Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh của Cty Hải Hà

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh của Cty Hải Hà hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.2.1. Phân tích thực trạng các chỉ tiêu đo lường và đánh giá hiệu quả kinh doanh tổng hợp của Công ty Cổ phần Bánh Kẹo Hải Hà

Bảng 2.3. Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của Công ty Cổ phần Bánh Kẹo Hải Hà giai đoạn 2020 – 2023

Nhận xét:

Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)

Qua số liệu trên ta thấy, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản của công ty giảm dần trong giai đoạn 2020 – 2023. Cụ thể:

Năm 2020 cứ 1 đồng đầu tư vào tài sản thì tạo ra 6,63 đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2021 cứ 1 đồng đầu tư vào tài sản thì tạo ra 5,53 đồng lợi nhuận sau thuế (giảm 1,1 đồng lợi nhuận sau thuế so với năm 2020). Năm 2022 cứ 1 đồng đầu tư vào tài sản thì tạo ra 3,78 đồng lợi nhuận sau thuế (giảm 1,75 đồng lợi nhuận sau thuế so với năm 2021). Năm 2023 cứ 1 đồng đầu tư vào tài sản thì tạo ra 3,34 đồng lợi nhuận sau thuế (giảm 0,44 đồng lợi nhuận sau thuế so với năm 2022). Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh của Cty Hải Hà

Như vậy, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) năm 2023 của Công ty là thấp nhất trong toàn bộ giai đoạn khảo sát cho thấy công ty chưa khai thác được tài sản của mình một cách hiệu quả hoặc không tương xứng với tiềm năng sinh lợi của các tài sản mà doanh nghiệp có. Công ty cần cải thiện ROA để giúp công ty đạt được hiệu quả trong sử dụng tài sản.

Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE)

ROE là chỉ tiêu cho biết quy mô lợi nhuận sau thuế được tạo ra từ mỗi đồng vốn đầu tư của các chủ sở hữu, từ đó phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp và mức doanh lợi tương đối mà các cổ đông được hưởng khi đầu tư vào doanh nghiệp.

Dựa vào bảng phân tích trên, ta thấy tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE) của HAIHACO tăng ở năm 2020 – 2021, từ năm 2021 đến năm 2023 thì giảm dần qua các năm. Cụ thể, ROE cao nhất vào năm 2021 (11,29%) và giảm dần vào năm 2022 (9,91%), năm 2023 (8,68%). Như vậy, có thể thấy rằng giai đoạn này, công ty đã sử dụng vốn chủ sở hữu chưa hiệu quả. Công ty cần tập trung phát triển các sản phẩm của mình để đem lại hiệu quả cao hơn trong sử dụng vốn chủ sở hữu.

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS)

Trong kinh doanh, Công ty Cổ phần Bánh Kẹo Hải Hà cũng giống như các doanh nghiệp khác luôn mong muốn tạo ra doanh thu nhiều hơn để tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp không phải là doanh thu mà là lợi nhuận sau thuế. ROS là chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời so với doanh thu.

Qua bảng phân tích trên, ta thấy tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS) của HAIHACO biến động tương tự tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu, tăng từ 3,93% (năm 2020) và tăng lên 4,28% (năm 2021), giảm dần qua các năm tiếp theo, giảm xuống 3,89% (năm 2022), và thấp nhất là năm 2023 (2,77%).

ROS càng cao cho thấy khả năng sinh lợi từ doanh thu càng cao và ngược lại. Ngoài ra, tỷ suất này còn gián tiếp phản ánh hiệu quả quản lý chi phí của doanh nghiệp. ROS của công ty càng giảm chứng tỏ việc quản lý chi phí của Công ty còn rất kém và chưa hiệu quả dẫn tới khả năng cạnh tranh của công ty trên thị trường.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngàng Kinh Tế

2.2.2. Phân tích thực trạng các chỉ tiêu đo lường và đánh giá hiệu quả kinh doanh bộ phận của Công ty Cổ phần Bánh Kẹo Hải Hà Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh của Cty Hải Hà

a) Phân tích các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản

Bảng 2.4. Hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần Bánh Kẹo Hải Hà giai đoạn 2020 – 2023

Chỉ tiêu tổng tài sản bình quân

Qua bảng số liệu ta thấy, tổng tài sản bình quân của doanh nghiệp đã tăng lên qua các năm trong giai đoạn năm 2020 – 2023. Cụ thể, Năm 2021 tổng tài sản bình quân đạt 761,19 tỷ đồng (tăng 253,27 tỷ đồng, tăng 49,86% so với năm 2020). Năm 2022 tổng tài sản bình quân đạt 1080,85 tỷ đồng (tăng 319,66 tỷ đồng, tăng 41,99% so với năm 2021). Tổng tài sản bình quân năm 2023 đạt 1169,09 tỷ đồng (tăng 88,24 tỷ đồng, tăng 8,16% so với năm 2022).

Điều này cho thấy công ty đã quan tâm tới việc mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Việc mở rộng đầu tư thể hiện cả chiều rộng lẫn chiều sâu như:

  • Đầu tư theo chiều rộng được thể hiện thông qua doanh nghiệp đã khánh thành nhà máy mới tại khu công nghiệp VSIP Bắc Ninh
  • Đầu tư theo chiều sâu như đầu tư các thiết bị máy móc, nhà xưởng, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống giao thông, cây xanh ở nhà máy mới tại khu công nghiệp ở Bắc Ninh…

Sức sản xuất của tổng tài sản

Sức sản xuất của tổng tài sản giảm dần qua các năm trong giai đoạn 2020 – 2022 và bắt đầu tăng trở lại vào năm 2023. Cụ thể, Năm 2020 với 1 đồng tài sản đầu tư vào sản xuất kinh doanh tạo ra được 1,69 đồng doanh thu thuần. Năm 2021, với 1 đồng tài sản đầu tư vào sản xuất kinh doanh tạo ra được 1,29 đồng doanh thu thuần, giảm 0,4 lần tương ứng giảm 23,67% so với năm 2020. Năm 2022, với 1 đồng tài sản đầu tư vào sản xuất kinh doanh tạo ra được 0,97 đồng doanh thu thuần. Như vậy, sức sản xuất của tổng tài sản năm 2022 đã giảm xuống 0,5 lần (tương ứng giảm 24,81%) so với năm 2021. Tuy nhiên, đến năm 2023 thì sức sản xuất của tổng tài sản đã phục hồi trở lại, sức sản xuất của tổng tài sản đã đạt 1,21 lần – với mỗi 1 đồng tài sản đầu tư vào sản xuất kinh doanh tạo ra được 1,21 đồng doanh thu thuần (tăng 0,24 lần, tương ứng tăng 24,74% so với năm 2022). Đây là một dấu hiệu tốt đối với công ty trong tương lai. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh của Cty Hải Hà

Tỷ suất sinh lời của tổng tài sản

Năm 2020, công ty cứ bỏ ra 100 đồng đầu tư vào tài sản thì thu được 6,63 đồng lợi nhuận sau thuế. Trong năm 2021, công ty cứ bỏ ra 100 đồng đầu tư vào tài sản thì thu được 5,53 đồng lợi nhuận sau thuế. Tỷ suất sinh lời của tổng tài sản năm 2021 giảm 16,59% so với năm 2020. Năm 2022, công ty cứ bỏ ra 100 đồng đầu tư vào tài sản thì thu được 3,78 đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2023, công ty cứ bỏ ra 100 đồng đầu tư vào tài sản thì thu được 3,34 đồng lợi nhuận sau thuế. Như vậy, tỷ suất sinh lời của tổng tài sản giảm trong giai đoạn 2020 – 2023 cho thấy hiệu quả sử dụng tổng tài sản của công ty chưa hiệu quả. Vì vậy, công ty cần có những biện pháp cụ thể để khắc phục những tồn tại này.

Sức sản xuất của tài sản ngắn hạn

Sự biến động của sức sản xuất tài sản ngắn hạn giống với sự biến động của sức sản xuất tổng tài sản đó là: giảm dần trong giai đoạn năm 2020 – 2022 từ 2,88 lần xuống 1,31 lần, và tăng trở lại vào năm 2023 là 1,61 lần. Tuy nhiên, sức sản xuất của tài sản ngắn hạn luôn cao hơn sức sản xuất của tài sản dài hạn.

Tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn

Năm 2020, công ty cứ bỏ ra 100 đồng đầu tư vào tài sản ngắn hạn thì thu được 11,34 đồng lợi nhuận sau thuế. Đây là mức cao nhất trong 4 năm khảo sát. Năm 2021, công ty cứ bỏ ra 100 đồng đầu tư vào tài sản ngắn hạn thì thu được 8,53 đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2022, công ty cứ bỏ ra 100 đồng đầu tư vào tài sản ngắn hạn thì thu được 5,08 đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2023 có tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn thấp nhất trong 4 năm khảo sát – công ty cứ bỏ ra 100 đồng đầu tư vào tài sản ngắn hạn thì thu được 4,45 đồng lợi nhuận sau thuế. Tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn giảm dần qua các năm là dấu hiệu không tốt đối với công ty.

Sức sản xuất của tài sản dài hạn

Sức sản xuất của tài sản dài hạn giảm dần vào năm 2021 và tăng dần trong giai đoạn 2021 – 2023. Năm 2020 công ty cứ bỏ ra 1 đồng đầu tư vào tài sản ngắn hạn thì thu được 4,07 đồng doanh thu thuần. Năm 2021, công ty cứ bỏ ra 1 đồng đầu tư vào tài sản ngắn hạn thì thu được 3,67 đồng doanh thu thuần (giảm 0,4 lần, tương ứng giảm 9,83% so với năm 2020). Năm 2022, công ty cứ bỏ ra 1 đồng đầu tư vào tài sản ngắn hạn thì thu được 3,78 đồng doanh thu thuần (tăng 0,11 lần, tương ứng tăng 3% so với năm 2021). Năm 2023, công ty cứ bỏ ra 1 đồng đầu tư vào tài sản ngắn hạn thì thu được 4,83 đồng doanh thu thuần (tăng 1,05 lần, tương ứng tăng 27,78% so với năm 2022).

Tỷ suất sinh lời của tài sản dài hạn

Tỷ suất sinh lời của tài sản dài hạn giảm dần trong giai đoạn năm 2020 – 2023. Cụ thể, năm 2020 tỷ suất sinh lời là 15,98%, năm 2021 đạt 15,71%, năm 2022 đạt 14,73% và đến năm 2023 tỷ suất này chỉ còn 13,40%. Tỷ suất sinh lời của tài sản dài hạn lớn hơn tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn, điều đó cho thấy công ty sử dụng tài sản dài hạn hiệu quả hơn tài sản ngắn hạn.

b) Phân tích các chỉ tiêu về vốn chủ sở hữu

Bảng 2.5. Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà giai đoạn 2020 – 2023

Nhận xét:

Qua phân tích bảng số liệu trên có thể thấy, vốn chủ sở hữu bình quân của doanh nghiệp tăng trong giai đoạn 2020 – 2023 tăng dần qua các năm. Năm 2020, vốn chủ sở hữu của công ty đạt 339,55 tỷ đồng. Năm 2021, vốn chủ sở hữu của công ty đạt 372,50 tỷ đồng (tăng 32,95 tỷ đồng, tương ứng tăng 9,70% so với năm 2020). Năm 2022, vốn chủ sở hữu của công ty đạt 412,06 tỷ đồng (tăng 39,56 tỷ đồng, tương ứng tăng 10,62% so với năm 2021). Năm 2023, vốn chủ sở hữu của công ty đạt 449,98 tỷ đồng (tăng 37,92 tỷ đồng, tương ứng tăng 9,20% so với năm 2022).

Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu

Năm 2020, với 100 đồng vốn chủ sở hữu tạo ra được 9,29 đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2021, tăng lên 11,29 đồng lợi nhuận sau thuế, tăng 13,81% so với năm 2020. Tuy nhiên, đến năm 2022 tỷ lệ này giảm xuống còn 9,91 đồng lợi nhuận sau thuế, giảm 12,22% so với năm 2021. Năm 2023, tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu giảm xuống còn 8,68, giảm 12,41% so với năm 2022. Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu giảm là một dấu hiệu không tốt cho Công ty.

Sức sản xuất vốn chủ sở hữu

Năm 2020, cứ 1 đồng vốn chủ sở hữu tạo ra được 2,53 đồng doanh thu thuần. Sức sản xuất của vốn chủ sở hữu năm 2021 là 2,64 đồng (tăng 0,11 lần, tương ứng tăng 4,35% so với năm 2020). Năm 2022, cứ 1 đồng vốn chủ sở hữu tạo ra 2,54 đồng doanh thu thuần nên sức sản xuất của vốn chủ sở hữu năm 2022 (giảm 0,1 lần, tương ứng giảm 3,79 % so với năm 2021). Năm 2023, mỗi đồng vốn chủ sở hữu tạo ra 3,13 đồng doanh thu thuần nên sức sản xuất của vốn chủ sở hữu năm 2023 (tăng 0,59 lần, tương ứng tăng 23,23% so với năm 2022). Việc tăng trở lại sức sản xuất vốn chủ sở hữu là một dấu hiệu tốt cho Công ty.

c) Phân tích các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn

Bảng 2.6. Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà giai đoạn 2020 – 2023

Qua bảng trên cho thấy, nguồn vốn kinh doanh của công ty tăng dần qua các năm: năm 2020 là 507,92 tỷ đồng; năm 2021 nguồn vốn kinh doanh bình quân là 761,19 tỷ đồng (tăng 253,27 tỷ đồng, tương ứng tăng 49,86% so với năm 2020); năm 2022 nguồn vốn kinh doanh bình quân là 1080,85 tỷ đồng (tăng 319,66 tỷ đồng, tương ứng tăng 41,99% so với 2021); năm 2023 nguồn vốn kinh doanh bình quân là 1169,09 tỷ đồng (tăng 88,24 tỷ đồng, tương ứng tăng 8,16% so với năm 2022).

Tỷ suất sinh lời của vốn lưu động

Tỷ suất sinh lời của vốn lưu động giảm dần qua các năm trong giai đoạn năm 2020 – 2023. Cụ thể: Năm 2020, công ty cứ bỏ ra 100 đồng vốn lưu động tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì tạo ra 9,02 đồng lợi nhuận. Năm 2021, công ty cứ bỏ ra 100 đồng vốn lưu động tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì tạo ra 7,66 đồng lợi nhuận (giảm 15,08% so với năm 2020). Năm 2022, công ty cứ bỏ ra 100 đồng vốn lưu động tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì tạo ra 4,70 đồng lợi nhuận (giảm 38.64% so với năm 2021). Năm 2023, công ty cứ bỏ ra 100 đồng vốn lưu động tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì tạo ra 4,08 đồng lợi nhuận. Tỷ suất sinh lời của vốn lưu động giảm dần qua các năm là dấu hiệu không tốt đối với công ty, công ty cần đưa ra các biện pháp kịp thời để khắc phục.

Số lần luân chuyển vốn lưu động

Số lần luân chuyển vốn lưu động giảm dần trong giai đoạn năm 2020 – 2022 và tăng trở lại vào năm 2023. Cụ thể, số lần luân chuyển vốn lưu động lần lượt là 2,30; 1,79; 1,21. Và số lần luân chuyển vốn lưu động tăng trở lại vào năm 2023 là 1,47 lần. Đây là dấu hiệu tốt cho công ty trong tương lai.

Kỳ luân chuyển vốn lưu động

Kỳ luân chuyển vốn lưu động tăng dần trong giai đoạn năm 2020 – 2022 và giảm vào năm 2023. Cụ thể, kỳ luân chuyển vốn lưu động năm 2021 tăng 44,60 lần so với năm 2020, tương ứng tăng 28,49% so với năm 2020. Lần lượt với 2022 tăng 47,93% so với 2021. Năm 2023 giảm 52,62 lần, tương ứng giảm 17,49%.

Sức sản xuất của vốn cố định

Sức sản xuất của vốn cố định năm 2020, công ty cứ bỏ ra 1 đồng vốn cố định tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra 6,39 đồng doanh thu thuần. Năm 2021, công ty cứ bỏ ra 1 đồng vốn cố định thì tạo ra 4,64 đồng doanh thu thuần (giảm 1,75 đồng doanh thu thuần, tương ứng giảm 27,39% so với năm 2020). Năm 2022, công ty cứ bỏ ra 1 đồng vốn cố định tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì tạo ra 4,93 đồng doanh thu thuần (tăng 0,29 đồng doanh thu thuần, tương ứng tăng 6,25% so với năm 2021). Năm 2023, công ty cứ bỏ ra 1 đồng vốn cố định tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra 6,63 đồng doanh thu thuần (tăng 1,73 đồng, tương ứng tăng 35,09% so với năm 2022). Sức sản xuất của vốn cố định tăng trở lại là dấu hiệu tốt cho công ty trong tương lai. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh của Cty Hải Hà

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn cố định

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn cố định giảm dần qua các năm trong giai đoạn năm 2020 – 2023. Cụ thể: Năm 2020, công ty cứ bỏ ra 100 đồng vốn cố định tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì thu được 25,08 đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2021, công ty cứ bỏ ra 100 đồng vốn cố định tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì thu được 19,86 đồng lợi nhuận sau thuế (giảm 5,22 đồng lợi nhuận sau thuế, tương ứng giảm 20,81% so với năm 2020). Tương tự, năm 2022 là 19,22 đồng lợi nhuận sau thuế (giảm 0,64 đồng, tương ứng giảm 3,22% so với năm 2021). Năm 2023 công ty cứ bỏ ra đồng vốn cố định tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì thu được 18,47 đồng lợi nhuận sau thuế (giảm 0,75 đồng lợi nhuận sau thuế, tương ứng giảm 3,90% so với năm 2022). Tỷ suất lợi nhuận trên vốn cố định giảm là dấu hiệu không tốt đối với công ty trong tương lai.

d) Phân tích các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng chi phí Công ty Cổ phần

Bảng 2.7. Hiệu quả sử dụng chi phí của Công ty Cổ phần Bánh Kẹo Hải Hà giai đoạn 2020 – 2023

Qua bảng phân tích trên, ta thấy tổng chi phí của Công ty tăng dần giai đoạn 2020 – 2022 và giảm vào năm 2023. Cụ thể, tổng chi phí của công ty năm 2021 đạt 199,45 tỷ đồng (tăng 61,92 tỷ đồng, tương ứng tăng 45,02% so với năm 2020). Năm 2022, tổng chi phí đạt 209,12 tỷ đồng (tăng 9,67 tỷ đồng, tương ứng tăng 4,85% so với năm 2021). Năm 2023, tổng chi phí đạt 203,65 tỷ đồng (giảm 5,47 tỷ đồng, tương ứng giảm 2,62% so với năm 2022).

Tỷ suất sinh lời tổng chi phí

Năm 2020, với 1 đồng tổng chi phí tạo ra 24,50 đồng lợi nhuận sau thuế, năm 2021 là 21,49 đồng lợi nhuận. Tỷ suất sinh lời tổng chi phí năm 2021 giảm 3,01 đồng lợi nhuận, giảm 13,94% so với năm 2020. Tương tự, tỷ suất sinh lời của tổng chi phí năm 2022 giảm 1,96 đồng lợi nhuận, giảm 7,40% so với năm 2021. Năm 2023, tỷ suất sinh lời của tổng chi phí giảm 0,35 đồng lợi nhuận, giảm 1,79% so với năm 2022. Kết quả trên cho thấy hiệu quả sử dụng chi phí của công ty đã giảm đáng kể so với năm 2020. Điều này cho thấy Công ty đã không sử dụng hiệu quả chi phí, đây là một xu hướng không tốt đối với Công ty trong tương lai.

Hiệu quả sử dụng các nguồn lực

Năm 2020, cứ 1 đồng chi phí tạo ra 6,24 đồng doanh thu thuần. Sức sản xuất của chi phí năm 2021 cứ 1 đồng chi phí tạo ra 4,29 đồng doanh thu thuần đã giảm 1,31 lần, giảm 21,03% so với năm 2020. Tuy nhiên, đến năm 2022 cứ 1 đồng chi phí tạo ra 5,01 đồng doanh thu thuần, sức sản xuất của chi phí năm 2022 đã tăng 0,09 lần, tăng 1,83% so với năm 2021. Năm 2023, mỗi đồng chi phí tạo ra 6,92 đồng doanh thu thuần, tăng 1,91 lần, tương ứng tăng 28,12% so với năm 2022. Hiệu quả sử dụng các nguồn lực tăng là dấu hiệu tốt đối với Công ty.

e) Phân tích các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động

Bảng 2.8. Hiệu quả sử dụng lao động của Công ty Bánh Kẹo Hải Hà giai đoạn 2020 – 2023

Nhận xét:

Năng suất lao động

Năng suất lao động của công ty tăng dần giai đoạn 2020 – 2023. Năm 2020, Năng suất lao động là 629,02 triệu đồng/lao động đến năm 2021 là 738,57 triệu đồng/ lao động (tăng 109,55 triệu đồng/lao động, tương ứng tăng 17,42% so với năm 2020). Năm 2022, Năng suất lao động là 752,78 triệu đồng/lao động (tăng 14,21 triệu đồng/lao động, tương ứng tăng 1,92% so với năm 2021). Năm 2023 sức sản xuất của lao động là 1008,47 triệu đồng/lao động (tăng 255,69 triệu đồng/lao động, tương ứng tăng 33,97% so với năm 2022). Như vậy, Năng suất lao động tăng là một xu hướng tích cực của doanh nghiệp. Vì năng suất lao động của doanh nghiệp đã tăng lên, đồng nghĩa hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tăng.

Hiệu suất sử dụng lao động

Hiệu suất sử dụng lao động giảm dần qua các năm. Năm 2021 bình quân mỗi lao động mang lại cho công ty 31,64 đồng lợi nhuận sau thuế, năm 2022 bình quân mỗi lao động mang lại cho công ty 28,04 đồng lợi nhuận sau thuế (giảm 3,6 triệu đồng/lao động so với năm 2021, tương ứng giảm 11,37%), năm 2023 bình quân mỗi lao động mang lại cho công ty 27,96 đồng lợi nhuận sau thuế (giảm 0,08 triệu đồng/lao động, tương ứng giảm 0,29 %).

g) Phân tích các chỉ tiêu khái quát về tình hình tài chính

Bảng 2.9. Một số chỉ tiêu tài chính khác của Công ty Cổ phần Bánh Kẹo Hải Hà

Các hệ số thanh toán

Hệ số thanh toán tổng quát:

Hệ số thanh toán tổng quát của công ty đều lớn hơn 1 cho thấy doanh nghiệp hoàn toàn đáp ứng được các khoản nợ tới hạn. Cụ thể, Hệ số thanh toán tổng quát từ năm 2020 đến năm 2023 lần lượt là 3,44; 1,63; 1,60; 1,65 lần; cho thấy rằng công ty có thể sử dụng tài sản của mình để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn cũng như dài hạn. Hệ số thanh toán năm 2021 so với năm 2020 giảm 1,81 lần, năm 2022 giảm 0,03 lần so với năm 2021; năm 2023 tăng 0,05 lần so với năm 2022. Sự biến động này giai đoạn 2021 – 2023 về cơ bản là không nhiều do công ty bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid 19 toàn cầu.

Hệ số thanh toán ngắn hạn:

Hệ số thanh toán ngắn hạn của công ty năm 2021 tăng 1,08 lần so với năm 2020. Tuy nhiên, hệ số thanh toán ngắn hạn của công ty giai đoạn 2021 – 2023 giảm dần qua các năm lần lượt là 2,55; 1,78 và 1,65 lần. Tất cả các hệ số đều lớn hơn 1 chứng tỏ rằng công ty đều có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của mình. Tuy nhiên, hệ số này càng giảm dần doanh nghiệp cần lưu ý để đưa ra các biện pháp kịp thời.

Hệ số thanh toán nhanh:

Hệ số thanh toán nhanh của công ty trong giai đoạn 2020 – 2023 đều nhỏ hơn 1, chứng tỏ công ty có khả năng chi trả kém khi cần vốn nhanh để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Hệ số thanh toán nhanh của công ty năm 2021 tăng 0,14 lần so với năm 2020. Tuy nhiên, hệ số này lại giảm dần trong giai đoạn 2021 – 2023, cụ thể là hệ số thanh toán nhanh năm 2022 giảm 0,16 lần, tương ứng giảm 25,40% so với năm 2021. Hệ số thanh toán nhanh năm 2023 giảm 0,25 lần, tương ứng giảm 53,19% so với năm 2022. Vì vậy, công ty cần có các biện pháp để khắc phục kịp thời. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh của Cty Hải Hà

Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu:

Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu của công ty giai đoạn năm 2020 – 2022 tăng dần qua các năm. Cụ thể, hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu của công ty năm 2021 tăng 1,13 lần so với năm 2020. Năm 2022 (1,58 lần) tăng 0,08 lần so với năm 2021, tương ứng tăng 5,06% . Đến năm 2023, hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu giảm 0,12 lần so với năm 2022 giảm 7,23%. Mặc dù giảm khá ít nhưng cũng được coi là dấu hiệu tốt cho công ty.

Hệ số vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản:

Đây là chỉ tiêu phản ánh mức độ độc lập về mặt tài chính. Hệ số này cao nhất vào năm 2020, trong tổng tài sản của công ty thì nguồn vốn chủ sở hữu chiếm với 69%. Với các năm tiếp theo thì hệ số này là rất thấp. Năm 2021, trong tổng tài sản của công ty thì nguồn vốn chủ sở hữu chỉ chiếm 39%. Năm 2022, chỉ chiếm 38% và năm 2023 trong tổng tài sản của công ty thì nguồn vốn chủ sở hữu chiếm 39%. Hệ số vốn chủ sở hữu của công ty giai đoạn 2021 – 2023 chỉ xấp xỉ 39% cho thấy mức độ độc lập tài chính của công ty không cao. Đây là một dấu hiệu không tốt của công ty, công ty cần có các biện pháp để khắc phục tồn tại này.

Các chỉ tiêu hoạt động

Số vòng quay hàng tồn kho và số ngày của vòng quay hàng tồn kho:

Hệ số vòng quay hàng tồn kho của Công ty được cải thiện đáng kể, năm 2021 hệ số vòng quay hàng tồn kho tăng từ 6,64 vòng/ năm lên 7,39 vòng/năm ở mức tăng trưởng 111%. Trong năm 2022, hệ số vòng quay hàng tồn kho tăng lên 8,12 vòng/năm ở mức tăng trưởng 110%. Và tăng từ 8,12 vòng/năm (năm 2022) lên 13,12 vòng/năm trong năm 2023 ở mức tăng trưởng 162% cho thấy công tác nghiên cứu thị trường và điều tiết sản xuất sản phẩm của công ty phù hợp không để tình trạng tồn kho. Đây là mặt tích cực trong công tác điều hành sản xuất kinh doanh của Ban Lãnh đạo Công ty.

Hệ số vòng quay hàng tồn kho tăng nên số ngày của một vòng quay hàng tồn kho giảm xuống. Cụ thể, số ngày một vòng quay hàng tồn kho năm 2021 là 48,71 ngày/vòng, đến năm 2022 số ngày một vòng quay hàng tồn kho là 44,36 ngày/vòng. Và năm 2023 số ngày một vòng quay hàng tồn kho là 27,43 ngày/vòng.

Số vòng quay nợ phải thu và số ngày của vòng quay nợ phải thu:

Năm 2020 số vòng quay nợ phải thu là 16,04 vòng/năm giảm mạnh còn 3,92 vòng/năm (năm 2021). Số vòng quay nợ phải thu năm 2022 giảm còn 2,12 vòng/năm (giảm 1,8 vòng/năm tương ứng giảm 45,92%) so với năm 2021 cho thấy nợ phải thu giảm nhanh chóng và số vòng quay chỉ còn 2,12 vòng/năm, điều này cho thấy khả năng thu hồi vốn của doanh nghiệp là không hiệu quả. Doanh nghiệp bị khách hàng chiếm dụng vốn nhiều trong khi doanh nghiệp đi vay bên ngoài, điều này làm giảm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Năm 2023 số vòng quay nợ phải thu là 2,30 vòng/ năm (tăng 0,18 vòng/năm tương ứng tăng 8,49% ) và số ngày một vòng quay nợ phải thu là 156,32 ngày/vòng. Điều này cho thấy khả năng thu hồi vốn của công ty có xu hướng tốt hơn và đây là dấu hiệu tốt trong công tác thu hồi vốn của công ty.

2.3. Những thành công và hạn chế về nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Bánh Kẹo Hải Hà Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh của Cty Hải Hà

2.3.1. Những thành công đạt được

Nhìn chung, trong giai đoạn 2020 – 2023 nền kinh tế trong nước vẫn còn rất nhiều khó khăn nên nhu cầu tiêu dùng đối với các sản phẩm bánh kẹo vẫn chưa cải thiện được nhiều. Công ty đã gặp rất nhiều khó khăn từ những yếu tố khách quan như tình trạng lạm phát ở nhiều quốc gia, dịch tả lợn Châu Phi, cũng như ảnh hưởng của đại dịch Covid – 19 đã gây ra sự thiếu hụt và làm tăng giá một số nguyên vật liệu đầu vào như dầu cọ, shortening, sữa bột, gelatine… ảnh hưởng nhiều tới hoạt động kinh doanh của Công ty do chi phí đầu vào tăng trong khi Công ty không tăng được giá bán, cũng như sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong ngành ngày càng cao dẫn đến lợi nhuận của công ty bị suy giảm.

Tuy nhiên, cũng cần phải ghi nhận những nỗ lực của đội ngũ lãnh đạo cũng như cán bộ công nhân viên của Công ty trong việc cố gắng duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, vượt qua thách thức và đạt các thành tựu đáng kể như:

Thứ nhất, Công ty đã tạo công ăn việc làm ổn định cho nhiều lao động, đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Công ty luôn chú trọng và quan tâm đến các chính sách đãi ngộ, đào tạo, phát triển cũng như đời sống của cán bộ công nhân viên nhằm đảm bảo một nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, phẩm chất tốt phục vụ cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Thứ hai, Các hoạt động của công ty luôn tuân thủ theo đúng Luật doanh nghiệp, Luật chứng khoán, điều lệ công ty và các quy định có liên quan, chấp hành đúng Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông và Nghị quyết của Hội đồng quản trị cũng như trách nhiệm bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững.

Thứ ba, hoàn thành xây dựng và đưa vào hoạt động Nhà máy bánh kẹo Hải Hà tại Khu công nghiệp VSIP – Bắc Ninh đáp ứng đầy đủ các tiêu chí về sản xuất xanh sạch đẹp, an toàn phòng chống cháy nổ và bảo vệ môi trường.

Thứ tư, đối với tài sản dài hạn, Công ty đã không ngừng khai thác công suất máy móc thiết bị, đồng thời huy động tối đa các tài sản cố định vào sản xuất nhằm hạn chế lãng phí cũng như ứ đọng vốn.

Thứ năm, khả năng thanh toán của Công ty về cơ bản với lượng tổng tài sản hiện có, Công ty hoàn toàn đáp ứng được các khoản nợ tới hạn.

2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh của Cty Hải Hà

a) Những hạn chế

Thứ nhất, Từ các số liệu và phân tích về doanh thu và lợi nhuận của công ty cho thấy doanh thu của công ty tăng liên tục qua các năm, nhưng chi phí giá vốn quá lớn khiến lợi nhuận của Công ty chưa thực sự đạt được như mong muốn.

Thứ hai, Tỷ suất sinh lời của tổng tài sản và vốn chủ sở hữu và tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu đều giảm. Công ty chưa có các chính sách khai thác hiệu quả nguồn vốn.

Thứ ba, Sức sản xuất của tổng tài sản và vốn chủ sở hữu còn nhiều biến động. Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu lớn hơn 1 chứng tỏ tài sản của Công ty chủ yếu tài trợ bởi các khoản nợ.

Thứ tư, Tỷ suất sinh lời của vốn lưu động và tỷ suất lợi nhuận vốn cố định của Công ty giảm dần qua các năm. Công ty cần nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn vốn cố định và nguồn vốn lưu động.

Thứ năm, Chi phí giá vốn là chi phí có ảnh hưởng lớn nhất đến tỷ lệ lợi nhuận của Công ty cổ phần Bánh kẹo Hải Hà, chiếm khoảng 80% doanh thu thuần của Công ty. Công ty cần xây dựng các chiến lược kinh doanh để đảm bảo kinh doanh có hiệu quả.

Thứ sáu, Số lượng lao động tại công ty tăng đều qua các năm nhưng tỷ suất sinh lời của lao động giảm. Điều đó chứng tỏ hiệu quả sử dụng lao động chưa cao. Cùng việc phân công, bố trí lao động chưa hợp lý, công ty chưa áp dụng các giải pháp khai thác được năng lực của nhân viên, tăng hiệu quả kinh doanh cho công ty.

Thứ bảy, Công ty có lợi thế là một đơn vị lâu đời trên 60 năm, giàu truyền thống nhưng lại không tận dụng được lợi thế của mình để thu hút khách hàng và thị phần của Công ty trong ngành ngày càng giảm.

Thứ tám, Các cơ chế chính sách thu hút khách hàng của Công ty vẫn còn nhiều hạn chế. Ngoài ra, do đặc thù ngành thực phẩm nên vẫn cần quan tâm đến một số rủi ro khác như hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng…

b) Nguyên nhân

Nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, những tiêu cực của nền kinh tế thị trường đang gây khó khăn rất lớn cho công ty trong hoạt động kinh doanh của Công ty. Nước ta tiếp tục thực hiện cam kết AFTA giảm thuế nhập khẩu bánh kẹo xuống còn 0% làm cho ngành bánh kẹo trong nước bị cạnh tranh rất khốc liệt với các bánh kẹo nhập khẩu từ các nước ASEAN.

Thứ hai, các nguyên liệu đầu vào của Công ty như dầu cọ, sữa bột, đường kính, bao bì,… tăng giá cũng như giá năng lượng tăng làm tăng chi phí đầu vào của sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty.

Thứ ba, năm 2023, là năm có nhiều thách thức đối với doanh nghiệp nói chung và Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà nói riêng. Đặc biệt là do dịch Covid -19, thiên tai lũ lụt liên tiếp xảy ra ở miền Trung đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc lưu thông hàng hóa và tiêu thụ sản phẩm.

Thứ tư, do tính chất mùa vụ của ngành bánh kẹo cộng mức lương thấp nên rất khó tuyển dụng. Các quy định về nâng lương cơ bản đã làm tăng chi phí về các loại bảo hiểm cũng gây ảnh hưởng tới hiệu quả của công ty.

Thứ năm, thị trường ngày càng xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh, nên việc tiêu thụ sản phẩm ngày càng khó khăn, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động.

Nguyên nhân chủ quan

Thứ nhất, trình độ quản lý và sử dụng vốn lưu động còn nhiều hạn chế. Chính sách nợ phải thu chưa hợp lý dẫn đến giảm vòng quay nợ phải thu, từ đó tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh.

Thứ hai, khâu quản lý của công ty chưa thực sự chặt chẽ dẫn đến tình trạng như giảm hiệu quả sử dụng lao động, chưa tập trung phát triển hết khả năng vốn có của người lao động.

Thứ ba, công ty chưa suy xét kỹ đến vấn đề hiệu quả kinh doanh bao gồm nhiều nhân tố như: chi phí, thuế, năng suất lao động. Công ty cần có phương án thích hợp để tối đa và sử dụng các nguồn lực hợp lý.

Thứ tư, mạng lưới kinh doanh của công ty chủ yếu trung ở thị trường miền Bắc, thị trường miền Nam của công ty chưa được khai thác nhiều. Công ty cần phát triển nhiều hơn ở thị trường miền Nam và thị trường xuất khẩu để tăng cao thị phần và chiếm lĩnh thị trường.

Thứ năm, một số dây chuyền đã hết công suất, hết khấu hao, làm ảnh hưởng đến năng suất, tăng tiêu hao vật tư nguyên liệu và khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường như: dây chuyền Jelly, dây chuyền bánh Miniwaf. Dây chuyền bánh quy của Trung Quốc tuy mới đầu tư năm 2020 nhưng nay đã quá tải công suất, vào cao điểm của thời vụ Tết, sản xuất không đủ đáp ứng đủ cho kinh doanh nên hàng xuất khẩu phải tạm dừng. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh của Cty Hải Hà 

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp nâng cao HQKD của Công ty Hải Hà

One thought on “Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh của Cty Hải Hà

  1. Pingback: Khóa luận: Khái quát về Công ty Cổ phần Bánh Kẹo Hải Hà

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464