Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Khái quát ảnh hưởng của phương đông đến VN hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Ảnh hưởng của văn hoá phương Đông đến hành vi tiêu dùng hàng thực phẩm của người Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I. Tình hình tiêu thụ mặt hàng thực phẩm tại Việt Nam
1. Cơ cấu tiêu thụ mặt hàng thực phẩm ở Việt nam
Việt Nam là một trong những quốc gia nằm trong khu vực nhiệt đới, hết sức đa dạng, phong phú về các loại lương thực, thực phẩm. Danh mục hàng thực phẩm của người Việt rất nhiều, song có thể tạm chia ra thành năm nhóm mặt hàng chính là nhóm mặt hàng lương thực; nhóm mặt hàng rau, củ, quả; nhóm mặt hàng thịt gia súc, gia cầm; nhóm mặt hàng thủy, hải sản; nhóm mặt hàng đồ uống
Hình 3: Cơ cấu các mặt hàng thực phẩm
1.1. Nhóm mặt hàng lương thực
Khi nói đến lương thực, người ta dễ dàng nghĩ ngay đến gạo, bột mì. Song, còn có một số loại thực phẩm khác cũng được coi là lương thực như ngô, khoai, sắn, kê… Đây là sản phẩm không thể thiếu trong hầu hết những bữa ăn của người Việt Nam. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, trung bình mỗi gia đình Việt Nam (gồm bốn người) tiêu dùng hết khoảng 32kg lương thực các loại mỗi tháng. Con số này chứng tỏ người Việt tiêu dùng khá nhiều lương thực, chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu tiêu dùng hàng thực phẩm. Khóa luận: Khái quát ảnh hưởng của phương đông đến VN
1.2. Nhóm mặt hàng rau, củ, quả
Rau, củ, quả cũng là một mặt hàng chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu tiêu thụ thực phẩm. Việt Nam là một trong những nước nông nghiệp, nhiệt đới, mùa nào cũng có những loại rau, quả nhất định và hết sức phong phú, vì vậy người Việt Nam sử dụng rau, củ, quả hàng ngày. Trung bình mỗi hộ gia đình Việt Nam tiêu thụ khoảng 49.7kg rau, củ, quả mỗi tháng20. So với các loại thực phẩm khác thì rau quả là mặt hàng được người dân tiêu thụ với số lượng lớn nhất.
1.3. Nhóm mặt hàng thịt gia súc, gia cầm
Nói đến sản phẩm từ động vật thì có rất nhiều loại khác nhau song ở đây tác giả xin đề cập đến hai loại chính bao gồm thịt gia súc và thịt gia cầm.
- Thịt gia súc là một trong những loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Vì thế trong khẩu phần ăn của con người nói chung và người Việt nói riêng, thịt gia súc là một trong những loại thực phẩm không thể thiếu. Thịt gia súc bao gồm nhiều loại như thịt lợn, thịt bò, thịt dê, thịt trâu … nhưng người Việt chủ yếu sử dụng hai loại chính là thịt lợn và thịt bò. Trung bình mỗi hộ gia đình sử dụng khoảng 11.5kg thịt gia súc mỗi tháng, chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong bữa ăn của họ.
- Thịt gia cầm: Bên cạnh các loại thịt gia súc, thịt gia cầm cũng được sử dụng khá thường xuyên trong bữa ăn của người dân Việt Nam. Thịt gia cầm thường bao gồm thịt gà, vịt, ngan, ngỗng và một số loại chim. Trung bình mỗi hộ gia đình sử dụng khoảng 3.2kg thịt gia cầm các loại mỗi tháng. So với thịt lợn và thịt bò thì thịt gia cầm được tiêu thụ ít hơn. Sở dĩ như vậy bởi đây là loại sản phẩm có giá thành cao và khó chế biến hơn các loại thịt gia súc.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
1.4. Nhóm mặt hàng thủy, hải sản Khóa luận: Khái quát ảnh hưởng của phương đông đến VN
Mặt hàng thủy, hải sản bao gồm các loại động vật sống dưới nước, động vật lưỡng cư, được khai thác làm thực phẩm. Việt Nam là một quốc gia có rất nhiều ao, hồ, sông ngòi, và có đường bờ biển dài trên 3000km vì vậy các loại thủy sản của nước ta hết sức phong phú. Tuy nhiên, do trình độ kĩ thuật chưa cao, việc đánh bắt và nuôi thủy sản gặp nhiều khó khăn vì vậy giá cả của mặt hàng này khá cao, tỷ lệ trong cơ cấu tiêu dùng thường nhỏ. Cụ thể, theo báo cáo của Trung tâm Thông tin Phát triển Nông nghiệp Nông thôn, mỗi tháng trung bình mỗi hộ gia đình Việt Nam sử dụng khoảng 7.85kg thủy sản các loại23.
1.5. Nhóm mặt hàng đồ uống
Hiện nay trên thị trường Việt Nam có rất nhiều loại đồ uống. Bên cạnh loại nước uống tự nhiên được sử dụng tại tất cả các gia đình (nước tinh khiết) thì phổ biến nhất có một số loại sau: rượu, bia, cà phê, chè.
Đứng đầu danh sách các loại đồ uống phổ biến ở Việt Nam là trà. Người Việt Nam có một văn hóa uống trà hết sức lâu đời và cho đến nay, nó vẫn là một loại thức uống không thể thiếu của người Việt, đặc biệt là người lớn tuổi. Theo số liệu của Hiệp hội Chè (Vista), trung bình mỗi người Việt Nam tiêu thụ khoảng 0.4 kg chè mỗi tháng, chiếm tỷ lệ lớn nhất trong cơ cấu tiêu thụ đồ uống24.
Đứng thứ hai trong danh mục đồ uống của người Việt là Cà Phê. Tuy loại thức uống này bắt nguồn từ phương Tây và mới du nhập vào Việt Nam khoảng vài chục năm trở lại đây, song nó cũng có một vị trí nhất định trong cơ cấu tiêu thụ đồ uống của người Việt. Trung bình mỗi người Việt Nam sử dụng khoảng 0.14kg Cà Phê mỗi tháng25. Những người sử dụng Cà Phê nhiều chủ yếu là những người trẻ, trong độ tuổi lao động.
Bia và rượu là hai mặt hàng thực phẩm chiếm một tỷ lệ tiêu thụ tương đối lớn, nhất là trong những năm gần đây. Theo một thống kê của Hiệp hội Bia – Rượu – Nước Giải Khát Việt Nam, mỗi tháng trung bình mỗi người Việt Nam tiêu thụ khoảng 1.83 lít bia và khoảng 0.3 lít rượu26. Tuy hai mặt hàng này không phải là mặt hàng thực phẩm được sử dụng hàng ngày song nó cũng chiếm một tỷ lệ tiêu thụ cao và đang có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây.
2. Giá cả của hàng thực phẩm ở Việt Nam Khóa luận: Khái quát ảnh hưởng của phương đông đến VN
Ở Việt Nam, giá cả hàng hoá được đánh giá, thống kê qua Chỉ số giá tiêu dùng. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là một trong những chỉ tiêu thuộc Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia. Chỉ tiêu này phản ánh mức độ và xu hướng biến động của giá hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng theo thời gian. Nó được tính dựa vào hai yếu tố: giá bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng và quyền số là cơ cấu chi tiêu cho đời sống tiêu dùng của dân cư. Theo số liệu của Tổng Cục thống kê, năm 2006, giá bán lẻ hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng mới chỉ được thống kê, thu thập từ 496 mặt hàng đại diện, chia vào 10 nhóm hàng, với quyền số (tỷ trọng trong tổng chi tiêu dùng) như sau27 :
Bảng 1: Tỷ trọng trong tổng chi tiêu dùng của mười nhóm hàng hóa dịch vụ đại diện
Trong mười nhóm hàng này thì có đến hai nhóm hàng là các mặt hàng thực phẩm. Dựa vào bảng trên, có thể thấy trong tổng mức chi tiêu dùng thì hàng thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất ( 47.41%) bao gồm hai phần là hàng ăn, dịch vụ ăn uống và đồ uống, thuốc lá.
Không chỉ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng mức chi tiêu dùng, chỉ số giá tiêu dùng của các mặt hàng thực phẩm cũng có xu hướng tăng lên theo từng năm. Mức tăng cụ thể trong một số năm gần đây được thể hiện trong bảng sau :
Bảng 2: Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ tháng 12 năm 2008
Qua bảng trên có thể thấy giá cả hàng thực phẩm vẫn tăng qua các năm, tuy nhiên, mức độ tăng của giá lại có xu hướng giảm dần. Cụ thể, so với năm 2005 thì năm 2008 chỉ số giá tiêu dùng hàng thực phẩm tăng 171.79%, trong đó lương thực tăng 191.11% và thực phẩm tăng 163.86%. Mức tăng này giảm đi qua các năm ( năm 2008 giá thực phẩm tăng 143.25% so với năm 2007 và tăng 97.64% so với thời điểm tháng 11 của cùng năm đó). Ngoài ra, mỗi năm được chia thành bốn quý thì giá cả giữa các quý cũng có sự biến động. Quý I và quý IV là hai quý giá cả và sức mua tăng nhiều nhất do đây là thời gian có khá nhiều dịp lễ, hội của người Việt. Đặc biệt trong đó là dịp Tết cổ truyền, dịp lễ hội quan trọng nhất của người Việt Nam. Quý II và quý III là hai quý sức mua ổn định và có xu hướng thấp hơn hai quý còn lại.
3. Kênh phân phối thực phẩm ở Việt nam
Hiện nay ở Việt Nam tồn tại hai loại kênh phân phối thực phẩm chính đó là kênh phân phối truyền thống và kênh phân phối hiện đại. Kênh phân phối truyền thống bao gồm các các chợ, hàng rong, chợ cóc, chợ tạm … còn kênh phân phối hiện đại thì chủ yếu bao gồm các siêu thị và các cửa hàng bán lẻ thực phẩm. Các kênh phân phối này tồn tại song song với nhau. Theo thống kê của Bộ Công Thương, vào năm 2006, có khoảng 9.266 chợ (chiếm 44% toàn bộ hệ thống phân phối), hơn 300 siêu thị (chiếm 10% hệ thống phân phối), hơn 8.000 cửa hàng thực phẩm (chiếm 40% hệ thống phân phối) và một số lượng nhỏ khoảng 200 các chợ cóc, chợ tạm (chiếm 6% hệ thống phân phối).
3.1. Kênh phân phối truyền thống Khóa luận: Khái quát ảnh hưởng của phương đông đến VN
Dựa trên những số liệu này, có thể thấy chợ vẫn là kênh phân phối chiếm ưu thế hàng đầu trong các kênh phân phối thực phẩm tại Việt Nam. Các chợ truyền thống là nhà phân phối thực phẩm tươi quan trọng nhất hiện. Hơn 80% các bà nội trợ mua thực phẩm ở các khu chợ này30. Những loại thực phẩm được tiêu thụ chủ yếu ở kênh phân phối này là thực phẩm tươi như rau quả, thịt, hải sản. Tỉ lệ tiêu thụ rau quả ở các khu chợ truyền thống chiếm 86%, thịt lợn chiếm 86.3%, hải sản chiếm 78.9% thị bò và gia cầm chiếm 78.0% và 74.8%31. Đối mặt với sự cạnh tranh mạnh của các nhà kinh doanh hiện đại kiểu mẫu (ví dụ như siêu thị), các khu chợ truyền thống vẫn đảm bảo thế mạnh của họ ở kinh doanh thực phẩm tươi do có sự tiện nghi (có rất nhiều lựa chọn cho người tiêu dùng với những mức thu nhập khác nhau), thuận lợi về giao thông, và quan trọng hơn là thói quen đi chợ của người tiêu dùng Việt Nam.
Bên cạnh đó, kênh phân phối truyền thống còn bao gồm các chợ tạm, chợ cóc, hàng rong, người bán lẻ ven đường. Hầu hết những loại hình phân phối này đều nằm trong khu dân cư. Khoảng 17% người nội trợ sử dụng kênh phân phối này32. Mặc dù chỉ có một tỷ lệ người sử dụng nhỏ nhưng những loại hình phân phối này vẫn tồn tại và có một vị trí nhất định do hai yếu tố: sự tiện dụng ( đáp ứng được nhu cầu thực phẩm tươi sống, giá cả phù hợp với địa bàn dân cư nơi họp chợ) và vị trí (thường nằm ngay trong khu dân cư). Tuy vậy, do những loại hình kinh doanh này chủ yếu mang tính chất tạm bợ,không có đăng kí kinh doanh như những gian hàng tại các khu chợ lớn, không được đầu tư cơ sở vật chất phù hợp, nên thường không đảm bảo về vệ sinh an toàn thực phẩm cũng như rất khó quản lý.
3.2. Kênh phân phối siêu thị và cửa hàng bán lẻ
Khác với kênh phân phối truyền thống, hệ thống siêu thị và các cửa hàng bán lẻ có những thế mạnh nhất định. Tại những nơi này, hệ thống bảo quản thực phẩm thường tốt hơn các khu chợ truyền thống, giờ đóng cửa muộn hơn (khoảng 21 giờ đối với hầu hết các siêu thị) do đó nó thu hút được một lượng khách nhất định, đặc biệt là những người trẻ, có thu nhập khá trở lên. 21.1% người tiêu dùng dưới 25 tuổi, 15.4% người tiêu dùng ở độ tuổi 25-39, 18.9% người tiêu dùng ở độ tuổi từ 40-55 và và 14.7% người tiêu dùng từ 55 tuổi trở lên chọn siêu thị làm kênh phân phối thực phẩm chính cho mình. Bên cạnh đó, nếu như chỉ có 5% tỉ lệ người tiêu dùng chọn mua những thực phẩm chế biến sẵn ở các chợ truyền thống thì đối với siêu thị, con số này là 40%. Như vậy có thể thấy, kinh doanh các mặt hàng chế biến sẵn vẫn là một thế mạnh của các siêu thị và cửa hàng bán lẻ. Ngoài ra, Việt Nam là một nước dân số trẻ, nền kinh tế đang pháp triển theo hướng kinh tế thị trường, do đó, kênh phân phối hiện đại đang dần dần có chỗ đứng vững chắc hơn, thu hút được một lượng nhất định người tiêu dùng. Khóa luận: Khái quát ảnh hưởng của phương đông đến VN
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng ảnh hưởng phương đông đến Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Ảnh hưởng của phương Đông đến thực phẩm ở VN