Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Khái quát về giáo viên trường THPT Quất Lâm hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Quản lí hoạt động bồi dưỡng giáo viên trường trung học phổ thông Quất Lâm, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, chính trị văn hoá xã hội, giáo dục của huyện Giao Thủy, phía Tây Nam huyện Giao Thủy
2.1.1. Về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Huyện Giao Thủy nằm ở cực Đông của tỉnh Nam Định, phía Nam và Đông Nam tiếp giáp với biển Đông Việt Nam. Phía Tây Bắc giáp với huyện Xuân Trường, phía Tây Nam giáp với huyện Giao Thủy, ranh giới với hai huyện này là con sông Sò phân lưu của sông Hồng. Phía Bắc và Đông Bắc tiếp giáp với tỉnh Thái Bình mà ranh giới là sông Hồng(chính Bắc là huyện Kiến Xương, Đông Bắc là huyện Tiền Hải). Cực Đông là cửa Ba Lạt của sông Hồng, cực Nam là thị trấn Quất Lâm. Giao Thuỷ có 32km bờ biển, có hai cửa sông lớn, nơi sông Hồng và sông Sò đổ ra biển, cùng với vùng đất bãi bồi ven biển là những điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành kinh tế biển. Giao Thủy bao gồm 2 thị trấn là Ngô Đồng (huyện lỵ), Quất Lâm và 21 xã. Thị trấn huyện lỵ Ngô Đồng là trung tâm kinh tế của Giao Thủy. Luận văn: Khái quát về giáo viên trường THPT Quất Lâm
2.1.2. Về dân số và nguồn nhân lực
Với diện tích là 232,1 km2, năm 2010 huyện Giao Thủy có sấp sỉ 20 vạn người, là huyện có số dân khá đông trong tỉnh Nam Định. Mật độ dân số là 817 người/ km2. Tổng số lao động là 1.051.300 lao động, chiếm gần 50% tổng số dân. Dân cư Giao Thủy có trình độ học vấn cao hơn một số địa phương khác. Trình độ học vấn của dân số theo các cấp học và nhóm tuổi đều có ưu thế so với bình quân chung của cả nước. Người dân Giao Thủy có truyền thống hiếu học.
2.1.3. Về kinh tế – văn hoá xã hội
Trong thời kỳ đổi mới, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần theo định hường xã hội chủ nghĩa, thực hiện CNH – HĐH. Để đưa nền kinh tế đi lên trong công cuộc đổi mới CNH – HĐH, huyện Giao Thủy đã tập trung giải quyết hai vấn đề lớn là: Bổ sung, nâng cao, hoàn chỉnh cơ sở vật chất kỹ thuật, phục vụ cho việc sản xuất và chấn chỉnh, sắp xếp, chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế làm cho quan hệ sản xuất ngày càng phù hợp với tính chất của lực lượng sản xuất và thúc đẩy sức sản xuất phát triển nhanh.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Viết Thuê Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Giáo Dục
2.1.4. Về giáo dục và đào tạo. Luận văn: Khái quát về giáo viên trường THPT Quất Lâm
Năm học 2014 – 2015, huyện Giao Thủy đã đạt được kết quả cao về công tác giáo dục đào tạo, kết quả cụ thể là:
- Giáo dục Mầm non: Mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non được duy trì với 22 trường trong toàn huyện trong đó có 11065 trẻ. Trong năm học huy động được 2603 trẻ ra nhà trẻ đạt 36,3% độ tuổi, số trẻ mẫu giáo ra lớp là 8462 cháu đạt 96,7% độ tuổi. Riêng trẻ 5 tuổi ra lớp đạt tỷ lệ 100% đảm bảo chỉ tiêu phổ cập giáo dục. Tất cả các trường mầm non tiếp tục thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Giáo dục tiểu học: Hiện nay toàn huyện có 28 trường Tiểu học với 15.440 học sinh. Mạng lưới trường tiểu học được củng cố. Hiện nay có trên 90% trường tiểu học sử dụng phòng học cao tầng. Chất lượng giáo viên và học sinh ngày càng cao, tỷ lệ học sinh chuyển cấp tiểu học vào trung học cơ sở trong những năm gần đây đều đạt 100%. Năm 1997 đạt phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi. Toàn huyện có 100% trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia mức I, 03 trường đạt chuẩn quốc gia mức II. Việc bồi dưỡng giáo viên và đổi mới phương pháp dạy học được chú trọng. Toàn huyện hiện có 582 giáo viên tiểu học, tỷ lệ giáo viên được đào tạo đạt chuẩn là 100%, trong đó trên chuẩn (cao đẳng và đại học tiểu học) là 40%..
- Giáo dục THCS: Trong năm học vừa qua toàn huyện có 23 trường THCS trong đó có 12230 học sinh. Chất lượng đại trà được nâng cao so với năm học trước, kết quả xếp loại hạnh kiểm cuối năm đạt trung bình trở lên 99,91% trong đó loại khá và loại tốt là 92,8%. Kết quả xếp loại học lực cuối năm tỷ lệ đạt trung bình trở lên 98,2%, trong đó loại khá và loại giỏi 77,8%. Chất lượng cuối cấp thông qua điểm thi tuyển sinh vào lớp 10 luôn ổn định ở tốp đầu của tỉnh; tỷ lệ học sinh Giao Thủy thi đỗ vào trường THPT chuyên Lê Hồng Phong cao hơn năm học trước. Thi học sinh giỏi văn hoá lớp 9 cấp tỉnh toàn đoàn xếp thứ 2.
- Giáo dục THPT và GD thường xuyên: Huyện Giao Thủy có 4 trường THPT hệ công lập đó là trường THPT Giao Thủy thành lập từ năm 1965, trường THPT Giao Thủy B thành lập từ năm 1973, trường THPT Giao Thủy C thành lập từ năm 2000; trường THPT Quất Lâm thành lập từ năm 2007 và có 1 trung tâm Giáo dục thường xuyên với tổng số là 5300 học sinh. Trong đó bề dày về truyền thống học tập tương ứng với thời gian được thành lập. Trường THPT Quất Lâm là một trường còn rất non trẻ nằm ở phía Tây Nam của huyện Giao Thủy. Đây là một vùng có điều kiện về kinh tế, văn hóa, xã hội thấp hơn nhiều so với mặt bằng chung của huyện Giao Thủy. Tỉ lệ tôn giáo chiếm trên 60%; có xã có số học sinh đăng ký dự thi vào THPT chưa được 70% so với học sinh tốt nghiệp THCS và tỉ lệ học sinh đỗ vào THPT chưa được 60%.
Về văn hóa giáo dục và y tế: Những năm gần đây, các xã vùng ven biển đã được đầu tư và phát triển nhiều, tuy nhiên chỉ có thị trấn Quất Lâm là phát triển mạnh còn các xã lân cận vẫn còn thấp hơn nhiều so với mặt bằng chung của huyện Giao Thủy.
2.2. Thực trạng về đội ngũ giáo viên trường THPT Quất Lâm Luận văn: Khái quát về giáo viên trường THPT Quất Lâm
2.2.1. Về số lớp học và lượng giáo viên.
Bảng 2.1: Thống kê số lớp của trường THPT Quất Lâm từ năm học 2010 – 2011 đến năm học 2014 – 2015
Bảng 2.2: Thống kê số lượng giáo viên của trường THPT Quất Lâm từ năm học 2010 – 2011 đến năm học 2014 – 2015
Biểu đồ 2.1: Thống kê số lượng giáo viên
Qua bảng thống kê ta thấy số lượng GV nhà trường trong các năm học từ 2010 đến 2015 đều thiếu từ 1 đến 3 GV. Hiện nay nguồn cung sinh viên đã tốt nghiệp các trường đại học Sư phạm về làm GV tại tỉnh Nam Định rất lớn, tuy nhiên việc tuyển GV của tỉnh Nam Định chỉ thực hiện một lần vào đầu năm học (cuối tháng 9); mặt khác việc xây dựng biên chế cho các trường học được thực hiện vào cuối năm học trước, do đó trong năm học mới nếu có nhiều GV đến tuổi nghỉ hưu hoặc GV phải luân chuyển đột xuất theo quyết định của Sở GD&ĐT vào cuối học kì I; hoặc đầu năm học thì không thực hiện được việc tuyển bổ sung GV mới, nên xảy ra hiện tượng thiếu GV như trên. Khi đó nhà trường phải giải quyết bằng cách phân công các GV khác dạy tăng giờ hoặc hợp đồng với GV các trường khác hay hợp đồng với sinh viên đã tốt nghiệp nhưng chưa được biên chế. Nói chung các biện pháp giải quyết trên đều có vấn đề bất cập, đều ảnh hưởng không tốt tới chất lượng giáo dục của nhà trường. Đặc biệt đối với trường THPT Quất Lâm thì số GV ở xa về công tác nhiều nên hàng năm việc chuyển công tác của GV nằm ngoài kế hoạch của trường vẫn hay xảy ra. Do đó nhà trường thường xuyên ở trong tình trạng thiếu GV.
2.2.2. Về cơ cấu đội ngũ giáo viên
2.2.2.1. Về cơ cấu độ tuổi
Nhìn vào biểu đồ 2.2 ta thấy GV có độ tuổi từ 30 trở xuống chiếm tỉ lệ cao nhất (trung bình 5 năm là 68,27 %), đây là lực lượng GV trẻ, sức khỏe sung mãn, có trình độ đào tạo đạt chuẩn, được đào tạo cơ bản, nhiệt tình trong công việc, ham học hỏi, dễ tiếp thu cái mới, nhưng thiếu kinh nghiệm giảng dạy, là lực lượng cần được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao về bản lĩnh chính trị, nghiệp vụ sư phạm, công tác tổ chức, QL lớp học, kỹ năng giao tiếp ứng xử và hoạt động xã hội.
GV có độ tuổi từ 30 đến 40 chiếm tỉ lệ trung bình (trung bình 5 năm là 26,98%), là đội ngũ đã có kinh nghiệm công tác, trình độ chuyên môn vững vàng, thời điểm chín về chuyên môn, tương ứng với tuổi nghề từ 10 – 15 năm, đây là lực lượng lòng cốt trong các hoạt động chuyên môn của nhà trường, là đầu tàu trong việc đổi mới hiện nay.
Độ tuổi từ 40 đến dưới 50, tỷ lệ trung bình trong 5 năm là 1,55%, là lực lượng có nhiều kinh nghiệm trong công tác giảng dạy và giáo dục, đa số các đ/c GV là cốt cán chuyên môn của nhà trường.
Độ tuổi từ 50 trở lên, tỷ lệ trung bình trong 5 năm là 3,19%, đây cũng là lực lượng có nhiều kinh nghiệm trong công tác giảng dạy và giáo dục. Tuy nhiên các đ/c GV trong độ tuổi này sức khỏe đã yếu, khả năng làm việc trí óc đã có sự giảm sút, một số đ/c có biểu hiện tự mãn, chủ quan, bảo thủ khi tiếp nhận sự đổi mới giáo dục.
Nhìn chung đội ngũ GV của nhà trường hiện nay đang ở độ tuổi trẻ trung, sung mãn, có tiềm năng phát triển trong các năm học tới; tuy nhiên phân bố GV ở các độ tuổi không đều sẽ dẫn tới sự già hóa đội ngũ trong 20 đến 25 năm tới. Đội ngũ giáo viên trẻ nhiều nên nhà trường cần tập trung vào việc rèn giũa năng lực chuyên môn cho giáo viên trẻ. Vì vậy công tác quản lí họat động bồi dưỡng GV được Ban Giám hiệu của nhà trường rất coi trọng.
2.2.2.2. Về cơ cấu giới tính Luận văn: Khái quát về giáo viên trường THPT Quất Lâm
Bảng 2.4: Về cơ cấu giới tính của đội ngũ giáo viên
Biểu đồ 2.3: Tỉ lệ giáo viên theo giới tính
Qua biểu đồ 2.3 ta thấy: Trong những năm đầu, tỉ lệ GV nam của nhà trường cao hơn GV nữ. Nhưng nhìn vào biểu đồ ta thấy GV nữ của nhà trường càng ngày càng chiếm tỉ lệ cao hơn nam giới, tỉ lệ trung bình trong 5 năm qua là 52,1%. Đây là tỉ lệ bình thường đối với trường THPT hiện nay, nhưng tỉ lệ GV nữ dưới 30 tuổi rất cao chiếm khoảng 60 % trong tổng số GV nhà trường, họ phải mất nhiều thời gian làm các thiên chức của người phụ nữ làm vợ, làm mẹ, chăm lo đến gia đình, điều này tạo ra khó khăn không nhỏ cho nhà trường trong việc lập kế hoạch, phân công giảng dạy, đào tạo bồi dưỡng, thực hiện các chế độ chính sách. Đặc biệt mỗi năm học vừa qua, nhà trường thường có khoảng 2 đến 4 GV nghỉ thai sản cùng một thời điểm, gây ra hiện tượng thiếu GV ở các bộ môn, chẳng hạn như môn Địa, môn Sử,… đều là các GV nữ nên đôi khi nghỉ sinh con cùng lúc gây ra nhiều khó khăn cho công tác giáo dục, giảng dạy.
2.2.2.3. Về phân bố giáo viên bộ môn
Dựa vào bảng thống kê số lượng GV của từng môn học có thể thấy trong 5 năm học vừa qua mặc dù nguồn cung sinh viên Sư phạm tốt nghiệp ra trường về tỉnh Nam Định là rất nhiều, nhưng nhà trường vẫn thiếu GV ở nhiều bộ môn như: Ngữ văn, Vật lý, GDQP, Ngoại ngữ,…. Nguyên nhân thiếu là do có các GV nghỉ hưu trong năm học, có các GV luân chuyển công tác…, bên cạnh đó hàng năm đều có một số GV nghỉ thai sản, một số GV đi học Cao học, nên việc thiếu GV càng trở lên trầm trọng. Khi đó nhà trường phải phân công các GV còn lại ở cùng bộ môn dạy tăng giờ hoặc hợp đồng với các GV ngoài trường hay hợp đồng với các sinh viên Sư phạm đã tốt nghiệp nhưng chưa xin được việc làm. Nhìn chung những biện pháp đó đều chỉ mang tính chất “chữa cháy tạm thời”, hiệu quả giáo dục không cao, ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục của nhà trường, dẫn đến sự thiệt thòi cho một bộ phận HS cũng như việc quản lí, nâng cao chất lượng toàn diện của nhà trường.
Đặc biệt trong trường THPT Quất Lâm vẫn còn các lớp hệ Dân lập (mỗi khối 2 lớp hệ dân lập). Vì vậy, giáo viên ngoài việc dạy các lớp công lập được phân công theo quy định thì còn phải dạy thêm ở các lớp hệ Dân lập. Đây chính là một khó khăn rất lớn của nhà trường.
2.2.3. Chất lượng đội ngũ giáo viên trường THPT Quất Lâm Luận văn: Khái quát về giáo viên trường THPT Quất Lâm
2.2.3.1. Về Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống
Phẩm chất chính trị và đạo đức của đội ngũ GV trường THPT Quất Lâm được đánh giá là: Có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, hiểu và thực hiện tốt các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước và quy định của ngành, của trường. Chi bộ nhà trường nhiều năm liên tục được công nhận là Chi bộ trong sạch vững mạnh và thực sự phát huy được vai trò của Chi bộ trong các hoạt động của nhà trường. Năm học 2014-2015 Chi bộ có 15 đảng viên chiếm tỉ lệ 33,33% tổng số GV.
Đội ngũ GV tâm huyết với nghề, có trách nhiệm cao với công việc được giao, luôn tận tụy với HS. Lối sống giản dị, gần gũi với đồng nghiệp, với HS, có tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau trong công tác và trong cuộc sống. Thương yêu, quý mến, tôn trọng các em HS, cảm thông với HS những khó khăn về kinh tế, đường xá xa xôi (nhiều HS đi xe đạp từ nhà đến trường khoảng 20 km). Thực hiện nghiêm túc các cuộc vận động và phong trào thi đua: “Hai không”, “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo”, “Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực”. Các thầy giáo, cô giáo không chỉ dạy HS kiến thức mà còn luôn chăm lo đến giáo dục HS lòng yêu quê hương, đất nước, niềm tự hào dân tộc, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái,….
Đánh giá về đạo đức GV
Bảng 2.6: Thống kê xếp loại đạo đức giáo viên trong 5 năm gần đây
Biểu đồ 2.4: Xếp loại giáo viên theo đạo đức
Qua bảng thống kê ta thấy đa số GV về đạo đức đều đạt loại tốt, ĐNGV trẻ nhiệt tình công tác, tâm huyết với nghề, đoàn kết giúp đỡ nhau trong công tác và trong cuộc sống, thương yêu, thông cảm, chia sẻ với những khó khăn của HS.
2.2.3.2. Về trình độ đào tạo
Bảng 2.7: Về trình độ đào tạo của đội ngũ giáo viên
Biểu đồ 2.5: Trình độ đào tạo của đội ngũ giáo viên
Qua bảng thống kê ta thấy 100% GV nhà trường có trình độ đại học (đạt chuẩn về trình độ), GV có trình độ Thạc sĩ (trên chuẩn) tăng dần sau từng năm, nhất là trong vài năm gần đây. Hiện nay nhà trường đang xây dựng phong trào thi đua vượt qua khó khăn để đi học Cao học. Hàng năm nhà trường có từ 1 đến 2 GV đi học Cao học. Tuy nhiên do trường ở xa thủ đô Hà Nội, việc đi lại khó khăn, cùng với điều kiện kinh tế của đa số GV còn nhiều hạn chế nên số lượng GV đi học Cao học chưa được nhiều so với nhiều trường THPT trong cả nước.
2.2.3.3. Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Luận văn: Khái quát về giáo viên trường THPT Quất Lâm
Bảng 2.8: Tỷ lệ đánh giá, xếp loại giáo viên theo quy định “Chuẩn nghề nghiệp GV THPT”
Biểu đồ 2.6: Tỉ lệ đánh giá, xếp loại giáo viên theo quy định “Chuẩn nghề nghiệp GV THPT”
- Qua biểu đồ 2.6 ta thấy hầu hết GV nhà trường xếp loại xuất sắc và khá khi đánh giá theo quy định chuẩn nghề nghiệp, trong đó loại xuất sắc chiếm khoảng 60%, loại khá chiếm khoảng 35%. Tuy nhiên việc đánh giá xếp loại trong các năm qua của nhà trường còn một phần mang tính chất động viên khích lệ đối với GV.
- ĐNGV giỏi, chiến sĩ thi đua các cấp của nhà trường chiếm tỉ lệ khoảng 30%, còn lại là GV đạt trình độ chuyên môn nghiệp vụ xếp loại khá, hầu như không còn GV đạt trình độ trung bình.
- Về trình độ ngoại ngữ của GV nhà trường còn nhiều hạn chế. GV ngoại ngữ kỹ năng giao tiếp bằng ngoại ngữ chưa tốt, một số giáo viên ngoại ngữ phải thi lại từ 1 đến 2 lần mới đạt được chứng chỉ C1 theo quy định về trình độ chuẩn của môn ngoại ngữ. GV các bộ môn khác hầu như ít dùng ngoại ngữ trong công việc.
- Về trình độ tin học: Số GV có trình độ đại học, có chứng chỉ tin học là rất ít nhưng tỷ lệ GV sử dụng tin học trong giảng dạy lại cao. Luận văn: Khái quát về giáo viên trường THPT Quất Lâm
- Việc triển khai ứng công nghệ thông tin vào đổi mới phương pháp giảng dạy còn gặp nhiều khó khăn do trình độ tin học và tiếng Anh của GV nhà trường còn nhiều hạn chế. Song hằng năm nhà trường thường tổ chức bồi dưỡng tin học cho GV vào đầu năm học để phục vụ giảng dạy.
Đánh giá chung về đội ngũ GV trường THPT Quất Lâm trong 5 năm qua:
Mặt mạnh
- ĐNGV nhà trường có phẩm chất chính trị vững vàng, tư cách đạo đức tốt, yêu nghề và hết lòng vì HS thân yêu.
- ĐNGV phần lớn là GV trẻ ( gần 70% GV của nhà trường có độ tuổi dưới 30), được đào tạo cơ bản, dễ tiếp thu cái mới, có ý thức vươn lên, đây là một thuận lợi cho các hoạt động đổi mới giáo dục hiện nay.
- 100% GV có trình độ đạt chuẩn, nhiệt tình trong giảng dạy, có ý thức trách nhiệm cao, tinh thần khắc phục khó khăn, sáng tạo trong công việc. Một bộ phận GV khoảng 25% có trình độ chuyên môn giỏi là nòng cốt trong công tác chuyên môn của sở Giáo dục và Đào tạo Nam Định.
Mặt yếu
- Cơ cấu GV ở các bộ môn, cơ cấu độ tuổi, cơ cấu giới tính còn có sự bất hợp lý, gây nên tình trạng vừa thừa, vừa thiếu GV, gây khó khăn cho công tác giáo dục của nhà trường.
- Chất lượng ĐNGV còn những hạn chế, đa số GV trẻ nên kinh nghiệm giảng dạy còn yếu, bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Trình độ ngoại ngữ và tin học của phần lớn GV thấp nên khả năng tiếp nhận thông tin, kiến thức về giáo dục trong nước và quốc tế rất hạn chế. Vì vậy, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới GD và xu thế hội nhập quốc tế.
Nguyên nhân của những hạn chế
- Một số GV về trường công tác ở rất xa nhà nên không yên tâm công tác.
- Do ảnh hưởng của huyện thuần nông và xa trung tâm tỉnh, thu nhập thấp nên các giáo sinh tốt nghiệp loại khá, giỏi, các GV có trình độ trên chuẩn không muốn về công tác.
- Phần lớn ĐNGV là GV trẻ chiếm khoảng 70%, có sự nhiệt tình nhưng còn thiếu kinh nghiệm trong giảng dạy và và giáo dục HS nên chất lượng và hiệu quả giáo dục chưa cao.
- Một số GV thiếu ý chí vươn lên, an phận, không muốn học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngại đổi mới phương pháp dạy học, không biết sử dụng các trang thiết bị hiện đại và phần mềm trong giảng dạy nên phương pháp dạy học lạc hậu không cuốn hút được HS.
- Một số GV giỏi chỉ tập trung vào dạy thêm để tăng thu nhập kinh tế cho gia đình, không muốn học nâng cao trình độ trên chuẩn.
- Một số GV trẻ có ý thức học tập phấn đấu vươn lên khẳng định mình nhưng với mục đích khi thành danh, có uy tín thì lại thuyên chuyển đến nơi thu nhập tốt hơn hoặc chuyển về quê hương của GV để được gần nhà.
- Một số GV phải dạy thêm các lớp hệ Dân lập trong nhà trường nên bị hạn chế về thời gian đầu tư về chuyên môn.
2.3. Quy mô trường lớp Luận văn: Khái quát về giáo viên trường THPT Quất Lâm
Trường THPT Quất Lâm được thành lập từ năm học 2007 – 2008, đến nay đã bước sang năm thứ 8. Trường có diện tích rộng 20772m2, trường có 24 phòng học, 1 nhà hiệu bộ và 9 phòng chức năng và thực hành bộ môn, có sân chơi bãi tập với hệ thống bồn hoa cây cảnh đảm bảo phục vụ cho 22 lớp học hiện nay của nhà trường.
Năm học 2015 -2016 với quy mô phát triển là:
- Tổng số lớp: 22; trong đó khối 10 gồm 7 lớp công lập; khối 11 gồm 7 lớp công lập và lớp 12 gồm 6 lớp công lập và 2 lớp dân lập.
- Tổng số học sinh: 878; trong đó khối 10 có 281 HS, khối 11 có 286 HS và khối 12 có 311 HS.
2.4. Chất lượng giáo dục THPT
Trong các năm qua, tuy chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường đã không ngừng được nâng cao nhưng so với yêu cầu của trường chuẩn quốc gia thì vẫn còn nhiều mặt còn khó khăn. Nhà trường đang hướng đến đạt chuẩn giai đoạn 1 vào năm 2017.
Để đẩy nhanh tốc độ phát triển nhà trường thì cần phải có đội ngũ giáo viên không chỉ có chuyên môn giỏi mà phải có phẩm chất đạo đức tốt, giàu kinh nghiệm, đáp ứng Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học. Muốn làm được điều đó thì đòi hỏi phải đánh giá đúng thực trạng của đội ngũ giáo viên từ đó đối chiếu với Chuẩn nghề nghiệp giáo viên để đề ra các biện pháp nhằm nâng cao mức độ đáp ứng chuẩn nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên. Luận văn: Khái quát về giáo viên trường THPT Quất Lâm
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
