Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Tổng quan quá trình phát triển ngành ô tô Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Khả năng thích ứng của ngành công nghịêp ô tô Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Sơ lược về quá trình phát triển của ngành Công nghiệp ô tô Việt Nam
2.1.1. Thời kì trước năm 1975
Vào thời kỳ những năm 1954, nước ta chưa sản xuất lắp ráp được ô tô mà chủ yếu nhập khẩu từ Pháp với những thương hiệu nổi tiếng như Renault, Perguet, Citroen…với số lượng nhỏ. Khóa luận: Tổng quan quá trình phát triển ngành ô tô Việt Nam
Sau đó khi Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên bang Xô Viết và một số nước xã hội chủ nghĩa, khi đó ở nước ta lại xuất hiện thêm một số chủng loại xe mới như GAT 51 dùng để vận chuyển người và quân khí do các nước anh em viện trợ. Các phụ tùng phục vụ cho việc sửa chữa xe cũng được nhập khẩu chủ yếu từ các nước này.
Sau năm 1954, một số nhà máy cơ khí được thành lập tại Hà Nội nhằm giải quyết tình trạng khan hiếm linh kiện, phụ tùng. Do đó, một loạt các nhà máy sản xuất phụ tùng ra đời như : Nhà máy Gò Đầm thuộc Bộ Công nghiệp với công suất 500.000 linh kiện/năm; Nhà máy cơ khí 1-5 và Nhà máy cơ khí Ngô Gia Tự thuộc Bộ Giao thông vận tải.
Sau đó, Ban cơ khí Chính phủ được thành lập và đã xác định chiến lược phát triển công nghiệp ô tô, tiến hành chuyên môn hoá từng nhà máy trong việc sản xuất phụ tùng dùng cho từng mác xe và tiến tới làm toàn bộ chi tiết để lắp ráp xe hoàn chỉnh.
Ngành công nghiệp ô tô được đánh mốc son quan trọng vào ngành 2/9/1960 hai chiếc xe ô tô đầu tiên được lắp ráp tại Việt Nam đã tham gia diễu hành tại Quảng trường Ba Đình. Tuy nhiên, sau sự kiện này nước ta không sản xuất thêm nữa do hạn chế về năng lực sản xuất.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2.2.2. Thời kì từ năm 1975 đến năm 1991 Khóa luận: Tổng quan quá trình phát triển ngành ô tô Việt Nam
Từ năm 1975, Việt Nam đã giành được độc lập và bắt đầu xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, vì thế nhu cầu về xe ô tô cho sự phát triển các ngành kinh tế của nước ta là rất lớn. Chúng ta nhập khẩu ô tô chủ yếu từ Liên Xô, hoặc nhập khung gầm có gắn động cơ (sát xi) từ Cộng hoà dân chủ Đức (ô tô IFA-W50L) để tự đóng thành xe khách từ 46 chỗ đến 50 chỗ ngồi. Tuy nhiên, sau đó nhiều xí nghiệp phải ngừng sản xuất do không có nguồn cung cấp sát xi nữa. Nguyên nhân là do vào thời kì này tính chất kế hoạch hoá mất dần tác dụng, sự bao cấp đầu vào đầu ra cho các nhà máy ô tô không còn được như trước, nhu cầu về phụ tùng cũng hạn chế. Kết quả là các nhà máy của chúng ta xuống cấp nghiêm trọng, nhiều cơ sở sản xuất như: Nhà máy ô tô Hoà Bình, Ba Đình (Hà Nội), Nam Hà, Hải Phòng, Đà Nẵng…phải tạm thời thay đổi mặt hàng.
Thời gian này không có doanh nghiệp nào trong nước đầu tư dây chuyền sản xuất, lắp ráp ô tô đồng bộ. Nhiệm vụ chính của các nhà máy sửa chữa, trung đại tu các loại phương tiện ô tô, xe máy nhập khẩu. Một số nhà máy có năng lực gia công cơ khí mạnh của nước ta thời kì đó như: Nhà máy cơ khí trung tâm Cẩm Phả, Nhà máy đại tu ô tô Cẩm Phả (trung đại tu ô tô tải nặng Benlaz, công suất 500xe/năm), Công ty cơ khí Cẩm Phả (chuyên đại tu xe tải nặng của Nhật Bản), Công ty cơ khí 3/2. Các công ty này đều không được đầu tư công nghệ lắp ráp ô tô.
Năm 1986, Đại hội Đảng VI đã mở ra thời kì mới cho nền kinh tế Việt Nam. Đảng và Chính phủ đã nhận thấy những yếu kém của ngành công nghiệp ô tô thể hiện ở các khía cạnh như trình độ vốn, công nghệ và nguồn nhân lực, nhưng quan trọng hơn là chúng ta đã nhận thức được vị trí và vai trò quan trọng của ngành công nghiệp ô tô đối với sự phát triển của đất nước. Do đó, từ Đại hội này Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, làm bạn với tất cả các nước trên thế giới trên cơ sở hợp tác cùng có lợi. Nhờ các chính sách về ưu đãi đầu tư và các chính sách hỗ trợ phát triển ngành công nghiệp ô tô mà thời kì này một số nhà sản xuất ô tô lớn trên thế giới và trong khu vực đã đến Việt Nam để tìm hiểu về thị trường, môi trường kinh doanh…Mặc dù các nhà đầu tư này chưa có các chương trình dự án đầu tư cụ thể nhưng có thể coi đây là nền tảng cho việc thành lập các liên doanh sản xuất, lắp ráp ô tô ở Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.
2.2.3. Thời kì từ năm 1991 đến nay Khóa luận: Tổng quan quá trình phát triển ngành ô tô Việt Nam
Năm 1991 là một dấu mốc quan trọng trong sự hình thành và phát triển của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam với việc ra đời 02 liên doanh lắp ráp ô tô đầu tiên ở Việt Nam là MêKông và Liên doanh sản xuất ô tô Hoà Bình (VMC- VietNam Motor Corporation). Hiện nay, nước ta đã có 12 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) cộng với hơn 160 doanh nghiệp nội địa sản xuất, lắp ráp, và sửa chữa ô tô, sản xuất thiết bị và phụ tùng. Trong đó có khoảng gần 20 cơ sở sản xuất, lắp ráp ô tô, gần 20 cơ sở sản xuất thân xe và rơ moóc và hơn 60 cơ sở tham gia chế tạo phụ tùng cho ô tô.
2.2.3.1. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
- Công ty Toyota Việt Nam (TMV)
- Công ty TNHH Ford Việt Nam
- Công ty ô tô GM Daewoo Việt Nam (VIDAMCO)
- Công ty liên doanh Mercedes-Benz Việt Nam
- Công ty ô tô Isuzu Việt Nam
- Công ty Việt Nam Suzuki (VISUCO)
- Công ty Liên doanh Hino Motors Việt Nam
- Công ty liên doanh sản xuất ô tô Hoà Bình (VMC)
- Công ty Honda Việt Nam (HVC)
- Công ty ô tô Mêkông
- Công ty liên doanh sản xuất ô tô Ngôi sao (Vinastar)
- Công ty ô tô Vietindo Daihatsu
2.2.3.2. Doanh nghiệp trong nước Khóa luận: Tổng quan quá trình phát triển ngành ô tô Việt Nam
Các doanh nghiệp nhà nước
Các doanh nghiệp nhà nước với rất nhiều lợi thế về cơ sở vật chất sẵn có, đặc biệt có sự hỗ trợ, bảo hộ từ phía Chính Phủ đã đạt được những bước phát triển đáng kể trong thời kỳ đổi mới.
Những điển hình của khối doanh nghiệp trong nước bao gồm: Tổng Công ty công nghiệp ô tô Việt Nam, Tổng Công ty Than và khoáng sản Việt Nam (Vinacomin), Tổng Công ty máy động lực và máy nông nghiệp, Tổng Công ty cơ khí giao thông vận tải Sài Gòn. Các sản phẩm chủ yếu của các doanh nghiệp trong nước là xe khách, xe tải các hạng, các thiết bị phụ tùng ô tô.
Các doanh nghiệp tư nhân
Trong những năm gần đây, nền công nghiệp ô tô Việt Nam đã chứng kiến những bước phát triển vượt bậc, đóng góp vào những thành công đó không thể không kể đến thành phần kinh tế tư nhân với sự góp mặt của các doanh nghiệp tư nhân, họ đã tạo dựng cho mình những thương hiệu nổi tiếng trên thị trường Việt Nam. Trong số những doanh nghiệp đó, tiêu biểu là hai doanh nghiệp Công ty Xuân Kiên và Công ty ô tô Trường Hải.
2.2.3.2. Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (Vietnam Motors Association- VAMA)
Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam là một tổ chức phi chính phủ, phi chính trị và phi lợi nhuận, được thành lập trên nguyên tắc tự nguyện của các nhà sản xuất ô tô được cấp giấy phép tại Việt Nam. Mục đích thành lập của Vama là khuyến khích sự phát triển và tiến bộ của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam nói riêng và góp phần vào sự phát triển kinh tế và sự thịnh vượng của cộng đồng nói chung, đại diện và bảo vệ quyền hạn và lợi ích hợp pháp của người lao động cũng như người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp thành viên của Hiệp hội, bảo đảm và cải thiện quyền hạn và lợi ích hợp pháp của người sử dụng xe trên các phương diện chất lượng, độ tin cậy, sự an toàn, việc bảo vệ môi trường, dịch vụ và bảo hành; tranh thủ và ứng dụng những thành tựu tiến bộ nhất của công nghệ ô tô cho ngành công nghiệp ô tô Việt Nam, tham gia vào các chương trình nghiên cứu và phát triển về ô tô cũng như việc bảo đảm bảo vệ tốt môi trường tại Việt Nam.
Hiện nay hiệp hội gồm 18 thành viên bao gồm 12 doanh nghiệp FDI, tổng sản lượng xe sản xuất năm 2007 của các thành viên hiệp hội đạt 80.392 xe.
Bảng 3: Danh sách 18 thành viên VAMA
2.2 Cơ hội và thách thức của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong tiển trình hội nhập Khóa luận: Tổng quan quá trình phát triển ngành ô tô Việt Nam
2.2.1 Tiến trình hội nhập của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam
Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam được nhìn nhận bằng quá trình tham gia các tổ chức, diễn đàn kinh tế thế giới và khu vực cũng như những Hiệp định thương mại song phương và đa phương mà Việt Nam đã ký kết và cam kết thực hiện. Tiến trình hội nhập của Việt nam được trình bày ở những điểm sau:
2.2.1.1 Cam kết trong Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ (BTA)
Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực từ ngày 10/12/2001. Tại phụ lục B1 của Hiệp định này, lịch trình loại bỏ hạn chế số lượng nhập khẩu ô tô chở 10 người trở lên kể cả lái xe là 5 ngày kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực. Như vậy, vào ngày 10/12/2006 Việt Nam sẽ không được hạn chế số lượng nhập khẩu loại xe này từ Hoa kỳ.
Tại Phụ lục D về lịch trình bãi bỏ hạn chế về quyền kinh doanh nhập khẩu và quyền phân phối sản phẩm công nghiệp quy định đối với ô tô chở 10 người trở lên kể cả lái xe, xe vận tải hàng hoá, xe chuyên dụng; khung gầm đã gắn động cơ, thân xe (kể cả cabin), xe tải tự hành trong nhà máy, kho tàng tương ứng là 6 và 7 năm. Khóa luận: Tổng quan quá trình phát triển ngành ô tô Việt Nam
Như vậy, thời gian bảo hộ ngành công nghiệp ô tô trong nước theo BTA chỉ được đến năm 2006 (đối với việc nhập khẩu), 2007 (đối với việc kinh doanh nhập khẩu), và năm 2008 (đối với hoạt động phân phối).
2.2.1.2 Cam kết trong khu vực Hiệp định mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)
Hiện nay, khu vực Hiệp định mậu dịch tự do ASEAN gần như đã được thành lập. Các quốc gia thành viên ASEAN đã tạo ra được bước tiến đáng kể trong việc giảm thuế quan trong nội bộ khối thông qua chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT). Hơn 99% các sản phẩm trong danh mục giảm thuế (IL) của CEPT của các nước ASEAN-6 bao gồm: Bruney, Inđônêxia, Malaysia, Philipin, Singapore và Thái Lan đã giảm xuống còn 0-5%.
Các thành viên mới của ASEAN như Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam là những nước tham gia muộn hơn, nên thời hạn để giảm thuế các mặt hàng xuống còn 5% đối với Việt Nam là năm 2006, Myanmar và Lào năm 2008, Campuchia vào năm 2010. Mức thuế quan 0% cho các nước ASEAN-6 được thực hiện trước năm 2010, còn đối với Việt Nam, Lào, Myanmar, và Campuchia là trước năm 2015, một số mặt hàng nhạy cảm có thể gia hạn trước năm 2018.
Riêng với mặt hàng ô tô, hiện nay, tất cả các loại xe ô tô chở 10 người trở lên kể cả lái xe, xe ô tô và các loại xe khác có động cơ được thiết kế chủ yếu để chở người, kể cả xe chở người có khoang hành lý riêng và ô tô đua đều nằm trong danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL) của Việt Nam thực hiện CEPT/AFTA. Tuy nhiên, do Việt Nam đưa ô tô vào danh sách GEL nên sẽ bất lợi vì không được tham gia chương trình Hợp tác công nghiệp ASEAN (AICO). Theo đó, AICO buộc CEPT đạt mức thuế 0-5% cho một mặt hàng thương mại giữa hai hay nhiều nước, nhưng chỉ áp dụng cho các mặt hàng không ở trong danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL). Và để hưởng lợi từ kế hoạch AICO, Việt Nam phải bỏ ô tô khỏi danh sách GEL và đưa vào danh mục loại trừ tạm thời- TEL, hoặc danh mục cắt giảm- IL trong thời gian tới.
2.2.1.3 Cam kết trong khu vực thương mại tự do ASEAN- Trung Quốc (ACFTA) Khóa luận: Tổng quan quá trình phát triển ngành ô tô Việt Nam
Vào ngày 12/6/2006, Bộ tài chính đã ban hành quyết định 35/2006/QD-BTC về việc ban hành danh mục hàng hoá và thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định thương mại hàng hoá ASEAN-Trung Quốc. Theo đó 9.133 mặt hàng sẽ tham gia thực hiện cắt giảm thuế kể từ 1/1/2006 với mức thuế suất ACFTA theo đúng lộ trình giảm thuế của năm 2006 đã được quy định tại Hiệp định Thương mại hàng hoá và Biên bản ghi nhớ.
Theo báo cáo của Bộ tài chính về sự tác động của ACFTA đối với ngành công nghiệp ô tô Việt Nam, lộ trình cắt giảm thuế như sau:
- Xe ô tô (mã số 8702, 8703), ngoài trừ các loại xe buýt được sử dụng trong ngành hàng không, và những loại xe chuyên dùng trong HSL, vẫn duy trì mức thuế 100% (MFN) cho đến năm 2017 và giảm xuống 50% vào năm 2018.
- Các loại xe tải (mã số 8704):
- Dưới 5 tấn: giảm dần từ 100% và xuống 45% vào năm 2014
- Từ 5 đến 10 tấn: giảm dần từ 60%, xuống 30% vào năm 2012
- Từ 10 đến 20 tấn: giảm dần từ 30% xuống còn 5% vào năm 2013 và 0% vào năm 2018
2.2.1.4 Cam kết với Tổ chức thương mại thế giới WTO
Trở thành thành viên chính thức của WTO vào ngày 7/11/2006, Việt Nam phải tuân thủ theo nguyên tắc không phân biệt đối xử đối với:
- Hàng hoá, dịch vụ, đầu tư
- Quyền nhập khẩu hàng hoá, quyền kinh doanh
- Quyền về thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô
- Xoá bỏ lệnh cấm nhập khẩu ô tô cũ đã qua sử dụng hợp pháp
- Xoá bỏ cơ chế hai giá từ 31/12/2005
Trong năm 2007, Bộ tài chính đã ba lần điều chỉnh thuế nhập khẩu ô tô từ 90% xuống 80% và 60% để thực hiện những cam kết của WTO. Sự điều chỉnh này có tác động đáng kể lên thị trường ô tô Việt Nam, số lượng xe nhập khẩu tăng mạnh. Trong một vài năm tới, những tác động của WTO lên thị trường ô tô Việt Nam sẽ không còn mạnh mẽ như thời kỳ đầu, vì bước đầu Việt Nam chưa giảm thuế nhiều và chưa có nhiều sự thay đổi về thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị gia tăng. Tuy nhiên, các nhà sản xuất ô tô nước ngoài lại có thể tự do đầu tư vào Việt Nam mà không cần phải thành lập liên doanh với các nhà sản xuất trong nước. Điều này có tác động mạnh mẽ đến các nhà sản xuất ô tô nội địa trong việc cạnh tranh về thị phần. Hiện tại, có rất nhiều nhà sản xuất ô tô Trung Quốc có kế hoạch đầu tư vào Việt Nam.
2.2.2 Cơ hội và thách thức của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong tiến trình hội nhập Khóa luận: Tổng quan quá trình phát triển ngành ô tô Việt Nam
2.2.2.1 Cơ hội đối với ngành công nghiệp ô tô Việt Nam
Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại cho Việt Nam nhiều cơ hội phát triển cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành công nghiệp ô tô Việt Nam nói riêng. Đó là tạo ra những điều kiện thuận lợi để tiếp cận nhanh chóng các nguồn vốn đầu tư, công nghệ hiện đại và thị trường toàn cầu nhằm thúc đẩy phát triển. Trong đó, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam cũng có những cơ hội phát triển rất lớn, đó là:
Thứ nhất, với số dân khoảng 84 triệu người và nền kinh tế đang tăng trưởng ở mức cao, Việt Nam được xem là một trong những nền kinh tế năng động và tốc độ phát triển cao nhất Đông Nam Á, và là một thị trường tiêu thụ rộng lớn đầy tiềm năng.
Thứ hai, quá trình tự do hoá thương mại hiện đang trở thành yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến định hướng cũng như chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam. Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và các sáng kiến thương mại tự do khác đang thúc đẩy các công ty xuyên quốc gia xem xét lại chiến lược kinh doanh nói chung và việc tái phân bổ năng lực sản xuất nói riêng, gồm những nội dung như: Thiết lập một công ty mẹ trong khu vực, Xây dựng một mạng lưới các nhà máy phục vụ cho công ty mẹ, tập trung sản xuất, khai thác điểm mạnh cốt lõi của mỗi nước và khai thác các sản phẩm và dịch vụ khác từ các nước khác. Do đó, Việt Nam hoàn toàn có cơ hội trở thành một mắt xích quan trọng trong mạng lưới sản xuất của khu vực.
Thứ ba, hội nhập kinh tế quốc tế sẽ mang lại cho Việt Nam cơ hội hợp tác phân công lao động, hợp tác sản xuất phụ tùng, linh kiện ô tô, tiếp cận được công nghệ mới trong sản xuất và lắp ráp ô tô đồng thời nâng cao tay nghề của công nhân cũng như trình độ quản lý của các doanh nghiệp.
Cuối cùng đó là sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam không thể thiếu sự hợp tác của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với những tiềm năng to lớn về nguồn vốn và công nghệ. Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ mang lại cho Việt Nam cơ hội để tiếp cận những nguồn lực đáng quý này. Hiện nay, Việt Nam đang được đánh giá là điểm hấp dẫn thu hút đầu tư trên thế giới. Với nền tảng đó chúng ta hoàn toàn tin tưởng vào viễn cảnh tươi sáng của ngành công nghiệp ô tô.
2.2.2.2 Thách thức đối với ngành công nghiệp ô tô Việt Nam Khóa luận: Tổng quan quá trình phát triển ngành ô tô Việt Nam
Nằm trong khu vực kinh tế năng động nhất thế giới – khu vực Đông Á và đứng trước xu thế toàn cầu hoá, có thể nói ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đang đối mặt với những thách thức và những thử thách hết sức khắc nghiệt, cụ thể là:
Thứ nhất, đó là sự cạnh tranh mạnh mẽ từ phía Trung Quốc và ASEAN. Điều đáng nói là trong hơn 10 năm qua, lượng vốn đầu tư đổ vào ngành công nghiệp ô tô Việt Nam chẳng tăng lên được là bao trong khi thị trường của các nước Đông Nam Á và Trung Quốc đang phát triển rất mạnh mẽ, thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư nước ngoài.
Nếu so sánh về thời gian, cho dù Việt Nam là một thị trường đầy tiềm năng nhưng ngành công nghiệp này vẫn phát triển chậm hơn so với Trung Quốc khoảng 20 năm và hơn 30 năm so với Thái Lan. Đây thực sự là hai đối thủ cạnh tranh khốc liệt nhất đối với ô tô Việt Nam. Trung Quốc hiện là nhà sản xuất ô tô lớn thứ 3 trên thế giới với việc xuất khẩu hơn 8 tỷ USD ô tô và phụ tùng, linh kiện. Trong đó các nhà sản xuất phụ tùng ô tô chiếm đến 64% ngành công nghiệp này. Thái Lan xếp thứ 17 nhưng là nhà sản xuất xe tải 1 tấn lớn nhất thế giới với hơn 15 công ty lắp ráp và khoảng 2500 nhà sản xuất phụ tùng, linh kiện. Bên cạnh đó, để thực hiện các cam kết hội nhập, Chính phủ Việt Nam phải đưa ra những chương trình cắt giảm thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, mở cửa thị trường ô tô. Điều này đồng nghĩa với việc ô tô nguyên chiếc cũng như linh kiện, phụ tùng ô tô của các nước này sẽ được nhập khẩu vào Việt Nam với mức thuế suất thấp, ưu đãi, tác động lớn đến sự sống còn của ngành công nghiệp non trẻ của Việt Nam.
Thứ hai, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới WTO đồng nghĩa với việc ngành công nghiệp ô tô Việt Nam phải đối mặt với cuộc cạnh tranh khốc liệt trên thị trường quốc tế. Các thành viên của WTO gây áp lực buộc Việt Nam phải chấp nhận thuế suất thấp hơn cho ô tô nguyên chiếc nhập khẩu. Mặt khác, với tư cách là thành viên của WTO, Việt Nam phải tuân thủ các quy tắc thương mại quốc tế, xoá bỏ các yêu cầu về tỷ lệ nội địa hoá.
Thứ ba, đó chính là những thách thức từ nội địa như cơ sở hạ tầng, đường sá kém phát triển, thu nhập đầu người thấp…làm giảm lượng tiêu thụ ô tô trong nước. Khi đó ngành công nghiệp ô tô khó đạt được các yêu cầu về giảm chi phí sản xuất, đầu tư mở rộng, tái đầu tư, phát triển các loại sản phẩm cao cấp, phát triển công nghiệp phụ trợ… Khóa luận: Tổng quan quá trình phát triển ngành ô tô Việt Nam
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng về ngành công nghiệp ô tô Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Khả năng thích ứng của ngành ô tô Việt Nam