Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Khái quát thâm hụt thương mại của Việt nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng và giải pháp khắc phục tình trạng thâm hụt cán cân thương mại của ngân hàng Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I. Tình hình thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam
Trước năm 1986, hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta thực hiện theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nước độc quyền ngoại thương, chủ yếu căn cứ theo các nghị định thư đã kí kết với các nước XHCN nên cán cân thương mại bị thâm hụt nặng nề và kéo dài (kim ngạch nhập khẩu thường cao gấp xấp xỉ 3 lần kim ngạch xuất khẩu).8 Vì vậy, từ năm 1986, nước ta bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới, trong đó lĩnh vực kinh tế hướng vào việc khai thác mọi tiềm năng trong nước và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Nhờ đó, nước ta đã dần thoát khỏi tình trạng kém phát triển và đạt được những thành tựu to lớn trong hoạt động ngoại thương. Đặc biệt, năm 2007 với việc chính thức trở thành thành viên của WTO, Việt Nam đã bước lên một tầm cao mới với nhiều cơ hội và thách thức mới.
1. Giai đoạn từ 1986 đến khi gia nhập WTO Khóa luận: Khái quát thâm hụt thương mại của Việt nam
Năm 1986 với sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử ngoại thương Việt Nam. Từ đó đến nay, nước ta đã có nhiều chiến lược cải cách kinh tế và từng bước thiết lập, mở rộng đáng kể thị trường xuất nhập khẩu và đối tác thương mại theo phương châm đa phương hoá quan hệ kinh tế đối ngoại.
Nguồn số liệu từ năm 1986 đến 2005 là Xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam 20 năm đổi mới; nguồn số liệu năm 2006 là Xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam năm 2006
Sau sự tan rã của hệ thống XHCN đầu những năm 90, nước ta đã có những thay đổi quan trọng về chính sách ngoại thương, mở cửa đất nước bằng việc tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN – 1995), Diễn đàn kinh tế các nước châu Á – Thái Bình Dương (APEC – 1998), nối lại quan hệ ngoại giao với Mỹ (1995), tiến trình hội nhập WTO… Con số khiêm tốn 43 (xuất khẩu 33, nhập khẩu 38) nước và vũng lãnh thổ có quan hệ thương mại với Việt Nam năm 1986 đã nhanh chóng tăng lên 224 (xuất khẩu 220 và nhập khẩu 178) vào năm 2002. Tuy nhiên năm 2006, con số này giảm nhẹ xuống 181 nước và vùng lãnh thổ.
Biểu đồ 4 – Giá trị xuất nhập khẩu phân theo châu lục (1986- 2006)
Thị phần xuất nhập khẩu cũng có những biến chuyển mạnh mẽ. Nếu giai đoạn 1986-1990 chiếm tỷ trọng lớn nhất là Châu Âu (65,3%) trong đó chủ yếu là khối Đông Âu (chiếm 57,1%) thì các giai đoạn sau tỷ trọng giảm (năm 2006 chỉ còn xuất khẩu 19,6%, nhập khẩu 11,4%), quan hệ thương mại của Việt Nam chuyển hướng sang các nước châu Á và châu Mỹ (phụ lục). Giai đoạn 1986-1990, tỷ trọng giao thương với châu Á chỉ có 20,9% nhưng các giai đoạn sau đều trên hai phần ba. Tỷ trọng nhập khẩu từ châu Á tăng nhanh chóng, trong đó Nhật bản, Singapo, Trung Quốc và các nước ASEAN luôn chiếm vị trí quan trọng. Quan hệ với châu Mỹ cũng tăng khá nhanh, trong đó đóng góp chủ yếu là Mỹ. Giai đoạn 1986-1995 tỷ lệ kim 31 ngạch so với tổng số chiếm không đáng kể nhưng đến giai đoạn 2001-2005 tỷ lệ này đã tăng tới 11,1% và năm 2006 tỷ trọng xuất khẩu với châu Mỹ đã đạt 22,8%.
Ngoài ra, cùng với việc mở rộng thị trường và đối tác thương mại, các đơn vị tham gia xuất nhập khẩu cũng tăng lên nhanh chóng. Trước năm 1989, hoạt động xuất nhập khẩu chủ yếu do một số đơn vị chuyên doanh ngoại thương của nhà nước thực hiện (khu vực kinh tế trong nước giai đoạn đầu 1986-1990 vẫn giữ vai trò chủ đạo chiếm tới 96,6% tổng trị giá xuất nhập khẩu), nhưng dần dần các thành phần kinh tế khác ngoài quốc doanh cũng được thừa nhận và tạo điều kiện hoạt động. Hiện nay, tất cả các loại hình doanh nghiệp đều tham gia xuất nhập khẩu. Năm 1985 có 40 đơn vị trực tiếp xuất nhập khẩu, năm 1990 là 270 nhưng năm 2006 đã có khoảng 20000 đơn vị, trong đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vai trò quan trọng. Với sức phát triển mạnh mẽ, tỷ trọng xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài liên tục tăng qua các giai đoạn: giai đoạn 1991-1995 chiếm 17,1% (trong đó từ năm 1994 xuất khẩu có thêm các mặt hàng khác với dầu thô và bắt đầu xuất hiện thêm phần đầu tư nước ngoài ở nhập khẩu), giai đoạn 1996-2000 chiếm 31,5% và giai đoạn 2001-2005 chiếm 42,8%. Nhập khẩu của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (từ 1994 đến 2005) cũng tăng mạnh, bình quân 32,8% (trong khi khu vực trong nước chỉ tăng 13,4%).
Sau hơn 20 năm đổi mới kinh tế, Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc về qui mô, tốc độ tăng trưởng, cơ cấu nhóm ngành hàng… xuất nhập khẩu:
Bảng 1. Chỉ số phát triển xuất nhập khẩu theo giai đoạn
Về xuất khẩu, từ 1986 tới 2006, tốc độ tăng bình quân của xuất khẩu là 21,66%/năm, kim ngạch xuất khẩu tăng hơn 50 lần từ 789 triệu đôla (năm 1986) lên 39826 triệu đôla (năm 2006). Tỷ trọng xuất khẩu so với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng dần từ 35,7% (giai đoạn 1986-1990) lên 46% (giai đoạn 2001-2005). Nếu xuất khẩu bình quân 1 năm ở giai đoạn 1986-1990 là 1,4 tỷ đôla thì giai đoạn 2001-2005 đã tăng gấp gần 16 lần lên 22,2 tỷ đôla. Tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu so với GDP cũng tăng nhanh từ 20,5% giai đoạn 1986-1990 lên 25,2% giai đoạn 1991-1995, tới 37,4% giai đoạn 1996-2000 và đạt mức 54% vào giai đoạn 2001-2005 thuộc loại cao so với các nước. Với mục tiêu phát triển xuất khẩu cao làm động lực thúc đẩy tăng trưởng GDP, tỷ trọng xuất khẩu chiếm trong GDP và xuất khẩu bình quân đầu người cũng ngày càng tăng qua các thời kỳ từ 1986 – 2005.
Xét theo mức độ chế biến của hàng hóa, tuy hàng thô hay mới sơ chế còn khá cao nhưng cơ cấu hàng xuất khẩu đã thay đổi theo hướng tăng sản phẩm chế biến sâu và tinh, giảm tỷ trọng hàng thô hay mới sơ chế. Qua các giai đoạn phát triển 5 năm: hàng thô tăng vào giai đoạn 1990-1995 chiếm 74,6% (do tiếp cận mạnh với thị trường thế giới nhưng các sản phẩm của nước ta không đủ sức cạnh tranh, chỉ chủ yếu cung cấp nguyên nhiên vật liệu dạng thô), tỷ trọng so với tổng kim ngạch xuất khẩu giảm xuống mức 54,8% ở giai đoạn 1996-2000 và giai đoạn 2001-2005 là 45,3%.
Biểu đồ 5 – Cơ cấu hàng xuất khẩu theo giai đoạn
Trong nhóm hàng thô hoặc mới sơ chế, lương thực, thực phẩm và động vật sống chiếm tỷ trọng cao nhất và có xu hướng giảm qua các năm; tỷ trọng nhiên liệu, dầu mỡ nhờn và vật liệu liên quan tăng mạnh trong những năm 1989-1992 (do Việt Nam bắt đầu xuất khẩu dầu thô từ năm1989, đem lại nguồn thu xuất khẩu lớn) sau đó có dấu hiệu chững lại và duy trì ở mức trên 20%. Trong nhóm hàng chế biến hoặc đã tinh chế, hàng chế biến phân loại theo nguyên liệu chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ; máy móc, phương tiện vận tải và phụ tùng có xu hướng tăng nhanh từ 2.4% năm 1994 đến 10.5% năm 2005.
Biểu đồ 6 – Trị giá xuất khẩu theo danh mục tiêu chuẩn ngoại thương (SITC)
Xét về cơ cấu hàng xuất khẩu theo phân ngành kinh tế quốc dân, trong tổng trị giá xuất khẩu, sản phẩm nông lâm nghiệp chiếm tỷ trọng cao, đặc biệt là giai đoạn đầu 1986-1990 (35,7%), sau đó giảm liên tục và dừng ở 15,3% vào thời kỳ 2001-2005; công nghiệp khai thác tăng từ 16% ở 1986-1990 đến 33,1% giai đoạn 2001-2005; công nghiệp chế biến giai đoạn 2001-2005 chiếm 40,4% tăng gần gấp 1,5 lần thời kỳ đầu 1986-1990. Điều đáng chú ý là tốc độ tăng bình quân hàng năm từ 1986-2005, đứng đầu là nhóm công nghiệp khai thác (29,4%), tiếp đến sản phẩm công nghiệp chế biến (22,2%), hàng thủy sản (19,1%) và nông lâm sản (15,1%) và hàng lâm sản (11,9%). Khóa luận: Khái quát thâm hụt thương mại của Việt nam
Bảng 2 – Cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu theo kế hoạch nhà nước
Về nhập khẩu, kim ngạch nhập khẩu vận động theo chiều hướng tích cực từ 2,155 tỷ USD năm 1986 lên gần 45 tỷ USD năm 2006, tức tăng xấp xỉ 21 lần. Nhập khẩu từ 1986 đến 2006 tăng bình quân là 16,4%/năm, tốc độ phát triển bình quân của giai đoạn 1991 – 1995 cao nhất đạt 127,3%. Tỷ lệ nhập khẩu/GDP trong 20 năm là 50,9%, trong đó thời kỳ 2001 – 2005 tỷ trọng lên tới 63,4%. Từ 1986 đến 2006, công tác điều hành nhập khẩu của nhà nước đã dựa trên nhu cầu thực tế của sản xuất và tiêu dùng trong nước, thị trường nhập khẩu được mở rộng, chất lượng hàng nhập khẩu được nâng cao, góp phần đổi mới trang thiết bị kỹ thuật và qui trình sản xuất tiến tiến, nâng cao sức cạnh tranh của hàng Việt Nam.
Bảng 3 – Cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu theo kế hoạch nhà nước 1986 -1990 1991 -1995 1996 -2000 2001 -2005
Cơ cấu hàng nhập khẩu thay đổi theo hướng tăng nhập khẩu tư liệu sản xuất, giảm nhập khẩu hàng tiêu dùng. Tỷ lệ nhập khẩu hàng tiêu dùng luôn được kiểm soát chặt chẽ, giảm từ 12.7% giai đoạn 1986-1990 xuống 8,9% giai đoạn 1996-2000 và khoảng 6,4% trong giai đoạn 2001-2005. Về nhập khẩu tư liệu sản xuất, máy móc thiết bị chiếm khoảng 30% và nguyên nhiên vật liệu là trên dưới 60%. Nhằm đổi mới trang thiết bị lạc hậu, nhà nước chủ trương hạn chế nhập khẩu thiết bị cũ, mở rộng thị trường sang các nước có trình độ kỹ thuật tiên tiến. Cuối thời kỳ, nhập khẩu nhóm hàng này từ thị trường Nhật bản chiếm khoảng 28%, Châu Âu 13% và Bắc Mỹ khoảng 4% cho thấy những dấu hiệu vươn lên nền sản xuất hiện đại.
Biểu đồ 7 – Trị giá nhập khẩu hàng hoá theo danh mục tiêu chuẩn ngoại thương (SITC)
Hướng vào mục tiêu phục vụ chiến lược phát triển xuất khẩu và đáp ứng yêu cầu thiết yếu của sản xuất, tiêu dùng trong nước nên nhiên liệu, dầu mỡ nhờn và vật liệu liên quan, hoá chất và sản phẩm liên quan, hàng chế biến phân loại theo nguyên liệu và máy móc phương tiện vận tải, phụ tùng xăng chiếm tỷ trọng nhập khẩu lớn. Trong đó, lượng nhập khẩu nhiên liệu, dầu mỡ nhờn và vật liệu liên quan, hoá chất và sản phẩm liên quan, máy móc phương tiện vận tải, phụ tùng xăng đã giảm dần và hàng chế biến phân loại theo nguyên liệu có xu hướng tăng, thể hiện khả năng sản xuất cao, hiện đại hơn. Tuy nhiên trong cơ cấu nhập khẩu vẫn còn tồn tại mặt hạn chế nước ta là nước nông nghiệp nhưng vẫn phải nhập khẩu lương thực thực phẩm và động vật sống khoảng 5%.
Biểu đồ 8 – Giá trị xuất nhập khẩu và cán cân thương mại từ 1986 đến 2006
Từ năm 1986 đến năm 2006, nước ta liên tục thâm hụt thương mại (duy nhất năm 1992 đạt thặng dư thương mại nhưng giá trị không đáng kể). Giai đoạn 1986-1990 và 1991-1995 thâm hụt thương mại không nhiều chỉ khoảng 5,6 tỷ đôla, đặc biệt những năm 1989-1991 tỷ lệ thâm hụt rất thấp tiến tới đạt thặng dư thương mại vào năm 1992 do xuất khẩu tăng mạnh (nhờ dầu thô). Hai giai đoạn tiếp theo thâm hụt thương mại tăng cao: giai đoạn 1996-2000 với 9,8 tỷ đôla tăng gần gấp 2 lần giai đoạn trước và giai đoạn 2001-2005 (thâm hụt 19,3 tỷ đôla) lại tăng gần gấp 2 lần giai đoạn 1996-2000 (có một số năm thâm hụt thương mại giảm vì nền kinh tế tăng trưởng chậm và có lúc rơi vào giảm phát, thiểu phát). Tuy nhiên, tỷ lệ thâm hụt cán cân thương mại đã biến động theo xu hướng tích cực qua từng giai đoạn. Tỷ lệ thâm hụt thương mại so với xuất khẩu thời kỳ 2001-2005 ở mức 17,4% thấp hơn nhiều so với mức 80,4% của thời kỳ 1986-1989. Những năm 1994-1997 có mức thâm hụt thương mại cao là do qui mô xuất khẩu của nước ta còn nhỏ bé trong khi các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài ở giai đoạn bắt đầu triển khai nên nhập khẩu tăng nhanh chóng. Số liệu về các dự án đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép từ 1988 đến 2005 cho thấy vốn đăng ký của 4 năm 1994-1997 chiếm 61% tổng số vốn đăng ký, trung bình một năm là 5861 triệu USD, gấp 3,6 lần trị giá bình quân của những năm còn lại. Tỷ lệ thâm hụt thương mại so với xuất khẩu có xu hướng giảm đã phản ánh đúng mức độ phát triển kinh tế của nước ta đang trong giai đoạn đầu tư cơ sở hạ tầng, đổi mới thiết bị, tăng năng lực sản xuất.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2. Giai đoạn từ khi gia nhập WTO đến nay Khóa luận: Khái quát thâm hụt thương mại của Việt nam
Nếu công cuộc đổi mới từ năm 1986 đã tạo tiền đề vững chắc đưa nền kinh tế Việt Nam thoát khỏi tình trạng kém phát triển thì việc trở thành thành viên chính thức của WTO đưa vị thế Việt Nam lên một tầm cao mới, ổn định và tăng tốc. Từ một nước phải sống dựa vào hàng viện trợ và nhập khẩu hàng triệu tấn lương thực mỗi năm, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới, thứ nhất về xuất khẩu hạt tiêu, thứ hai về cà phê và hạt điều, thứ tư về cao su… thực sự khẳng định vị trí cường quốc xuất khẩu nông sản… Tuy số nước có quan hệ buôn bán với Việt Nam đã giảm so với năm 2005 nhưng Việt Nam vẫn duy trì quan hệ ngoại giao song phương với hơn 170 quốc gia trên thế giới, mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hóa tới trên 230 thị trường các nước và vùng lãnh thổ. Năm 2009, nhập khẩu từ Việt Nam trên 1 tỷ USD có 9 quốc gia, đứng đầu là Mỹ (với 11,4 tỷ USD), tiếp đến là Singapore, Đức, Malaysia, Philippines, Hà Lan, Anh, Thái Lan và Campuchia. Việt Nam đã có vị thế xuất siêu đối với 159 nước và vùng lãnh thổ, trong đó xuất siêu lớn là Mỹ, Australia, Anh, Philippines, Đức, Bỉ… Việt Nam còn ở vị thế nhập siêu đối với 47 nước và vùng lãnh thổ, trong đó nhiều nhất là Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Thái Lan, Hồng Kông, Thụy Sĩ, Ấn Độ, Kuwait,… Theo đó, nhập siêu của Việt Nam chủ yếu là ở các thị trường gần còn xuất siêu lại chủ yếu là ở các thị trường xa, có công nghệ nguồn.
Theo Bộ Công thương, đến nay đã có khoảng 40.000 doanh nghiệp VN hoạt động xuất nhập khẩu trực tiếp, tăng khoảng 1.000 lần so với năm 1986. Số mặt hàng xuất khẩu cũng tăng từ 4 nhóm là dầu thô, thuỷ sản, gạo và dệt may lên tới trên 40 nhóm mặt hàng. Chính sách tự do hoá thương mại, xoá bỏ độc quyền ngoại thương, mở rộng quyền kinh doanh xuất nhập khẩu đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt động ngoại thương, đẩy nhanh tăng trưởng xuất khẩu trên cả nước. Nhờ đó, tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân của ba năm sau khi gia nhập WTO đạt 12,8%/năm. Trong đó năm 2009, khi nhiều nước suy giảm đến 20-30% vì kinh tế thế giới khó khăn, xuất khẩu của Việt Nam chỉ giảm 9% so với năm 2008. Khóa luận: Khái quát thâm hụt thương mại của Việt nam
Biểu đồ 9 – Trị giá xuất khẩu hàng hóa phân theo cơ cấu kế hoạch nhà nước
Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, xuất khẩu cả năm 2008 đạt 62,7 tỷ USD, tăng 29,1% so với năm 2007. Trong đó, nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp tăng tỷ trọng từ 43% năm 2007 lên 45% năm 2008, nhóm hàng nông lâm sản chiếm 15% năm 2007 cũng tăng lên 17% năm 2008 và nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản tỷ trọng giảm từ 34% năm 2007 xuống còn 31% năm 2008. Kim ngạch xuất khẩu năm 2008 của các loại hàng hoá đều tăng so với năm 2007, chủ yếu do sự tăng giá trên thị trường thế giới.
Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 57,1 tỷ USD, giảm 8,9% so với năm 2008 nhưng tất cả các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta đều tăng 10% về khối lượng xuất khẩu. Nếu giá cả thế giới của năm 2009 không giảm tới 40% so với năm 2008 thì kim ngạch xuất khẩu năm 2009 sẽ không thấp như vậy (giá cả thế giới giảm đã khiến Việt Nam thiệt hại khoảng 10 tỷ USD giá trị xuất khẩu).
Biểu đồ 10 – Trị giá nhập khẩu hàng hóa phân theo cơ cấu kế hoạch nhà nước
Về nhập khẩu, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu năm 2008 là 80,7 tỷ USD tăng 28,6% so với năm 2007 nhưng sang năm 2009 lại giảm 14,7% (đây là lần giảm đầu tiên kể từ năm 1998). Tuy nhiên, nếu loại trừ yếu tố thay đổi giá của một số mặt hàng thì kim ngạch nhập khẩu năm 2008 chỉ tăng 21,4% so với năm 2007 và nhập khẩu năm 2009 không giảm. Xét về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu, năm 2008 tư liệu sản xuất chiếm 88,8%, hàng tiêu dùng chiếm 7,8% và vàng chiếm 3,4%; trong khi năm 2007, tỷ trọng của 3 nhóm hàng này tương ứng là: 90,4%; 7,5%; 2,1%; đến năm 2009, do vàng giảm xuống mức 0,5% kim ngạch nhập khẩu nên tỷ trọng cả tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng đều tăng (trong đó, máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng là 29,5%, nguyên nhiên vật liệu là 61,3%, hàng tiêu dùng là 8,7%). Nhìn chung, các mặt hàng nhập khẩu chủ lực nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất của đất nước đều tăng so với năm 2007. Tuy nhiên, nhập khẩu nguyên liệu cho sản xuất những tháng cuối năm 2008 có xu hướng giảm nhiều, đây là một trong những dấu hiệu của sự chững lại trong đầu tư và sản xuất. Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu hàng tiêu dùng có xu hướng tăng vào các tháng cuối năm 2008 cho thấy hàng tiêu dùng nước ngoài đã tạo sức ép lớn lên hàng tiêu dùng của Việt Nam ngay tại thị trường trong nước. Nhập khẩu ô tô năm 2008 đạt mức cao kỷ lục với 2,4 tỷ USD, trong đó ô tô nguyên chiếc đạt 1 tỷ USD với 50,4 nghìn chiếc (ô tô dưới 12 chỗ ngồi 27,5 nghìn chiếc, tương đương 380 triệu USD). Năm 2009, nhập khẩu máy móc thiết bị, ô tô vẫn tăng, trong đó ô tô nguyên chiếc tăng gần 50% về số lượng. Điểm đáng lưu ý là kim ngạch nhập khẩu xăng dầu và sắt thép giảm khá mạnh, trong khi các mặt hàng khác giảm nhẹ.
Biểu đồ 11 – Trị giá xuất nhập khẩu và cán cân thương mại từ 2007-2009
Như vậy, sau khi gia nhập WTO, nước ta tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao 20-30%/năm (trừ năm 2009) nhưng cán cân thương mại vẫn trong tình trạng thâm hụt, cụ thể mức thâm hụt thương mại năm 2007 là 14 tỷ USD, năm 2008 là 18 tỷ và 2009 là gần 13 tỷ. Tuy nhiên, tỷ lệ thâm hụt cán cân thương mại đã được kiểm soát theo chiều hướng tích cực, liên tiếp giảm so với kim ngạch xuất khẩu: năm 2007, 2008 và 2009 tỷ lệ này lần lượt là 29,3%, 28,8% và 22,5% giá trị xuất khẩu. Những con số này đã thể hiện khả năng cải thiện tình trạng thâm hụt cán cân thương mại của nước ta. Khóa luận: Khái quát thâm hụt thương mại của Việt nam
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng thâm hụt cán cân thương mại hiện nay

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Thâm hụt cán cân thương mại của ngân hàng VN