ để mua bán hóa đơn bất hợp pháp.

Thứ tư, việc xử lý vi phạm pháp luật về thuế có nơi còn gặp khó khăn như người nộp thuế vi phạm nhưng không để số dư tiền gửi ngân hàng nên các biện pháp cưỡng chế như trích tiền gửi tại ngân hàng không thực hiện được; hoặc tình trạng mua bán sử dụng hoá đơn bất hợp pháp vẫn còn tồn tại, thanh toán bằng tiền mặt vẫn còn phổ biến.

Thứ năm, thực trạng cho thấy mặc dù có không ít trường hợp công chức thuế có hành vi “sách nhiễu”, trong khi đó mặc dù giải quyết khiếu nại, tố cáo, khởi kiện là một chức năng quan trọng của quản lý thuế, nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người nộp thuế tuy nhiên người nộp thuế rất ngại tham gia vào quá trình này.

2.3. Nguyên nhân của thực trạng Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

Thực trạng pháp luật QLT và quá trình thực hiện nó ở Việt Nam thời gian qua như đã phân tích và chứng minh ở trên là do các nguyên nhân sau:

2.3.1. Nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, nền kinh tế thị trường có sự định hướng của Nhà nước là một mô hình kinh tế mà trước đây chưa có tiền lệ, đòi hỏi chúng ta phải tự tìm tòi sáng tạo. Cơ chế chính sách thuế và quản lý thuế cũng phải phù hợp với quá trình phát triển của đất nước và những định hướng cải cách chung. Tình hình kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn, cùng một lúc Nhà nước phải tập trung đối phó và giải quyết nhiều vấn đề, vừa phát triển kinh tế vừa thu hút đầu tư lại vừa phải giải quyết những tồn tại của xã hội. Vì thế, cơ chế chính sách thuế và quản lý thuế chưa thể đáp ứng được hết những đòi hỏi thực tế.

Thứ hai, pháp luật thuế TNDN nói chung và pháp luật quản lý thuế TNDN nói riêng hình thành và phát triển, bị chi phối rất lớn bởi yếu tố khách quan từ bên ngoài. Trong cơ chế thị trường ở nước ta, pháp luật thuế nằm trong giai đoạn hình thành, liên tục được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với sự phát triển của kinh tế. Cùng với đó, các điều kiện về cơ sở vật chất và trình độ đội ngũ cán bộ có nhiều hạn chế nên chúng ta chưa thể có được một hệ thống thuế hiện đại, toàn diện được. Vì thế, pháp luật quản lý thuế TNDN không có một điểm tựa, chuẩn mực để hình thành và phát triển.

Thứ ba, nền kinh tế đất nước còn non trẻ, đang trong quá trình xây dựng, cơ chế, chính sách ban hành còn thiếu tính ổn định, tính chiến lược lâu dài. Quan điểm chỉ đạo chung ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực là vừa làm vừa rút kinh nghiệm, sau đó sẽ hoàn thiện. Vì thế, nhiều khi chính sách ban hành ra là nhằm giải quyết một số nhiệm vụ trước mắt, sau khi giải quyết xong thì chính sách đó lại trở nên lạc hậu, không còn phù hợp nữa.

2.3.2. Nguyên nhân chủ quan Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

Thứ nhất, do còn hạn chế trong nhận thức, do ít hiểu biết về kinh tế thị trường và do chủ quan, nóng vội, chưa có cái nhìn toàn diện, khách quan và có chiến lược trong hoạch định chính sách, xây dựng và ban hành pháp luật thuế. Có thể thấy, sự thay đổi của các chính sách thuế và tình hình thực tiễn, buộc pháp luật quản lý thuế cũng phải chạy theo, nên nó luôn trong tình trạng thiếu đồng bộ, không có tính ổn định.

Thứ hai, do chúng ta đặt lên vai chính sách thuế quá nhiều mục tiêu làm cho pháp luật thuế càng phức tạp và thường xuyên phải thay đổi để đảm bảo được các mục tiêu phải gánh vác.

Thứ ba, do kỹ thuật và trình độ lập pháp của nước ta còn yếu, nên Luật quản lý thuế cần nhiều văn bản quy định chi tiết thi hành và hướng dẫn thực hiện. Bên cạnh đó, việc giải thích, hướng dẫn tại các văn bản dưới luật, mặc dù đã tham khảo ý kiến của các đối tượng thực hiện nhưng thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh trong điều kiện nền kinh tế chuyển đổi rất phong phú và đa dạng, luôn phát sinh những yêu cầu mới mà chính sách không theo kịp.

Thứ tư, sự hiểu biết của người nộp thuế về chính sách thuế, quy trình quản lý thuế còn hạn chế. Đồng thời, năng lực của cán bộ thuế ở nhiều địa phương còn yếu, chưa đủ khả năng giải quyết các vấn đề phát sinh. Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập DN

One thought on “Khóa luận: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập DN

  1. Pingback: Khóa luận: Pháp luật quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464