Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Phân tích giá cổ phiếu chứng khoán tại Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Phân tích và định giá cổ phiếu của các công ty tăng trưởng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phân tích và định giá cổ phiếu đóng một vai trò hết sức quan trọng trên thị trường chứng khoán Việt Nam nói riêng và thị trường tài chính Việt Nam nói chung. Phân tích và định giá cổ phiếu có ý nghĩa to lớn đối với phần lớn các chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán Việt Nam và thị trường tài chính Việt Nam. Đó chính là các doanh nghiệp, nhà đầu tư và các ngân hàng. Doanh nghiệp sử dụng phân tích và định giá cổ phiếu để đưa ra các quyết định về huy động và sử dụng vốn; nhà đầu tư sử dụng phân tích và định giá cổ phiếu cho mục đích đầu tư; còn các ngân hàng sử dụng phân tích và định giá cổ phiếu trong các quyết định cho vay. Phân tích và định giá cổ phiếu đóng vai trò quan trọng là thế, nhưng hiện nay trên thị trường chứng khoán Việt Nam, phân tích và định giá cổ phiếu vẫn chưa được sử dụng rộng rãi do gặp nhiều khó khăn, trở ngại trong quá trình phân tích và định giá. Đó là những khó khăn trong việc lựa chọn mô hình định giá, trong ước lượng tham số cho việc định giá hay các khó khăn khác phát sinh từ Chính phủ, các cơ quan quản lý nhà nước, các công ty chứng khoán và các nhà đầu tư. pháp lý và đặc biệt là chế độ kế toán. Khóa luận: Phân tích giá cổ phiếu chứng khoán tại Việt Nam
Trong các doanh nghiệp cần được định giá thì định giá các doanh nghiệp tăng trưởng có một tầm quan trọng hơn cả. Bản thân ban lãnh đạo của các doanh nghiệp này thường xuyên phải định giá lại cổ phiếu của doanh nghiệp để đưa ra những quyết định huy động vốn, sử dụng vốn hiệu quả nhằm duy trì tốc độ tăng trưởng đề ra, các ngân hàng cũng thường dễ dàng cho vay hơn với các doanh nghiệp tăng trưởng và nhà đầu tư cũng ưa thích đầu tư vào các doanh nghiệp tăng trưởng, vì vậy công tác phân tích và định giá cổ phiếu của doanh nghiệp tăng trưởng diễn ra thường xuyên hơn.
Phân tích và định giá cổ phiếu của các công ty tăng trưởng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Vì vậy, em đã chọn đề tài “Phân tích và định giá cổ phiếu của các công ty tăng trưởng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận của mình.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2. Mục đích nghiên cứu pháp lý và đặc biệt là chế độ kế toán. Khóa luận: Phân tích giá cổ phiếu chứng khoán tại Việt Nam
Mục đích nghiên cứu của khoá luận là nhằm tổng hợp các mô hình định giá cổ phiếu tăng trưởng, để từ đó lựa chọn mô hình phù hợp nhất với từng loại hình công ty tăng trưởng. Đồng thời nêu lên những khó khăn trong phân tích và định giá cổ phiếu tăng trưởng trên thị trường chứng khoán Việt Nam để từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị giúp cho việc phân tích, định giá chính xác và thuận lợi hơn; giúp cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư cũng như các ngân hàng có những quyết định đúng đắn nhất cho mục đích sử dụng vốn và huy động vốn, đầu tư hay cho vay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của khoán luận là các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của khoá luận xin phép tập trung vào giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2009 để từ đó định giá cổ phiếu tăng trưởng vào thời điểm tháng 4/2010; và khóa luận cũng xin phép được tập trung vào cổ phiếu của doanh nghiệp tăng trưởng nhanh – một trong sáu loại doanh nghiệp tăng trưởng: doanh nghiệp tăng trưởng chậm, doanh nghiệp vững mạnh, doanh nghiệp tăng trưởng nhanh, doanh nghiệp phát triển theo chu kỳ, doanh nghiệp đang trên đường đi xuống và doanh nghiệp có tài sản ngầm.
4. Phương pháp nghiên cứu pháp lý và đặc biệt là chế độ kế toán. Khóa luận: Phân tích giá cổ phiếu chứng khoán tại Việt Nam
Khoá luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu như mô tả, phân tích, thống kê, tổng hợp và đưa ra các ví dụ thực tế, từ đó làm sáng tỏ nội dung cần nghiên cứu.
5. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của khóa luận được bố cục trên ba chương:
Chương I: Khái quát chung về phân tích và định giá cổ phiếu tăng trưởng
Chương II: Phân tích và định giá cổ phiếu tăng trưởng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Chương III: Kiến nghị một số giải pháp để nâng cao khả năng phân tích và định giá cổ phiếu tăng trưởng
Do những hạn chế về trình độ, thời gian nghiên cứu và kinh nghiệm thực tế nên khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót. Em kính mong được sự chỉ dẫn, góp ý của các thầy, cô giáo.
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÂN TÍCH VÀ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU TĂNG TRƯỞNG
I. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY TĂNG TRƯỞNG pháp lý và đặc biệt là chế độ kế toán. Khóa luận: Phân tích giá cổ phiếu chứng khoán tại Việt Nam
1. Phân loại các công ty trên thị trường chứng khoán theo tốc độ tăng trưởng
Trong hoạt động phân tích và định giá cổ phiếu, có rất nhiều cách phân loại khác nhau, mỗi nhà phân tích và định giá cổ phiếu lại có một cách phân loại cho riêng mình. Đối với các nhà phân tích và định giá cổ phiếu tăng trưởng thì việc phân loại doanh nghiệp chủ yếu dựa vào tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp. Theo cách thức phân loại này, ta có thể phân loại các doanh nghiệp thành các nhóm sau:
1.1. Những doanh nghiệp tăng trưởng chậm
Thông thường thì người ta nghĩ rằng những công ty lớn, nổi tiếng và chiếm nhiều thị phần sẽ tăng trưởng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc dân. Nhưng thực tế thì không phải như vậy. Những công ty này ban đầu tăng trưởng rất nhanh nhưng sau một thời gian chúng sẽ tăng trưởng chậm lại và trở nên trì trệ hơn bởi một trong hai lý do: hoặc là chúng đã phát triển đến mức giới hạn, hoặc là chúng không còn năng động để nắm lấy các cơ hội. Bộ máy của các công ty này thường quá cồng kềnh và vận hành không hiệu quả, ban quản lý thiếu sự năng động, kém thích nghi với sự thay đổi của môi trường kinh doanh. Những công ty này thường hoạt động trong những ngành không tăng trưởng hoặc tăng trưởng chậm. Hoặc là hoạt động trong ngành có tốc độ tăng trưởng khá nhưng lại đang xuất hiện nhiều công ty cạnh tranh xuất hiện trên thị trường với những thế mạnh riêng và sự năng động đang dần chiếm lĩnh thị phần của các công ty đi trước.
1.2. Những doanh nghiệp vững mạnh
Đây là những doanh nghiệp có quy mô lớn, có thương hiệu nổi tiếng và đang đạt được tốc độ tăng trưởng khá nhờ ban quản trị năng động, hoạt động kinh doanh hiệu quả. Mặc dù những doanh nghiệp này không phải là những công ty có tốc độ tăng trưởng cao nhưng họ tăng trưởng nhanh hơn những doanh nghiệp tăng trưởng chậm.
Thông thường trong danh mục đầu tư của các nhà đầu tư lớn thường có cổ phiếu của các doanh nghiệp này nhờ tính thanh khoản cao và nó là công cụ bảo vệ tốt nhất trong những thời điểm khủng hoảng ngắn hạn hoặc khó khăn. Phần lớn những doanh nghiệp này hoạt động trong lĩnh vực hàng tiêu dùng hoặc những sản phẩm thiết yếu. Nhu cầu về những sản phẩm này không suy giảm hoặc là giảm rất ít trong thời kỳ nền kinh tế gặp khó khăn. Tuy nhiên khi nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao thì những lĩnh vực này cũng chỉ tăng trưởng với tốc độ ở mức trung bình.
1.3. Những doanh nghiệp tăng trưởng nhanh pháp lý và đặc biệt là chế độ kế toán. Khóa luận: Phân tích giá cổ phiếu chứng khoán tại Việt Nam
Đây thường là những doanh nghiệp mới, quy mô nhỏ và rất năng động, thường đạt được tốc độ tăng trưởng cao, tùy tình hình kinh tế mà dao động trong khoảng từ 25 đến 50% một năm; trong điều kiện kinh tế suy thoái thì tỷ lệ nỳ từ 15 đến 30%. Nếu nhà đầu tư có sự lựa chọn sáng suốt thì đây là những doanh nghiệp có tiềm năng tăng giá cổ phiếu rất lớn.
Một doanh nghiệp tăng trưởng nhanh mặc dù phần lớn là hoạt động trong những lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng cao, nhưng cũng có nhiều doanh nghiệp không nằm trong một lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng cao mà vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh. Có thể các doanh nghiệp này chỉ cần một phân khúc thị trường nhỏ trong các ngành công nghiệp chậm phát triển là cũng có thể đạt được tốc độ tăng trưởng cao. Họ là những doanh nghiệp rất năng động và hiệu quả, có lợi thế cạnh tranh cao nên lôi kéo thành công khách hàng của các doanh nghiệp khác.
Tuy nhiên cũng tồn tại một số rủi ro đối với các doanh nghiệp phát triển quá nóng này, nhất là khi những doanh nghiệp non trẻ, đầu tư quá mức trong khi không đủ tiềm lực tài chính. Hơn nữa các nhà đầu tư chuyên nghiệp thường không thích những công ty phát triển nhanh nhưng không còn đủ sức để duy trì tốc độ tăng trưởng cao và có nguy cơ tăng trưởng chậm. Khi điều này xảy ra thì giá cổ phiếu của doanh nghiệp đó sẽ giảm rất nhanh.
1.4. Những doanh nghiệp phát triển theo chu kỳ
Doanh nghiệp phát triển theo chu kỳ là những doanh nghiệp mà việc tăng hay giảm trong doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp tuân theo những quy luật ổn định, các nhà đầu tư chuyên nghiệp có thể dự báo được điều này. Trong một ngành tăng trưởng thì hoạt động kinh doanh sẽ liên tục mở rộng, nhưng trong một ngành công nghiệp tuần hoàn thì nó sẽ mở rộng rồi thu hẹp, sau đó lại mở rộng.
Những doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực như sản xuất ô tô, xây dựng, sản xuất thép, hoá chất… là những doanh nghiệp phát triển có tính chu kỳ. Khi nền kinh tế thoát khỏi khó khăn, các công ty này thường hoạt động rất tốt, giá cổ phiếu của chúng có xu hướng tăng nhanh hơn giá cổ phiếu của các công ty tăng trưởng vững mạnh. Nhưng nếu nhà đầu tư lựa chọn sai thời điểm trong chu kỳ tuần hoàn để mua cổ phiếu thì họ sẽ gặp phải nguy cơ giảm giá cổ phiếu rất lớn.
Cổ phiếu phát triển theo chu kỳ rất dễ tạo ra sự nhầm lẫn cho nhà đầu tư. Nếu nhà đầu tư không thận trọng sẽ tưởng đây là loại cổ phiếu an toàn và dễ dàng đầu tư vào đó. Bởi vì hầu hết những doanh nghiệp này đều rất lớn mạnh và danh tiếng, vì vậy nhà đầu tư thường xếp chúng vào nhóm những công ty vững mạnh.
1.5. Những doanh nghiệp đang trên đường đi xuống pháp lý và đặc biệt là chế độ kế toán. Khóa luận: Phân tích giá cổ phiếu chứng khoán tại Việt Nam
Những doanh nghiệp thuộc danh mục này có chung nhiều đặc điểm như hoạt động không hiệu quả, quản lý kém, trì trệ, có thể có nhiều bê bối… Đây không phải là những doanh nghiệp tăng trưởng chậm mà chúng là những doanh nghiệp không hề tăng trưởng. Những doanh nghiệp này khó mà phục hồi sau những khó khăn như những doanh nghiệp phát triển theo chu kỳ và thường phải đối mặt với những rủi ro tiềm tàng.
1.6. Những doanh nghiệp có tài sản ngầm
Đây là những doanh nghiệp sở hữu tài sản nào đó rất giá trị nhưng trong báo cáo tài chính có thể chưa phản ánh hoặc phản ánh không đúng giá trị tài sản này và phần lớn các nhà đầu tư không biết đến. Trong việc phát hiện cơ hội đầu tư vào những doanh nghiệp này thì những thông tin nội bộ là lợi thế lớn nhất.
Tài sản ngầm có thể biểu hiện dưới dạng bất động sản, kim loại, dầu mỏ, các loại thuốc được cấp bằng phát minh sáng chế… Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, rất nhiều doanh nghiệp Nhà nước khi cổ phần hoá, sở hữu rất nhiều bất động sản giá trị, nhưng do chế độ kế toán hiện hành chưa bắt buộc phải phản ánh giá trị quyền sử dụng đất vào bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp nên có nhiều bất động sản có giá trị lớn không được đưa vào bảng cân đối kế toán. Có nhiều nhà đầu tư nhanh nhạy biết được trước các nhà đầu tư khác và họ đã thu được những khoản lợi nhuận rất lớn từ khoản đầu tư của mình.
2. Khái niệm công ty tăng trưởng
Công ty tăng trưởng mà sinh viên muốn đề cập trong luận văn này chính là các công ty tăng trưởng nhanh, tức là những công ty được nhà đầu tư kỳ vọng sẽ có lợi nhuận sẽ tăng trưởng nhanh và bền vững trong tương lai để có thể nâng cao giá trị của công ty đó so với giá trị hiện tại đang được thị trường đánh giá. Vì vậy khi nhà đầu tư đầu tư vào cổ phiếu của các công ty này theo giá hiện tại sẽ kỳ vọng thu được lợi nhuận trong tương lai vì họ kỳ vọng rằng trong tương lai giá trị của các công ty đó sẽ được nâng lên và do đó thị trường sẽ đánh giá giá trị của công ty đó cao hơn mức giá hiện tại.
3. Các đặc điểm của công ty tăng trưởng pháp lý và đặc biệt là chế độ kế toán. Khóa luận: Phân tích giá cổ phiếu chứng khoán tại Việt Nam
Trong thực tế thì các công ty tăng trưởng nhanh rất đa dạng, chúng có đặc điểm chung là có tiềm năng tăng trưởng lớn, song về các yếu tố khác thì chúng không hẳn là theo một khuôn mẫu nhất định nào. Tuy nhiên phần lớn trong số đó sẽ hội tụ những đặc điểm chính sau:
3.1. Ngành nghề kinh doanh
Các công ty tăng trưởng nhanh hoặc là hoạt động trong một ngành có tốc độ tăng trưởng nhanh, hoặc là phát hiện và khai thác có hiệu quả một phân khúc thị trường còn bị bỏ ngỏ trong một ngành tăng trưởng chậm, hay có khả năng đưa ra những sản phẩm mới có lợi thế cạnh tranh vượt trội so với các đối thủ cạnh tranh trong ngành.
Ngành nghề kinh doanh có tốc độ tăng trưởng cao: sẽ có những nhiều doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao. Các doanh nghiệp này không cần có lợi thế cạnh tranh vượt trội và hiệu quả kinh doanh ở vị trí dẫn đầu mà có thể chỉcần hoạt động ở mức trung bình và giữ được thị phần của mình trong một ngành tăng trưởng cao thì cũng đã có thể đạt được thành tích tăng trưởng cao. Tuy nhiên nếu nhà đầu tư dự báo không tốt và đầu tư vào những doanh nghiệp này vào thời điểm ngành tăng trưởng này sắp bão hoà tức là thời điểm cuối của chu kỳ tăng trưởng của ngành thì mức giá mà nhà đầu tư đã bỏ ra để mua cổ phiếu của các công ty này trước đây với kỳ vọng sẽ duy trì được tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian dài thì nhà đầu tư có thể bị thua lỗ lớn. Hơn nữa những doanh nghiệp có thành tích hoạt động trung bình trong một ngành tăng trưởng nhanh có thể dễ bị tổn thương trong trường hợp ngành kinh doanh đó diễn biến không thuận lợi. Đối với nhà đầu tư không có nhiều kinh nghiệm và khả năng dự báo còn hạn chế thì chỉ nên đầu tư khi phát hiện được doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh và hiệu quả dẫn đầu ngành, hoạt động kinh doanh trong một ngành không phát triển theo chu kỳ (hoặc tính chu kỳ ở mức thấp) với mức giá hợp lý. pháp lý và đặc biệt là chế độ kế toán. Khóa luận: Phân tích giá cổ phiếu chứng khoán tại Việt Nam
Ngành có tốc độ tăng trưởng ở mức trung bình thậm chí là không tăng trưởng: Các công ty tăng trưởng hoạt động trong các ngành có thể là một doanh nghiệp năng động, đã xác định được một khoảng trống của thị trường hay là một phân khúc thị trường nào đó chưa được khai thác, và các công ty này thiết kế được những sản phẩm hay dịch vụ đáp ứng tốt, có hiệu quả phân khúc thị trường đó, điều đó sẽ mang lại sự tăng trưởng nhanh cho các công ty đó. Hoặc là những công ty đưa ra được những sản phẩm hay dịch vụ mới, có lợi thế vượ trội so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, do đó họ chiếm được thị phần của đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên, để duy trì được tốc độ tăng trưởng cao thì các công ty này phải thường xuyên nghiên cứu và đưa ra được những sản phẩm mới có lợi thế vượt trội, vì các sản phẩm mới có thể bị đối thủ cạnh tranh sao chép rất nhanh.
3.2. Về ban lãnh đạo
Để điều hành một doanh nghiệp thành công, ban lãnh đạo doanh nghiệp phải là những người có tâm huyết, gắn bó với doanh nghiệp, nhất là những lúc mà doanh nghiệp phải trải qua những giai đoạn phát triển khó khăn. Nếu ban lãnh đạo không tâm huyết với doanh nghiệp thì rất khó có thể chèo lái doanh nghiệp vượt qua được những khó khăn trở ngại và vì một động cơ nào đó, có thể đưa ra những quyết định không đảm bảo quyền lợi cho cổ đông. Thông thường, nếu ban lãnh đạo yêu ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời là những nhà sáng lập và nắm giữ một số lượng cổ phần đủ lớn thì sẽ tâm huyết với doanh nghiệp hơn là những nhà lãnh đạo chỉ được thuê để làm công việc đó. Vì khi là nhà sáng lập thì ban lãnh đạo xem doanh nghiệp như là đứa con tinh thần của mình nên sự phát triển của nó rất quan trọng đối với họ.
Kinh nghiệm chuyên môn và kinh nghiệm quản lý cũng đóng va i trò rất quan trọng đối với sự thành công của một nhà lãnh đạo doanh nghiệp. Các nhà đầu tư thường đánh giá cao những người có nhiều năm kinh nghiệm về chuyên môn và quản lý trong ngành.
Ngoài các yếu tố về tâm huyết và kinh nghiệm một nhà lãnh đạo thành công còn cần phải có tư duy chiến lược, sự sáng tạo và đổi mới, biết cách thu hút và khai thác nhân tài, và có tham vọng lớn. Tư duy chiến lược sẽ giúp định hướng doanh nghiệp phát triển đúng hướng trong dài hạn, tận dụng được các cơ hội và khai thác được tối đa thế mạnh của mình. Sự sáng tạo và đổi mới sẽ giúp cho doanh nghiệp phát triển năng động hơn, có khả năng thích nghi cao với sự thay đổi của môi trường kinh doanh, nhạy bén trong việc nhận biết và khai thác cơ hội. Khả năng thu hút và khai thác nhân tài sẽ giúp cho doanh nghiệp có lợi thế hơn đối với các doanh nghiệp khác trong ngành và luôn có chi phí lao động thấp so với giá trị mà đội ngũ lao động mang lại. Và cuối cùng là một ban lãnh đạo có tham vọng sẽ luôn tìm mọi cách để doanh nghiệp phát triển nhanh và có hiệu quả, chiến thắng trong cạnh tranh, tăng trưởng về thị phần.
3.3. Về quy mô hoạt động pháp lý và đặc biệt là chế độ kế toán. Khóa luận: Phân tích giá cổ phiếu chứng khoán tại Việt Nam
Về mặt lý thuyết thì chu kỳ phát triển của một doanh nghiệp thường trải qua bốn giai đoạn đó là khởi đầu, tăng trưởng, bão hoà và suy thoái. Trong thực tế thì mõi doanh nghiệp có tuổi đời khác nhau, có thời gian của mỗi giai đoạn khác nhau và có thể chỉ trải qua một vài giai đoạn trong toàn bộ chu kỳ đó. Như vậy, những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, đang trong giai đoạn tăng trưởng sẽ đạt được tốc độ tăng trưởng cao hơn những doanh nghiệp có quy mô lớn và đi vào giai đoạn bão hoà.
Nếu đánh giá chung thì những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ thường có tốc độ tăng trưởng cao hơn các doanh nghiệp lớn. Nguyên onhân là do các doanh nghiệp lớn thường có quy mô khá cồng kềnh, trì trệ, kém năng động. Các doanh nghiệp này thường là đã chiếm một thị phần tương đối lớn và do vậy nó không có đất để có thể phát triển với tốc độ cao. Muốn đạt được tốc độ tăng trưởng cao, các doanh nghiệp này phải mở rộng, xâm nhập được thị trường mới, hoặc có sản phẩm vượt trội so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh để có thể chiếm lĩnh thị phần, hoặc có sản phẩm mới hứa hẹn mang lại doanh thu lớn để đảm bảo cho sự tăng trưởng của doanh nghiệp.
Ngược lại với các doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường là những doanh nghiệp năng động hơn. Các doanh nghiệp này thường mới phát hiện được một khoảng trống, một phân khúc thị trường có nhiều tiềm năng và họ đang cố gắng để đáp ứng tốt nhu cầu của phân khúc thị trường đó. Vì vậy họ có thị trường để đảm bảo duy trì được tốc độ tăng trưởng cao trong một thời gian.
3.4. Về khả năng cạnh tranh
Để đánh giá khả năng cạnh tranh thành công của một doanh nghiệp chúng ta sẽ đánh giá cả hai mặt của cạnh tranh đó là áp lực cạnh tranh của ngành và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Về áp lực cạnh tranh của ngành: phụ thuộc vào mức độ độc quyền của ngành, các rào cản gia nhập ngành cao hay thấp. Nếu một ngành có mức độ độc quyền cao và rào cản gia nhập ngành cao thì doanh nghiệp đó có thể thu được lợi nhuận độc quyền nhờ khả năng định giá độc quyền, và các rủi ro xuất phát từ nguyên nhân cạnh tranh sẽ rất thấp. Đối với những doanh nghiệp này thì tốc độ tăng trưởng của họ phụ thuộc chủ yếu vào tốc độ phát triển của ngành.
Về lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp: phụ thuộc vào các yếu tố như: Chất lượng sản phẩm, giá, tính độc đáo của sản phẩm và thương hiệu của doanh nghiệp. Để có thể chiến thắng trong cạnh tranh, duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn, sản phẩm của doanh nghiệp phải có chất lượng vượt trội, được bán với giá tương đối thấp so với chất lượng mà nó mang lại, và nó phải có tính độc đáo, không thể bị nhầm lẫn với các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, đáp ứng được tốt nhất nhu cầu của khách hàng mục tiêu so với sản phẩm của đối thủ. Ngoài ra, một doanh nghiệp sở hữu một thương hiệu nổi tiếng cũng có lợi thế cạnh tranh nhất định, nhất là đối với những ngành mà sản phẩm của các công ty tương đối đồng nhất, khách hàng rất khó đánh giá và so sánh chất lượng sản phẩm của các công ty khác nhau, thì lúc đó thương hiệu của sản phẩm là rất quan trọng vì khách hàng lựa chọn sản phẩm chủ yếu dựa vào uy tín của doanh nghiệp và thương hiệu của sản phẩm.
Như vậy có thể nói để đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong một thời gian tương đối dài thì doanh nghiệp hoặc là phải hoạt động trong một ngành kinh doanh có rào cản gia nhập ngành tương đối lớn và có tốc độ tăng trưởng cao.
3.5. Về chiến lược kinh doanh pháp lý và đặc biệt là chế độ kế toán. Khóa luận: Phân tích giá cổ phiếu chứng khoán tại Việt Nam
Trong một môi trường kinh doanh thay đổi ngày càng nhanh chóng, tốc độ xuất hiện các cơ hội và nguy cơ cũng nhanh hơn đối với các doanh nghiệp. Vì vậy để doanh nghiệp đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn thì doanh nghiệp phải xây dựng cho mình được một chiến lược kinh doanh phù hợp để đón đầu các cơ hội và có biện pháp đẩy lùi các nguy cơ. Một chiến lược đúng đắn và phù hợp phải đảm bảo được khả năng phát huy tối đa lợi thế, điểm mạnh của doanh nghiệp mình và khắc phục được những điểm yếu đang tồn tại.
Về cơ bản, khi xây dựng chiến lược kinh doanh, các nhà xây dựng chiến lược cần trả lời được các câu hỏi sau:
- Phương hướng phát triển trong dài hạn, tức là mục tiêu mà doanh nghiệp sẽ vươn tới trong dài hạn là ở đâu;
- Thị trường và phạm vi thị trường mà doanh nghiệp sẽ tham gia. Doanh nghiệp phải cạnh tranh trên thị trường nào và những hoạt động nào mà doanh nghiệp cần phải thực hiện để tham gia trên thị trường đó;
- Lợi thế của doanh nghiệp là ở đâu và làm thế nào để doanh nghiệp phát huy nó? Tức là doanh nghiệp làm thế nào để hoạt động tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường đó;
- Những nguồn lực nào (kỹ năng, tài sản, tài chính, các mối quan hệ, năng lực kỹ thuật, trang thiết bị…) cần phải có để có thể cạnh tranh được;
- Những nhân tố từ môi trường bên ngoài ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp;
- Những giá trị và kỳ vọng mà các cổ đông của doanh nghiệp cần là
Quá trình xây dựng và thực hiện chiến lược bao gồm phân tích chiến lược, lựa chọn chiến lược và thực hiện chiến lược.
Để phân tích và đánh giá chiến lược của một doanh nghiệp có phù hợp hay không nhà đầu tư có thể thu thập thông tin từ các nguồn như bản cáo bạch, trang web của doanh nghiệp… Ở đó sẽ nêu rõ về môi trường hoạt động kinh doanh, điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp và chiến lược phát triển trong dài hạn của doanh nghiệp. Nhà đầu tư phải đưa ra được đánh giá của mình về tính khả thi của chiến lược và khả năng thực hiện chiến lược đó của doanh nghiệp để từ đó đưa ra các dự báo hỗ trợ cho công tác định giá doanh nghiệp của nhà đầu tư.
Khi đánh giá chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, nhà đầu tư cần cảnh giác với những doanh nghiệp có chiến lược đa dạng hoá quá mức, không tập trung vào những lĩnh vực ngành nghề mà mình có thế mạnh và kinh nghiệm. Khi đó khả năng cạnh tranh của nó thường có xu hướng giảm sút và khó đi tới thành công. Việc đa dạng hoá kinh doanh quá mức có thể là hệ quả của việc xây dựng chiến lược thiếu thận trọng, chạy theo lợi nhuận trước mắt nhưng không ý thức được đầy đủ những rủi ro có thể xảy ra và cũng có thể là xuất phát từ tham vọng bành trướng của ban lãnh đạo doanh nghiệp không xuất phát từ động cơ tối đa hoá lợi ích cho cổ đông.
Như vậy có thể nói để duy trì được tốc độ tăng trưởng trong dài hạn thì doanh nghiệp phải có được một chiến lược kinh doanh khả thi, đảm bảo mức tăng trưởng cao hàng năm, được xây dựng trên những nguồn lực hiện có của doanh nghiệp và dự báo tốt về những thay đổi của môi trường kinh doanh.
3.6. Về các chỉ tiêu tài chính
Mặc dù các chỉ tiêu tài chính của một công ty phụ thuộc vào đặc điểm của ngành nghề kinh doanh, quy mô hoạt động của doanh nghiệp, các giai đoạn phát triển trong chu kỳ hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp… nên không thể đưa ra những đặc trưng mang tính cụ thể về các chỉ tiêu tài chính của các doanh nghiệp tăng trưởng nhanh. Tuy nhiên khi đặt các doanh nghiệp tăng trưởng nhanh với các doanh nghiệp có cùng điều kiện để so sánh thì các doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng nhanh sẽ có các chỉ tiêu tài chính có xu hướng như sau:
- Nhóm các chỉ tiêu phản ánh tốc độ tăng trưởng: Như phần trên đã nêu về khái niệm của công ty tăng trưởng, đây là những doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao về doanh thu, lợi nhuận, quy mô tài sản… Nếu các chỉ tiêu này được duy trì trong cả những thời gian mà môi trường kinh doanh của công ty gặp khó khăn thì mức độ bền vững của sự tăng trưởng sẽ cao hơn. Tuy nhiên đây là số liệu tăng trưởng trong quá khứ, để duy trì được tốc độ tăng trưởng trong tương lai doanh nghiệp cần phải có mức đầu tư hợp lý và khả năng mở rộng thị trường, phát triển sản phẩm mới… pháp lý và đặc biệt là chế độ kế toán. Khóa luận: Phân tích giá cổ phiếu chứng khoán tại Việt Nam
- Nhóm các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán: Do các doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao thường cần một lượng vốn tái đầu tư hàng năm lớn, do đó tiền mặt dự trữ thường không nhiều, nhu cầu vốn lớn có thể dẫn tới mức độ vay vốn cao hơn mức trung bình. Vì vậy các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán của các doanh nghiệp này thường không cao, tuy nhiên đối với các doanh nghiệp có chỉ số này thấp quá thì ca cơ sở rủi ro như rủi ro thanh toán, rủi do do biến động lãi suất… là rất lớn.
- Nhóm các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu tài sản và nguồn vốn: Vớ i nhóm chỉ tiêu này thì các doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao và các doanh nghiệp bình thường không có sự khác biệt lớn nào. Nếu doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao mà nguồn vốn tài trợ cho việc đầu tư lại chủ yếu dựa vào vốn vay chứ không phải dựa vào lợi nhuận tích luỹ thì trong cơ cấu nguồn vốn thường nguồn vốn vay có tỷ trọng lớn và rủi ro hoạt động của doanh nghiệp này sẽ cao.
- Nhóm các chỉ tiêu phản ánh hiệu suất hoạt động: Doanh nghiệp tăng trưởng cao thường có các chỉ tiêu này rất tốt. Nhờ có khả năng khai thác tốt các tài sản của mình nên các doanh nghiệp này thường có giá thành thấp, khả năng cạnh tranh cao. Các chỉ tiêu như vòng quay của tổng tài sản, vòng quay hàng tồn kho, vòng quay các khoản phải thu, tỷ lệ doanh thu trên tài sản cố định… thường rất cao. Các chỉ tiêu này cũng phản ánh rất tốt khả năng điều hành của ban lãnh đạo doanh nghiệp.
- Nhóm các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi của doanh nghiệp: Để một doanh nghiệp đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh thì nó phải tạo ra được một nguồn tiền mặt hàng năm lớn để tài trợ cho các hoạt động đầu tư của mình. Vì vậy chỉ có những doanh nghiệp có khả năng sinh lợi cao mới đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh. Do đó các chỉ tiêu như tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu, tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản, tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu… của các doanh nghiệp tăng trưởng thường khá cao.
- Nhóm các chỉ tiêu đánh giá tính cho mỗi cổ phần: Do khả năng sinh lợi cao nên chỉ tiêu thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS) của các doanh nghiệp này thường khá cao. Hơn nữa do có tốc độ tăng trưởng cao nên nhà đầu tư thường đặt kỳ vọng rất lớn và cổ phiếu của các doanh nghiệp này nên nó thường được giao dịch ở mức giá khá cao do đó chỉ tiêu giá trên thu nhập (P/E) thường cao. Tuy nhiên nếu mua cổ phiếu có chỉ tiêu P/E quá cao nhà đầu tư có thể gặp phải rủi ro lớn và mức sinh lời cũng thấp do thị trường đã đánh giá cao tiềm năng phát triển của doanh nghiệp đó vì vậy cơ hội mua cổ phiếu ở mức giá rẻ là không còn. Nhà đầu tư cần tìm kiếm những công ty có tiềm năng tăng trưởng cao, tuy nhiên chưa được thị trường nhận biết, do đó nó vẫn được giao dịch ở mức P/E thấp. Ngoài ra, chỉ tiêu hệ số giá trị trường trên giá trị sổ sách (P/B) của các doanh nghiệp này thường cao. Còn tỷ suất cổ tức trên giá thị trường (D/P) thường thấp do các doanh nghiệp này thường dùng phàn lớn lợi nhuận thu được để tái đầu tư, nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng, còn lợi nhuận dành cho việc chi trả cổ tức thường là thấp.
II. CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH VÀ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU TĂNG TRƯỞNG pháp lý và đặc biệt là chế độ kế toán. Khóa luận: Phân tích giá cổ phiếu chứng khoán tại Việt Nam
1. Các nhân tố chính ảnh hưởng đến biến động giá cổ phiếu của các công ty trên thị trường chứng khoán
1.1. Các nhân tố vĩ mô
1.1.1. Tình hình chính trị
Tình hình chính trị của một quốc gia có ảnh hưởng rất lớn đến thị trường chứng khoán. Các yếu tố chính trị bao gồm những thay đổi về Chính phủ và các hoạt động chính trị. Ví dụ như khi Chính phủ đưa ra những kiến nghị với Quốc hội thì thị trường chứng khoán sẽ chịu tác động trừ khi những kiến nghị đó đã được dự đoán chính xác trước. Những kiến nghị này có thể là về sửa đổi chính sách kinh tế, chính sách thuế, chi tiêu ngân sách, quốc phòng, các kế hoạch xây dựng lớn… Chi riêng kế hoạch chi tiêu ngân sách cũng đủ để tác động đến rất nhiều ngành nghề liên quan.
Thay đổi chính trị cũng làm cho nhiều quy định và sự kiểm soát c ủa Chính phủ trong một số ngành được thắt chặt và một số quy định trong các ngành khác lại được nới lỏng. Chúng đều có tác động rất lớn tới kết quả kinh doanh của mỗi ngành, mỗi công ty.
1.1.2. Môi trường pháp luật
Môi trường pháp luật cũng là yếu tố cơ bản gây tác động tới thị trường chứng khoán. Các cơ quan Chính phủ tác động tới thị trường chứng khoán bằng luật. Chẳng hạn, những quy định về giá cả dịch vụ sẽ gây tác động trực tiếp tới ngành dịch vụ công cộng. Luật chống độc quyền thường làm giảm giá chứng khoán của các công ty bị điều chỉnh bởi nó. Luạt thâu tóm sáp nhập công ty có thể gây tác động tiêu cực haytích cực đến một nhóm các công ty. Chính sách tiền tệ tín dụng của Ngân hàng Trung ương có thể gây tác động to lớn đến thị trường… Do vậy môi trường pháp lý cần được xem xét theo các góc độ như: pháp lý và đặc biệt là chế độ kế toán. Khóa luận: Phân tích giá cổ phiếu chứng khoán tại Việt Nam
- Hệ thống hành lang pháp lý của thị trường chứng khoán được xây dựng như thế nào? Có đủ để bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhà đầu tư hay không?
- Các luật pháp liên quan có trùng chéo, mâu thuẫn không?
- Khả năng thực thi pháp luật thế nào?
- Những mặt khuyến khích, ưu đãi và hạn chế được quy định trong hệ thống pháp luật.
- Sự ổn định của hệ thống pháp luật, khả năng sửa đổi và ảnh hưởng của chúng đến thị trường chứng khoán.
1.1.3. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), là tổng giá trị sản phẩm hàng hoá dịch vụ cuối cùng của nền kinh tế. Tốc độ tăng trưởng GDP nhanh thể hiện một nền kinh tế phát triển, tạo nhiều cơ hội cho các công ty tăng doanh số bán hàng. Đây là đầu ra của nền kinh tế và là sản lượng sản xuất của nền kinh tế.
1.1.4. Tỷ giá hối đoái
Khi nhà đầu tư nhận định rằng đồng nội tệ có thể bị phá giá trong thời gian tới thì nhà đầu tư đó sẽ quyết định không đầu tư vào chứng khoán hoặc sẽ tìm cách thay thế chứng khoán bằng tài sản ngoại tệ vì chứng khoán chính là tiền, nếu tiền mất giá thì giá trị chứng khoán sẽ bị giảm. Nếu được phép đầu tư ra thị trường nước ngoài thì có thể nhà đầu tư này sẽ chuyển vốn ra đầu tư ở nước ngoài.
1.1.5. Lạm phát và lãi suất pháp lý và đặc biệt là chế độ kế toán. Khóa luận: Phân tích giá cổ phiếu chứng khoán tại Việt Nam
Đây là hai nhân tố rất quan trọng gây ảnh hưởng lớn tới quyết định đầu tư vào thị trường chứng khoán. Lạm phát dẫn đến sự khác nhau giữa lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực, thay đổi hành vi tiêu dùng và tiết kiệm của dân cư và doanh nghiệp. Thêm vào đó, sự thay đổi không mong đợi của tỷ lệ lạm phát sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch, ngăn cản sự tăng trưởng và đổi mới của doanh nghiệp. Không những thế, tỷ lệ lãi suất và tỷ lệ lạm phát khác nhau còn tác động đến các khâu thanh toán giữa các nước và tỷ giá hối đoái.
Lãi suất tác động đến chi phí vốn và lãi suất yêu cầu của nhà đầu tư khi đầu tư vào chứng khoán do đó nó tác động trực tiếp tới giá chứng khoán, tuy nhiên mối quan hệ này không hoàn toàn diễn ra một chiều. Nếu xét trên phương diện tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đơn thuần thì có thể xảy ra một số trường hợp sau:
- Nếu lãi suất tăng lên do lạm phát thì giá hàng hoá bán ra của các công ty có thể tăng cùng với lạm phát do chi phí đầu vào tăng. Điều này dẫn đến thu nhập của công ty cũng tăng lên. Do vậy giá cổ phiếu trong trường hợp này có thể giữ ổn định vì tuy lãi suất chiết khấu tăng lên nhưng dòng thu nhập cũng tăng theo, hai nhân tố này bù đắp cho nhau và giữ cho giá cổ phiếu ổn định hoặc thậm chí tăng.
- Nếu lãi suất tăng nhưng các dòng thu nhập tương lai của công ty tăng không nhiều vì các công ty không có khả năng tăng giá kịp với lạm phát thì trong trường hợp này giá cổ phiếu sẽ giảm xuống.
- Lãi suất tăng nhưng giá trị các dòng thu nhập tương lai của công ty giảm vì các nhân tố làm lãi suất tăng lại đồng thời gây tác động đến thu nhập. Chẳng hạn, công ty phải huy động vốn với lãi suất cao do cạnh tranh vốn lớn, song đến khi hàng hoá được sản xuất và bán ra thì lại gặp sự cạnh tranh gay gắt, trong khi sức mua có hạn. Điều này có thể dẫn đến giảm giá hàng hoá trong khi chi phí đầu vào vẫn tăng, do vậy thu nhập của công ty giảm sút.
Tuy nhiên, thông thường khi lạm phát và lãi suất cao thì Chính phủ sẽ áp dụng chính sách tín dụng và tiền tệ thắt chặt để kiềm chế lạm phát, do đó tiền trong lưu thông sẽ ít đi, nguồn vốn đầu tư vào thị trường chứng khoán do đó cũng sẽ bị ảnh hưởng, thậm chí là ảnh hưởng rất mạnh, cộng với yếu tố tâm lý bất án khi các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế bất ổn thì nhà đầu tư có xu hướng chuyển kênh đầu tư sang vàng và bất động sản. Tình hình này sẽ dẫn đến sự sụt giảm mạnh của thị trường chứng khoán.
1.1.6. Thâm hụt ngân sách pháp lý và đặc biệt là chế độ kế toán. Khóa luận: Phân tích giá cổ phiếu chứng khoán tại Việt Nam
Bất kỳ sự thâm hụt ngân sách nào đều phải được bù đắp bằng các khoản vay của Chính phủ.Giá trị các khoản vay của Chính phủ càng lớn sẽ càng có tác động để làm tăng lãi suất chuẩn. Các khoản vay của Chính phủ quá lớn sẽ cản trở việc vay nợ và đầu tư cá nhân do lãi suất và bóp nghẹt việc đầu tư kinh doanh.
1.1.7. Cung ứng tiền tệ và chi tiêu của người tiêu dùng
Một chính sách tiền tệ thắt chặt với tốc độ cung tiền giảm sẽ làm giảm việc cung cấp vốn lưu động và sẽ hạn chế việc mở rộng sản xuất kinh doanh đối với tất cả các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, một chính sách tiền tệ thắt chặt với lãi suất định trước có thể làm tăng lãi suất thị trường và do vậy chi phí của các công ty sẽ tăng. Còn đối với các cá nhân thì việc vay vốn để mua nhà hay các hàng hoá lâu bền như ô tô và thiết bị sẽ trở nên đắt đỏ hơn. Do đó, chính sách tiền tệ tác động đến tất cả các bộ phận của một nền kinh tế. Và do vậy nó tác động đến thị trường chứng khoán trên cả hai phương diện đó là tác động thông qua tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và tác động thông qua lượng tiền trong túi của các nhà đầu tư sẵn sàng đầu tư vào thị trường chứng khoán.
1.1.8. Thái độ, tâm lý
Thái độ và tâm lý, sự lạc quan hay bi quan với nền kinh tế của người tiêu dùng và nhà sản xuất là yếu tố quyết định đến nền kinh tế. Ví dụ, nếu người tiêu dùng biết mức thu nhập của mình trong tương lai sẽ tăng thì họ sẵn sàng chỉ tiêu cho các khoản tiêu dùng có giá trị lớn. Cũng tương tự như vậy, các doanh nghiệp sẽ tăng sản lượng nếu họ đoán trước được sẽ có một nhu cầu rất lớn về sản phẩm của mình.
Đặc biệt tâm lý lạc quan hay bi quan của các nhà đầu tư có ảnh hưởng cực kỳ lớn nếu không muốn nói là quyết định đến giá cổ phiếu, đặc biệt là đối với những thị trường còn non trẻ như ở Việt Nam, nơi mà trình độ của nhà đầu tư còn nhiều hạn chế, chiến lược đầu tư chủ yếu là ngắn hạn nên quyết định đầu tư chịu ảnh hưởng nhiều bởi tâm lý đám đông.
1.2. Các nhân tố thuộc về ngành kinh tế pháp lý và đặc biệt là chế độ kế toán. Khóa luận: Phân tích giá cổ phiếu chứng khoán tại Việt Nam
1.2.1. Tốc độ tăng trưởng của ngành
Tốc độ tăng trưởng của một doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào tốc độ phát triển của ngành mà doanh nghiệp đó hoạt động. Nếu một doanh nghiệp hoạt động trong một ngành đang đi xuống thì doanh nghiệp đó rất khó để có thể tăng trưởng ở mức cao. Vì để đạt được điều đó thì nó phải chiếm được thị phần của các doanh nghiệp khác với tốc độ cao hơn tốc độ suy giảm của ngành. Nếu một doanh nghiệp hoạt động trong một ngành không tăng trưởng thì để doanh nghiệp hoạt động trong ngành đó tăng trưởng nó cũng phải có lợi thế cạnh tranh hơn hẳn các đối thủ cạnh tranh để chiếm lĩnh thị phần. Còn nếu một doanh nghiệp hoạt động trong một ngành có tốc độ tăng trưởng cao thì chỉ cần giữ vững thị phần c ủa nó là cũng có thể đạt được tốc độ tăng trưởng cao rồi.
1.2.2. Chu kỳ kinh doanh của ngành
Những doanh nghiệp hoạt động trong những ngành có chu kỳ phát triển rõ rệt thường được gọi là các doanh nghiệp chu kỳ. Những doanh nghiệp này có sự phát triển theo chu kỳ rất rõ nét, ví dụ như các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất ô tô, sắt thép, xây dựng, bất động sản… Khi đầu tư vào những doanh nghiệp trong các lĩnh vực này chúng ta phải biết được thời điểm chúng ta đầu tư đang là giai đoạn nào trong chu kỳ phát triển của ngành đó. Nếu chúng ta đầu tư vào thời điểm bắt đầu đi lên của ngành thì lợi nhuận thu được là rất lớn. Tuy nhiên nếu lựa chọn sai thời điểm thì rủi ro cũng rất cao.
Mặc dù vậy, có một số ngành kinh doanh ít biến động theo chu kỳ, các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành này khá ổn định, ví dụ như ngành sản xuất hàng tiêu dùng thiết yếu, dược phẩm, đào tạo, năng lượng…
1.2.3. Mức độ độc quyền của ngành pháp lý và đặc biệt là chế độ kế toán. Khóa luận: Phân tích giá cổ phiếu chứng khoán tại Việt Nam
Đối với những ngành nghề có tính độc quyền cao, rào cản để các doanh nghiệp khác gia nhập ngành lớn thì các doanh nghiệp trong ngành đó sẽ thu được lợi nhuận lớn. Ngược lại đối với những ngành nghề mà các rào cản gia nhập ngành thấp, khi môi trường kinh doanh trong ngành đó hấp dẫn thì sẽ lôi cuốn các doanh nghiệp khác vào kinh doanh, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành sẽ ngày càng tăng và do đó mà lợi nhuận của các doanh nghiệp sẽ giảm.
Như vậy mức độ độc quyền của ngành sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của các doanh nghiệp hoạt động trong ngành đó và do đó ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các doanh nghiệp đó. Những ngành càng có tính độc quyền cao, rào cản gia nhập ngành càng lớn thì giá cổ phiếu của các doanh nghiệp trong ngành đó càng cao và ngược lại.
Có nhiều mức độ độc quyền khác nhau và nguyên nhân dẫn đến độc quyền cũng rất đa dạng. Nếu là độc quyền tự nhiên thì thường là do ngành kinh doanh đó cho phép các doanh nghiệp hoạt động trong đó đạt được thu nhập tăng theo quy mô, tức là khi quy mô tăng lên thì mức lợi nhuận thu được trên mỗi sản phẩm sẽ tăng lên. Nếu là độc quyền thường thì do nhiều nguyên nhân, nhưng có thể là do một hay một số nguyên nhân như: Chính phủ nhượng quyền khai thác một thị trường nào đó; chế độ bản quyền đối với phát minh sáng chế và sở hữu trí tuệ; do sở hữu được một nguồn lực rất khan hiếm…
1.2.4. Mức độ rủi ro của ngành
Mức độ rủi ro của ngành sẽ ảnh hưởng đến mức độ rủi ro trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp do đó nó sẽ ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các doanh nghiệp trong ngành đó. Có thể phân các ngành kinh doanh thành ngành có mức độ rủi ro cao, ngành có mức độ rủi ro trung bình và ngành có mức độ rủi ro thấp.
- Các ngành có mức độ rủi ro cao là những ngành có rủi ro đặc thù lớn hoặc là những ngành rất nhạy cảm với sự biến động của nền kinh tế nói chung ví dụ như ngành bất động sản, du lịch, sân golf, sòng bạc, ngành nghiên cứu và ứng dụng công nghệ cao, ngành sản xuất xe hơi, ngành nông nghiệp…
- Các ngành có mức độ rủi ro trung bình là những ngành có mức độ rủi rod dặc thù vừa phải và không quá nhạy cảm với những biến động của nền kinh tế như ngành ngân hàng, năng lượng, xây dựng, giao thông vận tải, viễn thông…
- Các ngành có mức độ rủi ro thấp là những ngành ít có những rủi ro đặc thù và ít nhạy cảm với những biến động của nền kinh tế như ngành sản xuất hàng tiêu dùng thiết yếu, ngành y tế, giáo dục đào tạo, ngành điện, nước…
1.3. Các nhân tố nội tại của doanh nghiệp pháp lý và đặc biệt là chế độ kế toán. Khóa luận: Phân tích giá cổ phiếu chứng khoán tại Việt Nam
1.3.1. Các yếu tố định tính
Ban lãnh đạo doanh nghiệp
Có thể nói ban lãnh đạo là linh hồn của doanh nghiệp do vậy khả năng và tâm huyết của ban lãnh đạo ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại va fpt của doanh nghiệp. Tuy nhiên việc đánh giá khả năng và tâm huyết của ban lãnh đạo không hề đơn giản, sau đây là những khía cạnh mà nhà đầu tư nên tập trung đánh giá về ban lãnh đạo:
- Trình độ, kinh nghiệm: bao gồm cả trình độ về chuyên môn và trình độ quản lý, kinh nghiệm làm việc và quản lý trong ngành.
- Mức độ tâm huyết với doanh nghiệp của ban lãnh đạo: Đây là yếu tố không dễ đánh giá, tuy nhiên nhà đầu tư nên nhìn trên hai góc độ là tình yêu nghề nghiệp của họ và vai trò, thời gian gắn bó của họ đối với doanh nghiệp trong quá trình phát triển.
- Khả năng đặt lợi ích của cổ đông lên trên hết trong các quyết định điều hành hoạt động kinh doanh: Sự xung đột lợi ích giữa cổ đông và ban lãnh đạo tồn tại khá nhiều, nhất là trong các doanh nghiệp lớn, nơi tỷ lệ nắm giữ cổ phần của ban lãnh đạo thường thấp. Vì vậy trong điều hành hoạt động kinh doanh ban lãnh đạo có thể đưa ra những quyết định hướng đến lợi ích kinh tế và quyền lực của họ nhiều hơn lợi ích của cổ đông. Vì vậy trong các doanh nghiệp mà tỷ lệ nắm giữ cổ phần của ban lãnh đạo thấp thì việc thiết lập một cơ chế kiểm soát của hội đồng quản trị, cơ chế khen thưởng và kỷ luật tối đối với ban lãnh đạo là rất quan trọng.
Uy tín của doanh nghiệp và thương hiệu
Uy tín và thương hiệu là tài sản vô hình của doanh nghiệp, tuy nhiên nếu nó chưa được định giá và hạch toán và bảng cân đối kế toán thì nó sẽ là nhân tố làm tăng giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp.
Uy tín của doanh nghiệp nói chung là sự tin tưởng, là niềm tin của khách hàng đối với doanh nghiệp. Khi khách hàng có sự tin tưởng đối với doanh nghiệp thì khách hàng thường lựa chọn sử dụng các sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp đó. Nhờ vậy mà công cuộc kinh doanh của doanh nghiệp có được sự phát triển vững chắc nhờ doanh nghiệp có được chỗ đứng tốt trong lòng khách hàng.
Thương hiệu của các dòng sản phẩm cụ thể:
Theo Jack Trout và Steve Rivkin thì “Thương hiệu là một cam kết tuyệt đối về chất lượng, dịch vụ và giá trị trong một thời gian dài được chứng nhận qua hiệu quả sử dụng và bởi sự thoả mãn của khách hàng. Thương hiệu là hình ảnh có tính chất văn hoá, lý tính, cảm tính, trực quan và độc quyền mà bạn liên tưởng tới khi nhắc đến một sản phẩm hay một công ty”.
Như vậy, có thể nói rằng thương hiệu sản phẩm là nhãn hiệu của sản phẩm đã được doanh nghiệp “thổi” vào đó một “linh hồn” sống động, có cá tính, có niềm tin nhất quán, có ấn tượng và cảm nhận tốt về sản phẩm về công ty.
Văn hoá doanh nghiệp
Văn hoá doanh nghiệp chính là tài sản vô hình của mỗi doanh nghiệp, góp phần tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp. Có thể hiểu văn hoá doanh nghiệp là hệ thống các giá trị đặc trưng được xây dựng nên và gìn giữ trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở thành các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp ấy và tạo thành hệ thống các chuẩn mực về tinh thần và vật chất chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và các mối quan hệ, thái độ và hành vi ứng xử của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục tiêu đã đề ra.
1.3.2. Các hệ số tài chính pháp lý và đặc biệt là chế độ kế toán. Khóa luận: Phân tích giá cổ phiếu chứng khoán tại Việt Nam
Các hệ số và chỉ tiêu tài chính giúp nhà đầu tư biết được tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty trong quá khứ và hiện tại cũng như biết được tình hình tài chính hiện tại của doanh nghiệp như thế nào. Qua đó nhà đầu tư có thể kết hợp với môi trường kinh tế vĩ mô và môi trường kinh doanh của ngành để dự báo sự phát triển trong tương lai của doanh nghiệp. Từ đó nhà đầu tư có thể xác định giá trị của doanh nghiệp dựa trên những giả định mà mình đưa ra. Các hệ số tài chính của một doanh nghiệp có thể được phân thành các nhóm như sau:
Nhóm các hệ số phản ánh khả năng thanh toán
Các hệ số về khả năng thanh toán cho biết khả năng của một doanh nghiệp trong việc thanh toán các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn. Chúng so sánh các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn như nợ phải trả hoặc thương phiếu phải trả với tài sản lưu động hoặc luồng tiền sẵn có để đáp ứng các nghĩa vụ này. Khả năng thanh toán thường được phân tích bằng việc tính toán:
- Hệ số khả năng thanh toán hiện thời: Hệ số này được tính bằng cách lấy tài sản lưu động chia cho nợ ngắn hạn. Hệ số này được sử dụng để xem xét khả năng thanh toán nợ đến hạn thanh toán của doanh nghiệp.
- Hệ số khả năng thanh toán nhanh: Hệ số này được tính bằng cách lấy tài sản lưu động trừ đi hàng tồn kho, còn lại chia cho nợ ngắn hạn. Hệ số này giúp nhà phân tích tính khả năng thanh toán nợ ngắn hạn chính xác hơn so với hệ số khả năng thanh toán hiện thời bởi vì tử số đã được loại bỏ bớt khoản mục hàng tồn kho.
- Hệ số tài sản tiền tệ: Hệ số này được tính toán bằng cách lấy tiền sẵn có cộng với chứng khoán khả mại cộng với luồng tiền phát sinh từ hoạt động kinh doanh rồi tất cả chia ra nợ ngắn hạn.
- Nhóm các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu tài sản và nguồn vốn
- Tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản: Chỉ tiêu này cho phép nhà đầu tư biết được tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản của công ty là bao nhiêu. Tỷ lệ này phụ thuộc vào tính chất của ngành nghề kinh doanh. Nếu tỷ lệ này phù hợp sẽ giúp doanh nghiệp khai thác tốt hơn tài sản của mình.
- Tỷ lệ tổng tài sản (hay tổng nguồn vốn) trên vốn chủ sở hữu: tỷ lệ này nói lên mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp. Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp vay nợ càng nhiều. Các doanh nghiệp cần có một tỷ lệ này hợp lý, tùy thuộc vào quy mô và ngành nghề kinh doanh, đảm bảo cân đối được khả năng sinh lời và mức độ rủi ro có thể chấp nhận được.
- Tài sản lưu động ròng: Chỉ tiêu này được tính bằng tài sản lưu động trừ đi nợ ngắn hạn. Nếu một doanh nghiệp bình thường thì chỉ tiêu này phải dương. Ngược lại nếu chỉ tiêu này âm thì doanh nghiệp đang dùng nợ ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn. Hành động này sẽ dẫn đến một nguy cơ về rủi ro thanh toán rất là cao khi khoản nợ ngắn hạn đến hạn trả sẽ không có nguồn vốn tương ứng để trả nợ. pháp lý và đặc biệt là chế độ kế toán. Khóa luận: Phân tích giá cổ phiếu chứng khoán tại Việt Nam
- Nhóm các chỉ tiêu phản ánh hiệu suất hoạt động
- Doanh thu trên tổng tài sản: Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đơn vị tài sản của doanh nghiệp mỗi năm tạo ra bao nhiêu đơn vị doanh thu. Chỉ tiêu này khá hữu dụng khi so sánh các doanh nghiệp có cùng quy mô và ngành nghề hoạt động nhằm đánh giá xem doanh nghiệp nào sử dụng tài sản của mình có hiệu suất cao hơn, phản ánh tốc độ quay vòng tài sản của doanh nghiệp.
- Vòng quay vốn lưu động: chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy giá vốn hàng bán trong năm chai cho vốn lưu động bình quân trong năm. Nó phản ánh tốc độ quay vòng vốn lưu động bình quân trong năm.
- Vòng quay các khoản phải thu: Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy tổng doanh thu trong năm chia cho các khoản phải thu bình quân trong năm. Nó phản ánh tốc độ quay vòng các khoản phải thu trong năm của doanh nghiệp.
- Vòng quay hàng tồn kho: Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy giá vốn hàng bán trừ khấu hao trong năm chia cho hàng tồn kho bình quân trong năm. Nó phản ánh tốc độ quay vòng hàng tồn kho trong năm của doanh nghiệp.
- Nhóm các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi của doanh nghiệp
- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS): Chỉ tiêu này có thể được các nhà đầu tư tính bằng nhiều phương pháp. Có thể lấy lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh hoặc lợi nhuận trước thuế hoặc lợi nhuận sau thuế để chia cho doanh thu thuần trong kỳ của doanh nghiệp, tùy thuộc vào góc độ tiếp cận và mục đích phân tích của từng nhà đầu tư. Tuy nhiên thông thường chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế chia cho doanh thu thuần trong kỳ. Nó phản ánh trong mỗi đồng doanh thu mà doanh nghiệp nhận được thì có bao nhiêu đồng là lợi nuậun của doanh nghiệp.
- Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA): Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế chia cho tổng tài sản bình quân trong kỳ. Nó phản ánh khả năng sinh lời của tổng tài sản nói chung của doanh nghiệp. Khi so sánh khả năng sinh lời nói chung của hai doanh nghiệp người ta thường so sánh chỉ tiêu này với nhau.
- Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE): Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế chia cho vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ, nó phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu. Đây cũng là một chỉ tiêu được các nhà đầu tư quan tâm trong việc đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
- Nhóm các chỉ tiêu phản ánh tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp
- Tốc độ tăng trưởng doanh thu: Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ và khả năng tăng trưởng về doanh thu của doanh nghiệp. Thông thường doanh thu của doanh nghiệp sẽ tăng mạnh khi sản phẩm của doanh nghiệp tăng mạnh, hoặc có sản phẩm hay dự án mới đi vào hoạt động, khai thác, hoặc thị trường mới được mở rộng. Tốc độ tăng trưởng doanh thu là cơ sở cho sự tăng trưởng về mọi mặt của doanh nghiệp.
- Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận: Chỉ tiêu này phản ánh khả năng của doanh nghiệp trong việc gia nhập lợi nhuận cho chủ sở hữu. Nếu doanh thu của doanh nghiệp tăng mà lợi nhuận không tăng tương ứng thì cần phải xem xét hiệu quả của sự tăng trưởng của doanh nghiệp, trừ trường hợp doanh nghiệp đưa dự án mới vào hoạt động mà trong thời gian đầu có thể chưa mang lại nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp nhưng về dài hạn thì dự án đó lại có hiệu quả cao.
- Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản: chỉ tiêu này phản ánh tốc độ tăng trưởng về quy mô kinh doanh nói chung của doanh nghiệp trong kỳ.
- Nhóm các chỉ tiêu đánh giá tính cho mỗi cổ phần
- Thu nhập một cổ phần (EPS): Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông (sau đi trừ đi khoản trích lập quỹ khen thưởng phúc lợi) chia cho tổng số cổ phiếu lưu hành bình quân trong kỳ, nó phản ánh thu nhập mà mỗi cổ phiếu mang lại cho cổ đông.
- Hệ số giá trên thu nhập (P/E): Chỉ tiêu này được tính bằng cách l ấy giá của cổ phiếu chia cho EPS của cổ phiếu đó, nó phản ánh thời gian thu hồi vốn của cổ đông nếu EPS và số cổ phiếu lưu hành của công ty không thay đổi.
- Hệ số giá trị thị trường trên giá trị sổ sách (P/B): Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy giá thị trường của cổ phiếu chia cho giá trị sổ sách của mỗi cổ phiếu, nó phản ánh mức độ đắt hay rẻ của giá cổ phiếu so với giá trị sổ sách của cổ phiếu đó.
- Tỷ suất cổ tức trên trị giá (D/P): Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy cổ tức mà mỗi cổ phiếu nhận được chia cho thị giá của nó đang giao dịch trên thị trường. Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ cổ tức mà nhà đầu tư nhận được so với số tiền bỏ ra để đầu tư vào cổ phiếu đó.
2. Một số mô hình định giá cổ phiếu pháp lý và đặc biệt là chế độ kế toán. Khóa luận: Phân tích giá cổ phiếu chứng khoán tại Việt Nam
2.1. Mô hình chiết khấu cổ tức
Giá cổ phiếu hiện tại chính là giá trị quy về hiện tại của toàn bộ các luồng thu nhập trong tương lai. Cốt lõi của việc định giá theo phương pháp này có hai yếu tố:
- Thu nhập trên mỗi cổ phiếu ước đoán cho tương lai.
- Tỷ lệ lãi suất yêu cầu
Vì thế để xác định được giá trị cổ phiếu theo phương pháp định giá này trước tiên phải tính được tỷ lệ lãi suất yêu cầu và ước đoán được thu nhập của cổ phiếu trong tương lai.
Làm thế nào để xác định được thu nhập qua đầu tư vào cổ phiếu?
Giả sử một nhà đầu tư mua một cổ phiếu với giá trong năm là P0. Liệu năm sau người đó thu được lợi nhuận là bao nhiêu, thu nhận được cổ tức và lãi vốn (chênh lệch giá cổ phiếu năm sau so với năm trước)
Nếu ký hiệu cổ tức năm sau là D1 và giá cổ phiếu năm sau là P thì: thu nhập dự kiến vào năm sau là: D1 + (P1 + P0)
Nếu năm sau, nhà đầu tư bán cổ phiếu thì thu nhập thực tế là: D1 + (P1 + P0). Nếu năm sau, nhà đầu tư vẫn giữ cổ phiếu thì thu nhập lãi vốn (P1 – P0) chưa được thựchiện mà chỉ thu được D1. Nhiều người cho rằng thu nhập chắc chắn của người đầu tư là D1 còn lãi vốn chưa thực hiện nên không quan trọng. Điều này là sai lầm vì nếu giá cổ phiếu giảm liên tục trong các năm tiếp theo thì nhà đầu tư sẽ bị mất vốn khá lớn. Vì vậy, khi tính lãi của người đầu tư cổ phiếu, phải tính đủ cả hai thành phần và cổ tức và lãi vốn.
Như vậy, tỷ suất lợi nhuận dự đoán khi năm nay bỏ vốn mua cổ phiếu với giá P0 là:
Tính tỷ suất lợi nhuận đầu tư (r) – hay còn gọi là tỷ lệ chiết khấu
Để tính được tỷ suất này phải dựa trên mức độ rủi ro của công ty phát hành. Rõ ràng là nếu công ty đó có độ rủi ro càng cao thì mức lợi suất đem lại càng lớn, khi đó nhà đầu tư mới có thể đầu tư vào cổ phiếu của công ty đó. Để xác định r, người ta có thể dùng một số công thức khác nhau tùy thuộc vào cơ cấu vốn của công ty phát hành. Công thức phổ biến nhất là áp dụng theo mô hình CAPM (Capital Asset Pricing Model):
r = rf + b (rm – rf)
Trong đó:
- rf: Lợi suất phi rủi ro
- rm: Lợi suất danh mục thị trường
- b: đo lường mức độ nhạy cảm của lợi suất của từng cổ phiếu so với biến động của lợi suất thị trường
Về mặt lý thuyết, công thức trên chỉ nên áp dụng trong trường hợp công ty chỉ phát hành cổ phiếu. Nếu công ty phát hành cả cổ phiếu lẫn trái phiếu (hoặc có vay nợ) thì r cần được xác định theo chi phí vốn bình quân gia quyền (WACC) như sau:
Trong đó: + ra: lợi suất thu nhập ước tính trên tài sản của công ty (= thu nhập hoạt động ước tính/ giá thị trường của tất cả các loại chứng khoán của công ty).
- rs (hay r): lãi suất gọi vốn cổ phần hay còn gọi là tỷ suất vốn hoá thị trường (lợi suất yêu cầu của nhà đầu tư khi mua cổ phiếu)
- rb: lãi suất vay nợ
- S, B: khối lượng vốn cổ phần và vốn vay tương ứng
- t: thuế suất
rs = ra + ( B / S )[ra – rb (1 –t)]
Từ côgn thức trên ta có thể thấy: khi công ty chỉ phát hành cổ phiếu thì ra = rs. Khi công ty vay thêm vốn thì rủi ro cho cổ đông tăng, vì thế lợi suất yêu cầu cũng cao hơn.
Tuy nhiên, trong trường hợp công ty phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng thì chưa thể áp dụng các công thức trên để ước tính r vì chưa có căn cứ về mức độ rủi ro của công ty. Vì thế, để có thể xác định được r, nhà đầu tư cần pahir căn cứ vào tỷ suất thu nhập dự tính của các cổ phiếu có cùng mức rủi ro với cổ phiếu cần định giá, vì để đảm bảo điều kiện cân bằng trong các thị trường vốn hoạt động hoàn hảo thì tất cả các loại chứng khoán có độ cùng rủi ro đều phải chào bán với cùng một tỷ suất thu nhập dự tính. Đôi khi để thuận tiện trong cách tính toán, người ta có thể lấy khung lãi suất chung hiện hành trên thị trường để xác định r. pháp lý và đặc biệt là chế độ kế toán. Khóa luận: Phân tích giá cổ phiếu chứng khoán tại Việt Nam
Tính D1: Thông thường việc ước tính cổ tức năm đầu (D1) được dựa trên số liệu về cổ tức trong quá khứ, chính sách phân chia cổ tức trong tương lai; ước tính thu nhập năm sau của công ty để từ đó ước tính ra giá trị cổ tức có thể nhận được trong năm tới (D1).
Tính g (tốc độ tăng trưởng của công ty): Việc ước tính tỷ lệ tăng trưởng cổ tức của công ty phải dựa trên đánh giá tiềm năng phát triển của công ty về lâu dài chứ không chỉ đơn thuần trong một số năm tới, vì tốc độ tăng trưởng được giả định là mức tăng trưởng g đều đặn của công ty trong suốt thời gian hoạt động. Do vậy, các số liệu để tính toán g phải là mức dự toán bình quân về lâu dài.
Tốc độ tăng trưởng cổ tức được giả định là bằng với tốc độ tăng trưởng thu nhập và được tính bằng công thức: g = ROE x RE
Với RE là phần trăm lợi nhuận để lại để tái đầu tư
RE = 1 – tỷ lệ chia cổ tức = 1 – D1 / EPS1
Định giá cổ phiếu theo mô hình chiết khấu cổ tức (DDM)
Do giá của cổ phiếu thường phụ thuộc chủ yếu vào kết quả hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần nên giá của nó có thể lên xuống cao hơn hoặc thấp hơn mệnh giá. Xét kết quả hoạt động kinh doanh của công ty có thể tốt hay xấu có thể dựa vào tốc độ tăng trưởng của công ty.
Dưới đây là một số mô hình định giá cổ phiếu công ty dựa vào tốc độ tăng trưởng của công ty:
2.1.1. Mô hình không tăng trưởng (Zero Growth)
Công thức này được áp dụng cho trường cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu thường không tăng.
2.1.2. Mô hình Gordon (cổ tức tăng trưởng đều)
Trong thực tế, công ty cổ phần thường có sự tăng trưởng và ta giả sử sự tăng trưởng hàng năm với một tốc độ không đổi là g/năm. Khi đó giá của cổ phiếu thường sẽ là
Trong đó D1 là cổ tức mong đợi năm kế tiếp r là chi phí vốn cổ phần g là tỷ lệ tăng trưởng cổ tức vĩnh viễn
2.1.3. Mô hình chiết khấu cổ tức tăng trưởng hai giai đoạn pháp lý và đặc biệt là chế độ kế toán. Khóa luận: Phân tích giá cổ phiếu chứng khoán tại Việt Nam
Trong cơ chế thị trường, thông thường công ty tăng trưởng qua nhiều giai đoạn. Mô hình đơn giản nhất về chu kỳ sống của một công ty là mô hình tăng trưởng hai giai đoạn – giai đoạn phát triển và giai đoạn trưởng thành. Ở giai đoạn phát triển, cổ tức lúc đầu tăng trưởng theo tỷ lệ trung bình theo nhiều năm và với tốc độ bình quân ở giai đoạn trưởng thành.
Giả sử với công ty có mức độ tăng trưởng trong những năm đầu là g, sau đó đạt mức tăng trưởng ổn định là gn. Giả sử rằng nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu trong vòng n năm, và sau đó cổ phiếu bán đi với mức giá Pn ở cuối năm thứ n thì:
2.1.4. Mô hình H để định giá tăng trưởng
Mô hình H cũng là mô hình tăng trưởng hai giai đoạn, nhưng không giống như mô hình hai giai đoạn truyền thống, mô hình này dựa trên giả thiết rằng giai đoạn thứ nhất tỷ lệ tăng trưởng giảm dần theo đường tuyến tính để đạt đến tỷ lệ tăng trưởng ổn định trong giai đoạn sau. Mô hình được Fuller và Hsia đưa ra năm 1984.
Mô hình này dựa trên giả định rằng tỷ lệ tăng trưởng thu nhập bắt đầu với mức cao (ga) và sau đó giảm dần theo đường thẳng trong suốt giai đoạn đầu tiên để đạt đến tỷ lệ tăng trưởng ổn định gn. Nó cũng giả định rằng chi phí trả cổ tức và chi phí vốn cổ phần là cố định trong suốt thời gian hoạt động của công ty, và không bị tác động của tỷ lệ tăng trưởng thay đổi.
Với P0 là giá trị của công ty trên vốn cổ phần hiện tại r là chi phí vốn cổ phần
ga là tỷ lệ tăng trưởng giai đoạn đầu
gn là tỷ lệ tăng trưởng giai đoạn ổn định
H = t/2: là nửa khoảng thời gian của giai đoạn tăng trưởng cao
2.2. Mô hình sử dụng tỷ số giá/ thu nhập P/E
Phương pháp định giá cổ phiếu bằng hệ số P/E là phương pháp được áp dụng phổ biến ở các thị trường chứng khoán đã phát triển. Hệ số P/E là hệ số giữa giá cổ phiếu (thị giá) và thu nhập hàng năm của một cổ phiếu đem lại cho người nắm giữ. Thông thường, để dự tính giá của một cổ phiếu, người ta thường dừng thu nhập trên mỗi cổ phiếu của công ty (EPS) nhân với hệ số P/E trung bình ngành hoặc của một công ty tương tự về quy mô, ngành nghề và đã được giao dịch trên thị trường. pháp lý và đặc biệt là chế độ kế toán. Khóa luận: Phân tích giá cổ phiếu chứng khoán tại Việt Nam
Thị giá mỗi cổ phiếu
P/E =
Thu nhập trên mỗi cổ phiếu
Giá mỗi cổ phiếu: P = P/E x EPS1
Trong đó: P/E: hệ số giá/ thu nhập
EPS1: thu nhhập trên mỗi cổ phiếu
Theo phương pháp định giá này, về mặt lý thuyết chúng ta có thể áp dụng một trong các cách sau đây:
- Lấy chỉ số P/E bình quân toàn ngành mà công ty đó tham gia hoặc lựa chọn một công ty có cổ phiếu được giao dịch rộng rãi có cùng tỷ lệ lợi nhuận, độ rủi ro và mức tăng trưởng tương tự như cổ phiếu mà chúng ta cần định giá. Khi đó P/E sẽ là hệ số giá/ thu nhập bình quân của ngành hoặc của công ty được lựa chọn.
- Xác định hệ số P/E “hợp lý” hay nội tại của chính công ty đó. Giá cổ phiếu được xác định bằng cách nhân hệ số P/E thông thường với thu nhập của công ty.
Đối với công ty có tốc độ tăng trưởng đều đặn, hệ số P/E “hợp lý” được tính như sau:
Có P0 = D0 (1 + g) / (1-g)
Suy ra P0/E0 = (D0/ E0) x (1+g) / (1-g) = RE0 x (1 + g) / (1=g)
Hay P/ E = RE x (1 + g) / (1-g)
Trên thực tế, khi tiến hành định giá cổ phiếu công ty thì việc lựa chọn hệ số P/E cụ thể không đơn thuần như hai phương pháp trên mà còn phải căn cứ vào xu hướng phát triển của toàn ngành và của từng công ty cụ thể. Do vậy, ta có thể kết hợp cả hai cách trên để xác định giá trị cổ phiếu của công ty.
Ngoài cách dùng hệ số P/E, các chuyên gia phân tích tài chính còn có thể dùng tổng hợp các hệ số tài chính để định giá cổ phiếu. Nhưng việc làm này rất khó vì chỉ có các chuyên gia phân tích tài chính mới có thể dự đoán được những biến động của các hệ số tài chính.
2.3. Mô hình chiết khấu dòng tiền tự do pháp lý và đặc biệt là chế độ kế toán. Khóa luận: Phân tích giá cổ phiếu chứng khoán tại Việt Nam
FCFF (Dòng tiền tự do đối với công ty) là tổng các dòng tiền chứa đựng tất cả các cam kết của công ty, bao gồm cổ đông, trái chủ, và cổ phiếu ưu đãi. Có hai cách để tính toán dòng tiền tự do đối với công ty.
Cách thứ nhất là cộng dần dòng tiền đối với từng đối tượng: dòng tiền với vốn cổ phần, dòng tiền với người cho vay, dòng tiền đối với cổ phiếu ưu đãi:
FCFF = Dòng tiền đối với vốn cổ phần + Chi trả lãi (1 – tỷ lệ thuế) + Chi trả gốc – Nợ vay mới + Cổ tức ưu đãi
Cách thức đơn giản hơn để tính dòng tiền là tính toán dòng tiền trước khi chi trả bất cứ nghĩa vụ nào. Vì vậy chúng ta có thể tính như sau: FCFF = EBIT (1-thuế) + Khấu hao – Chi tiêu vốn – Thay đổi vốn lưu động.
Giá trị của công ty được xác định bằng cách chiết khấu dòng tiền tự do đối với công ty với chi phí vốn bình quân gia quyền (WACC). Giống như mô hình chiết khấu DDM, mô hình chiết khấu FCFF cũng có nhiều dạng khác nhau:
2.3.1. Mô hình chung của FCFF
Để định giá một công ty, trong trường hợp chung, ta có thể sử dụng công thức sau:
Với FCFFt là dòng tiền tự do năm t WACC là chi phí vốn bình quân gia quyền
2.3.2. Mô hình tăng trưởng ổn định
Với một công ty tăng trưởng ổn định, giá trị củ nó có thể được tính như sau:
Với FCFF1 là dòng tiền tự do với công ty trong năm sau
WACC là chi phí vốn bình quân gia quyền
gn là tỷ lệ tăng trưởng ổn định vĩnh viễn
2.3.3. Mô hình phát triển qua hai giai đoạn pháp lý và đặc biệt là chế độ kế toán. Khóa luận: Phân tích giá cổ phiếu chứng khoán tại Việt Nam
Nếu công ty phát triển qua hai giai đoạn, phát triển mạnh trong n năm đầu tiên và ổn định với tỷ lệ gn những năm sau đó, giá trị công ty có thể được tính như sau:
Trong đó WACC là chi phí vốn (hg là tăng trưởng cao, st là tăng trưởng ổn định).
Xác định FCFF dựa trên phương pháp phần trăm doanh thu FCFF = EBIT (1-thuế) + Khấu hao – Chi tiêu vốn – Thay đổi vốn lưu động
Dựa trên dự đoán về phần trăm tăng trưởng doanh thu, ta có thể dự đoán được các chỉ tiêu khấu hao, chi tiêu vốn, thay đổi vốn lưu động trong tương lai.
Các chỉ tiêu khác trong tương lai sẽ tính được dựa trên doanh thu ước tính trong tương lai và tỷ lệ của chỉ tiêu đó so với doanh thu dựa trên số liệu quá khứ. Ví dụ như chỉ tiêu khấu hao:
% Khấu hao = Khấu hao/ Doanh thu
Khấu hao năm t = % khấu hao x Doanh thu năm t
Cụ thể, ta sẽ tính được các dòng tiền tự do trong tương lai theo các bước sau:
Sau khi ta đã xác định được các dòng tiền tự do, ta tiến hành chiết khấu các dòng tiền tự do này về giá trị hiện tại để xác định giá trị của công ty như đã trình bày ở trên.
Trên đây là công thức tính giá trị của cả công ty. Nếu công ty không có vốn nợ thì giá trị mỗi cổ phiếu bằng giá trị công ty chia cho số lượng cổ phiếu. Trường hợp có vốn nợ thì phải lấy giá trị công ty trừ đi giá trị vốn nợ rồi mới chia cho số lượng cổ phiếu để tính giá trị mỗi cổ phiếu.
Điều quan trọng nhất trong phương pháp này là phải lập được bảng kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty, ít nhất là cho thời hạn 5 năm, để ước tính các khoản doanh thu, chi phí và luồng tiền tự do sử dụng. Việc này là rất khó trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay. Việc dự đoán các yếu tố trên không những chỉ phụ thuộc vào đặc điểm của công ty, mà còn phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh, môi trường kinh doanh, khuôn khổ pháp lý và đặc biệt là chế độ kế toán. Khóa luận: Phân tích giá cổ phiếu chứng khoán tại Việt Nam
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng giá cổ phiếu tắng trưởng tại Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Giải pháp nâng cao giá cổ phiếu tại Việt Nam