Khóa luận: Khái quát về khủng khoảng kinh tế hiện nay

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Khái quát về khủng khoảng kinh tế hiện nay hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế hiện nay đến Việt Nam và một số nước đang phát triển dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

I. Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính đến Việt Nam:

1. Ảnh hưởng đến xuất khẩu:

Xuất khẩu của Việt Nam chiếm tới 65-68% GDP. Nhu cầu của người tiêu dùng tại các nước phát triển (Mỹ, Nhật Bản và châu Âu) – chiếm 50% hàng xuất khẩu của Việt Nam – giảm nên các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu của Việt Nam bị co lại do gặp khó khăn về vốn và đầu ra. Xuất khẩu của Việt Nam cũng giảm từ 6,5 tỉ USD (tháng 7/2008) xuống còn 5,1 tỉ USD (tháng 10/2008) và 4,8 tỉ USD (tháng 11/2008). Do xuất khẩu giảm dẫn đến nhập khẩu các nguyên liệu cũng giảm bởi Việt Nam nhập khẩu tới 70-80% nguyên liệu để làm hàng xuất khẩu. Khóa luận: Khái quát về khủng khoảng kinh tế hiện nay

1.1. Ảnh hưởng đến các thị trường xuất khẩu chủ đạo: 

1.1.1. Thị trường Mỹ:

Thực ra, không phải tới khi Lehman Brothers tuyên bố phá sản, Merrill Lynch bị Bank of America thâu tóm và AIG phải nhờ đến cứu viện của Chính phủ Mỹ mới có thể tồn tại – những giọt nước làm tràn ly cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ – thì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ mới giảm, mà ngay từ những tháng đầu năm 2007, đã xuất hiện xu hướng giảm tốc xuất khẩu sang thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, do cầu tiêu dùng tại Mỹ đang trên đà suy giảm mạnh do tác động của khủng hoảng tài chính, trong 7 tháng đầu năm 2008, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ chỉ đạt 19,2%, thấp hơn khá nhiều so với mức 28,6% của cả năm 2007. Không những vậy, tỷ trọng của thị trường Mỹ trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã giảm, từ 20,7% của năm ngoái xuống còn 17,7% trong 9 tháng đầu năm 2008. Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam được cho là chịu nhiều ảnh hưởng nhất là hàng may mặc, giày da, cá basa, cà phê…

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế thì kinh tế Mỹ có thể phải tới cuối năm 2010 mới phục hồi, người tiêu dùng Mỹ sẽ phải cắt giảm chi tiêu, kéo theo cầu nhập khẩu hàng hóa giảm, vì vậy, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ khó có thể đạt mức 30%/năm như trong thời gian qua, mà chỉ đạt khoảng 20% trong giai đoạn 2009 – 2010.

1.1.2. Thị trường EU, Nhật Bản:

Trên một khía cạnh khác, theo dự báo của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội quốc gia, không chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp đến xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ, mà cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ còn tác động gián tiếp đến tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang EU và Nhật Bản – hai thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam. Phân tích của các chuyên gia kinh tế cho thấy, do bị tác động mạnh từ cuộc khủng hoảng, người tiêu dùng của các thị trường này cũng phải cắt giảm chi tiêu, nên nhu cầu nhập khẩu đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam cũng sẽ có xu hướng giảm. Tỷ trọng của thị trường EU trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam cũng đã giảm, chỉ còn 16,5% trong khi năm 2008 là 18%.

Các thị trường EU, Nhật Bản cũng sẽ tiếp tục chịu ảnh hưởng tiêu cực từ cuộc khủng hoảng của Mỹ. Cộng thêm những khó khăn của các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam, do tín dụng thắt chặt, giá nguyên liệu đầu vào tăng cao, khiến giá thành sản xuất cao, hàng hóa khó cạnh tranh, do đó xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới chắc chắn sẽ chịu những ảnh hưởng tiêu cực.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

1.2. Ảnh hưởng đến các mặt hàng xuất khẩu chủ đạo: Khóa luận: Khái quát về khủng khoảng kinh tế hiện nay

1.2.1. Gạo:

Nền kinh tế toàn cầu lâm vào suy giảm do ảnh hưởng khủng hoảng tín dụng lan rộng ảnh hưởng đến nhiều mặt hàng trong đó có gạo. Mặt khác, nhiều loại hàng hoá là đầu vào cho sản xuất lúa gạo như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đều giảm giá do giá dầu giảm mạnh. Giá gạo trên thị trường kỳ hạn Chicago đã giảm liên tục trong thời gian gần đây. Với nhu cầu một số nước Tây Phi và Trung Đông, giá gạo thế giới chỉ giảm nhẹ trong thời gian tới do nguồn cung khá lớn từ Thái Lan và Việt Nam.

Khi hầu hết những ngành nghề xuất khẩu đều đang gặp khó khăn trước tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu và trong nước, thì xuất khẩu gạo trong tháng đầu năm 2009 lại nổi lên như một điểm sáng.

Theo báo cáo từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam, chỉ trong tháng 1/2009, cả nước đã xuất khẩu được 310.000 tấn, đây là tháng xuất khẩu cao nhất trong lịch sử kể từ năm 1989 đến nay.

Đến ngày 9/2/2009, các doanh nghiệp đã xuất thêm được 74 nghìn tấn, dự kiến cả tháng 2 sẽ giao 550-600 nghìn tấn, đưa kim ngạch xuất khẩu trong hai tháng đầu năm đạt khoảng 900 nghìn tấn, trong đó, cùng kỳ năm 2008 chỉ đạt chưa đầy 300.000 nghìn tấn(39). Việt Nam đang có nhiều cơ hội khi Trung Quốc là quốc gia xuất khẩu gạo lớn trên thế giới nhưng đang bị hạn nặng.

Ngoài ra, Ấn Độ cũng là nước xuất khẩu gạo khá lớn nhưng vẫn đang “đóng cửa” chưa xuất, có thể do để đảm bảo nguồn an ninh lương thực trong nước.

1.2.2. Chè: Khóa luận: Khái quát về khủng khoảng kinh tế hiện nay

Theo thống kê của Vụ Kế hoạch – Đầu tư (Bộ Công Thương), năm 2008, cả nước xuất khẩu được 104.000 tấn chè theo đường chính ngạch, đạt kim ngạch 147 triệu USD, giảm 5,4% về khối lượng và tăng 12,4% về giá trị so với năm 2007. Ngoài ra, còn xuất được 8.000 tấn qua đường tiểu ngạch, giá trị kim ngạch đạt 13 triệu USD. Đại diện của một số doanh nghiệp hoạt động trong ngành sản xuất, kinh doanh chè cho rằng, khoảng 6 tháng đầu năm 2008, tình hình xuất khẩu tương đối ổn định nhưng sau đó thì khó khăn liên tiếp ập đến.

Đầu tiên là việc khách hàng lớn của ngành chè Việt Nam là Trung Quốc đột ngột ngừng nhập hàng, khiến lượng lớn chè thành phẩm bị ứ đọng không tiêu thụ được. So với năm 2007, lượng hàng xuất sang Trung Quốc giảm khoảng 23.000 tấn; các thị trường khác 11.000 – 15.000 tấn.

Bất chấp nỗ lực của các doanh nghiệp, những tháng cuối năm 2008, lượng hàng xuất khẩu tiếp tục giảm. Tháng 10, theo kế hoạch xuất hàng là 11.000 tấn nhưng thực tế chỉ xuất được khoảng 9.500 tấn. Tháng 11, dự kiến 10.000 tấn nhưng lượng xuất thực tế chỉ đạt 8.000 tấn. Sản lượng xuất khẩu giảm, lượng hàng tồn đọng nhiều kéo theo đó là giá thu mua chè nguyên liệu cũng xuống mức thấp, khiến người trồng chè rơi vào cảnh bế tắc. Hiện, ở nhiều vùng chuyên canh, giá chè nguyên liệu đã giảm tới 50%, chỉ đạt bình quân 2.200 – 2.500 đồng/kg nhưng người dân vẫn không bán nổi dù thời điểm cuối năm 2008 chất lượng chè nguyên liệu tương đối tốt(40).

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu buộc người tiêu dùng phải thắt chặt chi tiêu là nguyên nhân chính khiến lượng chè xuất khẩu của nước ta giảm mạnh. Không những thế, nhiều khách hàng còn yêu cầu thay đổi cơ cấu sản phẩm theo hướng tăng lượng hàng tốt, giảm lượng hàng có chất lượng trung bình hoặc yêu cầu được trả chậm. Tất cả những điều đó, cộng với những khó khăn từ trong nước đã giáng một đòn khá mạnh lên các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ. Thậm chí, nhiều đơn vị không cầm cự được đã phải ngừng sản xuất, tạm đóng cửa.

1.2.3. Thuỷ sản: Khóa luận: Khái quát về khủng khoảng kinh tế hiện nay

Nhiều đơn hàng thuỷ sản của Việt Nam bị cắt. Nguyên nhân là do Mỹ là thị trường nhập khẩu thủy sản rất lớn, kim ngạch nhập khẩu thủy sản của nước này lên đến 12 tỷ USD/năm. Hàng năm thị trường Mỹ chiếm 15% tổng kim ngạch nhập khẩu thủy sản của thế giới, do vậy ngành thủy sản Việt Nam đặt mục tiêu đạt 850 triệu USD giá trị xuất khẩu sang Mỹ năm 2008, chiếm khoảng 7% tổng kim ngạch nhập khẩu thủy sản của Mỹ. Là trung tâm của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, năm 2008, Mỹ đã tụt xuống hàng thứ 3 về nhập khẩu thủy sản của Việt Nam. Tỷ trọng của thị trường Mỹ giảm từ 20,4% xuống 16,5% trong cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam do nhu cầu tiêu thụ và nhập khẩu của nước này giảm.

Khó khăn này đã khiến giá xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đang bị hạ và sản lượng cũng sụt giảm đáng kể, không chỉ trong những tháng cuối năm 2008 mà cả năm 2009.

Tuy nhiên, theo dự báo, sự suy thoái của nền kinh tế và sự tăng giá của các mặt hàng thủy sản sẽ tiếp tục ảnh hưởng không nhỏ đến sức tiêu thụ thủy sản của nước Mỹ trong năm 2009.

Những khó khăn mà các nhà nhập khẩu thủy sản Mỹ đang gặp phải hiện nay còn là do các ngân hàng Mỹ đang thắt chặt tín dụng, ngân hàng không cho nhà nhập khẩu Mỹ vay tiền nên khả năng thanh toán của họ rất yếu, họ phải chờ bán được hàng mới có tiền trả cho các nhà xuất khẩu trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Chính vì vậy mà sức mua trên thị trường thế giới đang giảm sút rất đáng kể.

Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ đã lan rộng sang các nước EU, khách hàng của các Công ty xuất khẩu thuỷ sản từ châu Âu đã điện thoại cho hay, do sự rút tiền hàng loạt của các nhà đầu tư Mỹ khiến cho đồng Bảng Anh bị mất giá, và nhà nhập khẩu đã bị lỗ rất nặng, họ đang cần sự trợ giúp của các nhà xuất khẩu thủy sản Việt Nam.

Trước tình hình trên, sức mua hàng thủy hải, sản của thế giới đang sụt giảm rất lớn. Do vậy, có những đơn hàng nhà nhập khẩu châu Âu đã ký kết xong rồi nhưng họ đã cắt không tiếp tục mua nữa, gây khó khăn cho những chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam.

Những doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản không những gặp khó khăn từ bên trong mà còn gặp khó khăn cả bên ngoài.

Từ sau khi Chính phủ Việt Nam có chủ trương thắt chặt tín dụng, những doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản gặp rất nhiều khó khăn.Một là tiền vốn để thu mua chế biến bị giảm xuống đột ngột. Hai là lãi suất phải trả cho ngân hàng quá cao, hiệu quả kinh doanh không còn cao như trước, từ đó làm cho “sức khỏe” của những doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam nói chung và của doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản nói riêng đã yếu hơn nhiều so với những năm trước đây.

Trong khi nội tại đang gặp khó khăn, thì ngành xuất khẩu Việt Nam lại bị thêm tác động bên ngoài từ những nước nhập khẩu, không chỉ có thị trường Mỹ, mà cả Nhật Bản, EU… và các nước nhập khẩu khác đang nhập khẩu thủy sản của Việt Nam cũng đang gặp khó khăn về vốn, do họ đang bị thắt chặt tín dụng cùng những biến động không lường trước.

Hàng thủy sản của Việt Nam chủ yếu là xuất khẩu, trong khi những khó khăn bên trong chưa giải quyết được, nay lại thêm khó khăn từ bên ngoài. Khi những khó khăn “trong và ngoài” gặp nhau nên những tháng cuối năm 2008, những doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam sẽ khá bế tắc.

Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường Mỹ, châu Âu đang giảm sút mạnh. Bên cạnh đó thị trường Australia đang bị Chính phủ nước này cho kiểm tra 2 con virus đốm trắng và đầu vàng trên tôm cho nên hàng thủy sản Việt Nam không thể đi vào Úc, lợi dụng tình hình này Nhật Bản đang ép giá tôm của Việt Nam. Mặc dù xuất khẩu thủy sản nói riêng và ngành xuất khẩu cả nước nói chung đang gặp nhiều khó khăn, nhưng theo Đại diện Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết: theo số liệu mới nhất của Tổng cục Hải quan, trong năm 2008, xuất khẩu thủy sản của cả nước đạt trên 1,2 triệu tấn, trị giá đặt trên 4,5 tỷ USD, tăng 33,7% về khối lượng và 19,8% về giá trị so với năm 2007. Khóa luận: Khái quát về khủng khoảng kinh tế hiện nay

Liên minh Châu Âu (EU) tiếp tục giữ vị trí nhà nhập khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam với khối lượng nhập khẩu là 349 ngàn tấn với trị giá 1,14 tỷ USD, tăng 26% về giá trị.

Trong năm 2008, Việt Nam đã xuất khẩu thủy sản sang 26/27 quốc gia thuộc khối này, đứng đầu là 5 thị trường: Đức, Italia, Tây Ban Nha, Hà Lan và Bỉ. Đứng thứ hai là thị trường Nhật Bản, với khối lượng nhập khẩu trên 134 ngàn tấn, giá trị đạt hơn 828 triệu USD, tăng 13,2% về khối lượng và 11% về giá trị so với năm trước.

Hàn Quốc vẫn đứng vững ở vị trí thứ 4 trong top các thị trường nhập khẩu thủy sản của Việt Nam và đứng thứ 2 về nhập khẩu thủy sản khô từ nước ta. Nửa đầu năm, xuất khẩu tôm đông lạnh và mực bạch tuộc sang thị trường này tăng mạnh so với năm ngoái. Tuy nhiên, xuất khẩu những tháng cuối năm lại giảm mạnh nên xuất khẩu cả năm chỉ tăng trưởng 10% so với năm 2007.

Đại diện VASEP cho biết dự kiến Hàn Quốc vẫn tiếp tục là thị trường lớn của thuỷ sản Việt Nam song mức tăng trưởng xuất khẩu sang thị trường này sẽ chững lại vào năm 2009 do kinh tế khó khăn làm giảm nhu cầu tiêu thụ . Cũng trong năm 2008, Nga vẫn là thi trường lớn cho nhiều doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, basa của Việt Nam. Thị trường đơn lẻ này tiếp tục đứng đầu về nhập khẩu cá tra, basa của Việt Nam với mức tăng trên 142% về khối lượng và tăng 109% về giá trị so với năm 2007.

Nhưng Ukraine mới thực sự là “hiện tượng” của năm 2008, với mức tăng trưởng nhập khẩu cao nhất lên tới 202,6% về khối lượng và 221,1% về giá trị.

1.2.4. Giày dép:

Pháp là một thị trường lớn của xuất khẩu da giày của Việt nam, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, nhu cầu thị trường giảm và các doanh nghiệp sẽ khó khăn hơn trong việc đàm phán với khách hàng, biến động tỷ giá EUR/USD bất lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam, chính sách hạn chế nhập khẩu của Pháp. Bản thân các nhà nhập khẩu Pháp cũng đang rơi vào tình trạng khó khăn, nhất là trong việc tiếp cận vốn ngân hàng. Hàng hóa nhập khẩu về khó tiêu thụ do nhu cầu người dân giảm, chi phí lưu kho bãi sẽ tăng lên. Vì vậy, những doanh nghiệp của nước này sẽ chú trọng giảm thiểu hàng tồn kho và tận dụng nguồn vốn bên ngoài bằng cách áp dụng các phương thức thanh toán linh hoạt, như : trả chậm với thời gian dài hơn.

Số liệu Hải Quan Pháp cho thấy lượng nhập khẩu mặt hàng giầy dép vào Pháp tăng đều qua các năm trong giai đoạn 1999 – 2007 và đạt mức kim ngạch nhập khẩu cao nhất (6,4 tỷ euros) vào năm 2007. Tuy nhiên, lượng nhập khẩu chững lại trong năm 2008.Ngoài bất lợi do xu hướng chung, lại gặp bất lợi do EU áp thuế chống bán phá giá và không cho hưởng GSP( quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập) từ năm 2009. Giá cả, vốn là lợi thế cạnh tranh của giầy dép Việt Nam, sẽ ngày càng tăng, tạo sức ép lớn lên lượng hàng bán ra thị trường. Như vậy, giầy dép Việt Nam sẽ phải cạnh tranh cả về mặt chất lượng lẫn giá cả với các nhà sản xuất giầy Châu Âu, Trung Quốc…

1.2.5. Dệt may: Khóa luận: Khái quát về khủng khoảng kinh tế hiện nay

Dệt may có lẽ là ngành chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của suy thoái kinh tế toàn cầu. Theo báo cáo của Hiệp hội Dệt may, trong 3 tháng đầu năm2009, các đơn hàng xuất khẩu giảm từ 20-30% so với cùng kỳ năm 2008, đồng thời, giá bán sản phẩm cũng giảm với mức tương tự. Quý 1/2009 kim ngạch xuất khẩu của dệt may cũng giảm so với cùng kỳ năm trước với giá trị xuất khẩu chỉ đạt 1,9 tỷ USD( năm 2008 là 2 tỷ USD).

1.2.6. Cao su :

Do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu nên nhu cầu cao su năm 2009 trên thế giới được dự báo giảm 40% so với năm 2008.Giá cao su thế giới năm giảm đến 31%-39% tùy từng chủng loại. . Sản lượng cao su nhân tạo (sản xuất từ phụ phẩm dầu thô) tăng do giá dầu thô giảm; trong khi ngành công nghiệp ôtô vẫn đang xuống dốc, khiến nhu cầu cao su tự nhiêu cho sản xuất lốp ôtô chững lại.

Mục tiêu đặt ra cho ngành cao su năm 2009 xuất khẩu đạt khoảng 700 nghìn tấn, tuy nhiên, mục tiêu này rất khó thực hiện.

Vì ngay tháng đầu năm 2009, số hợp đồng dài hạn được ký kết chỉ bằng 2/3 so với cùng kỳ năm 2008, bằng 1/3 khả năng hiện có. Giá cũng giảm mạnh, giá cao su tính đến thời điểm tháng 4/2009 là 1.400 -1.500 USD/tấn (trong khi thời điểm giá cao năm 2008 lên tới hơn 3.000 USD/tấn).

Trước tình hình này, Hiệp hội Cao su đã dự tính, nếu giá cao su thế giới xuống dưới 1.000 USD/tấn, Hiệp hội sẽ xin kinh phí khoảng 1.000 – 2.000 tỷ đồng để mua dự trữ, giúp doanh nghiệp, đồn điền cao su “bám trụ”.

1.2.7. Đồ gỗ:

Đồ gỗ xuất khẩu nội thất như bàn ghế, gường tủ, trong nhà và ngoài trời chiếm tới 85% lượng hàng xuất khẩu của ngành, trong năm 2008 đã sụt giảm khoảng 10%. Riêng sản phẩm gỗ thủ công mỹ nghệ xuất sang các thị trường như Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan hầu như không có khách hàng. Kinh tế khó khăn, thay vì sử dụng các mặt hàng cao cấp, người dân bắt đầu có xu hướng chuyển sang các sản phẩm phổ thông hơn.

Bên cạnh đó, do thiếu vốn để nhập khẩu gỗ nguyên liệu hồi đầu năm 2008 đã khiến cho nhiều hợp đồng lớn không thể ký, do doanh nghiệp lo ngại thiếu nguyên liệu. Thêm nữa, đầu năm 2008, giá gỗ và chi phí vận chuyển đều tăng cao đã khiến cho giá nguyên liệu tăng đến 35-40% so với năm 2007(42).

Tiếp đến, tháng 9/2008, Bộ Tài chính lại ra quyết định sẽ áp dụng mức thuế từ 5-10% đối với các sản phẩm gỗ xuất khẩu. Những điều này đã khiến cho doanh nghiệp phải đứng trước rất nhiều áp lực. Khó khăn này đã khiến các doanh nghiệp không chỉ sản xuất cầm chừng mà còn đứng trên bờ vực phá sản.

2. Ảnh hưởng đến công nghiệp và xây dựng: Khóa luận: Khái quát về khủng khoảng kinh tế hiện nay

2.1. Ảnh hưởng đến công nghiệp:

Các ngành công nghiệp hầu hết đều rơi vào khủng hoảng thừa, do đó phải thu hẹp sản xuất. Nhiều ngành rơi vào tình trạng khốn đốn khi các sản phẩm công nghiệp của nước ngoài tràn vào với giá rẻ hơn rất nhiều. Một số các công ty của các hãng sản xuất lớn thì phá sản hoặc giảm thiểu số lượng công nhân để cắt giảm chi phí. Các tên tuổi như Canon, Toyota, Daewoo đều có chính sách cắt giảm công nhân, thu hẹp sản xuất. Hai ngành sản xuất thép và ôtô dường như chịu ảnh hưởng rất nặng nề:

Công nghiệp thép: do khủng hoảng của nền kinh tế nên sức mua giảm hẳn đi dẫn đến cung vượt cầu. Do đó, nhiều nước được xem là cường quốc về thép đều đẩy mạnh việc xuất khẩu thép sang các quốc gia khác, kể cả việc tận dụng chính sách hỗ trợ từ nhà nước. Nhiều doanh nghiệp vùng Viễn Đông đã chấp nhận thua lỗ (bán dưới giá thành) để thu hồi vốn, hoặc các chính phủ của các nước này có chính sách ưu đãi xuất khẩu. Các doanh nghiệp sản xuất phôi thép của Việt Nam không thể cạnh tranh được với giá phôi thép được chào bán( dưới giá thành sản xuất) từ các nước Nga, Ukraina, Thổ Nhĩ kì… đang được nhập khẩu vào một cách ồ ạt với số lượng lớn. Theo số liệu của Tổng cục hải quan, chỉ riêng 2 tháng đầu năm 2009, lượng phôi thép nhập khẩu vào Việt Nam đã lên đên 170-180 nghìn tấn, với mức giá dao động quanh mức 400$/tấn(CFI hoặc CF). Riêng khu vực Viễn Đông và Địa Trung Hải, giá phôi thép chỉ dao động quanh mức 300$/tấn. Với mức giá này, khi về đến Việt Nam cộng cả chi phí vận chuyển cũng chỉ vào khoảng 350$/tấn.

Trong khi đó, theo các doanh nghịêp sản xuất phôi thép trong nước, hiện các doanh nghiệp đang phải nhập khẩu sắt thép phế liệu để đầu tư sản xuất phôi. Song giá thép phế nhập khẩu đã vào khoảng 250-255$/tấn, cộng với các chi phí sản xuất ra 1 tấn phôi thép bình quân là 150$/tấn, chưa kể chi phí vận chuển thì đã không dưới 400$/tấn. Với mức chênh lệch từ 50-100$/ tấn, trên thực tế sẽ không doanh nghiệp nào tính chuyện đầu tư trong nước. Khóa luận: Khái quát về khủng khoảng kinh tế hiện nay

Theo Trung tâm thông tin công nghiệp và thương mại( VITIC): Tính đến cuối tháng 2.2009. đã có khoảng 200 nghìn tấn thép thành phẩm và gần 400 nghìn tấn phôi thép tồn kho. Phôi thép liên tục được nhập về với khối lượng lớn và giá nhập khẩu vẫn duy trì ở mức thấp. Kể từ đầu tháng 10.2008, Trung Quốc đã bãi bỏ thuế xuất khẩu đối với mặt hàng thép xây dựng từ 15% xuống 0% cho các doanh nghiệp sản xuất thép Trung Quốc, cùng với việc nới rộng việc quản lí bằng giấy phép đối với xuất khẩu thép sẽ giúp cho xuất khẩu thép thuận lợi hơn rất nhiều. Trong khi đó, sản lượng thép dư thừa của Trung Quốc lên tới 160 triệu tấn, một phần trong số này đang tìm cách nhập khẩu vào Việt Nam.

Công nghiệp ôtô: Nếu như vào quãng thời gian giữa năm 2008, thị trường ôtô nhập khẩu đã rơi vào cuộc khủng hoảng thừa thì nay, các nhà sản xuất ôtô trong nước cũng lâm vào tình cảnh tương tự.

Thống kê của Hiệp hội Các nhà sản xuất ôtô Việt Nam (VAMA) cho thấy, trong 4 tháng cuối năm 2008, sản lượng bán hàng của các doanh nghiệp thành viên đã sụt giảm một nửa so với các tháng đầu năm. Trong khi sản lượng sản xuất vẫn “đều đều” theo kế hoạch được duyệt từ đầu năm hay thậm chí từ cuối năm 2007, thì lượng bán ra sụt giảm mạnh đã khiến lượng xe tồn kho liên tục tăng.

Ví dụ, từ tháng 1 đến tháng 8/2008, các thành viên VAMA sản xuất được 89.810 xe (trung bình 11.226 chiếc/tháng) trong khi lượng bán ra thấp đã khiến lượng xe tồn kho tăng thêm gần 5.000 chiếc so với năm 2007. Từ tháng 9 – 11/2008, mặc dù đã cắt giảm sản xuất xuống gần một nửa với 6.223 chiếc/tháng song do lượng bán sụt giảm nghiêm trọng, lượng xe tồn kho vẫn tiếp tục tăng thêm hơn 2.000 chiếc nữa.

Nếu theo một thành viên VAMA, lượng xe có trong kho của từng thời điểm luôn cao hơn lượng xe bán ra của thời điểm đó, thì rõ ràng tổng lượng xe tồn kho đến thời điểm cuối năm 2008 là tương đối lớn.

Các nhà sản xuất ôtô cũng tỏ ra lo ngại khi cho rằng tình hình thị trường năm 2009 thậm chí còn khó khăn hơn so với 2008, do nhiều loại thuế và phí đồng loạt được áp dụng.

Công nghiệp dược Việt Nam cũng đang phải đối đầu với “cơn bão” khủng hoảng kinh tế toàn cầu đồng thời với “cơn lũ” các tác động tiêu cực của quá trình mở cửa thị trường dược phẩm theo các cam kết quốc tế và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu hơn sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới( WTO). Khủng hoảng kinh tế kéo theo các hệ quả: thị trường thu hẹp, giá ngoại tệ tăng, giá nguyên liệu và yếu tố đầu vào tăng, giá thuốc sản xuất trong nước tăng và nhu cầu giảm… sẽ tác động xấu đến tính cạnh tranh của thuốc nội và hiệu quả hoạt động của các công ty dược nội địa. Mặt khác, việc mở cửa thị trường theo cam kết WTO sẽ thúc đẩy sự hiện diện thương mại của các công ty nước ngoài có tiềm lực mạnh mẽ hơn với thương hiệu nổi tiếng và thương quyền ngày càng được mở rộng, cùng với sự tháo dỡ các rào cản thương mại là một tình thế khó khăn đối với công nghiệp dược nội địa. Hiện nay, còn quá sớm để dự báo sự phá sản của một số công ty dược phẩm trong nước, tuy nhiên trong cuộc vật lộn để duy trì sản xuất kinh doanh, bảo đảm đời sống người lao động, các công ty dược không là ngoại lệ.

2.2. Ảnh hưởng đến xây dựng: Khóa luận: Khái quát về khủng khoảng kinh tế hiện nay

2.2.1. Vốn đầu tư vào xây dựng

Vốn đầu tư vào xây dựng được hình thành từ 4 nguồn chủ yếu:

  • Vốn nhà nước (bao gồm cả vốn nhà nước đượcđầu tư của doanh nghiệp nhà nước).
  • Vốn doanh nghiệp.
  • Vốn của dân.
  • Vốn của nhà đầu tư nước ngoài.

Vốn đầu tư của các doanh nghiệp: trong điều kiện thị trường tiêu thụ giảm sẽ gặp nhiều khó khăn. Nên việc triển khai các dự án công trình và xây dựng mới sẽ bị ảnh hưởng. Vì vậy nguồn vốn đầu tư xây cho công trình xây dựng chắc chắn sẽ bị giảm sút.

Nguồn vốn đầu tư xây dựng nhà ở của doanh nghiệp, tư nhân: trong điều kiện thị trường tiêu thụ khó khăn. Vì vậy khó có thể tăng thậm chí có thể dự đoán giảm sút hơn năm trước đây. Riêng nhà ở do dân tự xây dựng có thể không giảm do yêu cầu bức xúc về nhà ở và giá vật liệu đang giảm.

Vốn đầu tư nước ngoài: vốn đầu tư mới chắc chắn sẽ giảm sút, việc giải ngân và triển khai đầu tư vốn đã được cấp phép sẽ gặp nhiều khó khăn: điều đó chắc chắn vốn đầu tư xây dựng công trình từ nguồn vốn nước ngoài sẽ giảm mạnh (Theo chuyên gia của The Economist Intelligence Unit trong cuộc hội thảo quốc tế về Kinh tế Đối ngoại 2009 “Định vị Việt Nam trong tương lai” ngày 17 – 18/3/2009 tại Hà Nội vốn đầu tư nước ngoài có thể giảm tới 70%).

Như vậy trong 4 loại nguồn vốn thì chỉ có nguồn vốn Nhà nước có hy vọng không giảm hoặc có thể tăng.

2.2.2. Ngành sản xuất vật liệu xây dựng: Khóa luận: Khái quát về khủng khoảng kinh tế hiện nay

Khủng hoảng tài chính toàn cầu đã gây ảnh hưởng khá nghiêm trọng đến vật liệu xây dựng, đặc biệt đối với các loại vật liệu xây dựng đã đầu tư, đang đầu tư sản xuất có sản lượng cao, cung vượt cầu, như xi măng, gạch lát, thép… trong điều kiện thị trường trong mức khó khăn, xuất khẩu bị ảnh hưởng do sự giảm sút đầu tư của thị trường trong nước ngoài nước.

3. Ảnh hưởng đến thị trường bất động sản:

Mảng thị trường nhà ở sẽ tiếp tục chứng kiến sự trầm lắng, giao dịch buồn tẻ do cầu về mảng bất động sản này thấp trong bối cảnh kinh tế được dự báo ảm đạm và tâm lý kỳ vọng giá nhà sẽ còn giảm hơn trong năm 2009 vẫn đang bao trùm. Người mua nhiều khả năng sẽ tiếp tục chờ đợi. Một số người bán vẫn giữ hàng vì họ không muốn giảm giá.

Tiếp nối quá trình phát triển mạnh mẽ trong năm 2007, thị trường bất động sản bước vào năm 2008 với một khởi đầu tốt đẹp.Chỉ trong một thời gian ngắn chưa đến 3 tháng (tháng 12/2007 đến 2/2008), giá nhà đất đã tăng bình quân 300%, thậm chí có nơi tăng đến 500%. Một số dự án xây dựng chung cư tung hàng ra bán ngay thời điểm thị trường đang sốt chủ đầu tư đều thu được lợi nhuân lớn. Có những trường hợp – cùng 1 dự án, cùng một loại căn hộ, nhưng giữa 2 đợt bán hàng giá đã tăng hơn 1.200 USD/m2, thế nhưng vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu thị trường. Tuy nhiên sau đó trong suốt thời gian còn lại của năm 2008, thị trường gặp rất nhiều khó khăn như tỷ lệ lạm phát tăng nhanh, thắt chặt tín dụng và các tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới. Giá xây dựng tăng, tốc độ hoàn vốn của các dự án chậm trong khi thị trường tín dụng ngày càng thắt chặt gây khó khăn về mặt tài chính cho các nhà đầu tư. Tháng 4/2008 – một tháng sau khi có chính sách thắt chặt tiền tệ – trên thị trường bất động sản bắt đầu xuất hiện làn sóng tháo chạy. Làn sóng tháo chạy đã kéo giá nhà đất liên tục sụt giảm, với tốc độ sụt giảm ngày càng gia tăng.

Sau 6 tháng liên tục giảm giá, đến cuối năm 2008 nhà đất trên thị trường đã mất bình quân 50% giá trị so với thời đỉnh điểm cơn sốt.

Kể từ quý ba năm 2008, mặc dù tỷ lệ lạm phát giảm dần và giá xây dựng chững lại, nhưng ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới buộc nhiều nhà đầu tư rút khỏi Việt Nam hoặc tạm dừng dự án của mình. Mặc dù có những hi vọng thị trường phát triển nhanh chóng nhưng trên thực tế tiến độ thi công của các dự án diễn ra chậm hơn so với dự kiến.

Theo một khía cạnh nào đó thì tốc độ phát triển chậm hơn so với dự tính của thị trường bất động sản lại là một yếu tố tích cực cho thị trường BĐS vì điều đó tránh cho thị trường rơi vào tình trạng cung vượt quá cầu.

Thị trường văn phòng năm 2008 không có những biến động quá lớn chủ yếu do nguồn cung vẫn còn hạn chế. Nửa đầu năm 2008 thị trường tương đối năng động; nguồn cung mới được đón nhận nhanh chóng làm cho giá thuê không ngừng tăng. Thị trường trong nửa năm cuối hoạt động chậm hơn do có ít yêu cầu tìm thuê và ít giao dịch thuê/cho thuê văn phòng hơn. Cả khách thuê và nhà đầu tư đều cẩn trọng hơn với những xu hướng biến động của thị trường. Các chủ tòa nhà nhận thấy rõ hơn sự cạnh tranh của nguồn cung trong tương lai và bắt đầu xem xét lại để đưa ra mức giá chào thuê hợp lý hơn. Trong khi đó có những khách thuê sẵn sàng chuyển văn phòng ra khỏi các tòa nhà có chất lượng cao, giá thuê cao đến các tòa nhà phù hợp hơn vì biết sẽ có nhiều lựa chọn hơn trong năm 2009

4. Ảnh hưởng đến thị trường tài chính: Khóa luận: Khái quát về khủng khoảng kinh tế hiện nay

Mặc dù nền kinh tế Việt Nam chưa liên thông sâu với thị trường khu vực và thế giới, tuy nhiên, tác động và ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến thị trường tài chính Việt Nam là điều khó tránh khỏi.

4.1.Thị trường chứng khoán:

Luồng tiền đầu tư gián tiếp vào Việt Nam suy giảm và đã có hiện tượng các nhà đầu tư nước ngoài rút vốn khỏi thị trường. Mặc dù tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong những tháng gần đây có những chuyển biến tích cực, nhưng thị trường chứng khoán Việt Nam tiếp tục sụt giảm. VN-index giảm liên tục (VN-Index giảm một mạch từ hơn 900 điểm xuống trên dưới 300 điểm trong năm 2008). Không riêng chỉ số chứng khoán sụt giảm, việc huy động vốn qua thị trường chứng khoán(TTCK) cũng giảm tới 75 – 80% so với năm 2008. Việc nhà đầu tư nước ngoài có biểu hiện rút khỏi thị trường chứng khoán Việt Nam đã gây tâm lý hoang mang cho các nhà đầu tư trong nước(43). Theo cách nói của các nhà báo thì “các sàn chứng khoán vắng lặng hơn chợ chiều”.

Huy động vốn gián tiếp vào thị trường cổ phiếu Việt Nam trong thời gian tới sẽ rất khó khăn do các nhà đầu tư sẽ hướng tới các kênh đầu tư an toàn. Việc bán tháo chứng khoán khỏi thị trường Việt Nam là có thể, mặc dù xác suất không cao, do tính thanh khoản và quy mô của thị trường. Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường chứng khoán và quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước lớn trong các năm tới. Việc huy động vốn thông qua thị trường vốn khó khăn trong khi thị trường tín dụng thắt chặt sẽ chặn dòng vốn và đẩy chi phí tài chính của các doanh nghiệp lên cao.

Một khía cạnh khác của đầu tư gián tiếp là các giao dịch chênh lệch lãi suất nhằm hưởng chênh lệch lãi suất giữa 2 đồng tiền trong khi tỷ giá ổn định. Các giao dịch này thường mang tính đầu cơ ngắn hạn cao. Với lãi suất toàn cầu sụt giảm và chính sách tỷ giá neo(44) VNĐ vào USD của Việt Nam trong khi lãi suất VNĐ vẫn ở mức cao, có thể dòng vốn này sẽ chảy vào trong một số giai đoạn nhất định nhằm khai thác cơ hội chênh lệch. Trong những trường hợp thoái vốn, dòng vốn này có thể tạo áp lực tỷ giá cho VNĐ.

Việc phát hành chứng khoán huy động vốn trên thị trường quốc tế cũng sẽ khó khăn và chi phí tăng cao. Chính phủ Việt Nam hiện có kế hoạch phát hành 1 tỉ USD và Vinashin( tập đoàn công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam) có kế hoạch huy động 400 triệu USD trên thị trường quốc tế vào năm 2009. Tuy nhiên, trong bối cảnh của khủng hoảng tài chính, việc thực hiện kế hoạch nêu trên sẽ gặp phải những trở ngại đáng kể trong thời gian tới.

Gần 70% trong số 26 công ty chứng khoán(CTCK) đã công bố báo cáo tài chính năm 2008 có lợi nhuận âm, một số công ty có mức thua lỗ rất lớn. Số CTCK còn lại có lợi nhuận, nhưng không đáng kể, ngoại trừ SSI( công ty chứng khoán Sài Gòn).

Bất ngờ nhất có lẽ là khoản lỗ lên tới 554 tỷ đồng của CTCK Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BSC). Với khoản lỗ này, BSC chỉ còn vỏn vẹn 274 tỷ đồng vốn chủ sở hữu, trong khi vốn điều lệ của công ty này là 700 tỷ đồng (vào thời điểm cuối năm 2008, tổng các khoản trích lập dự phòng giảm giá của BSC là gần 633,5 tỷ đồng).

Tuy nhiên, tỷ lệ lỗ/vốn điều lệ của BSC chỉ là 79,16%, không phải là mức thua lỗ lớn nhất. Xét theo tiêu chí này, kỷ lục tạm thời thuộc về CTCK Bảo Việt (BVSC). Với khoản lỗ 452 tỷ đồng trên vốn điều lệ 451 tỷ đồng, tương đương 100,2% vốn điều lệ, BVSC đã khiến khá nhiều nhà đầu tư bất ngờ.

Dù vậy, do vốn chủ sở hữu lớn có được từ thặng dư phát hành và tích lũy các năm trước, BVSC vẫn duy trì mức vốn chủ sở hữu lớn, lên tới 1.067,57 tỷ đồng(45). Một số CTCK khác cũng có tỷ lệ lỗ/vốn điều lệ lớn như: Kim Long, Âu Việt, Hải Phòng…

Phân tích sơ bộ báo cáo tài chính( BCTC) năm 2008 tóm tắt cho thấy, các CTCK thua lỗ chủ yếu do hoạt động tự doanh. BVSC phải trích lập các khoản đầu tư lên tới hơn 445 tỷ đồng, VNDirect trích 105,8 tỷ đồng, CTCK Hải Phòng trích 87,7 tỷ đồng…

Chỉ có hai CTCK có khoản trích lập tương đối lớn, nhưng vẫn duy trì được kết quả kinh doanh có lãi là CTCK TP. HCM (trích lập 200 tỷ đồng; lợi nhuận sau thuế 23,54 tỷ đồng) và CTCK Sài Gòn (trích lập 25,7 tỷ đồng; lợi nhuận sau thuế 250,5 tỷ đồng).

Riêng CTCK Kim Long, dù đã cắt lỗ các khoản đầu tư từ quý IV/2008 nên không phải trích lập dự phòng, nhưng Kim Long cũng có khoản lỗ lên tới 347,44 tỷ đồng, tương đương 70% vốn điều lệ.

Sự thua lỗ của CTCK là hình ảnh chung, phù hợp với diễn biến TTCK suy giảm và kém thanh khoản trong năm 2008. Những CTCK có nghiệp vụ chính là môi giới và tư vấn cũng thua lỗ.

Trường hợp CTCK Tầm Nhìn, vốn điều lệ là 25 tỷ đồng, đủ cho nghiệp vụ môi giới, nhưng sau 2 năm hoạt động, doanh thu (năm 2007 và 2008) chỉ đạt hơn 3 tỷ đồng, khoản lỗ tổng cộng lên đến hơn 13 tỷ đồng, dẫn đến vốn chủ sở hữu của công ty này chỉ còn non nửa (11,2 tỷ đồng).

Một số CTCK dù đã đi vào hoạt động từ trước năm 2007, nhưng doanh thu vẫn rất khiêm tốn, thể hiện hoạt động môi giới chưa hiệu quả, như trường hợp của CTCK Nam Việt, doanh thu các năm 2007 và 2008 chỉ đạt lần lượt 30 triệu đồng và 277 triệu đồng!

Trong số 26 CTCK nêu trên, một số công ty sau khi lỗ đã có vốn chủ sở hữu tại thời điểm ngày 31/12/2008 thấp hơn 100 tỷ đồng, mức vốn cần thiết để triển khai nghiệp vụ tự doanh như: EuroCapital, Nam An, Phú Hưng, Gia Quyền…

Thậm chí, tại CTCK Quốc Gia, vốn chủ sở hữu chỉ còn 20,4 tỷ đồng, thấp hơn mức vốn yêu cầu tối thiểu là 25 tỷ đồng cho nghiệp vụ môi giới. Với trường hợp của CTCK Tầm Nhìn, dù đã tăng vốn điều lệ lên 25 tỷ đồng để vừa đủ cho nghiệp vụ duy nhất là môi giới, nhưng vốn chủ sở hữu chỉ còn 11 tỷ đồng.

Vấn đề đặt ra là, nếu các CTCK này không thể tăng vốn chủ sở hữu lên mức tối thiểu là bằng với vốn điều lệ cần thiết để triển khai các nghiệp vụ thì hướng xử lý sẽ như thế nào?

Một vấn đề khác cần quan tâm là, dù chưa có cơ sở để tính toán chi tiết (do chưa tiếp cận được BCTC và thuyết minh BCTC đầy đủ), nhưng theo tính toán sơ bộ , việc thua lỗ nặng nề của một số CTCK đã dẫn đến tình trạng tỷ lệ vốn khả dụng trên tổng nợ điều chỉnh thấp hơn mức 5% (theo quy định của Luật Chứng khoán là không được thấp hơn 6%).

Câu hỏi mà thị trường đặt ra là năm 2008, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK) đã có động thái gì để kiểm soát tỷ lệ vốn khả dụng tại CTCK theo đúng tinh thần của Luật Chứng khoán và Quy chế tổ chức và hoạt động CTCK ban hành kèm theo Quyết định số 27/2007/QĐ-BTC? Mức độ minh bạch thông tin và hậu quả (nếu có) của việc này đến đâu, nếu các CTCK không thể khắc phục được tình trạng trên? Khóa luận: Khái quát về khủng khoảng kinh tế hiện nay

Theo dự thảo Quy chế về tự chủ tài chính của CTCK đang được UBCK xây dựng, với các tỷ lệ lỗ từ trên 30% vốn điều lệ (chưa tính đến yếu tố khác) thì CTCK tùy từng trường hợp sẽ bị đưa vào diện bị kiểm soát, kiểm soát đặc biệt/bị rút giấy phép (tự nguyện hoặc bắt buộc) một hoặc một số nghiệp vụ hay có thể bị xem xét rút giấy phép hoạt động kinh doanh.

Còn với quy định về cách tính tỷ lệ vốn khả dụng/tổng nợ điều chỉnh như hiện nay, theo lãnh đạo một số CTCK, có thể nhiều CTCK đã và đang làm sai quy định.

Những ngày cuối tháng 3/2009, TTCK đã có dấu hiệu phục hồi khi giá có xu hướng tăng và tính thanh khoản được cải thiện mạnh

Số CTCK còn lại có lợi nhuận, nhưng không đáng kể, ngoại trừ SSI. Tỷ lệ thua lỗ này khá tương đồng với cảnh báo mà ông Nguyễn Thanh Kỳ, Tổng thư ký Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán (VASB) đã đưa ra từ giữa năm 2008.

Nhưng liệu có phải rằng những tác động chính từ cuộc khủng hoảng hiện tại đối với hệ thống tài chính Việt Nam chủ yếu là yếu tố tâm lý. Thấy Dow Jones sụp thì VN-Index cũng xuống theo?

4.2. Hệ thống ngân hàng:

Các ngân hàng Việt Nam kể cả ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng thương mại nhà nước hay ngân hàng thương mại cổ phần đều rất chủ động trước các diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay. Trong thời gian gần đây đã xuất hiện tình trạng thừa thanh khoản. Cụ thể, ngày 30/9/2008, thừa tới 40.000 tỷ đồng, những ngày khác giao động từ 30.000 tỷ đến 35.000 tỷ. Do tính thanh khoản cao nên lãi suất liên ngân hàng trong ngày rất thấp, chỉ có 12%/năm đối với kỳ hạn 1 tuần hoặc 2 tuần, lãi suất trên thị trường mở cũng chỉ 15% năm.

Dự trữ ngoại hối tiếp tục tăng. Khoản dự trữ này cũng đang rất an toàn bởi các ngân hàng thuộc các quốc gia mà Việt Nam đang gửi ngoại hối đều ở mức an toàn. Hiện nay, 82% số tiền dự trữ ngoại hối của Việt Nam đang gửi tập trung vào các ngân hàng trung ương của các quốc gia như Mỹ, Anh, Pháp, Đức và các tổ chức tài chính quốc nhu; 18% còn lại gửi đầu tư các ngân hàng thương mại nước ngoài cũng là các tổ chức có mức độ tín nhiệm cao, xếp hạng 3A và 2A(46). Sự đổ vỡ của những ngân hàng đầu tư, tập đoàn tại Mỹ không tác động đến hệ thống ngân hàng Việt Nam.

5. Ảnh hưởng đến nguồn vốn đầu tư: Khóa luận: Khái quát về khủng khoảng kinh tế hiện nay

Cuộc khủng hoảng đã bước đầu có ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và viện trợ phát triển chính thức (ODA). Khả năng giải ngân vốn FDI và ODA trong năm 2008 cũng chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng. Trong những năm tới, khủng hoảng tài chính thế giới có thể khiến dòng đầu tư nước ngoài cả trực tiếp và gián tiếp vào Việt Nam suy giảm vì những lo ngại về bất ổn kinh tế và sự suy thoái kinh tế toàn cầu.

5.1. Ảnh hưởng đến nguồn FDI:

Về ngắn hạn, khủng hoảng ở Mỹ chưa có tác động lớn đến Việt Nam do dòng vốn đầu tư vào Việt Nam hầu hết bắt nguồn từ các nước và vùng lãnh thổ trong khu vực như Xin-ga-po, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan,… Mỹ chỉ đứng thứ 11 trong hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ có hoạt động đầu tư trực tiếp tại Việt Nam với 419 dự án còn hiệu lực, tổng số vốn đăng ký 4,1 tỉ USD.

Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính đã không chỉ dừng lại ở Mỹ mà đã lan sang các nước phát triển khác, trong đó có Nhật Bản, Hàn Quốc và các quốc gia có đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Các nước châu Á, nơi chiếm tới 80% dòng vốn đầu tư vào Việt Nam, cũng đang chịu tác động lớn của cuộc khủng hoảng. Việc huy động vốn trên thế giới sẽ gặp nhiều khó khăn do chi phí vốn trở nên đắt đỏ hơn. Hậu quả là các nhà đầu tư sẽ hạn chế tăng thêm đầu tư mới và thực hiện các dự án đã cam kết. Đã có xu hướng một số công ty mẹ ở chính quốc yêu cầu các chi nhánh tại Việt Nam phải giảm đầu tư để rút vốn về để tháo gỡ khó khăn cho các công ty mẹ. Do vậy, trong dài hạn, nếu khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới không bị chặn lại thì chắc chắn nó sẽ tác động tới đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.

Số dự án FDI đăng ký mới có xu hướng chững lại, trong tháng 10-2008, tổng số dự án đăng ký mới là 68 dự án với tổng vốn đăng ký là 2,02 tỉ USD, thấp hơn nhiều so với các tháng đầu năm (9 tháng đầu năm 2008 có 885 dự án đăng ký với tổng số vốn đăng ký là 56,27 tỉ USD). Tổng vốn FDI thực hiện trong 10 tháng năm 2008 so với tổng số vốn đăng ký mới và tăng thêm chỉ đạt khoảng 15%. Nhưng năm 2008, tổng vốn đăng kí đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 64 tỉ USD, gấp 3 lần năm 2007.

Giải ngân vốn FDI cũng giảm, khi mà trong tình hình khó khăn hiện nay, các công ty đầu tư vào Việt Nam sẽ thận trọng hơn trong kế hoạch tài chính và đầu tư. Thêm vào đó, hầu hết các dự án đầu tư nói chung, dự án FDI nói riêng, phần nợ vay thường chiếm một tỷ phần rất lớn trong tổng vốn đầu tư, nên khi các tổ chức tài chính đang gặp khó khăn sẽ làm cho nhiều hợp đồng vay vốn sẽ không được ký kết hoặc không thể giải ngân. Ngay cả các dự án FDI đang triển khai cũng có thể bị chững lại, vì rất có thể, các công ty sẽ phải cân đối lại nguồn vốn, bảo đảm tài chính an toàn trong khủng hoảng. Riêng các dự án mới cấp phép, nếu chủ đầu tư bị tổn thương lớn từ cuộc khủng hoảng này, thì có thể bị tạm dừng triển khai, thậm chí rút bỏ. Do vậy, năm 2009 – 2010, tốc độ giải ngân vốn FDI được dự báo là sẽ theo xu hướng chậm lại.

Sau khi thu hút được 5,126 tỷ USD tổng vốn đăng ký và tăng thêm trong tháng 2/2009, trong tháng Ba, FDI vào Việt Nam lại chỉ đạt khoảng 700 triệu USD tổng vốn đăng ký mới và tăng thêm, theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại hội nghị giao ban sáng 25/3.

Bộ cho biết, trong một tháng qua, cả nước chỉ thu hút thêm được 33 dự án đăng ký mới với tổng vốn đăng ký đạt 660 triệu USD, một mức sụt giảm đáng lo ngại. Khóa luận: Khái quát về khủng khoảng kinh tế hiện nay

Tính chung trong 3 tháng đầu năm 2009, trên phạm vi cả nước đã có 93 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đầu tư đăng ký là 2.171 triệu USD, bằng 28% về số dự án và 30% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2008.

Với các dự án tăng vốn, tình hình cũng khá bi đát trong tháng Ba. Sau con số ấn tượng 3,8 tỷ USD tổng vốn tăng thêm trong hai tháng đầu năm, tháng ba chỉ gia tăng thêm được khoảng 44 triệu USD. Tổng cộng, trong quý 1/2009, có 34 lượt dự án tăng vốn, tổng số vốn tăng thêm đạt 3.844 triệu USD. Tính chung cả 3 tháng đầu năm 2009, số vốn cấp mới và tăng thêm đạt 6,015 tỷ USD, bằng 60% cùng kỳ năm 2008.

Một số thông tin liên quan đến khu vực có vốn đầu tư nước ngoài được đề cập và có thể đưa ra những giải thích hợp lý cho sự sụt giảm của thu hút vốn FDI. Đó là sản xuất đang tăng trưởng chậm, xuất khẩu gặp rất nhiều khó khăn.

Cụ thể, trong tháng 3/2009, giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực doanh nghiệp FDI chỉ tăng 3,1%, nếu tính chung 3 tháng đầu năm thì chỉ tăng 2,9% mà nguyên nhân có thể đến từ khó khăn trong xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong quý 1/2009 (không kể dầu thô) chỉ đạt gần 4,5 tỷ USD, giảm 13% so với cùng kỳ năm 2008.

5.2. Ảnh hưởng đến nguồn vốn ODA:

Những dự báo ban đầu cho thấy, số vốn ODA cam kết và giải ngân tại Việt Nam trong những năm tới sẽ có xu hướng giảm do nguồn vốn đầu tư của các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế và dự trữ cho vay của các nước phát triển được cân đối lại để bình ổn thị trường tài chính. Số vốn ODA giải ngân năm 2008 không đạt được 2,3 tỉ USD.

Việc ký kết ODA và giải ngân nguồn vốn này vẫn tiếp tục chậm trong 3 tháng đầu năm 2009.

Trong quý 1/2009, mới có 3 chương trình, dự án ODA được ký kết thông qua hiệp định với tổng trị giá 26,23 triệu USD (2 tháng đầu năm là 25 triệu USD), trong đó, vốn vay đạt 21 triệu USD và vốn viện trợ không hoàn lại đạt 5,23 triệu USD.

Giải ngân vốn ODA trong quý 1/2009 ước đạt khoảng 198 triệu USD (hai tháng đầu năm, giá trị giải ngân ODA đạt 125 triệu USD), trong đó vốn vay khoảng 153 triệu USD, vốn viện trợ không hoàn lại khoảng 45 triệu USD. Như vậy, mức giải ngân của 3 tháng đầu năm mới đạt khoảng 5,7% so với kế hoạch giải ngân của cả năm 2009, báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết.

5.3. Ảnh hưởng đến nguồn kiều hối: Khóa luận: Khái quát về khủng khoảng kinh tế hiện nay

Dòng kiều hối từ trước đến nay vẫn là một dòng ngoại tệ tương đối ổn định, ngay cả trong thời kỳ kinh tế toàn cầu có khó khăn. Trong một vài năm trở lại đây, dòng kiều hối về Việt Nam tăng mạnh, với mức doanh số 8 tỉ – 10 tỉ USD/năm. Ngoài mục đích hỗ trợ thân nhân và đầu tư vào kinh doanh, một phần không nhỏ của dòng kiều hối này được đầu tư vào chứng khoán và bất động sản – những lĩnh vực hiện nay không còn nóng như trước. Hơn nữa, một phần lớn nguồn kiều hối về Việt Nam lại từ nước Mỹ, nơi tăng trưởng kinh tế đang sa sút và tình trạng thất nghiệp gia tăng. Điều này khiến cho dòng kiều hối trong các năm tới có thể cũng sẽ suy giảm.

Nói tóm lại vốn đầu tư từ nước ngoài được dự báo là sẽ khó khăn hơn trong những năm tới, nhưng Việt Nam có thể có những cơ hội nhất định qua cuộc khủng hoảng tài chính thế giới. Dòng vốn trên thế giới sẽ tập trung vào những nơi có môi trường chính trị và kinh doanh ổn định, mà Việt Nam lại đang có những lợi thế trong hai nhân tố này.

Hiện tại, hầu hết các nhà đầu tư vẫn cam kết nhiều vì họ tin tưởng vào tương lai và triển vọng đi lên của nền kinh tế nước ta. Nhiều nhà đầu tư cho rằng, tác động của cuộc khủng hoảng tới nền kinh tế Việt Nam chỉ ở mức độ nhất định và sẽ được khắc phục trong thời gian tới.

Một điểm thuận lợi nữa của chúng ta là các nhà đầu tư lớn như Nhật Bản, EU đã hướng vào khu vực Đông – Nam Á và có chiến lược đầu tư dài hạn trong 10 năm tới. Tại khu vực Đông – Nam Á, Nhật Bản hướng nhiều nhất vào Việt Nam với chiến lược đầu tư nhất quán từ Chính phủ cho đến các tập đoàn lớn. Các động thái gần đây của Nhật Bản đã rất rõ ràng và kiên quyết, cho dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, Việt Nam vẫn sẽ là nơi Nhật Bản phân bố lại sản xuất của họ. Nhật Bản cũng đã sáp nhập JICA và JBIC thành một quỹ viện trợ ODA khổng lồ. Mục tiêu của quỹ này cũng hướng vào Đông – Nam Á, trong đó có Việt Nam.

Tổng các luồng vốn FDI, ODA và kiều hối đạt 16 tỉ USD trong năm 2008.

6. Ảnh hưởng đến thị trường lao động: Khóa luận: Khái quát về khủng khoảng kinh tế hiện nay

6.1 Thị trường lao động trong nước:

6.1.1. Các làng nghề:

Từ tháng 7/2008 đến tháng 2/2009, do cuộc khủng hoảng thế giới, sản phẩm làng nghề tiêu thụ chậm, giá bán giảm thấp, nhất là đối với những sản phẩm mà nguyên liệu phải nhập khẩu. Tại hầu hết các làng nghề, sản xuất không phát triển mà còn gặp khó khăn: thị trường tiêu thụ truyền thống bị thu hẹp; dư nợ quá hạn phát sinh, không có khả năng thanh toán nợ, do đó kéo theo hệ quả là nhiều lao động đã mất việc.

Đến nay rất nhiều doanh nghiệp làng nghề chưa ký kết được hợp đồng năm 2009, buộc phải cắt giảm sản lượng, cắt giảm lao động.

Theo thống kê từ 38 tỉnh, thành hiện đã có 9 làng nghề phá sản, 124 làng nghề đang cầm cự sản xuất. Đã có 2.166 hộ sản xuất khối làng nghề tuyên bố phá sản, 468 doanh nghiệp hoạt động cầm chừng, khoảng 5 triệu lao động được Hiệp hội Làng nghề Việt Nam dự báo có thể mất việc trong năm 2009. Rất nhiều doanh nghiệp khó khăn về vốn.

Tổng số dư nợ của làng nghề, doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất tại 38/63 tỉnh là 2.169, 064 tỷ đồng, trong đó nợ quá hạn là 12,324 tỷ đồng. Rất nhiều doanh nghiệp đã quá hạn trả nợ, nhưng không có khả năng thanh toán.

6.1.2. Các doanh nghiệp trong nước: Khóa luận: Khái quát về khủng khoảng kinh tế hiện nay

Hầu hết các doanh nghiệp trong nước đều thu hẹp sản xuất, do đó, rất nhiều nhân công đã bị sa thải. Hàng trăm nghìn công nhân đã phải nghỉ việc. Hai thành phố tập trung nhiều lao động nhất là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, nhiều lao động đã nghĩ đến việc về quê để tìm việc.

  • Tính đến hết quý I năm 2009, Hà Nội đã có 33 nghìn lao động thất nghiệp và thiếu việc làm. 60% trong số đó là lao động ngoại tỉnh về Hà Nội.
  • Thành phố Hồ Chí Minh đã có hơn 19.000 người mất việc, 135 doanh nghiệp giải thể và thu hẹp sản xuất.

Tại nhiều công ty trong khu công nghiệp Việt Nam- Singapore, chuyện giảm lương đã trở nên phổ biến. Một số công ty đang thực hiện chính sách cho công nhân nghỉ thêm ngày trong tuần để giảm bớt tiền trả lương. Còn tại khu công nghiệp Biên Hòa 1, các doanh nghiệp điện tử, sản xuất lốp xe ô tô đã cho công nhân ngừng việc khá nhiều, chủ yếu là thu hẹp sản xuất.

Công ty điện tử Sanyo đã cắt giảm 1.000 người lúc cận tết. Trong lộ trình sắp tới, công ty còn có thể tiếp tục cắt giảm thêm, các công nhân đều lo lắng không biết bao giờ thì đến lượt mình.

Nhiều các doanh nghiệp sản xuất đồ may mặc đều phải cho nhân công tạm nghỉ việc vì đồ sản xuất ra không có người mua.

Rât nhiều xưởng gia công nhỏ tập trung tại khu vực quận Tân Bình và Tân Phú đã bán máy móc, trả lại mặt bằng, đa phần công nhân tại khu vực này đã phải trở về quê, tiếp tục công việc nhà nông.

Tình hình cắt giảm lao động sẽ vẫn tiếp tục diễn ra, theo dự báo của liên đoàn lao động TPHCM thì đã có 99 doanh nghiệp thông báo tình hình khó khăn và có thể sẽ sa thải thêm hơn 6.000 lao động.

Tại Đồng Nai, theo báo cáo của đoàn công tác liên ngành sở LĐ-TB-XH, Kế hoạch – Đầu tư, LĐLĐ, Ban Quản lý các KCN, đến tháng 12/2008 đã có 4.000 lao động bỏ việc và mất việc làm tại các Doanh nghiệp trong KCN; tập trung nhiều nhất ở những ngành may mặc, giày da, chế biến gỗ, với các công ty Việt Bo, Việt Vinh, DonaPacific, Great Veca.

Tính đến tháng 2/2009, Đồng Nai đã có đến hơn 8.500 công nhân bị sa thải, Bình Dương có trên 5.000 lao động mất việc.

Tính đến ngày 4/3/2009, trên địa bàn thành phố Biên Hoà có 36 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã cắt giảm lao động, với số lao động giảm là 8.083 lao động. Trong đó, các công ty cắt giảm nhiều lao động là: Giày Lạc Cường (1.888/1.888 lao động), Sanyo Di Solution (1.800/4.700 lao động), Muto (893/2.400 lao động), Mabuchi Motor (700/8.231 lao động)…. Nguyên dân cắt giảm là do công nhân hết hạn hợp đồng, công ty không có đơn đặt hàng, gặp khó khăn phải thu hẹp sản xuất hoặc tạm ngưng hoạt động.

Hết năm 2008, cả nước có gần 30.000 lao động làm việc trong các doanh nghiệp bị mất việc làm do suy giảm kinh tế.

Theo công bố của Viện Khoa học – Lao động và Xã hội ngày 8.4, dự kiến số lao động thất nghiệp trong năm 2009 sẽ là gần 500.000

6.2 Thị trường lao đông nước ngoài: Khóa luận: Khái quát về khủng khoảng kinh tế hiện nay

Các thị trường lao động nước ngoài chủ yếu của nước ta đó là Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia, Nhật Bản, và một số thị trường lao động mớí là Trung Đông và Đông Âu đều xuất hiện tình trạng thừa lao động Việt Nam. Nhiều công nhân đã phải về nước trước thời hạn.

Tại Đài Loan, nhiều doanh nghiệp (Doanh nghiệp), nhất là ở những ngành gia công điện tử, linh kiện ô tô, dệt, nhuộm…, sản xuất ngưng trệ, đóng cửa một phần hoặc toàn bộ nhà máy, công xưởng. Tình hình này khiến 81.000 lao động Việt Nam(VN) đang làm việc tại đây, trong đó hơn 60% làm việc trong các nhà máy, công xưởng, có nguy cơ bị giảm giờ làm hoặc không có việc làm.

Thị trường việc làm Hàn Quốc những tháng đầu năm 2009 cũng hết sức căng thẳng với tỷ lệ thất nghiệp trong tháng Hai lên tới 3,9%, mức cao nhất trong 4 năm qua. Vì thế, Bộ Lao động Hàn Quốc đã thông báo sẽ giảm mạnh số lượng thị thực làm việc cấp cho người nước ngoài trong năm 2009 nhằm tạo cơ hội việc làm cho người Hàn Quốc.

Từ tháng 6-12/2008, hàng chục ngàn lao động đang được các trường, sở LĐ-TB&XH các tỉnh, thành tập trung đào tạo tiếng Hàn chuẩn bị cho đợt kiểm tra cấp chứng chỉ tiếng Hàn lần 2 của năm 2008 dự kiến tổ chức vào cuối năm. Tuy nhiên, lại không có đợt kiểm tra như dự kiến. Một trong những lý do chính khiến Bộ Lao động Hàn Quốc không quyết định tổ chức đợt kiểm tra này là do tình hình sản xuất của các Doanh nghiệp Hàn Quốc đang gặp nhiều khó khăn, phải giảm nhu cầu tuyển dụng lao động nước ngoài.

Trong những năm gần đây, Malaysia là một trong những thị trường xuất khẩu lao động hàng đầu của Việt Nam. Theo thẩm định, hiện có khoảng 130 ngàn công nhân Việt Nam đang làm việc trên đất Malaysia. Nhưng cũng chính tại nơi đây mà nhiều người lao động Việt Nam đang phải sống và làm việc như là những nô lệ thời hiện đại, nhất là trong bối cảnh kinh tế Malaysia cũng đang bị suy giảm trầm trọng. Bên cạnh việc khó tuyển lao động, cũng đang bắt đầu xuất hiện tình trạng thiếu việc làm của người lao động (NLĐ) ở một số Doanh nghiệp tại Malaysia. Trong bối cảnh suy thoái như vậy, chính phủ Kuala Lumpur vào tháng giêng năm 2009 đã cấm tuyển dụng nhân công ngoại quốc trong khu vực sản xuất và dịch vụ, đồng thời đã cắt giảm 70% số giấy phép lao động dành cho công nhân nước ngoài trong hai tháng đầu năm.

Trong các năm 2005-2007, mỗi năm quốc gia này tiếp nhận khoảng 30.000 lao động Việt Nam. Năm 2008, do lo ngại nhiều rủi ro cũng như khan hiếm nguồn lao động, số người Việt sang Malaysia giảm hẳn, chưa tới 10.000. Hiện thu nhập của những người lao động tại Malaysia mỗi tháng dao động 3-7 triệu đồng. Và có khoảng 200 lao động ở Malaysia có khả năng phải về nước trước thời hạn

Trước đây thị trường Malaysia là nơi thu hút rất nhiều lao động nữ đi giúp việc gia đình, nhưng bây giờ cũng bị đóng cửa

  • Thị trường Nhật Bản cũng có những khó khăn không kém. Hiện tại, nhiều Doanh nghiệp của Nhật Bản cũng đang thực hiện việc cắt giảm lao động, kể cả lao động bản địa.
  • Các thị trường lao động mới của Việt Nam cũng gặp rất nhiều khó khăn:

Một số quốc gia Trung Đông và Đông Âu cũng gặp khó khăn. Ở một số quốc gia của khu vực này như Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất, Qatar, Maldives… cũng đã xuất hiện tình trạng nhiều lao động Việt Nam, chủ yếu làm việc ở lĩnh vực xây dựng, thiếu việc làm. Nếu rủi ro không được giải quyết, sẽ có số lượng lớn lao động phải về nước trước hạn. Bên cạnh đó, việc Chính phủ CH Czech quyết định tạm dừng cấp thị thực nhập cảnh khiến hàng ngàn người đã đăng ký, đóng tiền thêm hoang mang. Hiện có gần 3.000 lao động bị “mắc kẹt” khâu visa, không thể sang CH Czech được. Tổng số tiền mà những lao động này đóng cho các Doanh nghiệp XKLĐ để chi trả phí môi giới, tiền “bôi trơn” thủ tục lên đến khoảng 22 triệu USD.

Trong số 34 Doanh nghiệp có tuyển chọn lao động sang CH Czech, một vài Doanh nghiệp đứng trước nguy cơ không có khả năng hoàn trả chi phí cho NLĐ. Tương tự, việc khai thác thị trường mới Ba Lan – chủ yếu đưa lao động làm việc ở lĩnh vực may công nghiệp – của một số Doanh nghiệp có nguy cơ bất thành do NLĐ sau khi được Doanh nghiệp tuyển chọn, ký hợp đồng vẫn khó được cấp visa. Khóa luận: Khái quát về khủng khoảng kinh tế hiện

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thực trạng khủng khủng kinh tế ảnh hướng đến VN

One thought on “Khóa luận: Khái quát về khủng khoảng kinh tế hiện nay

  1. Pingback: Khóa luận: Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đến Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464